mSPD001● ! 阿 阿 阿 !. A ha ha! Thán từ thường được dùng trong thiền ngữ. Tiết Lang Nha Vĩnh Khởi Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “師 上 堂、良 久、拊 掌 一 下 曰:阿 阿 阿!還 會 麼?法 法 本 來 法。 – Sư thượng đường lặng lẽ hồi lâu rồi vỗ tay một cái, nói: Ối chà chà! Ối chà chà! Có lãnh hội chăng? Hết thảy các pháp xưa nay vẫn là pháp”. ● 阿 爺 下 頷. Còn gọi: A Gia Hạ Hàm. Vốn chỉ xương hàm dưới của cha. Hình dáng yên lừa giống như cây cầu, cho nên gọi là cầu yên. Đứa con ngu si khi đi tìm hài cốt của cha chết nơi chiến trường, nhận lầm cái cầu yên lừa cho là xương hàm dưới của cha mình, rồi cẩn thận mang về. Mẫu chuyện này về sau trở thành từ ngữ để mắng người ngu si, không phân biệt được chân, giả. Tắc 78, Thung Dung Lục (Đại 48, 252 trung) ghi: “以 賊 爲 子、認 奴 作 郎、破 沐 碏 豈 是 先 祖 骨 髏、驢 鞍 橋 亦 非 阿 爺 下 頷。 – Nhận giặc là con, cho tớ là chủ. Nhận lầm cái gáo bể là đầu lâu của tổ tiên, cái cầu yên lừa là hàm dưới của cha mình”. ● 阿 育 王 寺. Chùa nằm ở trấn Bảo Tràng, huyện Ngân, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Bởi trong chùa có cất giữ Xá Lợi Phật Thích Ca và bảo tháp xá lợi xinh xắn tinh vi cho nên nổi tiếng trong ngoài, là chùa Thiền Tông nổi tiếng, còn là một trong “Trung Hoa Ngũ Sơn”. Niên hiệu Đại Khang thứ 3 (282) đời Tấn, Lưu Tát Ha (pháp danh Huệ Đạt) được một tháp xá lợi ở nơi đây, tương truyền là một trong 84.000 tháp do vua A dục xây cất, bên trong chứa di cốt của Phật Thích ca sau khi niết bàn. Lưu Tát Ha xây cất tinh xá ngay chỗ có bảo tháp để tu trì hành đạo. Niên hiệu Nghĩa Hy thứ 1 (405) đời Đông Tấn xây tháp đình để cung phụng bảo tháp. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 2 (425) đời Lưu Tống, tăng nhân đạo hữu xây cất thêm điện vũ. nay Niên hiệu Phổ Thông thứ 3 (522) đời Lương vua ban tấm biển “A Dục Vương Tự”. Vốn là Luật Viện, niên hiệu Đại Trung Tường Phù thứ 1 (1008) đời Tống, vua Tống Chân Tông ban cho tấm biển “Quảng Lợi Thiền Tự” liền trở thành Thiền tự. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 15 (1382) đời Minh, đặt tên là “Dục Vương Thiền Tự”, tục gọi là “A dục Vương Tự”. Từ trăm ngàn năm, chùa này được sự sùng bái của rất nhiều vua chúa và sự hộ trì các bậc cao tăng.Vua Tống Cao Tông đích thân viết “Phật Đảnh Quang Minh Chi Tháp”, vua Tống Hiếu Tông viết “Diệu Thắng Chi Điện”. Tô Đông Pha làm văn bia về Thần Khuê Các trong chùa, bia dựng bên điện Xá lợi. Thời vua Tống Anh Tông (1064-1067) Đại Giác Hoài Liễn trụ trì chùa này, nêu cao tông phong, sau đó kinh qua sự tổ chức của các vị Thiền Sư như Tông Cảo, Giới Kham, Đức Quang, Sư Phạm đạo tràng Lâm Tế hưng thịnh một thời. Kiến trúc chủ yếu của A dục Vương Tự có Xá lợi điện, Đại Hùng Bảo Điện, Thần khuê các, Vân thủy đường, Tàng kinh lâu hơn 600 gian. Điện vũ trong chùa hùng vĩ, khí thế nguy nga, mái cong cao vút, lưu ly che đỉnh xanh vàng rực rỡ. Xung quanh chùa núi non trùng điệp, tùng bách cao vút, quang cảnh núi sông làm nổi bật ngôi cổ sát ngàn năm. ● 阿 育 王 寺 塔. Tháp ở phía tây chùa A Dục Vương thuộc trấn Bảo Tràng, huyện Ngân, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Được xây cất vào đời Đường, được xây lại vào niên hiệu Chí Chính thứ 25 (1365) đời Nguyên. Tháp làm bằng gạch cao 36m, hình lục giác bảy tầng theo kiểu lâu các, là một kiến trúc điển hình đời Nguyên. Mỗi tầng đều có khám thờ tượng Phật đắp trên vách, hiện nay không còn nữa. Trong tháp có đường đi lên đỉnh tháp. Một tòa trên núi gọi là “Thượng tháp”, một tòa dưới núi gọi là “Hạ tháp”. Hai tòa này đứng cao vút giữa rừng rậm trúc dài cùng núi non xinh đẹp, điện vũ nguy nga tạo thành một quang cảnh tùng lâm của cổ sát hạng nhất Nam Quốc. ● 阿 角 女. Cô con gái nhỏ tuổi. Chữ a (丫) còn đọc là nha có nghĩa là xòe ra thành hai góc. A giác chỉ tóc các cô gái còn nhỏ tuổi tết thành hai trái đào trông như hai cái sừng. Tiểu truyện Thiền Sư Giác Hải trong TUTA ghi: 阿 角 女 頭 白。報 儞 作 者 識 若 問 佛 境 界。龍 門 遭 點 額 A giác nữ đầu bạch Báo nhĩ tác giả thức Nhược vấn Phật cảnh giới Long môn tao điểm ngạch “Bé gái đầu bạc phơ Bảo khách thiền kiệt xuất Cảnh giới Phật hỏi bàn Long môn bị điểm trán” ● 阿 漉 漉 地. Chữ Lộc cũng viết 轆. 1. Trạng thái tự do tự tại. Tắc 53, Bích Nham Lục q.6 ghi: “我 適 來 哭、如 今 却 笑、看 他 悟 後、阿 漉 漉 地、羅 籠 不 住、自 然 玲 瓏。 – “Vừa rồi tôi khóc, bây giờ lại cười”. Xem ông ta (Bách Trượng) sau khi ngộ tự do tự tại, không ai khống chế được, tự nhiên linh hoạt”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. 2. Trạng thái mềm và ướt, dùng để hình dung thiền tăng căn cơ chậm lụt. Tiết Bảo Phong Khắc Văn Thiền Sư trong NĐHN q.17 ghi: “馬 祖 下 尊 宿、一 箇 箇 阿 漉 漉 地、唯 有 歸 宗 老 較 些 子。 – Các vị tôn túc môn hạ Mã Tổ, ai nấy cũng chậm lụt, chỉ có Quy Tông là khá hơn một chút”. Theo: TTTĐ của nhóm Viên Tân. ● 阿 師. Tiếng thân thiết để gọi một vị tăng. A là phát ngữ từ (từ đầu). Tiết Đạo Nhất, đời thứ 2 dưới Đại Giám trong CTTNL q.1 ghi: “師 曰:這 鈍 根 阿 師。 – Sư bảo: Cái ông tăng chậm lụt này!” ● 屙 屎 送 尿. Khi đi tiêu gọi là a thỉ, đi tiểu gọi là tống niệu. Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục (Đại 47, 458 thượng) ghi: “屙 屎 送 尿、著 衣 喫 飯、困 來 即 臥、愚 人 笑 我、智 乃 知 焉。 – Đi tiêu đi tiểu, mặc áo ăn cơm, mệt mỏi thì nằm nghỉ, kẻ ngu cười ta, người trí biết ta”. Đây là thuật ngữ thường dùng trong nhà Thiền để biểu thị mọi sinh hoạt hàng ngày đều là việc làm của Phật, hạnh của Phật. Lâm Gian Lục, q.thượng (Vạn Tục 148, 301 thượng) ghi: “慈 明 呵 曰:著 衣 喫 飯、不 是 畢 竟、屙 屎 送 尿、不 是 畢 竟。 – Từ Minh mắng rằng: Mặc áo ăn cơm chẳng phải là cứu cánh, đi tiêu đi tiểu chẳng phải là cứu cánh”. ● 啞.1. Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp người học tuy muốn biểu hiện sở đắc của riêng mình, nhưng khi ấy tận cùng ngôn ngữ cũng không cách gì biểu đạt; hoặc là thuật ngữ dùng để biểu thị chân lý Phật pháp mà không dùng lời nói. Phần Khám Biện trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 504 thượng) ghi: “師 問 杏 山:如 何 是 露 地 白 牛?山云:吽 吽。師 云:啞 那。 – Sư hỏi Hạnh Sơn: ›Thế nào là con trâu trắng sờ sờ?‹ Sơn đáp: ›Hồng! Hồng!‹ Sư nói: ›Á‹”. ● 2. Biểu thị tiếng cười, tiếng quạ kêu, còn gọi: Á á. Tắc 14, Bích Nham Lục (Đại 48, l54 hạ) ghi: “閻 浮 樹 下 笑 呵 呵、昨 夜 驪 龍 拗 角 折(非 止 驪 龍 拗 折、有 誰 見 來?還 有 證 明 麼?啞!)。 – Dưới cội Diêm Phù cười ha hả, đêm trước rồng đen bị gãy sừng. (Chẳng phải cấm rồng đen gãy sừng, có ai thấy chăng? Có chứng minh được chăng? Á!)”. ● 㘞. Chỉ cho tiếng kéo thuyền hoặc tiếng la lên khi tìm được món đồ rơi mất. Trong nhà Thiền dùng để chỉ tiếng “Ồ” khi hốt nhiên đại ngộ. Điều Trường Sa Cảnh Sầm trong Thiền Tông Cổ Tụng Liên Châu Thông Tập q.16 (Vạn Tục 115, 96 hạ) ghi: “你 作 麼 生 用?師 拍 胸 與 一 踏。山 曰:㘞。 – Ông dùng như thế nào?‹ Sư thộp ngực đạp cho một đạp. Sơn nói: ›Ồ!‹”. Thiền Quan Sách Tiến (Đại 48, 1099 hạ) ghi: “首 座 入 堂 燒 香、打 香 匣 作 聲、忽 然 㘞 地 一 聲、識 得 自 己。 – Vị Thủ tọa lên thiền đường thắp nhang, khua hộp nhang phát ra tiếng, thình lình ông ›ồ‹ lên một tiếng, biết ra được chính mình.” ● 啞 子 得 夢. Còn gọi: Á Tử Khiết Hoàng Liên, Á Tử Khiết Khổ Qua, Lãnh Noãn Tự Tri. Vốn có nghĩa là người câm chẳng thể đem cảnh chiêm bao của mình kể cho người khác nghe.Thiền Tông dùng thuật ngữ này để chỉ cho cảnh giới thể ngộ của người học, cảnh giới này không thể dùng lời nói để nói với kẻ khác. Trong Vô Môn Quan, Thiền Sư Vô Môn phê bình rằng (Đại 48, 293 thượng): “參 箇 無 字、晝 夜 提 撕、莫 作 虛 無 會、莫 作 有 無 會。如 吞 了 箇 熱 鐵 丸 相 似。吐 又 吐 不 出、蕩 盡 從 前 惡 知 惡 覺、久 久 純 熟。自 然 內 外、打 成 一 片。如 啞 子 得 夢 只 許 自 知。 – Hãy tham chữ Vô, ngày đêm đề khởi, chớ có hiểu như hư vô, chớ có hiểu như hữu vô, giống như người nuốt phải một hoàn sắt nóng muốn mửa ra cũng chẳng được. Quét sạch các ác tri ác giác từ trước, lâu ngày thuần thục, tự nhiên trong ngoài kết thành một khối, như người câm nằm mộng, chỉ tự biết mà thôi”. Bởi vì đây là biểu thị lấy tâm truyền tâm, ý thức và lời nói chẳng đạt đến được. ● 挨 拶. “Ai” là đẩy mạnh, “Tạt” nghĩa là đẩy. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc dùng ngôn ngữ và động tác nặng nhẹ để thử nghiệm lẫn nhau giữa Thiền Sư và người học đạo. Phần lời dẫn trong tắc 23 của Bích Nham Lục q.3 (Đại 48,164) thượng) ghi: “玉 將 火 試、金 將 石 試、劎 將 毛 試、水 將 杖 試。至 於 衲 僧 門 下、一 言 一 句、一 機 一 境、一 出 一 入、一 挨 一 拶、要 見 深 淺、要 見 向 背。且 道:將 什 麼?試 請 擧 看。 – Lấy lửa thử ngọc, lấy đá thử vàng, dùng lông thử kiếm, dùng gậy dò nước. Còn như đối với thiền tăng dùng một lời một câu, một cơ một cảnh, một ra một vào, một xô một đẩy, muốn thấy sâu cạn, mặt trái mặt phải của y thì phải lấy cái gì để khám nghiệm đây? Xin thử nêu ra xem!” Phần giải thích cũng trong tắc này (Đại 48, 164 trung) ghi: “保 福、長 慶、鏡 清 總 承 嗣 雪 峯、他 三 人 同 得 同 證、同 見 同 聞、同 拈 同 用。一 出 一 入、逓 相 挨 拶。 – Bảo Phúc, Trường Khánh, Cảnh Thanh đều là những vị kế thừa Tuyết Phong. Ba người đồng đắc đồng chứng, đồng kiến đồng văn, đồng niêm đồng dụng, một ra một vào thay nhau khám nghiệm”. ● 矮 子 看 戲 隨 人 上 下. Người lùn đi xem hát, chẳng trông thấy gì nhưng cũng bắt chước người khác vỗ tay tán thưởng, dụ chỉ người tu thiền pháp nhãn chẳng sáng, chỉ làm theo người khác một cách máy móc, còn bị người ta khống chế. Pháp Diễn Ngữ Lục q.trung ghi: “忽 有 箇 出 來 道。長 老 爾 恁 麼 道 也。則 白 雲 萬 里。者 箇 說 話。喚 作 矮 子 看 戲。隨 人 上 下。三 十 年 後 一 場 好 笑。且 道 笑 箇 什 麼?笑 白 雲 萬 里。 – Chợt có một vị tăng bước ra nói: Thưa trưởng lão, ông nói thế ấy cũng là mây trắng ngàn dặm! Lời nói này còn gọi là người lùn đi xem hát, chẳng trông thấy gì nhưng cũng bắt chước người khác vỗ tay tán thưởng, ba mươi năm sau vẫn còn buồn cười mãi. Thử hỏi cười cái gì? Cười mây trắng ngàn dặm”. ● 庵、菴. Ngôi nhà nhỏ để thờ Phật, thường có một hai vị tăng ở ẩn tu. Từ kết hợp đứng sau danh từ để tạo thành tên gọi chỗ ở của các Thiền Sư. Bạch Am: x. Vạn Kim Bàn Am: x. Kế Thành Biệt Am: x. Tính Thống Bồ Am: x. Lai Phục Bồng Am: x. Đức Hội Cập Am: x. Tông Tín Cụ Am: x. Như Tỵ Chỉ Am: x. Đức Tường Chiếu Am: x. Tông Tĩnh Dị Am: x. Như Thông Độc Am: x. Tự Minh Giác Am: x. Tông Diệu Giới Am : x. 1. Phụ Lương; 2. Ngộ Tiến Giản Am: x. Sư Trách Hoặc Am: x. Sư Thể Hối Am: x. 1. Di Quang; 2. Huệ Quang Hưu Am : x. Khả Thọ Lại Am: x. Đỉnh Nhu Liễu Am: x. Thanh Dục Luân Am: x. Văn Quả Mật Am: x. Hàm Kiệt Mộc Am: x. Tính Thao Mông Am: x. Nguyên Thông Mục Am: x. Pháp Trung Nam Am: x. Đại Y Ngẫu Am: x. Chân Diễn Ngoan Am: x. Đắc Thăng Ngốc Am: x. Phổ Trang Ngu Am: x. 1. Trí Cập; 2. Minh Vu Nhất Am: x. Nhất Như Nhật Am: x. Đàm Húc Nhược Am: x. Thông Vấn Phùng Am: x. Đoan Dụ Suất Am: x. Phạm Tông Tây Am: x. Đàm Ngạc Thả Am: x. Thủ Nhân Thúc Am: x. Chính Nham Thủy Am: x. 1. Sư Nhất; 2. Thủ Quí Thử Am: x. Cảnh Nguyên Tiếu Am: x. Liễu Ngộ Tịnh Am: x. Trí Tố Triệt Am: x. Đạo Nguyên Trúc Am: x. 1. Sĩ Khuê; 2. Hoài Vị; 3. Khả Túc Am: x. Trí Giám Tuyết Am: x. Tùng Cẩn Tức Am: x. Đạt Quán Quán Ứng Am: x. Đàm Hoa Vạn Am: x. Đạo Nhan Văn Am: x. Tự Tông Vân Am: x. Khắc Văn Viên Am: x. Cư Đảnh Vũ Am: x. Tổ Uyên Y Am: x. Hữu Quyền. ● 暗 證 禪 師. Còn gọi: Manh Thiền Giả, Ám Thiền Tỳ Kheo. Là lời chế giễu thiền giả của các tông phái ngoài Thiền Tông như Giáo Môn chẳng hạn, nhất là chỉ các vị thiền sinh ưa chấp trước thiền định, không nghiên cứu giáo pháp, hiểu biết lờ mờ, lại kiêu mạn tự cho mình là đúng. 暗 頭 Trong bóng tối, chỗ tối tăm.Tiết Trấn Châu Phổ Hóa Hòa Thượng trong NĐHN q.4 ghi: “於 北 地 行 化、或 城 巿、或 塚 間、振 一 鐸 曰:明 頭 來、明 頭 打。暗 頭 來、暗 頭 打。四 方 八 面 來、旋 風 打、虛 空 來、連 架 打 Sư hành hóa ở đất Bắc, hoặc là chốn thành thị,hoặc là nơi gò mả, lắc một cái linh nói: Chỗ sáng đến thì đánh bên chỗ sáng, chỗ tối đến thì đánh bên chỗ tối, tám mặt đến thì xoay vần mà đánh, hư không đến thì đánh cả hư không”. ● 安 般 守 意 經. Kinh căn bản của Thiền Tông, do An Thế Cao dịch từ Phạn ra Hán, Trần Tuệ chú giải, thiền tăng Khương Tăng Hội (?-280) bổ túc và viết bài tựa. Đây là một trong những bộ kinh Phật được chú giải đầu tiên ở Giao Chỉ trong thời Phật giáo mới du nhập vào Việt Nam. Nội dung dạy cách tọa thiền đếm hơi thở, quán niệm hơi thở để giữ tâm ý không bị tán loạn. ● 安 樂 堂. Nhà để dành riêng cho các vị tăng già yếu trong các chùa thời xưa. ● 安 楞 嚴.Thiền tăng Ngộ An đời Tống, thường xem Kinh Thủ Lăng Nghiêm nên được người đời gọi là An Lăng Nghiêm. X. Ngộ An. ● 安 穩 寺. X. Tĩnh Cư Tự ● 安 心. Có ý, cố tình. Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập, q.2 ghi: “若 安 心 先 求 妙 果、即 希 求 之 心 便 是 生 死 根 本 碍 正 知 見。 – Nếu cố tình trước cầu diệu quả, tức có tâm mong cầu chính là cội rễ sinh tử, chướng ngại chính tri kiến.” ● 安 禪 (?-?). Còn gọi: Hòa Thượng Phúc Điền. Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 42, họ Võ, quê ở Sơn Minh (Hà Nội), Việt Nam. Sư hoằng hóa ở chùa Đại Giác trên núi Đồ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sư biên soạn, chú giải, dịch nôm và ấn tống các tác phẩm: Đạo Giáo Nguyên Lưu, Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, Sa di Luật Nghi Giải Nghĩa, Thiền Gia Kinh Chú Các Khoản, Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, Thiền Lâm Bảo Huấn Quốc Âm Bản, Kế Đăng Lục (in năm 1859). ● 安 著. Sắp đặt, xếp gọn. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “十 方 空 索 索、全 體 露 堂 堂、貪 瞋 癡 從 那 里 得 來?戒 定 慧 向 何 處 安 著。 – Mười phương trống hoang hoác, toàn thể bày rõ ràng, tham sân si từ nơi đâu đến được? Giới định huệ nhằm chỗ nào sắp đặt?”. ● 意. Yên lòng, yên trí, yên tâm. Nguyên Hiền Quảng Lục q.30 ghi: “人 之 常 情 喜 自 便 而 畏 檢 束、則 又 不 肯 安 意 於 此、故 律 學 之 最 易、却 成 最 難 也。 – Lẽ thường tình của con người là thích buông lung mà sợ kiềm chế, lại còn chẳng chịu yên lòng ở đây, nên luật học vốn rất dễ trái lại trở thành rất khó.” ● 惡 手段. Chỉ thủ đoạn hiểm ác, dữ dội của Thiền Sư cao minh khi tiếp dẫn người học. Khai thị thiền nhân Bỉnh trong MANL ghi: “直 是 撥 草 瞻 風。覓 箇 咬 豬 狗 惡 手 段。徹 底 淨 盡 跳 得 出。 – Quả tình trèo non lội suối đi tìm bậc Thiền Sư cao minh, sẽ cùng ông ta gây oán thù hoặc là thâm sâu giao kết, chịu đựng được những trận đòn rất ác, chịu nổi cái vô vị trong lò rèn lớn, trui qua luyện lại ngàn muôn lần, hết sức sạch sẽ thì mới nhảy ra được.” ● 藹 著. Nổi bật, vẻ vang (thanh danh). Tiết Sở Thạch Hòa Thượng Hành Trạng trong PKNL q.20 ghi: “是 時 梵 琦)文 采 炳 蔚、聲 光 藹 著、兩 浙 名 山 宿 德 爭 欲 招 致 座 下。 – Khi ấy (Phạm Kỳ) phong thái sáng rực, tiếng tăm vẻ vang, những bậc thiền đức của các danh sơn ở vùng Lưỡng Chiết tranh nhau muốn thu nhận sư về dưới tòa mình.” ● 黑 豆. Án: ăn cơm bốc (tay) hoặc ngậm cơm trong miệng. Hắc Đậu: đậu đen, chỉ cho văn tự. Thiền Tông dùng từ này để trách người chỉ căn cứ vào văn tự của kinh điển để lý giải mà lơ là chân ý bao hàm bên trong. ● 壓 良 爲 賤. Còn gọi: Yếm Lương Vi Tiện. Ép tốt thành xấu. Thiền Tông dùng cụm từ này dụ cho việc chẳng có thể giúp cho người học chân tham thật ngộ mà còn khiến cho họ tu hành tạp hạnh của phàm phu. Tắc 6, Vô Môn Quan (Đại 48, 293 hạ) ghi: “黃 面 瞿 曇 傍 若 無 人、壓 良 爲 賤、懸 羊 頭、賣 狗 肉、將 謂 多 少 奇 特。 – Lão Cồ đàm mặt vàng không coi ai ra chi, ép tốt thành xấu, treo đầu dê bán thịt chó, tưởng đâu là hay lắm!”. ● 遏 捺. Ngăn cản, đè nén. Thư Đáp Trịnh Côn Nham Trung thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “盖 虛 妄 浮 心、本 無 根 緒、切 不 可 當 作 實 事、橫 在 胸 中、起 時 便 咄、一 咄 便 消、切 不 可 遏 捺、則 隨 他 使 作、如 水 上 葫 蘆。 – Bởi vì tâm trôi nổi hư vọng vốn không có gốc gác, nhất định ôm giữ chẳng nên chấp nó là có thật, chất chứa trong lòng. Lúc nó khởi lên liền quở, quở nó liền tiêu mất. Nhất định chớ nên đè nén, cứ theo dõi nó một cách tự nhiên như quan sát trái bầu nổi trên mặt nước”. ● 矮 師 叔. Thiền tăng Khuông Nhân sống vào đời Ngũ Đại, bởi thân thể sư lùn thấp nên bị gọi là “Ải sư thúc” (Sư thúc lùn). X. Khuông Nhân. ● 矮 子 看 戲 隨 人 上 下. Người lùn đi xem hát, chẳng trông thấy gì nhưng cũng bắt chước người khác vỗ tay tán thưởng, dụ chỉ người tu thiền pháp nhãn chẳng sáng, chỉ làm theo người khác một cách máy móc, còn bị người ta khống chế. Pháp Diễn Ngữ Lục q.trung ghi: “忽 有 箇 出 來 道。長 老 爾 恁 麼 道 也。則 白 雲 萬 里。者 箇 說 話。喚 作 矮 子 看 戲。隨 人 上 下。三 十 年 後 一 場 好 笑。且 道 笑 箇 什 麼 笑。白 雲 萬 里。 – Chợt có một vị tăng bước ra nói: Thưa trưởng lão, ông nói thế ấy cũng là mây trắng ngàn dặm! Lời nói này còn gọi là người lùn đi xem hát, chẳng trông thấy gì nhưng cũng bắt chước người khác vỗ tay tán thưởng, ba mươi năm sau vẫn còn buồn cười mãi.Thử hỏi cười cái gì?Cười mây trắng ngàn dặm”. ● 拗 曲 作 值. Từ trước vốn cong queo, nay muốn uốn lại cho thẳng; ý chỉ bày vẽ lắm việc. Đây là lời nói hàm ý chê bai. Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng ghi: “臨 濟 入 門 便 喝、是 甚 碗 鳴 聲?德 山 入 門 便 棒、拗 曲 作 直、雲 門 三 句、曹 洞 五 位、大 開 眼 了 作 梦。 – Vào cửa Lâm Tế liền bị hét, là tiếng khua bát? Vào cửa Đức Sơn liền bị đánh cũng là bày vẽ lắm việc; Vân Môn tam cú, Tào Động ngũ vị cũng là mở to mắt mà nằm mộng”. ● 音 可. Thiền tăng đời Minh, họ Đặng, tự Nguyên Bạch, người xứ Vũ Cương (nay thuộc Hồ Bắc) Trung Quốc. Sư nối pháp ngài Thiên Đồng Mật Vân. Tác phẩm: Tập Viên Thông Quảng Sám, Lặc Đàm Huệ Sơn Ngữ Lục và phần phụ về sự nghiệp của sư. ● 恩 隨 (thế kỷ XVII). Thiền tăng thời Trịnh Nguyễn phân tranh, khai sơn chùa Vạn Thiện ở trên núi Hoàng Ngưu, cạnh suối Đổ, thuộc thôn Phúc Trạch, huyện Diên Khánh, phủ Khánh Hòa. ● 印 正 (1617-1694). Thiền tăng đời Thanh, họ Khương, tự Đạo Chính, hiệu Liên Nguyệt, người xứ Nhạc Trì (nay thuộc Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Hải Minh ở Phá Sơn, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Liên Nguyệt Thiền Sư Ngữ Lục 6 quyển, Ngọc Tuyền Liên Nguyệt Chính Thiền Sư Ngữ Lục 2 quyển. ● 印 證 = Truyền Tâm Ấn 傳 心 印. Ấn là con dấu, chứng là chứng nhận. Tâm của trò đã ngộ rồi mới nhờ tâm của bậc thầy kiến tính giám định, chứng minh cho, giống như việc dùng con dấu đóng vào giấy tờ để xác nhận nội dung thật sự của giấy tờ ấy.Tiết Hoa Tạng An Dân Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “偶 僧 請 益 十 玄 談、方 擧 問:君 心 印 作 何 顏?悟(指 圓 悟 和 尚)厲 聲 曰:文 采 已 彰。師 聞 之 有 省。遂 求 印 證。 – Bỗng gặp vị tăng thưa hỏi về Thập huyền đàm, sư mới nhân đó đặt câu hỏi: ›Tâm ấn của Ngài có tướng mạo gì?‹ Viên Ngộ gằn giọng, nói: ›Văn vẻ đã bày‹. Sư nghe qua liền có tỉnh nên cầu Viên Ngộ ấn chứng”. ● 印 簡 (1202-1257). Thiền tăng sống vào khoảng đời Kim đến đời Nguyên, họ Tống, tự Hải Vân, người xứ Lam Cốc (nay là huyện Lam, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp ngài Khánh Thọ, tông Lâm Tế. Vua ban hiệu Quang Thiên Trấn Quốc Đại Sĩ. Thụy hiệu Phật Nhật Viên Minh Đại Sư. ● 印 海 (1927-). Tăng nhân hiện đại, họ Lưu, hiệu Viên Tu, người xứ Như Cao, Giang Tô, Trung Quốc. Sư y chỉ với Pháp sư Từ Hàng. Tác phẩm: Trung Ấn Thiền Tông Sử, Trung Quốc Tịnh Độ Giáo Lý Sử, Phật Giáo Duy Tâm Luận Khái Luận. ● 印 可. Thiền Sư chứng minh và thừa nhận chỗ Ngộ của người học thiền là đúng. ● 印 楞. Pháp danh của thiền tăng Tông Ngưỡng đời cận đại. ● 印 元 (1295-1374). Gọi đủ: Cổ Tiên Ấn Nguyên, (J: Kosen Ingen). Thiền tăng đời Nguyên họ Đằng, người Tương Châu, Nhật Bản. Đời Nguyên niên hiệu Diên Hựu thứ 5 (1318) sư vào Trung Quốc, lần lượt tham học nơi Cổ Lâm Thanh Mậu, Vô Kiến Tiên Đổ, kế thừa Trung Phong Minh Bản và đắc pháp. Niên hiệu Thái Định thứ 3 (1326), sư cùng với 5 người khác như: Nguyên Hối v.v… vâng lời ngài Thanh Chuyết Trừng sang Nhật Bản hoằng hóa. Sư từng trụ các ngôi chùa lớn nổi tiếng bên Nhật. Theo phả hệ, sư là Tổ Thiền Tông đời thứ 30, Nam Tông đời thứ 25, hệ Nam Nhạc đời thứ 24, tông Lâm Tế đời thứ 20, phái Dương Kỳ đời thứ 13, phái Mật Am đời thứ 7, tông Lâm Tế Nhật Bản đời thứ 7. ● 印 順 (1906-?). Tăng nhân hiện đại, họ Trương, hiệu Thạnh Chính, người Hải Ninh, Chiết Giang, Trung Quốc. Sư từng tham vấn các vị: Hư Vân Hòa Thượng, Từ Hàng Luật Sư, Thái Hư Đại Sư. Sư sở trường về Trung Quán và nghiên cứu sâu về Phật giáo nguyên thủy, Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc. Tác phẩm: Diệu Vân Tập 24 tập. ● 印 前 恢 廓. Trước máy in rộng lớn. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho cảnh giới khoáng đạt của tự tâm, vượt ngoài ngôn ngữ văn tự. Tắc 44, Thung Dung Lục (Đại 48, 285 hạ) ghi: “機 底 聯 綿 兮、自 有 金 針 玉 線;印 前 恢 廓 兮、元 無 鳥 蒃 蟲 文。 – Dưới khung cửi dày đặc, tự có kim vàng (chỉ ngọc).Trước máy in rộng lớn, vốn không có văn tự ngữ ngôn” ● 印 宗 (627-713). Thiền tăng đời Đường, họ Ấn, người xứ Ngô (nay là huyện Ngô, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư học thiền nơi Ngũ tổ Hoằng Nhẫn và là người truyền giới cho Lục tổ Huệ Năng. Tuy nhiên, sư vẫn xem Lục Tổ là người truyền pháp cho mình. Tác phẩm: Tâm Yếu Tập (Ngữ Lục của các bậc đạt đạo từ đời Lương đến đời Đường). ● 隱 空 (thế kỷ XIII). Thiền tăng đời Trần, quê ở huyện Na Ngạn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc, nên người đời gọi sư là Đại sư Na Ngạn, nối pháp Thiền Sư Thần Nghi, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 14. Sư đã dựa vào Nam Tông Tự Pháp Đồ và Chiếu Đối Bản để biên soạn tiếp phần Đăng Lục của Việt Nam, để rồi sau này một vài Thiền Sư khác tiếp tục biên soạn lại thành sách Thiền Uyển Tập Anh vào năm 1337. Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 隱 元. Hiệu của thiền tăng Long Kỳ đời Thanh. X. Long Kỳ. ● 隱 元 和 尚 語 錄. X. Phổ Chiếu Quốc Sư Ngữ Lục. ● 隱 峯 (?-?). Thiền tăng đời Đường, họ Đặng, người huyện Thiệu Vũ (nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất thuộc hệ Nam Nhạc. ● 隱 微 (886-961). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Dương, người xứ Tân Kiềm (nay là Tân Can tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp La Sơn Đạo Nhàn, được Nam Đường Trung Chủ ban hiệu “Huyền Tịch Đại Sư”. ● 歐 道 慧 (?-1172). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 9, nối pháp Quốc Sư Thông Biện. Sư họ Âu, quê ở Chân Hộ, lộ Như Nguyệt (nay thuộc tỉnh Hà Bắc), Việt Nam. Sư ở chùa Quang Minh, núi Thiên Phúc, Tiên Du (thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 巴 陵 顥 鑒. Thiền tăng Hạo Giám đời Ngũ Đại ở chùa Tân Khai tại Ba Lăng, Nhạc Châu, người đời gọi là Ba Lăng Hạo Giám. X. Hạo Giám. ● 芭 蕉 庵 主. Thiền tăng đời Tống, tên Cốc Tuyền ở am Ba Tiêu, nên người đời gọi sư là “Ba Tiêu am chủ”. X. Cốc Tuyền. ● 波 吒. Nguy nan, khốn đốn. Từ dịch âm tiếng Phạn. Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng: “莫 問 新 婦 阿 家、免 煩 路 上 波 吒。 – Chớ hỏi bà mẹ chồng, khỏi khó khăn khốn đốn trên đường”. ● 波 中 取 月. Còn gọi: Ba trung tróc nguyệt 波 中 捉 月. Mò trăng đáy nước; dụ chỉ hành vi hư vọng, nhọc công. Tiết ấu Chương Thiền Sư trong CĐTĐL q. 20 ghi: “若 是 學 語 之 輩、不 自 省 己 知 非、直 欲 向 空 裏 采 花、波 中 取 月、還 著 得 心 力 麼? – Nếu là bọn học ngữ, chẳng tự xét biết lỗi của mình, còn muốn tìm hoa đốm trong hư không, mò trăng đáy nước thì có tiết kiệm được tâm lực hay không?”. ● 巴 鼻. Vốn có nghĩa là nắm chặt lỗ mũi, ẩn dụ dùng sợi dây xỏ mũi dắt trâu. Nghĩa mở rộng là chỗ ra tay lãnh ngộ thiền pháp, cũng chỉ thiền cơ, cơ phong. Pháp Diễn Ngữ Lục q.trung ghi: “師 上 堂、卓 拄 杖 一 下、乃 擧 起 云:拄 杖 子、敢 問 你、還 說 得 如 來 禪 麼?自 云:說 不 得。還 說 得 祖 師 禪 麼?自 云:說 不 得。既 說 不 得、白 雲 今 日 出 自 己 意 去 也。出 自 己 意、小 兒 子 戯。人 天 衆 前、討 甚 巴 鼻? – Sư thượng đường, dộng cây gậy xuống một cái rồi giơ lên, nói: Cây gậy ơi, dám hỏi ngươi: Có nói được Như lai thiền chăng? Sư tự đáp: Không nói được. Có nói được Tổ sư thiền chăng? Sư tự đáp: Không nói được. Đã không nói được thì Bạch Vân tôi hôm nay sẽ đưa ra ý của mình. Đưa ra ý của mình khác nào trò đùa của con nít. ở trước trời người, tìm xem cơ phong gì?” ● 婆 婆 和 和. Oa oa, oe oe là tiếng kêu không rõ ràng của trẻ con. Thiền Tông dùng từ này dụ cho ngôn hạnh của Như Lai không thiên lệch. Thuật ngữ này đồng nghĩa với từ “Anh Nhi Hạnh” trong Kinh Niết bàn 18 (bản Nam). Thụy Châu Động Sơn Lương Giới Thiền Sư Ngữ Lục (Đại 47, 526 thượng) ghi: 如 世 嬰 兒、五 相 完 具 不 去 不 來、不 起 不 住婆 婆 和 和、有 句 無 句 終 不 得 物、語 未 正 故 “Như thế anh nhi, ngũ tướng hoàn cụ Bất khứ bất lai, bất khởi bất trụ Bà bà hòa hòa, hữu cú vô cú Chung bất đắc vật, ngữ vị chính cố”. “Như trẻ trong nôi, năm tướng đầy đủ Chẳng đến chẳng đi, chẳng ngồi chẳng đứng Oa oa! Oe oe! Có câu không câu Rốt cuộc không nghĩa, vì chưa thành lời”. ● 把 本 修 行. Nghĩa là thiền tăng bởi dính kẹt vào giáo pháp mà tu hành nên chưa thể vượt lên cảnh giới khoáng đạt tự tại. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q.1 (Đại 4,997 hạ) ghi: “從 來 把 本 修 行、不 敢 棄 嫌 因 果。 – Xưa nay nương tựa vào giáo pháp không dám coi thường nhân quả”. ● 把 棒 喚 狗. Nguyên ý là cầm gậy gọi chó, đây không phải là cử chỉ bình thường mà bao hàm tính cách nguy hiểm là gọi lại để đánh. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ bậc Thầy sử dụng cơ pháp dữ dội hiểm ác khi dẫn dắt người học. Tắc 41, Thung Dung Lục (Đại 48, 254 thượng) ghi “若 揀 得 出、分 付 鉢 袋 子。把 棒 喚 狗。 –Nếu ông phân biệt được thì ta trao cho cái đãy đựng bát (Cầm gậy gọi chó)”. ● 把 針. May vá áo quần. Trong tùng lâm thời xưa, tăng chúng thường tự may vá pháp phục, áo quần… vào những khi nhàn rỗi, ngoài lúc tu tập tọa thiền. Bách Trượng Quy Thắng Tụng trong Thiền Uyển Thanh Quy q.10 (Vạn Tục 111, 468 thượng) ghi: “或把 針、剃 頭、剪 紙、合 藥、或 曬 鞋 靸、觸 衣、浴 具、皆 於 屋 後 僻 處。 – Hoặc may vá, cạo tóc, cắt giấy, làm thuốc hoặc phơi giày, giặt áo, rửa tọa cụ, đều ở nơi hậu liêu vắng vẻ!”. ● 把 定 封彊. Còn gọi: Bả đoạn phong cương, Bả đoạn yếu tân, Bả đoạn nhân hầu. Nghĩa đen là giữ vững biên giới của một nước. Thiền Tông mượn cụm từ này chỉ cho việc lập bày một loại cơ duyên đốn ngộ: Chẳng lập văn tự, chặt đứt đường ngôn ngữ, không cho suy nghĩ, nhằm quét sạch mọi học giải tri kiến, vọng tình tục niệm. ● 把 髻 投 衙. Nguyên ý là chỉ cho sự cúi đầu tạ tội. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho sự ngu xuẩn của thiền tăng, đến nỗi hoàn toàn không tự biết hành động của chính mình. Tắc 81, Bích Nham Lục (Đại 48, 207 trung) ghi: “僧 問 藥 山:平 田 淺 草 麈 鹿 成 羣 如 何 射 得 麈 中 麈(把 髻 投 衙 擊 頭 帶 角 出 來 腦 後 拔 箭)山 云:看 箭。僧 放 身 便 倒。 – Tăng hỏi Dược Sơn: Đồng bằng cỏ thưa, hươu nai họp bầy, làm sao bắn được con nai chúa? (Thật ngu xuẩn, đầu sừng giơ ra, nhổ tên sau ót). Dược Sơn bảo: Xem tên đây! Tăng ngã nhào”. ● 把 纜 放船. Còn gọi: Bảo Kiều Trụ Tháo Tẩy. Bả lãm phóng thuyền nghĩa là nắm chặt dây neo mà đẩy thuyền đi. Bảo Kiều Trụ Tháo Tẩy nghĩa là hai tay ôm chặt trụ cầu mà muốn cọ rửa. Thiền Tông dùng hai thí dụ này để chỉ cho việc giữ chặt giáo điều nên không thể giác ngộ. Tiết Đâu Suất Tùng Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “今 時 人 猶 尚 抱 橋 柱 澡 洗、把 纜 放 船。 – Thời nay, người ta còn ưa thích nắm giữ giáo điều nên không thể giác ngộ”. ● 把 茅 蓋 頭. Chỉ cho thiền tăng trụ trì tự viện. Lương Giới Ngữ Lục ghi: “雲 居 問:如 何 是 祖 師 西 來 意?師 云:闍 黎 他 後 有 把 茅 蓋 頭、忽 有 人 問、如 何 祇 對? –Vân Cư hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Xà lê! Mai kia mốt nọ, ông làm Trụ trì, nếu có người hỏi ông thì làm sao đối đáp?”. ● 把 放 帳. Còn gọi: Vô Lậu Quan, Xuân Thu Bả Phóng Trướng. Bả là thu nhập. Phóng là chi xuất. Tức là sổ sách dùng để ghi chép việc thu xuất tiền bạc trong Thiền viện. ● 把 手. Tay nắm tay. Vô Môn Quan ghi: “禪 宗 無 門 關、透 得 過 者、非 但 親 見 趙 州、便 可 與 曆 代 祖 師 把 手 共 行。 – Người nào qua được cổng không cửa của Thiền Tông, không những thấy được Triệu Châu, mà còn nắm tay lịch đại Tổ sư cùng đi.” ● 把 手更 與 杖. Đã đưa tay nâng đỡ còn đưa thêm cái nạng. Tỷ dụ Thiền Sư khải thị người học bằng lời nói trùng lặp, rườm rà, không có thủ đoạn xuất sắc. Tiết Từ Vân Ngạn Long Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂、擧、玄 沙 示 衆 曰。。。師 曰:諸 禪 德、這箇 公 案、唤 作 嚼 飯 喂 小 兒、把 手 更 與 杖。還 會 麼?若 未 會、須 是 扣 己 而 參。 – Sư thượng đường, cử công án Huyền Sa thị chúng rằng… Sư nói: Chư thiền đức, công án này được gọi là nhai cơm mớm cho trẻ nít, chẳng phải là thủ đoạn xuất sắc. Có hội chăng? Nếu chưa hội, thì phải giam mình lại mà tham cứu”. ● 把 手 拽 不 入. Tuy được dẫn dắt nhưng không có cách gì để xông vào. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho không có pháp để cứu độ. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q. 2 (Đại 47, 1001 trung) ghi: “僧 云:未 審 二 林 見 僧、作 麼 生 接?師 云:把 手 拽 不 入。 – Tăng hỏi: Chẳng hay lúc Nhị Lâm gặp Tăng, dẫn dắt ra sao? Sư nói: Được dẫn dắt nhưng không vào được”. ● 把 捉. Nắm bắt. Lâm Tế Lục ghi: “處 處 討 覓 尋 皆。不 見 有 生 有 死。唯 有 空 名。幻 化 空 花 不 勞 把 捉。得 失 是 非、一 時 放 却。 – Tìm kiếm mọi nơi đều chẳng thấy có sinh có tử, chỉ có tên rỗng, như mộng huyễn, như hoa đốm giữa hư không, không nhọc nắm bắt, được mất phải quấy, buông xuống một lượt.” ● 把 住 放 行. Còn gọi: Bả định phóng hành. Phương thức hoặc phong cách chẳng đồng khi lập bày cơ duyên. Bả trụ: Chặt đứt đường ngôn ngữ khiến đối phương bặt dứt mọi suy nghĩ, Phóng hành: Buông thả hơn, giúp cho người học có phương tiện vào cửa. Vô Môn Quan ghi: “一 人 向 深 深 海 底行、簸 土 揚 塵、一 人 於 高 高 山 頂 立、白 浪 滔 天。把 定 放 行、各 出 一 隻 手、扶 豎 宗 乘。 – Một người đi dưới đáy biển sâu, bụi tung mù mịt; một người đứng trên đỉnh núi cao, sóng bủa ngất trời. Bả định phóng hành, mỗi người đưa ra một tay, nâng đỡ Thiền Tông”. ● 博 地 凡 夫. Người thường. Tiết Phần Dương Đại Đạt Vô Nghiệp Quốc sư trong LĐHY q.5 ghi: “十 地 諸 聖、豈 不 通 佛 理?可 不 如 一 箇 博 地 凡 夫?實 無 此 理。 – Chư Thánh thập địa, há chẳng thông Phật lý? Vì sao chẳng bằng một người thường? Thật không có lý này.” ● 博 戯. Cờ bạc, đánh bạc. Pháp Diễn Ngữ Lục q.trung ghi: “若 論 此 事、如 人 博 戲 相 似。忽 然 贏 得、身 心 歡 喜、家 業 昌 盛、覆 阴 兒 孫。不 覺 輸 他、自 然 迷 悶。 – Nếu luận về việc này thì giống như người đánh bạc. Bỗng nhiên thắng được, thân tâm vui mừng, gia nghiệp thịnh vượng, phúc ấm cho con cháu; còn như thua cuộc thì tự nhiên phải sầu muộn”. ● 博 山 大 艤和 尚 廣 錄. X. Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục. 博 山 禪 師. Thiền tăng Nguyên Lai đời Minh sau khi đắc pháp trụ Bác Sơn, người đời gọi là Bác Sơn Thiền Sư. X. Nguyên Lai. ● 柏 林 寺. Chùa nằm ở huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc. Ban đầu tên là “Quán Âm Viện”, Triệu Châu Tùng Thẩm từng ở nơi đây. Thời Nam Tống đổi tên là “Vĩnh An Viện”, đến đời Kim mới gọi là “Bách Lâm Tự”. Trong chùa có linh tháp của Triệu Châu Tùng Thẩm, là tháp gạch bảy tầng hình bát giác, cho nên còn có tên “Bạch Tháp Tự”, “Cổ Phật Tự”. Ngoài ra còn có bia trùng tu do Nguyên Phong soạn vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 18 (1539) đời Minh, bia linh tháp ký do Huệ Cảo soạn vào niên hiệu Thành Hóa thứ 16 (1480) đời Minh. ● 栢 林 寺 塔. Nguyên là “Chân Tế Thiền Sư tháp”, nằm ở phía đông bắc nội thành huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Chùa Bách Lâm được xây cất vào cuối đời Đông Hán; đời Tùy, Đường gọi là viện Quán Âm; đời Kim, Nguyên đổi lại là Thiền viện Bách Lâm. Trong chùa có một bảo điện thờ Thiền Sư Chân Tế, có bích họa do Ngô Đạo Tử vẽ, hiện nay chùa không còn nữa, chỉ còn một tòa cổ tháp. Tháp được xây vào niên hiệu Thiên Lịch thứ 3 (1330) đời Nguyên, là một tòa tháp gạch mái kín, hình bát giác bảy tầng, cao khoảng 40m. Dưới tháp là cái bệ xây bằng đá, trên bệ có phủ một lớp gạch. Phần dưới tháp là một tòa Tu di bằng gạch, có thắt lưng hai lớp, điêu khắc rất đẹp, có các hoa văn như: kỹ nhạc, Kim cang lực sĩ, rồng, voi, sư tử, nai, hoa mẫu đơn v.v… Đồ án kết cấu sống động, hình tượng chuẩn xác, kỹ thuật khéo léo, mang phong cách dân gian sâu đậm, là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc bằng gạch tuyệt đẹp. Phần trên của tòa dùng gạch làm thanh đỡ mái che tòa bằng. Trên tòa bằng khắc thành lan can, trên lan can điêu khắc các loại đồ án hoa văn. Đặc điểm của tháp là thanh đỡ mái che hùng vĩ, vành mái thấp ló ra xa, điêu khắc và trang trí phong phú, đây là một kiệt tác trong các tháp đời Nguyên. ● 百 了 千 當. Chỉ cho trạng thái sau khi giác ngộ triệt để. Chương Phong Huyệt Diên Chiểu Thiền Sư trong CĐTĐL q.13 ghi: “問:百 了 千 當 時 如 何?師 曰:不 許 夜 行、投 明 須 到。 – Hỏi: Khi đã giác ngộ một cách triệt để thì thế nào? Sư nói: Ban đêm không cho đi, sáng ngày bắt buộc phải đến”. ● 百 衲 衣. Còn gọi: Tệ Nạp Y, Đàn Nạp Y. Chỉ cho y vá, tứ y của Tăng, dùng vải củ rách, sửa sang may lại mà thành. Vì thường dùng 5 màu hoặc nhiều màu hỗn hợp may thành, nên còn gọi là Ngũ nạp y. Tăng lữ do đắp mặc nạp y nên cũng tự xưng là Nạp tăng, Lão nạp, Bố nạp, Dã nạp, Chuyết nạp v.v… Theo Thích Thị Yếu Lãm, q. thượng: Nạp y vốn có 5 loại: 1. Hữu thí chủ y (y do thí chủ cúng). 2. Vô thí chủ y (y không do thí chủ cúng). 3. Vãng hoàn y (y may bằng vải liệm người chết). 4. Tử nhân y (y may bằng áo quàng người chết). 5. Phấn tảo y: Chỉ cho y may bằng vải rách thành từng mảnh bị vất bỏ. Có thể chia làm: ― Đạo lộ khí y (y may bằng vải vất bỏ ngoài đường). ― Phấn tảo xứ y (y may bằng vải bị quăng vào rác rưởi). ― Hà biên khí y (y may bằng vải bỏ bên bờ sông). ― Nghị xuyên phá y (y may bằng vải bị trùng kiến cắn). ― Phá toái y (y may bằng vải rách nát). Nhưng sau khi Phật giáo thịnh hành, y phục của Tăng Ni không còn dùng các loại vải này. ● 百 雜 碎. Lúng túng vô cùng. Tắc 16, Bích Nham Lục (Tục 117, 146, thượng) ghi: “百 雜 碎、老 婆 心 切 且 莫 錯 認。 – Lúng túng vô cùng, tâm lão bà tha thiết xin chớ nhận lầm”. ● 百 千 年 後. Một trăm năm sau, ý nói lãnh ngộ thiền nghĩa còn đợi một trăm năm sau. Đây là lời nói mà Thiền Sư thường dùng để quở trách những người chưa tỉnh ngộ. Minh Giác Ngữ Lục ghi: 進 云:非 但 學 人、四 眾 有 賴。師 曰:百 千 年 後。 – Tăng lại hỏi tiếp: Không những một mình con mà tứ chúng cũng được nhờ. Sư (Triệu Châu) nói: Một trăm năm sau. ● 百 丈 怀 海 禪 師 語 錄. Còn gọi: Hồng Châu Bách Trượng Sơn Đại Trí Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Bách Trượng Hoài Hải soạn vào đời Đường, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 118, trang 161. Nội dung gồm có những cơ duyên ngữ cú của Bách Trượng Hoài Hải như: “Linh quang độc diệu… tức như như Phật”. Từ những ngữ cú này chúng ta có thể nhận ra đặc điểm thiền học của Bách Trượng Hoài Hải, đó là chủ trương tâm tính chúng sinh xưa nay thành tựu viên mãn, chỉ cần chẳng bị vọng tưởng trói buộc liền chẳng khác với chư Phật. ● 百 丈 山. Còn gọi: Đại Hùng Sơn. Núi nằm ở phía bắc Tây thành gần Đông Sơn huyện Phụng Tân, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Thác nước từ trên núi cao rót xuống cao hơn ngàn thước, nên gọi là Bách Trượng. Hơn nữa, vì thế núi vượt hẳn các núi lân cận nên còn gọi là “Đại Hùng Sơn”. Niên hiệu Hưng Nguyên thứ 1 (784) đời Đường, Thiền Sư Hoài Hải vào núi, coi việc xây cất Pháp đường, Tăng đường, sáng lập chùa Bách Trượng (còn gọi là Hương Dị Am), xiển dương Thiền Tông. Có các thiền tăng tụ hội về đây như: Hoàng Bá Hy Vận, Quy Sơn Linh Hựu. Sau khi Tổ Bách Trượng thị tịch, Thiền Sư Niếtbàn nối tiếp trụ trì. Ít lâu sau, Đường Tuyên Tông sắc đổi tên chùa thành “Đại Trí Thánh Thiền Tự”. Đời Tống có các vị Thiền Sư kế tiếp trụ trì như: Minh Chiếu, Đạo Hằng, Bảo Nguyệt, Duy Chính, Nguyên Túc, Duy Cổ, Tịnh Ngộ… Vào niên hiệu Chí Thuận thứ 1 (1330) đời Nguyên, Đông Dương Đức Huy trùng tu Pháp đường, trên ấy xây cất gác Thiên hạ sư biểu, để thờ tượng ngài Hoài Hải. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 1 (1335), biên tập lại “Bách Trượng Thanh Quy”, ban hành đến các Thiền viện toàn quốc. Núi Bách Trượng nhờ bản thanh quy này mà nổi tiếng khắp nơi. Niên hiệu Chính Thống thứ 7 (1442) đời Minh, Trung Trí biên tập bản thanh quy này lần nữa. ● 白 庵 禪 師. Hiệu của thiền tăng Lực Kim sống vào đời cuối Nguyên đầu Minh. X. Lực Kim ● 白 隱 慧 鶴 (1686-1769). (J: Hakuin Ekaku), Thiền tăng sống vào thời đại Đức Xuyên, hiệu Hộc Lâm, người Tuấn Hà (Suruga), thuộc tông Lâm Tế Nhật Bản. Năm 15 tuổi sư xuất gia ở chùa Tùng Âm, nối pháp Tín Thọ lão nhân ở Phan Sơn, làm Đệ nhất tọa ở chùa Diệu Tâm. Sư được gọi là Tổ trung hưng tông Lâm Tế. Ngoài việc trùng tu chùa Tùng Âm, sư còn khai sáng chùa Quan Âm, chùa Tân Vô Lượng ở núi Diệu Trí, chùa Long Trạch ở Tam Đảo. vv… Thụy hiệu: Thần Cơ Độc Diệu Thiền Sư, Chính Tông Quốc Sư. Tác phẩm: Ngữ Lục 103 quyển, Hoè An Quốc Ngữ, 7 quyển, Tức Canh Lục 1 quyển, Viễn La Thiên Phủ, Dạ Thuyền Nhàn Ngữ và Bích Sinh Thảo Tự Truyện đều gom vào Bạch Ẩn Thiền Sư Toàn Tập 6 quyển, trong đó cũng có chép thi văn, thư họa. vv… Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 白 槌. Bạch là cáo bạch, chùy là cái dùi. Bạch chùy là dùng dùi đánh lên tấm bảng để báo cho đại chúng giữ yên lặng. Người giữ việc bạch chùy gọi là Bạch chùy sư, phần nhiều do các vị tôn túc rành phép tắc đảm nhiệm. Tổ Đình Sự Uyển q. 8 (Vạn Tục 113, 118 hạ) ghi: “白 槌、世 尊 律 儀、欲 辨 佛 事、必 先 秉 白、爲 穆 衆 之 法 也。今 宗 門 白 槌、必 命 知 法 尊 宿 以 當 其 任。長 老 才 據 座 已、而 秉 白 云:法 筵 龍 象 衆、當 觀 第 一 義。長 老 觀 機 法 會 酬 唱 既 終、復 秉 白 云:諦 觀 法 王 法、法 王 法 如 是。此 蓋 先 德 之 眞 規、皆 不 失 佛 意。且 見 叢 林 多 擧 世 尊 升 座、文 殊 白 槌。 – Bạch chùy, theo luật nghi của Thế Tôn, muốn làm Phật sự, trước hết phải thưa bạch, là phép hòa chúng vậy. Ngày nay trong Thiền Tông, bạch chùy ắt phải nhờ vị tôn túc biết pháp tắc đảm nhiệm việc ấy. Vị Trưởng lão vừa lên tòa xong, trình bạch rằng: “Pháp diên long tượng chúng, đương quán đệ nhất nghĩa (Pháp hội của hàng Đại thừa, phải nên quán đệ nhất nghĩa). Khi pháp hội xướng đáp đã xong, Trưởng lão lại trình bạch rằng: Đế quán Pháp vương pháp, Pháp vương pháp như thị (quán kỹ pháp của Phật, pháp của Phật như thị). Đây là khuôn phép chân thật của Tiên đức, đều không sai ý Phật. Lại thấy trong tùng lâm phần nhiều cử bài Thế Tôn thăng tòa, Văn thù bạch chùy”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 白 居 易 (772-846). Cư sĩ đời Đường, tự là Lạc Thiên, về già lấy hiệu “Hương Sơn Cư sĩ”. Trước ở Thái Nguyên (nay thuộc Sơn Tây), sau dời về Hạ Khuê (nay là đông bắc huyện Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây), Trung Quốc. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 16 (800), ông đỗ Tiến sĩ, lần lượt nhậm các chức: Hàn lâm học sĩ, Tả tháp di, Tả tán thiện đại phu. Bởi đắc tội với bậc quyền quý, ông bị biếm làm Tư mã Giang Châu, rồi nhậm chức Thứ sử Hàng Châu, Tô Châu; sau cùng làm Hình bộ Thượng thư. Về già sống ở Hương Sơn, Lạc Dương, lấy thơ, rượu làm niềm vui. Ông là thi nhân nổi tiếng vào đời Đường, sáng tác “Trường Hận Ca”, “Tỳ Bà Hành” được truyền tụng đã hơn ngàn năm nay. Ông chịu ảnh hưởng Phật giáo rất sâu, khi nhậm chức Thứ sử Hàng Châu từng bái phỏng Thiền Sư Điểu Khòa Đạo Lâm, và còn làm bạn với các vị tăng: Như Mãn, Pháp Ngưng cùng tu tập Thiền pháp. Ông lấy bổng lộc của mình tu bổ lại cổng chùa Hương Sơn. Về già, ông nương gá tinh thần vào tư tưởng Phật giáo; hễ có sáng tác văn chương liên quan đến việc giáo hóa là khen ngợi Phật giáo. Tác phẩm: Bạch Cư Dị Tập. ● 白 華 山. X. Phổ Đà Sơn. ● 白 龍 祖 師. Thiền tăng Đạo Hy đời Ngũ Đại ở viện Bạch Long tại Thăng Sơn, người đời gọi là “Bạch Long Tổ Sư”. X. Đạo Hy. ● 白 馬 和 尚. Thiền tăng Hành Ái đời Tống ở núi Bạch Mã, Tương Châu (nay là Tương Phàn, Hà bắc), người đời gọi là Bạch Mã Hòa Thượng. X. Hành Ái. ● 白 馬 入 蘆 花. Bạch mã (ngựa trắng) cùng với Lô hoa (hoa lau) đều sắc trắng, cho nên khi ngựa trắng vào trong rừng hoa lau thì cùng với hoa lau đồng một màu khiến cho mắt thường không thể nào phân biệt được. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cảnh giới siêu việt tất cả kiến giải phân biệt nhân ngã, lớn nhỏ, cao thấp, tốt xấu. Tắc 13, Bích Nham Lục (Đại 48, 153 hạ) ghi: “僧 問 巴 陵:如 何 是 提 婆 宗?(白 馬 入 蘆 花、道 什 麼 點)。 – Vị Tăng hỏi Ba Lăng: Thế nào là tông chỉ của Đề Bà? (Ngựa trắng vào rừng hoa lau làm sao phân biệt?)”. ● 白 馬 禪 師. Thiền tăng Đàm Chiếu đời Đường ở chùa Bạch Mã, Kinh Nam, người đời gọi là Bạch Mã Thiền Sư. X. Đàm Chiếu. ● 白 拈 賊. Gọi tắt: Bạch Niêm. Bạch là rỗng không, Niêm là dùng đầu ngón tay nhón lấy đồ vật. Tức là không lấy tay cầm vật mà chỉ lấy đầu ngón tay nhón lấy trộm, không lưu lại dấu vết. Ý chỉ cho kẻ trộm giỏi. Có thuyết cho rằng Bạch có nghĩa là ban ngày, tức giữa ban ngày trước mắt nhìn lom lom đồ vật của mọi người mà nhanh khéo nhón lấy (cái tài khéo léo của kẻ trộm). Thiền Tông mượn từ Bạch Niêm Tặc để chỉ cho bậc Tông sư kiến tính dùng thủ đoạn khéo léo để tiếp dẫn người học. Liên Đăng Hội Yếu q. 9 (Vạn Tục 136-289 hạ) ghi: “雪 峯 聞 云:臨 濟 大 似 箇 白 拈 賊。師 云:夫 善 窃 者、鬼 神 莫 知、既 被 雪 峯 覷 破、臨 濟 不 是 好 手。– Tuyết Phong nghe được, nói: Lâm Tế giống hệt tay trộm giỏi (…) Tuyết Đậu nói: Nếu là tay trộm giỏi thì quỷ thần cũng chẳng hay. Nay đã bị Tuyết Phong biết hết nên Lâm Tế chẳng phải là tay nhà nghề”. ● 白 光. Hiệu của Thiền tăng Đức Minh đời Thanh. X. Đức Minh. ● 白 聖 (1904-1989). Tăng nhân hiện đại, họ Hồ, tự Khiết Nhân, người xứ ứng Thành, Hồ Bắc, Trung Quốc. Sư từng thân cận Thiền Sư Lai Quả ở chùa Cao Mân và là người sáng lập Trung Quốc Phật Giáo Tam Tạng Học viện, Viện Nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc. Tác phẩm: Học Thiền Phương Tiện Đàm, Thiền Tông Sử Luận Tập, Duy Ma Cật Kinh Giảng Lục. ● 白 雲. Chỉ cho sự hoàn toàn không dính mắc, tự do vô ngại giống như mây trắng đến đi tự tại. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q. 14 (Đại 51, 309 hạ) ghi: “道 悟 問:如 何 是 佛 法 大 意?師 曰:不 得 不 知。悟 曰:向 上 更 有 轉 處 也 無?師 曰:長 空 不 礙 白 雲 飛。 – Đạo Ngộ hỏi: Thế nào là đại ý của Phật pháp? Sư đáp: Không thể không biết! Đạo Ngộ hỏi: Hướng lên còn có chỗ nào chuyển không? Sư đáp: Không gian nào ngại mây trắng bay”. ● 白 雲 安 谷 (1885-1973). Hakuun Yasutani (jap). Thiền tăng, sống vào cuối thời đại Minh Trị đến thời đại Đại Chính Chiêu Hòa, pháp danh Bạch Vân, cũng gọi là Tổ Nhạc, thuộc tông Tào Động Nhật Bản. Sư xuất gia lúc 11 tuổi, 13 tuổi đã trở thành vị tân học tăng của tông Tào Động. Sư học ngành giáo dục sư phạm và từng làm giáo chức. Năm 15 tuổi mới tập tọa thiền, ngoài 40 tuổi mới chính thức trở thành vị tăng ở chùa, rồi được Nguyên Điền Đại Vân nhận làm môn đệ, đến năm 58 tuổi được ngài ấn khả. Sư truyền dạy các pháp: Thiền tâm yếu của Thiền Sư Đạo Nguyên tức “Chỉ quản đả tọa” và pháp yếu của tông Lâm Tế là “Công án và tọa thiền”. Ngoài việc tổ chức hoạt động “Tiếp tâm” ở Nhật Bản, sư còn diễn giảng thiền học tại các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức. Tác phẩm: Sư có chú thích về Công án tập như: Vô Môn Quan, Bích Nham Lục, Thung Dung Lục, Truyền Quang Lục, Động Sơn Ngũ Vị. : PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 白 雲 休. Thiền tăng Vô Hưu đời Ngũ Đại ở chùa Bạch Vân tại Kinh Triệu, người đời gọi là Bạch Vân Hưu. X. Vô Hưu. ● 白 雲 守 端 禪 師 廣 錄. Còn gọi: Bạch Vân Đoan Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 4 quyển, do Bạch Vân Thủ Đoan soạn vào đời Tống, nhóm ông Xử Ngưng biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh, tập 120, trang 400. Nội dung bao gồm các Ngữ Lục do đệ tử của Thủ Đoan biên tập tại 6 nơi: Thiền viện Viên Thông Sùng Thắng ở Giang Châu; Thiền viện Thừa Thiên; Thiền viện Chứng Đạo, núi Pháp Hoa ở Thư Châu; Thiền viện Càn Minh ở núi Long Môn; Thiền viện Hưng Hóa; Thiền viện Hải Hội ở núi Bạch Vân; cho đến các kệ tụng, 100 tắc tụng cổ và bài tựa Tổ Đường Cương Kỷ. ● 白 雲 上 人. Thiền tăng Mãn Khởi đời Minh, người đời gọi là Bạch Vân Thượng nhân. X. Mãn Khởi. ● 白 雲 寺. 1. Chùa nằm ở đỉnh hồ, góc phía nam Sơn Tây, cách thành phố Triệu Khánh tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc 18km về hướng đông bắc. Chùa được xây dựng bởi sư Trí Thường, đệ tử của Lục tổ Huệ Năng. Đương thời từng có 30 ngôi chùa phân bố khắp núi. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh, chùa được xây dựng lại. Vào khoảng niên hiệu Hàm Phong (1851-1861) và Quang Tự (1875-1908) đời Thanh, chùa được trùng tu hai lần. Trong chùa có Niết bàn đài, dưới Đài có khắc 8 chữ lớn “Chính Pháp Nhãn Tạng, Niết bàn diệu tâm”, tương truyền là thủ bút của ngài Trí Thường. Ngoài ra còn có các di tích: Dược Long am (am rồng quẫy), La hán kiều (cầu La hán), Thánh tăng kiều, Điếu ngư đài (Đài câu cá), Tiên kỳ thạch, Thạch thành môn. Gần đó còn có các cảnh lạ như: Lão long đàm, Tam muội đàm, Dục Phật trì, Thủy liêm động thiên. Thủy liêm động thiên là khe núi có dòng thác từ trên cao hơn 30m rót xuống, bụi nước tung lên phản chiếu ánh sáng mặt trời thành một cầu vòng, trông thật ngoạn mục. ● 2. X. Phong Huyệt tự. ● 白 雲 萬 里. Còn gọi: Bạch Vân Thiên Lý Vạn Lý. Mây trắng ngàn dặm, ý nói cùng với Thiền pháp cách nhau rất xa. Pháp Diễn Ngữ Lục q.hạ ghi: “自 十 九 到 二 十 三 日、萬 余 人 來 此 赴 會 哄 哄 地、如 今 只 見 老 漢 獨 自 口 吧 吧 地。若 道 多 人 閙 一 人 是 靜、直 是 白 雲 萬 里! 畢 竟 如 何?一 人 浩 浩、多 人 靜 悄 悄、不 如 歸 堂 喫 茶 好。 – Từ ngày 19 đến ngày 23, hơn muôn người đến dự hội thật rộn rịp, hôm nay chỉ thấy lão này lải nhải một mình. Nếu nói nhiều người là ồn, một người là lặng, chính là mây trắng ngàn dặm! Rốt cuộc thế nào? Một người thì ồn ào, nhiều người thì vắng lặng, chẳng bằng trở về nhà uống trà còn hơn”. ● 白 衣 拜 相. Trong Phật giáo, bạch y thường dùng để chỉ cho người tại gia, nhưng ở đây chỉ chung cho hạng dân dã không địa vị quan chức. Bạch Y Bái Tướng, nghĩa là một kẻ bình dân không có địa vị nào hết, bỗng nhiên được phong chức Tể tướng. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho người hoát nhiên đốn ngộ, chuyển phàm thành Thánh. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q.1 (Đại 47, 990 thượng) ghi: “大 丈 夫 漢、等 是 爲 人、何 不 教 他 脫 籠 頭、卸 馱、如 白 衣 拜 相 一 般。 – Kẻ đại trượng phu, họ cũng là người, sao không bảo họ cởi bỏ lồng chậu đồ mang vác đi, giống như hạng bình dân được phong chức Tể tướng”. ● 牌. Là thẻ gỗ dùng để thông báo các thứ việc đại chúng trong các chùa. Thông thường thẻ dài khoảng 48cm, rộng hơn 38cm. Tùy theo công việc được thông báo mà có các loại bài: 1. Giới lạp bài: Sắp xếp vị trí theo số năm thụ giới của tăng chúng; 2. Xướng y bài: Thông báo về việc rao bán di vật của vị tăng quá cố; 3. Thượng đường bài: Treo ở Pháp đường để thông báo thời khắc thượng đường; 4. Tọa thiền bài: Treo ở trước Thiền đường để thông báo giờ giấc ngồi thiền; và Tiểu tham bài, Phóng tham bài, Phổ thỉnh bài, Khai dục bài (tắm), Phóng sinh bài v.v… Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 排 叠. Còn gọi: Bài Phê 排 批. Sắp đặt, lo liệu. Tiết “Phổ Hóa Hòa Thượng” trong TĐT q.17 ghi: 非 久 之 間、普 化 自 上 來 臨 濟、臨 濟 便 歡 喜、排 批 飯 食、對 坐 吃。 – Không bao lâu thì Phổ Hóa lên đến viện Lâm Tế. Lâm Tế (Nghĩa Huyền) liền sắp đặt cơm nước và cùng ngồi ăn.” ● 排 遣. ứng phó, đối phó. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: 問:生 死 到 來、如 何 排 遣?師 展 手 曰:還 我 生 死 來。 – Hỏi: Sinh tử đến, làm sao đối phó? Sư liền giơ tay, nói: Trả sinh tử lại cho ta. ● 敗 缺. 1. Bị thua, bị đánh bại. Tiết Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “師 以 手 指 曰:這 老 漢 今 日 敗 缺 也。 – Sư lấy tay chỉ và nói: Lão già này hôm nay bị thua rồi!”. 2. Thất bại. Tiết Nam Viện Huệ Ngung Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “僧 參、師 擧 拂 子、僧 曰:今 日 敗 缺。– Tăng đến tham vấn, sư giở phất tử, tăng nói: Hôm nay thất bại”. ● 摆 動. Phấn chấn tinh thần. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “若 是 初 心 後 學、直 須 摆 動 精 神、莫 空 記 人 說 處、多 虛 不 如 少 實。 –Nếu là hàng hậu học sơ tâm cần phải phấn chấn tinh thần. Đừng luống công ghi nhớ những điều người khác nói. Nhiều rỗng chẳng bằng ít đặc”. ● 罷 講 齋. Phần đông, người theo Giáo môn khi tham thiền có sự tỉnh ngộ, liền bãi giảng và thiết lập trai đàn cúng dường Tăng chúng, nghi thức ấy gọi là Bãi giảng trai. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q.1 (Đại 47, 989 hạ) ghi: “良 遂 座 主 參 麻 谷、谷 見 來、攜 鉏 去 鉏 草。次 日 又 來、谷 便 閉 卻 門、遂 因 此 契 悟、乃 云:和 尚 莫 謾 良 遂 好、若 不 來 見 和 尚、幾 被 十 二 分 教 誤 卻 一 生。遂 將 房 計 賣 卻、作 一 罷 講 齋。 – Tọa chủ Lương Toại đến tham kiến Ma Cốc. Cốc thấy sư đến liền lấy cào đi cào cỏ. Ngày kế sư lại đến, Cốc lại đóng cửa. Nhân đó Toại khế ngộ, liền nói: Hòa Thượng chớ lừa Lương Toại lắm! Nếu không đến tham kiến Hòa Thượng thì hầu như tôi suốt đời bị 12 phần giáo làm lầm. Rồi Toại bán tài sản để thết bày một Bãi giảng trai”. ● 罷 參. Nghỉ việc tham thiền. Trong Thiền lâm, lúc người tham học khai ngộ, hiểu rõ đại sự, không cần tu đạo, tham thiền nữa. Tắc 96, Bích Nham Lục (Đại 48, 21 thượng) ghi: “爾 若 透 得 此 三 頌、便 許 爾 罷 參。 – Nếu ngươi thấu đáo được ba bài tụng này thì cho ngươi nghỉ việc tham thiền”. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q.8 (Đại 51, 262 thượng) ghi: “自 罷 參 大 寂、遊 至海 昌。 – Từ khi nghỉ việc tham thiền nơi ngài Đại Tịch, liền đi đến Hải Xương”. — Bãi tham trai: Sau khi tham thiền đã được liễu ngộ, thiết trai cúng dường đại chúng. — Bãi tham hội: Hoàn thành sự tham vấn ở các nơi, hoặc đạt đến kiến giải của bậc khai ngộ. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 半 個 聖 人. Bán cá là chỉ số ít, hiếm có. Bán Cá Thánh Nhân nghĩa là một vị Thánh nhân hiếm có. Tiết Thạch Củng Huệ Tạng trong TĐT q.14 ghi: “師 便 拋 下 弓 箭、云:三 十 年 在 這 裏 今 日 射 得 半 個 聖 人。 –Sư liền vất cung tên xuống đất, nói rằng: Ba mươi năm ở đây, ngày nay chỉ bắn được một vị Thánh nhân hiếm có”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 半 提. Thiền pháp được nêu ra không hoàn toàn triệt để. Mật Am Ngữ Lục ghi: “盡 乾 坤 大 地 喚 作 一 句 子、担 枷 帶 鎖、不 喚 作 一 句 子、業 識 忙 忙; 兩 頭 俱 透 脫、凈 裸 裸、亦 洒 洒、沒 可 把、達 摩 一 宗、掃 土 而 盡。所 以 雲 門 大 師 道:盡 乾 坤 大 地 無 絲 豪 過 患、猶 是 轉 句; 不 見 一 色、始 是 半 提; 更 須 知 有 全 提 時 节。 –Khắp đất trời thế giới gọi là một câu thì đội gông mang xiềng, chẳng gọi là một câu thì nghiệp thức mang mang, hai đầu đều thông suốt, toàn thể lộ bày không thể nắm bắt, một tông Đạt ma đều bị quét sạch. Thế nên Đại sư Vân Môn nói: Đất trời thế giới đều không lầm lẫn mảy may cũng là chuyển cú, chẳng thấy một vật mới là bán đề; còn phải biết có thời tiết toàn đề nữa”. ● 半 開 半 合. Còn gọi: Bán Hợp Bán Khai. Nguyên là dụng ngữ của Phán Thích Giáo Tướng Phật Học. Khai có nghĩa là bày nói ra (biểu thuyên), hợp có nghĩa là trừ bỏ (giá thuyên). Trong Thiền Tông thường dùng lời lẽ ấy để biểu thị trạng thái không nghiêng về một mối nào. Minh Giác Thiền Sư Ngữ Lục q.2 (Đại 47, 679 trung) ghi: “龍 泉 與 刀 斧 同 鐵、利 鈍 懸 殊。。。酌 然! 酌 然! 一 出 一 入、半 合 半 開; 平 展 之 流、試 辯 緇 素。 – Gươm Long Tuyền và dao búa đều bằng sắt, bén lụt khác nhau xa (…) Liệu đấy! Liệu đấy! Một xuất một nhập, nửa úp nửa mở, một loại ngang nhau, thử phân biệt xem đâu là đạo, tục”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 盤 泊. Nương tựa, nương theo một người nào đó để tu học. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q.7 ghi: “後 參 德 山… 既 盤泊 數 載、盡 領 玄 旨。 – Sau đó, sư tham vấn Đức Sơn …. nương theo ngài được vài năm, lãnh ngộ hết huyền chỉ.” ● 盤 礴. 1. Xoay tít, vòng vèo. Bích Nham Lục q.1 ghi: “且 據 雪 竇 頌 此 公 案 一 似 善 舞 太 阿 劍、相 似 向 虛 空 中 盤 礴 自 然、不 犯 鋒 鋩。 – Cứ theo lời tụng công án này của Tuyết Đậu giống như người giỏi múa kiếm Thái A, huơ xoay tít vòng vèo trong hư không một cách tự nhiên mà không chạm đến lưỡi bén.” ● 2. Tìm xét nhiều lần. Bích Nham Lục q.1 ghi: “雪 竇 頌 一 百 則 公 案、一 則 則 焚 香 拈 出。所 以 大 行 於 世。他 更 會 文 章、透 得 公 案、盤 礴 得 熟 方 可 下 筆。何 故?如 此 龍 蛇 易 辨 衲 子 難 瞞。 – Tuyết Đậu tụng một trăm tắc công án, mỗi tắc đều phải thắp hương tụng ra, vì thế được thạnh hành ở đời. Sư đã thông hiểu văn chương lại thấu triệt công án, tìm xét nhiều lần thật chín chắn mới hạ bút. Tại sao như thế? Vì rắn rồng dễ biện, thiền tăng khó lừa.” ● 媻 大 子. Còn gọi: Bát Đại Tử, Bàn Đại Nhi. Bậc siêu phàm, người thường không thể dùng kiến thức thông thường mà biết hoặc đo lường sự khác biệt về cái biết của họ được. Trúc Thiên Hòa Thượng Ngữ Lục q. trung (Đại 80, 377 hạ) ghi: “進 云:時 有 僧 曰:特 牛 生 兒 也 何 以 不 道?山 曰:把 燈 來! 把 燈 來! 又 作 麼 生?答 云:如 槃 大 子。 – Có người hỏi: Khi ấy có vị tăng nói: Trâu đực sinh con vì sao không nói? Sơn đáp: Đem đèn lại! Đem đèn lại, là cái gì? Đáp: Như Bàn đại tử”. ● 盤 桓. Tình ý ân cần sâu nặng. Mật Am Ngữ Lục ghi: “忽 接 四 明 信。來 書 意 盤 桓。天 童 虛 法 席。使 君 語 猶 端。迢 迢 遣 專 使。不 問 路 行 難。山 僧 臨 晚 景。不 敢 自 相 瞞。搥 鼓 樂 與 行。四 眾 亦 欣 歡。 – Chợt được thư Tứ Minh lời lẽ rất ân cần, pháp tịch Thiên Đồng trống, khiến huynh phải băn khoăn. Xa xôi nhắn chuyên sứ (người đưa thư), chẳng hỏi đường khó khăn. Sơn tăng đến vãn cảnh, chẳng dám lừa dối huynh. Đánh trống mừng đưa tiễn, bốn chúng cũng hân hoan.” ● 盤 龍 寺. Chùa ở núi Đông Kiều, huyện Tấn Ninh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc do Thiền Sư Liên Phong xây cất. Liên Phong (1298-1364) họ Đoàn, người Tấn Ninh thuộc con cháu họ Đoàn nước Đại Lý. Năm 29 tuổi xuất gia pháp danh Sùng Chiếu. Sư từng vân du bảy năm qua các danh sơn cổ sát, bái sư học tập thiền pháp. Niên hiệu Chí Chính thứ 7 (1347) đời Nguyên, sư xây cất chùa nơi đây, ban đầu tên là “Bàn Long Am”. Về sau trải qua nhiều lần xây cất trở thành ngôi chùa lớn thứ hai Vân Nam có Phật điện, Thiền đường, Khách đường, Tăng xá. Niên hiệu Ung Chính thứ 1(1723) tăng chúng ở xứ ngoài lại thỉnh về một bộ “Nam Tạng Kinh” cất giữ trong Tàng kinh lâu. Hiện còn những kiến trúc như Nhị đạo môn, Bất nhị điện, Đại Hùng Bảo Điện, Tổ sư điện, Dược sư điện, Ngọc hoàng các. Trong chùa có một tấm bia”Đại Bàn Long Am Đại Giác Thiền Sư Bảo Vân Tháp Minh” ghi lại sự tích của Thiền Sư Liên Phong. ● 本 豫 (?-1646). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trần, tự Lâm Cao, hiệu Hối Phu, người xứ Côn Sơn (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Bàn Sơn Tu, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Tông Môn Giới Phạm. ● (1355-1422). Thiền tăng đời Minh, họ Bùi, hiệu Tây Trúc, người xứ Sùng Nhân (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Từ Chu Tế. ● 本 來 面 目. Còn gọi: Bản Địa Phong Quang, Bản Phận Điền Địa, Tự Kỷ Bản Phận. Mặt mũi xưa nay. Chỉ cho tự tính chẳng mê chẳng ngộ mà mọi người đều sẵn có, chỉ hiện tiền khi thân tâm tự nhiên rỗng rang. Đồng nghĩa với Bản giác của Hiển giáo, Bản sở của Mật giáo. Kinh Pháp Bảo Đàn (Đại 48, 349 trung) ghi: “能 云:不 思 善、不 思 惡。正 與 麼 時、那 箇 是 明 上 座 本 來 面 目? – Huệ Năng nói: Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính lúc đó cái gì là mặt mũi xưa nay của Thượng tọa Minh?”. Bích Nham Lục q.10 (Đại 48, 223 trung) ghi: “直 須 淨 躶 躶 赤 灑 灑 更 無 物 可 得 乃 是 本 地 風 光 一 似。 – Cần phải bày lồ lộ, sạch trọi trơn, không có một vật khá được, mới là mặt mũi xưa nay”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 本 來 無 一 物. Tự tính vốn thanh tịnh, nào có vật gì. Thuật ngữ này xuất phát từ Lục Tổ Đàn Kinh (Đại 48, 349 thượng): 菩 提 本 無 樹。明 鏡 亦 非 臺 本 來 無 一 物。何 處 有 塵 埃 “Bồ đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai?” “Bồ đề vốn không cây, Gương sáng cũng chẳng đài, Xưa nay không một vật, Chỗ nào lấm trần ai?”. Ý nói tất cả đều vắng lặng, không còn một vật nào, đó là cảnh giới giác ngộ sáng suốt. ● 本 來 無 事. Còn gọi: Bản Vô Sự Nhi Vong Tình, Hưu Tâm Bất Khởi. Vốn không có tạo tác. Đây là đường lối tu hành của phái Thiền Ngưu Đầu. Phái này cho rằng Tâm cảnh vốn không có, tâm tạo tác đều là mê vọng, cho nên phải tan mất vọng tình của mình đi thì cảnh sẽ không có chỗ nương tựa. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 本 命 元 辰. Bản Mạng, Nguyên Thần đều là những vì sao chi phối vận mệnh con người. Thiền Tông dùng từ Bản Mạng Nguyên Thần để dụ cho bản tính của chính mình. Bài 60 trong Sơn Cư Bách Vịnh của Thiền Sư Tông Bản ghi: 山 居 趺 坐 一 蒲 團 日 用 工 夫 在 反 觀 本 命 元 辰 知 落 處 舌 頭 不 被 別 人 謾 “Sơn cư phu tọa nhất bồ đoàn Nhật dụng công phu tại phản quan Bản Mạng Nguyên Thần tri lạc xứ Thiệt đầu bất bị biệt nhân man”. “ở non ngồi vững một bồ đoàn Hằng dụng công phu tự phản quan Đến nay không bị ai lừa nữa Vì ngộ bản tính thật rõ ràng”. ● 本 滵 (1606-1665). Còn gọi: Hành Mật. Thiền tăng đời Thanh, họ Kim, hiệu Nhị ẩn, người xứ Cổ Du Xương Châu, Trung Quốc, nối pháp Mật Vân Viên Ngộ, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Nhị Ẩn Mật Thiền Sư Ngữ Lục, 10 quyển. ● 本 源 眞 性 佛. Tính giác sẵn có nơi mỗi người, xưa nay là Phật. Uyển Lăng Lục ghi: “爾 今 聞 發 菩 提 心、將 謂 一 箇 心 學 取 佛 去、唯 擬 作 佛。任 爾 三 秖 劫 修、亦 秖 得 箇 報 化 佛、與 爾 本 源 眞 性、佛 有 何 交 涉。 – Nay ngươi nghe nói phát tâm Bồ đề liền tưởng rằng đem tâm để học Phật, chỉ mong làm Phật. Mặc cho ngươi tu ba kỳ kiếp, cũng chỉ được Phật báo hóa, cùng với Bản nguyên chân tính Phật có gì dính dáng.” ● 本 月 (1602-1676). Thiền tăng đời Minh, họ Tôn, tự Lữ Am, người Tú Thủy (nay là huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia, đầu tiên tham học nơi ngài Thông Tú nhưng chưa triệt ngộ; về sau sư tham yết ngài Đạo Mân được nối pháp ngài. Sư phụng sắc trụ trì các chùa: Thiện Hưng, Phụng Thánh, Long Trì. Về già, sư ở chùa Cửu Phong tại Tùng Giang. Người đời gọi sư là Lữ Am Nguyệt, có Ngữ Lục lưu hành ở đời. Theo phả hệ sư là Tổ Thiền Tông đời thứ 42, Nam Tông đời thứ 37, hệ Nam Nhạc đời thứ 36, tông Lâm Tế đời thứ 32, phái Dương Kỳ đời thứ 25, phái Mật Am đời thứ 19. ● 本 如 (695-750). Thiền tăng đời Đường, họ Kim, người nước Tân La (nay là Triều Tiên). Khi vua Huyền Tông lên ngội, sư theo sứ giả nước Tân La (sang chúc mừng vị vua mới đăng quang) vào Trung Quốc. Qua sự giới thiệu sư đến Nam Nhạc thờ ngài Hoài Nhượng làm thầy, hầu hạ cho đến khi thầy mất. Sư đi thưa hỏi các bậc danh túc các nơi. Niên hiệu Thiên Bảo thứ 6 (747) sư về nước, hoằng truyền tâm pháp Tào Khê. ● 本 分. 1. Phần bên trong của chính mình. Tiết Điểu Khòa Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “雖 然 如 此、出 家 自 有 本 分事。作 麼 生 是 和 尚 本 分 事? – Mặc dù như thế, xuất gia tự có việc bản phận. Thế nào là việc bản phận của Hòathượng?”. ● 2. Quen tay thạo việc, lão luyện. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “若 云 言 中 有 响、句 裏 呈 機、猶 曲 爲 中 下 之 流、向 本 分 衲 僧、遠 之 遠 矣! – Nếu nói trong lời có vang, trong câu trình cơ, cũng còn là hàng trung hạ, đối với nạp tăng thật xuất sắc quả còn cách xa lắm vậy”. ● 本 分 鉗 錘. Chỉ thủ đoạn mạnh bạo của Thiền Sư bản sắc khi tiếp dẫn người học. Kiềm chùy: Kìm và búa là dụng cụ của người thợ rèn, dụ chỉ thủ đoạn mạnh bạo để tiếp dẫn người học. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “ 發 明 之 後、更 須 就 作 家 爐 鞴、本 分 鉗 錘、鍛 煉 一 回、無 絲 毫 滲 漏、方 許 得 解 粘 去 縛。 – Sau khi phát minh còn phải vào lò rèn của người thợ giỏi, để ông ta dùng thủ đoạn mạnh bạo, trui luyện một phen, không còn một chút rò rỉ nào mới chịu cho rằng ngươi đã thoát khỏi mọi dính mắc.” ● 本 分 人. Chỉ thiền nhân lão luyện. Bích Nham Lục q.1 ghi: “若 是 本 分 人 到 這 裏、須 是 有 驅 耕 夫 之 牛 奪 饑 人 之 食 底 手 脚、方 見 馬 大 師 爲 人 處。 – Nếu là thiền nhân lão luyện đến chỗ nầy cần phải có thủ đoạn đuổi trâu của người cày, đoạt cơm của kẻ đói, mới thấy đuợc chỗ vì người của Mã Đại Sư.” ● 本 分 事. 1. Việc quan trọng bên trong bản thân của thiền nhân, chỉ cho việc đạt được thiền ngộ, siêu thoát sinh tử. Chương Điểu Khòa Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “今 人(指 白 居 易)歸 京、入 寺 遊 戲、見 僧 念 經、更 問:甲 子 多 少?對 曰:八 十 五。進 曰:念 經 得 幾 年?對 曰:六 十 年。舍 云:大 奇! 大 奇! 雖 然 如 是、出 家 自 有 本 分 事。作 麼 生 是 和 尚 本 分 事?僧 無 對。 – Xá nhân (chỉ Bạch Cư Dị) trở về kinh, vào chùa vãn cảnh, thấy tăng tụng kinh, liền hỏi: Sư được bao nhiêu tuổi? Vị tăng đáp: Tám mươi lăm. Lại hỏi: Tụng kinh được mấy năm. Vị tăng đáp: Sáu mươi năm. Bạch Cư Dị nói: Rất hay! Rất hay! Mặc dù như vậy, xuất gia tự có bản phận sự. Cái gì là bản phận sự của Hòa Thượng? Tăng không đáp được.” ● 2. Thiền Sư tài giỏi dùng pháp nhãn chọn lấy thủ đoạn tiếp dẫn người học. Bích Nham Lục q.1 ghi: “此 是 大 手 宗 師。不 與 你 論 玄 論 妙 論 機 論 境、一 向 以 本 分 事 接 人。 – Đây là bậc Thiền Sư cao thủ, không bàn luận huyền diệu, cơ cảnh với người mà chỉ một bề dùng Bản phận sự để tiếp dẫn người.” ● 本 分 草 料. Giở ngón sở trường. Phần Bình của tắc 15 trong Vô Môn Quan ghi: “雲 門 當 時 便 與 本 分 草 料 使 洞 山 別 有 生 機 一 路、家 門 不 致 寂 寥。 – Vân Môn bấy giờ giở ngón sở trường, khiến Động Sơn mở riêng được con đường sống, tông môn không đến nỗi đìu hiu”. ● 本 佛. Mọi người vốn có Phật tính, xưa nay là Phật, gọi là bản Phật. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “言 寶 所 者、乃 眞 心 本 佛 自 性 之 寶。 – Nói Bảo sở đó, là cái quý báu của tự tính, của nhân tâm bản Phật.” ● 本 色 道 人. Chỉ thiền tăng chân chính. Khai thị Bản sắc đạo nhân trong Minh Bản Tạp Lục q. Trung ghi: “要 做 本 色 道 人… 管 取 心 空 及 第 去 – Cần làm thiền tăng chân chính, đặc biệt chớ dùng phương tiện nào khác, chỉ cần mỗi một việc là chẳng quản thân mạnh tiến bước, dũng mãnh một phen, làm đến chỗ suy nghĩ chẳng được. Lúc suy nghĩ chẳng được chính là chỗ dụng tâm tốt nhất. Bị bức ngặt thế ấy, thực hành thế ấy một thời gian lâu, chỉ lo giữ tâm không liền được đỗ đạt.” ● 本 色 鉗 錘. Chỉ cho sự tiếp dẫn, truyền thụ của Thiền Sư chính tông. Kiềm chùy: Cái búa, cái kềm, dụ cho thủ đoạn mạnh mẽ của Thiền Sư khi tiếp hóa người học đạo. Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện q. 22 ghi: “慧 南 有 道 之 器 也、惜 未 受 本 色 鉗 錘 耳。 – Huệ Nam là người có năng lực để kiến tính, nhưng tiếc là chưa gặp được sự tiếp dẫn của Thiền Sư chính tông”. ● 本 才. Thiền tăng đời Tống, họ Diêu, hiệu Phật Tâm, người đời thường gọi “Phật Tâm Bản Tài”, nối pháp Thiền Sư Linh Nguyên Duy Thanh, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Phật Tâm Tài Hòa Thượng Ngữ Yếu, 1 quyển. ● 本 心. Tâm cội nguồn, tâm giác ngộ, tức chỉ Phật tính của mọi người sẵn có xưa nay. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “不 識 本 心、學 法 無 益。 – Không biết bản tâm, học Pháp vô ích.” ● 本 善 (?-1482). Thiền tăng đời Minh, họ Ngô, hiệu Độc Phong, người xứ Phong Dương (nay thuộc An Huy) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nguyệt Khê Trừng. Tác phẩm: Độc Phong Ngữ Lục. ● 本 帖 (1517-1570). Thiền tăng đời Minh, họ Dương, hiệu Định Đường, người xứ Tầm Điện (nay thuộc đông bắc Tung Minh, Vân Nam) Trung Quốc, nối pháp Hòa Thượng Bạch Trai. ● 本 瑞. Thiền tăng đời Minh (1433-1513), họ Giang, tự Thiên Kỳ, người xứ Chung Lăng (nay là Nam Xương, Giang Tây) Trung Quốc. Người đời gọi sư là “Quỳnh Tuyệt Lão Nhân”, nối pháp Thiền Sư Bảo Phong Minh Tuyên, tông Lâm Tế đời thứ 29. Tác phẩm: Tuyết Đậu Tụng Cổ Trực Chú, Thiên Đồng Tụng Cổ Trực Chú. ● 本 寂. 1. Thiền tăng đời Đường (840-901), họ Hoàng, người Bồ Điền, Phúc Kiến, Trung Quốc. Thuở bé sư theo nghiệp Nho, văn từ vững chải, thanh nhã, lấy bút hiệu là Tiểu Tắc Hạ. Năm 19 tuổi, sư xuất gia ở chùa Vân Danh, Phúc Châu. Đến 25 tuổi sư thụ giới cụ túc, mỗi hành vi sư đều (thận trọng như bậc thầy mô phạm). Về sau sư tham học nơi ngài Động Sơn Lương Giới và đắc pháp, nối tiếp tông phong của ngài, cuối cùng diễn hóa thành một tông phái lớn là Tào Động. Sư trụ trì chùa Tào Sơn ở Lâm Xuyên (nay là huyện Nghi Hoàng, tỉnh Giang Tây). Người đến cầu pháp nơi sư rất đông. Sư từng chú thích “Hàn Sơn Tử Thi”, hạng văn nhân rất quý trọng sư. Khi sư tịch rồi, đệ tử xây tháp, ngài Huyền Thái ở Nam Nhạc làm bài minh thụy: Nguyên Chứng Thiền Sư. Theo phả hệ sư là Tổ Thiền Tông đời thứ 12, Nam Tông đời thứ 7, hệ Thanh Nguyên đời thứ 6, Tông Tào Động đời thứ 2. Tác phẩm: Hàn Sơn Tử Thi chú, Phủ Châu Tào Sơn Nguyên Chứng Thiền Sư Ngữ Lục. ● 2. Thiền tăng đời Lý (?-1139), thuộc dòng Tỳ ni đa lưu chi đời thứ 13, nối pháp Thiền Sư Thuần Chân ở chùa Hoa Quang. Sư họ Nguyễn quê, ở làng Tây Kết, miền Bắc Việt Nam. Sư trụ trì chùa Chúc Thánh ở làng Nghĩa Trú, huyện Bình Lạc (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 本 先 (942-1008). Thiền tăng đời Tống, họ Trịnh, người xứ Ôn Châu (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiên Thai Đức Thiều Quốc sư, tông Pháp Nhãn. Tác phẩm: Trúc Lâm Tập, 10 quyển. ● 本 性. Tính có sẵn, tức Phật tính mà mọi người đều sẵn đủ. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng: “本 性 自 清 淨 自 定。 – Bản tính tự thanh tịnh tự yên định.” Tiết Ô Cự Hành Thiền Sư trong NĐHN q,20 ghi: “見 則 見 自 本 性。 – Thấy thì thấy tự bản tính.” ● 本 淨. 1. Thiền tăng đời Lý (1100-1176), thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 9, nối pháp Thiền Sư Mãn Giác. Sư họ Kiều, quê ở Phù Viễn, Vĩnh Khương (nay thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông) miền Bắc Việt Nam. Sư trụ chùa Càn An ở kinh thành Thăng Long. Về sau, sư ở am Bình Dương, núi Kiết Đặc, huyện Chí Linh, trấn Hải Dương. Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 2. Thiền tăng đời Đường (676-761) họ Trương, người xứ Giáng Châu (nay là Tân Giáng tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc. Một thuyết khác nói Sư là người xứ Đông Bình (nay là phía đông huyện Đông Bình, tỉnh Sơn Đông). Xuất gia từ thuở bé, sư đi tham học và đắc pháp nơi Lục tổ Huệ Năng. Đầu niên hiệu Khai Nguyên (713) sư trụ chùa Vô Tướng núi Tư Không. Trong niên hiệu Thiên Bảo, sư được Dương Đình Quang tiến dẫn về kinh để cùng các hàng Danh tăng Thạc đức biện nạn, cuối cùng họ đều bị Bản Tịnh chiết phục. Thụy hiệu: “Đại Hiểu Thiền Sư”, và sư cũng lấy chỗ ở làm hiệu là Tư Không Sơn Thiền Sư. ● 伴 眞 湯. Món xúp (thang) mà vị Trụ trì mời các vị Tây đường, Lưỡng tự (Bạn chân) dùng trước bàn Phật hay trước tượng Tổ sư sau lễ cúng kỵ vị thầy mà Trụ trì nối pháp. Theo điều Tự Pháp Sư Kị trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 2 (Đại 48, 1119 thượng): “若 請 特 爲 伴 眞 湯(齋 罷、方 丈 客 頭 請 西 堂、兩 序、晚 間 對 眞、相 伴 喫 湯。) – Nếu đặc biệt thỉnh hai vị: Tây đường và Lưỡng tự, thì gọi là Bạn chân thang. (Thọ trai xong, Tri khách của phương trượng mời các Tây đường, Lưỡng tự, buổi chiều tối ở trước tượng cùng nhau dùng xúp)”. ● 伴 夜. Còn gọi: Vãn dạ, Đại dạ, Thông dạ (gọi theo thế tục). Trong các tự viện Thiền Tông, một đêm trước khi đem vong tăng (vị tăng đã mất) làm lễ trà tỳ, các sư tăng thức suốt đêm ở một bên làm bạn với vong tăng và cúng dường. Căn cứ theo Đại Giám Thanh Quy được dẫn trong môn Tiết Thời thứ 4, Thiền Lâm Tượng Khí Tiên, thì đêm thị tịch của người chết gọi là Đương Dạ, đêm thứ hai gọi là Vãn Dạ, ngày thứ ba là lễ Trà Tỳ. Vãn Dạ còn gọi là Đại Dạ, bởi chỉ lưu lại đây một đêm, ngày mai ra đi (không về nữa), cho nên ân cần cúng dường. Các sư tăng vây quanh trọn đêm không ngủ, nên gọi là Bạn Dạ, đêm ấy chỉ đánh khánh và tụng Kinh Kim Cang. ● 伴 鶴 隨 風 得 自 由. Làm bạn với hạc theo gió rong chơi. Thiền Tông dùng cụm từ này để dụ cho cảnh giới giải thoát của Thiền giả cũng như mây hạc tự do tự tại không chướng ngại. Tắc 19, Thung Dung Lục (Đại 48, 239 trung) ghi: “滄 海 闊、白 雲 閑(伴 鶴 隨 風 得 自 由)。 – Biển xanh bát ngát, mây trắng lang thang (Làm bạn với hạc theo gió rong chơi)”. ● 伴我 淨 侶 禪 師. Thiền tăng Tịnh Lữ đời Thanh, người đời gọi sư là Bạn Ngã Tịnh Lữ Thiền Sư. X.Tịnh Lữ. ● 伴 僧. 1. Còn gọi: Dịch Tăng. Trong Tịnh Độ Chân Tông ở Nhật Bản, Bạn Tăng là vị tăng giúp sức cho vị Trụ trì trong các pháp vụ như: Đọc kinh v.v… 2. Còn gọi: Tòng tăng. Vị tăng đi theo vị Trụ trì. 3. Là vị tăng siêng năng hành đạo, theo sát vị Đạo sư trong nghi thức tu của Mật giáo. ● 伴 禪. Còn gọi: Bồi Thiền. Canh năm, Trụ trì sau khi hành hương lên Tăng đường giúp đỡ đại chúng tọa thiền. Theo điều Trụ Trì trong Tiểu Tùng Lâm Lược Thanh Quy q.thượng (Đại 81, 690 trung) ghi: “住 持 但 伴 大 衆 坐 禪、此 名 陪 禪。 – Vị Trụ trì nào giúp đỡ đại chúng tọa thiền gọi là Bồi Thiền”. ● 龐 居 士 語錄. Ngữ Lục 3 quyển, do Bàng Uẩn soạn vào đời Đường, Vu Địch biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 55. Quyển 1: Cơ duyên đối thoại giữa Bàng Uẩn với các vị Mã Tổ, Thạch Đầu Hy Thiên, Đan Hà Thiên Nhiên, Phổ Tế, Tùng Sơn, Đại Mai; hiển thị cơ dụng Không Không vô tướng, vô vi, vô ngã của ông. Quyển 2, 3: Thơ ngũ ngôn, thất ngôn và các lời nói vụn vặt, đáng làm tấm gương cho người học tu tập. ● 傍 家 行脚. Chư tăng hành cước đến các Thiền viện khác để tham bái. Văn Ích Ngữ Lục ghi: “諸 上 座 傍 家 行 脚、也 須 審 諦、著 些 精 彩、莫 只 藉 少 智 慧、過 却 時 光。 – Các Thượng tọa hành cước đến các Thiền viện khác để tham bái, cũng phải xét kỹ, phải có chút đỉnh xuất sắc, chớ ỷ vào một ít trí huệ mà bỏ mất thời gian”. ● 傍 瞥 語. Lời dạy thêm, nói thoáng qua để thổ lộ yếu chỉ của Thiền Sư đối với người học. Tắc 30, Bích Nham Lục (Đại 48, 169 hạ) ghi: “遠 錄 公 云:此 是 傍 瞥 語。 – Viễn Lục Công nói: Đây là lời nói thoáng qua để thổ lộ yếu chỉ”. ● 龐 蘊. Cư sĩ đời Đường, tự là Đạo Huyền, người đời gọi là Bàng cư sĩ, Bàng ông; người đất Hành Dương, Hành Châu (nay thuộc Hồ Nam), Trung Quốc. Ông xuất thân từ Nho nghiệp; lúc niên thiếu ngộ trần lao, chí cầu chân đế. Ban đầu ông yết kiến Thạch Đầu Hy Thiên, chợt có tỉnh, kết bạn với Đan Hà Thiên Nhiên. Sau đó tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất, ngay dưới lời dạy liền lãnh hội huyền chỉ, và ở lại tham học hai năm. Do cơ phong lanh lẹ này khiến ông được mọi người chú ý. Niên hiệu Nguyên Hòa (806-820), ông bắc du Tương Dương (nay thuộc Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc) dắt theo vợ con làm ruộng dưới chân núi Lộc Môn. Ngày nào cũng có người đến hỏi đạo, những lời đáp của ông đều là lời cơ phong, nhân đây vợ con của ông đều được triệt ngộ. Niên hiệu Thái Hòa (827-835), ông lìa đời, còn để lại Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục 3 quyển. ● 榜 狀 牌 示. Trong tùng lâm, mỗi khi làm việc phải tri đơn, thiết bảng, thư trạng, bài thị v.v… để làm phương tiện thông tri cho đại chúng. Như khi vị Trụ trì mời trà nước Thủ tọa hoặc các vị tôn túc từ xa đến đều dùng bảng liệt kê danh sách do thị giả báo cho biết, gọi là Tri đơn. Lại, Trụ trì, Tri Khố thỉnh mời chiêu đãi trà nước đại chúng thì dùng bảng, Thủ tọa mời thì dùng trạng. Địa điểm dán trạng, bảng, mỗi cái cũng không giống nhau: Phương trượng thỉnh Thủ tọa thì dán bảng ở trên tấm thẻ bên phía đông trước nhà Tăng. Tri Khố mời Thủ tọa thì đem bảng dán ở trên tấm thẻ bên phía tây. Thủ tọa thỉnh Hạ đầu, Thủ trà, thì đem trạng dán trên tấm ván gian dưới trước nhà Tăng. Còn sự thông tri hành chính trong tùng lâm đều dùng phương thức treo thẻ để truyền đạt, gọi là Bài thị. Địa điểm treo thẻ, tùy theo công việc mà nơi treo khác nhau. Như các thẻ báo tin về kiết hạ, tụng giới, thỉnh thức, thiếp đan, phổ Phật v.v… đều treo ở trước Trai đường. Thượng đường, bỉnh phất, cầu thỉnh, cầu mưa v.v… treo thẻ ở trước Đại điện. Khởi thất, giải thất v.v… treo thẻ ở trước Thiền đường. Thăng tòa, miễn lễ v.v… treo thẻ ở phía trong trước điện Vi Đà. ● 蚌 蛤 禪. Thiền pháp nêu rõ chân diện mục của bậc pháp sư Thiền Tông, giống như thấy rõ ruột gan của con sò (Bạng cáp: con sò). Tắc 18, Vô Môn Quan (Đại 48, 295 trung) ghi: “洞 山 老 人、參 得 些 蚌 蛤 禪。 – Ông già Động Sơn, tham được chút ít Bạng cáp thiền”. ● 報 恩. Thiền tăng đời Tống, họ Lưu, người xứ Lê Dương (nay ở hướng đông nam huyện Hưu Ninh, tỉnh An Huy) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Nghĩa Thanh ở núi Đầu Tử. Tác phẩm: Tào Động Tông Phái Lục, Thọ Bồ Đề Tâm Giới Văn, Lạc Phát Thụ giới Nghi Văn. ● 報 恩 洪 濟寺. Chùa Quảng Tế ở đời Nguyên được gọi là Báo Ân Hồng Tế tự. X. Quảng Tế Tự. ● 報 恩 光 孝 禪 寺. X. Hạc Lâm Tự. ● 報 恩 寺. Còn gọi: Bắc Thiền Tự. 1. Chùa nằm ở đường Nhân Dân, Bắc thành, Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc; được xây dựng vào khoảng niên hiệu Xích Ô (238-251), triều Đông Ngô, đời Tam Quốc, ban đầu lấy tên “Thông Huyền Tự”. Niên hiệu Khai Nguyên thứ 26 (738) đời Đường, chùa được đổi tên là Khai Nguyên Tự. Về sau bị phá hủy. Niên hiệu Đồng Quang thứ 3 (925) đời Hậu Đường, Ngô Việt Vương Tiền Mục đổi tên chùa là Báo Ân Tự. Đời Tống, Vua ban cho tên khác là “Vạn Thọ Báo Ân Quang Hiếu Tự”. Khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) đời Minh, chùa được đổi tên là Bắc Thiền Tự, gọi tắt là Bắc Tự. Từ đời Minh Thanh về sau, nơi đây là một đại thiền lâm ở miền Đông nam, sản xuất nhiều bậc Thiền Sư kiệt xuất. Trong khuôn viên chùa có một cái tháp cao 76 m, rộng lớn tráng lệ, đứng đầu các tháp ở Tô Châu và được khen là “Giang Nam đệ nhất tháp”. Điện Quán Âm được xây vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 32 (1604) đời Minh, trong điện có tượng “Quán Âm bất nhiễm trần” cao vài trượng, nên gọi là “Bất nhiễm trần Quán Âm điện”; lại do các cấu kiện chủ yếu được sử dụng là cây Nam Mộc nên người đời gọi là “Nam Mộc Quán Âm điện”. Điện này là một ngôi kiến trúc đời Minh hoàn chỉnh nhất hiện còn. Trong điện còn có 10 bức họa, vẽ về người vật, hoa cỏ, chim muông, núi sông… Trong chùa vẫn còn các di vật văn hóa cổ như: Bia ghi công của Trương Sĩ Thành, Tàng kinh lâu… ● 2. Chùa ở góc đông bắc Quan thành, huyện Thọ, tỉnh An Huy, Trung Quốc, tương truyền do ngài Huyền Trang phụng sắc xây dựng vào khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường. Vốn có tên là “Sùng Giáo Thiền Viện”, “Đông Thiền Viện”, “Đông Thiền Tự”. Khoảng niên hiệu Hồng Võ (1368-1398) đời Minh, chùa được đổi tên là “Báo Ân Tự”. Các điện đường hiện còn là kiến trúc đời Thanh, chủ yếu có: Sơn môn, Thiên vương điện, Đại Hùng Bảo Điện, Thiền đường, Khách đường. Đại Hùng Bảo Điện màu sắc rực rỡ, hùng tráng. Trong điện có sắp bày các pho tượng điêu khắc từ gỗ, đồng, đất nung. Các tượng lớn đời Đường dáng vẻ trang nghiêm, nét mặt đầy đặn. Các tượng lớn đời Tống có dáng ngồi yên nhìn xuống, biểu lộ vẻ sống động. Các pho tượng đồng đúc vào đời Minh thì đơn giản, trong sáng, hồn hậu, có vẻ như sống. Các pho tượng đất cuối đời Minh đầu đời Thanh, tư thái khác nhau, 18 vị La hán được tạo hình rất lạ, có thể nói là những tác phẩm nghệ thuật quý báu. ● 報 國 寺. Chùa nằm trên sườn núi Nga My tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tiền thân tên là “Hội Tông Đường”, địa chỉ ở cạnh sông Du Già bên phải chùa Phục Hổ thờ cúng bài vị bằng gỗ của Phổ Hiền Phật gia, Quảng Thành Tử Đạo gia, Sở Cuồng Nho gia, ý nghĩa dung hợp tam giáo. Khoảng niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) đời Thanh Thiền Sư Văn Đạt dỡ bỏ ngôi đường xây cất chùa trên nền cũ để thờ Phật tượng. Niên hiệu Khang Hy thứ 42 (1703) trùng tu, vua ban tên “Báo Quốc Tự”. Chùa dựa vào thế núi mà xây cất, trên tuyến trục giữa theo thứ lớp có Sơn môn, Di Lặc điện, Đại Hùng Bảo Điện, Thất Phật điện, Tàng kinh lâu, từng bước lên cao kiến trúc càng hùng vĩ, khí thế hiên ngang, tượng Phật ở mỗi điện ánh vàng rực rỡ chói mắt. Cửa nẻo của điện vũ trong chùa điêu khắc tinh xảo đẹp đẽ, đồ án sinh động, phong cách thuần phác cổ xưa tráng lệ. Dưới Tàng kinh lâu có một tượng Phật bằng sứ cao 3,4m được nung vào niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 13 (1415) đời Minh tạo dáng tự nhiên, dáng vẻ sinh động. Trong chùa còn có một tháp Hoa Nghiêm bằng đồng được đúc vào đời Minh cao 7m, chia làm 3 đoạn 14 tầng, trên tháp có khắc hơn 4700 tượng Phật nhỏ và toàn bộ văn kinh Hoa Nghiêm, tạo dáng mạnh mẽ đẹp đẽ. Ngoài chùa trên lầu Phượng Hoàng có một ngôi đình trên treo một đại hồng chung bằng đồng của trụ trì chùa Thánh Tích vào khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) đời Minh về sau dời đến đây. Chuông cao 2,3m nặng 2,5 tấn. Trong ngoài chuông có khắc danh tính của vua chúa, bá quan văn võ, cao tăng, cư sĩ cùng văn bia và hơn 61000 chữ kệ Phật. ● 寶 鏡 三 昧 本 義. Sách, 1 quyển, do Hành Sách soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 267. Sư dùng 6 thứ sách tranh: Bảo Cảnh Tam Muội, Thiên Chính Hồi Hỗ, Tam Điệp Phân Quái, Ngũ Biến Thành Vị, Nhị Dụ Hiển Pháp, Lục Hào Nhiếp Nghĩa để nêu lên tinh nghĩa Trùng Ly Lục Hào, Chính Thiên Hối Hỗ và giải thích cặn kẽ thuyết ngũ vị. ● 寶 鏡 三 昧 歌. Còn gọi: Động Sơn Lương Giới Thiền Sư Bảo Cảnh Tam Muội, Bảo Cảnh Tam Muội. Sách, 1 thiên, do Động Sơn Lương Giới soạn vào đời Đường. ― Thiên này ghi lại huyền chỉ chính thiên hồi hỗ của tông Tào Động bằng thể ca ngâm. Thuyết Chính thiên hồi hỗ thật ra bắt nguồn từ Tham Đồng Khế do Thạch Đầu Hy Thiên soạn. Sau đó Thạch Đầu truyền cho Dược Sơn, Dược Sơn truyền cho Vân Nham, Vân Nham truyền cho Động Sơn. Đến đời Động Sơn mới tập đại thành thuyết ngũ vị, nên thiên này và Tham Đồng Khế đồng là sách căn bản của tông Tào Động, do đó rất được xem trọng. Toàn thiên làm theo thể tứ ngôn, gồm 94 câu, 376 chữ, được xếp vào Quân Châu Động Sơn Ngộ Bản Thiền Sư Ngữ Lục, và Nhân Thiên Nhãn Mục q. 3. Các sách chú thích có: ― Bảo Cảnh Tam Muội Huyền Nghĩa. ― Bảo Cảnh Tam Muội Bản Nghĩa. ― Bảo Cảnh Tam Muội Nguyên Tông Biện Mậu. ● 寶 鏡 三 昧 玄 義. Sách, 1 quyển, do Vân Ngoại Vân Tụ soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 222. Vân Tụ đem Bảo Cảnh Tam Muội Ca chú thích tỉ mỉ để giải thích nguyên nghĩa vi diệu của nó. Sách này được phụ lục ở quyển hạ của Trùng Biên Tào Động Ngũ Vị Hiển Quyết. ● 寶 鏡 三 昧 元 宗辨 謬. Sách, 1 quyển, do Vân Tông Tịnh Nột soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 279. Tịnh Nột trình bày và phân tích bản nghĩa Bảo Cảnh Tam muội, giải thích Trùng ly lục hào, Chính thiên hồi hỗ của Vân Nham. Trình bày và giải thích về việc lấy: Chính thiên của Động Sơn Lương Giới làm căn bản để lập Ngũ Vị Công Huân, Công Huân của Tào Sơn Bản Tịch làm căn bản để lập Ngũ Vị Quân Thần, Chính Thiên Công Huân của Thạch Sương làm căn bản để lập Ngũ Vị Vương Tử, mục đích nhằm hiển bày ý chỉ của “Bảo Cảnh Tam Muội Ca”. ● 寶 公 院. 1. Chùa Linh Cốc vào đời Đường gọi là Bảo Công viện. X. Linh Cốc tự. ● 2. Đời Đường, vào niên hiệu Càn Phù (874-879), chùa Khai Thiện vâng lệnh vua đổi tên là Bảo Công viện. X. Khai Thiện Tự. ● 寶 曇 (1129-1197). Còn gọi: Thiếu Đàm. Thiền tăng đời Tống, họ Hứa, hiệu Thiếu Vân, người đời gọi sư là “Cát Châu Chí Nhân”, người xứ Long Du (nay là Đông Sơn, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo. Tác phẩm: Đại Quang Minh Tạng, 3 quyển. ● 寶 覺 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Tổ Tâm đời Tống. X. Tổ Tâm. ● 寶 覺 禪 寺. Chùa nằm ở thành phố Đài Trung, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1917 Phương trượng chùa Hậu Quả tỉnh Phúc Kiến là Hòa Thượng Lương Đạt sáng lập. Năm 1963 khởi công xây dựng một tượng Phật Di Lặc cao gần 30m (88 xích) và bắt đầu lập ra tạp chí “Tân Giác Sinh” cùng nhà xuất bản Văn Hóa Phật Giáo Quốc Tế. Đây là một chùa nổi tiếng ở Trung bộ Đài Loan. ● 寶 覺 祖 心 禪 師 語 錄. Còn gọi: Hoàng Long Hối Đường Tâm Hòa Thượng Ngữ Lục, Hoàng Long Am Chủ Ngữ Lục, Hối Đường Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển do Hối Đường Tổ Tâm soạn vào đời Tống, Tử Hòa ký lục, Trọng Giới trùng biên. Nội dung gồm có: Những lời thượng đường của Tổ Tâm, Hỏi đáp thay trong thất, Cử cổ tắc trong thất, Kệ tụng. Sách này được xuất bản vào niên hiệu Nguyên Phong thứ 1 (1078) đời Tống và được xếp vào Hoàng Long Tứ Gia Lục, q.2. ● 寶 覺 寺 塔. Tháp nằm ở thành phố Đài Trung, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1928 tháp do Pháp sư Lương Đạt một Thiền tăng tông Lâm Tế xây cất. Điện vũ trong chùa hùng vĩ tráng lệ. Tháp hình tròn, bảy tầng, mỗi tầng có thờ một tượng Phật Như Lai bằng bảy báu. ● 寶 鑑 (?-1173). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 9, nối pháp Thiền Sư Đa Vân. Sư họ Kiều Tên Phù, quê ở làng Trung Thụy miền Bắc Việt Nam (nay thuộc huyện Đan Phụng, tỉnh Hà Đông). Thuở nhỏ học Nho, thông hiểu Thi, Thơ, Lễ, Dịch, chữ viết rất đẹp. Sư làm quanđến chức Cung hậu xá nhân đời Lý Anh Tông. Năm 30 tuổi, sư bỏ quan đến chùa Bảo Phúc quận Mỹ Lương thọ giáo xuất gia với Thiền Sư Đa Vân. Tạng kinh trong chùa này do chính tay sư chép lại. Đến khi Thiền Sư Đa Vân tịch, sư kế tiếp trụ trì chùa này. Đời sống của sư rất đạm bạc, suốt năm chỉ mặc áo gai thô sơ, trong mình không dính một sợi tơ. Công việc tu trì thì không bao giờ trễ nãi. Kệ thị tịch: 智 者 猶 如 月 照 天 光 含 塵 殺 照 無 邊 若 人 要 識 須 分 別 嶺 上 扶 疏 鎖 暮 煙 “Trí giả do như nguyệt chiếu thiên Quang hàm trần sát chiếu vô biên Nhược nhân yếu thức tu phân biệt Lãnh thượng phù sơ tỏa mộ yên”. “Người trí khác nào trăng rọi không Chiếu soi khắp cõi sáng khôn ngần Nếu người cần biết, nên phân biệt Khói mù man mác phủ non chiều”. ● 寶 行. Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 35, nối pháp Thiền Sư Minh Hoằng Tử Dung. Sư húy là Thiệt Vinh, hoằng hóa ở chùa Viên Tịnh, Khánh Hòa thuộc Đàng Trong, Việt Nam. Theo: Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức. ● 寶 華 玉 石 塔. X. Đại Bảo Quang Tháp. ● 寶 華 山 志. Chí, 15 quyển, do Lưu Danh Phương soạn vào đời Thanh. Núi Bảo Hoa nằm ở huyện Cú Dung, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Tương truyền nơi đây là đạo tràng của Thiền Sư Bảo Chí, do vì lâu đời nên bị hoang phế. Mãi đến niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh, Thiền Sư Diệu Phong xây điện bằng đồng đặt tên là “Thánh Hóa Long Xương Tự”. Khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, được sắc tứ là “Huệ Cư Tự”, do đây mà nổi tiếng ở đời. Khi ấy có Lưu Danh Phương soạn sơn chí, chia làm 24 loại: Sơn đồ, hình thắng, tinh dã, sơn thủy, kiến trí, cổ tích, linh dị, cao tăng, luật sư, bi minh, bi ký, tháp minh, chiếu sắc, tấu sớ, công di, ký, phú, tự, truyện, tán, khảo, thư, khải, thi. Tuy sách này có tên là Sơn chí nhưng kỳ thực vì Huệ Cư Tự mà làm, có khắc bản vào đời Thanh. ● 寶 金 (1308-1372). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Thạch, người xứ Vĩnh Thọ Càn Châu (nay thuộc Thiểm Tây) Trung Quốc. Vua nhà Nguyên ban cho sư hiệu “Tịch Chiếu Viên Minh”. Sư nối pháp Thiền Sư Như Hải. ● 寶 林 傳. Còn gọi: Đại Đường Thiều Châu Song Phong Sơn Tào Khê Bảo Lâm Truyện, Tào Khê Bảo Lâm Truyện, Song Phong Sơn Tào Khê Bảo Lâm Truyện. Truyện, 10 quyển, do Trí Cự soạn vào niên hiệu Trinh Nguyên thứ 17 (801) đời Đường, được xếp vào “Tống Tạng Di Trân”. Chùa Bảo Lâm ở Tào Khê, Thiều Châu là đạo tràng của Tổ Huệ Năng tuyên dương Thiền pháp nên lấy đây làm tên sách để làm sáng tỏ pháp thống của Ngài. Nội dung gồm có những tác phẩm về lịch sử Thiền Tông như: Đàn Kinh, Ngũ Minh Tập, Tục Pháp Truyện, Quang Xán Lục, Lịch Đại Pháp Bảo Ký, chủ trương có sự truyền thừa của 28 vị Tổ. Sau đó còn có: Tổ Đường Tập, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, nhằm xác định chỗ truyền của thuyết 28 vị Tổ. Trí Cự viết sách này nhằm mục đích luận giải rõ ràng về sự quan hệ giữa Tôn Giả Sư Tử và Bồ Đề Đạt Ma. Thế nên, khi sách này ra đời thì bị các Thiền Sư đời sau viết sách chê trách. ● 寶 林 寺. X. Nam Hoa Tự. ● 寶 蓮 寺. Chùa nằm lưng chừng núi Đại Dữ, Hồng Kông, Trung Quốc. Xung quanh có núi Phụng Hoàng, Di Lặc, Liên Hoa, Mộc Ngư, Sư Tử Đầu. Vốn được gọi “Hồng Kông Đệ Nhất Thiền Lâm”. Khoảng niên hiệu Tuyên Thống (1909-1911) đời Thanh hai vị Thiền Sư Đại Duyệt và Đốn Tu từ Kim Sơn, Giang Tô đến đây khai sơn. Năm 1924 Hòa Thượng Kỷ Tu chùa Giang Thiên, Kim Sơn đến đây đảm nhiệm trụ trì, đặt tên là “Bảo Liên Tự”, năm sau khởi công xây dựng Đại điện. Năm 1930 Hòa Thượng Phiệt Khả kế nhiệm trụ trì mở rộng xây dựng trước sau hoàn thành Địa Tạng Điện, Tổ Đường, Ngũ Quán Đường, Bát Nhã Thiền Đường. Năm 1969 khánh thành Đại Hùng Bảo Điện, khí thế hào hùng. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng ở Đông Nam Á. ● 保 任. Sau khi ngộ thiền, còn cần phải gìn giữ, bảo vệ gọi là Bảo Nhậm. Tiết Hoa Dược Trí Bằng Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “師 豁 然 有 省。乃 曰:元 來 恁 麼 地。成(指 枯 木 成 禪 師)曰:汝 作 麼 生 會?師 曰:春生 夏 長、秋 收 冬 藏。成 曰:直 須 保 任。師 應 喏。 – Sư liền khế ngộ và nói: Hóa ra thế ấy. Thành (chỉ Thiền Sư Khô Mộc Thành) bảo: Ngươi hội cái gì? Sư đáp: Mùa xuân gieo hạt, mùa hạ lớn lên, mùa thu gặt hái, mùa đông cất chứa. Thành bảo: Nhất thiết phải bảo nhậm. Sư ứng thanh: Dạ.” ● 保 寧 寺. Chùa nằm trong thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Được xây cất vào niên hiệu Xích Ô thứ 4 (241) đời Đông Ngô thời Tam Quốc. Thời Nam triều Lưu Tống chùa tên “Kỳ Viên Tự”. Khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-741) đời Đường đổi tên là “Trường Khánh Tự”. Khoảng niên hiệu Bảo Đại (943-957) đời Nam Đường lại đổi tên là “Phụng Tiên Tự”. Khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-984) đời Tống vua ban cho tấm biển “Bảo Ninh Tự”, đương thời trong chùa có những kiến trúc như Phụng hoàng đài, Bạch tháp, Quán Âm điện, La hán đường, Thủy lục đường, tăng chúng ước khoảng 500 người. Niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1117) vua ban sắc đổi tên là “Thần Tiêu Cung”. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 1 (1127) khôi phục tên cũ. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 3 (1129) vua Cao Tông làm thành hành cung, chùa bị phá hủy. Pháp Dung, Tổ của tông Ngưu Đầu đời Đường đã từng trụ ở chùa này hưng thịnh một thời. Về sau các vị cao tăng trụ trì có Phụng Tiên Huệ Đồng, Bảo Ninh Nhân Dũng, Cổ Lâm Thanh Mậu. ● 寶 朴 (Thế Kỷ XIV). Thiền tăng đời Trần, thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đời thứ 2, Việt Nam. Sư là người phụ giúp Giác Hoàng trong việc tổ chức và xây dựng phái thiền Trúc Lâm khi mới thành lập. Sau được vua Trần Anh Tông phong làm Quốc sư. Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 保 福 寺. Chùa ở núi Đại Mai, huyện Ngân, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Niên hiệu Khai Thành thứ 1 (836) đời Đường, Thiền Sư Pháp Thường kết am tranh ở nơi đây, về sau dần dần trở thành thiền vũ, ban đầu tên là “Kim Văn Viện”. Thời Tống Nhân Tông xây cất lại đổi tên là “Huệ Chiếu Tự”. Thời Nam Tống còn gọi là “Bảo Phúc Tự”. ● 保 福 院. Nằm trong núi Bảo Phúc, huyện Long Khê, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Niên hiệu Trinh Minh thứ 3 (917) đời Hậu Lương, Thứ sử Chương Châu là Vương Công Khâm sáng lập. Tổ sư khai sơn là ngài Tùng Triển, pháp tự của Tuyết Phong Nghĩa Tồn trụ ở núi này hơn 12 năm, kẻ học đạo tụ tập thường hơn 700 người. Niên hiệu Thiên Thành thứ 3 (928) Tùng Triển thị tịch. Về sau lần lượt có các vị cao tăng trụ trì như Siêu Ngộ, Khả Trù, Thanh Khoát hoằng dương tông môn. ● 寶 方. Thiền tăng đời Minh, đắc pháp nơi Thiền Sư Di Phong Ninh, cơ phong bén nhạy. ● 寶 光 寺. Còn gọi: Bảo Quang Thiền Viện. Chùa nằm ở phía Bắc trung tâm huyện Tân Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tương truyền được xây cất vào thời Đông Hán, đời Tùy tên là “Đại Thạch Tự”. Niên hiệu Quảng Minh thứ 2 (881) đời Đường, vua Đường Hy Tông vì tránh nạn Hoàng Sào khởi nghĩa mà chạy đến Tứ Xuyên dừng chân nơi đây, ở phía sau chùa tu tạo hành cung, sai Quốc sư Ngộ Đạt trùng tu tự viện và tháp xá lợi, đổi tên là “Bảo Quang Tự”. Đến đời Tống khi Thiền Sư Viên Ngộ trụ trì thì tăng chúng có trên 3000 người. Đây là thời kỳ hưng thịnh nhất từ khi cất chùa đến nay. Cuối đời Minh chùa bị binh lửa thiêu hủy. Niên hiệu Khang Hy thứ 9 (1670) đời Thanh xây dựng lại. Từ đây về sau trải qua 200 năm lần lượt xây dựng mở rộng, tự viện điện đường càng thêm hùng vĩ tráng lệ xanh vàng rực rỡ. Chiếm diện tích 9 ha, trong đó diện tích kiến trúc hơn 2 ha. Trên tuyến trục giữa y theo thứ lớp có những kiến trúc như Bức tường bình phong chữ “Phúc”, Sơn môn điện, Xá lợi tháp, Thất Phật điện, Đại Hùng Bảo Điện, Tàng kinh lâu. Hai bên có lầu chuông trống, nhị bài phòng, hành lang tả hữu, phương trượng bảo đông tây; ngoài ra còn có 16 tòa Tứ hợp viện liên tiếp với nhau. Nghi quỹ Thiền Tông đầy đủ như Thiền đường, Giới đường, Pháp đường, Trai đường, là nơi tập trung hiển bày phong cách cùng diện mạo thiền tự. ● 寶 剎 (Thế Kỷ XIV). Thiền tăng đời Trần, thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đời thứ 2, Việt Nam. ● 寶 所. Dụ chỉ cảnh giới cao tột của Đại thừa, tức thành Phật. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “若 能 如 是 用 心、則寶 所 在 近、決 不 相 賺。 – Nếu dụng tâm được như thế thì gần đến Bảo sở, quyết chẳng dối gạt nhau”. ● 寶 清 (1752-1859). Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 40, nối pháp Thiền Sư Tính Thông Giác Ngộ. Sư húy Hải Chính, người Việt Nam. Sư lập chùa Vân Sơn, trông coi chùa Long Bàn (Bà Rịa) và chùa núi Chứa Chan (Long Khánh). Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 寶 通. Hiệu của Thiền tăng Đại Điên đời Đường. X. Đại Điên. ● 寶 通 寺. Chùa nằm ở phía nam sườn núi Vũ Xương Hồng Sơn, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc,Trung Quốc. Là một trong bốn đại tùng lâm ở Vũ Hán. Nguyên tên là “Sùng Ninh Vạn Phật Thiền Tự”, được xây cất vào khoảng niên hiệu Đoan Bình (1234-1236) đời Tống. Khoảng niên hiệu Đại Đức, Chí Thuận (1297-1333) đời Nguyên từng nhiều lần mở rộng xây dựng. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 6 (1373) đời Minh vua Sở Chiêu Vương sửa sang xây cất lại. Niên hiệu Thành Hóa thứ 21 (1485) đời Minh, đổi tên là “Bảo Thông Thiền Tự”. Nhân Đại sư Từ Nhẫn cúng dường “Phật túc”(Bàn chân đức Phật) cho chùa đem từ núi Đại Hồng, Tùy Châu sang nên còn gọi “Hồng Sơn Tự”. Niên hiệu Khang Hy thứ 15 đến 30 (1676-1691) mô phỏng theo các chùa lớn ở Tây Sơn, Bắc Kinh mà xây cất lại hùng vĩ tráng lệ, được coi là giàu có và đẹp đứng vào bậc nhất thiên hạ. Niên hiệu Hàm Phong thứ 2 (1852) bị phá hủy bởi binh lửa. Hiện chỉ còn kiến trúc vào niên hiệu Quang Tự thứ 5 (1879) xây cất lại, chủ yếu có Sơn môn, Ao phóng sinh, Cầu thánh tăng, Điện tiếp dẫn, Điện thờ phụ hai bên, Đại Hùng Bảo Điện, Tổ sư điện, Thiền đường, Thiết Phật điện, Tàng kinh các. Những kiến trúc này vừa hiên ngang vừa tĩnh mịch nhấp nhô theo thế núi ẩn hiện tự nhiên. Văn vật còn lại trong chùa gồm có một đại hồng chung đúc vào khoảng niên hiệu Gia Hy đời Tống (1237-1240), một đôi sư tử bằng đá điêu khắc vào đầu đời Minh. Phía sau chùa có tháp Hồng Sơn thấp thoáng giữa tùng bách xanh tươi. ● 寶 積. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất, thụy hiệu “Ngưng Tịch Đại Sư”. ● 寶 積 寺. 1. Chùa nằm ở thị trấn Cảnh Đức, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Đại Trung (847-859) đời Đường tăng nhân U Công sáng lập. Thiền tăng Liễu Nguyên đời Tống xuất gia nơi đây, sau khi vân du đến Kinh Sư, vua Tống Thần Tông ban hiệu “Phật Ấn”. Từng kết thi thiền xã với Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, tình giao hảo rất đậm đà. Hai họ Tô, Hoàng cũng từng đi lại chùa Bảo Tích. Phật Ấn có làm thơ rằng: “Dữ quân cộng kết thi thiền xã, hà nhật tùng quan thoại thử tâm” (Cùng anh đồng kết thi thiền xã, thoải mái ngày nào nói về tâm. ) Người đời sau xây cất “Tam Hiền Đường” ở phía sau chùa để thờ cúng. Cuối đời Nguyên chùa bị phá hủy, niên hiệu Hồng Vũ thứ 17 (1384) đời Minh được trùng tu. Cuối đời Minh binh loạn tăng tán, chùa chiền bị sụp lở. Niên hiệu Thuận Trị thứ 7 (1650) đời Thanh, Tri huyện Lâu Duy Tung mời tăng nhân Phổ Tĩnh tu sửa lại và đem những cây bách khô còn sót lại sau hỏa hoạn do ngài Phật Ấn trồng mà điêu khắc thành tượng Tam Hiền. Đời Thanh thi nhân Uông ứng Triệu có làm thơ vịnh về việc này như sau: “Cổ tự vân phong trụ Liễu Nguyên. Tô, Hoàng lưu ngụ đáo kim truyền, cố nhân khởi ý nạp y tặng, kỷ ảnh ưng thiêm bách tử thiền” (Mây phủ chùa xưa trụ Liễu Nguyên. Tô, Hoàng lưu ngụ đến nay truyền, cố nhân đâu muốn nạp y tặng, kỷ ảnh những thẹn bách tử thiền). Chùa chiền đã bị phá hủy, hiện nay chỉ còn ba tấm bia đá khắc sự tích Phật Ấn và chùa Bảo Tích. ● 2. Chùa nằm ở phía bắc Tào Sơn, huyện Nghi Hoàng, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Càn Ninh (894-897) đời Đường Tào Sơn Bản Tịch sáng lập, bản danh “Hà Ngọc Quán”, biệt danh “Sùng Thọ Viện”. Đời Tống vua ban cho tấm biển “Bảo Tích Tự”. Đệ tử nối pháp của Bản Tịch là Huệ Hà cũng trụ ở chùa này. ● 寶 性 (?-1034). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 7, nối pháp Thiền Sư Định Hương. Sư họ Nghiêm, quê ở Châu Minh, miền Bắc Việt Nam. Sư hoằng hóa ở chùa Cảm ứng trên núi Ba Sơn, phủ Thiên Đức (nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 寶 徹. Thiền tăng đời Đường, trụ núi Ma Cốc, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. ● 寶 應 禪 師. Thiền tăng Huệ Ngung đời Ngũ Đại trụ viện Bảo ứng, người đời gọi là Bảo ứng Thiền Sư. X. Huệ Ngung. ● 寶 聞 大 師. Hiệu của Thiền tăng Duy Kính đời Ngũ Đại. X. Duy Kính. ● 抱 橋住 操 洗. 1. Hai tay ôm chặt cột cầu mà muốn cọ rửa, ● 2. Còn gọi: Bão Xuân Đả Phách Phù. Hai tay ôm chặt cây Xuân mà muốn đi chơi. Giống như người muốn được lãnh ngộ tự tâm mà cứ chấp chặt giáo điều. ● 抱 樸 (?-1629). Thiền tăng đời Minh, họ Lạc, người xứ Lâm An (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 15 tuổi, sư đến chùa Diệu Nghiêm cạo tóc làm tăng. Năm 22 tuổi đến chùa Vân Thê thọ giới Cụ túc. Ít lâu sau sư ở ẩn trong núi Kính Sơn. Một hôm, sư bỗng rỗng rang thấu suốt, liền đến Kinh Khê, thưa hỏi Thiền Sư Chính Truyền nhờ ngài ấn chứng; làm truyền nhân tông Lâm Tế. Tác phẩm: Thiền Tông hải ông. ● 抱 贓 呌 屈. Tay ôm tang vật mà miệng kêu oan. Thiền Tông dùng dụ này để chỉ cho sự chối cãi và biện giải hết sức vụng về, đáng buồn cười. Tiết Trí Hải Đạo Bình Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “古 人 恁 麼 說 話、大 似 抱 贓 呌 屈。 – Người xưa nói như thế thật đáng buồn cười vì giống như sự chối cãi và biện giải hết sức vụng về”. ● 飽 叢 林. Đối lại: Thiếu Tùng Lâm. Còn gọi: Cửu Tham, Lão Tham, Cựu Tham. 1. Người tham thiền học đạo lâu năm (d. từ); 2. Tham thiền học đạo một cách lâu dài (đ. từ). Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q. 39 (Vạn Tục 118, 332 hạ) ghi: “所 以 趙 州 八 十 尚 自 行 脚、祇 是 要 飽 叢 林、又 且 不 擔 板。 – Sở dĩ ngài Triệu Châu 80 tuổi vẫn còn hành cước, chỉ vì muốn tham thiền tu tập một cách lâu dài và để cái thấy của mình không còn bị giới hạn”. ● 潑. Xấu xa, hư hỏng. Từ phản nghĩa của chữ Hảo 好. Tiết Thái Dương Huyền Thiền Sư trong NGCTT q.3 ghi: “聲 色 堆 頭、强 說 有 出 身 之 路、非 央 庠 座 主、誰 受 你 破 皮 履、潑 禪 衣? – Trong đống thanh sắc cố nói có con đường xuất thân. Nếu không phải là giảng sư dở dở ương ương thì ai làm cho ngươi phải chịu rách giày hư áo? (Hành cước vất vả). “. ● 八寶 玉 石 塔. Tháp nằm trong khuôn viên Thảo Đường Thiền Tự cách trung tâm huyện Hộ, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc 20km về phía đông nam. Tháp do ngọc thạch tám màu trắng, xanh, đen, vàng,hồng, lam, tía, xám điêu khắc khảm nạm làm thành, ngọc bóng lóa mắt, ánh sáng có thể soi người cho nên gọi là “Bát Bảo Ngọc Thạch Tháp”. Thân tháp tổng cộng cao 2,33 m hình bát giác 1à tầng. Tầng đáy tháp là tòa núi Tu di có khắc nổi. Thân tháp điêu khắc ô cửa sổ, cửa hai cánh. Dưới mái che đỉnh tháp có khắc chìm nhiều tượng Phật đường nét thô thiển. Tháp này tạo dáng xinh xắn kì đặc, toàn thân tháp được khắc hoa văn, Phật tượng cũng rất tinh mỹ. Tương truyền xá lợi của ngài Cưu Ma La Thập được đặt dưới tháp. ● 八 棒. Tám thứ gậy: 1. Giải lệnh chỉ huyền bổng: Gậy phạt. 2. Tiếp cơ tùng chính bổng: Gậy tiếp cơ, đáng đánh thì đánh. 3. Khảo huyền thương chính bổng: Gậy phạt người học ưa việc lạ lùng, dựa vào huyền diệu làm tổn thương chính lý. 4. ấn thuận tông chỉ bổng: Gậy thưởng người học tương ưng với tông chỉ của Thầy. 5. Thử nghiệm hư thực bổng: Gậy không thưởng không phạt, vừa thấy liền đánh để thử sự tu hành của người học xem hư hay thực. 6. Manh gia hạt bổng: Gậy đánh bậy vì không sáng mắt. Đây là lỗi của Tông sư. 7. Khổ trách ngu si bổng: Gậy trách mắng người học ngu si. 8. Tảo trừ phàm thánh bổng: Gậy đánh để quét sạch phàm thánh. ● 八 指 頭 陀 (1851-1912). Thiền tăng cận đại, họ Hoàng, tên Kính An, tự Ký Thiền, người xứ Tương Đàm, Hồ Nam, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hằng Chí. Tác phẩm: Bát Chỉ Đầu Đà Thi Tập, 8 quyển; Tước Mai Ngâm Cảo, 1 quyển. ● 八 面 玲 瓏. Thủ đoạn chu toàn khéo léo. Trong bài tụng tắc 68 của Bích Nham Lục q.7: “雙 收 雙 放 若 爲 宗(知 他 有 幾 人、八 面 玲 瓏、將 謂 眞 箇、有 恁 麼 事。) – Song thâu song phóng làm tông yếu (Có mấy người biết ông ta có thủ đoạn chu toàn khéo léo, sẽ cho rằng thật sự có việc như thế!)”. ● 撥 火 覓 浮 漚. Bươi trong than lửa tìm bọt nước. Dụ cho việc làm điên đảo hoang đường. Tiết Tư Không Bản Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.2 ghi: “道 性 如 虛 空、虛 空 何 所 修? 遍 觀 修 道 者、撥 火 覓 浮 漚。 – Tính đạo như hư không, hư không làm sao tu? Xem thấy kẻ tu đạo đang làm việc điên đảo hoang đường”. ● 撥 眉. Còn gọi: Bát my kích mục. Vén lông mày, là cách thị cơ trong nhà Thiền, là động thái ngữ khi ứng cơ của thiền tăng. Tiết Long Quang Hòa Thượng trong TĐT q.12 ghi: “問:古 人 因 星 得 悟、意 作 麼 生?師 以 手 撥 開 眉。 – Hỏi: Người xưa thấy sao được ngộ, là ý làm sao? Sư lấy tay vén lông mày”. ● 般 若 觀 照. Dùng trí huệ Phật pháp để xem xét, nhận thức mọi sự lý. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “汝 若 不 得 自 悟、當 起 般 若 觀 照、剎 那 間、妄 念 俱 滅、卽 是 自 眞 正 善 知 識。 – Nếu ngươi chẳng được tự ngộ, cần dùng trí huệ Phật pháp để xem xét, nhận thức tất cả sự lý. Trong khoảng sát na, vọng niệm đều diệt, trí huệ đó chính là bậc Thầy chân chính của mình.” ● 般 若 直 解. Kinh sớ, 1 quyển, do Thanh Đàm Minh Chính (Thiền Sư Việt Nam) giải, Thanh Thành sao, Thanh Đức chép. Nội dung bao gồm: ― Lời tựa khắc kinh của Hội Phật Giáo Bắc Kỳ năm 1943. ― Lời tựa dẫn của Tỳ kheo Thanh Hanh vào năm thứ 9 (1933) Hoàng triều Bảo Đại. ― Tựa của ngài Minh Chính. ― Phần trực giải. ― Phần Kệ tụng gồm: Mười tắc cương lĩnh; bốn phần “Tín, giải, hạnh, chứng” để chỉ dạy phương pháp tu trì chính pháp; hai mươi thiên hậu bạt để xiển dương công năng chí cực đốn liễu; bốn câu kệ Bát nhã của Cổ đức; Duy tâm thức quán tứ trí luận của Bồ Tát Mã Minh; kệ Sáu căn bảy đại của Tổ Trúc Lâm Điều Ngự để diễn rộng tông chỉ của Tâm Kinh. ― Phần phụ lục: Huệ Năng Đệ Lục Tổ Lạc Đạo Ca. Sách này được khắc bản vào niên hiệu Thành Thái thứ 15 (1903). ● 八 卦 禪 寺. Thiền tự nổi tiếng, nằm bên núi Bát Quái, làng Đào Nguyên, thành phố Chương Hóa, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1947 Dương Kim Đới cất am tranh năm gian nơi đây, gọi là “Phúc Hàm Đường”. Năm sau ông mất, trưởng tử Dương Đắc Ý kế nhiệm trụ trì đổi tên là “Bát Quái Tự”. Năm 1954 đổi tên là “Bát Quái Thiền Tự”. Năm 1966 xây cất mở rộng đại điện và chái nhà. ● 撥 草 瞻 風. Còn gọi: Bát Thảo Tham Huyền. Nghĩa đen chỉ cho việc vạch cỏ đón gió. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho việc trừ dẹp cỏ hoang vô minh, ngưỡng vọng huyền phong của Phật Tổ. Nghĩa là đoạn trừ vọng tưởng, tham cứu đến chỗ huyền diệu. Động Sơn Ngữ Lục (Đại 47, 507 trung) ghi: “此 去 澧 陵 攸 縣、石 室 相 連、有 雲 巖 道 人、若 能 撥 草 瞻 風、必 爲 子 之 所 重。 – Từ đây đến Lễ Lăng ở huyện Du, nơi các thất đá liền nhau có một đạo nhân tên Vân Nham. Nếu ngươi có khả năng đoạn trừ vọng tưởng, tham cứu đến chỗ huyền diệu, chắc chắn sẽ được y ta quý trọng”. ● 潑 天. Từ hình dung cái rất to, rất nhiều. Tiết Tây Thiền Thủ Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “佛 祖 頂 〖⿰宁頁〗 上、有 潑 天 大 路。未 透 生 死 關、如 何 敢 進 步。 – Trên đỉnh đầu của Phật Tổ, có rất nhiều đại lộ. (Nếu) chưa thấu qua ải sinh tử làm sao dám bước lên?”. ● 撥 天 志 氣. Hình dung chí khí rất cao, chí khí ngất trời. Tiết Thị Nghiệp Hải Tịnh Thiền Sư trong MBTL q.trung: “男 子 大 丈 夫、負 一 片 撥 天 志 氣、舍 塵 勞、離 愛 网、出 叢 林、入 保 社、單 單 爲 一 段 生 死 無 常 极 大 事。 – Bậc đại trượng phu mang một chí khí ngất trời, bỏ trần lao, lìa lưới ái, ra khỏi tùng lâm, vào bảo xã, chỉ vì một việc rất lớn là sinh tử vô thường”. ● 撥 著 便 轉. Một khi được Thiền Sư khải phát (khêu gợi), người học lập tức lãnh hội. Tiết Thị Dục Tạng Chủ trong DTNL q.3 ghi: “你 若 是 箇 銅 頭 鉄 額 漢、撥 著 便 轉、如 師 子 兒 向 萬 仞 悬 崖、一 拶 便 解 翻 身、哮 吼 一 聲、百 獸 腦 裂、始 有 少 分 衲 僧 氣 概。 – Nếu ngươi là hạng căn cơ linh lợi, một khi được khải phát lập tức lãnh hội, như sư tử bên vực thẳm muôn trượng, bị bức bách liền biết phóng mình, rống lên một tiếng, trăm thú đều nhức óc, mới có chút ít khí khái của nạp tăng”. ● 八 字 打 開. Mở toang ra như hình chữ Bát; Không dấu diếm, che đậy. Bát nhã trực giải, phần thứ nhất ghi: 八 字 打 開 分 付 了 更 無 餘 事 可 呈 君 “Bát tự đả khai phân phó liễu Cánh vô dư sự khả trình quân”. “Tất cả mở toang giao phó hết Còn gì đâu nữa để trình anh”. ● 撥 無 因 果. Phủ định lý thuyết nhân quả báo ứng. Phật giáo cho rằng đây là một loại tà kiến; nhà thiền cho lý thuyết nhân quả báo ứng chỉ là giáo thuyết thích ứng với cơ nghi nhất thời, pháp môn phương tiện của Phật, chứ không phải pháp môn căn bản triệt ngộ. Nhưng nếu chấp cố định không nhân quả thì cũng bị xem là chấp trước vọng tâm. Bài tháp minh của Phụ Cát Tất trong MANL q. cuối ghi: “承 虛 接 響。錯 認 話 頭。撥 無 因 果。生 大 我 慢。卻 墮 邪 見。 – Tiếp lấy sự lý hư huyễn chẳng thật, lầm nhận thoại đầu, phủ định lý thuyết nhân quả báo ứng, sinh đại ngã mạn, lại rơi vào tà kiến, rõ ràng chẳng tự hay biết.” ● 鉢 盂 著 柄. Lắp thêm tay cầm vào chiếc bình bát; tỷ dụ việc làm dư thừa, phiền phức, rất đáng tức cười. Tiết Long Môn Thanh Viễn Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: 缽 盂 著 柄 新 翻 樣 牛 上 騎 牛 笑 殺 人 “Bát vu trước bính tân phiên dạng. Ngưu thượng kỵ ngưu tiếu sát nhân”. “Bình bát thêm quai đổi kiểu mới, Cưỡi trâu tìm trâu đáng tức cười” ● 拔 本. 1. Vớt vát lại tiền vốn. ● 2. Cứu vãn tổn thất. Bích Nham Lục q.1 ghi: “東 邊 落 節、西 邊 拔 本。 – Bên phía đông bất lợi, bên phía tây cứu vãn tổn thất”. ● 拔 楔 抽 釘. Nhổ đinh tháo chốt, dụ cho việc trừ bỏ tục tình mê chướng, lóng lặng vọng tưởng. Mật Am Ngữ Lục ghi: “入 紅 塵 堆 裏、逆 順 界 中、與 一 切 人 和 泥 合 水、拔 楔 抽 釘、令 他 不 覺 不 知、驀 地 見 徹 本 心、悟 其 本 性。 – Vào cõi bụi hồng, trong chốn thuận nghịch, cùng với mọi người hòa bùn hợp nước, nhổ đinh tháo chốt, khiến họ từ chỗ chẳng tỉnh chẳng biết chợt thấy suốt bản tâm, ngộ được bản tính”. ● 北 澗 居 簡 禪 師 語 錄. Còn gọi: Bắc Giản Hòa Thượng Ngữ Lục, Bắc Giản Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Bắc Giản Cư Giản soạn vào đời Tống, Vật Sơ Đại Quan biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 128. Nội dung bao gồm Ngữ Lục của Cư Giản tại viện Bát nhã ở Đài Châu, chùa Thiết Quan Âm ở Hồ Châu, chùa Viên Giác ở An Kiết Châu, chùa Huệ Nhật ở phủ Bình Giang, và các phần Tiểu tham, Bỉnh phất, Cáo hương phổ thuyết, Tụng cổ, Kệ tụng, Tiểu Phật sự. Có phụ lục lời tựa của các vị Thạch Khê Tâm Nguyệt… ● 北 京 天 寧 寺. Chùa nằm ngoài cửa Quảng An, khu Tuyên Vũ, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Sáng lập vào thời kỳ vua Hiếu Văn Đế (471-499) đời Bắc Ngụy. Ban đầu tên là “Quang Lâm Tự”. Niên hiệu Nhân Thọ thứ 2 (602) đời Tùy đổi tên là “Hoằng Nghiệp Tự”. Khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-741) đời Đường đổi tên là “Thiên Vương Tự”. Niên hiệu Đại Định thứ 21 (1181) đời Kim lại gọi là “Đại Vạn An Thiền Tự”. Vào cuối đời Nguyên chùa bị thiêu hủy bởi binh lửa, điện vũ không còn. Chỉ còn một tòa tháp gạch đặc ruột xây dựng vào đời Liêu. Vào đầu đời Minh xây cất lại tự viện, niên hiệu Tuyên Đức thứ 10 (1435) đổi tên gọi như ngày nay. Niên hiệu Chính Thống thứ 10 (1445) mở giới đàn nơi đây, gọi là “Quảng Thiện Giới Đàn” mời thỉnh mười vị Tông sư. Mỗi năm vào hạ tuần tháng tư tập hợp tăng chúng thọ giới thuyết pháp, gọi là viên giới. Tương truyền lúc ấy tụ tập tăng ni gần một vạn người. Hiện còn điện vũ được trùng tu vào niên hiệu Càn Long thứ 21 (1756) đời Thanh. ● 冰 壁 老 人. Hiệu của thiền tăng Duy Tắc đời Nguyên. X. Duy Tắc. ● 朋 彥 (913-961). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Thái, người xứ Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu, Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiên Thai Đức Thiều Quốc sư. Thụy hiệu “Quảng Pháp Thiền Sư”. ● 貧 子 衣 珠. Kẻ nghèo khổ cùng quẫn trên thân tự có ngọc quý, dụ chỉ chúng sinh vốn có Phật tính. Tiết Pháp Xương Ỷ Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “祖 師 西 來 意、特 唱 此 事。祇 要 時 人 知 有。如 貧 子 衣 珠、不 從 人 得。 – Tổ sư từ phương Tây đến, đặc biệt đề xướng việc nầy, chỉ cần người đương thời biết rõ là họ giống như kẻ nghèo khổ cùng quẫn trên thân tự có ngọc quý, chẳng từ người khác mà được.” ● 不 及. Không được, không bằng. Đặt sau động từ nhằm nhấn mạnh giải thích hành vi động tác không có cách hoàn thành, hoặc không có cách đạt đến mục đích. Tiết Thanh Lương Hưu Phục Thiền Sư trong NĐHN q.8 ghi: “問:如 何 是 學 人 出 身 處?師 曰:千 般 比 不 得、萬 般 況 不 及。– Tăng hỏi: Thế nào là chỗ xuất thân của học nhân? Sư đáp: Ngàn thứ so chẳng được, muôn thứ sánh không bằng.” ● 不 已 而 已. Bất đắc dĩ mà làm. Tiết Ba Tiêu Kế Triệt Thiền Sư trong NĐHN q. 9 ghi: “昔 日 如 來 於 波 羅 柰 國、梵 王 請 轉 法 輪、如 來 不 已 而 已、有 屈 宗 風。 – Ngày xưa Đức Phật ở tại nước Ba la nại, Phạm Vương thỉnh Phật thuyết pháp, Đức Phật bất đắc dĩ mà làm. Vì thuyết pháp về Tứ Đế thì chưa đúng với Tông chỉ của Thiền”. ● 不 易. Hỏi thăm, lời nói an ủi, tương đương với “Tân khổ liễu” (vất vả quá), “Chân tân khổ” (thật là nhọc nhằn). Tiết Hoằng Nhẫn Hòa Thượng trong TĐT q.2 ghi: “師 又 去 碓 坊、便 問 行 者:不 易! 行 者、米 還 塾 麼? – Sư lại đi xuống nhà giã gạo, lúc thuận tiện hỏi hành giả: Thật là nhọc nhằn! Hành giả, gạo đã trắng chưa?” ● 不 多 安 樂. Khó ở, bị bệnh. Tiết Ngạc Châu Vô Đẳng Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “老 僧 三 兩 日 來、不 多 安 樂。大 德 身 邊 有 甚 麼 藥 物、與 老 僧 些。 – Hai ba bữa rày lão tăng bị bệnh, Đại đức có mang theo bên mình thuốc men gì cho lão tăng xin một ít.” ● 不 倒 單. Ban đêm không ngủ, ngồi kiết già một chỗ, hoặc niệm Phật hoặc tham thiền hoặc khán thoại đầu, bất kể ngày đêm. Đây là hạnh tu thiết yếu để liễu sinh thoát tử, chóng chứng Niết bàn. ● 不 迭. Không ngớt, không dứt, đặt ở sau động từ. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “道 我 四 事 具 足、方 可 發 心。祇 恐 做 手 腳 不 迭、便 是 隔 生 隔 世 去 也。時 光 似 箭、深 爲 可 惜。 – Nếu nói rằng tôi phải có đủ bốn sự cúng dường rồi mới phát tâm tu hành, chỉ e làm chuyện phi pháp không dứt thì đã chết đi rồi. Thời giờ nhanh chóng tợ tên bay, thật là đáng tiếc.” ● 不 假. Không cần, không phải. Uyển Lăng Lục ghi: “本 體 本 來 是 佛、不 假 修 成 – Bản thể xưa nay là Phật, không cần tu mới thành.” ● 不 較 多. Na ná, chẳng khác mấy. Tiết Quế Sâm Thiền Sư trong CĐTĐL q.21 ghi: “師 問 僧:什 麼 處 來?曰:秦 州 來… 師 却 問:秦 州 豈 不 是 出 鸚 鵡?僧 曰:鸚 鵡 出 在 隴 州。師 曰:也 不 較 多。 – Sư hỏi tăng: Từ đâu đến đây? Đáp: Từ Tần Châu đến …. Sư lại hỏi: Tần Châu há không phải là nơi có nhiều chim vẹt sao? Tăng thưa: Chim vẹt sản suất ở Lũng Châu. Sư bảo: Cũng na ná.” ● 不 許 夜 行 、投 明 須 到. Không cho đi đêm, trước khi trời sáng phải đến. Đây là lời nói lạ lùng mà Thiền Sư thường dùng. Tiết Phong Huyệt Diên Chiểu Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “問:百 了 千 當 時 如 何?師 曰:不 許 夜 行、投 明 須 到。 – Hỏi: Khi đã triệt ngộ thì thế nào? Sư đáp: Ban đêm không cho đi, trước khi trời sáng phải đến”. ● 不 可 思 議. Sự lý tột cùng vi diệu, không thể tưởng tượng, khó dùng lời nói để diễn đạt. Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q.3 ghi: “古 德 曰:青 青 翠 竹 盡 是 眞 如、郁 郁 黃 花 無 非 般 若。有 人 不 許、是 邪 說、亦 有 人 信、言:「不 可 思 議」、不 知 若 爲? – Cổ đức nói: Xanh xanh trúc biếc đều là chân như, rực rỡ hoa vàng không gì chẳng phải là Bát nhã. Có người không chịu cho là tà thuyết, cũng có người tin, bảo là ›Bất khả tư nghị‹. Con không biết làm sao đây?” ● 不 落 名 言. Chỉ thiền pháp cùng danh từ khái niệm không có gì liên hệ, chẳng thể dùng ngôn ngữ văn tự để biểu đạt. Phần “Nghệ ngôn” trong NHQL q.29 ghi: “性 休 寂 滅、不 落 名 言、凡 有 指 注、俱 乖 本 色。 – Thể tính vắng lặng không liên hệ gì đến danh từ khái niệm. Hễ có giải thích đều trái với bản sắc.” ● 不 落 階 級. Không mắc kẹt vào thứ tự đẳng cấp, chỉ cho sự giác ngộ tức thì. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “須 知 有 一 人、不 從 人 得、不 受 教 詔、不 落 階 級。若 識 此 人、一 生 參 學 事 畢。 – Phải biết có một người chẳng nhờ chỉ dạy mà biết, chẳng nhờ sách vở mà rõ, mà ngay đó liền giác ngộ. Có thể nói người này một đời tham học đã xong”. ● 不 落 有 無. Chẳng sa vào trong nhận thức đối lập giữa hữu và vô, tức không phân biệt sự vật là hữu hay vô. Đây là phản ảnh tư tưởng “Vạn pháp nhất như” của Phật giáo. Tiết Tư Quốc Đạo Ban Thiền Sư trong NĐHN q.8 ghi: “(僧)問:不 落 有 無、請師 道。 – (Tăng) hỏi: Chẳng sa vào trong nhận thức đối lập giữa hữu và vô, thỉnh sư nói cho.” ● 不 落 唇 吻. Không rơi vào môi mép. Chỉ cho muốn lãnh ngộ thiền pháp thì chẳng nên sa vào lời nói nơi cửa miệng. Tiết Long Hoa Hiểu Ngu Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “不 落 唇 吻、一 句 作 麼 生 道? – Một câu không rơi vào môi mép làm sao nói?” ● 不 立 義 解. Chỉ thiền pháp vượt khỏi lời nói, ý nghĩa, không cần so sánh, giải thích. Bài tựa của Bùi Hưu trong Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “證 之 若 無 新 舊、無 淺 深、說 之 者 不 立 義 解、不 立 宗 主、不 開 戶 牖、直 下 便 是、動 念 卽 乖、然 後 爲 本 佛。 – Chứng đó, như không có mới cũ, không có sâu cạn. Nói đó, thì vượt khỏi lời nói ý nghĩa, không cần so sánh giải thích, chẳng lập tông chủ, chẳng mở cửa nẻo, ngay bản thể thì phải, động niệm liền trái, rồi sau mới là bản Phật.” ● 不 立 文 字. Chỉ cho việc lấy tâm truyền tâm, chứ không dùng chữ nghĩa. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, tắc 6 Vô Môn Quan, Đức Thế Tôn đem pháp môn vi diệu, chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, trực tiếp phó chúc cho ngài Ca diếp qua tâm tính chứ không truyền qua kinh điển. ● 不 了 不 當. Sự việc không thành tựu, phần lớn chỉ cho việc tham thiền chưa thành công. Tiết Đãi Chế Phan Lương Quý Cư sĩ trong NĐHN q.20 ghi: “久 之 不 契、因 訴 曰:某 只 欲 死 去 時 如 何?燈(指 佛 燈 禪 師)曰:好 箇 封 皮、且 留 著 使 用。而 今 不 了 不 當、後 去 忽 被 他 換 却 封 皮、卒 無 整 理 處。 – Đã lâu mà không khế hợp nên thưa rằng: Lúc tôi muốn chết đi thì sao. Đăng (tức Phật Đăng Thiền Sư) nói: Có tấm thân tốt, hãy lưu lại để dùng. Nhưng nay việc tham thiền chưa thành công, nếu như chết đi, rốt cuộc không có chỗ chỉnh lý”. ● 不 了 義 教. Nhà thiền lấy thiền giáo chẳng lập ngôn ngữ văn tự làm Liễu nghĩa giáo, và cho sự truyền dạy thông qua ngôn ngữ văn tự của các giáo phái khác là Bất liễu nghĩa giáo. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ ba dưới Đại Giám trong CTTNL q.2 ghi: “但 有 語 句、盡 屬 不 了 義 教。 – Hễ có lời nói đều thuộc về Bất liễu nghĩa giáo.” ● 不 了 義 教 語. Nhà thiền đề xướng không cần chữ nghĩa lời nói biểu đạt và cho kinh điển Phật giáo là Bất liễu nghĩa giáo ngữ (Lời dạy, không phải pháp cứu cánh). Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ ba dưới Đại Giám trong CTTNL q.2 ghi: “佛 出 世 度 衆 生 是 九 部 教 語、是 不 了 義 教 語。 – Phật ra đời độ chúng sinh gồm 9 bộ (thể loại) kinh điển, là lời dạy chứ không phải pháp cứu cánh.” ● 不 離 當 處. Ý nói thiền pháp gần sát chỗ bản thân mỗi người, không cần chạy đến nơi khác tìm cầu. Bài Tháp minh do Phụ Cát Tất viết trong MANL q. cuối ghi: 曹 溪 一 滴。源 深 流 長 至 於 臨 濟。其 道 益 張 如 擊 石 火。如 閃 電 光 不 離 當 處。覿 面 承 當 Giọt nước Tào Khê, Nguồn sâu dòng dài. Đến nơi Lâm tế, Đạo ấy hoằng khai. Như đá lửa nháng, Như ánh điện bay. Chẳng rời tại chỗ, Trước mặt nhận ngay. ● 不 釐 務 侍 者. Thị giả danh dự. Tuy có chức vụ nhưng thật sự không làm nhiệm vụ thị giả. Khô Nhai Mạn Lục, q. thượng ghi: “鐵 鞭 韶 禪 師 在 密 庵 處、任 不 釐 務 侍 者 達 六 年。 – Thiền Sư Thiết Tiên Thiều ở Mật Am nhận chức Bất ly vụ thị giả được 6 năm”. ● 不 謬. Chẳng hổ là, không thẹn là. Chương Đan Hà Thiên Nhiên Thiền Sư trong CĐTĐL q.14 ghi: “師 一 日 謁 忠 國 師。先 問 侍 者:國 師 在 否?曰:在 即 在 不 見 客。師 曰:太 深 遠 生。曰:佛 眼 亦 鄰 不 見。師 曰:龍 生 龍 子 鳳 生 鳳 兒。國 師 睡 起 侍 者 以 告。國 師 乃 鞭 侍 者 二 十 棒 遣 出。後 丹 霞 聞 之 乃 云:不 謬 爲 南 陽 國 師。 – Một hôm, sư đến yết kiến Quốc sư Huệ Trung. Đầu tiên hỏi thị giả: Quốc sư có ở chùa không? Đáp: ở thì ở mà không tiếp khách. Sư nói: Thật sâu xa thay! Thị giả nói tiếp: Mắt Phật nhìn còn chẳng thấy. Sư nói: Rồng sinh rồng con, Phụng sinh phụng con. Quốc sư thức dậy, thị giả thưa lại chuyện vừa rồi, Quốc sư liền quất cho thị giả hai mươi gậy, đuổi ra. Sau đó, Đan Hà nghe việc này, liền nói: Chẳng hổ là Nam Dương Quốc sư.” Tiết Thạch Thê Hòa Thượng trong NĐHN q, 4 ghi: “一 日 見 侍 者 拓 缽 赴 堂、乃 喚 侍 者、者 應 諾。師 曰:「甚 處 去?者 曰:上 堂 齋 去。師 曰:我 豈 不 知 汝 上 堂 齋 去?者 曰:除 此 外 別 道 箇 甚 麼 ?師 曰:我 秖 問 汝 本 分 事。者 曰:和 尚 若 問 本 分 事、某 甲 實 是 上 堂 齋 去。師 曰:汝 不 謬 爲 吾 侍 者。 – Một hôm Sư thấy thị giả bưng bát đi ăn cơm, liền gọi: Thị giả! Thị giả: Dạ! Sư hỏi: Ngươi đi đâu đó? Thị giả: Đến trai đường ăn cơm. Sư bảo: Ta há không biết ngươi lên trai đường ăn cơm sao? Thị giả thưa: Ngoài điều này ra, còn hỏi gì khác? Sư bảo: Ta hỏi ngươi về việc bên trong bản thân ngươi. Thị giả thưa: Nếu Hòa Thượng hỏi việc bên trong bản thân, thì chính là con đang lên trai đường ăn cơm đây. Sư bảo: Ngươi không thẹn là thị giả của ta!” ● 不 二. Đồng nghĩa với Vô Trụ. Chẳng phải cái nhị của tương đối mà cũng chẳng phải là một. ● 不 二 玄 旨. Đồng nghĩa “Bất nhị pháp môn 不 二 法 門”. Minh Chơn Tụng trong PKNL q.18 ghi: “昔 有 維 摩 大 士 示 疾 在 毘 耶 城 裏、三 十 二 箇 菩 薩、各 談 不 二 玄 旨、文 殊 請 問 維 摩、維 摩 一 默 而 已。 – Thuở xưa đại sĩ Duy ma Cật nhuốm bệnh nằm trong thành Tỳ da. Ba mươi hai vị Bồ Tát, mỗi mỗi nói về pháp môn bất nhị Bồ Tát Văn thù thưa hỏi ngài Duy ma về vấn đề nầy, ngài chỉ một bề im lặng mà thôi.” ● 不 二 法 門. Giáo pháp hiển bày chân lý bình đẳng tuyệt đối, vượt ra ngoài tất cả đối đãi sai biệt. Tức ngay nơi 84.000 pháp môn của Phật giáo thường nhận ra chân lý bình đẳng tuyệt đối. Phẩm Bất Nhị Pháp Môn trong Kinh Duy Ma nói có 33 cách giải thích về Bất Nhị Pháp Môn. ● 不 憤. Không phục, không chịu, ấm ức. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “法 眼 云:監 院 果 然 錯 會 了 也。則(卽 監 院)不 憤、便 起 單 渡 江 去。 – Pháp Nhãn nói: Giám Viện quả nhiên hiểu lầm rồi! Tắc (tức Giám viện) không phục, liền từ giã thiền viện, sang sông.” ● 不 妨. 1. Quả thật, thật là, rất. Phó từ. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “雪 竇 到 這 裏、不 妨 爲 人 赤 心 片 片。 – Đến chỗ nầy, Tuyết Đậu quả thật hết lòng vì người.” ● 2. Cố nhiên, tự nhiên, biểu thị khẳng định có điều kiện. Tiết ứng Am Hoa Thiền Sư trong GTPĐ q.26 ghi: “雲 門 道 得、不 妨 諦 當、要 且 落 在 第 二 頭。 – Vân Môn nói được, cố nhiên là xác đáng, nhưng lại rơi vào nghĩa thứ hai.” ● 不 規. Bất định. Tiết Kiếm Môn An Phần Am Chủ trong NĐHN q. 20 ghi: “遂 徑 回 西 禪 懶 庵 迎 之、付 之 伽 梨。自 爾 不 規 所 寓。後 庵 居 劍 門、化 被 岭 表、學 者 從 之。 – Sư liền theo đường tắt trở về Tây Thiền. Lại Am ra đón sư trao cho y Tăng già lê. Sư theo ý mình không ở nơi nào nhất định. Về sau cất am ở Kiếm Môn, sư giáo hóa bao trùm Linh Biểu, được người học nghe theo.” ● 不 才 淨. Còn gọi: Bất Tài Bất Tịnh. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho ngôn ngữ văn tự bình thường là lời nói chết, câu chết, chỉ gây thêm rối rắm. Phần Thị Chúng trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 502 thượng) ghi: “大 德、山 僧 今 時 事 不 获 已、話 度 說 出 許 多 不 才 淨。尔 且 莫 錯。 – Hôm nay, Sơn tăng cực chẳng đã mới nói ra lắm lời rối rắm, các ngươi chớ lầm”. ● 不 審. 1. Chẳng biết. Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện ghi: “不 審 和 尚 初 付 囑 時、更 有 何 言 教?愿 垂 指 示。 – Lúc ban đầu phó chúc, chẳng biết Hòa Thượng còn có dạy lời gì? Con cúi mong được Ngài chỉ bảo”. ● 2. Còn gọi: Vấn Tấn. Nghĩa là: Chào thầy. Tiết Tiệm Nguyên Trung Hưng Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “師 後 住 漸 源。一 日 在 紙 帳 內 坐、有 僧 來 拔 開 帳 曰:不 審! – Về sau, sư trụ Tiệm Nguyên. Một hôm Sư đang ngồi trong trướng, có vị tăng đến vén màn nói: Chào thầy!”. ● 不 是 心、不 是 佛、不 是 物. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật. Ý nói đạo pháp không thể nói, siêu việt tất cả danh từ khái niệm. Thuật ngữ này là cách nói khác đi của cụm từ “Tức tâm tức Phật”. Vô Môn Quan ghi: “南 泉 和 尚 因 僧 問 云:還 有 不 與 人 說 底 法 麼?泉 云:有。僧 云: 如 何 是不 與 人 說 底 法?泉 云:不 是 心、不 是 佛、不 是 物。 – Nhân có vị tăng hỏi Hòa Thượng Nam Tuyền rằng: Còn có pháp gì đừng nên nói cho người chăng? Nam Tuyền bảo: Có. Tăng thưa: Pháp đừng nên nói cho người là pháp gì? Tuyền bảo: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.” ● 不 涉 階 棲. Còn gọi: Bất Lịch Giai Thê. Thiền pháp chỉ thẳng tâm người, lập tức giác ngộ, không có đẳng cấp thứ lớp. Mật Am Ngữ Lục ghi: “祖 師 門下、直 截 省 要、不 歷 階 梯、立 地 成 佛。 – Khai thị thiền nhân Bính rằng: Hàng đệ tử Tổ sư dứt khoát tỉnh ngộ, không trải qua thứ lớp, lập tức thành Phật”. Vô Môn Quan ghi: “劍 刃 上 行、冰 棱 上 走、不 涉 階 棲、懸 崖 撒 手。 – Đi trên kiếm bén, chạy trên băng mỏng, chẳng trải qua thứ lớp, buông tay nơi vực thẳm”. ● 不 涉 程 途. Không can hệ đến quá trình tu tập tiến triển dần dần trong việc tỏ ngộ Thiền. Thư đáp Trịnh Côn Nham Trung Thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “要 之、佛 祖 向 上 一 路、不 涉 程 途、其 在 初 心 方 便、也 須 從 者 里 透 過 始 得。 – Tóm lại, Thiền pháp vi diệu của Phật Tổ không can hệ đến quá trình tu tập tiến triển dần dần. Chỗ này là chỗ tu tập, cần phải từ chỗ này thấu qua”. ● 不 請. Xin đừng, không cần phải. Minh Giác Ngữ Lục, q. 2 ghi: “他 後 見 別 處 長 老、學 士 不 請 舉 向 伊。 – Sau nầy có gặp các bậc Trưởng lão ở nơi khác, xin Học sĩ đừng giới thiệu ông ấy.” ● 不 屬 漸 次. Ý nói thiền pháp cần lập tức lãnh ngộ, không cần phải từ từ tu hành, trong ấy cũng không có trình tự thứ lớp. Uyển Lăng Lục ghi: “祖 師 直 指、一 切 衆 生 本 心 本 體 本 來 是 佛、不 假 修 成、不 屬 漸 次。 – Tổ sư chỉ thẳng bản tâm bản thể của tất cả chúng sinh xưa nay là Phật, chẳng nhờ tu hành mới thành, không cần phải từ từ, cũng không có trình tự, thứ lớp.” ● 不 說 說、不 聞 聞. Chẳng nói mà nói, chẳng nghe mà nghe.Chỉ cho việc tiếp nhận pháp Thiền không phải nơi tai mà là ở nơi tâm. Mật Am Ngữ Lục ghi: “諸 佛 不 說 說、祖 師 不 聞 聞、下 一 轉 語 千 古 透 乾 坤。 – Chư Phật chẳng nói mà nói, Tổ sư chẳng nghe mà nghe, để lại một chuyển ngữ, ngàn đời trấn giữ trời đất”. ● 不 識 盧 山 眞 面 目. Thành ngữ này bắt nguồn từ bài thơ “Đề Tây lâm bích” của Tô Thức, nhà thơ đời Tống. Toàn bài thơ miêu tả tác giả đi chơi cảnh núi Lô, đứng ở các vị trí khác nhau mà nhìn cảnh núi này. Do núi Lô suốt năm mây mù bao phủ, hơn nữa, tác giả đứng ở trong núi không sao nhìn thấy toàn cảnh Lô Sơn, do đấy mới cảm khái thốt lên: “橫 看 成 嶺 側 成 峰 處 處 高 低 各 不 同 不 識 廬 山 眞 面 目 只 猶 身 在 此 山 中。 – Trông ngang thành dãy, xéo thành tòa, nơi nơi cao thấp khác nhau xa, chẳng biết Lô Sơn toàn cảnh thật, chỉ do thân ở núi non này”. Tô Thức tức Tô Đông Pha từng kết bạn với Thiền Sư Phật Ấn ở Vân Cư và về già, ông để tâm nghiên cứu kinh Phật – phải chăng họ Tô có ngụ Thiền ý trong bài thơ? Theo Thiền Tông, bài thơ nhằm diễn tả tình huống của một người bị mê hoặc bởi hiện tượng bề ngoài, không nhận thức rõ bản chất của sự vật. ● 不 惜 眉 毛. Chẳng tiếc lông mày. Ý nói không tiếc lời nói và bất chấp bị trừng phạt. Tiết Huệ Lâm Tông Bản Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “山 僧 今 日 不 惜 眉 毛、與 汝 諸 人 說 破。 – Hôm nay Sơn tăng không tiếc lời nói và bất chấp bị trừng phạt, sẽ nói toạc ra cho ông biết”. ● 不 踐 階 梯. Không theo cấp bậc (của cây thang), dụ chỉ không cần trải qua các cấp giai vị trung gian mà trực tiếp lãnh ngộ thiền pháp. Bài tựa của Dương Ức trong CĐTĐL ghi: “不 立 文 字、直 指 心 源、不 踐 階 梯、徑 登 佛 地。 – Chẳng lập văn tự, chỉ thẳng nguồn tâm, không theo cấp bậc, thẳng lên đất Phật.” ● 不 信 道. Nói mà không chịu tin. Tắc 8, Bích Nham Lục (Tục 117,137, thượng) ghi: “不 信 道 不 妨 奇 特。若 是 恁 麼 人 方 解 恁 麼 道。 – Nói mà không chịu tin đây quả là kì đặc. Nếu là người như thế mới biết nói như thế”. ● 不 爭 多. Xấp xỉ, chẳng khác mấy. Tiết Linh Yểm Hòa Thượng trong CĐTĐL q. 23 ghi: Tăng hỏi: “僧 問:己 事 非 明、以 何 爲 驗?師 曰:木 鏡 照 素 容。曰:驗 後 如 何?師 曰:不 爭 多。 – Việc mình không sáng, lấy cái gì để nghiệm? Sư bảo: Gương gỗ chiếu hình rỗng. Hỏi: Sau khi nghiệm thế nào? Sư đáp: Chẳng khác mấy.” ● 不 徹. 1. Không ngừng, không dứt. Đặt sau động từ, bổ sung cho hành vi hoặc động tác cần giải thích. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “杜 鵑 啼 不 徹、血 流 山 竹 裂。– Chim quốc kêu không dứt, máu chảy tre núi nứt”. ● 2. Không bằng, không kịp. Đặt sau động từ, nhấn mạnh hành vi không có cách gì để hoàn thành. Tiết Hương Nghiêm Hòa Thượng trong TĐT q.19 ghi: “急 著 力、勤 嚙 齒、無 常 到 來 救 不 徹。 – Mau ra sức, gắng chịu đựng, vô thường đến rồi cứu không kịp”. ● 不 中. Không đúng, không hợp. Chương Nam Nhạc Hoài Nhượng trong CĐTĐL q.5 ghi: “祖 問:甚 處 來?師 曰:嵩 山 來。祖 問:什 麼 物 恁 麼 來?師 曰:道 相 似 一 物 卽 不 中。 – Tổ hỏi: Từ đâu đến? Sư đáp: Từ Tung Sơn đến! Tổ hỏi: Vật gì đến như thế? Sư đáp: Nói giống một vật thì chẳng đúng.” Tiết Đầu Tử Nghĩa Thanh Thiền Sư trong NĐHN ghi: “(圓 通 禪 師)卽 曳 杖 入 堂、見 師 正 睡、乃 擊 床 呵 曰:我 這 裏 無 閑 飯 與 上 座 吃 了 打 眠! 師 曰:和 尚 教 某 何 爲?通 曰:何 不 參 禪?師 曰:美 食 不 中 飽 人 吃。 – (Thiền Sư Viên Thông) liền xách gậy vào tăng đường, thấy sư đang ngủ, liền gõ vào giường, quở rằng: ở đây, ta không có dư cơm để cho Thượng tọa ăn no rồi ngủ! Sư thưa: Hòa Thượng dạy tôi làm gì? Thông nói: Sao chẳng tham thiền đi? Sư đáp: Thức ăn ngon chẳng hợp với người no bụng.” ● 不 著 聖 凡. Không dính vào kiến giải phân biệt đối đãi bực Thánh với kẻ phàm. Đây là phản ánh tư tưởng “Vạn pháp nhất như” của Phật giáo. Trấn Châu Đại Bi Hòa Thượng trong NĐHN q.11 ghi: “不 著 聖 凡、請 師 答 話。 – Chẳng dính vào kiến giải phân biệt bậc Thánh với kẻ phàm, thỉnh Sư đáp cho”. ● 不 著 是 非. Còn gọi: Bất Lạc Thị Phi. Đối với sự vật không phân biệt phải và chẳng phải. Tiết Song Phong Cổ Thiền Sư trong NĐHN q.9 ghi: “僧 問:和 尚 當 時 辭 石 霜、石 霜 恁 麼 道、意作 麼 生?師 曰:只 教 我 不 著 是 非。 – Tăng hỏi: Ngay lúc Hòa Thượng giã từ Thạch Sương, Thạch Sương nói thế ấy, ý thế nào? Sư nói: Chỉ là dạy ta bất trước thị phi”. ● 不 著 便. Chẳng được tiện lợi, chẳng gặp may, xui xẻo, không hợp thời cơ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “師 到 金 牛、牛 見 師 來、橫 按 拄 杖 當 門 踞 坐。。。師 便 打、牛 作 倒 勢、師 又 打、牛 云:今 日 不 著 便。 – Sư đi đến Kim Ngưu, Ngưu thấy sư đến liền đặt gậy nằm ngang rồi ngồi xổm ngay cửa… sư bèn đánh, Ngưu làm bộ té ngã. Sư lại đánh, Ngưu nói: Hôm nay xui xẻo”. ● 不 辭. Không quản ngại, không từ chối. Phần lớn nằm ở phân câu phía trước trong câu phức chuyển chiết. Tiết Đại Dương Cảnh Huyền Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “道 卽 不 辭、恐 上 紙 筆。 – Sư bảo: Nói thì không quản ngại, chỉ e còn trên giấy bút.” ● 不 唧 〖⿰口留. 1. Không thể dùng được, không thu hoạch. Vân Môn Quảng Lục, q. hạ ghi: “因 普 請 般 米 了、坐 次 云:近 日 不 唧 〖⿰口留〗 只 担 得 一 斗 米、不 如 快 脫 去! – Nhân thỉnh đại chúng làm việc công cộng như khuân vác gạo thóc, Tọa chủ nói: Gần đây không thu hoạch, chỉ khuân được một đấu gạo, chẳng bằng mau buông xuống đi!”. ● 2. Ngây ngô. Trung Phong Quảng Lục q.4 ghi: “棒 頭 領 旨、喝 下 明 宗、已 是 第 一 等 不 唧 〖⿰口留〗 底 鈍 漢。 – Ngay đầu gậy lãnh hội ý chỉ, nơi tiếng hét thấu rõ tông chỉ, đây đã là kẻ ngây ngô đần độn hạng nhất.” ● 不 相 爲 事. Chẳng muốn làm việc (Tham thiền). Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “若 不 將 爲 事、受 殃 有 日 在。故 云:著 日 今 生 須 了 却、誰 能 累 劫 受 余 殃? – Nếu chẳng muốn tham thiền thì có ngày bị tai ương! Cho nên nói: Ngày nay nỗ lực cho liễu ngộ, ai là người chịu tai ương trong nhiều kiếp?”. ● 不 忘 禪. Loại thiền định luyện tập trí nhớ. Kinh Xá Lợi Phất Vấn ghi: “阿 難 修 不 忘 禪、得 佛 覺 三 昧。 – A nan tu thiền định luyện tập trí nhớ, được Phật giác tam muội”. ● 不 無. Chẳng phải không. Đặt ở cuối phân câu phía trước trong câu phức chính phụ, biểu thị quan hệ chuyển ý, khẳng định có điều kiện. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “二 十 五 年 坐 這 曲 彔 木 頭 上。舉 古 舉 今 則 不 無。秖 是 未 曾 道 著 第 一 句。 – Hai mươi lăm năm ngồi giường dây (làm trụ trì) nói về chuyện xưa, chuyện nay thì chẳng phải không, có điều là chưa từng nói đến câu thứ nhất (Đệ nhất cú).” ● 不 意. Không đồng ý, không chịu, ấm ức. Tông Môn Võ Khố ghi: “保 寧 勇 禪 師、四 明 人、初 更 衣 依 雪 竇 顯 禪 師 同 道。雪 竇 呵 爲 夬 庠 座 主。勇 不 意。堂 儀 纔 滿、卽 抽 單、望 雪 竇 山 拜 曰:我 此 生 行 脚 參 禪、道 價 若 不 過 雪 竇、定 不 歸 鄉。 – Thiền Sư Bảo Ninh Dũng, người Tứ Minh. Ban đầu sư thay y phục đến nương bạn đồng đạo là Thiền Sư Tuyết Đậu Hiển. Tuyết Đậu quở sư là tọa chủ ỉu xìu. Dũng không chịu, cứ ấm ức. Nghi thức thượng đường vừa mãn, sư liền rời khỏi thiền viện, hướng về núi Tuyết Đậu lễ bái, thề rằng: Đời này hành cước tham thiền, nếu tôi tiếng tăm về đạo pháp không bằng Tuyết Đậu, nhất định không trở về quê.” ● 閉 眼 作 夜. Nhắm mắt lại rồi cho đó là màn đêm, tỷ dụ tư tưởng hành vi tự lừa dối, ngu mê vô lý. Chương Nguyên Nghiễm Thiền Sư trong CĐTĐL q.19 ghi: “問:久 處 暗 室、未 遠 其 源、今 日 上 來、乞 師 一 接。師 曰:莫 閉 眼 作 夜 好。 – (Tăng) hỏi: Lâu nay ở trong thất tối, chưa đạt cội nguồn hôm nay đến đây xin Thầy tiếp cho. Sư bảo: Đừng nhắm mắt lại rồi cho đó là màn đêm nhé!” ● 閉 關. Sau khi ngộ rồi (phá được trùng quan), muốn bảo nhậm bản lai diện mục nên mới cần phải bế quan (đóng cửa yên tu). Bài 8 trong Sơn Cư Bách Vịnh của Thiền Sư Tông Bản ghi: “山 居 茅 瓦 竹 爲 椽 守 道 安 貧 樂 自 然 盡 日 閉 關 無 別 事 長 伸 兩 脚 枕 雲 眠” “Sơn cư mao ngõa trúc vi duyên Thủ đạo an bần lạc tự nhiên Tận nhật bế quan vô biệt sự Trường thân lưỡng cước chẩm vân miên”. “ở non tre lá kết am thiền Cam nghèo giữ đạo thật an nhiên Đóng cửa suốt ngày không việc khác Gối đầu, duỗi cẳng ngủ bình yên”. ● 病 僧 口 詞. Trong tùng lâm, khi bệnh tình của vị tăng ngày càng nặng e khó sống, lúc sắp mạng chung nói lời di chúc gọi là Bệnh tăng khẩu từ. Khẩu từ này phần đông các bệnh tăng nói về dòng dõi quê quán của mình, người ghi chép phải ghi chép hết thảy những gì được dặn dò về cách chỉnh lý, xử trí để làm bằng. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 病 僧 念 頌. Còn gọi: Bệnh Tăng Giải Thích. Trong tùng lâm, khi có một vị tăng bệnh nặng, nếu trên ba ngày không bớt thì phải dời vị ấy qua Diên thọ đường (nơi chăm lo trị bệnh và dưỡng bệnh). Lúc ấy, các vị tăng đồng hương quen biết cũ và cả chúng vì vị tăng bệnh ấy mà cầu nguyện cho bệnh nhân mau lành. Mọi sự niệm tụng, tán Phật, hồi hướng này gọi là Bệnh tăng niệm tụng. ● 祕 魔 擎 叉. Công án này được thấy ghi nơi tiết Ngũ Đài Bí Ma Nham Hòa Thượng trong Ngũ Đăng Hội Nguyên q.4 như sau: “五 臺 祕 魔 巖 和 尚 五 臺 山 祕 魔 巖 和 尚、常 持 一 木 叉、每 見 僧 來 禮 拜、即 叉 卻 頸 曰:那 箇 魔 魅 教 汝 出 家?那 箇 魔 魅 教 汝 行 腳?道 得 也 叉 下 死、道 不 得 也 叉 下 死。速 道! 速 道! – Hòa Thượng Bí Ma Nham ở núi Ngũ Đài thường cầm một chiếc nạng gỗ,mỗi khi thấy tăng đến lễ bái mình sư liền chỉa chiếc nạng vào cổ tăng bảo: “Ma quỉ nào dạy ông xuất gia, Ma quỉ nào dạy ông hành cước? Nói không được sẽ chết dưới chiếc nạng này, nói được cũng chết dưới chiếc nạng nầy. Nói mau! Nói mau!”” Người học đạo ít có ai đáp được. Nhấc chiếc nạng chỉa vào cổ tăng là thủ đoạn tiếp dẫn người học rất mạnh mẽ, để cắt đứt con đường suy nghĩ, nói năng khiến họ thoát khỏi vọng tưởng phân biệt. Đời sau, trong thiền lâm thường niêm đề công án nầy. ● 秘 密. Thiền pháp sâu kín khó hiểu, chẳng rơi vào ngôn ngữ văn tự, vượt khỏi ý thức phân biệt. Cách nói này biểu thị sắc thái tôn giáo thần bí của Thiền. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “無 形 無 相、無 根 無 本、無 住 處、活 潑 潑 地、應 是 萬 種 施 設、用 處 只 是 無 處。所 以 覓 看 轉 遠、求 之 轉 乖、號 之 爲 秘 密。 – Không hình không tướng, không gốc không rễ, không chỗ trụ, thật là linh hoạt: ứng ra muôn thứ lập bày, chỗ dùng chỉ là không có chỗ. Thế nên tìm đó thì càng xa, cầu đó thì càng trái, gọi đó là Bí mật”. ● 皮 袋. Tức là chỉ cái thân thịt. Thân thể này như cái túi da, chứa đựng tất cả thịt xương, ngũ tạng v.v… nên còn gọi là Xú bì đại (túi da thối), Xú bì nang (đãy da hôi). Tắc 18, Thung Dung Lục (Đại 48, 238 trung) ghi: “僧 問 趙 州:狗 子 還 有 佛 性 也 無?州 云:有。既 有 爲 甚 麼 却 撞 入 這 箇 皮 袋? – Tăng hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tính không? Châu đáp: Có. Tăng hỏi: Đã có, tại sao còn chui vô cái túi da?”. ● 皮 下 有 血. Có tâm huyết, có khí phách. Mật Am Ngữ Lục ghi: “若 是 大 丈 夫 漢、皮 下 有 血、終 不 喫 別 人 殘 羹 餿 飯、直 下 自 家 竪 起 脊 梁。如 銀 山 鐵 壁、於 一 切 善 惡 逆 順 境 界 中、搖 撼 不 動。 – Nếu là bậc đại trượng phu có khí phách không bao giờ ăn cơm thừa canh cặn của người khác, ngay tức thì tự mình phấn chấn tinh thần, lập định chí hướng giống như núi bạc vách sắt, ở trong tất cả cảnh giới thiện ác, thuận nghịch không hề lay động”. ● 皮 下 無 血. Không có tâm huyết, không có khí phách. Tông Môn Võ Khố ghi: “誣 誷 先 聖、聾 瞽 後 昆、眼 裏 無 筋、皮 下 無 血 之 流、隨 例 顛 倒、恬 然 不 覺、眞 可 怜 憫。 – Bọn người gièm pha tiên thánh, làm mù điếc con cháu, không năng nổ, không có khí phách, thuận theo thói quen điên đảo, thờ ơ chẳng tỉnh, thật đáng thương xót!”. ● 皮 殼 漏 子 禪. Còn gọi: Bì Khả Lậu Tử Thiền, Thiền pháp tự tại. Bì xác lậu tử đồng nghĩa với Bì đại (túi da), dụ cho sự không vỡ, cứng chắc. Xác là vỏ trứng, dụ cho thân xác con người. Lậu là tiết ra phân, nước tiểu. Tắc 98, Bích Nham Lục (Đại 48, 222 thượng) ghi: “若 要 活 潑 潑 地、但 參 皮 殼 漏 子 禪、直 向 高 山 上 撲 將 下 來、亦 不 破、亦 不 壞。 – Nếu muốn được hoạt bát, chỉ tham Bì xác lậu tử thiền, leo thẳng lên núi cao té xuống, cũng không bể, cũng không hư”. ● 備 頭 陀. Thiền tăng Sư Bị đời Ngũ Đại, tu hạnh đầu đà: mặc áo vải mang dép cỏ, ăn ít, suốt ngày ngồi yên, người đời gọi sư là “Bị Đầu đà”. X. Sư Bị. ● 被 位. Chỗ ngồi của mỗi vị tăng trong Tăng đường thuộc tự viện Thiền Tông. Ngoài ra, vị trí ngồi lúc thọ thực gọi là Bát vị. Bát là vật dụng đựng thức ăn. Trong tùng lâm, thông thường Bát vị (chỗ ngồi ăn) có để tên, nhưng Bị vị thì không. 辟 支 塔. Còn gọi: Linh Nham Tự Tháp. Tháp nằm phía Tây bắc điện Thiên Phật, chùa Linh Nham, huyện Trường Thanh, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Được xây cất vào niên hiệu Thuần Hóa thứ 5 (994) đến niên hiệu Gia Hựu thứ 2 (1057) hoàn thành. Cao 52,4m, chu vi đáy tháp 48m, đây là kiến trúc theo kiểu lâu các bát giác 9 tầng. Nền tháp bằng đá xung quanh khắc nổi những cảnh cực hình nơi âm tào địa phủ. Thân tháp xây gạch từ dưới lên trên thu hẹp dần biểu hiện sự hùng vĩ mạnh mẽ. Cửa sổ theo phong cách thuần phác cổ xưa, cửa sổ giả trang sức tỉ mỉ, đấu củng hoa lệ, mái tháp giàu biến hóa, mang đậm màu sắc hương vị cổ xưa, trang nghiêm tự nhiên. Đỉnh tháp là một tháp bằng sắt hợp thành bởi phúc bát, tướng luân, viên quang, ngưỡng nguyệt, bảo châu và có tám đoạn xích sắc do tám thần Kim Cang kéo ra gia cố trên mái tầng 9. Tầng đáy có thiết kế trụ giữa tháp có bậc thềm xây bằng gạch đi lên tháp. Tháp đứng sừng sững ở lưng chừng núi, Tống Tằng Củng có thơ rằng: “ Pháp định thiền phòng lâm tiếu cốc, Bích chi linh tháp quán tằng loan” (Thiền phòng Pháp định gần hang núi, linh tháp Bích chi giữa tầng non). ● 壁 定. Định như tường vách; ác giác dụ như gió. Bích định kiên cố nên 8 gió (lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc) chẳng xâm nhập được. ● 碧 洞 寺. Còn gọi: Bích Sơn Tự. Chùa ở thôn Đan Khê, xã Ninh Hải, huyện Gia Khánh, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Đời vua Lê Dụ Tông, khoảng năm 1705-1719, hai Thiền Sư Trí Kiên và Trí Thế đến núi Bích Động lập chùa để tu. Đến đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786) chùa được xây dựng bằng đá và có đủ 3 cấp như hiện nay, gồm có chùa thượng, chùa trung và chùa hạ. Vua Tự Đức tuần du Bắc Thành, khi đến Bích Động thấy cảnh trí tươi đẹp và hùng vĩ, chỉ kém động Hương Tích (chùa Hương) nên đề bút “Nam Thiên Đệ Nhị Động”. Sau 2 vị khai sơn trên, các vị Trụ trì kế tiếp là các Thiền Sư thuộc phái thiền Tào Động ở Đàng Ngoài, trong đó có 2 vị nổi danh là Đạo Nguyên và Minh Chính. Tại viện Liêm Khê ở chùa Bích Động, Thiền Sư Minh Chính đã biên soạn Pháp Hoa Đề Cương và Bát Nhã Trực Giải. Trong khuôn viên chùa có tháp thờ Thiền Sư Đạo Nguyên (Khoan Dực Thanh Minh) và Minh Chính Thanh Đàm. ● 壁 角 落 頭. Chốn hoang vu hẻo lánh; xó xỉnh. Tiết Thị Bản Sắc Đạo Nhân trong MBTL q.Trung ghi: “本 色 道 人 既 無 父 母 之 奉、妻 子 之 養、征 役 之 勞、口 體 之 費、單 單 一 条 性 命、最 先 要 與 之 拈 向 壁 角 落 頭、只 有 箇 要 了 生 死 底 心。 – Thiền tăng chân chính đã không phụng dưỡng cha mẹ, không nuôi nấng vợ con, không nhọc nhằn vì quân dịch, không tốn tiền của để nuôi thân miệng, chỉ còn có tính mạng của mình. Việc cần làm trước hết là tìm một chỗ hẻo lánh để giải quyết vấn đề sinh tử”. ● 壁 落. Tường vách, hàng rào. Chương Phần Châu Vô Nghiệp Thiền Sư trong CĐTĐL q.8 ghi: “黃 金 爲 世 界、白 銀 爲 壁 落、此 是 什 麼 人 居 處? – Vàng làm thế giới, bạc làm tường vách, đây là chỗ của người nào ở?”. ● 壁 立 萬 仞. Vách đứng muôn trượng. Hình dung khí khái cùng cảnh giới thấy rõ tự tâm, tự ngã là chủ, hoàn toàn không nương tựa, siêu thoát trần tục. Tiết Khai thị cho Thiền nhân Quang trong MANL ghi: “衲 僧 家、十 二 時 中、行 住 坐 臥、如 火 燒 冰、莫 誇 少 壯、休 論 老 成、一 處 錯 踏 翻、千 處 百 處 一 時 透、如 獅 子 王 吒 沙 地 哮 吼 一 聲、壁 立 萬 仞、豈 不 慶 快 平 生! – Hàng thiền tăng trong 24 giờ đi đứng nằm ngồi như lửa đốt băng. Chớ khoe tráng niên, đừng luận lão thành, một chỗ thấu thì ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời thấu, như sư tử chúa đuôi dựng đứng rống một tiếng, như vách đứng muôn trượng, há chẳng thư thái cả đời sao!” ● 碧 巖 錄. Gọi đủ: Phật Quả Viên Ngộ Thiền Sư Bích Nham Lục, còn gọi: Bích Nham Tập. Lục, 10 quyển, do Tuyết Đậu tụng cổ, Viên Ngộ Khắc Cần bình xướng vào đời Tống, Phổ Chiếu biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 117, trang 251. Từ trong Ngữ Lục Thiền Tông, Tuyết Đậu Trọng Hiển tuyển ra 100 tắc công án (lấy tông Vân Môn làm trọng điểm), sau mỗi công án Ngài dùng thơ để bình thuyết (Tụng), nhằm chỉ dạy cho người học thiền. Về sau gọi sách này là “Tụng Cổ Bách Tắc” (100 tắc Tụng cổ). Khoảng đầu niên hiệu Chính Hòa (1111) đời Tống, Viên Ngộ Khắc Cần trụ trì viện Linh Tuyền ở Giáp Sơn, thể theo lời yêu cầu của Trương Thương Anh, thuyết giảng về 100 tắc tụng cổ, đệ tử của sư là Phổ Chiếu ghi chép, biên tập lại thành sách. Vì trong thiền lâm gọi Giáp Sơn là Bích Nham, nhân đó gọi sách này là Bích Nham Lục. Bích Nham Lục lấy “Tụng Cổ Bách Tắc” của Thiền Sư Tuyết Đậu làm căn bản, Thiền Sư Viên Ngộ giảng một đoạn “Thùy thị” trước mỗi tắc công án, trong mỗi tắc công án, tụng cổ đều có hạ “trước ngữ” và sau đó lại “bình xướng” để dẫn đường mở lối cho người học đạo. Quyển lục này sau khi được xuất bản, dư luận chốn Thiền lâm khen chê chẳng đồng. Nhóm khen cho rằng sách này có giá trị rất cao, bảo là “Tông Môn Đệ Nhất Thư” (Quyển sách hạng nhất trong Thiền Tông), và sau đó không ít tác phẩm mô phỏng sách này liên tiếp ra đời. Nhóm chê bảo rằng sách này thuộc loại trau chuốt văn chương làm xiếc câu chữ, trái với tông chỉ “trực chỉ nhân tâm” của Thiền Tông, khiến người học thiền chạy theo hình thức mà không thật ngộ, cho nên Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo vì cứu tệ nạn này mà cương quyết thiêu hủy kiệt tác của Thầy mình và cấm chỉ lưu truyền. Bích Nham Lục sau khi bị thiêu hủy hơn 100 năm, đến niên hiệu Đại Đức thứ 1 (1297) đời Nguyên Thành Tông, cư sĩ Trương Minh Viễn ở Hàng Châu sưu tập các bản còn sót lại ở các nơi, giảo chính rồi cho tái bản. Quyển lục này là mẫu mực của Tông môn, là kim chỉ nam đi biển, là sao Bắc Đẩu trong đêm tối. ● 壁 觀. Ngồi xoay mặt vào vách, quán tâm như vách, để mọi suy tư lắng đọng, xả vọng về chân. Bài tựa sách “Lược biện Đại thừa nhập Đạo Tứ Hạnh” của Đàm Lâm trong CĐTĐL q.30 ghi: “此 是 大 乘 安 心 之 法、令 無 錯 謬、如 是 安 心 者 壁 觀、如 是 發 行 者 四 行。 – Đây là pháp an tâm của Đại thừa khiến cho không có sai lầm, an tâm như thế là Bích quán, phát hạnh như thế là Tứ hạnh”. ● 貶 剝. Phê bình, bác bỏ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “一 切 時 中、莫 亂 斟 酌。會 與 不 會、都 來 是 錯。分 明 與 麼 道、一 任 天 下 人 貶 剝。 – Trong tất cả thời, chớ loạn thương lượng. Hội cùng chẳng hội, thảy đều là lầm lẫn. Rõ ràng nói thế ấy, mặc cho người trong thiên hạ bác bỏ” ● 遍 參. Chỉ tăng lữ đi khắp nơi tham học với thiện tri thức để thêm sự hiểu biết cho mình (xét thấu mê với ngộ, chân với vọng của việc lớn sinh tử). ● 褊 局. Nhỏ hẹp, hẹp hòi Bích Nham Lục q. 1: “褊 局 之 量、自 不 堪 任、竞 起 害 心、敷 加 毒 葯。 – Khí lượng hẹp hòi tự mình không chịu đựng nổi, tranh nhau hãm hại, nhiều lần đánh thuốc độc”. ● 匾 囤 (?-1563). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, hiệu Vô Không, người xứ Vũ Châu (nay là huyện Vũ, Hà Nam) Trung Quốc. ● 扁 罄. Một loại pháp khí làm bằng đá, hình thể giống như hình đám mây, treo ở ngoài hành lang Phương trượng. Nếu có khách đến muốn gặp thầy Trụ trì, vị Tri khách liền đánh biển khánh 3 tiếng. ● 辦. 1. Chuẩn bị, thu xếp. Chương Tổ 13, Catỳ ma la trong CĐTĐL q. 2 ghi: “汝 雖 心 語、吾 已 意 知、但 辦 出 家、何 慮 吾 之 不 聖? – Dù cho ngươi không nói, ta đã biết rồi. Cứ chuẩn bị xuất gia đi, lo gì ta chẳng phải thánh?” ● 2. Hoàn thành, thành công. Bài thơ “Tự thuật chân tán” trong PDNL q. hạ ghi: “現 成 公 案、無 事 不 辦。 – Công án sẵn sàng ngay trước mắt, không việc gì chẳng hoàn thành.” ● 辨、弁. Phân biệt. Tiết Hoàng Bá Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “若 有 此 眼 腦、不 妨 弁 得 邪 正 宗 儻。 – Nếu có con mắt trí huệ này, quả tình phân biệt được tông đảng tà chính.” ● 辦 道. 1. Làm xong đạo nghiệp. Đồng nghĩa với Thành biện. Thiền Tông vào đầu đời Đường chưa có danh từ Biện đạo. Đến giữa đời Đường, sau khi Ngũ gia thất tông hình thành thì danh từ này được sử dụng rộng rãi. Chương Quốc sư Đại Đạt Vô Nghiệp trong CĐTĐL (Đại 51, 444 hạ) ghi: “且 圖 什 麼?兄 弟 只 爲 貪 欲 成 性。二 十 五 有 向 腳 跟 下 繫 著、無 成 辦 之 期。 – Lại mưu toan cái gì? Các huynh đệ chỉ vì tham dục thành tính nên bị 25 hữu trói buộc, không biết lúc nào đạo nghiệp mới xong”. 2. Chỉ cho sự tu hành theo lối tọa thiền. ● 辨 的. Làm cho rõ ràng, phân biệt rõ. Tiết Hoàng Long Tổ Tâm Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “一 漚 未 發、古 帆 未 征、風 信 不 來、無 人 擧 棹、正 當 恁 麼 時、水 脉 如 何 辨 的? – Hòn bọt chưa nổi, buồm xưa chưa giương. Chiều gió chẳng đến không có người giở chèo. Việc cần làm khi ấy là làm sao phân biệt rõ được luồng nước?”. ● 辨 慧. Có tài biện luận. Khả năng khéo giảng nói nghĩa của các pháp. Chương Bát nhã Đa la trong CĐTĐL q.3 ghi: “此 是 世 寶、未 足 爲 上、於 諸 寶 中、法 寶 爲 上; 此 是 世 光、未 足 爲 上。於 諸 光 中、智 光 爲 上; 此 是 世 明、未 足 爲 上、於 諸 明 中、心 明 爲 上。。。尊 者 歎 其 辨 慧。 – Đây là của báu thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có pháp bảo là tột. Đây là ánh sáng của thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng trí huệ là tột. Đây là trong sạch của thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ trong sạch chỉ có tâm trong sạch là trên hết… Tôn giả khen ngợi tài biện luận của Bồ đề đa la”. ● 辨 隆. Thiền tăng đời Tống, người xứ Minh Châu (nay là Ninh Ba, Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Linh ẩn Thanh Tủng, tông Pháp Nhãn. ● 辨 僞 錄. Còn gọi: Chí Nguyên Biện Ngụy Lục. Lục, 5 quyển, do Tường Mại soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 52, trang 751. Vào niên hiệu Chí Nguyên thứ 28 (1291) đời Nguyên, Tường Mại phụng sắc soạn sách này để bài xích ngụy thuyết của Đạo giáo. Bởi vì các vị của phái Toàn Chân là Khưu Xử Cơ, Lý Chí Thường cưỡng chiếm 482 ngôi tự viện, phá hủy tượng Phật, bảo tháp, xây dựng lại làm Đạo quán, truyền bá “Lão Tử Hóa Hồ Kinh” và “Lão Tử Bát Thập Nhất Hóa Đồ”, đưa đến chỗ tranh luận kịch liệt giữa 2 giáo: Phật và Đạo. Nửa phần trước của Biện Ngụy Lục gồm 14 thiên bài xích Đạo giáo và sách vở của họ. Nửa phần sau kể lại ngọn nguồn việc triều đình nhà Nguyên cho 2 giáo Phật và Đạo biện luận chân ngụy. Phụ lục các văn hiến có liên quan. ● 辨 事. Tên gọi chung cho ban Chức sự trong Thiền lâm như: Liêu nguyên, Liêu chủ, Phó liêu, Diên thọ đường chủ, Tịnh đầu, Hóa Chủ, Viện chủ, Ma chủ, Thủy đầu, Thán đầu, Trang chủ, Giám thu v.v… Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 辯 才 (thế kỷ XVI). Thiền tăng Việt Nam đời Lý, nối pháp Quốc sư Thông Biện, thuộc thế hệ thứ 9 dòng Vô Ngôn Thông. Sư trụ trì chùa Vạn Tuế (Vạn Niên) ở Kinh đô Thăng Long và vâng lệnh vua nhà Lý sửa lại sách Chiếu Đối Bản của Quốc sư Thông Biện thành sách Chiếu Đối Lục. Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 辨 圓 (1202-1272). Gọi đủ: Viên Nhĩ Biện Viên 圓 爾 辨 圓. Thiền tăng đời Tống, người Tuấn Hà, Nhật Bản. Năm 18 tuổi sư xuất gia ở chùa Viên Thành (Onjō ji), Cận Giang (Ōmi). Sư thụ giới ở chùa Đông Đại (Tōdai ji), Nại Lương (Nara). Sư theo các đại đức ở Kinh Đô (Kyōto), Liêm Thương (Kamakura) để học giáo lý hiển mật của Tiểu, Đại thừa. Niên hiệu Đoan Bình thứ 2 đời Nam Tống, Tức niên hiệu Gia Trinh thứ 1 (1235) triều Tứ Điều Thiên Hoàng sư sang Trung Quốc, học giáo nghĩa Thiên Thai với Bách Đình Thiện Nguyệt, từng tham học các nơi: Tật Tuyệt Đạo Xung, Tiếu Ông Diệu Kham, Thạch Điền Pháp Huân. Sau đó sư lên Kinh Sơn nối pháp Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm. Niên hiệu Thuần Hựu thứ 1 (1241) sư trở về nước, có đạo gia Quan Bạch Đằng Nguyên đến quy y và sư dựng chùa Đông Phúc (Tofuku ji) ở đinh Bản, khu Đông Sơn, Kyoto. Nơi đây trở thành cơ sở hoằng pháp thứ hai của tông Lâm Tế. Biện Viên mang về Nhật Bản vài ngàn quyển sách gồm: kinh luận, chương sớ, Ngữ Lục, Khổng nho… Đều dâng tặng vào thư khố viện Phổ Môn (Fumon) ở Kyoto. Sư có cống hiến rất lớn về việc xúc tiến phát triển văn hóa Nhật Bản và là người đề xướng cái học (Giáo Thiền nhất trí). Môn đình của sư rất hưng thịnh, Thiên Hoàng ban cho sư hiệu “Thánh Nhất Quốc Sư”. Theo phả hệ sư là Tổ Thiền Tông đời thứ 27, Nam Tông đời thứ 22, hệ Nam Nhạc đời thứ 21, Tông Lâm Tế đời thứ 17, Tông Lâm Tế Nhật Bản đời thứ 3. ● 别 庵. Hiệu của thiền tăng Tính Thống sống vào đời Thanh. X. Tính Thống. ● 別 語. Trong công án được nêu ra đã có lời ứng đối, Thiền Sư lại có thêm một lời đáp khác. Tiết Thụy Lộc Bản Tiên Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “大 凡 參 學、未 必 學 問 話 是 參 學、未 必 學 揀 話 是 參 學、未 必 學 代 語 是 參 學、未 必 學 別 語 是 參 學。 – Nói chung về việc tham học: Không hẳn là học hỏi, không hẳn là học phân biệt bình luận công án, không hẳn là học đại ngữ (nói thay), không hẳn là học biệt ngữ”. ● 别 峯. Hiệu của thiền tăng Đại Đồng sống vào đời Nguyên. X. Đại Đồng. ● 別 是 一 乾 坤. Nguyên ý là có trời đất riêng khác, trong Thiền Tông chỉ cho cảnh giới khai ngộ siêu việt tình thức phân biệt. Tắc 92, Thung Dung Lục (Đại 48, 287 thượng) ghi: “收 卷 餘 懷 厭 事 華 歸 來 何 處 是 生 涯 爛 柯 樵 子 疑 無 路 挂 樹 壺 公 妙 有 家。 (別 是 一 乾 坤)” “Thu xếp hành trang ngán sự đời Quay về đâu nhỉ để sinh nhai? Gã tiều cán mục ngờ không lối Ông đạo bầu treo khéo có nơi. (Riêng có trời đất)”. Nếu như hình dung gia phong riêng biệt không gì có thể so sánh được, gọi là Biệt Thị Nhất Gia Phong 別 是 一 家 風. Tắc 64, Bích Nham Lục (Đại 48, 195 trung) ghi: “公 案 圓 來 問 趙 州 長 安 城 裹 任 閑 遊、草 鞋 頭 戴 無 人 會 (也 有 一 箇 半 箇。別 是 一 家 風。明 頭 也 合 暗 頭 也 合)。 – Công án đem ra hỏi Triệu Châu: Trường An thành ấy mặc ngao du, giày cỏ đội đầu nào ai biết (cũng còn một người ưu tú có gia phong riêng, sáng cũng hợp, tối cũng hợp)”. ● 别 傳 寺. Chùa nằm trên bờ cao núi Đan Hà cách trung tâm huyện Nhân Hóa, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc 8km về phía Nam. Chùa ở nơi cửa ải hiểm yếu đứng sừng sững, là cửa ải hàng đầu núi Đan Hà, được gọi là Bách Việt Danh Sát. Núi Đan Hà vốn gọi là “Trưởng Lão Trại”, đời Đường đã có cao tăng cư trú. Thời Tống Minh đã có Thiền Tông Lục Tổ đường, văn nhân học sĩ thường kết am đọc sách, nổi tiếng một thời. Tuần phủ Lý Vĩnh Mậu ở Kiền Châu, Nam Minh bại binh lui về Trưởng Lão Trại, bởi nham thạch núi này do hồng sa nham cấu thành rất giống núi Đan Hà ở quê hương Đặng Châu, Hà Nam, cho nên gọi là “Đan Hà Sơn”. Đầu đời Thanh, Kim Bảo là di thần Nam Minh sáng lập “Biệt Truyền Tự” tại núi này (Có thuyết cho rằng Hòa Thượng Đàm Quy sáng lập). Quy mô rộng lớn, cùng với Thiều Quan Nam Hoa Tự, Thanh Viễn Giáp Sơn Tự được người khen ngợi. ● 別 院. Ngoại trừ bản sơn của một tông, các tự viện được thiết lập ở các nơi khác đều được gọi là Biệt viện. Như Phật Quang Sơn ở Cao Hùng Đài Loan có Biệt viện Phổ Môn Tự ở Đài Bắc, Biệt viện Phổ Hiền Tự ở Cao Hùng. ● 表 顯. Cái biểu lộ ra ngoài, thường là dấu vết của lời nói, tri giải. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “如 十 二 分 教。皆 是 表 顯 之 説。學 者 不 會。便 向 表 顯 名 句 上 生 解。皆 是 依 倚 落 在 因 果。未 免 三 界 生 死。 – Ngay như mười hai phần giáo đều là lời nói biểu hiển. Người học không lãnh hội liền ở trên lời nói sinh hiểu, đều là nương tựa, rơi trong nhân quả, chưa khỏi sinh tử ba cõi.” ● 表 則. Kiểu mẫu. Gương Mẫu. Chương Hòa Sơn Vô Điện Thiền Sư trong CĐTĐL q. 17 ghi: “學 徒 濟 濟、嘗 述 垂 誡 十 篇、諸 方 歎 服、咸 謂 禾 山 可 以 爲 叢 林 表 則。 – Người học tụ về, sư từng trình bày 10 thiên răn dạy; các nơi thán phục, thảy đều bảo rằng Hòa Sơn có thể làm gương mẫu chốn tùng lâm”. ● 丙 丁 童 子. Chú bé coi về việc đèn lửa, dụ cho chúng sinh sẵn đủ Phật tính lại đi tìm bên ngoài. Bính Đinh là can Bính, Đinh trong thiên can phối hợp với ngũ hành thì thuộc về hỏa, cho nên dùng Bính Đinh để dụ cho lửa. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q. 24 ghi: “金 陵 報 恩 院 玄 則 禪 師 滑 州 衛 南 人 也。初 問 青 峰 (有 本 云 白 兆) 如 何 是 佛 (2 有 云 自 己) 青 峰 曰:丙 丁 童 子 來 尋 火。 – Thiền Sư Huyền Tắc ở viện Báo Ân, Kim Lăng, là người Vệ Nam, Hoạt Châu. Ban đầu sư đến hỏi Thanh Phong: Thế nào là Phật? Thanh Phong nói: Chú bé coi về việc đèn lửa mà đến xin lửa”. ● 柄 語. Một loại sớ của sơn môn để khuyến thỉnh vị Tân trụ trì nhập tự, hoặc những tựa nhỏ ở trên đầu bài sớ của các sư đồng môn chúc mừng vị Tân trụ trì. Vì nó là lời cốt cán nên gọi là Bính ngữ. ● 平 平 貼 貼. Rất bình thường, rất ổn đáng. Thư đáp Trịnh Côn Nham Trung thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “不 得 貪 求 玄 妙、以 此 事 本 來 平 平 貼 貼、實 實 落 落、一 味 平 常、更 無 玄 妙。所 以 古 人 道:悟 了 還 同 未 悟 時、依 然 只 是 舊 時 人。 – Chẳng được tham cầu huyền diệu, bởi việc này xưa nay rất ổn đáng, đầy đủ sẵn sàng, một mực bình thường không có gì huyền diệu. Vì thế người xưa nói: Ngộ rồi vẫn đồng với lúc chưa ngộ, y nguyên chỉ là người cũ”. ● 枰 錘 硬 似 鐵. Trái cân cứng như sắt, dụ chỉ cơ phong cứng rắn, khó tiếp nhận, ứng đối. Tiết Pháp Vân Pháp Tú Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “山 僧 不 會 巧 說、大 都 應 箇 時 節。相 喚 喫 碗 茶 湯、亦 無 祖 師 妙 訣。禪 人 若 也 未 相 諳、踏 著 秤 鎚 硬 似 鐵。 – Sư thượng đường, nói: Sơn tăng chẳng biết nói khéo, phần lớn tùy cơ đối đáp, mời nhau thưởng thức chén trà, cũng không có pháp bỉ truyền của Tổ sư. Thiền nhân nếu như chưa hiểu nhau, đạp nhằm trái cân cứng như sắt” ● 平 地. Vô cớ. Tiết Kinh Triệu Phủ Lai Hòa Thượng trong NĐHN q.9 ghi: “平 地 教 人 作 保。 – Vô cớ khiến người bảo đảm.” ● 平 地 陷 人. Vô cớ hại người. Mật Am Ngữ Lục ghi: “若 作 佛 法 商 量、故 是 匙 排 不 上。不 作 佛 法 商 量、平 地 陷 人 無 數。總 不 與 麼、也 是 食 飽 傷 心。 – Nếu bàn luận hỏi đáp trong lúc tham thiền thì là thiền cơ khó lãnh ngộ, còn như chẳng bàn luận hỏi đáp thì là vô cớ hại vô số người. Nếu cuối cùng không như thế thì ăn no mích lòng…”. ● 平 地 起 骨 棟. Đất bằng nổi phần mộ. Cốt đống: Ngôi mộ giả, không có chôn người chết. Cả câu dụ cho hành vi hư vọng uổng công. Tiết Hoa Nghiêm Long Thiền Sư trong TLTBT q. 20 ghi: “虛 空 釘 鐵 橛、平 地 起 骨 棟、莫 將 閑 學 解、安 著 佛 階 棲。 – Thiền Sư Hoa Nghiêm Long nói: Hư không đóng cọc sắt, đất bằng nổi phần mộ. Chớ đem sự học hiểu suông để sắp đặt giai vị lên quả Phật”. ● 平 地 吃 交. Ngã té trên mặt đất bằng. Dụ cho kẻ hồ đồ. Tiết Vân Phong Văn Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “上 堂:汝 等 諸 人、與 麼 上 來、大 似 刺 腦 入 膠 盆、與 麼 下 去、也 是 平 地 吃 交。 – Sư thượng đường nói: Này các ông! Nhấc lên như thế cũng là ngu si, buông xuống như thế cũng là hồ đồ.”. ● 平 地 掘 坑. Đất bằng đào xới thành hầm hố. Dụ cho việc làm không cần thiết, uổng công vô ích. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “人 無 僧 俗、同 臻 法 會、何 處 不 可?更 待 山 僧 擊 揚 斯 事、恰 似 平 地 掘 坑。 – Người không phân biệt tăng hay tục, cùng đến pháp hội, chỗ nào mà chẳng thể lãnh hội? Còn chờ Sơn tăng đề cao việc này giống như đất bằng đào xới thành hầm hố”. ● 平 地 上 干 戈. Vô cớ phát động chiến tranh, dụ chỉ hành vi dư thừa, luống công vô ích. Mật Am Ngữ Lục ghi: “德 山 棒 如 雨 點、臨 濟 喝 似 雷 奔、正 是 平 地 上 干 戈、太 於 時 細 作。 – Đức Sơn vung gậy như mưa rơi, Lâm Tế hét vang như sấm rền, chính là vô cớ phát động chiến tranh, lúc thái bình cày bừa kỹ.” ● 平 田 禪 院. Thiền tăng Phổ Ngạn tu khổ hạnh ở núi Thiên Thai vào đời Đường, mọi người ngưỡng mộ đức của sư, xây cất thiền viện Bình Điền để sư trụ trì. Lâm Tế Nghĩa Huyền có lần đến đây tham vấn ngài Phổ Ngạn. ● 平 交. Việc giao tế bình đẳng, không phân biệt trên dưới, hoặc chỉ cho người đồng hàng với ta về đạo đức, tư cách, tuổi tác v.v… Như vị Thủ tọa có tuổi tác, tư cách, đức hạnh ngang bằng với mình thì gọi Bình giao Thủ tọa. ● 平 懷. Tâm bình đẳng tự nhiên, chẳng khởi tư tưởng đối lập phân biệt. Tín Tâm Minh ghi: “圓 同 太 虛、無 欠 無 餘。良 由 取 捨、所 以 不 如。莫 逐 有 緣、勿 住 空 忍。一 種 平 懷、愍 然 自 盡。 –Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư. Bởi do thủ xả, cho nên bất như. Đừng theo nơi Có, chớ trụ nơi Không. Trọn một bình đẳng, tuyệt nhiên tự sạch”. ● 平 人. Người vô tội. Mật Am Ngữ Lục ghi: “無 限 平 人 被 陸 沉。 – Người vô tội bị chết chìm trên đất bằng vô hạn.” Trung Phong Quảng Lục, quyển 4 ghi: “今 日 不 辭 與 你 說 破、久 後 恐 累 及 平 人。 –Hôm nay không từ chối nói toạc với ông thì e rằng sau này sẽ liên lụy đến người vô tội.” ● 平 山 塔. Còn gọi: Tháp Then. Tháp nằm ở trung tâm sân trước chùa Vĩnh Khánh, thuộc xã Tam Sơn, huyện Lập Trạch, tỉnh Vĩnh Phú, miền Bắc Việt Nam. Tháp được tạo dựng vào đời Trần, hình khối thanh thoát, đường nét mềm mại, trang trí phong phú điêu luyện, là di tích lịch sử, di tích nghệ thuật có giá trị cao vào bậc nhất nước ta. Ngôi bảo tháp này được xây bằng gạch đất nung để trần, mặt ngoài viên gạch có hoa văn trang trí đặc sắc, màu nâu thẫm. Thời gian đã hủy hoại mất mấy tầng trên và chỏm của ngôi tháp, ngày nay chỉ còn lại 11 tầng và phần bệ ở dưới chân, tất cả cao chừng 15m. Quanh bệ tháp có lan can con tiện bằng đất nung, song cũng đã bị phá hủy từ lâu. Mặt bằng tháp hình vuông, rỗng giữa. Đáy bệ tháp có các cạnh dài 4,45m, cao l,62m. Tầng dưới cùng có cạnh dài 3,30m, cao 2,72m. Tầng trên cùng cạnh dài 1,55m. Các tầng tháp xây thon dần và ngắn dần theo chiều cao, bốn mặt có cửa cuốn tò vò nhỏ dần theo tầng tháp. Những trận lụt lớn đã làm tháp bị nghiêng và sụt lở, có nguy cơ đổ hoàn toàn. Để trả lại vẻ đẹp và độ bền vững cho tháp Bình Sơn, các nhà khoa học, các nghệ nhân đã tháo dỡ rồi lắp ráp, dựng lại theo đúng quy cách cũ. Tháng 10 năm 1974 công việc tu sửa hoàn thành, cây bảo tháp vùng đất Tổ được trở lại với dáng hình cổ xưa. Theo: Văn Hóa Việt Nam Tổng Hợp (1989-1995). ● 平 僧. Có hai nghĩa: 1. Hạng tăng lữ mới xuất gia mà chưa được vào đẳng cấp nào; 2. Vị tăng chưa được nối pháp. ● 平 實 語. Lời nói bình thường, chân thật. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. hạ ghi: “上 堂、僧 問:如 何 是 佛?師 云:許 多 時 向 什 麼 處 去 來?乃 云:達 磨 未 來 時、冬 寒 夏 熱; 達 磨 來 時、夜 暗 晝 明。諸 人 若 下 得 一 轉 平 實 語、喫 鹽 聞 咸、喫 醋 聞 酸; 若 道 不 得、迦 葉 門 前 底。 –Sư thượng đường, tăng hỏi: Thế nào là Phật? Sư nói: Nhiều lúc không biết đi đâu! Rồi sư nói tiếp: Đạt ma chưa đến, đông lạnh hạ nóng. Đạt ma đến rồi, đêm tối ngày sáng. Nếu các ông nói được một lời bình thường chân thật thì ăn muối biết mặn, uống giấm biết chua. Nếu các ông nói chẳng được thì còn ở trước cửa của ngài Ca diếp”. ● 平 怗. Bình an, ổn định. Tiết Dục Vương Giới Thầm Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂:我 若 說 有、你 爲 有 礙。我 若 說 無、你 爲 無 礙。我 若 橫 說、你 又 跨 不 過。我 若 豎 說、你 又 跳 不 出。若 欲 叢 林 平 怗、大 家 無 事、不 如 推 倒 育 王。且 道 育 王 如 何 推 得 倒 去?召 大 眾 曰:著 力! 著力! –Sư thượng nói: Nếu ta nói có, ngươi sẽ bị có làm ngại; nếu ta nói không, ngươi sẽ bị không làm ngại. Nếu ta nói ngang, ngươi lại không vượt qua được. Nếu ta nói cứng thì ngươi nhảy chẳng ra khỏi. Nếu muốn tùng lâm an ổn, mọi người vô sự, chẳng bằng xô ngã Dục Vương (chỉ ngài Giới Thầm). Thử hỏi làm sao xô ngã Dục Vương? Sư gọi đại chúng bảo: Nỗ lực! nỗ lực!”. ● 平 常 飲 啄. Ăn uống bình thường. Đây là thái độ sinh hoạt bình thường nhàn nhã của người ngộ Thiền. Dục Vương Hoài Uẩn Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “但 知 十 二 時 中、平 常 飲 啄、快 樂 無 懮。 – Chỉ biết sinh hoạt bình thường trong một ngày đêm, vui vẻ không lo”. ● 平 常 心 是 道 Bản thể của tự tính bình thường cùng khắp thời gian không gian, nơi phàm chẳng bớt, nơi Thánh chẳng thêm. Tâm này bình đẳng, chẳng sinh chẳng diệt, chúng sinh y theo tâm này ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, nên gọi bình thường là đạo vậy. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “若 人 修 道 道 不 行、萬 般 邪 境 競 頭 生。智 劍 出 來 無 一 物、明 頭 未 顯 暗 頭 明。所 以 古 人 云:平 常 心 是 道。 –Nếu người tu đạo chỉ nói mà không thực hành, muôn thứ cảnh tà giành nhau sinh. Kiếm trí huệ xuất hiện thì không còn một vật. Sáng dù chưa hiện song tối đã rõ. Cho nên người xưa nói: Tâm bình thường là đạo”. ● 平 性. Bản tính bình đẳng. Minh Châu Tụng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q.18 ghi: “諸 佛 衆 生 平 性、豈 同 外 物 消 長? –Chư Phật và chúng sinh bản tính bình đẳng, há cùng với ngoại vật tăng trưởng và giảm xuống.” ● 平 沉. 1. Lún xuống. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “指 法 座:大 地 平 沉、此 座 高 廣、千 變 萬 化、無 功 受 賞。 – Sư chỉ pháp toà nói: Mặt đất lún xuống, tòa này cao rộng, ngàn biến vạn hóa, không công mà được thưởng.” 2. Sa sút, suy sụp. Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.6 ghi: “苦 哉! 苦 哉! 今 時 學 者、例 皆 如 此、秖 認 得 驢 前 馬 後、將 當 自 己 眼 目、佛 法 平 沉、卽 此 便 是。 – Khổ thay! Khổ thay! Người học đạo ngày nay lệ thường đều như thế. Chỉ biết nô lệ người khác cho là nhận thức của mình. Phật pháp suy sụp, chính là ở chỗ này.” ● 平 治. Sửa sang, sắp xếp. Minh Châu Tụng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 18 ghi: “平 治 自 家 田 地、淨 除 瓦 礫 荊 棘。 – Sửa sang ruộng vườn nhà mình, dọn sạch ngói gạch gai góc.” ● 平 出. Tương đương, ngang nhau. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. trung ghi: “上 堂、僧 問:承 師 有 言、山 前 一 片 閑 田 地、只 如 威 音 王 已 前、未 審 什 麼 人 爲 主?問 取 寫 契 書 人。學 云:和 尚 爲 甚 麼 倩 人 來 答?師 云:只 爲 你 教 別 人 問。學 云:與 和 尚 平 出 去 也。師 云:大 遠 在! – Sư thượng đường, tăng hỏi: Con nghe sư nói phía trước núi có một mảnh đất để trống. Vậy từ Oai Âm Vương về trước, người nào làm chủ đất này? Sư bảo: Hãy hỏi ông thư ký. Học nói: Vì sao Hòa Thượng nhờ người đáp? Sư bảo: Chỉ vì ông hỏi giùm người khác! Học nói: Cùng Hòa Thượng ngang nhau rồi! Sư bảo: Còn rất xa”. ● 評 唱. Tuyên thuyết, bàn luận về cơ ngữ hành vi của người xưa. Bích Nham Lục q.1 ghi: “師(指 佛 果 和 尚)住 澧 州 夾 山 靈 泉 禪 院、評 唱 雪 竇 顯 和 尚 頌 古 語 要。 – Sư (chỉ Phật Quả Hòa Thượng) trụ thiền viện Linh Tuyền ở Giáp Sơn, Lễ Châu, bình xướng tụng cổ Ngữ Yếu của Hòa Thượng Tuyết Đậu.” ● 秉 炬. Còn gọi: Hạ Hỏa, Hạ Cự. Một nghi thức hỏa táng trong Thiền lâm. Nghĩa là cầm cây đuốc cử hành lễ Trà tỳ. ● 秉 拂. Phất, chỉ cho cây phất trần (phủi bụi), là đồ vật trang nghiêm của Thiền gia. Khi thượng đường thuyết pháp cho đại chúng, vị Trụ trì hay người thay thế cho Trụ trì tay cầm phất tử thì gọi là Bỉnh phất. Tông Môn Võ Khố ghi: “後 二 年、擧 賢 篷 頭 首 衆、立 僧 秉 拂、說 法 有 大 過 人 處 – Hai năm sau, cử Hiền Bồng đứng đầu tăng chúng, là vị tăng đứng cầm phất tử, thuyết pháp có chỗ hơn người”. ● 秉 拂 語 錄. Gọi đủ: Cổ Sơn Vi Lâm Thiền Sư Cư Thủ Tọa Liêu Ngữ Lục. Còn gọi: Vi Lâm Thiền Sư Bỉnh Phất Ngữ Lục, Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Bỉnh Phất Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Vi Lâm Đạo Bái soạn vào đời Thanh, Thái Tịnh ghi chép, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 125. Nội dung gồm có: Pháp ngữ lúc bỉnh phất, trà thoại, cử cổ, Phật sự, kệ, tụng, tán của Thiền Sư Đại Bái khi ngài ở Cổ Sơn, Phúc Châu. Quyển cuối là phần phụ lục “Hộc Lâm Ai Khổn” 1 quyển, là bài văn tưởng niệm về Thầy của sư là Vĩnh Giác Nguyên Hiền. Nội dung bao gồm: Tiên Hòa Thượng Quy Chân Ký, lời dạy sau cùng, Tế Văn, Tháp Chí, Khởi Khám Cáo Văn, Phong Tháp Cáo Văn, cho đến lời bạt của vị tăng Nhật Bản là Liên Sơn Văn Dị. ● 布 袋 和 尚 (?-916). Thiền tăng đời Ngũ Đại, tự xưng Khế Thử, hiệu Trường Đinh Tử, người xứ Phụng Hóa Minh Châu (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Người đời gọi sư là: Bố Đại Hòa Thượng, Di Lặc Phật, Hoan Hỷ Phật. Tôn tượng của sư ở Nhật Bản, được thờ phụng như một trong bảy vị Phúc Thần. ● 布 毛 示 塔. Công án này được thấy ở tiết Điểu Khòa Hòa Thượng trong Tổ Đường Tập q. 3 ghi:”Nhân thị giả từ biệt ra đi, Sư hỏi: Ngươi đi đâu? Thị giả thưa: Con đi học Phật pháp ở các thiền viện. Sư bảo: Nếu là Phật pháp, ở đây ta cũng có chút ít. Thị giả liền hỏi: Phật pháp ở đây là gì? Sư bứt một sợi tơ trên áo vải để khai thị Thị giả liền ngộ. Câu truyện này chủ yếu khơi gợi ý nghĩa chúng sinh đều có Phật tính, Phật pháp chính là ở nơi tự thân mỗi người, giống như trên y phục của mỗi người đều có sợi tơ.” ● 布 衲. 1. Áo vá của chư tăng. Bài thơ “Sơn trung tứ oai nghi” trong PDNL q. hạ ghi: “但 得 身 心 到 處 閒、多 年 布 衲 從 教 破。 – Chỉ cần thân tâm đến được chỗ an nhàn, mặc cho chiếc áo vá lâu năm bị rách.” ● 2. Từ gọi tăng nhân. Tiết Dược Sơn Duy Nghiễm trong NĐHN q.5 ghi: “遵 布 衲 浴 佛、師 曰:這 箇 從 汝 浴、還 浴 得 那 箇 麼?遵 曰:把 將 那 箇 來。師 乃 休。 – Tuân Bố nạp tắm Phật. Sư bảo: Cái này được ngươi tắm, có tắm được cái kia chăng? Tuân đáp: Xin đem cái kia lại. Sư liền thôi.” ● 布 髮 掩 泥. Trải tóc lên bùn. Theo truyện thần thoại Phật giáo: Tiền thân của đức Phật Thích ca dâng hoa cúng dường Phật Nhiên Đăng và khi thấy mặt đất lầy lội, ngài đem tóc của mình trải lên bùn để Phật Nhiên Đăng bước qua. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “布 髮 掩 泥 因 底 事? – Trải tóc lên bùn rốt cuộc vì cái gì?”. ● 菩 提 達 磨 (?-528 hoặc 536). Tăng nhân ấn Độ vào Trung Quốc thời Nam Bắc Triều, thuộc dòng tộc Bà la môn, hoàng tử thứ 3 của vua Hương Chí, là Sơ tổ Thiền Tông Trung Quốc. Đề xướng phương pháp tu hành gồm “Lý nhập” và “Hạnh nhập”. Thụy hiệu: Viên Giác Thiền Sư. Tác phẩm: Thiếu Thất Lục Môn 1 quyển. ● 菩 提 達 磨 南, 宗 定 是 非 論. Luận nghị, không chia quyển, do Thần Hội thuật vào đời Đường, Độc Cô Bái ghi và viết lời tựa. Đây là quyển còn sót lại (mất nửa phần sau) của bản chép tay ở Đôn Hoàng, ghi chép lại việc biện luận chính tà, thị phi giữa Thần Hội (đại diện cho Nam Tông) và Sùng Viễn (đại diện cho Bắc Tông) tại đại hội Vô Già tổ chức ở chùa Đại Vân, Hoạt Đài, Hà Nam. Toàn thiên sử dụng hình thức vấn đáp. Bài tựa của Độc Cô Bái cũng dùng hình thức vấn đáp, nội dung chính của nó cũng là ghi chép lại những lời nói của Thần Hội. Thiên giữa chỉ ra: “Đạt ma muốn khai Tri Kiến Phật cho là phải thầm khế hợp nên truyền một tấm ca sa, cho là pháp tín nên trao cho Huệ Khả, Huệ Khả truyền lại Tăng Xán, Tăng Xán truyền lại Đạo Tín, Đạo Tín truyền lại Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn truyền lại Huệ Năng, 6 đời Tổ sư truyền nhau, liên tục không dứt. Thần Hội đã dựng lên ngọn cờ tiên tiến, chứng cứ xác đáng về thế phổ chính tông của 6 đời Tổ sư Thiền Tông Trung Hoa. Việc này đối với những vị tự xưng Bắc Tông là Chính thống chính là một đòn đả kích trí mạng, và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của Thiền Tông đời sau. Sách này được xếp vào “Thần Hội Hòa Thượng Di Tập” do Hồ Thích hiệu đính bản Đôn Hoàng (được chép tay vào đời Đường). ● 蒲 團. Còn gọi: Viên Tòa. Dụng cụ để ngồi bện bằng cỏ bồ, hình tròn, hai mặt bằng phẳng. Đây là vật mà Thiền tăng dùng khi tọa thiền hay lúc quỳ lạy. Về sau, tuy bên trong độn bông hay mousse nhưng vẫn gọi là Bồ đoàn. Bài Xuân Vãn của Trúc Lâm Đầu đà (Thiền Sư Việt Nam) ghi: 年 少 何 曾 了 色 空 一 春 心 在 百 花 中 如 今 勘 破 東 皇 面 禪 板 蒲 團 看 墜 紅 “Niên thiếu hà tằng liễu sắc không Nhất xuân tâm tại bách hoa trung Như kim khám phá Đông hoàng diện Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng”. “Tuổi trẻ đâu từng rõ sắc không, Xuân về, hoa thắm vấn vương lòng Chúa xuân nay đã nhìn tường mặt Thiền bản, bồ đoàn ngắm đóa hồng”. ● 菩 薩 頂. Nằm trên ngọn Linh Thứu, phía Bắc chùa Hiển Thông, thị trấn Đài Hoài, Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, là một trong năm đại thiền tự ở Ngũ Đài Sơn. Tương truyền Ngũ Đài Sơn là đạo tràng của Bồ tát Văn thù. Bồ Tát Đỉnh là chỗ ở của Văn thù cho nên còn gọi là “Chân Dung Viện”, “Văn thù Tự”. Được xây cất vào thời Bắc Ngụy (386-534) trải qua nhiều đời có tu bổ. Chùa cất trên mỏm núi địa thế khá cao, trước cổng xây bậc thềm bằng đá gồm 108 bậc, phía trên bậc đá có đền thờ ba gian. Trong sơn môn có Thiên vương điện, Chung cổ lâu, Bồ tát điện, Đại Hùng Bảo Điện. Hai bên có điện thờ phụ, phía sau có Thiền viện, Hành lang, quy mô hoàn chỉnh, bố cục nghiêm cẩn. Bồ tát điện mái chồng đỉnh yết sơn, Đại Hùng Bảo Điện một mái năm cây đòn tay, câu lan xoay quanh, toàn bộ kiến trúc đều dùng ngói lưu ly ba màu lợp phủ. Dù trải qua vài trăm năm màu sắc vẫn cứ như mới. ● 捕 得 老 鼠、破 油 甕. Bắt được con chuột, đập bể bình dầu, ý nói có được có mất, lợi không bù hại. Tiết Kính Sơn Trí Sách Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “教 中 道:若 以 色 見 我、以 音 聲 求 我、是 人 行 邪 道、不 能 見 如 來。雖 然 恁 麼、正 是 捕 得 老 鼠、打 破 油 甕… 若 是 塗 毒 即 不 然、色 見 聲 求 也 不 妨、百 華 影 裡 繡 鴛 鴦。 – Lời nói trong Kinh: Nếu dùng sắc tướng để thấy ta, dùng âm thanh để tìm ta, người ấy tu hành thiên lệch, không thể thấy Như Lai. Mặc dù như thế, chính là bắt được con chuột lại đập bể bình dầu ….. Nếu là Đồ Độc tôi (chỉ pháp hiệu của Thiền Sư Trí Sách) thì chẳng phải như vậy, dùng sắc để thấy dùng âm thanh để tìm cũng chẳng ngại, giống như là chim uyên ương thêu trong bóng trăm đóa hoa.” ● 補 禪 林 僧 寶 傳. Truyện ký, 1 quyển, do Khánh Lão soạn vào đời Tống. Sách này viết thêm truyện ký của 3 người, sau truyện có tán, thể lệ giống như “Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện”, văn chương trang nhã, được ra mắt vào đời Tống và phụ vào sau bộ Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện. ● 補 處. Vị Bồ Tát kế thừa đức Phật trước mình để thành Phật, người kế thừa Tổ sư trong nhà thiền. Chương Thích Ca Mâu Ni Phật trong CĐTĐL q.1 ghi: “爾 時 世 尊 說 此 偈 已、復 告 迦 葉:吾 將 金 縷 僧 伽 梨 衣 傳 付 於 汝、傳 授 補 處、至 慈 氏 佛 出 世、勿 令 朽 壞。 – Khi ấy, đức Thế Tôn nói kệ này xong, lại bảo Ca diếp rằng: Ta đem y Tăng già lê của chư Phật giao lại cho ngươi, truyền trao bổ xứ, đến lúc Phật Từ Thị ra đời, chớ để hư mất.” Chương Hy Thiên truyện trong TCTT q. 9 ghi: “後 聞 盧 陵 青 源 山 思(指 行 思)禪 師 爲 曹 溪(指 六 祖 慧 能)補 處、又 攝 衣 從 之。 – Về sau, sư nghe Thiền Sư Tư (chỉ Hành Tư) trụ núi Thanh Nguyên ở Lô Lăng được Tào Khê (chỉ Lục Tổ Huệ Năng) bổ xứ, liền thay đổi y phục đi theo ngài.” ● 卜 度. Dùng lẽ thường tình của thế tục để hiểu rõ suy nghĩ và chú giải. Tiết “Nghệ Ngôn” trong NHQL q.29 ghi: “不 管 有 義 無 義、畢 竟 卜 度 他 不 得。 – Dù cho có nghĩa hay không có nghĩa, xét đến cùng thì dùng lẽ thường tình của thế tục để hiểu rõ, suy nghĩ về nó thì chẳng được.” ● 陪 食. Có hai nghĩa: 1. Trong Thiền Tông, vào ngày kỵ Sơ Tổ Đạt ma, vị Trụ trì không đến Trai đường ăn cháo mà ở Pháp đường ăn cháo để tiếp đãi Tổ sư. ● 2. Tiếp đãi khách ăn uống.. Bôn Lưu Độ Nhẫn ● 奔 流 度 刃. Dòng nước chảy xiết, dụ cho sự việc xảy ra chớp nhoáng, phần lớn chỉ cho pháp nhãn, thiền cơ. Tiết Thị Dục Tạng Chủ trong DTNL q. 3 ghi: “示 汝 一 機 一 境、一 挨 一 拶、如 擊 石 火、如 閃 電 光、如 疾 焰 過 風、如 奔 流 度 刃、如 金 剛 圈、如 鐵 酸 餡。 – Dạy ngươi một cơ một cảnh, bên xô bên đẩy như đập đá nháng lửa, như ánh điện chớp, như gió thổi lửa bùng, như dòng nước chảy xiết, như vòng kim cang, như bánh bò nhưn sắt”. ● 奔 趁. Đuổi theo, đuổi kịp. Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện: “慧 明 聞 能(指 慧 能)大 師 將 衣 鉢 去、遂 奔 趁 南 方、尋 至 大 庾 岭。 – Huệ Minh nghe Đại sư Năng (chỉ Huệ Năng) đem y bát đi, liền nhằm hướng Nam đuổi theo, đến núi Đại Lãnh thì đuổi kịp.” ● 本. Tất cả những từ bắt đầu bằng 本 xin xem dưới BảN. ● 棒 喝. Đánh hét. Cách tiếp hóa đệ tử của Tổ sư Thiền Tông. Bậc thầy giỏi trong nhà Thiền, khi tiếp dẫn người học thường dùng tiếng hét hoặc dùng gậy đánh để dứt hẳn sự suy nghĩ hư vọng của họ, hay nhằm khảo nghiệm chỗ ngộ của họ. Tắc 2, Bích Nham Lục (Đại 48, 141 trung) ghi: “殊 不 知、這 老 漢 平 生 不 以 棒 喝 接 人、只 以 平 常 言 語。 – Thật không ngờ, lão già này cả đời chẳng dùng đánh và hét để tiếp độ người mà chỉ dùng ngôn ngữ bình thường”. ― Bổng hát giao trì: Về sau, Thiền Sư tiếp dẫn người học, phần nhiều dùng gậy xen lẫn với hét nhằm mục đích thúc đẩy người học chóng giác ngộ. Tham thiền kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、知 恩 識 德 棒 喝 交 馳、非 徒 施 設 “Tham thiền đệ nhất, tri ân thức đức Bổng hát giao trì, phi đồ thi thiết”. “Pháp tham thiền bậc nhất, biết ơn Thiện tri thức. Đánh hét xen lẫn nhau, chẳng lập bày vô ích”. ― Đương đầu bổng hát: Dùng đánh và hét để cảnh tỉnh sự mê chấp của người học. Đòn cảnh tỉnh. ● 裴 休. Cư sĩ đời Đường, tự là Công Mỹ, người đất Tế Nguyên (nay thuộc Hà Nam), Trung Quốc. Ông thi đỗ Tiến sĩ, đậu bậc Hiền lương phương chính dị, lần lượt qua các dinh phủ được làm Giám sát Ngự sử. Niên hiệu Đại Trung thứ 6 (852) ông được giữ chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Thị lang Chuyển trung thư, kiêm Lễ Bộ Thượng Thư, tại chức 5 năm rồi đổi làm Tiết độ sứ ở Chiêu Nghĩa, Hà Đông, Phượng Tường, Kinh Nam. Đầu niên hiệu Hàm Thông (860-873) ông làm Hộ Bộ Thượng Thư, đổi sang Thái Tử Thiếu Sư. Ông tinh thông kinh Phật, từng bàn luận Kinh Hoa Nghiêm với Thiền Sư Tông Mật suốt cả đêm. Niên hiệu Hội Xương thứ 2 (842), ông làm Liêm Trấn (tức Quan sát sứ) ở Chung Lăng (nay là Cao An, Giang Tây), cung thỉnh Thiền Sư Hy Vận đến chùa Long Hưng sớm chiều hỏi đạo. Niên hiệu Đại Trung thứ 2 (848) Bùi Hưu dời về trấn Uyển Lăng (nay là Tuyên Thành, An Huy), lại cung thỉnh ngài Hy Vận đến chùa Khai Nguyên để tham vấn và ghi chép lại những lời dạy, chính là các bộ sách Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu và Uyển Lăng Lục hiện còn lưu hành. ● 裴 休 拾 遺 問. X. Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ. ● 筆. Ghi chép. Tiết Minh Châu Tổ Giám Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “僧 請 筆 師 語要。 – Tăng xin được ghi chép những lời nói quan trọng của Sư.” ● 筆 記. Thể loại văn xuôi tự sự, ghi lại con người và sự việc trong Thiền lâm. Thí dụ: Tông Môn Võ Khố của Đại Huệ Tông Cảo, Lâm Gian Lục của Huệ Hồng soạn, La Hồ Dã Lục của Hiểu Oánh soạn, Vân Ngọa Kỷ Đàm do Hiểu Oánh soạn, Tùng Lâm Thịnh Sự do Đạo Dung soạn, Nhân Thiên Bảo Giám do Đàm Tú soạn, Sơn Am Tạp Lục do Vô Uấn soạn đều thuộc thể loại này. ● 逼 拶. Thiền Sư khéo lập phương tiện, chặt đứt ngôn ngữ tri giải của người học, khiến họ không suy nghĩ gì được nữa, không còn đường tiến thoái. Trong cơn quẩn bách đó, người học có khả năng bước vào cảnh giới NGộ, đây gọi là “Bức tạt”. Mật Am Ngữ Lục ghi: “逼 拶 燈 籠 露 柱、盡 要 心 空 及 第。 – Bức tạt lồng đèn cột cái, tất cả cần tâm không mới đỗ đạt”. ● 偪 塞. Đầy ắp, sung mãn. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “如 聾 如 啞、偪 塞 乾 坤、知 痛 知痒、能 有 幾 箇? – Như điếc như câm đầy ắp hư không, biết đau biết ngứa có được mấy người?”. ● 歌 道. Từ gọi chung các loại thi ca cổ điển Nhật Bản như: Liên ca, Trường ca, Hài cú. Trong các loại thi ca cổ điển này phảng phất rất nhiều các ý thơ, tình thơ của Thiền Tông. Ca Đạo là một môn nghệ thuật mà người Nhật đã dựa trên nền tảng của tinh thần: “Vô sư độc ngộ, lãnh noãn tự tri, đốn ngộ trực chứng” của Thiền Tông để đặt ra. Theo: Triết học Zen của HT. Thiên Ân. ● 迦 文. Gọi đủ: Thích Ca Văn Phật. Tức Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục, q.16 (Đại 47, 786 trung) ghi: “迦 文 老 人 久 默 斯 要、三 百 餘 會 畧 不 明 破、但 隨 機 救 拔、候 時 節 到 來。 – Ông già Thích Ca im lặng với yếu chỉ này, hơn 300 hội bỏ bớt chẳng nói rõ ra, chỉ tùy cơ cứu vớt, đợi thời tiết đến”. ● 箇、个、個. 1. Này, ấy, đó, kia. Chỉ thị đại từ. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “退 院 上 堂:進 院 得 住 便 住、退 院 要 行 便 行、還 相 委 悉 麼?箇 條 烏 拄 杖、莫 怪 太 生 獰。擲 拄 杖、下 座。 – Hôm từ chức trụ trì, sư thượng đường nói: Nhậm chức trụ trì, trụ được liên trụ. Từ chức trụ trì, cần đi liền đi, có biết cho chăng? Cây gậy đen sì nầy, đừng trách nó rất dữ tợn. Sư ném cây gậy, bước xuống tòa.” ● 2. Trợ từ, đặt sau hình dung từ, phó từ, không có thật nghĩa. Tiết Phúc Tiên Chiêu Khánh Hòa Thượng trong TĐT q.13 ghi: “吳 坂 當 年 塔 未 開、宋 雲 蔥 岭 見 師 回、手 携 只 服 分 明 箇、後 代 如 何 密 薦 來? – Năm xưa ở sườn núi Ngô khi chưa mở cửa tháp ra, Tống Vân đi ngang Thông Lãnh thấy sư (Tổ Đạt Ma) trở về ấn Độ, tay cầm chiếc dép thật rõ ràng. Đời sau làm sao mà lãnh hội đây?” ● 箇 般. Như thế, như vậy. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “箇 般 眞 境 界、贏 得 倚 欄 干。 – Cảnh giới chân thật như vậy, chỉ có được khi đứng dựa lan can.” ● 箇 倒 斷. Cái lộn ngược. Thiền Tông dùng để chỉ cho chỗ chứng ngộ. Kiết hạ khai thị chúng ở Thuận Tâm Am trong ThMMBTSTL ghi: “直 待 手 忙 腳 亂 何 不 趁、今 日 病 未 及 體 時、早 討 取 箇 倒 斷。 – Đợi chi đến lúc tay chân rối loạn, ngày nay lúc bệnh chưa đến thân hãy sớm tìm lấy chỗ chứng ngộ”. ● 箇 里. Còn gọi: Cá Trung. Chỗ này, ở đây, trong đây. Động Sơn Vân Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “秋 風 卷 地、夜 雨 翻 空、可 中 別 有 清 凉、箇 里 更 無 熱 惱。 – Gió thu cuốn bụi đất, mưa đêm quất tung trời. Nếu như có mát mẻ chốn khác, chỗ này lại không nóng bức”. ● 閣 主. “Các” là từ được dùng để chỉ cho điện đường của tự viện. Các chủ là chức vụ để gọi người quản lý những kiến trúc quan trọng ngoài 7 điện đường chủ yếu (thất đường già lam) của đại tự viện, vị này chịu sự giám sát của Duy Na. Điều Duy Na trong Thiền Uyển Thanh Quy q.3 (Vạn Tục 111, 146) ghi: “如 堂 頭 侍 者、聖 僧 侍 者、延 壽 堂 主、爐 頭、衆一寮 寮 主、首 座、閣 主、竝 維 那 所 請。 – Như các vị Đường đầu thị giả, Thánh tăng thị giả, Diên thọ đường chủ, Lô Đầu, Liêu chủ của các liêu, Thủ tọa, Các chủ đều được Duy Na mời”. ● 格 量. Quy cách và số lượng. Tiết Bàng Uẩn cư sĩ trong NĐHN ghi: “居 士 所 至 之 處、老 宿 多 往 復 問 酬、皆 隨 機 應 響、非 格 量 軌 轍 之 可 拘 也。 – Chỗ đến của cư sĩ các lão túc đa phần qua lại thưa hỏi, ông đều tùy cơ ứng đáp, những trật tự về quy cách và số lượng không thể hạn chế được.” ● 隔 靴 抓 癢. Còn gọi: Cách Ngoa Tao Dạng, Cách Ngoa Bà Dạng. Nghĩa là chân ngứa mà gãi ngoài chiếc giày, ý nói không thực sự thấu rõ nghĩa lý của Phật pháp. Theo điều Kinh Ninh Lăng An Phúc Tử Thắng TTĐL q.11 (Đại 51, 539 trung) ghi: “拈 拂 敲 床、大 似 隔 靴 抓 痒。 – Giơ phất trần gõ vào giường thiền giống hệt như gãi ngứa ngoài chiếc giày”. Tựa sách Thiền Tông Vô Môn Quan (Đại 48, 191 trung) ghi: “掉 棒 打 月、隔 靴 爬 痒、有 甚 交 涉? – Làm hình thức bên ngoài mà không thực sự thấu rõ nghĩa lý Phật pháp thì có dính dáng gì!”. ● 格 外. Siêu việt tri thức, kiến giải, hoặc vượt ra ngoài nguyên tắc, cách thức thông thường. Tiết Lương Sơn Duyên Quán Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “垂 釣 四 海、只 釣 獰 龍。格 外 玄 機、爲 尋 知 己。 – Buông câu bốn biển, chỉ câu rồng dữ. Ý chỉ nhiệm mầu vượt mức bình thường vì tìm tri kỷ”. ● 格 外 談. Câu nói vượt ra ngoài quy phạm và tri kiến thông thường. Tiết Dược Sơn Lợi Dục Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “格 外 之 談、乞 師 垂 示。 – Câu nói vượt ra ngoài quy phạm cùng tri kiến xin Thầy chỉ dạy.” ● 隔 窻 看 馬 騎. Xem ngựa chạy qua song cửa, tỷ dụ thời gian rất nhanh, chớp mắt là vù qua. Bài tựa của Thiền Sư Vô Môn trong Vô Môn Quan ghi: “若 是 箇 漢、不 顧 危 亡、單 刀 直 入、八 臂 那 吒、攔 他 不 住。縱 使 西 天 四 七、東 土 二 三、只 得 望 風 乞 命。設 或 躊 躇、也 似 隔 窻 看 馬 騎、眨 得 眼 來、早 已 差 過 –Nếu có kẻ gan dạ, không màng chi đến nguy vong, một đao vào thẳng thì Na Tra tám tay giữ lại không nổi, mà dù cho đến 28 vị Tổ Tây Thiên và 6 vị Tổ Đông Độ cũng chỉ còn cách nép mình xin tha mạng. Còn cứ chần chờ, khác chi đứng trong nhà xem ngựa chạy qua song cửa, vừa chớp mắt sớm đã vù qua”. ● 隔 身 句. Còn gọi: Cách Thử Cú. Chỉ cho câu nói đặc biệt, dùng để diễn tả ý chỉ cứu cánh, mà lời nói bình thường không thể biểu đạt. Tắc 14, Bích Nham Lục (Đại 48, 165 trung) ghi: “看 他 兩 人 放 則 雙 放、收 則 雙 收、、潙 仰 下 謂 之 境 致。風 塵 草 動、悉 究 端 倪、亦 謂 之 隔 身 句。 – Xem hai kẻ kia buông thì cùng buông, nắm thì cùng nắm, tông Quy Ngưỡng gọi là cảnh trí. Những việc nhỏ như gió thổi bụi dấy cỏ lay cũng nên tham cứu kỹ lưỡng đầu mối của nó. Đây cũng gọi là Cách thân cú”. ● 隔 千 山. Cùng với thiền ý cách nhau rất xa. Tiết Phổ Hiền Nguyên Tố Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “未 開 口 時 先 分 付、擬 思 量 處 隔 千 山。莫 言 佛 法 無 多 子、未 透 玄 關 也 大 難。 – Khi chưa mở miệng đã trao cho rồi, chỗ định suy nghĩ cùng với thiền ý cách nhau rất xa. Chớ nói Phật pháp không gì nhiều, chưa thấu ải thiền cũng là rất khó”. ● 隔 子 門. Cửa cái của thất vị Trụ trì tự viện, mặt cửa hướng ra sân ngoài. Minh Giác Lục q.4 (Đại 47, 695 hạ) ghi: “玄 沙 與 地 藏 在 方 丈 說 話、夜 深、沙 云:侍 者 關 隔 子 門、汝 作 麼 生 出 得?地 藏 云:喚 什 麼 作 門? – Huyền Sa và Địa Tạng nói chuyện với nhau ở phương trượng. Đến khuya, Huyền Sa nói: Thị giả đóng Cách tử môn (cửa cái), ông làm sao ra được? Địa Tạng nói: Ông gọi cái gì là cửa chứ?”. ● 格 尺. Tiêu xích (thước ngắm). Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “此 土 與 西 天 箇 箇 明 格 尺。 Trung Quốc với Ấn Độ mỗi nơi đều công khai thước ngắm.” ● 蓋 天 蓋 地. Còn gọi: Phổ Thiên Phổ Địa, Tận Thập Phương Thế Giới. 1. Thuật ngữ để chỉ cho Phật pháp xưa nay như thị, bao trùm tất cả. Sự hiển hiện của chân lý này nơi nào cũng có như: tất cả cỏ cây, núi sông, chim bay thú chạy, cho đến 4 oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, sống chết vui buồn của chúng sinh. ● 2. Thuật ngữ chỉ cho trạng thái của người tu Thiền sau khi triệt ngộ đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh. Tắc 5, Bích Nham Lục q.1 (Đại 48, 145 thượng) ghi: “巖 頭 喝 云:你 不 見 道 從 門 入 者 不 是 家 珍、須 是 自 己 胸 中 流 出 蓋 天 蓋 地、方 有 少 分 相 應。 – Nham Đầu quát, bảo: Ông chẳng thấy nói ›Từ cửa vào thì chẳng phải của báu trong nhà,‹ phải từ hông ngực của mình lưu xuất để giáo hóa chúng sinh ở khắp nơi mới có tương ưng chút ít”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 丐 食 鶉 衣. Ăn xin, mặc đồ cũ rách. Chỉ cho đời sống nghèo khổ trong sạch của chư tăng. Trung Phong Hòa Thượng Hành Lục trong Trung Phong Quảng Lục q.30 ghi: “汝 若 無 力 處 衆、只 全 身 放 下、向 半 間 草 屋、冷 淡 枯 寂、丐 養 鶉 衣、且 圖 自 度。 – Nếu không có năng lực lãnh đạo, ngươi buông hết toàn thân, ở nửa gian nhà cỏ, lạnh lùng với mọi sự, ăn xin, mặc đồ cũ rách, mong cầu tự độ”. ● 改 旦. Ngày mồng một mỗi tháng tính theo âm lịch. Tiết Chân Như Giới Hương Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: 孟 冬 改 旦 曉 天 寒 落 葉 歸 根 露 遠 山 “Mạnh đông cải đán hiểu thiên hàn Lạc diệp quy căn lộ viễn sơn”. “Mồng một tháng mười biết trời rét Lá rụng về cội bày núi xa”. ● 改 服. Sửa đổi giáo phái hoặc tông môn. Tiết Thiên Đồng Phổ Giao Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “幼 穎 悟、未 冠 得 度。往 南 屏 听 台 教、因 爲 檀 越 修 懺 摩。有 問 曰:公 之 懺 罪、爲 自 懺 耶、爲 他 懺 耶?若 自 懺 罪、罪 性 何 來?若 懺 他 罪、他 罪 非 汝、烏 能 懺 之?師 不 能 對、遂 改 服 游 方、造 泐 潭。 – Thuở bé sư thông minh hơn người, chưa đến tuổi hai mươi đã xuất gia. Sư đến Nam Bình nghe giáo nghĩa Thiên Thai, nhân thí chủ xin sư làm lễ sám hối cho họ. Có người hỏi sư rằng: Cái việc sám hối của ông là tự sám hay sám hối cho người khác? Nếu tự sám thì tính tội ở đâu? Nếu sám hối cho người khác thì tội đó đâu phải của ông mà sám? Sư không đáp được nên đổi giáo phái đi du phương đến Lặc Đàm”. ● 甘 蔗 生. Hiệu của thiền tăng Kim Thích đời Thanh. X. Kim Thích. ● 甘 露 寺. 1. Chùa ở núi Hòa Sơn phía Tây bắc huyện Vĩnh Tân, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Lục Triều sáng lập lấy núi làm tên gọi là “Hòa Sơn Tự”. Niên hiệu Đại Trung Tường Phù thứ 1 (1008) đời Tống đổi tên là “Cam Lộ Thiền Viện”. Những vị Thiền Sư như Sư Dương, Đức Phổ, Tâm Giám lần lượt ở đây, đồ chúng thường lên đến vài ngàn người. ● 2. Chùa nằm lưng chừng núi Bắc Bán thuộc Cửu Hoa Sơn, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Là một trong bốn đại tùng lâm ở Cửu Hoa Sơn. Niên hiệu Khang Hy thứ 6 (1667) đời Thanh, Quốc sư Ngọc Lâm phụng chỉ đi dâng hương Cửu Hoa thấy núi sông bao quanh bèn cất chùa nơi đây. Ngày khởi công tùng trúc khắp núi đều nhỏ giọt cam lộ, lại chịu sự khải phát về cam lộ trong kinh sách Phật giáo bèn gọi là “Cam Lộ Tự”. Khoảng niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) đời Thanh trùng tu. Đại hùng bảo điện mang đậm màu sắc hương vị cổ xưa, đỉnh lợp ngói lưu ly rộng rãi những năm gian, điêu khắc cánh hoa, hạt hoa, phong cách trang nghiêm thuần phác cổ xưa. Trước điện là khoảng sân rộng thoáng, đối diện là Khách đường, Vi Đà điện, điện thờ phụ hai bên là Tổ sư điện. Lầu gác trên dưới phân biệt là Ngọc Phật lâu, Thiền đường, Pháp đường, Phương trượng thất và Vân thủy đường nơi tiếp đãi tăng nhân vân du hành cước. Điện vũ hoàn chỉnh, lầu gác chỉnh tề. Chung quanh rừng trúc xanh biếc che kín mặt trời. ● 感 荷. Cảm tạ, tiếp nhận trong niềm cảm kích. Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện: “朕 感 荷 師 恩、頂 戴 修 行、永 永 不 朽。 – (Đường Cao Tông) xuống chiếu rằng: … Trẫm cảm tạ ân đức của Đại sư, kính cẩn tu hành mãi mãi”. ● 感 誠 (?-860). Thiền tăng thời Bắc thuộc, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 1, nối pháp Thiền Sư Vô Ngôn Thông. Sư họ Thị, pháp danh Lập Đức, người huyện Tiên Du (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Việt Nam. Sư trụ chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du. Theo: Thiền Uyển Tập Anh. ● 干 剝 剝. Khô khao, không có nước. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “一 葉 落、空 索 索;天 下 秋、干 剝 剝。大 衆、若 還 坐 在 者 裏、總 是 渴 死 底 漢。 – Một chiếc lá rơi, trời quạnh quẽ, khắp nơi thu, vắng vẻ khô khao! Đại chúng, nếu còn ngồi ở chỗ này thì đều là những kẻ chết khát”. ● 干 絆. Phát sinh liên hệ, vướng mắc. HSLNMDT q.1 ghi: “但 得 直 心 正 念、挻 身 向 前、自 然 巍 巍 堂 堂、不 被 此 等 妄 想 纏 繞、如 脫 鞴 之 鷹、二 六 時 中、於 一 切 境 緣、自 然 不 相 絆、自 然 得 大 輕 安、得 大 自 在。 – Chỉ cần trực tâm chính niệm, đứng thẳng người hướng về phía trước, ắt sẽ sừng sững rực rỡ, chẳng bị các thứ vọng tưởng này quấy rầy, như con chim ưng thoát khỏi bàn tay thợ săn. Trong suốt ngày đêm, đối với tất cả cảnh duyên, tự nhiên không vướng mắc, tự nhiên được hoàn toàn nhẹ nhõm an vui, được tự do tùy ý, thông suốt, hoạt bát thanh thản.” ● 干 嚗 嚗. Chỉ cho thiền tăng khô khan, ít nói. Tông Môn Võ Khố ghi: “圓 悟、佛 眼、佛 鑑 同 在 五 祖。一 日 相 謂 曰:老 和 尚(指 五 祖 法 演)只 是 干 嚗 嚗 地、往 往 說 心 說 性 不 得。 – Viên Ngộ, Phật Nhãn, Phật Giám cùng ở núi Ngũ Tổ. Một hôm họ bảo với nhau rằng: Lão Hòa Thượng (chỉ Ngũ tổ Pháp Diễn) chỉ là Thiền Sư khô khan ít nói, thường không nói được tâm tính”. ● 干 打 哄. Uổng công lên tiếng, phí công dạy dỗ. Tiết Quang Hiếu Thâm Thiền Sư trong NĐHN q. ghi: “龍 生 龍、鳳 生 鳳 老 鼠 養 兒 沿 屋 棟 達 磨 大 師 不 會 禪 歷 魏 游 梁 干 打 哄。” “Long sinh long, phụng sinh phụng Lão thử dưỡng nhi duyên ốc đống Đạt Ma đại sư bất hội thiền Lịch Ngụy du Lương can đả hống”. “Rồng sinh rồng, phụng sinh phụng Xà nhà có mụ chuột nuôi con Đại sư Đạt Ma chẳng ngộ thiền Từ Ngụy qua Lương uổng lên tiếng”. ● 竿 頭 進 步. Trên đầu sào trăm thước lại tiến thêm một bước, dụ cho hành động dũng cảm của người tham thiền vượt qua đầu sào ý thức để đi đến cảnh giới đại ngộ. Ngài Huệ Khai (Vô Môn) bình rằng: “進 得 步 翻 得 身 更 嫌 何 處 不 稱 尊。雖 然 如 是 且 道:百 尺 竿 頭 如 何 進 步、嗄! – Tiến bước được, lộn thân được, còn ngại chỗ nào chẳng xưng tôn? Song dù như thế hãy nói thử coi! Đầu sào trăm thước làm sao tiến bước? A!” Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 干 懷. Quấy rối, quấy rầy, động lòng. Trong bài “Hoạch châu ngâm”của Quan Nam Trưởng lão, trong CĐTĐL q.30 ghi: 不 坐 禪、不 修 道、任 運 逍 遙 只 麼 了。但 能 萬 法 不 干 懷、無 始 何 曾 有 生 老? “Bất tọa thiền, bất tu đạo Nhậm vận tiêu dao chỉ ma liễu Đãn năng vạn pháp bất can hoài Vô thủy hà tằng hữu sinh lão?” “Chẳng tọa thiền, chẳng tu đạo Mặc tình phóng khoáng thế ấy thôi! Đối với muôn pháp chẳng động lòng Sinh lão từ xưa đâu từng có?” ● 竿 木. Còn gọi: Mộc Thượng Tọa. Cây gậy mà các Thiền Sư thường dùng lúc thượng đường. Thiền Tông còn dùng từ Can Mộc để chỉ cho cây gậy nhiệm mầu vô hình trong hông ngực của Thiền Sư, tức là uy lực của thiền mà các Thiền Sư dùng để tiếp hóa người học, cho nên có cụm từ: “Can mộc tùy thân” (Cây gậy tùy thân) là dụ cho cơ dụng tự tại vô ngại của Thiền Sư. Tắc 10, Thung Dung Lục (Đại 48, 133 thượng) ghi: “有 收 有 放、竿 木 隨 身;能 殺 能 活、權 行 在 手。– Có nắm có buông, cây gậy tùy thân, hay giết hay tha, quyền hành trong tay”. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Thiền Sư Trung Phong Minh Bản ghi: “唯 有 木 上 座 也 無 好、也 無 惡、也 無 是、也 無 錯、通 身 只 麼 黑 〖⿰粦皮〗 皴 長 年 靠 在 繩 床 角。 – Duy có cây gậy chẳng tốt xấu, chẳng đúng sai, toàn thân chỉ là đen sì lì, suốt năm dựa bên góc thiền sàng”. ● 干 索 索. Khô không khốc. Mật Am Ngữ Lục ghi: “徑 山(系 密 庵 禪 師 之 法 號)干 索 索 地、有 也 不 興、無 也 不 奪。 – Kính Sơn (pháp hiệu của Mật Am) khô không khốc, lúc có thì chẳng giàu chi, lúc không thì chẳng có gì để lấy”. ● 干 竹 絞 汁. Vắt tre khô tìm nước. Ý nói làm việc uổng công vô ích. Bài tựa của Tập Ông trong Vô Môn Quan: “雖 添 幾 箇 注 脚、大 似 笠 上 頂 笠、硬 要 習 翁 贊 揚、又 是 干 竹 絞 汁。 – Gượng thêm vài chú cước giống hệt như trên nón đội thêm nón, còn muốn cho Tập Ông khen ngợi chỉ là uổng công vô ích”. ● 乾 慧. Không có trí huệ, chỉ chạy theo lời nói tri giải, chẳng thể chân thật tham học để minh tâm kiến tính, nhà thiền gọi là càn huệ. Tiết Động Sơn Lương Giới Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “末 法 時 代、人 多 乾 慧。 – Thời đại mạt pháp, người ta phần lớn chạy theo lời nói tri giải, chẳng thể chân thật tham học để minh tâm kiến tính.” Căn cứ trong kinh Phật, Càn huệ vốn có nghĩa không trí huệ và chưa được nước định, chưa được nước lý, giai vị thấp nhất trong các giai vị tu hành của Bồ Tát Thập địa. ● 乾 坤 獨 步. Miêu tả thiền tăng tỏ ngộ không còn mảy may chấp trước nương tựa, vận dụng tự tại vô ngại. Tựa của Vô Môn Quan ghi: “大 道 無 門、千 差 有 路。透 得 此 關、乾 坤 獨 步。 – Đại đạo không có cửa, thiên sai thì có đường đi. Thấu qua cửa này thì tự tại vô ngại.” ● 乾 峯. Thiền tăng sống vào cuối đời Đường, nối pháp Động Sơn Lương Giới, tông Tào Động. Sư trụ ở Việt Châu (tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. ● 乾 峯 二 光 三 病. Lời thượng đường khai thị của Thiền Sư Càn Phong. Nội dung: Khi đến cảnh giới ngộ cần phải trừ bỏ, thoát khỏi nhị quang và tam chủng bệnh. — Nhị quang (Hai loại quang): 1. Năng thủ quang: Chỉ cho mê hoặc vi tế khởi lên nơi chủ quan. 2. Sở thủ quang: Chỉ cho mê hoặc vi tế khởi lên nơi khách quan. — Tam chủng bệnh (Ba loại bệnh): 1. Vị đáo tẩu tác: Ở trước cảnh giới ngộ mà khởi lên các thứ tâm phân biệt là bệnh. 2. Dĩ đáo trụ trước: Đạt đến cảnh giới ngộ mà sinh tâm bám giữ cũng là bệnh. 3. Thấu thoát vô y: Đạt đến cảnh giới ngộ, tuy lìa thoát tất cả chấp trước, nhưng không thấu đạt đến chỗ sáng sủa thì vẫn còn là bệnh. NĐHN q.30 (Vạn Tục 138, 145 hạ) ghi: “法 身 有 三 種 病、二 種 光、須 是 一 一 透 得、始 解 歸 家 穩 坐、須 知 更 有 向 上 一 竅 在。 – Hòa Thượng Càn Phong ở Việt Châu thượng đường nói: Pháp thân có ba loại bệnh, hai loại quang, cần phải mỗi mỗi thấu suốt mới hiểu được cách về nhà ngồi yên ổn, nhưng cần phải biết còn có một khe hở hướng thượng nữa!”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 乾 屎 橛. Que chùi phân. Công án nổi tiếng, là cơ ngữ của Thiền Sư Văn Yển sống vào cuối đời Đường – đầu đời Ngũ Đại. Công án này thấy chép ở Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 15 như sau: “問:如 何 是 佛?師 曰:乾 屎 橛。 – Có vị tăng hỏi: Phật là gì? Sư đáp: Que chùi phân”. Lời đáp như thế đã hiển bày cơ dụng chặt đứt đường ngôn ngữ của người học bởi tông Vân Môn, cũng thể hiện được tác phong quở Phật mắng Tổ của nhà thiền. Thiền lâm đời sau thường niêm đề công án này. Hiền Công Đại Hòa Thượng hành nghiệp khúc ký trong NHQL q.37 ghi: “明 年、值 夀 昌 無 明 和 尚 開 法 董 岩、師 往 謁 之、反 复 微 詁。昌 曰:此 事 不 可 以 意 解、須 力 參 乃 契。因 勉 看 乾 屎 橛。 – Năm sau, nhân dịp Hòa Thượng Vô Minh Thọ Xương khai pháp ở Đổng Nham, sư đến yết kiến ngài, thưa đi hỏi lại nhiều lần. Xương bảo: Việc này không thể dùng ý để hiểu, cần phải ra sức tham thiền thì mới khế ngộ. Do đây, sư cố gắng khán công án ›Càn thỉ quyết‹”. ● 更 後 年. Tính từ năm nay trở đi thì năm thứ tư gọi là canh hậu niên. Pháp Diễn Ngữ Lục q.trung ghi: “前 年 去 年 也 恁 麼。明 年 後 年 更 後 年 外 後 年 也 恁 麼。 – Năm kia, năm ngoái cũng như thế, năm sau, năm sau nữa, năm sau sau nữa, năm sau sau nữa nữa cũng như thế.” ● 耕 人 田 不 種、禾 熟 不 臨 場. Người cày không làm ruộng, lúa chín không đem phơi. Chỉ cho thiền nhân quên đi cội rễ nhà mình, không thấy được Phật tính của chính mình. Tiết Kính Sơn Hồng Nhân Thiền Sư trong NĐHN q.9 ghi: “僧 問:掩 息 如 灰 時 如 何?師 曰:猶 是 時 人 功 幹。曰:幹 後 如 何?師 曰:耕 人 田 不 種。曰:畢 竟 如 何?師 曰:禾 熟 不 臨 場。 – Tăng hỏi: Khi tạ thế như tro tàn thì thế nào? Sư đáp: Vẫn là sự tu hành mong cầu phúc báo của người đương thời. Tăng hỏi: Sau khi tu hành thì thế nào? Sư đáp: Người cày không làm ruộng. Tăng hỏi: Rốt cuộc như thế nào? Sư đáp: Lúa chín không đem phơi.” ● 更 衣. Còn gọi: Cải Phục. Thay đổi giáo phái hoặc tông môn. Tông Môn Vũ Khố ghi: “筠 州 黃 蘗 泉 禪 師。初 習 百 法 論。講 肆 有 聲。更 衣 南 詢。見 眞 淨 和 尚 於 洞 山。 – Quân Châu Hoàng Bá Tuyền Thiền Sư, sơ tập Bách pháp luận, giảng tứ hữu thinh. Canh y Nam tuần, kiến Chân Tịnh Hòa Thượng ư Động Sơn. – Thiền Sư Hoàng Bá Tuyền ở Quân Châu ban đầu học tập Bách pháp luận, nổi tiếng về giảng nói Kinh Phật. Sau thay đổi giáo phái học hỏi phương Nam, yết kiến Hòa Thượng Chân Tịnh ở Động Sơn.” ● 竟 欽 (910-977). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trịnh, người Ích Châu (nay là Thành Đô, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Vân Môn Văn Yển, sáng lập chùa Hưng Phúc ở núi Song Phong, Thiều Châu. Chúa Nam Hán thường triệu hỏi về thiền cơ, sư ứng đối nhanh nhẹn. Chúa ban hiệu là Quảng Ngộ Thiền Sư. ● 竟 日. Suốt ngày. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “山 僧 竟 日 與 他 説 破。學 者 總 不 在 意。 – Suốt ngày Sơn tăng nói toạc ra cho các vị, tại vì các vị chẳng chịu để ý”. ● 境 塊 子. Cách gọi nôm na của chữ “Cảnh”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “如 善 知 識、把 出 箇 境 塊 子、向 學 人 面 前 弄。前 人 辨 得 了 下 作 主、不 受 境 惑、善 知 識 便 即 現 半 身、學 人 便 喝。 – Như thiện tri thức đưa ra một cảnh, đùa trước mặt người học.., người trước mặt biện được đã chẳng làm chủ, chẳng bị cảnh lừa, thiện tri thức liền hiện bán thân, người học liền hét”. ● 警 延 (943-1017). Thiền tăng đời Tống, vốn tên là Cảnh Huyền, họ Trương, người xứ Giang Hạ (nay là huyện Võ Xương, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lương Sơn Duyên Quán, tông Tào Động. Thụy hiệu “Minh An Đại Sư”. Tác phẩm: Đại Dương Minh An Đại Sư Thập Bát Ban Diệu Ngữ. ● 景 德 傳 燈 錄. Gọi tắt: Truyền Đăng Lục. Đăng Lục, 30 quyển, do Đạo Nguyên soạn vào đời Tống, là một trong những bộ sử Thiền Tông Trung Quốc. Vốn có tựa đề là Phật Tổ Đồng Tham Tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 51, trang 196. Sách này sưu tập ghi chép về hành trạng, cơ duyên v.v… của 1701, vị bắt đầu từ Đức Phật đời quá khứ đến các vị Tổ thuộc đời thứ 51 của Ngũ Gia Tông Phái. Trong đó, 951 vị có phụ thêm Ngữ Lục. Vì bộ sách này được Vua sắc chỉ nhập tạng vào niên hiệu Cảnh Đức thứ 1 (1004) nên đặt tên là Cảnh Đức. Về pháp hệ truyền thừa giữa thầy và trò nối nhau không dứt giống như lửa của ngọn đèn có năng lực phá trừ tối tăm, nối nhau liên tục nên gọi là Truyền Đăng. Đầu quyển có bài tựa do ngài Dương Ức soạn. Nội dung toàn sách nói về sự truyền pháp Thiền như sau: ― Quyển 1 và 1: Bảy đức Phật đời quá khứ và Tổ Ca Diếp truyền xuống đến Tổ thứ 17 là Bát Nhã Đa La. ― Quyển 3: Năm vị Tổ Trung Quốc: Đạt Ma, Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn. ― Quyển 4: Pháp hệ chi nhánh của Tứ tổ Đạo Tín và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn như: Ngưu Đầu Thiền, Bắc Tông Thiền, Tịnh Chúng Tông v.v… và truyện ký của các vị: Pháp Dung, Thần Tú, Phổ Tịch v.v… ― Quyển 5: Huệ Năng và pháp hệ của Ngài. ― Quyển 6: Mã Tổ Đạo Nhất và Bách Trượng Hoài Hải. ― Quyển 7: Nga Hồ Đại Nghĩa và Ma Cốc Bảo Triệt. ― Quyển 8: Gồm 54 vị như: Nam Tuyền Phổ Nguyện… ― Quyển 9: Gồm 30 vị nối pháp ngài Hoài Hải… ― Quyển 10: Gồm các vị nối pháp ngài Nam Tuyền như: Triệu Châu Tùng Thẩm… ― Quyển 11: Các đệ tử nối pháp của ngài Quy Sơn Linh Hựu, Tổ tông Quy Ngưỡng. ― Quyển 11: Lâm Tế Nghĩa Huyền, Tổ tông Lâm Tế. ― Quyển 13: Pháp hệ của tông Hà Trạch. Truyện ký về ngài Trừng Quán và ngài Tông Mật thuộc tông Hoa Nghiêm. ― Quyển 14: Thạch Đầu Hy Thiên và pháp hệ. ― Quyển 15: Động Sơn Lương Giới. ― Quyển 16: Các đệ tử nối pháp của ngài Đức Sơn Tuyên Giám. ― Quyển 17: Pháp hệ tông Tào Động. ― Quyển 18, 19: Pháp hệ của ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn. ― Quyển 10: Pháp hệ của ngài Tào Sơn Bản Tịch. ― Quyển 11: Pháp hệ của ngài Huyền Sa Sư Bị. ― Quyển 11, 13: Pháp hệ của tông Vân Môn. ― Quyển 14, 15, 16: Pháp hệ của tông Pháp Nhãn. ― Quyển 17: Các Thiền Sư nổi tiếng không thuộc bất cứ tông phái nào. ― Quyển 18: Các Ngữ Lục đặc biệt của 11 vị Thiền Sư như: Nam Dương Huệ Trung, Hà Trạch Thần Hội v.v… ― Quyển 19 tựa đề là Tán Tụng Kệ Thi gồm tất cả kệ tụng của 17 vị như: Bạch Cư Dị… ― Quyển 30 tựa đề là Minh Ký Châm Ca gồm tất cả 13 loại: Tọa Thiền Châm, Chứng Đạo Ca… Sách này có 1 bản khắc lại: ― Tư Giám Trùng San, khắc lại vào đời Nam Tống, năm 1134. ― Hy Vị Trùng San, khắc lại vào đời Nguyên, năm 1316. Quyển Đăng Lục này là tư liệu căn bản để nghiên cứu sử Thiền Tông Trung Quốc. ● 境 界. 1. Đối tượng của cảm giác, nhận thức nhờ 6 thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. ● 2. Cảnh địa đạt đến do nhận thức. ● 3. Thật tướng của sự vật được bậc tu hành giác ngộ nhận thức, thể nghiệm. Còn gọi: Chân cảnh giới. ● 景 欣. Thiền tăng đời Đường, người xứ Tuyền Châu, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. ● 景 瓛 (?-1381). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên, đầu đời Minh, họ Dao, tự Oánh Trung, hiệu Tiếu Hiên, người xứ Túy Lý (nay là huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Sở Thạch. ● 警 玄 (943-1017). Thiền tăng đời Tống, họ Trương, người Giang Hạ, Hồ Bắc, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lương Sơn Duyên Quán, tông Tào Động. Sư trụ núi Đại Dương, Hồ Bắc. Tác phẩm: Đại Dương Minh An Đại Sư Thập Bát Ban Diệu Ngữ, 1 quyển. ● 景 隆 (1391-?). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, tự Tổ Đình, hiệu Không Cốc, người xứ Tô Châu, nối pháp Thiền Sư Tú An, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Không Cốc Tập 30 quyển. ● 鏡 裏 求 形. Xem thấy bóng dáng sự vật trong gương rồi tìm lấy vật đó nơi tấm gương, tỷ dụ lấy giả làm thật, uổng công vô ích. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “若 也 廣 尋 文 義、猶 如 鏡 裏 求 形;更 乃 息 念 觀 空、大 似 水 中 捉 月。 – Nếu là rộng tìm văn nghĩa thì giống như tìm vật trong gương, còn ngưng nghỉ ý niệm để quán không thì giống như mò trăng đáy nước”. ● 景 元 (1094-1146). Thiền tăng sống vào cuối đời Bắc Tống đầu đời Nam Tống, họ Trương, hiệu Thử Am, người xứ Vĩnh Gia, Ôn Châu (nay là huyện Vĩnh Gia, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 18 tuổi, sư nương Thiền Sư Linh Sơn Hy Củng để cạo tóc xuất gia rồi nghiên cứu kinh điển, trì luật, tự cầu tinh tiến. Năm kế, sư được thụ giới cụ túc. Ban đầu, sư tu tập Thiên Thai giáo quán 3 năm. Sau đó, vâng lời Thầy, sư đến Giang Tây, Hồ Nam để tìm thầy tham học. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 1 (1117) sư lên núi Vân cư ở Giang Tây, ra mắt Thiền Sư Viên Ngộ Khắc Cần, được ngài bảo làm thị giả. Chưa bao lâu, sư ngay nơi lời nói của ngài liền đại triệt ngộ, được nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Từ đó, sư càng cần khổ tu luyện, biện luận tài tình, thời đó không ai địch nổi. Sư từng khai pháp ở chùa Kiến Đức tại Nam Minh Sơn, rồi dời sang chùa Hộ Quốc ở Thai Châu, hoằng tông truyền giáo, pháp hội đại thạnh, tiếng tăm vang dội. Lúc sắp thị tịch, sư gọi sư điệt là ứng Am Đàm Hoa đến trước mặt, bảo phải làm Tọa nguyên, dặn dò hậu sự xong, trong phút chốc nắm tay lại rồi thị tịch. ● 景 如. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Trí Hồng ở núi Đại Long, Đảnh Châu (nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. ● 境 風. Cảnh như gió hay làm tâm động. Tiết Bạch Dương Pháp Thuận Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “染 緣 易 就、道 業 難 成、不 了 目 前、萬 緣 差 別。只 見 境 風 浩 浩、凋 殘 功 德 之 林、心 火 炎 炎、燒 盡 菩 提 之 樹。 – Nhiễm duyên dễ dính mắc, đạo nghiệp lại khó thành, chẳng rõ cái trước mắt nên muôn duyên sai biệt. Chỉ thấy gió cảnh ào ào thổi hư rừng công đức; lửa tâm hừng hực nên cháy sạch cội Bồ Đề”. ● 景 岑. Thiền tăng đời Đường, pháp danh Chiêu Hiền, và sư lấy đây làm hiệu của mình, nối pháp Thiền Sư Nam Tuyền Phổ Nguyện. Do vì cơ phong cao vút, và khi ứng cơ sư thích làm thế cọp vồ nên Ngưỡng Sơn nói sư giống như cọp. Từ đó các nơi gọi sư là “Sầm đại trùng” (Con cọp Sầm). ● 景 通. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Ban đầu sư tham vấn Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, bị ngài đánh cho 4 roi mây, nhân đó sư tự xưng là “Tập Vân Phong hạ tứ đằng điều thiên hạ Đại Thiền Phật”. ● 景 祥 (1061-1131). Thiền tăng đời Tống, họ Truyền, người xứ Nam Phong (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đại Quy Mộ Triết, tông Lâm Tế. ● 競 頭. Nhộn nhịp, tranh giành nhau. Tiết Sở An Huệ Phương Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “張 公 會 看 脈、李 公 會 使 藥、兩 箇 競 頭 醫、一 時 用 不 得。 – Ông Trương biết xem mạch, ông Lý biết hốt thuốc; hai thầy lang giành nhau, tạm thời dùng chẳng được”. ● 高 弟. Học trò giỏi được vị Thầy ưng ý nhất. Tông Môn Võ Khố ghi: “谷 山 禪 師、眞 凈 高 弟 也。 – Thiền Sư Cốc Sơn Tổ là cao đệ của ngài Chân Tịnh”. ● 高 流. Chỉ chung cho hàng sĩ phu cao thượng. Lược Tự Tứ Tông Đốn Tiệm Nghĩa trong Phần Dương Ngữ Lục ghi: “非 四 依 三 德 之 高 流、寧 得 弘 通 於 大 教。 – Nếu chẳng phải hạng cao lưu có đủ 3 đức và 4 y (4 chỗ nương), đâu được hoằng thông đại giáo”. ● 高 旻 寺. Chùa nằm bên bờ phía tây của sông Tam Xoa, ngoài cửa nam của thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Đây là l trong 8 ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Dương Châu vào đời Thanh. Tương truyền chùa được xây dựng vào đời Tùy, về sau trải qua nhiều phen xây cất lại. Niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) đời Thanh, chùa được Tổng đốc Nam Hà là Ngô Duy Hoa xây cất lại. Niên hiệu Khang Hy thứ 38 (1699), nhờ Lưỡng Hoài Diêm Thương quyên góp xây cất chùa lại. Tương truyền vua Khang Hy từng lên tháp Trung Thiên của chùa này và xây hành cung trong khuôn viên chùa vào năm 1699. Năm 1703, Vua ban bảng hiệu “Cao Mân Tự” do chính Vua viết. Chùa có liễn hoành do Vua viết, có thơ do Vua làm và tượng Phật bằng kim nhũ do Vua vẽ. Chùa có quan hệ mật thiết với nhiều triều đại của nhà Thanh. Pháp hệ chùa này thuộc phái Dương Kỳ tông Lâm Tế, bắt đầu từ ngài Ngọc Lâm Thông Tú (đệ tử của ngài Thiên ẩn Viên Tu cuối đời Minh), sau đó truyền bốn đời đến ngài Thiên Huệ Thật Triệt, vị này trùng hưng chùa Cao Mân. Chùa này và hai chùa Kim Sơn, Thiên Ninh là ba tùng lâm lớn của tông Lâm Tế. Năm 1915, Thiền Sư Lai Quả đến chùa này, quyết chí khôi phục quy chế Cao Mân. Sư phái người mộ hóa ở Đông Nam Á, thỉnh được 78 tượng ngọc Phật, 1 tượng Phật bằng đồng. Sư còn chấn chỉnh quy củ tòng lâm, đặt ra “Cao Mân Tự Quy Ước”. ● 高 峯 原 妙 禪 師 語 錄. Còn gọi: Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Nguyên Diệu soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 653. Nội dung bao gồm: Pháp ngữ thị chúng ở Song Kết Am, Hồ Châu, Ngữ yếu khai đường ở chùa Sử Tử Thiền, núi Tây Thiên Mục, Niêm cổ, Bổ di, Kệ tụng, Tán Phật Tổ, Hành trạng, Tháp minh, Âm thích. Dương Nhân Sơn bảo quyển Ngữ Lục này “Chỉ thẳng cội nguồn, vượt ra khuôn sáo, khiến người phát nguyện mạnh, lập chí lớn”. Phong Nguyên Diệu Thiền Sư Thiền Yếu ● 高 峯 原 妙 禪 師 禪 要. Còn gọi: Cao Phong Hòa Thượng Thiền Yếu. Ngữ Lục, 1 quyển, do Nguyên Diệu soạn vào đời Nguyên, Hồng Kiều Tổ biên tập vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 701. Nội dung nói rõ yếu chỉ của việc tham thiền học đạo gồm: Khai đường phổ thuyết, Pháp ngữ thị chúng, Tiểu tham đêm 30, Thư từ. Sách chú thích quyển Ngữ Lục này có Cao Phong Hòa Thượng Thiền Yếu Tư Ký, 1 quyển, do Bạch Pha Tuyên Truyền (là vị sư người Triều Tiên) soạn. ● 高 心. Tự cao tự đại. Đại Châu Ngữ Lục q.hạ ghi: “傲 物 高 心 者 我 壯、執 空 執 有 者 皆 愚。 – Người tự cao tự đại khinh chê kẻ khác thì tăng thêm ngã chấp, còn người chấp không chấp có đều ngu”. ● 高 足. Học trò giỏi. Lời nói kính trọng, nói về học trò của người đối thoại. Vân Cư Sơn Chí (134 hạ) ghi: “時 住 持 古 公 乃 靈 源 禪 師 高 足。 – Lúc ấy Cổ Công làm Trụ trì, vốn là cao túc của Thiền Sư Linh Nguyên”. ● 告 報. Kể ra, nghị luận. Mật Am Ngữ Lục ghi: “靈 利 漢。聞 與 麼 告 報。慣 戰 良 馬。聞 鑼 鼓 聲。渾 身 痒 簇 簇 地。千 人 萬 人。羅 籠 不 住。 – Người linh lợi nghe kể như thế giống như con ngựa giỏi quen chiến trận nghe tiếng chiêng trống toàn thân ngứa ngáy rần rần, ngàn người muôn người không thể khống chế.” ● 告 香. Nghi thức cung thỉnh bậc Thầy khai thị hoặc giảng dạy cho đại chúng bằng cách người học cắm hương dâng lên Thầy. —Cáo hương bài: Tấm bảng treo để thông báo nghi thức cáo hương cho đại chúng biết, nhưng trước khi treo Cáo hương bài phải trình và được sự cho phép của Thầy trụ trì. —Cáo hương đồ: Biểu đồ phối trí nhân sự khi cáo hương. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 告 往 知 來. Biết chuyện vị lai, hàm ý nghĩa linh lợi mẫn tiệp. Tiết Cốc Sơn Hải Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “一 舉 不 再 說、已 落 二 三。相 見 不 揚 眉、翻 成 造 作。設 使 動 絃 別 曲、告 往 知 來、見 鞭 影 便 行、望 剎 竿 回 去、腳 跟 下 好 與 三 十 棒! – Một khi nêu lên không nói lại thì đã rơi vào đầu thứ 2, thứ 3; gặp nhau không nhướng mày thì trở thành tạo tác. Cho dù khảy cung biệt khúc, biết được chuyện vị lai, thấy bóng roi liền chạy, xa trông cột phướn chùa bèn quay về, vẫn bị ăn 30 gậy ngay trước mắt.” ● 杲 公 禪 師 塔. Tháp nằm trên đất tháp phía Tây bắc chùa Phật Quang, núi Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, là mộ tháp của Thiền Sư Cảo Công được xây vào niên hiệu Thái Hòa thứ 5 (1205) đời Kim. Tháp cao khoảng 5m, là một tòa tháp một tầng xây bằng gạch bông theo kiểu đình các. Phần dưới của tháp là tòa Tu Di, phần trên của tháp là hình bát giác. Trên thân tháp dùng gạch để xây đấu củng nâng đỡ mái tháp. Mái tháp dùng gạch chồng diêm nâng đỡ phần trang trí hình răng cưa lăng giác ba tầng. Đấu củng và mái tháp rất lớn nâng đỡ bó hoa sen năm tầng tám cánh. Bó hoa cũng rất to cơ hồ chiếm 1/3 toàn tháp. Đỉnh tháp dùng gạch chồng diêm ngược thu lại thành tháp sát. Mặt tiền của tháp trên ngạch cửa có đề bài ký, tại mặt bên của tháp có bài minh nói về tháp của Thiền Sư Cảo Công. ● 葛 藤. Chỉ cho văn tự ngữ ngôn, vốn được dùng để diễn tả giải thích sự tướng, nhưng trái lại, nó cũng thường làm vướng mắc, trói buộc người chưa ngộ, giống như dây leo bò lan, đan xen lẫn nhau. Tắc 31, Bích Nham Lục (Đại 48, 171 trung) ghi: “古 人 葛 藤、試 請 舉 看! – Cát đằng của cổ nhân, thử nêu ra xem!” Ngoài ra, Cát đằng còn chỉ cho câu nói khó lý giải được trong công án và còn chuyển thành nghĩa nói về trình độ vấn đáp. Nhàn cát đằng: Câu nói bỡn cợt, vô dụng. ● 葛 藤 窟. Lời nói lòng vòng, lải nhải không dứt. Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “且 道:天 台 南 嶽 說 箇 什 麼 法 門?。。。廬 山 出 來 道:你 兩 箇 正 在 葛 藤 窠 裏! 不 見 道:欲 得 不 招 無 間 業、莫 謗 如 來 正 法 輪。 – Thử hỏi Thiên Thai và Nam Nhạc nói pháp môn gì?… Lô Sơn bước ra nói: Hai vị ấy Đang lải nhải không dứt! Chẳng thấy nói: Muốn khỏi nghiệp vương muôn kiếp lụy. Vành xe chính pháp chớ chê cười”. ● 葛 藤 桩 子. Dụ chỉ cho Thiền Sư nhiều lời. Đây là lời nói hàm ý chê cười. Tông Môn Võ Khố ghi: “雲 居 舜 老 常 譏 天 衣 懷 禪 師 說 葛 藤 禪。一 日、聞 懷 遷 化、於 法 堂 上 合 掌 云:且 喜 葛 藤 桩 子 倒 了 也。 – Thuấn lão phu ở Vân Cư thường chê Thiền Sư Thiên Y Hoài nói thiền nhiều lời. Một hôm, ngài nghe Hoài thị tịch, liền ở trên Pháp đường chắp tay nói rằng: May mắn thay, Thiền Sư nhiều lời ngã xuống rồi!”. ● 葛 藤 禪. Thiền nhiều lời. Tông Môn Võ Khố ghi: “雲 居 舜 老 常 譏 天 衣 懷 禪 師 說 葛 藤 禪。 – Thuấn Lão phu ở Vân Cư thường chê Thiền Sư Thiền Y Hoài nói thiền nhiều lời”. ● 割 截 虛 空. Cắt đứt hư không, ý nói vọng đem chia cắt sự vật vốn chẳng thể chia cắt. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “門 風 之 別、所 宗 有 五、其 實 皆 一 道 也。故 眞 知 臨 濟 者、決 不 非 曹 洞;眞 知 曹 洞 者、決 不 非 臨 濟。。。是 知 大 道 惟 公、法 無 偏 黨。後 世 妄 生 人 我、割 截 虛 空、嗣 臨 濟 者 謗 曹 洞、嗣 曹 洞 者 謗 臨 濟、破 滅 法 門、自 喪 慧 命、豈 不 深 可 痛 哉! – Tuy có 5 tông phái khác nhau, kỳ thực đều là một ĐạO. Vì người nào thật biết Lâm Tế chắc chắn là biết Tào Động; ai thật biết Tào Động chắc chắn là biết Lâm Tế… mới biết ĐạI ĐạO công bằng, pháp không thiên lệch. Người đời sau vọng sinh nhân ngã, cắt đứt hư không, người nối pháp Lâm Tế thì chê bai Tào Động, người nối pháp Tào Động thì chê bai Lâm Tế, phá hỏng pháp môn, tự vùi chôn huệ mạng, há chẳng đau đớn sao!” ● 根 機. Vì tính là gốc rễ của con người, ví như rễ cây, cho nên gọi là Căn; chỗ phát khởi của căn gọi là Cơ. Là căn tính, tư chất của người có năng lực tu hành. Căn cơ quyết định sự tiến thoái của đời tu, sự hưng phế của giáo pháp. ● 根 器. Tố chất tiếp nhận và truyền thừa Phật pháp. Duy Tắc Ngữ Lục q.3 ghi: “今 時 學 者 根 器 不 齊。 – Người học đạo ngày nay căn khí không như nhau.” ● 根 識. Căn khí cùng tài năng và kiến thức. Tiết Tham chính Lý Bính cư sĩ trong NĐHN q.20 ghi: “顧 惟 根 識 暗 鈍、平 生 學 解、盡 落 情 見。 – Cố Duy căn khí cùng tài năng và kiến thức tối tăm chậm lụt, cả đời học giải hoàn toàn rơi vào tình kiến.” ● 根 性. Căn nghĩa là có năng lực phát sinh. Tính là thói quen huân tập. Chúng sinh có thói quen huân tập và làm phát sinh ra nghiệp thiện hoặc ác gọi là căn tính. ● 根 思. Căn khí và ngộ tính. Tiết Phụng Hoàng Tùng Thâm Thiền Sư trong NĐHN q.8 ghi: “學 人 根 思 遲 回、方 便 門 中 乞 師 傍 瞥。 – Người học đạo căn khí và ngộ tính chậm chạp, trong môn phương tiện xin Thầy dạy thêm.” ● 矜 式. Khuôn phép. Căng nghĩa là kính, thức là pháp tắc. Căng thức có nghĩa mô phạm hay khuôn phép. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 1 (Đại 48, 1010 thượng) ghi: “英 邵 武 曰:晦 堂 師 兄。道 學 爲 禪 衲 所 宗。猶 以 尊 德 自 勝 爲 樂。以 未 見 未 聞 爲 媿。使 叢 林 自 廣 而 狹 於 人 者 有 所 矜 式 豈 小 補 哉。 – Anh Thiệu Vũ nói: Phần đạo học của sư huynh Hối Đường được các thiền tăng cho là vào bậc Thầy, thế mà ngài còn lấy đức tính tự thắng làm vui, lấy điều chưa thấy chưa nghe làm xấu hổ, để làm khuôn phép cho từng người hoặc khắp cả tùng lâm. Đó há là điều bổ ích nhỏ bé sao?”. ● 禁 冬 不 禁 夏. Chỉ cho việc tu sĩ Phật giáo thực hành chế độ Đông an cư (từ rằm tháng 10 đến rằm tháng 1 năm sau), tu tập ở trong tự viện. ● 禁 夏 不 禁 冬. Chỉ cho việc tu sĩ Phật giáo tu tập trong tự viện vào mùa hạ (từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7), không được ra ngoài du phương hành cước. ● 禁 足. 1. Chuyên ở một nơi để tham thiền, không ra ngoài hành cước du phương. ● 2. Theo nông lịch, từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7, các tu sĩ Phật giáo ở trong tự viện để tu tập, không được ra ngoài. ● 錦 包 特 石. Dùng tấm gấm để bọc tảng đá. Tỷ dụ ngoài mềm trong cứng, tức chỉ cho cơ pháp của Thiền Sư bên ngoài tuy mềm mỏng nhưng bên trong cứng rắn. Tắc 14, Thung Dung Lục (Đại 48, 135 hạ) ghi: “有 時 鐵 裏 錦 團、有 時 錦 包 特 石;以 剛 決 柔 則 故 是;逢 强 卽 弱 事 如 何? – Có khi cục bông trong khối sắt, có khi tảng đá được bọc gấm; lấy cứng thắng mềm là lẽ đương nhiên, còn việc gặp cứng liền mềm là thế nào?”. ● 錦 江 禪 燈. Đăng Lục, 10 quyển và mục lục 1 quyển, do Trượng Tuyết Thông Túy biên soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 145, trang 510. Tác giả sưu tập nhiều Sử truyện, Ngữ Lục của các nhà trong nhiều đời, rồi dựa theo thể lệ của bộ Chỉ Nguyệt Lục đem các tông họp chung một nguồn mà chẳng chia ngũ tông thất phái. Chủ yếu gom chép về các Thiền Sư xuất thân từ đất Thục nhưng lại hoằng dương Thiền Tông ở nơi khác, hoặc các vị quê quán ở khắp nơi nhưng thượng đường, tiểu tham, sự nghiệp, tụng cổ và dựng cờ pháp ở đất Thục, cho đến các vị cư sĩ hộ pháp trong triều ngoài nội, các Cao tăng ở ẩn nơi rừng núi, cơ duyên pháp ngữ của các thiền tăng, tính chung có trên 1. 000 vị. Trong ấy, từ Sơ Tổ Đạt Ma đến đời thứ 40 sau ngài Huệ Năng có khoảng trên 800 vị Thiền Sư. ● 筋 斗. Nhào lộn. Thiền Tông dùng từ này để hình dung trạng thái NGộ của người tham thiền. Thiền Quan Sách Tiến ghi: “疑 情 不 斷、切 切 用 心、不 覺 舉 步 翻 身、打 箇 懸 空 筋 斗、却 再 來 喫 棒。 – Nghi tình không dứt, khẩn thiết dụng tâm, bất giác cất bước, chuyển thân nhào lộn giữa hư không (NGộ), rồi trở lại đây ăn gậy”. ● 巾 侍. Còn gọi: Cân Bình. Ông tăng làm thị giả cho vị Trụ trì. Vì thị giả cần phải để ý đến khăn áo của Thiền Sư dùng hàng ngày nên mới có tên là Cân thị. Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “幼 事 翰 墨、冠 依 荼 陵 郁 禪 師 披 削、往 參 揚 楊 歧。。。巾 侍 之 久、辭 游 廬 阜。 – Lúc nhỏ theo việc văn chương, khi trưởng thành sư nương nơi Thiền Sư Trà Lăng Úc xuất gia rồi đến tham vấn Dương Kỳ… Trải qua một thời gian làm thị giả, sư từ giã đi đến Lô Sơn”. ● 勤 巴 子. Còn gọi: Ba Đầu Tử, Xuyên Cần. Chỉ cho Thiền Sư Viên Ngộ Khắc Cần (1603-1135), Cao tăng tông Lâm Tế sống vào đời Tống. Do vì trên đầu của Viên Ngộ có một vết sẹo hình chữ ba (巴) nên trong nhà Thiền gọi sư là Ba Đầu Tử. Có thuyết cho rằng do sư xuất thân ở xứ Ba Tây (Thành Đô), tỉnh Tứ Xuyên, nên mới được gọi là Cần Ba Tử, Xuyên Cần. ● 勤 舊. Chức sự tăng trong tự viện, như Tri Sự, Thị giả… sau khi nghỉ việc. Thông thường là những vị tham thiền đã lâu, có tư cách về tuổi tác. Mật Am Ngữ Lục ghi: “師 初 住 烏 巨、普 說:某 自 携 被 人 方 丈、經 五 十 日、未 曾 擧 著 方 丈 職、無 他、盖 此 間 有 數 人 勤 舊、皆 是 見 前 大 尊 宿 經 大 爐 鞴 中 鍛 爍 過 來、故 乃 縮 手。 – Sư mới trụ Ô Cự, lên pháp tòa thuyết pháp: Tôi tự dắt một người vào Phương trượng được năm mươi hôm rồi mà chưa từng cử chức Phương trượng cho ông ta, bởi vì trong đây có vài người cần cựu đều đã từng gặp các vị Tôn túc tiền bối, đã từng được hun đúc trong các lò rèn lớn, nên tôi mới co tay”. ● 給 侍. 1. Hầu hạ. Tiết Tín Tương Tông Hiển Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “師 給 侍 之 久、祖(指 五 祖 法 演)鍾 愛 之。 – Sư hầu hạ Tổ đã lâu, Tổ (Ngũ Tổ Pháp Diễn) một lòng yêu mến.” ● 2. Thị giả. Chương Tổ thứ 3 Thương Na Hòa Tu trong CĐTĐL q.1 ghi: “尊 者(指 商 那 和 修)化 緣 既 久 思 付 正 法。尋 於 吒 利 國 得 優 波 鞠 多 以 爲 給 侍。 – Tôn giả (Thương Na Hòa Tu) hóa duyên đã lâu, ngài muốn giao phó chính pháp nên tìm được Ưu Ba Cúc Đa ở nước Trá Lợi cho làm thị giả.” ● 詰 論. Bàn cãi, luận bàn. Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh Lược Tự: “正 月 八 日、會 印 宗 法 師、詰 論 玄 奧、印 宗 悟 契(指 慧 能)旨。 – Mùng 8 tháng giêng, Sư gặp Pháp sư ấn Tông, luận bàn lẽ huyền áo, ấn Tông khế ngộ được ý chỉ của Sư (Huệ Năng)”. ● 勾 當. Giải quyết. Tổ Đường Tập q. 6 ghi: “洞 山 和 尚:「 師 到 百 顏、顏 問:近 離 什 麼 處?師 曰:近 離 湖 南。顏 云:官 察 使 姓 什 麼?師 曰:不 得 他 姓。。。。顏 曰:合 勾 當 事 不?師 曰:自 有 郎 幕 在。」 – Hòa Thượng Động Sơn nói: Sư đến Bách Nhan, Nhan hỏi: Vừa rời chỗ nào? Sư đáp: Vừa rời Hồ Nam. Nhan hỏi: Quan sát sứ họ gì? Sư đáp: Không biết họ ông ta!… Nhan hỏi: Cùng giải quyết công việc chăng? Sư đáp: Tự có phó quan rồi!”. ● 搆、覯. Thấu suốt, lãnh ngộ. Tiết Huyền Sa Sư Bị trong NĐHN q.7 ghi: “我 如 今 恁 麼 方 便 助 汝、猶 尚 不 能 搆 得。可 中 純 擧 宗 乘、是 汝 向 甚 麼 處 安 措?還 會 麼? – Hôm nay tôi phương tiện giúp đỡ ông như thế mà ông còn chưa lãnh ngộ được. Nếu như tôi thuần cử dương Thiền Tông thì ông định đặt để vào đâu? Có hội chăng?”. ● 狗 子 佛 性 (346). Con chó có Phật tính. Công án nổi tiếng. Vào đời Đường, có vị tăng hỏi Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm: Con chó có Phật tính hay không? Triệu Châu đáp: Không. X. Triệu Châu cẩu tử. ● 針 錐. Gọi đủ: Đỉnh môn thượng nhất châm chùy. Lấy cây kim, cây dùi nhọn đâm vào đầu vào trán, ám chỉ thủ thuật của Thiền Sư khám nghiệm học nhân hay đối phương xem họ có trình độ lãnh hội thiền chỉ đến đâu. Tiết Hoàng Bá Hy Vận trong NĐHN q.4 ghi: “老 漢 行 腳 時、或 遇 草 根 下 有 一 箇 漢、便 從 頂 門 上 一 錐。看 他 若 知 痛 痒、可 以 布 袋 盛 米 供 養 他。 –Thuở lão tăng này còn đi hành cước, thảng gặp một người tại chốn cỏ rậm, thì phải lấy dùi nhọn đâm vào trán hắn, nếu thấy hắn có cảm giác biết đau ngứa thì mới đội bao tải gạo đến cúng dường cho hắn.” ● 針 芥 相 投. Duyên kim cải, nghĩa là hột cải ném ra ghim trúng đầu mũi kim, là một chuyện khó xảy ra. Nhà thiền mượn cụm từ này để chỉ thầy trò nhân duyên khế hợp thật đặc biệt hiếm thấy. Tiểu truyện Thiền Sư Tĩnh Lực trong TUTA ghi: “遊 學 時 遇 仙 遊 道 惠 針 芥 相 投 棲 心 佛 地。 – Khi du học, sư được gặp Thiền Sư Đạo Huệ ở Tiên Du, thầy trò nhân duyên khế hợp thật đặc biệt hiếm thấy bèn dốc lòng nương nhờ đất Phật.” ● 眞、眞. Chân dung. Tông Môn Võ Khố ghi: “眞 淨 和 尚。有 時 遽 喚 侍 者。將 老 和 尚 來。侍 者 將 南 禪 師 眞 展 開。 – Hòa Thượng Chân Tịnh có khi vội vã gọi thị giả: Hãy đem Lão hòa thượng lại! Thị giả đem chân dung của Thiền Sư Nam bày ra.” ● 眞 巴 鼻. Người thật sự có đủ cái lỗ mũi. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho bậc Đại trượng phu thật sự đại triệt ngộ. ● 眞 衍 (1621-1677). Thiền tăng đời Thanh, họ Hứa, tự Trúc Am, biệt hiệu Ngẫu Am, người xứ Trường Châu (nay là Tô Châu) Trung Quốc, nối pháp Mộc Trần Đạo Mân, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Ngữ Lục 2 quyển. ● 眞 道 無 體. Còn gọi: Chân Phật Vô Hình, Chân Pháp Vô Tướng. Đạo chân thật, không có hình thể cố định. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 眞 覺 禪 寺. Nằm ở trung tâm thành phố Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, tục gọi là “Đại Bi Các” do Nhữ Nam Vương Trương Nhu đời Nguyên xây cất. Niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh từng sửa chữa, niên hiệu Càn Long (1736-1795) sau khi bị hỏa thiêu xây cất lại, đổi tên là “Chân Giác Thiền Tự”. Sau khi cất lại nền đá cao thêm 20m, lại thêm lan can bằng đá cẩm thạch. Chùa quay lưng về hướng bắc nhìn về hướng nam, phía trước có môn điện ba gian, đông tây có lầu chuông trống và hành lang gấp khúc lượn vòng quanh đều ba gian. Gác cao 31m, ba mái, đỉnh lợp ngói. Trong gác có khung trang trí, xà nhà đều có đồ họa màu do Tô Thức vẽ. Văn nhân đời Nguyên là Lưu Nhân, văn nhân đời Thanh là Cao Quế, Trần Chính đều có đề vịnh. ● 眞 行. Còn gọi: Thị Chân Hành Giả. Chân: Chân ảnh của Tổ sư. Thị chân: Thị giả phục dịch ở Chân ảnh đường. Thị Chân Hành Giả là chức vụ dưới chức Thị chân, là vị cư sĩ phục vụ các việc lặt vặt nơi Chân ảnh đường. ● 眞 歇 清 了 禪 師 語 錄. Còn gọi: Ngộ Không Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Thanh Liễu soạn vào đời Tống, thị giả Đức Sơ và Nghĩa Sơ cùng biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 124, trang 619. Quyển thượng vốn có nhan đề “Kiếp Ngoại Lục”, gọi đủ là “Chân Châu Trường Lô Liễu Hòa Thượng Kiếp Ngoại Lục”. Nội dung gồm có: Các lời thượng đường, pháp yếu thị chúng, cơ duyên, kệ tụng, “Sùng Tiên Chân Hiết Liễu Thiền Sư tháp minh”. do Hoằng Trí Chính Giác soạn, Hoa Tạng vô tận đăng ký, Tịnh Độ tông yếu, câu truyện giữa Thuyền Tử và Giáp Sơn. Quyển hạ vốn có nhan đề “Chân Hiết Hòa Thượng Niêm Cổ”, là loại chú thích sớm nhất trong các sách chú sớ về Tín Tâm Minh. Cùng thời đại với Thanh Liễu có ngài Đại Huệ Tông Cảo cực lực đề xướng Khán thoại thiền, chê trách 2 ngài Thanh Liễu và Hoằng Trí chủ trương Mặc chiếu thiền. Thế nên, Thanh Liễu làm Tín Tâm Minh Niêm Cổ. nhằm phát huy huyền chỉ, chống lại sự chê bai của ngài Tông Cảo, cùng trình bày những sai lầm của người học đương thời và răn dạy những hành giả tham thiền mà không hiểu sự lý. Nội dung của Ngữ Lục này trình bày những cổ tắc của Thiền Tông, không giải thích về ngôn từ. ● 眞 形. Hình thể chân thật, chỉ cho thân chân thật vô tướng của Phật. Lâm Tế Lục dẫn bài tụng của Phó đại sĩ (Đại 47, 550 thượng) ghi: “有 身 非 覺 體。無 相 乃 眞 形。 – Có thân chẳng phải là giác thể, vô tướng mới là Chân hình”. ● 眞 慧 (1522-1567). Thiền tăng đời Minh, họ Phù, hiệu Ngu Xuyên, người xứ Trĩ Thành, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Ngọc Chi. Tác phẩm: Ngu Xuyên Cảo. ● 眞 可 (1543-1603). Thiền tăng đời Minh, họ Thẩm, tự Đạt Quan, hiệu Tử Bách Lão Nhân, Hám Hám Tử, Hám Hám Đà, người xứ Ngô Giang (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Tác phẩm: Tử Bách Tôn Giả Toàn Tập 30 quyển, Biệt Tập 4 quyển, Trường Tùng Nhự Thoái 2 quyển. Thiền tăng đời Minh, nối pháp Thiền Sư Viên Ngộ, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Tịch Vọng Cứu Chính. ● 眞 空 (1045-1100). 1. Thiền tăng đời Lý, thuộc thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 16. Sư họ Vương, tên Hải Thiềm, quê làng Phù Đổng huyện Tiên Du, miền Bắc Việt Nam. Sư từng trụ các nơi: Chùa Tĩnh Lự núi Đông Cứu, chùa Chúc Thánh núi Phổ Lại, chùa Bảo Cảm. Kệ thị tịch: 妙 本 虛 無 明 自 誇 和 風 吹 起 遍 娑 婆 人 人 盡 識 無 爲 樂 若 得 無 爲 始 是 家 Diệu bản hư vô minh tự khoa Hòa phong xuy khởi biến ta bà Nhân nhân tận thức vô vi lạc Nhược đắc vô vi thủy thị gia”. “Diệu tính rỗng rang rõ tự bày Gió lành chan rãi khắp ta bà Mọi người đều biết vui siêu thoát Nếu được vô vi mới phải nhà”. ● 2. Thiền viện nằm trên sườn ngọn núi Lớn (Tao Phùng Sơn), thuộc phường 6, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu,Việt Nam. Muốn lên thiền viện du khách từ đường Lê Lợi rẻ lên đường Viba độ 500 m có đường tẻ bên phải đi thêm 700 m đến nơi. Thiền viện mang tên một Thiền Sư Việt Nam sống vào đời Lý (thế kỷ XI) và do Hòa Thượng Thích Thanh Từ tạo lập vào tháng giêng năm 1970, là cái nôi của Thiền Tông Việt Nam vào cuối thế kỷ XX. Tiền thân của nó là Pháp Lạc Thất, được xây cất vào tháng 4 năm 1966, toàn bằng cây lá. Hòa Thượng Thanh Từ đã ẩn tu tại đây cho đến ngày mồng 8 tháng chạp năm 1969 thì ngài ra thất và thành lập thiền viện Chân Không để tiếp độ Tăng Ni… Toàn thể khuôn viên nằm trên diện tích khoảng 2 mẫu, hướng đông giáp miếu bà Sùng Chính nhìn xuống mặt đường Lê Lợi, hướng tây giáp rừng đến đỉnh núi tức sau lưng chùa là vách núi, hướng nam giáp rừng hoang Tỳ Ni Đa Lưu Chi đối mặt chênh chếch hướng nam là ngọn núi Nhỏ hướng bắc giáp vườn cây và đường lên thiền viện. Từ cổng tam quan bước vào, du khách sẽ gặp ngay thiền vịện ni, theo tam cấp của đồi sứ quý vị sẽ đến Nhà khách. Từ Nhà khách theo đường Tiêu Dao để đến đồi Tự Tại, đứng trên đồi có thể nhìn thấy bao quát thành phố Vũng Tàu; xoay ngược tầm mắt vào núi, du khách sẽ thấy ngôi chính điện sừng sững uy nghiêm giữa rừng tràm xanh mát. Qua một khoảng sân hoa kiểng là đến một tòa nhà 2 tầng: Bên dưới là Tổ đường và Trai đường, bên trên là Tăng đường và phòng của Hòa Thượng Viện trưởng. Sau Trai đường là nhà bếp. Từ đây có đường Đại Mai dẫn lên khu thiền thất. Khu vực này được khởi công xây dựng vào năm 1973, đầu tiên là thất Hòa Thượng Viện Chủ (cũ) rồi đến thất của Hòa Thượng Bửu Huệ và 5 ngôi thiền thất của chư tăng khóa I & II. Hiện tại thiền viện Chân Không đang trong giai đoạn trùng tu, khởi công từ mùng 4 tháng 8 năm Đinh Hợi (1995) đến nay sắp hoàn thành. ● 眞 金 鋪. Tiệm bán vàng ròng. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để khen ngợi sự mở rộng Thiền phong. Tiết Dược Sơn Duy Nghiễm trong Tổ Đường Tập ghi: “有 一 日 造 書、書 上 說:石 頭 是 眞 金 鋪、江 西 是 雜 貨 鋪。 – Một hôm sư viết thư, trong thư nói: Thạch Đầu là tiệm bán vàng ròng, còn Giang Tây là tiệm bán tạp hóa”. ● 眞 金 失 色. Vàng ròng mất màu. Thiền Tông mượn cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ cho người tu thiền ngộ đạo có huyền cơ diệu dụng linh hoạt, thậm chí có thể làm cho vàng ròng bị mất màu. Người đạt đạo có cơ dụng nhanh khéo, sống động, có thể quở Phật bác Tổ, hoặc nắm chặt một vật, hoặc buông đi tất cả, hóa thân vàng một trượng sáu thành một cọng cỏ. Tắc 31, Bích Nham Lục (Đại 48, 170 thượng) ghi: “放 行 也、瓦 礫 生 光。把 定 也、眞 金 失 色。 – Lúc buông thả thì gạch ngói sáng ngời. Khi nắm chặt thì vàng ròng mất màu”. ● 眞 源 (1647-1726). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 36, nối pháp Thiền Sư Minh Lương. Sư họ Nguyễn tên Nghiêm, tên chữ là Đình Lân, hiệu Tuệ Đăng, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam. Sư trụ trì chùa Long Động và chùa Quỳnh Lâm, là 2 ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm. Kệ thị tịch: 顯 赫 分 明 十 二 時 此 之 自 性 任 施 爲 六 根 運 用 眞 常 見 萬 法 縱 橫 正 遍 知 “Hiển hách phân minh thập nhị thì Thử chi tự tính nhậm thi vi Lục căn vận dụng chân thường kiến Vạn pháp tung hoành chính biến tri”. “Bày hiện rõ ràng được suốt ngày Đây là tự tính mặc phô bày Chân thường ứng dụng sáu căn thấy Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay”. Tác phẩm (Về Thiền) có: ― Thiền Tông Bản Hạnh. ― Thiền Tịch Phú. ● 眞 嶽. Thiền tăng đời Minh, họ Khổng, tự Ngũ Phong, người xứ Sơn Đông, Trung Quốc. ● 眞 風 度 籥. ống thụt lửa của thợ rèn. Thiền Tông mượn cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ cho bậc sư gia sử dụng thủ đoạn khốc liệt, hành vi tàn nhẫn để rèn luyện người học trở thành pháp khí, cũng như người thợ rèn dùng ống thụt lửa để rèn thanh sắt làm thành món đồ hữu dụng. Bài tụng trong tắc 86, Thung Dung Lục (Đại 48, 283 thượng) ghi: 九 包 之 鶵、千 里 之 鴝 眞 風 度 籥、靈 機 發 樞。 “Cửu bao chi sồ, thiên lý chi câu Chân phong độ thược, linh cơ phát xu” “Chim đủ lông cánh, ngựa hay ngàn dặm Thủ đoạn bậc thầy, khởi động máy linh”. ● 眞 過. Cảnh giới đại triệt đại ngộ. Ai đạt đến cảnh giới này thì nhất định đã vượt qua cảnh giới của hàng Hữu học Vô học. Tắc 44, Bích Nham Lục (Đại 48, 180 hạ) ghi: “和 山 垂 語 云:習 學 謂 之 聞、絕 學 謂 之 隣、過 此 二 者、是 爲 眞 過。 – Hòa Sơn dạy rằng: Tập học gọi là Nghe, tuyệt học gọi là Gần, qua được hai thứ đó gọi là Chân quá”. ● 眞 清 (1537-1593). Thiền tăng đời Minh, họ La, tự Tượng Tiên, người xứ Tương Đàm (nay thuộc Hồ Nam) Trung Quốc, nối pháp Hòa Thượng Bảo Châu. ● 眞 實 人 體. Còn gọi: Chân Thật Thể. Bất cứ ở đâu, lúc nào cũng đều có thể sống hoàn toàn với bản lai diện mục của chính mình. Thuật ngữ này còn biểu thị ý nghĩa Phật pháp hiển bày không giấu giếm. Tiết An Quốc Huệ Cầu trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (Đại 51, 372 hạ) ghi: “師 問 了 院 主:只 如 先 師 道、盡 十 方 世 界 是 眞 實 人 體、爾 還 見 僧 堂 麼? – Sư hỏi Viện chủ Liễu: Như Tiên sư nói: Khắp mười phương thế giới là chân thật nhân thể. Ông có thấy tăng đường chăng?”. ● 眞 鍮 不 愽 金. Thau không đổi được vàng. Chân thâu: Thau, là kim loại có lớp vỏ bên ngoài rất giống vàng nhưng giá trị của nó không bằng vàng nên không thay thế cho vàng được. Thiền Tông dùng cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ rõ: Trí và ngu, Chính và tà có giá trị khác nhau và không thay thế cho nhau được. ● 眞 禪 (1916-). Tăng nhân hiện đại, họ Vương, tên Hạc Thọ, người huyện Đông Đài tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, đệ tử của pháp sư ứng Từ. Tác phẩm: Ngọc Phật Trượng Thất Tập, Luận văn “Bồ Đề Đạt Ma đích sinh bình hòa Thiền pháp”. ● 眞 寂 (?-820). Thiền tăng đời Đường, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. ● 眞 中 (?-1627). Thiền tăng đời Minh, họ Tôn, tự Quýnh Tuyền, người xứ Hải Ninh (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thiên Tùng. ● 眞 傳 (1625-1678). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, hiệu Mật ấn, người xứ Tự Châu (nay là huyện Nghi Tân, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Linh ẩn ấn Văn, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Mật Ấn Thiền Sư Ngữ Lục 12 quyển. ● 振 朗. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thạch Đầu Hy Thiên, pháp hệ Thanh Nguyên. Người đời gọi sư là “Tiểu Lãng Thiền Sư”. ● 振 風 塔. Tháp nằm trong Nghinh Giang Thiền Tự, thành phố An Khánh, tỉnh An Huy, Trung Quốc, xây dựng vào niên hiện Long Khánh thứ 4 (1570) đời Minh. Tháp là kết cấu gạch đá bảy tầng theo kiểu lâu các, cao khoảng 70m, mỗi tầng đều có treo linh đồng, gió thổi linh kêu giòn giã vui tai. Trong tháp có khắc nổi 600 tượng Phật, bia khắc có 51 tấm. Trong tháp có bậc thềm đi vòng vèo lên đến đỉnh tháp. Cửa mỗi tầng biến hóa phức tạp, bên ngoài mỗi tầng đều có lan can bằng đá bao quanh. Mỗi tầng thân tháp có đặt đèn lồng, giống như một tháp đèn hiệu dẫn đường cho tàu thuyền. Cổ nhân có làm thơ vịnh tháp này như sau: “Bát diện lăng không bát diện song, nguy lan thất cấp mạt tà dương. Điểm nhiên bách bát đăng khám hỏa, chỉ dẫn thiên phàm dạ cánh hàng.” (Tám mặt chọc trời tám mặt song, lan can bảy cấp xóa tà dương. Thắp trăm linh tám ngọn đèn tháp, dẫn dắt thuyền bè vượt qua đêm. ) ● 振 觸. Còn gọi: Trành Xúc. Đụng phải, chạm phải. Tiết Dược Sơn Duy Nghiễm Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “祖 師 只 教 保 護、若 貪 瞋 癡 起 來、切 須 防 禁、莫 教 振 觸。 – Tổ sư chỉ bảo giữ gìn, nếu tham sân si khởi lên thì cần phải đề phòng, chớ cho đụng phải.” ● 執 拂 柄. Chỉ vị Trụ trì tự viện thuyết pháp cho đại chúng nghe. Bài “Tự Tự” của bộ Nhân Thiên Nhãn Mục ghi: “若 其 執 拂 柄 据 師 位 者、外 是 則 無 以 辯 驗 邪 正 也。有 識 博 聞 者、必 垂 印 可。 – Nếu sư làm Trụ trì tự viện thuyết pháp cho đại chúng nghe thì y cứ theo thầy của mình. Ngoài ra bởi không phân biệt được tà chính nên hễ người nào học rộng nghe nhiều tất được sư ấn khả”. ● 祗 準. Còn gọi: Chi Nghĩ, Chi Khiển. ứng phó, đối phó. Tiết Diên Khánh Khả Phục Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “胡 來 胡 現、漢 來 漢 現。忽 然 胡 漢 俱 來 時、如 何 祗 準? – Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Chợt khi Hồ Hán cùng đến thì làm sao đối phó?” ● 支 提 寺. Còn gọi: Hoa Nghiêm Tự. Chùa nằm ở mặt Tây núi Chi Đề, huyện Ninh Đức, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Niên hiệu Khai Bảo thứ 4 (971) đời Tống, Ngô Việt Vương Tiền Thúc sáng lập. Đời Tống gọi là “Ung Hy Tự”, Thiền Sư Biện Long tông Pháp Nhãn trụ chùa này. Vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 28 (1158) khi Lục Du nhậm chức Chủ bạ ở Ninh Đức cũng đến dạo chơi chùa Chi Đề và có làm bài thơ “Ung Hy tự dữ tăng dạ thoại 雍 熙 寺 與 僧 夜 話”: “高 名 每 慣 習 鑿 齒、巨 眼 適 逢 友 遁 林。共 話 不 知 紅 燭 短、對 床 空 談 白 雲 深。眼 前 鐘 鼓 何 曾 隱、匝 地 毫 光 不 用 尋。欲 識 天 冠 眞 面 目、烏 啼 猿 嘯 總 知 音。 Cao danh mỗi quán Tập Tạc Xỉ, cự nhãn thích phùng Hữu Độn Lâm. Cộng thoại bất tri hồng chúc đoản, đối sàng không đàm bạch vân thâm. Nhãn tiền chung cổ hà tằng ẩn, táp địa hào quang bất dụng tầm. Dục thức thiên quan chân diện mục, điểu đề viên tiếu tổng tri âm.” (Cao danh thường quen Tập Tạc Xỉ, Cự nhãn vừa gặp Hữu Độn Lâm. Cùng nói chẳng hay đuốc hồng ngắn, đôi giường nói rỗng mây trắng sâu. Chuông trống trước mặt chưa hề ẩn, hào quang khắp đất chẳng cần tìm. Muốn biết thiên quan chân diện mục, chim kêu vượn hú thảy tri âm). Đầu nhà Nguyên chùa bị phá hủy bởi binh lửa, Nguyên Thế Tổ sai tăng trùng tu, trải qua 15 năm mới xong. Khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) đời Minh triều đình sai Thái giám Chí Sơn Gian xây cất đại điện, ban cho tấm biển “Hoa Tạng Tự”. Đời Minh chùa Chi Đề đứng dưới 30 tự viện, đây là thời kỳ hưng thịnh nhất. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 25 (1597) vua ban tặng một tòa bệ ngàn Phật Tỳ lô đúc đồng pha vàng đặt giữa đại điện. Bệ Phật hình tròn hai tầng rỗng ruột, cao hơn 2m, nặng hơn 1000 cân. Tầng đáy xung quanh tòa có 20 vòng, mỗi vòng nở ra hoa sen 50 cánh, mỗi cánh khắc nổi một tượng Phật nhỏ cao 6 cm. Tầng trên đặt tượng Tỳ lô giá na Phật, đầu đội kim quan, tay cầm “Tỳ lô”, là tư thế tọa thiền nhập định, đến nay vẫn xanh vàng rực rỡ. Kiến trúc tự viện gồm có Đại hùng bảo điện, Thiên vương điện, Tổ sư điện, Già lam từ, Tàng kinh các, Cổâ lâu, Trai đường, Sơn môn. Đại hùng bảo điện do Hòa Thượng Đại Thiên phụng chỉ xây dựng lại vào niên hiệu Vạn Lịch (1573-1620) đời Minh. Đại điện bố cục nghiêm chỉnh đoan trang, rường cột khắc họa tinh mỹ tuyệt luân. Trên sơn môn có treo tấm biển “Thiên Hạ Đệ Nhất Danh Sơn”, do vua nhà Minh ban tặng. Xung quanh chùa điểm xuyết điện các môn lâu, đình kiều cung quán, vàng xanh rực rỡ, rừng núi tôn vẻ đẹp cho nhau. Trong kinh Hoa Nghiêm có câu: “Chưa đến Chi Đề uổng làm tăng”, cho nên tăng lữ khắp mọi nơi đều lên núi chiêm bái, lúc thịnh nhất chư tăng ở đây hơn ngàn người. ● 支 當. ứng phó, gánh vác. Tiết Khai Thiện Đạo Khiêm Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “開 善 道 謙 禪 師 曰:途 中 可 替 底 事、我 盡 替 你。只 有 五 件 事 替 你 不 得、你 須 自 家 支 當。 – Thiền Sư Khai Thiện Đạo Khiêm nói: Việc giữa đường có thể thay thế, ta sẽ hết lòng thay cho ông, nhưng có năm việc mà ta không thể thay cho ông được, ông phải tự mình gánh vác”. ● 支 荷. Còn gọi: Chi Khiển. ứng phó, đối phó. Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “忽 然 無 常 殺 鬼 到 來、眼 目 譸 張、身 見 命 見、恁 麼 時 大 難 支 荷、如 生 龜 脫 殼 相 似、大 苦! – Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị nói: Chợt quỷ vô thường giết người đến, tai mắt bị dối lừa,chấp lấy thân mạng là thật. Chính khi ấy đối phó với cái chết giống như con rùa còn sống bị lột mai, rất khổ!”. ● 支 遣. ứng phó, đối phó. Tiết Đại Tùy Nguyên Tĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “忽 遇 殺 佛 殺 祖 底 來、又 作 麼 生 支 遣? – Chợt gặp kẻ giết Phật giết Tổ đến, phải làm sao đối phó?” ● 支 吾. Gắng sức, đối phó. Tiết Long Môn Thanh Viễn Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “師 嘗 題 語 於 龍 門 延 壽 壁 間 曰:。。。其 實 使 人 了 生 死 處 也。多 見 少 覺、微 恙 便 入 此 堂、不 強 支 吾、便 有 補 益。 – Sư từng đề lên vách Diên thọ đường của chùa Long Môn như sau … Kỳ thực là khiến cho người biết rõ chỗ sinh tử, mà kiến giải thì nhiều, giác ngộ lại ít. Người bệnh nhẹ vào nhà này, chẳng ép buộc phải gắng sức, liền có bổ ích.” ● 誌. Lời dự đoán. Tiết Long Hưng Tông Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “嘗於 眾 堂 中 袒 一 膊 釘 簾、峰(指 雪 峰 和 尚)睹 而 記 曰:汝 向 後 住 持 有 千 僧、其 中 無 一 人 衲 子 也。師 悔 過 回 浙、住 六 通 院、錢 王 命 居 龍 興 寺、有 眾 千 餘、唯 三 學 講 誦 之 徒、果 如 雪 峰 所 誌。 – Sư từng ở nơi pháp đường để lộ cánh tay cuồn cuộn bắp thịt, Tuyết Phong nhìn thấy mà thọ ký rằng: Ngươi về sau trụ trì có ngàn tăng chúng nhưng không có một vị tăng hành cước. Sư hối lỗi trở về Chiết Giang, trụ viện Lục Thông, Tiền Vương ra lệnh bảo sư ở chùa Long Hưng, có hơn ngàn tăng chúng, nhưng chỉ có ba người đồ đệ học giảng tụng, quả đúng như lời dự đoán của Tuyết Phong.” ● 志 恩. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Bạch Long Đạo Hy. Sư trụ Linh Phong, Phúc Châu. ● 志 勤. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Hứa, người xứ Trường Khê (nay là huyện Hà Phổ, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Trường Khánh Đại An. Sư trụ núi Linh Vân, Phúc Châu nên còn được gọi là Thiền Sư Linh Vân. ● 至 眞 禪 師. Thụy hiệu của thiền tăng Trí Thường, đời Đường. X. Trí Thường. ● 志 道. Thiền tăng đời Đường, người xứ Nam Hải (nay là Quảng Châu) Trung Quốc, nối pháp Lục tổ Huệ Năng. ● 志 端 (892-969). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Du, người Phúc Châu, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư An Quốc Hoằng Đạo. Sư trụ viện Thụy Phong núi Lâm Dương. ● 至 德 大 師. Hiệu của Thiền tăng Quang Tự đời Ngũ Đại. X. Quang Tự. ● 志 罕. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Chí Nguyên. ● 至 明. 1. Thiền tăng đời Nguyên, (1230-1315), họ Hoàng, tự Thiết Cảnh, người xứ Phúc Đường (nay là huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến), Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Yển Khê Văn. ● 2. Thiền Sư Trung Quốc, sống vào đời Kim, người An Châu (nay là huyện An Tân, tỉnh Hà Bắc) họ Hác, tự Bá Hôn, hiệu Thác Am, Lạc Chân Tử. Sư xuất gia thụ giới với ngài Hương Lâm Tịnh. Sau, sư tham yết ngài Thắng Tĩnh Phổ và được nối pháp. Sư trụ chùa Thiếu Lâm, núi Tung Sơn, được người đời gọi là Thác Am Chí Minh. Năm 1125, sư sưu tập những bài tiểu sử nói về công hạnh và đức nghiệp của Chư gia trong thiền lâm để soạn thành bộ Thiền Uyển Mông Cầu, còn gọi là Thiền Uyển Dao Lâm (Vườn Thiền Rừng Ngọc) gồm 3 quyển, là sách tham khảo quan trọng giúp người mới học biết rõ đường hướng tu hành. ● 志 元. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư, pháp hệ Thanh Nguyên. Thụy hiệu “Viên Tịnh Đại Sư”. ● 志 仁. Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Ngô, tự Hành Trung, hiệu Hy Di Tẩu, Đạm Cư Tử, người xứ Bà Dương (nay là huyện Bà Dương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hạnh Đoan, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Đạm Cư Cảo. ● 志 閑 (?-895). Thiền tăng đời Đường, họ Sử, người xứ Quán Khê (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nghĩa Huyền, tông Lâm Tế. ● 志 溫 (1217-1267). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hác, tự Kỳ Ngọc, hiệu Toàn Nhất, người xứ Hình Châu (nay là huyện Hình Đài, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, nối pháp tông Tào Động. Thụy hiệu: Phật Quốc Phổ An Đại Thiền Sư. ● 志 逢 (909-985). Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Dư Hàng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Ngô Việt Vương ban hiệu “Phổ Giác Thiền Sư “. ● 志 超. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Vân Cư Thanh Tích, tông Pháp Nhãn. ● 至 神. Chỉ cho tự tính. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Thiền Sư Trung Phong Minh Bản ghi: “師 曠 無 耳、至 神 無 體、靈 源 無 底、達 磨 安 得 有 所 謂 相 傳 之 髓。 – Sư Khoáng không lỗ tai, Tự tính không bản thể, nguồn linh không có đáy, Đạt Ma truyền tủy đâu thể được”. ● 志 誠. 1. Thiền tăng đời Đường, người xứ Thái Hòa (nay thuộc Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Lục tổ Huệ Năng. ● 2. Thiền tăng thời Pháp thuộc (1861-1933), thuộc tông tông Lâm Tế. Sư tên Nguyễn Văn Hiển, con của Hộ quốc Công Nguyễn Công Thành, người xã Viên Sơn, huyện Di Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Sư là người đích thân ủng hộ và vận động Phật tử giúp đỡ cho Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học. ● 志 徹. Thiền tăng đời Đường, họ Trương, tên Hành Xương, nối pháp Lục tổ Huệ Năng. ● 志 忠. X: Huệ Trung. ● 志 文 (935-995). Thiền tăng đời Đường, họ Hứa, người Thủy Hưng, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Chí Tường làm truyền nhân tông Vân Môn đời thứ 3. ● 志 圓. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Cảm Đàm Tư Quốc. Nam Đường Chủ ban cho hiệu “Hiển Giáo Đại Sư”. ● 志 遠 (768-844). Thiền tăng đời Đường, họ Tống, người Nhữ Nam (nay là chỗ giáp ranh giữa huyện Diệp và huyện Bảo Phong thuộc Lổ Sơn, Hà Nam), Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Trí Như, làm truyền nhân tông Hà Trạch đời thứ 4, trụ trì chùa Đại Hoa Nghiêm ở núi Ngũ Đài (tại Sơn Tây) ● 志 遠 和 尚 墓 塔. Nằm trong quần thể tháp phía sau đại điện chùa Phật Quang thuộc Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Tháp được xây vào niên hiệu Hội Xương thứ (844) đời Đường, là mộ tháp của Hòa Thượng Chí Viễn, đệ tử của ngài Thần Hội. Tháp xây gạch, phần dưới là tòa Tu Di hình bát giác cao lớn, giống như tòa Tu Di cao lớn của tháp Thiền Sư Tịnh Tạng, tháp Thiền Sư Phiếm Chu. Trên tòa Tu Di là thân tháp hình chiếc bát úp. Bốn mặt chiếc bát úp đều có xây một cửa giả, cửa hình vòm, má cửa và ngạch cửa làm bằng đá, nay đã bị hư hại. Trên đỉnh thân tháp hình chiếc bát úp vốn có tháp sát, hiện đã bị phá hủy, hình thù gốc không ai biết rõ. Song sát tòa vẫn còn là tòa Tu Di hình bẹt. Tháp cao khoảng 5m tạo dáng trong sáng, hình thể đẹp đẽ thanh tú. Tháp đời Đường này chỉ còn trong nước có giá trị nghiên cứu quý báu. ● 指 竿 針 鎚. Những phương pháp mà bậc thầy sử dụng khi tiếp hóa người học. Đang lúc Thầy chỉ dạy, hoặc dùng ngón tay (chỉ) như ngón tay của ngài Câu Chi, hay dùng cây sào (can) của tông Lâm Tế, hay dùng cây kim (châm) cây dùi (chùy) để đâm vào đầu vào trán của học nhân nhằm khám nghiệm trình độ lãnh hội Phật pháp nơi họ. Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (Đại 82, 1 trung) ghi: “況 復 拈 指 竿 針 鎚 之 轉 機、舉 拂 舉 棒 喝 之 證 契、是 思 量 分 別 之 所 能 解 也。 – Lại nữa, cách chuyển cơ dùng Chỉ Can Châm Chùy (ngón tay, sào, kim, dùi) hoặc nêu lên sự khế chứng bằng tát, đấm, đánh, hét mà trí suy nghĩ phân biệt chưa thể hiểu biết được”. ● 指 注. Chỉ trích, bình nghị. Bích Nham Lục quyển 1 ghi: “只 這 「日 面 佛 月 面 佛」 極 是 難 見。雪 竇 到 此 亦 是 難 頌。却 爲 他 見 得 透、用 盡 平 生 工 夫 指 注 他。 – Nhưng cảnh giới Nhật Diện Phật Nguyệt Diện Phật này rất khó thấy được. Tuyết Đậu đến đây cũng khó tụng ra chỗ kì diệu. Song vì sư đã thấy thấu suốt nên đem hết sức bình sinh công phu ra bình nghị”. ● 只 嬴 得 眼 睛 也 落 地. Chỉ còn đôi mắt cũng bị mù. Do chẳng hiểu Phật lý, lầm giảng nói Phật pháp mà bị quả báo rụng lông mày, râu ria, hơn nữa, đôi mắt cũng bị mù. Tắc 8, Bích Nham Lục (Đại 48, 148 trung) ghi: “翠 喦 夏 末 示 衆 云:一 夏 以 來 爲 兄 弟 說 話(開 口 焉 知 恁 麼?)看 翠 喦 眉 毛 在 麼?(只 嬴 得 眼 睛 也 落 地 和 鼻 孔 也 失 了。) – Cuối hạ, Thúy Nham dạy chúng: Một hạ đã qua, tôi nói cho các huynh đệ nghe (Mở miệng đâu biết nói gì?) Hãy xem lông mày Thúy Nham ở đâu? (Chỉ còn đôi mắt sáng cũng bị mù và lỗ mũi cũng mất nốt)”. ● 只 得 一 橛. Chỉ còn một cái chốt cửa. Quyết vốn chỉ cho cái chốt cửa bằng gỗ, thông thường muốn gài cửa phải dùng một cặp mới có tác dụng. Thiền Tông dùng cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ cho người mới chứng đắc có một nửa, hoặc sự hiểu biết có một nửa, chưa thể dùng được. Tắc 6, Thung Dung Lục (Đại 48, 231 thượng) ghi: “堂 堂 坐 斷 舌 頭 路(一 死 不 再 活)。應 笑 毘 耶 老 古 錐(只 得 一 橛)。 – Đường đường quét sạch nẻo ngữ ngôn (một phen chết đi chẳng sống lại). Nên cười ông lão thành Tỳ Da (chứng đắc chỉ có một nửa)”. ● 指 頭 有 眼. Đầu ngón tay có mắt. Thuật ngữ hình dung cho sự khai thị sáng suốt. Tắc 42, Bích Nham Lục (Đại 48, 178 trung) ghi: “好 雪 片 片、不 落 別 處(無 風 起 浪、指 頭 有 眼。) – Mảnh mảnh tuyết trắng, chẳng rơi đâu khác (tự nhiên sinh sự, nhưng vẫn là một cách khai thị sáng suốt)”. ● 指 東 指 西. Hành động hay lời nói lòng vòng, quanh co. CĐTĐL q.8 (Đại 51, 258 thượng) ghi: “師 云:不 用 指 東 指 西、直 下 本 分 事 道 來! – Sư (Triệu Châu) nói: Chẳng cần nói quanh co, hãy ngay nơi bản phận sự mà nói coi!” ● 指 東 作 西. Còn gọi: Chỉ Đông Hoạch Tây. Cho hướng Đông là hướng Tây. Chỉ cho sự hiểu lầm chân lý. Tắc 18, Bích Nham Lục (Đại 48, 157 hạ) ghi: “肅 宗 皇 帝 問 忠 國 師:百 年 後 所 須 何 物?(預 搔 待 痒、果 然 起 摸 畫 樣 老 老 大 大 作 這 去 就。不 可 指 東 作 西。) – Đường Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ Trung: Sau khi viên tịch Ngài cần vật gì? (Gãi trước khi ngứa, rõ là bày vẽ, thật lẩn thẩn khi nghĩ ra việc này. Không thể chỉ đông mà làm tây)”. ● 指 胸 點 肋. Còn gọi: Điểm Hung Điểm Lặc. Động tác cao ngạo, phách lối. Tự cao tự đại. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “尒 諸 處 只 指 胸 點 肋、道 我 解 禪 解 道。 – Các ông tự cao tự đại nói mình hiểu thiền hiểu đạo”. ● 只 許 老 胡 知 不 許 老 胡 會. Chỉ cho lão Hồ biết, chẳng cho lão Hồ hiểu. Lão Hồ tức Sơ tổ Thiền Tông Trung Quốc Bồ Đề Đạt Ma. Tổ là người Nam Thiên Trúc, Trung Quốc quen gọi những người dị tộc từ hướng tây đến là người Hồ, Thiền Tông cũng nhân đó gọi đùa Tổ Đạt Ma là lão Hồ. Biết của lão Hồ, tức chỉ cho Trí của Đạt Ma, nhưng ở đây còn có nghĩa thể nhận được chân lý, khế hợp với chân trí. Hiểu của lão Hồ, tức qua tác dụng của phân biệt phán đoán mới hội giải chân trí. Đối với ý nghĩa cứu cánh của Thiền, phải dùng chân trí để thể nhập, khế ngộ, mà không cho lấy thế trí biện thông làm công phu phân biệt phán đoán. Dù cho là Tổ sư Đạt Ma cũng không dùng thế trí để hiểu được chỗ cứu cánh này. Tắc 51, Bích Nham Lục (Đại 48, 186 hạ) ghi: “諸 人 要 會 末 後 句 麼?只 許 老 胡 知、不 許 老 胡 會。自 古 及 今、公 案 萬 別 千 差、如 荊 棘 林 相 似。 – Các ông muốn ngộ câu rốt sau không? Chỉ cho lão Hồ biết, không cho lão Hồ hiểu. Từ xưa đến nay, công án sai khác rất nhiều, giống như rừng gai góc”. ● 指 南. Theo một định hướng đã có sẵn. CĐTĐL q.51, 258 thượng) ghi: “僧 問:師 歸 丈 室、相 何 指 南?師(趙 州)云;昨 夜 三 更 失 却 牛、天 明 失 却 火。 – Vị tăng hỏi: Sư quay về trượng thất, ý chỉ hướng điều gì? Sư (Triệu Châu) đáp: Nửa đêm hôm qua mất trâu, rạng ngày bị hỏa hoạn.” ● 指 月 錄. Gọi đủ: Thủy Nguyệt Trai Chỉ Nguyệt Lục. Đăng Lục 32 quyển, do Cù Nhữ Tắc soạn vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 143, trang 1. Nội dung tóm lược ngôn hạnh của 650 vị kể từ 7 vị Phật thời quá khứ đến ngài Đại Huệ Tông Cảo. Quyển 1- 3: bảy vị Phật quá khứ đến 28 vị Tổ ấn Độ. Quyển 4: Các Tổ sư Đông Độ. Quyển 5-30: Đời thứ nhất đến đời thứ 16 sau Huệ Năng. Quyển 31, 32: Ngữ Lục của Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo. Đây là tác phẩm của một nhà Nho bàn về Thiền, ý chính là muốn dung hợp Thiền và Nho, chẳng những ghi lại lịch sử truyền pháp của Thiền Tông mà còn muốn cho người xem qua sách này được minh tâm kiến đạo. Cách sắp xếp tài liệu và ngôn từ biểu đạt có sức hấp dẫn rất mạnh, là 1 bộ sách Thiền học được 2 giới Tăng Tục cùng thưởng thức, được lưu truyền rộng rãi. Đời Thanh, Niếp Tiên soạn “Tục Chỉ Nguyệt Lục” 21 quyển, cũng được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 143, trang 744. ● 只 如 (k. ng). 1. Thế thì. Đặt ở đầu câu nghi vấn, biểu thị ngữ khí thừa tiếp. Ngũ Đăng Hội Nguyên q.6 ghi: “先 淨 照 禪 師、問 楞 巖 大 師:經 中 道:若 能 轉 物、即 同 如 來。若 被 物 轉、即 名 凡 夫。祇 如 昇 元 閣 作 麼 生 轉? – Ban đầu Thiền Sư Tịnh Chiếu hỏi Đại sư Lăng Nham: Trong kinh nói: Nếu chuyển được vật tức đồng Như Lai, còn nếu bị vật chuyển thì gọi là phàm phu? Thế thì làm sao chuyển được cái gác Thăng Nguyên?” ● 2. Ngay như. Đặt ở đầu phân câu chính, có tác dụng chỉ ra nội dung chủ yếu của câu nghi vấn. NĐHN q.16 ghi: “只 如 聖 凡 雙 泯、迷 悟 俱 忘、一 句 作 麼 生 道? – Ngay như lúc Thánh phàm bặt dứt, mê ngộ đều quên làm sao nói lấy một câu?”. ● 3. Còn gọi: Thả như (Chẳng hạn như). Đặt ở đầu câu nghi vấn. NĐHN q.20 ghi: “且 如 臨 濟 悟 去、是 得 黃 蘗 力、是 得 大 愚 力? – Chẳng hạn như việc Lâm Tế ngộ đó, là do sức của Hoàng Bá hay của Đại Ngu?”. ● 只 管 打 坐. Nhất tâm chuyên ý ngồi thiền, chẳng quản đến việc gì khác, mà chỉ tọa thiền trên lập trường vô sở đắc vô sở ngộ. Thiền Sư Đạo Nguyên, Khai tổ Tông Tào Động Nhật Bản tiếp nhận truyền thống Thiền Mặc Chiếu của Trung Hoa, nhận lấy ý chỉ “Tham thiền tức tọa thiền” của ngài Thiên Đồng Như Tịnh và nhấn mạnh đến pháp môn “Chỉ quản đả tọa”. Chính Pháp Nhãn Tạng q.72 (Đại 32, 243 hạ) ghi: “先 師 古 佛 云:參 禪 者、身 心 脫 落 也。只 管 打 坐 始 得、不 要 燒 香、禮 拜、念 佛、修 懺、看 經。 – Cổ Phật tiên sư nói: Người tham thiền phải quên hết thân tâm, nhất tâm chuyên ý ngồi thiền, vô sở đắc, vô sở ngộ mới được, chẳng cần đốt hương, lễ bái, niệm Phật, tu sám, xem kinh”. ● 折 合 (252). 1. Kết quả. Như Tịnh Ngữ Lục q.hạ ghi: “過 去 諸 如 來、斯 門 已 敗 缺;現 在 諸 菩 薩、今 各 無 折 合;未 來 修 學 人、切 忌 顛 倒 走。 – Chư Phật quá khứ đã bị thua nơi cửa này; chư Bồ tát hiện tại đều không có kết quả; người tu học vị lai cần phải tránh sự điên đảo.” ● 2. ứng phó, đối phó. Tiết Minh Chiêu Đức Khiêm Thiền Sư trong LĐHY q.25 ghi: “擘 脊 與 一 棒、看 他 如 何 折 合。 – Đánh một gậy vào xương sống để xem ông ta làm sao đối phó.” ● 折 床 會. Thiền tăng Như Hội đời Đường được chúng tăng ngưỡng mộ, chúng tăng yết kiến thỉnh ích, cứ mỗi lần chúng đến, thất không thể chứa đủ, thiền sàng trong tăng đường bị trũng gãy, nên thời ấy gọi ngài là “Chiết sàng Hội” (ông Hội gãy giường). X. Như Hội. ● 昭 覺 寺. Chùa ở ngoại ô cách thành phố Thành Đô 5km về phía Bắc, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, thường gọi là “Tứ Xuyên Đệ Nhất Tùng Lâm”. Được sáng lập vào khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường. Ban đầu tên là “Kiến Nguyên Tự”, vua Đường Tuyên Tông ban tên “Chiêu Giác Tự”, đời Tống đổi tên “Lục Tổ Tự”. Khoảng niên hiệu Sùng Ninh (1102-1106) Phật Quả Khắc Cần thuyết pháp nơi đây, lại gọi là “Chiêu Giác Tự”. Đầu niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) vua ra lệnh đổi Chiêu Giác Tự thành Thiền lâm. Niên hiệu Thuận Trị thứ 1 (1644) đời Thanh chùa bị binh lửa phá hủy. Niên hiệu Khang Hy thứ 2 đến thứ 26 (1663-1687) do Trụ trì Trượng Tuyết chủ trì trùng tu. Điện vũ viên lâm chiếm 2,2 ha quy mô rộng lớn, cây cối xanh biếc, là một ngôi cổ sát nổi tiếng Thành Đô. Hiện còn những kiến trúc chủ yếu như Đại sơn môn, Bát giác đình, Thiên vương điện, Tiên giác đường, Phổ đồng tháp và mộ Thiền Sư Viên Ngộ. ● 昭 明 禪 寺. Chùa ở ngọn Ngọc Bình, phía Đông núi Thiên Mục, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Vào đời Lương Nam Triều Thái tử Chiêu Minh tu thiền mà sáng lập chùa này, khi ấy gọi là “Chiêu Minh Viện”. Khoảng niên hiệu Đại Thông (527-528) đời Lương vua ban tặng tấm biển “Chiêu Minh Thiền Tự”. Từ Đường Tống trở đi bao phen hưng phế, sau cùng bị phá hủy bởi binh lửa. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 10 (1377) đời Minh trùng tu. Khoảng niên hiệu Thành Hóa (1465-1487) Bảo Phương trụ trì chùa này, khởi công xây dựng Thiên Phật Các, đúc 1000 tượng Phật bằng đồng. Vô Thú Như Không đời Minh; Độc Siêu, Đạo Nguyên đời Thanh từng trụ chùa này. Niên hiệu Hàm Phong thứ 11 (1861) đời Thanh chùa bị phá hủy bởi binh lửa. Sau này Trí Hải Đốn Giác cùng đệ tử nối pháp là Tịnh Năng Viên Tham từ phía Tây núi Thiên Mục đến đây tổ chức dần dần trở lại kiểu cũ. ● 昭 如 (1246-1312). Thiền tăng đời Nguyên, họ Dương, tự hiệu Hải ấn, người xứ Tân Cam (nay là huyện Tân Can, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tuyết Nham Tổ Khâm, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Hải ấn Hòa Thượng Ngữ Lục. ● 招 福 寺 禪 和 尚 塔. Nằm trong chùa Chiêu Phúc, thành phố Vận Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, xây cất vào đời Đường. Dưới tháp là tòa Tu Di khá cao, trong tòa có khảm cửa hình cung, trên tòa là lan can, trên nữa là kiến trúc xây gạch theo kiểu đình các. Đỉnh tháp dùng gạch nhiều lớp chồng lên nhau, mái tháp rộng lớn. Đầu mái tháp điêu khắc thành dáng hình cây rui và ngói diềm mái. Tháp sát là hình cây kim ngân hai tầng to mập có hoa văn hoa núi lá chuối, phía trên đựng hoa sen. Các bộ phận tỉ lệ cân xứng, giàu cảm giác tiết tấu là tác phẩm tinh hoa của những tháp đời Đường. ● 昭 山. Núi nằm bên bờ đông Tương Giang, cách thành phố Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc 20km về phía đông bắc, là nơi giáp giới giữa ba thành phố Trường Sa, Tương Đàm, Chu Châu. Tương truyền Chu Chiêu Vương khi đi tuần tra phía nam có đến nơi này, nên gọi là “Chiêu Sơn”. Đại họa gia đời Tống là Mễ Phất dựa vào cảnh quan núi này vẽ thành bức tranh “ Sơn Thị Tình Lam”, Chiêu Sơn từ đây nổi tiếng như cồn. Đỉnh núi có Chiêu Sơn Thiền Tự được xây cất vào đời Đường, đời Tống gọi là “ Chiêu Dương Điện”, niên hiệu Càn Long thứ 23 (1758) đời Thanh trùng tu. Trong chùa có Huyền Đế cung, Ngọc Hoàng các, Quán Âm đường, Quan Thánh điện. Mỗi khi có lễ hội hương khách bốn phương vân tập, khói hương sơn tự lượn lờ, âm thanh chuông khánh không bao giờ ngớt. ● 昭 禪 寺. Còn gọi: Chùa Láng. Chùa ở làng Yên Lãng (làng Láng), huyện Hoàn Long (sau là huyện Từ Liêm), kinh đô Thăng Long (nay thuộc quận Đống Đa, thủ đô Hà Nội) Việt Nam. Chùa được lập từ thế kỷ XII, thờ Thiền Sư Từ Đạo Hạnh. Tương truyền vị Thiền Sư này tu hành và đắc đạo ở đây, hóa kiếp ở chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Sơn Bình) tức Lý Thần Tông. Theo tục cổ, cứ mười hai năm mở hội lớn một lần, nên ca dao có câu: Nhớ ngày mồng bảy tháng Ba, Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy. Chùa được xây cất theo kiến trúc cung đình nên theo thứ tự có 3 cổng lớn và 3 sân rộng mới đến chùa. Kiến trúc chùa gồm có: ― Tiền đường: Tòa nhà rộng 5 gian, thờ các tượng Kim Cang và Hộ pháp. ― Chính điện: Tòa nhà rộng 5 gian, thờ nhiều tượng Phật, Bồ Tát, Kim Cang. ― Hậu cung hay Điện thánh, hình vuông gồm 3 gian, thờ tượng Thiền Sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông. ― Phía sau điện Thánh có 1 sân nhỏ, tiếp đến là nhà khách và Tăng đường. ● 照 顧. Coi chừng, chú ý. “Thư của Dương Ức gởi Lý Duy” ở phần phụ cuối quyển trong CĐTĐL q.30 ghi: “大 凡 參 學 之 人。十 二 時 中 長 須 照 顧。不 見 南 泉 道。三 十 年 看 一 頭 水 牯 牛。若 犯 他 人 苗 稼。摘 鼻 拽 迴。如 今 變 成 露 地 白 牛 。裸 裸 地 放 他 不 肯 去。 – Nói chung kẻ tham học trong 24 giờ phải luôn luôn chú ý, không nghe Nam Tuyền nói sao: Ba mươi năm chăn một con trâu đực, nếu nó xâm phạm lúa mạ của người thì liền nắm mũi kéo lại, ngày nay đã biến thành con trâu trắng lồ lộ đuổi nó không chịu đi.” ● 照 堂. Khoảng giữa cửa sau của Tăng đường và chỗ rửa mặt rửa tay có một hành lang, mái nhà che nơi ấy rất cao, thiếu ánh sáng, nên phải mở cửa sổ trên mái nhà, gọi là Chiếu đường. Về sau, trong Thiền viện thường đặt một cái ghế ngồi thiền dưới Chiếu đường, là chỗ vị Thủ tọa thay thế Trụ trì thuyết pháp, chỉ dẫn chúng tăng. ● 照 衣 (1605-1673). Thiền tăng đời Thanh, họ Hùng, hiệu Huệ Giác, người xứ Kỳ Giang (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Phá Sơn Hải Minh. Tác phẩm: Huệ Giác Y Thiền Sư Ngữ Lục 3 quyển. ● 正 按 傍 提. Cơ pháp biến hóa. Chính án: Ghìm kiếm đối mặt nhau; Bàng đề: Giơ đao tấn công ở mặt bên. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho cơ pháp biến hóa tự tại của Thiền Sư khi tiếp hóa người học, có lúc thì công kích mặt chính để chỉ bày đệ nhất nghĩa đế; có lúc lại dùng phương thức đánh úp ở mặt bên khiến cho người trong khoảng tiến thoái, tự nhiên hướng về chính đạo. Tắc 66, Bích Nham Lục (Đại 48, 196 trung) ghi: 當 機 覿 面、提 陷 虎 之 機 正 按 傍 提、布 擒 賊 之 略。 “Đương cơ địch diện, Đề hãm hổ chi cơ. Chính án bàng đề, Bố cầm tặc chi lược”. “Đối mặt đương cơ, Giăng bẫy bắt cọp. Cơ pháp biến hóa, Bày mưu bắt giặc”. ● 正 印. Thiền tăng đời Nguyên, họ Lưu, hiệu Nguyệt Giang, tự xưng là Tùng Nguyệt Ông, người xứ Liên Giang (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hổ Nham Tịnh Phục. ● 正 眞 (1780-1861). Thiền tăng đời Thanh, họ Hà, tự Đạt Tông, hiệu Tây Trai, người xứ Tương Đàm tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Bảo Lâm Đạt Trân, đời thứ 44 hệ Nam Nhạc. Sư trụ trì chùa Thứu Phong. Tác phẩm: Tây Trai Tập. ● 正 定 開 元 寺 塔. Nằm trong khuôn viên Khai Nguyên Tự trong thành huyện Chính Định, Tỉnh Hà Bắc. Chùa sáng lập vào niên hiệu Hưng Hòa thứ 2 (540) đời Đông Ngụy, niên hiệu Càn Ninh thứ 5 (898) đời Đường trùng tu, trải qua nhiều đời đều có sửa chữa. Trong chùa hiện còn lầu chuông, tháp gạch. Tháp cao 48m xây bằng gạch hình vuông, chín tầng mái kín. Tầng thứ nhất khá cao có cửa động tròn nhưng không thể trèo lên. Tầng thứ hai đến tầng thứ chín đều có mở cửa sổ nhỏ. Trên góc nền tháp có tượng Thiên vương lực sĩ khắc bằng đá. Mỗi tầng tháp thu nhỏ dần theo chiều cao, tạo dáng rất đẹp. Dù được tu sửa vào đời Minh Thanh nhưng phong cách kiến trúc đời Đường vẫn còn. ● 正 堂. Còn gọi: Tẩm Đường. Nhà phương trượng trong Thiền viện, tức là chỗ ở của vị Trụ trì. Chương Quy Dương Sơn Vô Liễu Thiền Sư trong CĐTĐL ghi: “偈 畢 儼 然 告 寂、瘞 於 正 堂、垂 二 十 載。 – Làm kệ xong, sư an nhiên thông báo mình sẽ thị tịch, rồi sư ngồi sững nơi chính đường đến 20 năm”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 正 覺 (1091-1157). Thiền tăng đời Tống, họ Lý, tự Hoằng Trí, người xứ Thấp Châu (nay là huyện Thấp, tỉnh Sơn Tây), Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần. Tác phẩm: Thiên Đồng Bách Tắc Tụng Cổ, Hoằng Trí Quảng Lục 9 quyển, Hoằng Trí Giác Thiền Sư Ngữ Lục 4 quyển, Hoằng Trí Hòa Thượng Ngữ Yếu 1 quyển. ● 正 晦 (1545-1628). Thiền tăng đời Minh, họ Lưu, hiệu Vô Tích, người xứ Đương Dương (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc, nối pháp Hòa Thượng Thiên Trụ. Tác phẩm: Bát Thức Quy Củ Tụng Lược Thuyết, Trang Tử Chú. ● 正 友 (1285-1352). Thiền tăng đời Nguyên, họ Vu, hiệu Cổ Mai, người xứ Quảng Tín (Thượng Nhiêu, Giang Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Tuyệt Học Thế Thành, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc. ● 正 令 當 行. Chính lệnh đương hành: Đạo Phật Tổ lưu hành ở đời. Tắc 63, Bích Nham Lục (Đại 48, 194 hạ) ghi: “以 「正 令 當 行、十 方 坐 斷」 一 語、喩 指 棒 喝 之 外、不 立 一 法、乃 爲 教 外 別 傳 之 宗 旨。 – Lấy một câu Chính lệnh đương hành, thập phương tọa đoạn để chỉ cho ngoài việc đánh hét chẳng lập một pháp nào khác mới là tông chỉ giáo ngoại biệt truyền”. ● 正 令 全 提. Thiền cơ lập bày mang sắc thái chính tông, cũng là giáo pháp gợi ý triệt để hoàn toàn. Mật Am Ngữ Lục nghi: “正 令 全 提。十 方 坐 斷。千 差 萬 別。一 句 該 通。佛 與 眾 生。皆 爲 剩 法。恁 麼 會 得。全 賓 是 主。全 主 是 賓。 – Chính lệnh toàn đề quét sạch mười phương, ngàn muôn sai khác một câu gồm thông. Phật và chúng sinh đều là pháp dư thừa. Hiểu được như thế thì toàn khách là chủ, toàn chủ là khách.” ● 正 元 (792-869). Thiền tăng đời Đường, họ Thái, người xứ Tuyên Châu (nay là Tuyên Thành, tỉnh An Huy) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Ngũ Tiết Linh Mặc. Thụy hiệu: Tính Không Đại Sư. ● 正 源 (1290-1361). Thiền tăng đời Nguyên, họ Âu Dương, tự Trúc Viễn, người xứ Nam Khang (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hư Cốc Hy Lục. ● 正 源 畧 集. Đăng Lục, 16 quyển, do Đạt Trân soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 145, trang 301. Đạt Trân tiếp tục công tác biên tập của Bái Lâm Tế Nguyên đời thứ 39 và của Chiêu Nguyệt Liễu Trinh đời thứ 40 dưới Nam Nhạc, cùng chép thêm liệt truyện của 2 vị sư này để thành sách, song mất quyển 1, bài tựa và bài bạt. Quyển 2 đến quyển 16: gom chép tên họ và cơ duyên Ngữ Yếu Thiền Sư từ đời thứ 34 đến đời thứ 40 dưới Nam Nhạc, đời thứ 3 (Tông Cảnh) đến đời thứ 13 dưới Thanh Nguyên và 8 vị cư sĩ, tính chung có 405 vị. Đạt Trân còn soạn 1 quyển Chính Nguyên Lược Tập Bổ Di, tiếp tục bổ sung 28 vị. ● 正 凝 (1191-1274). Thiền tăng đời Tống, họ Lý, người xứ Thái Hồ, Thư Châu (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Cô Phong Tú. ● 正 巖. 1. Thiền tăng đời Thanh (1597-1670), họ Quách, tự Khê Đường, hiệu Tùy Sơn, Thúc Am, Ngẫu Dư, Ngẫu Ngư. Về già sư lấy hiệu là Nam Bình ẩn Tẩu, nối pháp Thiền Sư Tam Phong Pháp Tạng. ● 2. Thiền tăng đời Thanh, họ Lý, ban đầu hiệu Kim Nham, sau ký tên là Tế Nham, tự Sơn Phẩm, người xứ Phiên Ngu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Kế Khởi Trữ. ● 正 眼. Còn gọi: Chính Pháp Nhãn. 1. Giống như “Chính Pháp Nhãn Tạng”. Tựa CĐTĐL của Dương Ức ghi: “蓋 大 雄 付 囑 之 旨、正 眼 流 通 之 道、教 外 别 行、不 可 思 議 者 也。 – Bởi vì ý chỉ phó chúc của bậc Đại hùng, con đường lưu thông chính pháp nhãn tạng, riêng thực hiện ngoài giáo điển không thể nghĩ bàn.” ● 2. Ánh mắt trí tuệ quan sát sự vật, nhận thức chân lý của thiền giả. Tiết Hoa Tạng Hữu Quyền Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “此 三 大 老、行 聲 前 活 路、用 劫 外 靈 機。若 以 衲 僧 正 眼 檢 點 將 來、不 無 優 劣。 – Ba vị đại lão này làm công việc trước khi lên tiếng, vận dụng sự nhạy cảm tránh khỏi tai ương, nếu dùng chính nhãn để xem xét thì chẳng phải không có hơn kém.” ● 正 因 (1213-1297). Thiền tăng đời Nguyên, họ Du, người xứ Nhân Hòa (nay thuộc Hàng Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Dục Vương Kham. ● 正 念 (1215-1289). Thiền tăng đời Nguyên, hiệu Đại Hưu, người xứ Vĩnh Gia (nay thuộc Ôn Châu, Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Khê Tâm Nguyệt. ● 正 法 輪. Chỉ cho Phật pháp. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “欲 得 不 招 無 間 業、莫 謗 如 來 正 法 輪。 – Muốn không bị chiêu nghiệp vô gián thì đừng phỉ báng chính pháp luân của Như Lai.” ● 正 法 眼 藏. 1. Còn gọi: Thanh Tịnh Pháp Nhãn. Kho tàng con mắt chính pháp. Kho tàng này dụ cho tự tính. Tự tính khi khởi dụng, quán sát căn cơ của chúng sinh (dụ như con mắt) rồi tùy duyên hóa độ họ. Những lời thuyết pháp này từ tự tính lưu xuất nên gọi là chính pháp. Theo Liên Đăng Hội Yếu q.1: “世 尊 在 靈 山 會 上、拈 花 示 衆、衆 皆 默 然、唯 迦 葉 破 顏 微 笑。世 尊 道:吾 有 正 法 眼 藏、涅 槃 妙 心、實 相 無 相、法 門 微 妙、不 立 文 字、教 外 別 傳、付 囑 摩 訶 迦 葉。 – Trong hội Linh Sơn, Đức Thế Tôn đưa cành hoa sen lên trước mặt đại chúng, đại chúng đều ngơ ngác, chỉ có ngài Ca Diếp mỉm cười. Đức Thế Tôn nói (Vạn Tục 136, 221 thượng): Ta có Chính Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp”. ● 2. Niêm Tụng Biệt Tập, 6 quyển, do Đại Huệ Tông Cảo soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 118, trang 1. Nội dung gồm những cơ duyên pháp ngữ của các bậc tôn túc xưa, tổng cộng hơn 100 thiên, mỗi thiên có phụ thêm lời bình ngắn của soạn giả. Vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 11 (1141) đời Nam Tống, ngài Tông Cảo mắc tội bị đày đến Hành Dương. Trong thời gian này, những pháp ngữ đối đáp giữa Ngài với chư Đại đức các nơi, được thị giả Xung Mật Huệ Nhiên ghi chép lại đầy đủ, hoàn tất và ấn hành vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 17 (1147), gọi là “Đại Huệ Chính Pháp Nhãn Tạng”. Năm 1616 đời Minh, sa môn Huệ Duyệt ở am Phổ Thiện phụ thêm lời tựa của các vị Viên Trừng, Lý Nhật Hoa và thêm bức thư của ngài Tông Cảo đáp lời Thị lang Trương Tử Thiều rồi khắc bản in lại. ● 正 逵. Thiền tăng đời Nguyên, họ Phương, tự Nhất Quan, người xứ Bà Dương (nay là huyện Ba Dương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Kính Sơn Hạnh Đoan. ● 正 心 (1836-1906). Thiền tăng Việt Nam, húy Hải Lương, hiệu Chính Tâm, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 40, là vị Tổ khai sáng chùa Kim Cang ở Thủ Thừa Long An. Sư là người chỉ đạo công tác khắc bản gỗ các loại kinh điển như: Luật Tứ Phần, Bồ Tát Giới Kinh, Kim Cang Chư Gia, Phật Thuyết Tam Thế Nhân Quả Kinh.. ● 正 誠 (1872-1947). Cao tăng Việt Nam, tên Phạm văn Vịnh, con của một nhà nho kiêm y sĩ, nối pháp Thiền Sư Liễu Ngạc Phổ Minh, thuộc đời thứ 38 của Lâm Tế chính tông, đời thứ 40 của Lâm Tế gia phổ (nối pháp Thiền Sư Hải Huệ Minh Thông). Tác phẩm: Kinh Di Đà Sớ Sao, Phật Tổ Tam Kinh, Pháp Bảo Đàn, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Quy Nguyên Trực Chỉ, Long Thơ Tịnh Độ, Đại Học Hoằng Giới (diễn nôm). ● 正 宗 寺. Chùa ở núi Thiên Mục, tỉnh Chiết Giang. Vào cuối đời Nam Tống Thiền Sư Cao Phong Nguyên Diệu vào núi bế quan, người học theo sư cất am bèn thành thiền vũ, ban đầu goi là “Sư Tử Viện”. Niên hiệu Diên Hựu thứ 6 (1319) đời Nguyên vua ban tặng tấm biển “Sư Tử Chính Tông Tự” Niên hiệu Thái Định thứ 3 (1326) Thiền Sư Liễu Nghĩa trụ trì chùa này. Lúc ấy chùa nổi tiếng hải ngoại, các tăng nhân Nhật Bản, ấn Độ, Triều Tiên cũng đến chùa này vân du triều bái và mang về nước những bức họa tượng của các vị Thiền Sư như Tuyết Nham, Cao Phong, Trung Phong. Cuối đời Nguyên chùa bị phá hủy bởi binh lửa, niên hiệu Hồng Vũ thứ 4 (1371) đời Minh, Thiền Sư Tùng ẩn xây cất lại, về sau trở thành tùng lâm. Cuối đời Minh lại bị binh lửa phá hủy. Đầu đời Thanh, Thiền Sư Ngọc Lâm thi công lại từ đầu, đổi tên là “Khai Sơn Lão Điện”, chẳng bao lâu lại bị hỏa tai. Khoảng niên hiệu Ung Chính (1723-1735) sửa chữa lần nữa, đổi tên là “Thiền Nguyên Tự”. Những năm đầu của niên hiệu Hàm Phong (1851- 1861) lại bị binh lửa phá hủy chỉ còn một cái điện. Khoảng niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) sửa sang lại, có điện liêu hơn 2000 gian, là một chùa lớn trong núi. Trong thời kỳ kháng chiến chùa bị máy bay quân Nhật phá hủy, sau khi kiến quốc lại phải thi công lại từ đầu. ● 正 知 見. Trí tuệ Phật có thể thức tâm kiến tính, thấy rõ chân thật tướng của các pháp. Hậu tự của Lưu Phỉ ở phần phụ lục cuối quyển trong CĐTĐL q.30 ghi: “故 達 磨 直 指 不 立 文 字。少 林 九 年 面 壁 而 已。雖 二 祖 立 雪 斷 臂。一 字 亦 不 爲 說。但 遮 其 知 見 之 非。二 祖 因 是 得 正 知 見。豁 然 大 省。 – Cho nên Đạt Ma chỉ thẳng không lập văn tự, nơi Thiếu Lâm chín năm nhìn vách mà thôi. Cho dù Nhị Tổ đứng dưới tuyết và chặt cánh tay, nhưng một chữ cũng không chịu nói ra, đây chỉ là ngăn chặn tri kiến sai lầm của ông ta, Nhị Tổ nhân đây được chính tri kiến, bỗng nhiên đại ngộ.” ● 正 傳 (1549-1614). Thiền tăng đời Minh, họ Lữ, tự Nhất Tâm, hiệu huyễn hữu, người xứ Lật Dương, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Tiếu Nham Đức Bảo, đời thứ 33, hệ Nam Nhạc. Sư trụ trì chùa Long Trì ở Kinh Khê. Tác phẩm: Huyễn Hữu Tập, Chính Truyền Ngữ Lục. ● 正 澄 (1274-1339). Thiền tăng đời Nguyên, họ Lưu, hiệu Thanh Chuyết, người xứ Liên Giang, Phúc Châu (nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc. Tác phẩm: Lược Thuật Lâm Tế Tông Tăng Đoàn Sinh Hoạt Chi Đại Giám Thanh Quy, Ngữ Lục 7 quyển. ● 周 及 (1320-1390). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Ngu Trung Chu Cập, vào niên hiệu Chí Chính thứ 1 (1341) sư sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Sư nối pháp Thiền Sư Nguyệt Giang Chính ấn, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, đời thứ 7 tông Lâm Tế Nhật Bản. Sư trụ trì chùa Phật Thông. ● 周 易 禪 解. Sách, 3 quyển, do Trí Húc soạn vào đời Minh, có bản in vào năm 1915 của Kim Lăng khắc kinh xứ. Ngài Trí Húc cho rằng “Dịch” là chí lý của trời đất, là nguồn gốc của vạn vật, rộng lớn tinh vi, không chỗ nào không đầy đủ. Nếu như dùng tư tưởng của cá nhân ngài để xem xét thì nó là “Dịch” của Nho gia; lấy thuật số mà luận thì nói là “Dịch” của Phệ gia; lấy nhân duyên để giải thích thì nó là “Dịch” của Thích gia. Trong sách này, Trí Húc trưng dẫn thuyết của Nho gia rồi quy về tông thú của Phật giáo Thiền Tông, nêu lên chỗ chưa kịp phát huy về chí lý của 2 nhà Trình và Chu, và xiển dương toàn thể đại dụng của thái cực. ● 周 良 (1480-1564). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Sách Ngạn Chu Lương, sư hai lần sang nhà Minh (Trung Quốc), là đệ tử của Liễu Am Quế Ngô, đời thứ 31 hệ Nam Nhạc, đời thứ 14 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Thiên Long. Tác phẩm: Nhập Đường (Minh) Ký Sơ Độ Tập, Tái Độ Tập, tổng cộng 5 quyển. ● 周 理 (1591-1647). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Đỗ tự Triệt Dung, Nhất Triệt, người xứ Tường Vân (nay thuộc tỉnh Vân Nam) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lãng Mục Bản Trí, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Cốc Hưởng Tập, 1 quyển, Vân Sơn Mộng Ngữ Trích Yếu, 1 quyển. ● 周 祥 光 (1919-1963). Học giả Phật giáo hiện đại, người Hoàng Nhan, Chiết Giang, Trung Quốc. Ông từng theo Cung Vân Bạch học Phật. Về sau đến học tại Đại học Calcutta và Delhi (ấn Độ) đỗ bằng Tiến sĩ, lần lượt nhận chức giáo sư Đại học Quốc Tế ấn Độ, Đại học Allaha Bad. Ông rất sùng tín Phật giáo, chuyên nghiên cứu Triết học ấn Độ, ông rất am hiểu về Phật học. Tác phẩm: Trung Quốc Thiền Tông Phát Triển Sử, Trung Quốc Phật Giáo Sử, Ấn Độ Triết Học Sử, Chân Lý Chi Quang.Năm 1963, ông bệnh rồi mất tại ấn Độ. ● 主 柄 在 手. Bính: Cái cán, cái chuôi nắm của đồ vật; Chủ bính tại thủ: Cầm cán trong tay, ngụ ý nắm chắc chủ quyền trong tay. Thiền Tông mượn cụm từ Chủ Bính Tại Thủ làm thuật ngữ chỉ cho việc nắm được trọng tâm của sự việc và tùy ý tự tại. ● 主 看 主. Là một trong “Tứ Tân Chủ” của Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, chỉ cho cơ phong khế hợp giữa người học đã lãnh ngộ thiền pháp với Thiền Sư đắc đạo. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “或 有 學 人。應 一 箇 清 淨 境 出 善 知 識 前。善 知 識 辨 得 是 境。把 得 抛 向 坑 裏。學 人 言。大 好 善 知 識。即 云。拙 哉 不 識 好 惡。學 人 便 禮 拜。此 喚作 主 看 主。 – Như có người học đưa ra một cảnh thanh tịnh trước mắt thiện tri thức, thiện tri thức biết là cảnh liền ném vào hầm sâu, người học nói: Rất tốt! Thiện tri thức liền nói: Ngốc thay! Chẳng biết tốt xấu! Người học liền lễ bái. Đây gọi là chủ khán chủ.” ● 主 看 客 (169). Là một trong “Tứ Tân Chủ” của Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, chỉ cho Thiền Sư đắc đạo gặp phải kẻ học đạo si mê bất ngộ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “或 是 善 知 識 不 拈 出 物。隨 學 人 問 處 即 奪。學 人 被 奪 抵 死 不 放。此 是 主 看 客。 – Như thiện tri thức không đưa ra vật gì, tùy chỗ hỏi của người học liền đoạt, người học bị đoạt thà chết không chịu buông. Đây là chủ khán khách.” ● 主 人 翁. Nghĩa đen là ông chủ. Thiền Tông mượn từ này dùng để chỉ cho Phật tính mà mọi người vốn có. Tắc 20, Vô Môn Quan (Đại 48, 294) ghi: “瑞 巖 彥 和 尚 每 日 自 喚 主 人 翁、後 自 應 諾。 – Hòa Thượng Thụy Nham Ngạn hằng ngày tự gọi: Ông chủ. Rồi tự trả lời”. ● 主 法. Trụ trì. Thiền Lâm Bảo Huấn (Đại 48, 1032 trung) ghi: “近 代 主 法 者 無 如 眞 如 哲、善 負 弼 叢 林 莫 若 楊 岐。 – Đời gần đây, người Chủ pháp thì không ai được như Chân Như Triết, kẻ giúp đỡ tùng lâm, chẳng ai bằng Dương Kỳ”. ● 主 山 騎 案 山、主 山 高 案 山 低. Núi chúa cưỡi núi mâm, núi chúa cao, núi mâm thấp. Thuật ngữ này biểu thị cho thế giới sai biệt giữa chủ và khách, bao hàm lý chân như bất biến. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 主 事. Còn gọi: Tri Sự. Tên một chức sự trong Thiền viện. Theo Thiền Uyển Thanh Quy, ban đầu lấy 4 chức: Giám tự, Duy Na, Điển tọa, Trực tuế làm Chủ sự. Về sau thêm 2 chức Đô tự và Phó tự cộng chung là Lục chủ sự. Như ngài Phật Giám làm Chủ sự dưới hội của Thiền Sư Pháp Diễn ở chùa Ngũ Tổ. Ngộ Bản Ngữ Lục có ghi: “鹽 官 會 下 有 主 事 僧、忽 見 鬼 使 來 追、僧 告 云:某 甲 身 爲 主 事、未 暇 修 行、乞 容 七 日 得 否? – Dưới hội Diêm Quan có một vị tăng chủ sự, chợt thấy quỷ sứ đến tìm bắt mình. Vị tăng bảo rằng: Thân tôi bận làm chủ sự, chưa rảnh để tu hành, xin gia hạn cho tôi bảy ngày được chăng?”. ● 主 賓. Tông Lâm Tế thị cơ ứng cơ, tiếp dẫn người học, chú ý biện minh chủ với khách. Đại để chủ chỉ cho Thiền Sư đắc đạo, khách chỉ cho kẻ hậu học tham thiền hoặc người chưa sáng tỏ thiền lý. Như Tịnh Ngữ Lục q.hạ ghi: “喝 一 喝、有 主 有 賓、有 照 有 用、還 知 得 落 處 麼? – Hét một tiếng có chủ có khách, có chiếu có dụng, có biết ý nghĩa chăng?”. X. “Tứ Tân Chủ”. ● 主 中 主. Tân: Chỉ cho người học, đồ đệ. Chủ: Chỉ cho bậc thầy. Khi tiếp hóa người học, vị Thầy đứng ở vị trí của mình triển khai độc lập, hoạt bát (không câu nệ theo các phương pháp thông thường) giúp họ trở về tự kỷ bản phận, đây gọi là Chủ trung chủ và được Thiền Tông khen là vị Thầy có lỗ mũi. Trái lại, nếu vị Thầy không khéo phá trừ chỗ chấp trước của người học thì gọi là Chủ trung tân, trong trường hợp này bị Thiền Tông gọi là vị Thầy không có lỗ mũi. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 準 提 禪 林. Nằm phía đông trong chùa Khai Nguyên, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, phỏng theo hình dáng và cấu tạo quần thể kiến trúc theo tuyến trục giữa nhưng quy mô nhỏ hơn, tục gọi là “Tiểu Khai Nguyên Tự”. Được xây cất vào niên hiệu Khang Hy thứ 1 (1662) đời Thanh. Hiện còn Đại điện, Giới đàn là những kiến trúc đời Thanh. ● 囑. Việc truyền trao đạo pháp trong nhà thiền. Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện ghi: “忍(指 五 祖 弘 忍)大 師 告 能(指 六 祖 慧 能)曰:。。。吾 今 欲 逝、法 囑 與 汝。汝 可 守 護、無 令 斷 絕。 – Nhẫn (chỉ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn) Đại sư gọi Năng (chỉ Lục tổ Huệ Năng) bảo rằng: … Nay ta muốn thị tịch nên truyền trao đạo pháp lại cho ngươi. Ngươi cần phải giữ gìn, chớ để dứt mất!”. ● 鬻 飯 主 人. Ông chủ lo việc cơm cháo. Chỉ Hòa Thượng trụ trì tự viện. Tiết Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “幸 自 可 憐 生、忽 然 被 業 風 吹 到 江 寧 府、無 端 被 人 上 當、推 向 十 字 路 頭、住 箇 破 院、作 粥 飯 主 人。接 待 南 北。事 不 獲 已、隨 分 有 鹽 有 醋、粥 足 飯 足、且 恁 過 時。若 是 佛 法、不 曾 夢 見。 – Nghĩ cũng đáng tội, tôi bị gió nghiệp thổi đến phủ Giang Ninh, vô cớ bị người đưa lên làm Chúc phạn chủ nhân, trụ cái viện đổ nát ở ngã tư đường, để tiếp đãi người nam kẻ bắc, thật là việc bất đắc dĩ. Tùy phận có muối có dấm, đủ cơm đủ cháo, tạm sống qua ngày. Nếu là Phật pháp, chưa từng mộng thấy”. ● 囑 付. Việc truyền trao đạo pháp trong nhà thiền. Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện ghi: “如 來 以 心 傳 心、囑 付 迦 葉。迦 葉 展 轉 相 傳、至 於 達 磨。 – Như Lai lấy tâm truyền tâm, chúc phó cho Ca Diếp. Từ ngài Ca Diếp lần lượt truyền trao cho đến Tổ Đạt Ma”. ● 祝 聖 寺. 1. Nằm ở phố đông thị trấn Nam Nhạc, huyện Hoành Sơn, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Hòa Thượng Thừa Viễn đời Đường thiết lập Bát Chu đạo tràng nơi đây siêng tu niệm Phật. Niên hiệu Trinh Nguyên (785-804) vua ban tên “Di Đà Tự”. Sau đổi tên là “Thắng Nghiệp Tự”. Niên hiệu Khang Hy thứ 53 (1714) đời Thanh lại đổi tên là “Chúc Thánh Tự”. Những bậc cao tăng Thiền Tông như Nam Nhạc Hoài Nhượng, Huyễn Hữu Chính Truyền, Mật Vân Viên Ngộ từng cư ngụ nơi này, vào đời Đường thời kỳ hưng thịnh nhất có khoảng ngàn tăng nhân ở đây. Hiện còn kiến trúc chủ yếu như Sơn môn, Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Dược Sư điện, Thuyết pháp đường, La hán đường, Phương trượng đường, Quán ngạn thất. Trong La hán đường có 500 tượng La hán do vị tăng trong chùa tên Tâm Nguyệt khắc nạm hai bên vách chùa, có giá trị nghệ thuật nhất định. ● 2. Nằm dưới núi Kê Túc, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Đại sư Hư Vân dùng ngân lượng tích chứa trong thời gian quyên góp ba năm để khởi công xây cất trên nền cũ của Bát Vu Am trong thời gian mười năm. Kiến trúc hùng vĩ, tượng đắp đoan trang. ● 鐘 頭. Tên gọi chức vụ của vị tăng coi việc đánh chuông ở Thiền viện. Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký q. 8 (Vạn Tục 111, 428 thượng) ghi: “知 客 令 鐘 頭 鳴 鐘 三 下、知 客 焚 香 一 把 在 手。 – Tri khách ra lệnh cho Chung đầu đánh 3 tiếng chuông để Tri khách thắp nhang”. ● 終 夏. Qua hết thời kỳ an cư, ở trọn hạ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “傑 上 座 今 夏、蔣 山 結 夏、褒 禪 破 夏、華 藏 終 夏。 – Mùa hạ năm nay, Thượng tọa Hàm Kiệt đến Tưởng Sơn kiết hạ, ngài Bao Thiền phá hạ, còn Ngài Hoa Tạng ở trọn hạ”. ● 終 南 山. Còn gọi: Trung Nam Sơn, Thái Ất Sơn, Địa Phế Sơn. Gọi tắt: Nam Sơn. Núi ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, cách huyện Trường An độ 29km về phía tây. Trải dài hơn 40 dặm, phía đông bắt đầu từ huyện Lam Điền đến phía tây huyện Mi, là một phần của dãy núi Thái Lãnh. Khoảng giữa thế kỷ V và VI, có các vị cao tăng đến ở núi này rất đông. Như vào năm 574, vua Vũ Đế đàn áp Phật giáo, hơn 30 vị cao tăng ở kinh đô và các nơi khác vào trong núi này để tỵ nạn. Người đời thường lấy tên núi để gọi các đại sư như: —Chung Nam Pháp Thuận (Tổ thứ 1 tông Hoa Nghiêm) —Chung Nam Đại Sư (Tổ Thiện Đạo). —Nam Sơn Luật Sư (ngài Đạo Tuyên). Chùa tháp nổi tiếng ở núi Chung Nam gồm có mộ tháp của ngài Huyền Trang ở chùa Hưng Giáo, tháp Từ Ân và tháp Viên Trắc ở chùa Tây Minh, hai tháp gạch lớn nhỏ ở chùa Hưng Tích, các tháp ở chùa Bách Tháp. Ngoài ra trên núi này còn có rất nhiều bi minh (bài văn khắc trên bia đá). ● 鐘 山. Nằm ngoài cửa Trung Sơn, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Núi nằm theo hướng đông tây dài khoảng 7km, ngang hướng nam bắc rộng chừng 3km, chu vi 30km. Chỉnh thể có hình vòng cung hướng về phía nam. Xa trông giống như con rồng uốn lượn quanh co cho nên Gia Cát Lượng có thuyết “Chung Sơn long bàn” (rồng cuộn Chung Sơn). Tôn Quyền thời Tam Quốc vì tránh tên húy tổ phụ Tôn Chung, mượn cớ Mạt Lăng Úy Tưởng Tử Văn tử nạn nơi đây mà đổi tên là “Tưởng Sơn”. Núi này cao hơn những ngọn núi khác ở Nam Kinh. Có ba ngọn bày ra như giá bút. Ngọn thứ nhất là Bắc Cao Phong cách mặt biển 448m, ngọn thứ hai là Tiểu Mao Sơn, cách mặt biển 350m, phía tây là ngọn thứ ba Thiên Bảo Sơn, cách mặt biển 250m. Vào thời Lục Triều, Chung Sơn là thánh địa Phật giáo, phân bố xung quanh có hơn 70 ngôi chùa am lớn nhỏ, có thể gọi là chùa chiền thành rừng, Thích tử thành hàng, âm thanh chuông khánh như tơ không đứt. Đời Tống Thiền Sư nổi tiếng Mật Am Hàm Kiệt từng trụ trì Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự ở Tưởng Sơn, pháp ngữ dạy chúng của ngài được ghi trong Mật Am Hòa Thượng Ngữ Lục. Tháng 9 niên hiệu Hồng Vũ thứ 1 (1368) đời Minh, vua bảo mười vị cao tăng mở Đại pháp hội tại Tưởng Sơn Thiền Tự để siêu độ thần dân tướng sĩ đã tử vong trong chiến tranh. Thiền Sư nổi tiếng Sở Thạch Phạm Kỳ thăng đường thuyết pháp nơi pháp hội, quan trong triều tâu bày pháp ngữ này lên vua, Thái Tổ rất vui. Về sau vì xây lăng Minh Hiếu cho nên tất cả tự miếu đều di dời sang sườn núi đông nam, hợp làm một chùa, đổi tên là “Linh Nham Tự”. Sau khi Tôn Trung Sơn đem về an táng nơi đây, Chung Sơn bèn trở thành khu nghĩa trang để cho người chiêm ngưỡng và du lãm. ● 衆 寮. Tức là phòng xá của chúng tăng nghỉ ngơi ở Tăng đường trong Thiền viện. Trong phòng liêu có các chức vụ: Liêu nguyên, Liêu chủ, Phó liêu, Vọng liêu và Chúng liêu hành giả. ● 衆 慈. Xưng hô đối vơi tăng chúng. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “且 如 玆 院 僻 處 一 隅。若 非 念 報 佛 恩。無 以 四 來 居 此。恐 山 僧 進 發 之 後。法 席 空 虛。今 命 素 公 開 士 接 續 住 持。幸 冀 眾 慈 同 心 勸 請。 Chẳng hạn như viện này ở một góc vắng vẻ, nếu không nghĩ đến việc báo ân Phật thì không để tứ chúng đến ở nơi này. Sợ sơn tăng sau khi xuất phát, pháp tịch trống trơn, cho nên hôm nay sai khai sĩ Tố Công tiếp tục trụ trì, hi vọng chúng từ đồng lòng khuyên bảo mời thỉnh.” ● 諸 方. Thiền Sư ở các nơi, hoặc chỉ cho các Thiền viện. Tiết Tuyết Phong Huệ Không Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “福 州 雪 峰 東 山 慧 空 禪 師、本 郡 陳 氏 子。十 四 圓 頂、即 游 諸 方、遍 謁 諸 老、晚 契 悟 於 草 堂。 – Thiền Sư Tuyết Phong Đông Sơn Huệ Không ở Phúc Châu, con nhà họ Trần tại quận nhà. Sư xuất gia năm 14 tuổi, liền đi đến các Thiền viện, yết kiến các Thiền Sư, sau cùng ở chỗ Thảo Đường, sư khế ngộ”. ● 諸 色. Chỉ cho các thứ việc, các thứ vật. Điều Nguyệt Phân Tu Tri trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q.7 (Đại 48, 1155 thượng) ghi: “歲 終、結 呈 諸 色 簿 收。” “Cuối năm tổng kết, báo cáo các thứ sổ sách, giấy tờ”. ― Chư sắc nhàn nhân: Chỉ cho người vô dụng. ● 證 眞 寺. X. Vân môn tự. ● 證 道 歌 註. 1. Sách, 1 quyển, do Phạm Thiên Ngạn Kỳ soạn vào đời Tống, đệ tử là Huệ Quang biên tập. Tác giả đem “Chứng Đạo Ca” của ngài Huyền Giác đời Đường giải thích rõ từng câu để chỉ cho người học con đường tắt tham thiền ngộ đạo. Sách được ấn hành vào niên hiệu Gia Định thứ 12 (1219), được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 357. ● 2. Sách, 1 quyển, do Diệu Không Tri Nột soạn vào đời Tống, đệ tử là Đức Tối biên tập. Tác giả cho rằng Phật pháp tuy chẳng phải do tìm kiếm trong văn tự ngữ ngôn mà được, nhưng người độn căn vẫn cần phải nhờ sự giải thích của ngôn ngữ văn tự để tìm hiểu yếu chỉ Phật pháp, cho nên ngài soạn ra sách này. Sách được ấn hành vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 16 (1146) đời Tống, và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 890. ● 3. Sách, 1 quyển, còn gọi: Chứng Đạo Ca Chú Tụng, do Trúc Nguyên Vĩnh Thịnh soạn vào đời Nguyên, Đức Hoằng biên tập. Dưới mỗi câu của Chứng Đạo Ca, ngài Vĩnh Thịnh có làm lời bình ngắn, hợp nhiều câu lại để chú thích, bình luận và phụ thêm bài tụng. Sách được ấn hành vào niên hiệu Chí Nguyên thứ 1 (1341) đời Nguyên và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 904. ● 證 空 大 師. Hiệu của Thiền tăng Cư Độn, đời Đường. X. Cư Độn. ● 證 悟. Còn gọi: Triệt Ngộ, Triệt Chứng. Chỗ viên mãn công phu tu tập, an trụ tính giác trọn vẹn. Đây là cảnh giới tự tâm do công phu tu hành phát ra, không phải là sự chỉ dạy của thầy bạn, nên cũng gọi là Trí vô sư. Trí này tương đương với Huệ trong ba môn “Giới, định, huệ”. Thiền Quan Sách Tiến (Đại 48, 1101 thượng) ghi: “諸 大 德、九 十 日 中、還 曾 證 悟 也 無?如 其 未 悟、則 此 一 冬 又 是 虛 喪 了 也。。。誰 管 三 生、五 生 十 生 百 生。若 不 徹 悟、決 定 不 休。 – Chư đại đức! Trong 90 ngày qua đã được chứng ngộ hay chưa? Nếu như chưa ngộ thì thêm một mùa đông đã luống qua vô ích… Đâu quản ba đời, năm đời, mười đời, một trăm đời, nếu chưa triệt ngộ quyết định không thôi”. Thiền Uyển Mông Cầu (Vạn Tục 148, 97 thượng) ghi: “依 香 林 淨 爲 師 而 受 具 足 戒。後 參 謁 勝 靜 普、而 徹 證。 – Sư ở Hương Lâm Tịnh Công thụ giới cụ túc. Về sau sư tham vấn nới Thắng Tịnh Phổ mà triệt chứng”. Theo: Yếu Chỉ Thiền Tông của HT. Thanh Từ. ● 灼 然. Thực sự. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “舉 長 慶 問 秀 才 云。佛 教 云。眾 生 日 用 而 不 知 儒 書 亦 云。日 用 而 不 知。不 知 箇 什 麼。秀 才 云。不 知 大 道。師 云。灼 然 不 知。 – Nêu ra việc Trường Khánh hỏi Tú Tài: Phật giáo nói chúng sinh dùng hằng ngày mà không biết. Sách Nho cũng nói dùng hằng ngày mà không biết. Vậy không biết cái gì? Tú Tài nói: Không biết đại đạo. Sư nói: Thực sự ông không biết.” ● 章 敬 寺. Chùa ở ngoài cửa Thông Hóa, Đông thành, huyện Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Dưới triều vua Đường Đại Tông, quan Nội thị Ngư Triều Ân vì Hoàng thái hậu Chương Kỉnh mà xây cất. Ngài Pháp Khâm ở Kính Sơn thuộc tông Ngưu Đầu nhận lời mời của vua Đại Tông, về trụ trì chùa này và được Vua ban hiệu là Quốc Nhất Quốc Sư. Thiền Sư Hoài Uẩn, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất cũng từng ở chùa này. ● 槌、錐、錘、鎚. 1. Bạch chùy 白 鎚, tương đương với việc xướng tăng bạt. X. Bạch chùy, Kiền chùy. ● 2. Châm chùy 針 鎚: Cái dùi, chiếc kim dùng đâm lên đầu lên trán thiền tăng để khảo nghiệm trình độ tu hành của họ đến đâu. X. Châm chùy. ● 3. Kiềm chùy 鉗 鎚: Búa kìm là các khí cụ trong lò rèn. Nhà thiền dùng để dụ cho thủ đoạn, phương tiện rèn đúc thiền tăng nhằm giúp họ trở thành bậc tông tượng trong thiền môn. X. Kiềm chùy. ● 槌 砧. Còn gọi: Chùy Tĩnh, Truy Châm, Chùy Đôn. Ở trong Luật viện hoặc trong Thiền đường, khi chúng tăng tề tựu đông đảo, vị Duy Na dùng chùy gõ vào châm để khiến đại chúng lặng lẽ, nghiêm túc. Chùy: Cái dùi để gõ đánh; Châm: Cái đài nhỏ bằng cây. Cả hai đều có hình bát giác tượng trưng cho 8 hướng của núi Tu Di trong Vũ trụ quan Phật giáo. Thông thường, ở Trai đường khi chư tăng tề tựu để thọ thực thì sử dụng đến chùy châm. ● 箠 擯. Chùy: Chiếc roi; Tẩn: Đuổi đi. Đối với vị tăng nào phạm việc ác một cách nghiêm trọng thì lấy roi đánh đuổi đi. Đây là hình phạt nặng trong các tự viện Thiền Tông. ● 嘴 都 盧. Nói nhiều lời. Truyện Thiền Sư Bội Chương Hoàng trong Vân Cư Sơn Chí ghi. 狗 子 佛 性 無、趙 州 不 自 嘑 娘 生 今 勘 破、佛 祖 嘴 都 盧 “Cẩu tử Phật tính vô Triệu Châu bất tự hô Nương sinh kim khám phá Phật Tổ chủy đô lô” “Con chó không Phật tính Chẳng phải Triệu Châu nói Nay nhìn tận mặt mẹ Phật Tổ nói nhiều lời”. ● 嘴 上 加 嘴. Trên mỏ lại gắn thêm mỏ, nghĩa là việc làm dư thừa. Uyển Lăng Lục ghi: “語 默 動 靜、一 切 聲 色、盡 是 佛 事。何 處 覓 佛?不 可 更 頭 上 加 頭、嘴 上 加 嘴。 – Nói nín động tịnh, tất cả thinh sắc đều là Phật sự, còn tìm Phật ở chốn nào? Chẳng thể trên đầu chồng thêm đầu, trên mỏ lại gắn thêm mỏ”. ● 專 信. Trong Thiền viện, người được phái đi xử lý một việc gì đặc biệt, gọi là Chuyên sứ. Văn thư mà Chuyên sứ cầm đi gọi là Chuyên tín. Thiền Uyển Thanh Quy q.6 (Vạn Tục 111, 455 hạ) ghi: “專 使 於 住 持 人 前 兩 展 三 拜(一 展 云 此 馳 專 信、得 奉 尊 顏、下 情 無 任、瞻 仰 之 至、又 一 展 敘 寒 暄、乃 觸 禮 三 拜)。 – Chuyên sứ đến trước mặt vị Trụ trì trình bày 2 lần, mỗi lần 3 lạy. (Một lần trình bày nói: Kẻ đưa văn thư này muốn được hầu hạ ngài, ý nguyện của kẻ này hết sức chiêm ngưỡng ngài. Một lần nữa trình bày thì hàn huyên tâm sự rồi lạy ba lạy)”. ● 轉. 1. Tụng đọc kinh Phật. Tối Thượng Thừa Luận ghi: “十 二 部 經 念 念 常 轉。 – Mười hai phần giáo thường tụng trong mỗi niệm”. ● 2. Càng thêm, lại còn. Tiết Nhữ Châu Nam Viện Ngung Thiền Sư trong LĐHY q.1 ghi: “眞 金 曾 百 煉、人 火 轉 鮮 明。 – Vàng ròng đã được trui luyện trăm lần nên bỏ vào lửa càng thêm tươi sáng”. ● 轉 迷 開 悟. Còn gọi: Chuyển Phàm Thành Thánh. Ra khỏi sinh tử mê vọng trong ba cõi, đạt đến cảnh giới Niết Bàn giác ngộ. Giáo pháp nói về chuyển mê khai ngộ, trong đạo Phật có thể chia làm các loại: ― Thánh Đạo môn: Chứng nhập ở cõi này. ― Tịnh Độ môn: Chứng đắc ở cõi khác. ― Tiệm giáo: Nhiều kiếp tu hành. ― Đốn giáo: Thành Phật ngay thân này. ● 轉 語. Lời lẽ sắc bén tùy cơ nghi mà chuyển biến một cách tự do tự tại. Lúc thiền giả (người học Thiền) mê lầm không hiểu, tiến thoái lưỡng nan, vị sư gia tức thì xoay chuyển cơ phong hạ ngay chuyển ngữ để giúp hành giả khai ngộ. Phần Giải thích của tắc 96, Bích Nham Lục q. 10 (Đại 48, 219 thượng) ghi: “趙 州 示 此 三 轉 語 了、謂 後 却 云:眞 佛 屋 裏 坐。 – Triệu Châu dạy ba chuyển ngữ này xong, cuối cùng còn nói: Chân Phật ngồi trong nhà”. ● 轉 身. Xoay mình. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho trạng thái đốn ngộ của hành giả tham thiền. Tham thiền kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、端 須 自 決 掉 臂 轉 身、不 假 他 力 Tham thiền đệ nhất Đoan tu tự quyết Điệu tý chuyển thân Bất giả tha lực”. “Pháp tham thiền bậc nhất Thẳng thắn tự giải quyết Khi vung tay xoay mình Chẳng nhờ sức người khác”. ● 孤 明. Vầng sáng riêng lẻ, chỉ cho thật tướng của Phật tính, hoặc Tự tâm, hoặc Chân ngã. Tổ Đường Tập q.5 ghi: “思 清 人 少 慮、風 規 自 然 足。影 落 在 音 容、孤 明 絕 撑 獨。 – Nghĩ điều trong sạch người ít lo buồn, phong cách quy củ tự nhiên đầy đủ. Pháp trần tụ lại ở nơi tiếng nói và dáng người, cô minh bặt mọi dính mắc”. ● 孤 硬. Người cứng cỏi hoặc cơ phong cứng rắn. Tiết Thiên Đồng Hàm Kiệt trong NĐHN q.10 ghi: “不 憚 游 行、遍 參 知 識、後 謁 應 庵 於 衢 之 明 果。庵 孤 硬、難 入、屢 遭 呵。 – Sư không ngại đi xa, tham khắp các bậc tri thức, về sau yết kiến ứng Am ở Minh Quả, Cù Chi. Cơ phong của ứng Am cứng rắn khó vào, sư nhiều lần bị quở trách”. ● 姑 息. “Cô” là cẩu thả, “Tức” là nghỉ ngơi. Nghĩa là cái đạo của tiểu nhân thì cẩu thả tạm yên vậy. Thiền Lâm Bảo Huấn q.1 (Đại 48,1018 thượng) ghi: “然 一 有 顧 利 害 較 得 失 之 心。則 依 違 姑 息 靡 所 不 至。且 身 既 不 正。又 安 能 學 道 乎。 – Nhưng có một điều: Nếu tâm mình tính đến lợi hại, so sánh hơn thua, thì sa đọa vào lỗi lầm cầu an và cẩu thả. Vả lại, thân đã bất chính thì đâu thể học đạo được!”. ● 估 唱. Đánh giá kêu bán. Chương “Trùng San Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Trạng” của Hy Vị trong CĐTĐL q. đầu ghi: “遂 於 丙 辰 年 正 月 初 十 日、將 衣 鉢 估 唱 得 統 金 一 萬 二 千 餘 緡、是 日 命 工 刊 行 於 世、流 通 祖 道。 Bèn vào ngày10 tháng 1 năm Bính Thìn đem y bát đánh giá kêu bán tất cả được hơn một vạn hai ngàn xâu tiền, ngày hôm nay sai thợ khắc bản lưu hành với đời, truyền bá đạo của Tổ.” ● 故. Cố tình, chỉ để. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “我 故 遠 來 求 法、不 要 其 衣。– Tôi từ xa đến chỉ để cầu pháp, không cần y áo.” ● 固 必. Phép tắc cố định chẳng thay đổi. Tiết Lương Sơn Sư Viễn Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “有 般 底、只 道 宗 師 家 無 固 必、凡 有 所 問、隨 口 便 答。 – Có một bọn chỉ nói rằng bậc Tông sư không có phép tắc cố định, hễ có ai hỏi điều chi, thuận miệng đáp ngay”. ● 古 錘. Cái dùi xưa, dụ chỉ cho cơ phong cơ ngữ. Bài ›Lệ giác ngâm‹ của Hòa Thượng Hương Nghiêm Trí Nhàn trong CĐTĐL q. 30 ghi: “日 裏 語、暗 磋 切、快 磨 古 錐 凈 挑 揭。” “Nhật lý ngữ, ám tha thiết Khoái ma cổ chùy tịnh khiêu yết”. “Trong ngày nói ra lời tha thiết Mài nhọn dùi xưa sạch xoi mói”. ● 古 拙. Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, hiệu Tổ Đình, người xứ Tô Châu, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Trí Độ, tông Lâm Tế. ● 鼓 引. Cổ động, đưa đường dẫn lối. Phần thượng của Trung Phong Quảng Lục q 4 ghi: “乃 至 奇 言 妙 語、與 奪 抑 揚、鼓 引 學 人 向 他 一 棒 一 喝 之 下 邪 知 曲 解 者、今 古 以 來 比 比 皆 是。 – Đối với người có tri giải tà vạy, Thiền Sư dùng ngôn ngữ kỳ đặc, khen chê, thưởng phạt đánh hét để đưa đường dẫn lối cho họ; từ xưa tới nay các ngài đều làm như vậy”. ● 古 庭 禪 師 語 錄 輯 畧. Ngữ Lục, 4 quyển, do Đào Diên biên soạn theo nội dung bộ Ngữ Lục của Thiền Sư Cổ Đình Thiện Kiên. Nội dung gồm: ― Quyển 1: Hành cước, Pháp ngữ, Thuyết giới, Tâm yếu, Tam Muội, Huyễn chương, Cảnh đồ (Răn nhắc đệ tử), Huấn đồ (Dạy bảo đệ tử). ― Quyển 2: Tam Muội, Thiền định, Hoa Nghiêm Huyễn Trụ Lược tích, Hoa Nghiêm đại ý, Thị Nhất Tông Đầu Đà, Vô Tự trực thuyết, Hỏa lô đầu thoại, Ngưu thủ nhật lục. ― Quyển 3: Luận, Thư, Bạt, Tụng. ― Quyển 4: Kệ tán, Ca, Thất tuyệt, Ngũ luật, Thất luật, Tạp thể v.v… Sách này được khắc bản lưu hành năm 1633. ● 古 德. Chỉ các bậc Cao tăng thời xưa, bậc Cao tăng đã qua đời. Phần giải tụng của tắc 59, Bích Nham Lục q.6 (Đại 48, 191 thượng) ghi: “不 見 僧 問 古 德:如 何 是 佛?古 德 云:頭 長 三 尺、頸 長 二 寸。 – Chẳng thấy tăng hỏi Cổ đức: Thế nào là Phật? Cổ đức đáp: Đầu dài ba thước (0,9m), cổ dài hai tấc (0,06m)”. ● 古 德 禪 寺. Chùa nằm ở Đông Đoan, đường Giải Phóng, Hán Khẩu, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Do Hòa Thượng Long Hy sáng lập vào niên hiệu Quang Tự thứ 3 (1877) đời Thanh, ban đầu gọi là “Cổ Đức Mao Bồng” (Lều tranh Cổ Đức). Niên hiệu Quang Tự thứ 31 (1905) đời Thanh mở rộng xây dựng. Năm 1914 đến năm 1919 cải tạo và xây dựng lại đổi tên là “Cổ Đức Thiền Tự”. Năm 1921 lại xây cất thêm. Hiện còn kiến trúc chủ yếu như Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Huyễn giác xá, Quán Âm đường, Tàng kinh lâu. Đại hùng bảo điện xây dựng mô phỏng theo kiểu chùa A Nan Đà ở Mianma. Hình dạng phần đỉnh có 9 tòa Phật tháp “cửu long bái thánh”, 96 cái bệ chín hoa sen, 24 chư thiên Bồ Tát, bố cục khéo léo, kết cấu nghiêm cẩn. Cửa cái, cửa sổ, tường vách được thiết kế tỉ mỉ, trang sức hoa lệ hiển bày phong cách đặc biệt trong nghệ thuật kiến trúc. ● 古 唐 寺. Chùa ở ngoại ô phía Đông bắc thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Được xây dựng vào niên hiệu Thần Long thứ 1 (705) đời Đường, ban đầu gọi là “Phúc Tiên Tự”. Võ Tắc Thiên từng soạn văn bia Phù Đồ cho chùa, Ngô Đạo Tử có vẽ bức Địa ngục biến đồ. Niên hiệu Khai Nguyên thứ 21 (733) tăng nhân Nhật Bản là Vinh Duệ và Phổ Chiếu sang Trung Hoa, vua Đường Huyền Tông bảo hai vị ngụ ở chùa Phúc Tiên và nhờ trụ trì chùa này là Đại sư Định Tân truyền giới cho hai người. Ba năm sau, Vinh Duệ và Phổ Chiếu cầu thỉnh tăng nhân chùa Phúc Tiên là Đạo Tuyền sang Nhật Bản hoằng pháp truyền giáo, về sau trở thành truyền nhân đời thứ hai của Thiền Tông Nhật Bản. Chùa này chiếm địa vị trọng yếu trong quan hệ Phật Giáo Trung Nhật. Niên hiệu Thiên Khải thứ 2 (1622) đời Minh tháp cao trong chùa sụp đổ, chùa Phúc Tiên bị phá hủy. Dân làng đem những phần di vật dời về phía Bắc vài dặm xây dựng lại tự viện. Năm 1922 trùng tu, đề tên là “Cổ Đường Tự”. Chùa quay lưng về hướng nam nhìn về hướng bắc, lưng tựa Lạc Hà, mặt đối diện Mang Sơn. Hiện còn bốn lớp kiến trúc là Sơn môn, Thiên vương điện, Bạch y điện, Lập Phật điện. ● 鼓 簧. Lung lay như cái lưỡi gà trong ống sáo, chỉ cho lời nói khéo léo. Thư đáp Đổng Văn Thừa Thiền nhân trong HSLNMDT q.1 ghi: “千 七 百 人、鼓 簧 播 弄、亦 不 過 递 相 發 明 此 心 地 法 門、豈 此 心 外 別 求 妙 悟 耶? – 1.700 vị Thiền Sư dùng lời nói khéo léo để truyền bá, cũng chẳng qua là giúp nhau phát minh pháp môn tâm địa này, há ngoài tâm này mà tìm diệu ngộ nào khác được sao?”. ● 鼓 合. Cổ động. Bài thơ “Phổ Hóa” trong NTNL q. hạ ghi: 者 漢 走 從 何 處 來 鼓 合 臨 濟 白 拈 賊 鐸 聲 搖 撼 動 風 雷 至 今 大 地 俱 狼 藉 “Giả hán tẩu tùng hà xứ lai? Cổ hợp Lâm Tế Bạch niêm tặc Đạc thanh diêu hám động phong lôi Chí kim đại địa câu lang tạ”. “Gã này từ đâu lại đến đây? Cổ động (cho) Lâm Tế Tay trộm giỏi. Tiếng linh chấn động gió và sấm Đến nay thế giới còn bừa bộn”. ● 古 今 獨 露 隱 顯 無 方. Cổ kim: Biểu thị thời gian; vô phương: Biểu thị không gian. Một mình hiển bày trong xưa nay, không nhất định. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho chân lý Phật giáo không hạn cuộc trong thời gian và không gian. Viên Thông Đại ứng Quốc Sư Ngữ Lục, q. thượng (Đại 80, 95 hạ) ghi: “若 是 全 擧 宗 乘、汝 等 諸 人 向 甚 處 領 會?所 以 古 今 獨 露、隱 顯 無 方。 – Cổ đức nói: Nếu như chỉ nói về Tông thừa, thì các ông lãnh hội ở chỗ nào? Vì lẽ, chân lý Phật giáo không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian”. ● 古 今 捷 錄. X. Phật Tổ Chính Truyền Cổ Kim Tiệp Lục. ● 古 鏡. Gương xưa, dụ cho Chân như Phật tính, nó tuy có khả năng chiếu soi khắp không gian thời gian, nhưng không có ý niệm chiếu soi. Bài thứ nhất trong Sơn Cư Bách Vịnh của Thiền Sư Tông Bản ghi: 山 居 古 鏡 久 埋 塵 今 日 重 磨 氣 象 新 痕 垢 淨 除 光 始 現 分 明 面 見 本 來 人 “Sơn cư cổ kính cửu mai trần Kim nhật trùng ma khí tượng tân Ngân cấu tịnh trừ quang thủy hiện Phân minh diện kiến bản lai nhân”. “Ở núi gương xưa dính bụi trần Nay được chùi lau, dáng mới tinh Bợn nhớp sạch rồi, gương lấp lánh Chiếu soi diện mục thật phân minh”. ● 古 林. Hiệu của Thiền tăng Cơ Như đời Thanh. X. Cơ Như. ● 古 梅. Hiệu của Thiền tăng Chính Hữu đời Nguyên. X. Chính Hữu. ● 古 月 (1843-1919). Thiền tăng cận đại, họ Chu, tự Viên Lãng, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc, nối pháp tông Tào Động. Sư trụ chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn. ● 古 巖. Hiệu của Thiền tăng Phổ Tựu, đời Nguyên. X. Phổ Tựu. ● 古 念 (1841-1916). Thiền tăng cận đại, họ Thư, tự Thanh Nhất, hiệu Huyễn ảnh, người xứ Chung Tường (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Quảng Phúc Thanh, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Tông Cảnh Tiệp Yếu, 4 quyển. 古 均 比 丘. Thiền tăng Đức Dị đời Nguyên, người đời gọi là Cổ Quân Tỳ kheo. X. Đức Dị. ● 鼓 山 神 晏 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Cổ Sơn Tiên Hưng Thánh Quốc Sư, Hòa Thượng Pháp Đường Huyền Yếu Quảng Tập. Còn gọi: Hưng Thánh Quốc Sư Huyền Yếu Quảng Tập. Ngữ Lục, 1 quyển, do Thần Yến soạn vào đời Đường, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục quyển 37, và Tục Tạng Kinh tập 118, trang 619. Nội dung gồm có: Các Ngữ Yếu thượng đường, lời của sư khám nghiệm tăng, lời đàm đạo với bậc Lão túc các nơi, lời thăm hỏi các bậc Đế vương, kệ tụng, sau cùng có lời bạt của Sĩ Khuê. ● 鼓 山 爲 霖 禪 師 還 山 錄. X. Hoàn Sơn Lục. ● 古 則. Câu nói dạy chúng của Cổ đức. Bao gồm các câu nói của Phật Tổ và Thiền Sư, các công án ngộ đạo của Cổ đức, những lời hỏi đáp để khám nghiệm nhau của các sư gia. Những câu nói này được nhiều người tham thiền đời sau tôn là pháp tắc khuôn mẫu nên gọi là Cổ tắc, hay Cổ tắc công án. Cổ cách = Cổ nghi = Cổ triệt: Chỉ cho phong cách gương mẫu về ngôn hạnh của Cổ đức. ● 古 清 規. Còn gọi: Cổ Quy, Bách Trượng Thanh Quy. 1. Chỉ cho Thanh quy do Thiền Sư Hoài Hải ở núi Bách Trượng biên soạn vào đời Đường. ● 2. Tự tính. Kiết hạ khai thị chúng ở Thuận Tâm Am trong Thiên Mục Minh Bản Thiền Sư Tạp Lục (Vạn Tục 111, 364 hạ) ghi: “只 如 諸 人、箇 箇 胸 中 自 有 一 本 古 清 規、且 不 要 犯 他 苗 稼。 – Chỉ như các ông, trong lòng mỗi người đều có một bản cổ thanh quy, chẳng nên phạm vào lúa mạ của người”. ● 古 話. Công án thời cổ đại. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “白 云(系 法 演 禪 師 之 法 號)又 有 箇 古 話、釋 迦 老 子 在 跋 提 河 側 般 涅 槃 了、迦 葉 始 至、繞 金 棺 而 哭、於 是 世 尊 爲 現 雙 趺、大 衆! 且 道 般 涅 槃 時 是、現 雙 趺 時 是? – Bạch Vân (là pháp hiệu của Thiền Sư Pháp Diễn) còn có một cổ thoại. Ông già Thích Ca nhập Niết Bàn ở bên bờ sông Bạt Đề; ngài Ca Diếp mới đến, đi vòng quanh kim quan buồn khóc. Khi ấy Thế Tôn vì ngài thò hai bàn chân ra ngoài. Đại chúng! Hãy nói lúc nhập Niết Bàn là phải, hay lúc thò hai bàn chân ra ngoài là phải?”. ● 古 尊 宿 語 錄. Ngữ Lục, 48 quyển, do Trách Tạng Chủ (Tăng Dĩnh Thủ Trách) soạn vào đời Tống, sư Tịnh Giới chùa Lan Cốc hiệu đính lại, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 118, trang 157. Bộ Ngữ Lục này căn cứ theo bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu 4 quyển, khắc bản vào khoảng năm 1141-1167 cũng do chính ngài biên soạn. Nội dung sưu tập Ngữ Lục của hơn 40 vị danh đức trong Thiền Tông, từ Nam Nhạc Hoài Nhượng đến Mã Tổ, Bách Trượng, Lâm Tế, Vân Môn, Chân Tịnh, Phật Nhãn, Đông Sơn. Những Ngữ Lục này phần lớn không thấy ghi trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. ● 谷 隱 山. Khoảng 7km phía Đông nam Tương Phàn, Hồ Bắc, Trung Quốc. Đời Tấn, Tập Tạc Xỉ ẩn cư nơi đây. Trong núi có chùa Cốc ẩn sáng lập vào đời Tấn, ngài Đạo An từng ở nơi đây. Trí Tĩnh thuộc tông Tào Động, đệ tử nối pháp của Trí Tĩnh là Tri Nghiễm, đệ tử nối pháp của Tri Nghiễm là Khế Sùng đều trụ trì chùa này. ● 穀 頭. Người trông nom lúa thóc trong chùa. Chức vụ này đứng dưới Điển tọa. ● 谷 泉. Thiền tăng đời Tống, hiệu Đại Đạo, người xứ Tuyền Châu, nối pháp Phần Dương Thiện Chiêu, tông Lâm Tế. Người đời gọi sư là “Ba Tiêu Am Chủ”, “Tuyền Đại Đạo”. ● 輥 毬. Lăn trái cầu. Công án, sự việc thấy ở tiết Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “Một hôm sư thăng tòa, tăng chúng tập họp đầy đủ. Sư lăn quả cầu gỗ, Huyền Sa bèn lượm lại đặt vào chỗ cũ.” Đây là sự thi thiết vô nghĩa của Thiền gia, ý nghĩa quét sạch ngôn ngữ ý thức của người học đạo, không thể dựa vào tình thức ý tưởng để suy đoán lý giải. Tiết Thiềm phán Lưu Kinh Thần cư sĩ trong NĐHN q.16 ghi: “分 宗 列 派、各 有 門 庭… 或 持 義 張 弓、輥 毬 舞 笏。或 拽 石 般 土、打 鼓 吹 毛。 – Chia tông tách phái đều có môn đình… hoặc cầm chỉa giương cung, lăn cầu múa hốt, hoặc khuân đá gánh đất, đánh trống thổi lông.” ● 崑 崙 嚼 生 鐵. Nhai nguyên cả thỏi sắt, vốn đã không nhai được mà cũng chẳng có mùi vị. Thiền lâm dùng nhóm từ này để chỉ trạng thái không còn phân biệt suy nghĩ. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q.1 (Vạn Tục 111, 330 hạ) ghi: “僧 問:靈 山 密 付、還 許 學 人咨 參 也 無?師 云:崑 崙 嚼 生 鐵。 – Tăng hỏi: Như sự trao truyền bí mật ở Linh Sơn, có cho người học thưa hỏi hay không?Sư đáp: Nhai nguyên cả thỏi sắt”. ● 公 案. Là một chuyện tích hoặc là phần ghi chép về những sự kiện hỏi đáp, thương lượng chí lý trong nhà Thiền. Nó thường mang tính phi lý, chẳng thể dùng bộ óc để lý giải, làm cho Thiền giả cảm thấy thắc mắc mà phát khởi nghi tình, từ đó mới có cơ hội ngộ đạo. Tựa thứ 4 của Bích Nham Lục (Đại 48, 139 trung) ghi: “嘗 謂 祖 教 之 書 爲 之 公 案 者。倡 於 唐 而 盛 於 宋、斯 來 尚 矣。 – Từng bảo sách của Thiền Tông là công án, xướng từ đời Đường nhưng thạnh ở đời Tống, cho đến nay vẫn còn”. ● 公 案. Tác phẩm: Lục Ba Tỵ Ca. ● 功 不 浪 施. Công phu không phải vô ích. Mật Am Ngữ Lục ghi: “百 味 具 足。其 中 只 欠 一 味。且 道。是 油 是 醬。若 點 檢 得 出。華 藏(系 密 庵 禪 師 之 法 號)功 不 浪 施。其 或 未 然。更 聽 重 下 注 腳。 – Trăm vị đầy đủ, trong đó chỉ thiếu một vị, thử hỏi là dầu hay là tương? Nếu phân biệt được thì Hoa Tạng (pháp hiệu Thiền Sư Mật Am) ra công không phải vô ích; nếu chưa được như thế thì hãy lắng nghe ta chú cước thêm lần nữa.” ● 公 辦 私 辦. Giải quyết toàn bộ, tất cả đều thành công. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng: “上 堂 擧:寶 壽 作 街 坊 時、見 兩 人 相 諍。一 人 以 手 打 一 拳 云:你 得 恁 無 面 目! 寶 壽 因 而 得 入。若 人 於 此 知 落 處、可 謂 公 辦 私 辦。 – Sư thượng đường, cử: Lúc Bảo Thọ vào chợ xin vật thực, thấy hai người đang cãi nhau. Một người tát người kia một cái, nói: Mày đúng là thằng không có mặt mũi! Bảo Thọ nhân đây lãnh ngộ. Nếu ai biết được ý này, có thể nói rằng người đó đã thành công”. ● 功 干. Hành vi tu tập mong cầu dẫn đến phúc báo. Tiết Kính Sơn Hồng Nhân Thiền Sư trong NĐHN q.9 ghi: “僧 問:掩 息 如 灰 時 如 何?師 曰:猶 是 時 人 功 幹。曰:幹 後 如 何?師 曰:耕 人 田 不 種。曰:畢 竟 如 何?師 曰:禾 熟 不 臨 場。 – Tăng hỏi: Khi luyện được thân tâm lặng lẽ như tro thì sao? Sư đáp: Vẫn còn là người tu tập mong cầu dẫn đến phúc báo. Tăng hỏi: Trải qua ngàn năm sau thì thế nào? Sư đáp: Giống như người cày mà ruộng chẳng gieo. Hỏi: Rốt cuộc thế nào? Sư đáp: Lúa chín mà không đem đến sân phơi.” ● 功 用. Tác dụng, vận dụng. Lâm Tế Lục ghi: “爾 要 與 祖 佛 不 別。但 莫 外 求。爾 一 念 心 上 清 淨 光。是 爾 屋 裏 法 身 佛。爾 一 念 心 上 無 分 別 光。是 爾 屋 裏 報 身 佛。爾 一 念 心 上 無 差 別 光。是 爾 屋 裏 化 身 佛。此 三 種 身 是 爾 即 今 目 前聽 法 底 人。秖 爲 不 向 外 馳 求。有 此 功 用。 – Các ngươi muốn được như Phật Tổ, chỉ đừng tìm bên ngoài. Trên một niệm tâm sáng suốt thanh tịnh của các ngươi là ngôi nhà Phật pháp thân. Trên một niệm tâm sáng suốt không phân biệt là ngôi nhà Phật báo thân. Trên một niệm tâm sáng suốt không sai biệt là ngôi nhà Phật hóa thân. Ba thứ thân nầy là người nghe pháp hiện nay. Có điều là không nên dong ruỗi tìm bên ngoài thì mới có tác dụng nầy.” ● 功 德. Công nghiệp đức hạnh dẫn đến quả báo tốt lành. Truyện Huệ Năng trong Tống Cao Tăng Truyện q. 8 ghi: “Hoằng Nhẫn hỏi: Ngươi làm công đức gì? Huệ Năng đáp: Xin hết lòng đeo đá giã gạo cho đại chúng mà thôi.” Xét ý nghĩa của từ ngữ “công đức” có liên quan với thuyết nhân quả báo ứng, thiền gia cho đây là pháp môn phương tiện, chẳng phải là pháp triệt ngộ trực chỉ nhân tâm. Cho nên Thiền Sư có khi mượn dùng từ “công đức” với ý nghĩa trái ngược thường tình, chỉ cho triệt ngộ tâm địa. Tiết Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma Đại Sư trong NĐHN q.1 ghi: “十 月 一 日 至 金 陵。帝 問 曰:朕 即 位 已 來、造 寺 寫 經、度 僧 不 可 勝 紀、有 何 功 德?祖 曰:並 無 功 德。帝 曰:何 以 無 功 德?祖 曰:此 但 人 天 小 果、有 漏 之 因、如 影 隨 形、雖 有 非 實。帝 曰:如 何 是 眞 功 德?祖 曰:淨 智 妙 圓、體 自 空 寂、如 是 功 德、不 以 世 求。 – Một ngày tháng 10 sư đến Kim Lăng. Vua Lương Võ Đế hỏi: Trẫm từ khi lên ngôi đến nay cất chùa in kinh độ tăng không sao kể xiết, có công đức gì không? Tổ nói: Hoàn toàn không công đức. Vua hỏi: Vì sao không công đức? Tổ nói: Đây chỉ là quả nhỏ thuộc hàng trời người, là nhân hữu lậu, như bóng theo hình, tuy có mà không thật. Vua hỏi: Vậy như thế nào là công đức chân thật? Tổ nói: Tịnh trí kì diệu tròn đầy, thể tự vắng lặng, công đức như thế không thể đem thế gian cầu được.” ● 功 德 叢 林. Chỉ cho Thiền pháp. Vì Thiền pháp có năng lực phát khởi trí huệ, thần thông, nên công đức vô lượng. ● 公 界. Vật công cộng. Trong Thiền lâm dùng từ này để chỉ cho vật thường trụ, là của cải chung của mười phương Tăng. Điều QuảinTháp trong Thiền Uyển Thanh Quy q.1 (Vạn Tục 111, 440 hạ) ghi: “新 到 兩 展 三 禮、如 在 上 法 眷、亦 兩 展 三 禮、所 以 還 住 持 人 公 界 之 禮 也。 – Người mới đến phải lễ vị Trụ trì và pháp quyến hai lần, mỗi lần 3 lạy để trả ân vị Trụ trì có công quản lý công giới (Vật thường trụ)”. ● 功 勛 邊 事. Thuộc về việc tích lũy công đức dẫn đến việc hưởng phúc báo về sau. Đối với Thiền Tông, đây chỉ là pháp môn phương tiện, bởi vì việc làm này chẳng thể khiến người học triệt ngộ tâm địa, siêu việt sinh tử. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.6 ghi: “問:一 切 處 不 乖 時 如 何?師 曰:此 猶 是 功 勳 邊 事。有 無 功 之 功、子 何 不 問? – Hỏi: Lúc tất cả chỗ chẳng trái nghịch thì sao? Sư đáp: Đây cũng còn là công huân biên sự. Có công đức “vô công” sao ngươi chẳng hỏi?”. ● 功 課. Công phu tu hành của chư tăng. Tiết Vân Nham Hòa Thượng trong TĐT q.5 ghi: “切 囑 第 一 莫 向 舌 頭 上 取 辯、記 他 了 事 言 語 有 什 麼 用 處?這 箇 功 課 從 無 人 邊 得、不 由 聰 明 强 記。 – Tôi hết sức thiết tha căn dặn là chớ nên thông qua ngôn ngữ mà tham cứu thiền pháp. Ghi nhớ lời nói của người đã triệt ngộ có dùng được chỗ nào? Công phu tu hành này không từ người khác mà được, chẳng do thông minh nhớ dai mà được.” ● 功 虧 一 簣. Thiếu một tí mà bỏ dở. Theo Thượng Thư Lữ Ngao: “Đắp núi cao 72 thước, chỉ thiếu một sọt đất”. Quỹ là sọt đất đá, đắp một trái núi đã rất cao, nhưng thiếu một sọt đất, núi sẽ không đắp thành. Đời sau dùng thành ngữ này để chỉ cho khi làm việc gì, đôi khi thiếu một chút sức lực cũng không hoàn thành được công việc. ● 公 驗. Giấy chứng minh Tu sĩ do quan địa phương cấp cho các vị tăng du phương vào đời Đường, Tống. Vân Môn Quảng Lục, q. trung ghi: “某 甲 有 隨 身 公 驗。 – Tôi có giấy chứng minh Tu sĩ bỏ theo bên mình”. ● 功 夫. Có 1 nghĩa: 1. Dụng công tu tập một pháp môn có đường lối rõ ràng. Đại Huệ thư, q. thượng (Đại 47, 916 trung) ghi: “此 心 雖 未 嘗 一 念 退 屈、自 覺 功 夫 終 未 純 一。 – Tâm này dù chưa có một niệm lui sụt, nhưng tự biết công phu chưa được thuần nhất”. ● 2. Rảnh rang. Triệu Châu Lục, q. trung (Vạn Tục 118, 160 thượng) ghi: “問、如 何 是 大 人 相。。。師 云、老 僧 無 工 夫 趨 得 者 閑 漢。 – Hỏi: Thế nào là tướng đại nhân? (…) Sư đáp: Lão tăng không có rảnh rang như người nhàn hạ”. ● 功 夫 成 片. Tham thiền dụng công đề câu thoại đầu phát khởi nghi tình, ngày đêm 24 giờ chẳng có phút giây gián đoạn tức là công phu thành phiến, cũng gọi là đi đến thoại đầu. X. Đả Thành Nhất Phiến. ● 功 曹. Vốn chỉ cho một chức quan đời Hán, trông coi việc xét xử, dưới quyền Quan huyện, nó tương đương với chức Thẩm phán ngày nay. Trong Phật giáo, mượn dùng để chỉ cho cái ngu tối nguyên thủy hay khởi lên bao điều phiền não. Kinh Tứ Nhập Nhị Chương (Đại 17, 713 trung) ghi: “佛 謂 之 曰:若 斷 陰 不 如 斷 心、心 爲 功 曹、若 止 功 曹、從 者 都 息、邪 心 不 止、斷 陰 何 益? – Phật bảo người ấy rằng: Đoạn âm không bằng đoạn tâm. Tâm như vị Thẩm phán. Thẩm phán nếu nghỉ, thì kẻ tùng sự đều nghỉ. Tà tâm chẳng dứt, đoạn âm ích gì?”. ● 功 位 勦 絕. Công vị: Địa vị sai khác trong giai đoạn tu hành của sơ tâm; Tiểu tuyệt: Dứt hết. Công Vị Tiểu Tuyệt là công phu tu hành đã tiến vào cảnh giới cao tột, tức không còn những giai vị sai biệt như sơ tâm, hậu tâm. ● 骨 底 骨 董. Còn gọi: Cốt Đổng 骨 董. Người cổ lỗ, đồ ngoan cố, hàm ý khinh bỉ. Tiết Tịnh Cư Ni Diệu Đạo Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “尼 問:如 何 是 佛?師 曰:非 佛。曰:如 何 是 佛 法 大 意?師 曰:骨 底 骨 董。 – Ni hỏi: Thế nào là Phật? Sư đáp: Chẳng phải Phật. Ni hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Sư đáp: Đồ ngoan cố.” ● 骨 董. Đồ lặt vặt đã cũ, không có giá trị bao nhiêu. Đồ lạc xon. Vân Môn Quảng Lục q. thượng ghi: “若 是 一 般 掠 虛 漢。食 人 膿 唾。記 得 一 堆 一 擔 骨 董。到 處 馳 騁 驢 脣 馬 觜。誇 我 解 問 十 轉 五 轉 話。 – Nếu người giống như đồ giả hiệu, ăn đàm dải của người, nhớ được một đống một gánh đồ lạc xon, chạy đến đến nơi nào cũng bàn luận khoe khoang. Khoe ta nói được năm, mười chuyển ngữ.” ● 機. 1. Căn cơ của mọi người, năng khiếu trời sinh. X. Cơ duyên, Cơ khí. ● 2. Sự lý vi diệu sâu kín, không để lại dấu vết. Hễ lơi lỏng thì trượt qua mất, ngôn ngữ không cách gì biểu đạt được. Tiết Tín Tương Giới Tu Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “兩 輪 舉 處 煙 塵 起、電 急 星 馳 擬 何 止?目 前 不 礙 往 來 機、正 令 全 施 無 表 裡。 – Hai vầng (mặt trời, mặt trăng) vận chuyển khói bụi dấy, điện chớp sao xẹt làm sao dừng? Trước mắt không ngại cơ qua lại, chính lệnh thi hành không trong ngoài.” ● 機 變. Thiền cơ biến hóa, cơ phong biến hóa. Như Tịnh Ngữ Lục q.thượng ghi: “眼 裏 抽 釘、腦 後 拔 箭、本 來 無 象 通 機 變。 – Nhổ đinh trong mắt, rút tên sau ót, xưa nay không có khuôn mẫu, phải biết thiền cơ biến hóa.” Bích Nham Lục q.1 ghi: “兩 喝 與 三 喝、作 者 知 機 變。 – Hai phen hét cùng ba lần gọi, bậc thầy tài giỏi biết cơ phong biến hóa.” ● 機 機. Còn gọi: Cơ Cơ Tương Ứng, Cơ Cơ Tương Phó, Cơ Cơ Đầu Hợp. Cơ của bậc thầy và cơ của người học. Tâm địa Thiền Sư và của người học thầm khế hợp nhau. Tắc 50, Bích Nham Lục (Đại 48, 185 trung) ghi: “度 越 階 級、超 絕 方 便、機 機 相 應、句 句 相 投。 – Vượt qua thứ bậc, thoát hẳn phương tiện, cơ cơ khế hợp, lời lời khớp nhau”. ● 機 用. Phương pháp siêu việt ngôn thuyên (dùng lời nói để giải thích). Cơ dụng mà các Thiền Sư đại triệt đại ngộ thường dùng như: Gậy và thủ thế, hoặc gậy và hét, nhằm giúp người học tiến sâu vào cảnh giới Thiền. Các bậc “Thầy” của phương pháp này là Mã Tổ, Bách Trượng, Hoàng Bá và Lâm Tế. Lâm Gian Lục, q. thượng (Vạn Tục 148, 194 hạ) ghi: “獨 江 西 石 頭 而 下、諸 大 宗 師 以 機 用 應 物。觀 其 問 答、溟 涬 然 令 人 坐 睡。 – Chỉ có từ Mã Tổ và Thạch Đầu trở xuống, các đại Tông sư mới dùng phương pháp vượt thoát ›cách giải thích bằng lời nói‹ để tiếp độ người. Những cách vấn đáp ấy, khiến người không phải đương cơ mờ mịt, khó hiểu”. ● 機 緣. 1. Căn cơ chúng sinh và nhân duyên ngộ pháp. Nếu hai thứ này khế hợp thì mới được tỉnh ngộ. Tiết Tín Tương Tông Hiển Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “明 日、祖 往 舒 城、師 與 悟 繼 往、適 會 於 興 化。祖 問 師:記 得 曾 在 那 裡 相 見 來?師 曰:全 火 祇 候。祖 顧 悟 曰:這 漢 饒 舌! 自 是 機 緣 相 契。 – Hôm sau, Tổ (chỉ Ngũ Tổ Pháp Diễn) đến thành Thư Châu, sư cùng Ngộ (chỉ Viên Ngộ) cũng đến đấy may mắn gặp nhau ở Hưng Hóa. Tổ hỏi sư: Có nhớ từng gặp nhau ở đâu không? Sư đáp: Toàn là các bậc lão luyện. Tổ xoay lại nhìn Ngộ nói: Gã này lắm mồm! Từ đó cơ duyên Thầy trò khế hợp.” ● 2. Lời hỏi đáp, cử chỉ, hành vi của Thiền Sư kịp thời ứng phó với nhân duyên ngộ pháp của người học. Nghĩa Huyền Thanh trong Lâm Tế Ngữ Lục q.cuối ghi: “首 參 黃 蘗。次 謁 大 愚。其 機 緣 語 句 載 于 行 錄。 – Ban đầu sư tham vấn ngài Hoàng Bá. Kế đó yết kiến ngài Đại Ngu. Cơ duyên ngữ cú của sư đầy dẫy ở trong Hành Lục.” ● 機 教. Căn cơ của chúng sinh và sự giáo hóa của Phật pháp. Truyện Thần Tú trong Tống Cao Tăng Truyện q.8 ghi: “梁 武 帝 向 以 有 爲 之 事、達 摩 貴 傳 徑 門 心 要、機 教 相 乖、若 水 投 火。 – Lương Võ Đế nhắm vào việc hữu vi, còn Đạt Ma thì muốn truyền pháp môn tâm yếu thẳng tắt, căn cơ trái ngược với sự giáo hóa như tưới nước vào lửa.” ● 機 劃. Khéo léo biết dự tính. Pháp Diễn Ngữ Lục q.trung ghi: “荷 衆 諸 禪 流、纔 能 足 機 劃。 – Các thiền tăng là những người thanh tịnh, mới có thể đủ khéo léo biết dự tính.” ● 幾 合. Còn gọi: Kịp Hợp (洎 合), Cơ hồ. Động Sơn Ngữ Lục ghi: “源(指 南 源 和 尚)曰:心 心 無 間 斷、流 入 於 性 海。師 曰:機 合 放 過! – Nguyên (chỉ cho Nam Nguyên Hòa Thượng) nói: Tâm tâm không gián đoạn, chảy vào trong biển tính. Sư bảo: Cơ hồ vuột qua rồi!”. ● 機 契. Khế hợp thiền cơ, lãnh hội thiền pháp. Tiết Báo Ân Pháp Thường Thủ tọa trong NĐHN q.18 ghi: “自 湖 湘 至 萬 年 謁 雪 巢、機 契、命 掌 牋 翰。 – Sư từ Hồ Bắc Hồ Nam đến Vạn Niên yết kiến ngài Tuyết Sào, khế hợp thiền cơ và vâng lời ngài trông coi việc thư từ.” Tiết Vĩnh Phong Huệ Nhật Am chủ trong NĐHN q.18 ghi: “丱 歲 出 家、於 明 心 寺 得 度。自 機 契 雲 居、熟 游 湘 漢、暨 歸 永 豐、或 處 巖 谷、或 居 廛 市、令 鄉 民 稱 丘 師 伯。 – Sư xuất gia từ thuở bé, được độ làm tăng ở chùa Minh Tâm. Từ khi sư lãnh ngộ thiền pháp Vân Cư, thường tới lui vùng Tương, Hán. Đến khi trở về Vĩnh Phong, hoặc ở trong hang đá, hoặc ở chốn chợ búa, khiến dân làng gọi sư là ›Khâu sư bá‹” ● 機 器. Căn cơ tài năng của con người. Tiết “Nghệ Ngôn” trong NHQL q.29 ghi: “或 宜 看 教、或 不 宜 看 教、此 在 機 器 不 同、未 可 執 一 而 論。如 英 明 之 士、何 須 看 教 方 可 參 禪?如 愚 鈍 之 流、看 教 尚 恐 難 通、況 參 禪 乎? – Có người nói nên xem kinh, có người nói chẳng nên xem kinh, việc này tại cơ khí chẳng đồng, không thể giữ khăng khăng một mực. Nếu là kẻ sáng suốt đâu cần xem kinh mới có thể tham thiền? Còn như hàng ngu độn, xem kinh còn e khó thông, huống là tham thiền ư?” ● 機 語. Lời nói thăm dò, trao đổi thiền pháp hoặc là khơi gợi người học ngộ được ý chỉ thiền. Có vài cơ ngữ rất thông thường, như: “Cơ lai tắc thực, khốn thời tắc miên” (Đói ăn, mệt ngủ), Hàn thời hướng hỏa, nhiệt thời thủ lương (Lạnh thì sưởi ấm, bức thì hóng mát). Có vài cơ ngữ thật đặc biệt, lạ lùng, như: Thạch thượng liên hoa (Hoa sen trên đá), Trương công ngật tửu Lý công túy (Ông Trương uống rượu, Ông Lý say). Những lời này cùng với chỉ ý Thiền Tông, đặc điểm phong cách của các nhà các phái Thiền Tông cho đến hoàn cảnh cơ ngữ cụ thể v. v… đều có liên hoan. Tiết Giáo Trung Di Quang Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “遂 出 嶺、謁 圓 悟 禪 師 於 雲 居。次 參 黃 檗 祥 高 庵 悟、機 語 皆 契。 – Sư liền ra khỏi núi, yết kiến Thiền Sư Viên Ngộ ở Vân Cư, kế đó tham vấn Hoàng Bá Tường, Cao Am Ngộ, cơ ngữ đều khế hợp.” ● 機 如 (1632-?). Thiền tăng đời Thanh, họ Phan, hiệu Cổ Lâm, người Thượng Hải, Trung Quốc, nối pháp Trúc Am Chân Diễn, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Liên Hoa Cổ Lâm Thiền Sư Ngữ Lục 4 quyển. ● 機 法. Cách thức khám phá và chuyển hóa căn cơ người học của các bậc thầy kiến tính, và cách thức này rất được người học tin nhận. ● 機 鋒. Chỗ vi diệu sâu kín, sắc sảo của thiền cơ. Tính cách sắc bén của Thiền Sư khi tiếp hóa người học, hoặc của thiền tăng khi khảo nghiệm lẫn nhau. Đặc điểm của nó là: — Thường dùng ý sâu sắc mà không để lại dấu vết. — Dùng lối nói vô lý để biểu hiện cảnh giới của riêng mình. Lâm Gian Lục, q.hạ (Vạn Tục 148, 317 hạ) ghi: “雲 菴 大 稱 賞 之、謂 其 機 鋒 不 減 英 邵 武。 – Vân Am rất khen ngợi, cho rằng cơ phong không kém Anh Thiệu Vũ”. Cơ phong tiễu tuấn 機 鋒 峭 峻: Thuật ngữ hình dung cơ phong bén nhạy lanh lợi khiến người kính sợ. Thạch Khê Tâm Nguyệt Thiền Sư Ngữ Lục q.thượng (Vạn Tục 113, 11 hạ) ghi: “若 爲 施 工、見 解 玄 微、機 鋒 峭 峻、正 是 膏 肓 良 醫。 – Nếu làm bậc chỉ dạy cho người thì phải có chỗ thấy hiểu sâu xa, cơ phong bén nhạy, chính là thầy thuốc giỏi trị được bệnh nặng”. ● 機 關. Mưu chước, cơ pháp mà vị Thầy tùy theo căn cơ lập ra, giúp cho người học khai ngộ và chỉ phù hợp với căn bản của từng người thôi. Cơ pháp ấy có thể là: Công án, thoại đầu, đánh và hét. Tắc 41, Bích Nham Lục (Đại 48, 179 hạ) ghi: 雪 團 打、雪 團 打 龐 老 機 關 沒 可 把 天 上 人 間 不 自 知 眼 裏 耳 裏 絕 瀟 灑 瀟 灑 絕! 碧 眼 胡 僧 難 辦 別 “Tuyết đoàn đả, tuyết đoàn đả Bàng lão cơ quan một khả bả Thiên thượng nhân gian bất tự tri Nhãn lý nhĩ lý tuyệt tiêu sái Tiêu sái tuyệt! Bích nhãn Hồ tăng nan biện biệt”. “Vo hòn tuyết, vo hòn tuyết Mưu chước Bàng lão không nắm được Thiên thượng nhân gian chẳng tự hay Nơi mắt nơi tai hết thong dong Thong dong tột! Bồ Đề Đạt Ma khó giải phân”. Hỏa, Nhiệt Tắc Thừa Lương ● 饑 則 吃 飯、困 則 打 眠、寒 則 向 火、熱 則 乘 涼. Đói thì ăn, mệt thì ngủ, lạnh thì sưởi ấm, nóng thì hóng mát. Là một cách nói mà thiền gia đề xướng “bình thường tâm thị đạo”, cùng tự tâm là Phật, mọi người sẵn có không cần khổ hạnh tu luyện, làm nhiều việc và chấp trước ngữ ngôn tri thức; phản ánh đặc điểm bất đồng giữa Thiền Tông với những tông phái Phật giáo khác. Mật Am Ngữ Lục ghi: “大 丈 夫 漢。眼 裹 有 筋 皮 下 有 血。二 六 時 中。只 守 閑 閑 地。飢 則 喫 飯。困 則 打 眠。寒 則 向 火。熱 則 乘 涼。上 無 諸 佛 可 仰。下 無 眾 生 可 度。人 與 非 人。性 相 平 等。 – Bậc đại trượng phu ánh mắt lanh lợi, có khí phách hơn người, trong 24 giờ chỉ ở chỗ nhàn rỗi, đói thì ăn, mệt thì ngủ, lạnh thì sưởi ấm, nóng thì hóng mát. Trên không có chư Phật để cầu, dưới không có chúng sinh để độ, nhân cùng phi nhân tính tướng bình đẳng.” ● 機 先. Còn gọi: Cơ Tiền, Thiên Địa Vị Khai Chi Tiền. Trước khi thiền cơ phát ra, siêu việt thiền cơ. Thiền Tông mượn từ Cơ tiên để chỉ cho trạng thái một niệm chưa khởi, một lời chưa nói ra. Như Tịnh Hòa Thượng Ngữ Lục, q. hạ (Đại 48, 131 thượng) ghi: 捏 住 乾 坤 粉 一 團 大 人 剛 被 小 人 瞞 機 先 若 具 機 先 眼 走 殺 從 教 起 釁 端 “Niết trụ càn khôn phấn nhất đoàn Đại nhân cương bị tiểu nhân man Cơ tiên nhược cụ cơ tiên nhãn Tẩu sát tùng giao khởi hấn đoan”. “Bóp nát đất trời vò một hòn Đại nhân chỉ bị tiểu nhân lờn Cơ tiên nếu có cơ tiên nhãn Mặc cho đem giết khởi căm hờn”. ● 機 思. Cơ phong tài trí. Tông Môn Võ Khố ghi: “後 數 日 舉 立 僧 秉 拂。機 思 遲 鈍。巷 堂 大 笑。 – Sau đó vài ngày cử ra vị tăng thay thế Trụ trì nói pháp cho đại chúng, nhưng vì cơ phong tài trí chậm lụt nên khiến đại chúng cười ồ lên.” ● 機 要. Còn gọi: Yếu Cơ. Then máy quan trọng. Phần giải tụng của tắc 68, Bích Nham Lục q.7 (Đại 48, 198 trung) ghi: “騎 虎 由 來 要 絕 功。有 如 此 之 高 風 最 上 之 機 要。 – Câu ›Cưỡi cọp xưa nay cần bản lãnh‹ có phong cách vượt bậc như thế, là then máy quan trọng hơn hết”. ● 句 裏 呈 機. Trong lời nói hiển bày cơ phong. Bích Nham Lục q.1 ghi: “句 裏 呈 機 劈 面 來、爍 迦 羅 眼 絕 纖 埃。 – Trong lời bày cơ vỡ mặt ra, con mắt hư không sạch bụi nhỏ”. ● 句 中 有 機. Trong lời nói có hàm chứa cơ phong. Bích Nham Lục q.1 ghi: “這 僧 也 敢 捋 虎 須、致 箇 問 頭、大 似 無 事 生 事、爭 奈 句 中 有 機。他 既 呈 機 來、趙 州 也 不 辜 負 他 問 頭、所 以 亦 呈 機 答。 – Ông tăng này dám vuốt râu cọp, đặt ra câu hỏi rất giống như vô sự sinh sự, không ngờ trong lời nói có hàm chứa cơ phong. Ông ta đã trình cơ rồi, Triệu Châu cũng không muốn làm ông ta thất vọng nên dùng cơ phong đáp lại”. ● 瞿 汝 稷 (?-?). Còn gọi: Bàn Đàm. Cư sĩ Trung Quốc, sống vào đời Minh, tự Nguyên Lập, hiệu Na La Quật Học Nhân, người huyện Thường Thục, tỉnh Giang Tô. Làm quan Chủ sự bộ hình, Trường Lô viêm Vận sứ, Thái bộc thiếu Khanh. Tác phẩm: Thạch Kinh Đại Học Chất Nghi, Chỉ Nguyệt Lục 30 quyển, Quýnh Hương Tập v.v… ● 具 眼 者. Còn gọi: Cụ Nhãn Nạp Tăng. Người có pháp nhãn. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho người có khả năng thấy suốt nguyên tắc của vũ trụ và Thật tướng của tất cả hiện tượng. Tắc 68, Bích Nham Lục (Đại 48, 198 thượng) ghi: “仰 山 哈 哈 大 笑(可 謂 是 箇 時 節、錦 上 鋪 花;天 下 人 不 知 落 處。何 故?土 廣 人 稀 、相 逢 者 少。似 巖 頭 笑、又 非 巖 頭 笑;一 等 是 笑、爲 什 麼 却 作 兩 段?具 眼 者 始 定 當 看。) – Ngưỡng Sơn cười to ha hả (đáng bảo là cái thời tiết này, trên gấm thêu hoa, mọi người chẳng biết chỗ cứu cánh. Vì sao? Đất rộng người thưa, ít gặp được người. Giống như Nham Đầu cười, lại chẳng phải Nham Đầu cười, một kiểu cười này sao lại chia làm hai phần? Người có pháp nhãn thử định xem!)” ● 鞠 勘. Thẩm vấn. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “血 濺 梵 天、四 天 之 下、霈 然 有 余。玉 皇 大 帝 惡 發、追 東 海 龍 王、向 金 輪 峯 頂 鞠 勘。頃 刻 之 間、追 汝 諸 人 作 証 見 也。且 各 請 依 實 供 通、切 忌 回 避。 – Máu bắn tung tóe nơi cõi Phạm Thiên, còn ở bốn cõi trời Dục giới máu me tràn ngập. Ngọc Hoàng Đại đế nổi giận đuổi bắt Đông Hải Long Vương đem lên đỉnh núi Kim Luân để thẩm vấn. Trong khoảnh khắc lùa các ông đến chứng kiến. Xin mời mỗi vị y sự thật trình bày, rất kỵ giấu giếm.”. ● 局 局. Câu nệ, trói buộc. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.3 ghi: “天 童 仰 遵 古 轍、步 伍 不 失 尺 寸、而 出 奇 神 變 未 見 所 長。眞 歇 語 言 超 逸 意 趣 自 在、發 揮 醒 露 不 費 氣 力、雖 不 局 局 於 法、而 實 不 背 於 法 也。 – Thiên Đồng kính cẩn noi theo vết xưa, bước đi rập khuôn mà xuất kỳ thần biến chưa thấy sở trường. Chân Hiết lời nói vượt mức tầm thường, ý thú tự tại, phát huy con đường tỉnh giác mà chẳng phí khí lực. Tuy chẳng câu nệ ở pháp mà thực chẳng trái nơi pháp”. ● 局 曲. Câu nệ, quanh co. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “今 有 等 妄 人、任 情 縱 恣、決 裂 禮 法、反 笑 守 律 儀 者 爲 局 曲、果 何 心 哉?昔 大 覺 璉 動 靜 尊 嚴、圓 通 訥 一 見 眞 以 大 器 期 之;黃 龍 南 進 止 有 度、居 常 正 襟 危 坐。二 老 豈 局 曲 之 士 哉? – Nay có bọn người giả dối, theo tình buông lung, đoạn tuyệt với lễ pháp, họ cười người giữ luật nghi là câu nệ, như vậy họ là người tâm địa ra sao? Xưa kia ngài Đại Giác Liễn lúc động hay tĩnh đều tôn nghiêm, ngài Viên Thông Nột vừa gặp một lần liền biết là pháp khí; ngài Hoàng Long Nam tiến dừng đều có chừng mực, ở trong thất thường ngồi ngay thẳng, y áo chỉnh tề. Hai vị này há là nguời câu nệ sao?”. ● 龔 哥 (1140-1210). Thiền tăng đời Tống, tên chữ là Tự Ngộ, có lần lấy tên nầy làm pháp danh, người Lạc Xương, Quảng Đông, Sư là người sau cùng hoằng pháp tông Vân Môn, đời thứ 11. ● 供 衆. Cung cấp lương thực nuôi dưỡng tăng chúng trong tự viện. Huệ Năng truyện trong TCTT q.8 ghi: “愿 竭 力 抱 石 而 舂、供 衆 而 已。 – Nguyện hết sức đeo đá giã gạo để cung cấp lương thực nuôi dưỡng tăng chúng trong tự viện mà thôi”. ● 供 頭 行 者. Còn gọi: Cung Quá Hành Giả. Gọi tắt: Cung Đầu, Cung Tư. Người chuyên coi về việc phân phối cơm canh, trà quả và việc đốt đèn, sắm đặt hương hoa, đánh chuông trong Tăng đường, Phật đường và Từ đường. Từ ngữ Cung quá, chỉ cho chức làm việc ở Quá đường. ● 供 奉. 1. Chức quan quản lý Phật giáo, do vị tăng vừa có học thức vừa có đức hạnh đảm nhiệm. Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q.3 ghi: “諸 供 奉 曰:我 等 諸 人、謾 作 供 奉、自 道 解 經 解 論、据 他 禪 宗 都 勿 交 涉。 – Các vị tăng quan nói: Chúng con dối làm Cung Phụng, tự nói hiểu kinh hiểu luận, nhưng căn cứ theo Thiền Tông thì (những sự hiểu biết đó) đều không có dính dáng”. ● 2. Người có tay nghề giỏi. Nghệ nhân. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “五 祖 平 旦、遂 喚 盧 供 奉 來 南 廊 下 畫 楞 迦 變 相。 – Lúc trời hừng đông, Ngũ Tổ gọi nghệ nhân họ Lư đến hành lang phía nam để vẽ bức tranh Lăng già biến tướng”. ● 供 通. Trình bày, trần thuật. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “頃 刻 之 間、追 汝 諸 人 作 証 見 也。且 各 請 依 實 供 通、切 忌 回 避。儻 若 不 實、喪 汝 性 命。 – Trong khoảnh khắc lùa các ông đến làm. Xin mời mỗi vị y theo sự thật mà trình bày, rất kỵ giấu giếm. Nếu như chẳng thật thì các vị tự vùi chôn tính mạng!” ● 供 朝 夕. Việc chi dụng hàng ngày. Tiết Bàng Uẩn Cư sĩ trong NĐHN q.3 ghi: “有 女 名 靈 照、常 鬻 竹 漉 篱 以 供 朝 夕。 – Ông có người con gái tên Linh Chiếu, thường bán trúc bện sáo để chi dụng hàng ngày”. ● 供 養 主. Còn gọi: Hóa Chủ. Vị tăng trong chùa chuyên môn làm việc quyên góp tài vật ngoài chợ búa. Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q.10 ghi: “來 日 供 養 主 設 齋。 – Ngày mai, Cúng dường chủ thiết trai”. ● 筇 竹 寺. Chùa nằm trên núi Ngọc Án cách thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc về phía Tây bắc 12km. Được xây dựng vào niên hiệu Trinh Quán thứ 12 (638) đời Đường. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 17 (1280) Hòa Thượng Hùng Biện xây cất lại thành tự viện Thiền Tông, là chùa đầu tiên truyền nhập Thiền Tông vào Vân Nam. Khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) đời Minh chùa bị thiêu hủy, niên hiệu Tuyên Đức thứ 9 (1434) xây cất lại, đến triều Thanh lại được nhiều lần sửa chữa. Chùa quay lưng về hướng bắc nhìn về hướng nam, dựa vào thế núi mà xây cất, điện vũ chủ yếu có Sơn môn, Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Hoa nghiêm các, Phạm âm các, Thiên thai các và Hành lang. Hiện còn Tam Thế Phật được đắp vào đời Nguyên đặt chính giữa Đại hùng bảo điện, ở góc điện có bia Thánh chỉ lập vào niên hiệu Diên Hựu thứ 3 (1316) đời Nguyên. Bia khắc nổi Hán văn, khắc chìm Mông văn, nội dung sắc phong ngài Huyền Kiên trụ trì chùa làm “Đầu Hòa Thượng”, yêu cầu quan dân bảo hộ và ban tặng “Đại tạng kinh”. Hai bên đại điện và Vi Đà điện có 500 tượng đất La hán. Trong Khách đường có gìn giữ 500 tượng đất La Hán, bích họa sơn thủy và cặp đối liễn của Hòa Thượng Đảm Đang: “Thác bát quy lai bất vi chung minh cổ ám; kết trai tiện khứ dã tri diêm tận thán vô.”(Bưng bát trở về không bị chuông kêu trống ám; ăn xong liền đi cũng biết muối hết than không). ● 狂 犬 逐 雷 聲. Còn gọi: Mê Viên Tróc Thủy Nguyệt (con khỉ ngu khờ mò trăng đáy nước). Chó điên sủa theo tiếng sấm. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho sự nỗ lực phí công hoặc chấp trước hư vô là thật có. ● 居 衆. Thân làm một vị tăng cùng theo đại chúng trong thiền viện tham thiền. Tông Môn Võ Khố ghi: “太 瘤、蜀 僧、居 衆 常 嘆 佛 法 混 濫、异 見 鋒 起、乃 曰:我 參 禪 若 有 眞 正 知 見、當 不 惜 口 業。 – Thái Lưu là vị tăng đất Thục, theo đại chúng tham thiền, thường than Phật pháp rối loạn, dị kiến đua nhau phát sinh, nên nói rằng: Tôi tham thiền nếu có tri kiến chân chính, sẽ chẳng tiếc khẩu nghiệp”. ● 居 頂 (?-1404). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, tự Viên Cực, hiệu Viên Am, người xứ Hoàng Nham (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thứ Trung Vô Uẩn, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Linh Cốc Viên Cực Cư Đảnh Thiền Sư Viên Am tập 10 quyển, Tục Truyền Đăng Lục 36 quyển. ● 居 遁 (835-913). Thiền tăng đời Đường, họ Quách, người xứ Nam Thành, Phủ Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lương Giới, tông Tào Động. Thụy hiệu “Chứng Không Đại Sư”. ● 居 簡 (1164-1146). Thiền tăng đời Tống, họ Vương, hiệu Kính Tẩu, về già hiệu Bắc Giản, nối pháp Thiền Sư Đức Quang ở chùa Dục Vương, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Bắc Giản Tập 19 quyển, Tục Tập 1 quyển, Bắc Giản Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển. ● 居 誨 (837-903). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người xứ Lạc Dương, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. 居 煦. Thiền tăng đời Tống, họ Chu, người xứ Ôn Châu (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vân Cư Đạo Tề, tông Pháp Nhãn. ● 居 訥 (1010-1071). Thiền tăng đời Tống, họ Kiển, tự Trung Mẫn, người xứ Tử Châu (nay là huyện Tam Đài tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Diên Khánh Tử Vinh, tông Vân Môn. Sư được vua Nhân Tông ban hiệu “Tổ ấn Thiền Sư”. Sau sư trụ chùa Viên Thông Lô Sơn nên được gọi là “Viên Thông Nột”. ● 居 士 杜 詞. Cư sĩ im lặng. Điển cố: Ngài Văn Thù hỏi cư sĩ Duy Ma Cật về pháp môn bất nhị, cư sĩ đáp lại bằng cách im lặng. ● 居 士 分 燈 錄. Đăng Lục, 1 quyển, do Châu Thời Ân soạn vào đời Minh. Thể lệ soạn sách này phỏng theo Thiền Tông Truyền Đăng Lục, gom chép các việc tham thiền biện đạo của các cư sĩ tại gia, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 857. Nội dung bao gồm: Cư sĩ Duy Ma của ấn Độ, Phó đại sĩ đời Nam triều, Bàng cư sĩ và Hàn Dũ đời Đường; Chu Hy và Tô Đông Pha đời Tống; Tống Liêm và Lữ Nham Chân Nhân đời Minh, tổng cộng gồm 110 vị. Sách hoàn thành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 5 (1631). ● 居 中 (1289-1359). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Tung Sơn Cư Trung. Hai lần sang nhà Nguyên (Trung Quốc) tham học với các bậc danh sơn danh đức, đắc pháp nơi Thiền Sư Sĩ Đàm, thuộc đời thứ 23 hệ Nam Nhạc, đời thứ 6 tông Lâm Tế Nhật Bản. Sư trụ trì chùa Kiến Trường. Tác phẩm: Đại Nguyên Thiền Học Cầu Mông. ● 據 合. Đây là thúc lược ngữ (lời nói lược bớt), có nghĩa là “Cứ theo tình hình này thì phải….”. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “又 問 第 三 人。適 來 兩 箇 敗 闕 了 也。爾 堪 作 箇 什 麼。僧 擬 議。師 便 喝 云。過 者 邊。乃 云。據 合 一 時 埋 卻。且 念 遠 來。參 堂 去。 – Lại hỏi người thứ ba: Hai người vừa rồi bị thất bại, còn ngươi thì thế nào? Tăng do dự, sư liền hét rồi bảo: Qua bên này! Lại nói: Cứ theo tình hình này thì phải chôn vùi ngay một lúc, nhưng nghĩ lại ngươi từ xa đến, thôi thì hãy tham đường đi!” ● 據 款 結 案. Theo các dữ kiện mà kết thúc công án. Phần lời bình của tắc 1 trong Bích Nham Lục (Vạn Tục 117, 119 thượng) ghi: “大 凡 頌 古 只 是 繞 路 禪、拈 古 大 綱 據 欵 結 案 而 已。 – Phàm tụng cổ chỉ giảng về thiền một cách vòng vo, nêu lên ý chính của vấn đề xưa rồi theo các dữ kiện mà kết thúc công án mà thôi”. ● 渠. Hắn, nó, va. Nhân xưng đại từ ngôi thứ ba. Động Sơn Ngữ Lục ghi: 切 忌 從 他 覓、迢 迢 與 我 疏 我 今 獨 自 往、處 處 得 逢 渠 Thiết kỵ tùng tha mịch Điều điều dữ ngã sơ Ngã kim độc tự vãng Xứ xứ đắc phùng cừ”. “Rất kỵ tìm nơi khác Xa xôi bỏ lãng ta Ta nay riêng tự đến Chỗ chỗ đều gặp va”. ● 舉、擧. 1. Tiến cử, suy cử. Tông Môn Võ Khố ghi: “實 首 座 叢 林 達 士、何 不 擧 他 首 衆? – Thật Thủ tọa là người thông đạt, nhanh chóng, sao chẳng tiến cử ông ta thủ chúng.” ● 2. Kể lại. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “他 後 見 别 處 長 老、學 士 不 請 擧 向 伊。 – Ngày sau có gặp Trưởng lão ở nơi khác, xin Học sĩ đừng kể lại với vị ấy.” ● 3. Cách thức ghi chép Ngữ Lục của Thiền Sư, tỏ ý kể lại công án nào đó. Đi Hu Ngữ Lục q.7 ghi: “示 衆、擧、僧 問 雲 門、如 何 是 超 佛 越 祖 之 談?門 云:餬 餅。師 云:雲 門 直 是 好 一 枚 餬 餅、要 且 無 超 佛 越 祖 底 道 理。 – Sư thị chúng, nêu lên công án: ›Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là lời nói siêu Phật vượt Tổ? Môn đáp: Bánh mè‹. Sư bảo: Vân Môn đích thực có cái bánh mè ngon, nhưng mà không có đạo lý siêu Phật vượt Tổ.” ● 擧 哀. Còn gọi: Cử Ai Phật Sự. Trong tự viện Thiền Tông, gặp trường hợp Hòa Thượng thị tịch, sau khi Phật sự xong rồi, chúng tăng đồng thinh xướng lên 3 tiếng “Ai! Ai! Ai” trước bàn thờ của vị Hòa Thượng này. Chương Trụ Trì trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. thượng (Đại 48, 1118 trung) ghi: “主 喪 白 云:堂 頭 和 尚 歸 寂、理 合 舉 哀。舉 佛 事 罷、舉 哀 三 聲、大 眾 同 哭、小 師 列 幕 下 哀 泣。 – Vị chủ tang bạch rằng: Hòa Thượng Đường đầu quy tịch, theo lý phải cử ai. Sau khi làm Phật sự xong, cử ai ba tiếng, Đại chúng đồng khóc, các Tiểu sư (Đệ tử của Hòa Thượng Đường đầu) ngồi xếp hàng dưới màn buồn khóc”. ● 擧 喝. Cách ứng cơ tiếp vật của Thiền Tông. Thiền Sư dùng tiếng quát, tiếng hét để phá trừ tư tưởng sai lầm của người học, giúp họ khai ngộ mà không dùng ngôn ngữ văn tự bình thường. ● 擧 向. Còn gọi: Cử Thị, Cử Tợ, Cử Xướng, Cử Tắc. Chỉ cho việc nêu lên, đưa ra các công án trong Ngữ Lục của Tổ sư. Theo chương Xuyên Hòa Thượng trong CĐTĐL q. 8 ghi: “居 士 喝 云:遮 無 禮 儀 ;六老 漢、待 我 一 一 擧 向 明 眼 人 在。 – Cư sĩ quát lớn: Lão già không biết lễ nghi này, đợi ta mỗi mỗi nêu lên giúp cho người sáng mắt”. ● 擧 目 揚 眉. Ngước mắt nhướng mày, đều là hình thái thị cơ, ứng cơ của thiền gia, phiếm chỉ thiền cơ tác lược. Tiết Trường Thủy Tử Toàn Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “敲 空 擊 木、尚 落 筌 蹄。舉 目 揚 眉、已 成 擬 議。去 此 二 途、方 契 斯 旨。 – Gõ vào hư không phát ra tiếng, đánh vào gỗ không phát ra tiếng, vẫn còn kẹt trong nơm; ngước mắt nhướng mày đã thành do dự. Trừ bỏ hai con đường này mới khế hợp ý chỉ.” ● 擧 一 明 三. Nêu một biết ba. Thiền Tông mượn thành ngữ này làm thuật ngữ để hiển bày cơ dụng linh lợi. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 140 thượng) ghi: “隔 山 見 煙 早 知 是 火、隔 牆 見 角 便 知 是 牛。擧 一 明 三、目 機 銖 兩。 – Cách núi thấy khói tức biết có lửa, cách tường thấy sừng liền biết có trâu. Đây là cơ dụng linh lợi, vừa thấy liền có thể đánh giá được sự việc”. ● 擧 則. Còn gọi: Cử cổ. Cử nghĩa là nêu lên. Tắc: Bản tắc, công án. Khi pháp chiến, vị Thủ tọa xướng bản tắc gọi là Cử tắc. ● 擧 體 露 堂 堂. Toàn thể hiển lộ rõ ràng, thanh tịnh vô nhiễm. Đây là sự thể nghiệm và nắm lấy tổng thể tính thế giới vạn vật của thiền giả tỏ ngộ. Tiết Quang Hiếu Đức Chu Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂 曰:舉 體 露 堂 堂、十 方 無 罣 礙。千 聖 不 能 傳、萬 靈 咸 頂 戴。擬 欲 共 商 量、開 口 百 雜 碎。祇 如 未 開 口 已 前、作 麼 生?咄! – Sư thượng đường nói: Toàn thể hiển lộ rõ ràng mười phương không chướng ngại. Ngàn thánh không thể truyền, mọi loài đều kính ngưỡng. Toan muốn cùng thương lượng, mở miệng lúng túng vô cùng. Thế thì trước khi chưa mở miệng như thế nào? Một tiếng quát!” ● 擧 似. 1. Chữ Tự giống như chữ Thị. Cử tự là dùng lời nói để nêu lên cổ tắc, hay dùng vật để chỉ bày cho người. Thi sĩ Tô Đông Pha có bài thơ (Vạn Tục 137, 159 hạ): 溪 聲 便 是 廣 長 舌 山 色 豈 非 清 凈 身 夜 來 八 萬 四 千 偈 他 日 如 何 擧 似 人 “Khê thinh tiện thị quảng trường thiệt Sơn sắc khởi phi thanh tịnh thân Dạ lai bát vạn tứ thiên kệ Tha nhật như hà cử tự nhân”. “Tiếng suối chính là Phật diệu âm Mầu non há chẳng phải Pháp thân Đêm làm tám muôn bốn ngàn kệ Mai kia làm sao dạy học nhân.”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 2. Thuật lại y hệt hồi trước. Truyện Thiền Sư Đại Xả trong TUTA ghi: “昔 梁 武 帝 嘗 以 是 問 寶 志 禪 師。志 亦 如 是 對、今 竊 爲 陛 下 舉 似。 – Ngày xưa Lương Vũ Đế từng hỏi Thiền Sư Bảo Chí, ngài cũng trả lời như thế. Nay (bần đạo) trộm phép thuật lại y hệt cho Bệ hạ nghe.” ● 擧 唱. Nói ra, tuyên bày. Minh Giác Ngữ Lục, q.1 ghi: “向 上 宗 乘、請 師 擧 唱。 – Tông thừa hướng thượng, mời thầy nói ra”. Như Tịnh Ngữ Lục, q.thượng ghi: “林 下 臣 僧、如 何 擧 唱? – Thần tăng ở chốn tùng lâm, làm sao tuyên bày?”. ● 巨 靈. Hiệu của Thiền tăng Tự Dung đời Thanh. X. Tự Dung. ● 巨 方 (647-717). Thiền tăng đời Đường, họ Tào, người xứ An Lục (nay thuộc Hồ Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Phúc Viện Lãng. ● 巨 贊 (1908-1984). Tăng nhân hiện đại, họ Phan, tên Sở Đồng, người huyện Giang Âm, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Sư từng là Chủ biên nguyệt san Sư Tử Hống và là người sáng lập Phật học viện, nhận chức Phó viện trưởng viện Phật học Trung Quốc cùng Phó hội trưởng Hội Phật giáo Trung Quốc. ● 極 樂 寺. Chùa nằm trên phố Đông Đại thuộc Nam Cương, thành phố Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc. Năm 1924 đệ tử đời thứ 44 tông Lâm Tế sáng lập. Chùa chiếm diện tích 2,6 ha là tự viện Phật giáo lớn nhất tỉnh Hắc Long Giang. Chùa chia làm ba phần Chủ viện, Đông khóa viện, Tây khóa viện. Chủ viện chiếm diện tích 1. 800㎡, chia làm bốn lớp đại điện: Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Tam thánh điện, Táng kinh lâu. Điện thờ phụ và đông tây khóa viện là Thiền đường, Kinh đường, Trai đường, Phương trượng viện, Tăng xá. ● 極 樂 寺 塔. Tháp ở Đông viện chùa Cực Lạc thuộc Nam Cương, thành phố Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc. Do đệ tử đời thứ 44 tông Lâm Tế xây cất vào năm 1924. Bởi tháp có bảy tầng cho nên cõn gọi là “Thất cấp phù đồ tháp”, là tháp gạch bát giác theo kiểu lâu các duy nhất hiện còn tại vùng Đông Bắc. Mặt nam của tháp tiếp liền điện Địa Tạng, hai bên thông nhau. Các mặt đều nhú ra khám thờ, bên trong có 30 tượng La hán khắc nổi. Trong tháp có cầu thang bằng gỗ để lên đỉnh tháp nhìn ra xa. Dưới mái tháp và điện có khắc nổi rồng, phụng, sư tử, hạc, hình tượng sinh động, đây là kiệt tác của nghệ thuật phù điêu. Cấu kiện và trang sức của bộ phận tháp hấp thu phong cách kiến trúc phương Tây. Lầu chuông trống hai bên đông tây cũng tạo cho hình thức tháp là Phật tự trong nước hiếm thấy. ● 極 則. 1. Tiêu chuẩn. Phần giải tụng tắc 17, Bích Nham Lục q. 3 (Đại 48, 168 thượng) ghi: “雲 門 尋 常 以 三 句 接 人、此 是 極 則 也。 – Bình thường Vân Môn dùng ba câu để tiếp hóa người học, đây là tiêu chuẩn của sư vậy”. ● 2. Cứu cánh. Thiền Quan Sách Tiến (Đại 48, 1104 thượng) ghi: “天 如 以 至 今 日。無 四 休 者。獨 其 語 皆 提 持 向 上 極 則 事。 – Từ Thiên Như đến ngày này không ai bằng ngài Sở Thạch, lời của Ngài đều chỉ bày việc cứu cánh chí cực vi diệu”. ● 極 致. Diệu lý tột cùng. Tiết Đề hình Ngô Vĩ Minh cư sĩ trong NĐHN q. 20 ghi: “久 參 眞 歇 了 禪 師、得 自 受 用 三 昧、爲 極 致。 – Tham học đã lâu với Thiền Sư Chân Yết Liễu, ông được tam muội tự thọ dụng, là diệu lý tột cùng.” ● 脚 絣. Còn gọi: Hành Triền, Hĩnh Y, Hĩnh Càn, Hộ Bạc Y. Thường gọi: Cước bạn. Miếng vải dùng để chống lạnh, khi đi đường dùng để che chở bắp chân của các vị tăng hành cước. Trong luật gọi là Hộ thuyễn y. ● 脚 高 脚 低. Chân cao chân thấp. Dụ cho sự tỉnh ngộ không triệt để. Tiết Trường Lô Thanh Liễu Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “上 孤 峰 頂、過 獨 木 橋、驀 直 恁 麼 行、猶 是 時 人 腳 高 腳 低 處。若 見 得 徹、不 出 戶 身 遍 十 方、未 入 門 常 在 屋 裡。 – Lên đỉnh núi cao, qua cầu độc mộc giống như người lúc chưa triệt ngộ. Nếu đã triệt ngộ thì không ra khỏi cửa mà thân đi khắp mười phương, chưa vào cửa mà thân thường ở trong nhà”. ● 脚 跟. Cái gót chân, chỉ cho sự giác ngộ. Phần giải tụng của tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 141 trung) ghi: “休 相 憶、清 風 匝 地 有 何 極。既 休 相 憶、你 脚 跟 下 事 又 作 麼 生? – Thôi nhớ nhau, gió mát khắp nơi bao giờ ngừng! Đã thôi nhớ nhau, việc giác ngộ của ông thì thế nào?”. ― Cước cân vị điểm địa, hay Cước hạ vị ổn tạo (gót chân chưa chấm đất, hay đặt chân chưa vững): Chỉ cho người tu hành chưa thuần thục. ― Cước cân hạ dĩ thâm sổ trượng (Dưới gót chân bùn sâu mấy trượng), hay Cước hạ thái nê thâm (dưới chân bùn rất sâu): Người còn mê vọng rất nhiều. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 脚 跟 點 地. Gót chân chấm đất. Dụ cho sự giác ngộ một cách triệt để. Tông Môn Võ Khố ghi: “且 喜 老 漢 腳 跟 點 地。 – Mừng cho lão ta đã triệt ngộ”. ● 脚 跟 下. Ở bên mình, ở trước mặt. Phương Hội Ngữ Lục ghi: “。。三 世 諸 佛 在 你 諸 人 脚 跟 下 轉 大 法 輪。若 也 會 得、功 不 浪 施。 – Chư Phật ba đời ở trước mặt các ông diễn nói đạo pháp, nếu hiểu được như thế thì chẳng uổng công”. ● 脚 (腳) 跟 下 不 明. Chỉ cho chưa tỏ ngộ bản phận sự, cũng tức là chưa hiểu biết bản tính của mình. Tiết Thiên Thai Đức Thiều Quốc sư trong NĐHN q.10 ghi: “若 一 向 織 絡 言 教、意 識 解 會、饒 上 座 經 塵 沙 劫、亦 不 能 得 徹。此 喚 作 顛 倒 知 見、識 心 話 計、並 無 得 力 處。此 蓋 爲 腳 跟 下 不 明。 – Nếu luôn luôn vướng vào ngôn giáo, dùng ý thức để hiểu thì cho dù Thượng tọa tu hành trải qua trần sa kiếp cũng không thể triệt ngộ. Đây gọi là tri kiến điên đảo, nhận tâm làm kế sống và không có chỗ đắc lực, do vì chưa tỏ ngộ được bản tính của mình.” ● 脚 (腳) 跟 下 事. Bản phận sự của thiền tăng, tức là việc minh tâm kiến tính, ngộ nhập tức thì. Mật Am Ngữ Lục ghi: “儞 腳 跟 下 事 作 麼 生? – Việc minh tâm kiến tính của ngươi như thế nào?” ● 1. Ý nói chưa ngộ tâm tính. Tông Môn Võ Khố ghi: “徐 師 川。同 佛 果 到 書 記 寮。見 果 頂 相。師 川 指 云。這 老 漢 腳 跟 未 點 地 在。果 云。甕 裏 何 曾 走 說 鱉。川 云。且 喜 老 漢 腳 跟 點 地。 – Từ Sư Xuyên cùng với Phật Quả đến liêu Thư ký, thấy bức chân dung của Phật Quả. Sư Xuyên lấy tay chỉ và nói: Ông già này còn chưa ngộ tâm tính. Quả nói: Trong lu con ba ba đâu thể chạy thoát? Xuyên nói: Mừng cho ông già đã triệt ngộ.” ● 2. Ý nói trong tâm chẳng sáng, làm việc hư vọng. Tiết Hoàng Long Đạo Chấn Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂:少 林 冷 坐、門 人 各 說 異 端、大 似 眾 盲 摸 象。神 光 禮 三 拜、依 位 而 立。達 磨 云:汝 得 吾 髓。這 黑 面 婆 羅 門、腳 跟 也 未 點 地 在。 – Sư thượng đường nói: Thiếu Lâm (Tổ Đạt Ma) ngồi lạnh lùng. Đệ tử mỗi vị nói lời dị đoan giống như bọn mù sờ voi. Thần Quang lạy ba lạy rồi đứng vào vị trí của mình. Đạt Ma nói: Ngươi được tủy của ta. Lão Bà La Môn mặt đen này cũng còn chưa triệt ngộ đấy.” ● 脚 下 煙 生. Từ dưới chân sinh ra khói đen. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho việc hướng ngoại tìm cầu Phật pháp, càng tìm càng không thấy rõ. Tắc 58, Thung Dung Lục (Đại 48, 163 hạ) ghi: “鏡 外 狂 奔 演 若 多(脚 下 煙 生)。杖 頭 擊 著 破 竈 墮(百 雜 碎)。 – Diễn Nhã Đa xem gương thấy mất đầu liền hoảng chạy. (Hướng ngoại tìm cầu Phật pháp). Phá Táo Đọa một gậy đập vỡ lò. (lúng túng vô cùng)”. ● 剛. Thật ra là, lại cứ. “Thị Phi Ca” trong Phần Dương Ngữ Lục q.hạ ghi: “聞 說 好 心 便 喜。聞 說 惡 恨 不 死。好 惡 都 來 只 自 心。剛 向 其 中 覓 道 理。 – Nghe nói việc tốt thì tâm vui mừng; nghe nói việc xấu thì buồn vô cùng. Tốt xấu đều chỉ là do tự tâm, lại cứ nhằm trong đó tìm đạo lý.” ● 剛 地. Còn gọi: Cương Nhiên. Lại cứ (phó từ: cố ý làm trái yêu cầu). Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “乃 拈 起 法 衣 云:者 箇 眞 紅 色、剛 然 道 是 緋! – Sư liền giơ pháp y lên, nói: Cái này thật là màu đỏ, lại cứ nói là lụa đào”. ● 綱 維. Chức tăng lãnh đạo, phụ trách duy trì các việc ở các tự viện Phật giáo. Theo Sư Đồ Giáo Giới Bộ trong Nghĩa Sở Lục Thiếp q.6: “綱 維 即 指 寺 主、上 座、維 那。 – Cương duy tức chỉ cho: Chủ chùa, Thượng tọa, Duy Na. Các vị còn lại chỉ gọi là Tri Sự”. Theo đây, Tam cương của chùa vào thời Ngũ Đại gọi là Cương duy. ● 綱 宗. Cương yếu của Thiền Tông. Tiết Lâm Tế Hòa Thượng trong TĐT q.19 ghi: “大 德、山 僧 略 爲 諸 人 大 約 話 破 綱 宗、切 須 自 看、可 惜 時 光、各 自 努 力。 – Đại đức! Sơn tăng vì các ông đại khái nói toạc ra cương yếu của Thiền Tông, rất cần phải tự khán, thời gian đáng tiếc, mỗi người hãy tự nỗ lực”. ● 强 生 節 目. Vốn không việc mà bày ra lắm việc. Vô sự sinh sự. Tiết Thị Dục Tạng chủ trong DTNL q.3 ghi: “佛 祖 無 上 妙 道、初 非 强 生 節 目、且 非 異 端 捏 怪、又 非 甚 高 難 行 之 事、只 是 你 日 用 常 行、見 成 受 用 底。 – Diệu đạo vô thượng của Phật Tổ, ban đầu chẳng phải cưỡng sinh tiết mục, cũng chẳng phải trò dị đoan, hoang đường, cũng chẳng phải việc cao tột khó làm, chỉ là trong việc thường làm hằng ngày của ngươi sẵn sàng thọ dụng”. ● 灸 瘢 上 重 添 艾 炷. Còn gọi: Cứu Sang Ban Thượng Cánh Trước Ngãi Tiêu, Chích Ban Thượng Cánh Trước Ngãi Tước. Nghĩa là trên vết bỏng đốt thêm ngãi cứu, dụ cho vốn đã sai lầm lại tiếp tục những hành vi và lời nói hư vọng thì đã sai càng thêm sai. “Tông Thừa Yếu Nghĩa” trong Duy Tắc Ngữ Lục q.9 ghi: “若 遇 着 箇 無 面 目 漢、便 好 掀 倒 禪 床、痛 搥 一 頓、亦 使 諸 人 知 道、强 中 更 有 强 中 手、佛 法 何 曾 滯 一 邊。眾 中 還 有 這 箇 人 麼?如 無、則 山 僧 向 灸 瘢 上 重 添 艾 炷。 – Nếu gặp người không có mặt mũi thì phải lật úp giường thiền, nện cho một trận đau điếng, để cho mọi người biết rằng trong những người mạnh có kẻ mạnh hơn, Phật pháp chưa hề ngưng trệ một bên. Trong chúng có người này chăng? Nếu như không thì sơn tăng nhằm trên vết bỏng đốt thêm ngãi cứu.” ● 究 旨. Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 7, nối pháp Trưởng lão Định Hương. Sư họ Đàm, quê ở làng Phù Đàm, phủ Chu Minh, miền Bắc Việt Nam. Sư từng trụ các nơi: chùa Quang Minh núi Tiên Du (Bắc Ninh), chùa Diên Linh núi Long Đội (Yên Lãng). ● 九 百. Lờ mờ, si mê. Mật Am Ngữ Lục ghi: “應 庵 和 尚(系 密 庵 之 師)忌 日、上 堂。。。古 者 道、子 不 談 父 德。雖 然、家 丑 也 要 外 揚。這 老 和 尚 平 生 事、過 頭 底 九 百。 – Ngày giỗ của Hoà thượng ứng Am (là Thầy của Thiền Sư Mật Am), Sư (Mật Am) thượng đường… Người xưa nói, phận làm con không bàn đến đức của cha. Mặc dù vậy, chuyện xấu trong nhà cũng cần cho người ngoài biết. Việc trong đời của Lão Hoà thượng này cũng còn lờ mờ quá chừng.” ● 九 拜. Chín lạy. Quỳ lạy 3 lần, mỗi lần ba lạy, là nghi lễ long trọng của nhà thiền. Trong Bách Trượng Thanh Quy q. 1 ghi chép về nghi thức cửu bái vào ngày giỗ Tổ Đạt Ma như sau: Trụ trì dâng hương xong lạy 3 lạy, để nguyên tọa cụ; dâng nước rồi trở xuống lạy 3 lạy. Đi lên phía trước lần nữa để thăm hỏi, châm thêm nước, trở về chỗ cũ lạy 3 lạy. Xong cất tọa cụ. Tiết Long Tường Sĩ Khuê Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “紹 興 間 奉 詔、開 山 鴈 蕩 能 仁。時 眞 歇 居 江 心、聞 師 至、恐 緣 法 未 熟、特 過 江 迎 歸 方 丈。大 展 九 拜、以 誘 溫 人、由 是 翕 然 歸 敬。 – Khoảng niên hiệu Thiện Hưng, Sư (Sĩ Khuê) được lệnh vua đi khai sơn chùa Năng Nhân ở Nhạn Đãng. Khi ấy Chân Hiết đang ở Giang Tâm nghe sư đến, vì lo sợ pháp duyên lợt lạt, nên đặc biệt sang sông nghênh tiếp sư về phương trượng, tỏ lòng tôn trọng lạy 9 lạy. Sư dùng lời ôn tồn, êm dịu để dạy dỗ người, do sư lời nói đi đôi với việc làm nên mọi người kính ngưỡng theo về.” ● 九 帶. Chín bộ môn mà Thiền Sư Pháp Viễn ở Phù Sơn lập ra tiếp dẫn người học. Đệ tử của Ngài biên tập những lời dạy về Thiền Đạo của thầy mình thành sách gọi là Phật Thiền Tông Giáo Nghĩa Cửu Đới tập, gọi tắt là Phù Sơn Cửu Đới. ● 九 侯 禪 寺. Chùa ở dưới “Quán Âm Tam Bảo Thạch” núi Cửu Hậu cách trung tâm huyện Chiếu An, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc về phía Tây bắc 10km. Được xây cất vào đời Đường, niên hiệu Thuần Hựu thứ 5 (1245) đời Tống, Tăng Tư Pháp quyên tiền xây cất lại. Niên hiệu Càn Long thứ 9 (1744), niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh qua nhiều lần tu sửa nên cực kỳ hoa lệ. Trước chùa tại sơn môn có tấm biển khắc chữ “Đại Danh Sơn”, có cặp đối liễn trên hai trụ: “Tự thử danh sơn năng hữu kỷ? Tuy hữu du tăng bất toán đa.” (Giống danh sơn này được mấy ngôi? Dù có du tăng chẳng coi nhiều). Nơi chính điện có treo tấm biển “Tẩy Tâm Tam Tạng” do Hoàng Đạo Chu đích thân viết. Trước điện bên phải có “Vọng Hải Lâu” có thể lên cao nhìn ra xa. Bên trái cửa chùa có khe sâu ngàn trượng, giữa có hòn đá lớn giống cá lý ngư cao vài mươi trượng, có khắc chữ “rửa sạch phiền não”, “Tùng giản tuyền”. Nước khe trong vắt thấy đáy, uống vào thơm ngọt như rượu tinh chất, người đời khen ngợi nơi đây là thắng cảnh “cầu vồng rủ xuống suối ngọc”. ● 九 華 山. Núi nằm ở phía tây nam huyện Thanh Dương tỉnh An Huy, Trung Quốc. Là l trong 4 ngọn núi lớn nổi tiếng của Phật giáo (núi Cửu Hoa, núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, núi Nga My ở Tứ Xuyên, núi Phổ Đà ở Chiết Giang). Diện tích toàn dãy hơn 100㎢, gồm có 99 ngọn, trong đó có 9 ngọn được xem là hùng vĩ nhất: Thiên Thai, Liên Hoa, Thiên Trụ, Thập Vương… Thập Vương là ngọn núi chính cách mặt biển 1341m, được khen là núi đứng nhất miền Đông Nam. Khoảng niên hiệu Thiên Bảo (741-755) đời Đường, nhà thơ Lý Bạch đến núi này có làm thơ như sau: 昔 在 九 江 上、遙 望 九 華 峰 天 河 掛 綠 水、秀 出 九 芙 蓉 “Tích tại Cửu Giang thượng Diêu vọng Cửu Hoa phong Thiên hà quải lục thủy Tú xuất cửu phù dung”. “Xưa trên giòng nước Cửu Giang Xa xa ngắm Cửu Hoa Phong chập chùng Sông trời một dải xanh trong Mở ra chín đóa phù dung tuyệt vời”. (Hạnh Huệ dịch). Tương truyền, tên gọi “Cửu Hoa Sơn” bắt nguồn từ đó. Niên hiệu Long An thứ 5 (401) đời Đông Tấn, có vị tăng xứ Thiên Trúc là Thiền Sư Bôi Độ đến núi Cửu Hoa hoằng pháp. Đời Đường có Kim Địa Tạng kiền thành khổ tu ở trong hang Đông Nham, trải qua 75 năm. Trong đời Minh và Thanh là thời kỳ thịnh vượng, toàn núi có trên 300 ngôi chùa Phật, hơn 4000 vị tăng, trải qua nhiều năm khói hương nghi ngút, được gọi là chốn tiên cõi Phật. Từ chân núi lên đến tận đỉnh, nơi nào hễ có đường đi, có hang động là có chùa. Hình thái các chùa lớn nhỏ, cao thấp khác nhau, số lượng rất nhiều, phân bố trong rừng rậm của cả nhóm núi. Các chùa trên núi Cửu Hoa phần lớn là đạo tràng của tông Lâm Tế, cũng có một ít của tông Tào Động. Các danh tăng trụ trì núi này vào đời Đường có: Thắng Du, Đạo Minh, Trí Mỹ, Đạo Tế, Siêu Vĩnh. Các thi tăng có: Thần Dĩnh, ứng Vật, Tề Kỷ đều nổi tiếng một thời. Đời Nam Đường, Thiền Sư Viên Chứng ở am Ngọa Vân. Đời Tống, tại núi này các thi tăng rất nhiều, Hòa Thượng Thanh Túc sáng lập Cửu Hoa thi xã để vừa bàn thiền vừa ngâm thơ, cùng xướng họa với các văn nhân nhã sĩ… Các vị nổi danh hơn cả là: Hy Thản, Hàn Bích, Liễu Cơ. Hy Thản có tác phẩm “Cửu Hoa thi tập”. Các danh tăng chuyên tu thiền có: Ngọc Điền, Tịch Tổ, Vân Dịch, Hoằng Tế, Duy Chính, Quảng Tông, Thiện Tu. Một trong 4 bậc cao tăng đời Minh là ngài Trí Húc trụ núi này, soạn thuật “Phạm Võng Hiệp Chú”. Cận đại có cao tăng Nguyệt Hà lập ra Đại học Hoa Nghiêm, Hòa Thượng Hư Vân cũng từng tham học ở núi này. ● 九 曲 禪 師. Thiền tăng Khánh Tường, đời Đường, trụ Cửu Khúc Quan Âm Viện ở Hàng Châu, nên có hiệu là Cửu Khúc Thiền Sư. X. Khánh Tường. ● 久 立. Phiền đứng lâu. Lời nói lễ phép, hàm ý an ủi trước khi Thiền Sư kết thúc thời thuyết pháp cho đại chúng nghe. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “師 云:。。。爲 爾 信 不 及。所 以 今 日 葛 藤。恐 滯 常 侍 與 諸 官 員。昧 他 佛 性。不 如 且 退。喝 一 喝 云:少 信 根 人 終 無 了 日。久 立 珍 重。 – Sư nói: … Vì ông không tin, cho nên hôm nay tôi nói dài dòng e rằng trói buộc Thường thị cùng các quan chức, mê muội Phật tính, chẳng bằng hãy lui ra! Hét một tiếng, sư nói tiếp: Người ít có lòng tin thì không có ngày liễu ngộ. Phiền đứng lâu, xin tạm biệt”. ● 九 五. Chỉ ngôi vua. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “王 子 未 登 九 五 時 如 何? – Lúc Hoàng tử chưa lên ngôi vua thì thế nào?” ● 九 年 面 壁. Chín năm xoay mặt vào vách tọa thiền. Theo điển tích của Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Sơ tổ Thiền Tông Trung Quốc): Vào triều Lương Võ Đế, năm 510, Tổ vượt biển đến Kim Lăng và có yết kiến vua Lương Võ Đế. Qua cuộc đối đáp, nhận thấy không khế cơ, Tổ liền từ giã, cỡi cành lau sang sông đến Lạc Dương, dừng lại ở chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn. Tổ cả ngày tọa thiền, xoay mặt vào vách suốt 9 năm liền. ● 九 年 面 壁 人. Người chín năm ngó vách, chỉ Tổ Bồ Đề Đạt Ma. X. Cửu niên diện bích. Tiết Đạo Tràng Huệ Lâm Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂:有 漏 笊 籬、無 漏 木 杓。庭 白 牡 丹、檻 紅 芍 藥。因 思 九 年 面 壁 人、到 頭 不 識 這 一 著。且 道 作 麼 生 是 這 一 著? – Sư thượng đường nói: Hữu lậu là cây vợt tre, vô lậu là cái thìa gỗ. Trước sân bụi mẫu đơn, bờ giậu đám thược dược. Do nhớ đến người chín năm ngó vách, rốt cuộc chẳng biết một việc này. Thử hỏi cái gì là một việc này?” ● 九 峯 虔. Thiền tăng Đại Kiền ở núi Cửu Phong, Thụy Châu, đời Ngũ Đại, được người đời gọi là “Cửu Phong Kiền”. X. Đạo Kiền. ● 九 峯 寺. X. Sùng Phúc Tự ● 九 參 事. Chỉ việc thuộc bên trong của thiền nhân, tức minh tâm kiến tính, siêu thoát sinh tử. Minh Giác Ngữ Lục ghi: “問 聽 道 者、九 參 事 作 麼 生? – Xin hỏi các vị đang nghe đạo, cửu tham sự là gì?” ● 久 參 上 堂. Trong các tự viện Thiền Tông, 1 tháng có 9 lần thượng đường, nghĩa là cứ 3 ngày thượng đường tham vấn 1 lần. ― Tham: Thưa hỏi đạo lý để được Thiền Sư chỉ dạy. ● 九 重 巖 山. Núi Kê Túc nhiều ngọn chập chùng giống như chín cánh sen, nên còn được gọi “Cửu Trùng Nham Sơn”. X. Kê Túc sơn. ● 野 干 鳴. Chồn hoang kêu. Dã can minh dụ cho giáo pháp của bàng môn tả đạo. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q.13 ghi: “如 何 是 獅 子 吼?師 曰:阿 誰 要 汝 野 干 鳴? – Hỏi: Thế nào là sư tử rống? Sư đáp: Ai cần ông làm chồn hoang kêu!” ● 野 狐 涎 唾. Đàm dãi con chồn. Chỉ cho lời nói của bọn Thiền Sư giả mạo, nói được mà làm không được. Khai thị thiền nhân Khả Ông Nhiên ở Hải Đông trong ThMMBTSTL ghi: “是 謂 野 狐 涎 唾 能 使 人 眼 見 空 花、凝 狂 外 邊 走、大 不 祭 事。 – Đó là đàm dãi con chồn hay khiến cho người ta mắt thấy hoa đốm giữa hư không, si cuồng chạy bên ngoài, không giúp gì được cả”. ● 野 狐 精. Đồ chồn tinh ranh. Tiết Đại Nhĩ Tâm Thông trong NĐHN q.2 ghi: “復 問:汝 道 老 僧 只 今 在 甚 麼 處?藏 罔 測、師 叱 曰:這 野 狐 精、他 心 通 在 甚 麼 處! – Sư hỏi tiếp: Ông nói bây giờ Lão tăng ở đâu Tam Tạng mờ mịt. Sư quát: Đồ chồn tinh ranh! Tha tâm thông ở chỗ nào?”. ● 野 狐 精 見 解. Con đường không chính đáng. Đây là lời nhà thiền quở trách. Mật Am Ngữ Lục ghi: “烏 巨(系 密 庵 和 尚 之 法 號)與 麼 告 報。不 是 抑 他 雪 峰。且 要 天 下 衲 僧。向 後 各 各 自 有 生 涯。莫 總 作 遮 野 狐 精 見 解。 – Ô Cự tôi (Pháp hiệu của Hòa Thượng Mật Am là Ô Cự, ở đây ngài tự xưng) nói như thế không phải là chê Tuyết Phong đâu, mà cốt để thiền tăng trong thiên hạ sau nầy mỗi người tự có con đường sống, chứ đừng đi theo con đường không chính đáng này.” Tông Môn Võ Khố ghi: “圓 悟 云。達 磨 西 來 將 何 傳 授。師 云。不 可 總 作 野 狐 精 見 解。 – Viên Ngộ hỏi: Đạt Ma từ ấn Độ sang, đem cái gì để truyền trao? Sư đáp: Không thể đi theo con đường không chính đáng.” ● 野 狐 精 魅. Thiền gia quen gọi bàng môn tả đạo hoặc những kẻ theo kiến giải bàng môn tả đạo là dã hồ tinh mị. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。眞 佛 無 形 眞 法 無 相。爾 秖 麼 幻 化 上 頭 作 模 作 樣。設 求 得 者。皆 是 野 狐 精 魅。並 不 是 眞 佛。是 外 道 見 解。 – Này đạo lưu, Phật chân thật vô hình, pháp chân thật vô tướng, các ngươi chỉ ở trên chỗ huyễn hóa làm ra vẻ ta đây; dù cho cầu được cũng đều là bàng môn tả đạo, chẳng phải Phật chân thật, đây là kiến giải của người ngoại đạo”. ● 冶 開 (1852-1922). Thiền tăng cận đại, họ Hứa, tên Thanh Dung, người xứ Giang Đô (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Định Niệm. Tác phẩm: Dã Khai Dung Thiền Sư Ngữ Lục, 3 quyển. ● 夜 半 正 明、天 曉 不 露. Nửa đêm sáng tỏ, bình minh tối mò. Biểu thị trạng thái giao xen, dung nhiếp lẫn nhau giữa pháp tính chân như cùng sum la vạn tượng. Thuật ngữ này được mượn dùng từ bài cổ thi Tham Đồng Khế của Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên (Đại 51, 459 trung): 夜 半 正 明、天 曉 不 露 爲 物 作 則、用 拔 諸 苦。 “Dạ bán chính minh, thiên hiểu bất lộ Vi vật tác tắc, dụng bạt chư khổ”. “Nửa đêm sáng tỏ, bình minh tối mò Vì vật làm phép (tắc), dùng nhổ các khổ”. Câu “Dạ bán chính minh” chỉ cho đang lúc tối có sáng. Câu “Thiên hiểu bất lộ” chỉ cho đang lúc sáng có tối. Hơn nữa, theo “Ngũ Vị Quân Thần” của ngài Động Sơn Lương Giới, thì Dạ Bán, Bất Lộ tương đương với Chính vị, là thể tính bình đẳng. Còn Chính Minh, Thiên Hiểu thì tương đương với Thiên vị, có nghĩa tướng dụng sai biệt. ● 夜 塘 水. Nghĩa đen là trong bóng đêm xuống, người ngu vào ao nước trong vốn không có cá, để bắt cá. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho lời nói hư vọng, nội dung rỗng tuếch. Vì lời nói hư vọng vốn thiếu sót nghĩa lý quan trọng thiết thực để nhập lý, mà người ngu chẳng phân biệt được thật, giả, lại còn ở trong đó tìm tòi, trông mong nắm bắt được then máy ngộ đạo, chỉ là phí công vô ích mà thôi. Tắc 7, Bích Nham Lục (Đại 48, 147 hạ) ghi: 三 級 浪 高 魚 化 龍 癡 人 猶 戽 夜 塘 水 “Tam cấp lãng cao, ngư hóa long, Si nhân du hổ dạ đường thủy”. “Ba cấp sóng cao, cá hóa rồng, Người ngu còn tìm cá trong ao” ● 夜 坐. Còn gọi: Hoàng Hôn Tọa Thiền, Sơ Dạ Tọa Thiền. Tọa thiền vào lúc mặt trời lặn, là cách thức tu hành trong Thiền viện. ● 名. Danh từ khái niệm. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “學 人 不 了 爲 執 名 句。被 他 凡 聖 名 礙。所 以 障 其 道 眼 不 得 分 明。 – Người họ ckhông liễu ngộ là vì chấp vào danh cú, bị danh từ khái niệm phàm thánh làm trở ngại cho nên che chướng đạo nhãn của họ mà không được thấy rõ.” ● 名 句. Danh từ ngữ cú và ý nghĩa khái niệm của nó. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “秖 如 十 二 分 教。皆 是 表 顯 之 說。學 者 不 會。便 向 表 顯 名 句 上 生 解。皆 是 依 倚 落 在 因 果。未 免 三 界 生 死。 – Chẳng hạn như mười hai phần giáo đều là lời nói biểu lộ ra ngoài, người học không biết mà nhằm trên danh từ ngữ cú biểu lộ ra ngoài để tìm hiểu, đều là nương tựa, rơi vào nhân quả chưa ra khỏi sinh tử của ba cõi”. ● 名 德 西 堂. Danh đức, chỉ cho người có đức hạnh, danh dự. Trong Thiền viện có Đông đường (nhà Đông), Tây đường (nhà Tây), chư tăng chọn các vị trong Tây đường, vị nào có danh dự, đức hạnh để làm Trụ trì, vị đó được gọi là Danh đức Tây đường. Điều Trụ Trì Nhật Dụng trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 2 (Đại 48, 1119 trung) ghi: “或 有 諸 山 住 持 名 德 西 堂、坐 右 設 位。 – Hoặc có bậc Danh đức Tây đường trụ trì các chùa, sắp đặt ngồi bên phải”. ● 名 德 首 座. Trong các vị Thủ tọa của Tiền đường ở Thiền viện, đại chúng chọn ra vị nào có danh dự và đức hạnh để lãnh chức vụ Trụ trì thì gọi vị đó là Danh đức Thủ tọa. Điều Thỉnh Lập Tăng Thủ Tọa trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 4 (Đại 48, 1133 hạ) ghi: “如 大 方 西 堂 名 德 首 座、行 解 素 爲 衆 所 推 服 者。 – Như các vị Tây đường, Danh đức Thủ tọa ở các nơi, nếu hạnh giải tốt thì được đại chúng suy tôn”. ● 名 邈. Còn gọi: Danh mô, danh mạo. Gọi tên, miêu tả. Bích Nham Lục q.1 ghi: “且 道。雪 竇 意 在 什 麼 處。到 這 裏。喚 作 驢 則 是。喚 作 馬 則 是。喚 作 祖 師 則 是。如 何 名 邈。往 往 喚 作 雪 竇 使 祖 師 去 也。且 喜 沒 交 涉。 – Thử hỏi ý của Tuyết Đậu ở chỗ nào? Đến chỗ này gọi con lừa là phải, hay gọi con ngựa là phải, hay gọi Tổ sư là phải? Làm sao gọi tên đây? Người tu thường cho rằng Tuyết Đậu sai khiến Tổ sư, may thay không dính dáng!” ● 名 模. Còn gọi: Danh Mạo 名 貌, Danh Mạc 名 邈. Gọi tên sự vật, miêu tả. NĐHN quyển 5 ghi: “一 靈 之 物、不 是 你 造 作 名 邈 得。 – Một vật linh thiêng ông không thể tạo tác miêu tả được”. ● 名 言. Danh từ ngôn cú và ý nghĩa khái niệm của nó. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “諸 佛 及 一 切 衆 生、唯 是 一 心、更 無 别 法。此 心 無 始 已 來、不 曾 生 不 曾 滅、不 青 不 黃、無 形 無 相、不 屬 有 無、不 繼 新 舊、非 長 非 短、非 大 非 小、超 過 一 切 限 量、名 言、宗 跡、對 待。 – Chư Phật và tất cả chúng sinh chỉ là nhất tâm, không còn có pháp nào khác. Tâm này từ vô thủy đến nay chưa từng sinh cũng chưa từng diệt, không xanh không vàng, không hình không tướng, chẳng thuộc hữu vô, chẳng kể cũ mới, chẳng dài chẳng ngắn, chẳng lớn chẳng nhỏ, vượt lên trên tất cả hạn lượng, danh ngôn, tông tích, đối đãi.” ● 名 聞. 1. Danh tiếng. Danh dự. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “所 以 參 禪 者、先 將 平 生 所 學 所 記、所 見 所 聞、所 知 所 解、盡 情 颺 在 一 壁、又 將 平 生 名 聞 利 養 之 事、恩 愛 貪 欲 之 心、盡 情 拈 向 一 邊。 – Cho nên người tham thiền trước tiên phải đem những điều mắt thấy tai nghe, những sự hiểu biết cả đời tận tình treo lên vách, lại đem những sự lợi dưỡng danh tiếng, tâm ân ái tham dục cả đời tận tình để qua một bên.” ● 2. Danh xưng, danh từ. Chương “Nhất bát ca” trong CĐTĐL q.30 ghi: “眞 實 諦 本 非 眞。但 是 名 聞 即 是 塵。若 向 塵 中 解 眞 實。便 是 堂 堂 出 世 人。 – Chân thật đế vốn không phải chân thật, chỉ là danh từ, tức là trần. Nếu ngay trong trần mà hiểu được cái chân thật thì đường đường là kẻ xuất thế”. ● 泯 泯. Lặng lẽ, âm thầm. Tông Môn Võ Khố ghi: “時 有 淵 首 座。向 北 人孤 硬 自 立。參 晦 堂 眞 淨。實 有 契 悟 處。泯 泯 與 眾 作 息。人 無 知 者。 – Khi ấy có Thủ toạ Yên là người phương Bắc, tính tình cứng cỏi, thích tự lập. Sư tham vấn hai ngài Hối Đường và Chân Tịnh, thật có chỗ khế ngộ, nhưng khi ở trong chúng sinh hoạt, Sư vẫn lặng lẽ âm thầm nên không ai biết Sư”. ● 咦. ổi, Ơ, ủa, Chao. Lời nói làm cho người ta tức cười. Đây là khẩu ngữ của Thiền Tông. Trong lúc Thiền Sư giáo hóa người học, có vài việc nào đó khó biểu đạt, Thiền Sư thường dùng từ này với ý giễu cợt. Phật Tâm Ca trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục có đoạn: 咦 咦 咦、咄 咄 咄 大 海 中 漚 閑 出 沒 諸 行 無 常 一 切 空 何 處 先 師 覓 靈 骨。 “Di di di, Đốt đốt đốt Đại hải trung âu nhàn xuất một Chư hành vô thường nhất thiết không Hà xứ Tiên sư mịch linh cốt”. “ổi! ối! ối! Chà! chà! chà! Bọt trong biển cả luống chìm nổi Muôn pháp vô thường hết thảy không Tiên sư chỗ nào tìm linh cốt?”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thích Thanh Từ. ● 移 盤 吃 飯. Các vị tăng hành cước đến các chùa lẽ ra để tham học, trái lại chỉ lo ăn uống. Đây là lời chê trách. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q.26 ghi: “諸 上 座、明 取 道 眼 好、是 行 脚 本 分 事。道 眼 若 未 明、有 什 麼 用 處?只 是 移 盤 吃 飯。 – Chư Thượng tọa! Phải làm sáng cho được đạo nhãn là bản phận của người hành cước. Nếu đạo nhãn chưa sáng nào có ích gì? Chỉ là qua lại các chùa để lo ăn uống”. ● 彌 光 (?-1155). Thiền tăng đời Tống, họ Lý, tự Hối Am, biệt hiệu Thiền Trạng Nguyên, Quang Trạng Nguyên, người xứ Trường Lạc (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Giáo Trung ở Tuyền Châu. Tác phẩm: Hối Am Quang Trạng Nguyên Hòa Thượng Ngữ Yếu. ● 遺 則. X. Duy Tắc. ● 已 躬 下 事. Còn gọi: Dĩ Thân Đại Sự. Việc bản phận của thiền tăng: Minh tâm ngộ tính, siêu việt sinh tử. Phần Khai thị thiền nhân Đổng văn Thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “入 天 目 山、與 性 融 首 座 輩 結 庵 居 之、切 磋 已 躬 下 事、堅 忍 數 載。 – Vào núi Thiên Mục cùng với các vị như Thủ tọa Tính Dung kết am để ở, cùng nhau miệt mài việc minh tâm ngộ tính, kiên nhẫn trong vài năm”. ● 以 假 (1268-1336). Thiền tăng đời Nguyên, họ Diệp, tự Không Trung, người xứ Lệ Thủy (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Cao Phong Nguyên Diệu, tông Lâm Tế. Sư trụ viện Phúc Lâm núi Bạch Vân. ● 以 雞 爲 鳳. Cho gà là phượng. Gà: Loại chim thường. Phượng: Loại chim linh. Cho chim thường là chim linh cũng giống như cho ngói gạch là châu ngọc. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho trường hợp người mê cho tà kiến là chính kiến, nhận vọng tưởng làm Phật tính. ● 以 心 傳 心. Lấy Tâm để truyền Tâm, có 2 nghĩa: 1. Thiền Tông chẳng lập văn tự, chẳng mắc kẹt nơi kinh điển, Thầy trò trực tiếp trao truyền bằng cách lấy chỗ ngộ của Thầy để ấn chứng chỗ ngộ của trò. Thiền Tông căn cứ vào câu truyện: “Đức Phật thuyết pháp ở núi Linh Thứu, Ngài giơ cành sen để dạy chúng. Trong tám vạn người chỉ có Ca Diếp lãnh hội được ý chỉ của Phật và mỉm cười” để lập ra Tông phong chẳng lập văn tự mà truyền đại pháp. ● 2. Lời truyền đạt cảnh giới ngộ. Huyết Mạch Luận của Đại sư Đạt Ma (Vạn Tục 110, 405 thượng) ghi: “三 界 混 起、同 歸 一 心。前 佛 後 佛、以 心 傳 心、不 立 文 字。 – Tam giới lao xao đều quy về nhất tâm. Phật trước Phật sau lấy tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự”. ● 以 字 不 成 八 字 非. Chữ “Dĩ” chẳng thành, chữ “Bát” chẳng phải. Chữ “Dĩ” (以) chỉ cho chữ (丫) viết trên đầu lá bùa (để đeo trên người), là chữ biến hình của chữ Tất Đàm (chữ i). Nhưng xét theo chữ nghĩa thông thường thì nó chẳng phải chữ “Dĩ” (以) cũng chẳng phải chữ “Bát” (八). Thiền Tông mượn cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ cho sự khó khăn rất mực khi diễn đạt về chân lý. ● 易 庵. Hiệu của Thiền Sư Như Thông đời Minh. X. Như Thông. ● 剔 起 眉 毛. Dựng đứng lông mày, ý nói phấn chấn tinh thần để lãnh ngộ thiền chỉ. Nhà thiền hay dùng lời nói này để khuyên răn người học. Tiết Vạn Thọ Niệm Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “元 正 二、寂 寥 冷 淡 無 滋 味。趙 州 相 喚 吃 茶 來、剔 起 眉 毛 須 瞥 地。 – Hai vị thiền sinh Chính và Nguyên, buồn tẻ lãnh đạm không mùi vị. Triệu châu mời hai vị uống trà để phấn chấn tinh thần mà lãnh ngộ.” ● 盬 梅. Thiền tăng đời Minh, người xứ Hải Ninh (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thiên Đồng Ngộ. Sư trụ chùa Phổ An. Tác phẩm: Tế Tông Đảnh Thiền Sư Ngữ Lục. ● 延 沼 (896-973). Thiền tăng đời Tống, họ Lưu, người xứ Dư Hàng (nay ở phía tây Hàng Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nam Viện Huệ Ngung, tông Lâm Tế. Sư khai pháp ở chùa Phong Huyệt tại Nhữ Châu (nay là huyện Lâm An tỉnh Hà Nam). Tác phẩm: Phong Huyệt Thiền Sư Ngữ Lục. ● 延 祐 寺. Còn gọi: Chùa Một Cột. Chùa ở thôn Ngọc Thanh, khu Ngọc Hà, Hà Nội, Việt Nam. Theo truyền tụng, vào năm 1049, sau khi vua Lý Thái Tông nằm mộng thấy Bồ tát Quán Âm dắt đi lên tòa sen ngự tọa, quần thần cho là điềm gở, xin Vua cho xây chùa như bông sen nở trên mặt nước để cầu phúc lành dài lâu (Diên hựu). Quy mô chùa không nhỏ như hiện nay mà to lớn, lộng lẫy hơn nhiều. Trên một tấm bia ở chùa Long Đọi (Hà Nam Ninh) dựng năm 1121 có ghi rõ điều đó. Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá cao. ở đây, có sự kết hợp táo bạo của trí tưởng tượng lãng mạn đầy thi vị qua hình tượng bông sen và những giải pháp hoàn hảo về kết cấu kiến trúc gỗ, bằng hệ thống mộng giằng và đặc biệt là sử dụng các cột chống chéo lớn từ cột đến sàn, vừa tạo thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ như đường lượn của cánh sen, thiết lập sự hài hòa giữa mái và sàn bởi một đối xứng ảo. Khối kiến trúc được phụ trợ bởi cảnh quan, có ao, có cây cối, đã tạo nên sự gần gũi, tinh khiết mà vẫn thanh tịnh. Theo: Nguyễn Hùng trong Văn Hóa Việt Nam Tổng Hợp 1989-1995. ● 延 慶 寺 塔. Tháp nằm dưới núi Vân Long, phía tây thị trấn Tây Bình, huyện Tùng Dương, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Đoan Cũng thứ 2 (989) đời Tống, Thiền Sư Đạt Hạnh đem 8 bộ kinh luận, 49 hạt Xá Lợi từ Trung ấn Độ về chùa Diên Khánh, phát nguyện xây tháp cúng dường. Kinh qua mười năm trù hoạch, vào niên hiệu Hàm Bình thứ 2 (999) phá thổ động công, niên hiệu Hàm Bình thứ 5 (1002) hoàn thành. Tháp cao 70m, là tháp cao nhất Chiết Giang. Hình lục giác 7 tầng, kết cấu bằng gạch gỗ theo kiểu lâu các. Đỉnh tháp dùng gạch chồng khít lên nhau thu nhỏ mà thành. Trên tường của tháp có ghi lại đề khắc và bích họa nhiều đời. ● 延 慶 寺 舍 利 塔. Tháp nằm trong khuôn viên chùa Diên Khánh, huyện Tế Nguyên, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Được xây vào niên hiệu Cảnh Hựu thứ 3 (1036) đời Tống. Tháp gạch hình lục giác 7 tầng theo kiểu mái kín, cao khoảng 26m. Mặt tường mỗi tầng bên ngoài tháp có khảm tượng Phật xây bằng gạch hoặc thiết kế cửa tháp hình khuê. Mái tháp dùng gạch xếp chồng khít nhau trông ngắn gọn thô kệch. Đường viền của thân tháp hơi bày hình parabol hùng vĩ sừng sững, đẹp đẽ hùng tráng. Bên trong là tháp tâm thất hình lục giác, trong thất có một tấm bia đời Tống “Tế Nguyên Huyện Long Đàm Diên Khánh Thiền Viện Tân Tu Xá Lợi Tháp Ký”, thư pháp tinh mỹ, chữ cũng rõ ràng. Phía tây tháp có suối phun tập họp thành đầm, gọi là “Long Đàm”là nguồn phía tây sông Tế Thủy. Ban đêm bóng tháp rọi xuống đầm đẹp như một bức tranh, được ca ngợi là “Long đàm dạ nguyệt”. ● 延 福 寺. Còn gọi: Chùa Keo Giao Thủy. Chùa ở ấp Giao Thủy (tên nôm là làng Keo), thuộc hương Hải Thanh đời Lý, nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thủy, tỉnh Hà Nam Ninh, Việt Nam. Chùa do vua Lý Nhân Tông giao cho Thiền Sư Giác Hải khởi dựng vào năm 1121 và để vị này làm Trụ trì. Năm 1138, Lý Nhân Tông sắc cho quan địa phương trùng tu. Năm 1167 lại trùng tu, và Vua đổi tên là chùa Viên Quang (hiện còn bia “Viên Quang tự bi minh tinh tự” do Dĩnh Đạt soạn). ● 延 規. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn, trụ viện Trường Khánh ở Lô Châu (nay là huyện Hợp Phì, tỉnh An Huy) Trung Quốc. ● 延 珊 (1005-1065). Thiền tăng đời Tống, họ Ngu, người huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc nối pháp Thiền Sư Linh ẩn Văn Thắng, tông Pháp Nhãn. ● 延 壽 (904-975). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Vương, tự Trọng Huyền, hiệu Bão Nhất Tử, người xứ Tiền Đường (nay thuộc Hàng Châu), Trung Quốc, nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Tác phẩm: Tông Cảnh Lục 100 quyển, Vạn Thiện Đồng Quy Tập 6 quyển, Thần Thê An Dưỡng Phú 1 quyển, Duy Tâm Quyết 1 quyển. ● 延 夀 堂. Còn gọi: Diên Thọ Liêu, Tương Tức Liêu, Diên Thọ Viện. Ngôi nhà dùng để chứa những vị tăng bị bệnh, những vị tăng cần nghỉ ngơi dưỡng sức. Điều Tương Tức Tham Đường trong Thiền Uyển Thanh Quy q. 6 (Vạn Tục 111, 456 hạ) ghi: “如 庫 司 知 事 及 諸 頭 首 有 病、並 令 供 過 行 者 白 維 那、請 假 下 延 壽 堂 將 息。 – Như Khố ty, Tri Sự và các vị Đầu thủ có bệnh đều nhờ vị cư sĩ phụ trách quá đường bạch với Duy Na, cho phép họ xuống Diên thọ đường để nghỉ ngơi”. ● 延 夀 寺. X. U Thê Tự. ● 延 祚 寺. Chùa thuộc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Đời Đường Thiền Sư Pháp Trì tông Ngưu Đầu trụ trì chùa này, Thiền Sư Trí Oai nối pháp ngài Pháp Trì cũng trụ chùa này và thị tịch nơi đây. Phụ cận chùa này là chùa Phổ Giác núi Ngưu Đầu, là cái nôi của tông Ngưu Đầu. ● 延 應 寺. Còn gọi: Pháp Vân Tự, Chùa Dâu. Chùa ở thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, Việt Nam. Chùa ở vào một vị trí đặc biệt, tọa lạc trên giao điểm những con đường lớn của thời xưa, có thể coi là trung tâm của thị tứ Luy Lâu. Dấu tích của chốn đô hộ xưa kia, nay là những xóm làng Lũng Khê, Khương Tự, Đại Tự Công Hà, Văn Quán… liên tiếp thiết lập theo chiều Bắc Nam, dọc theo con sông Dâu. Đây là ngôi chùa đầu tiên của Việt Nam, được khởi dựng vào đầu thế kỷ III, là chốn tu trì và đạo tràng thuyết pháp của các vị danh tăng như: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Pháp Hiền và Quan Duyên. Chùa Diên ứng hiện tại còn thờ tượng Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi, nên nơi đây chính là Tổ đình của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Quần thể kiến trúc được sắp đặt theo kiểu “Nội công ngoại quốc”: Tăng xá và các nhà phụ thuộc mái ngói tường đất lập thành một khu riêng kề bên vách hữu của chùa. Còn phần chính của chùa là một khu vũ, hình chữ nhật rộng hơn 30m, dài 80m, gồm trước mặt là tiền đường, sau lưng là hậu đường, hai bên là hành lang thật dài. Những ngôi nhà tường gạch lợp ngói làm bắt vần quây bọc một sân gạch rộng và ba tòa điện chính nối liền với nhau thành hình chữ công (工). Cuối cùng có một ngôi miếu nối vào hậu đường và ở giữa sân chùa có dựng cây tháp tên “Hoa Phong”, tương truyền được Mạc Đĩnh Chi xây dựng vào cuối thế kỷ XIII và được xây dựng lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 4 (1738). ● 演 化 大 師. Hiệu của thiền tăng Trí Viễn đời Ngũ Đại. X. Trí Viễn. ● 面 觜. Mặt mũi, bộ mặt. Hàm ý chế giễu. Tiết “Xuất sơn tướng” trong NTNL q.hạ ghi: “凍 不 死、餓 不 死、深 山 走 出 這 面 觜。 – Rét không chết, đói không chết, từ trong núi sâu xuất hiện bộ mặt này.” ● 面 門. Khuôn mặt, nét mặt. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “擘 開 面 門、放 出 先 師 形 相。 – Tách khuôn mặt thì hình tướng của tiên sư hiện ra”. ● 面 目 裂 開. Diện mục: Tâm tính mà mỗi người sẵn có. Liệt khai: Mở bày. Diện Mục Liệt Khai chỉ cho khi đoạn trừ xong Kiến hoặc thì được Pháp nhãn thanh tịnh. ● 面 南 看 北 斗. Mặt xoay hướng nam mà thấy sao Bắc đẩu. là câu nói kỳ đặc của thiền gia, là cảnh giới thiền ngộ tiêu trừ hết vọng tâm phân biệt đối lập. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “道 無 不 是 無。道 有 不 是 有。東 望 西 耶 尼。面 南 看 北 斗。 – Nói không chẳng phải không, nói có chẳng phải có. ở phía đông mà nhìn thấy Tây Cù Da Ni, mặt xoay hướng nam mà thấy sao Bắc đẩu”. ● 面 前 一 絲. Chỉ cho một cảnh, một vật ở trước mắt. Tắc 90, Bích Nham Lục (Đại 48, 214 hạ) ghi: “聲 前 一 句、千 聖 不 傳、面 前 一 絲、長 時 無 間。 – Một câu khi chưa nói, ngàn Thánh chẳng truyền. Một vật ở trước mắt, hằng không gián cách”. ● 面 牆 擔 板. Khi ngồi xoay mặt vào vách thì chỉ thấy một khoảng ngắn trước mắt, khi vác bảng sau lưng mà đi thì chẳng thể thấy mé sau lưng. Thiền Tông dùng từ này làm thuật ngữ để chỉ cho cái thấy sai lệch. Tắc 7, Thung Dung Lục (Đại 48, 272 thượng) ghi: 埋 沒 自 己 也、飲 氣 吞 聲 帶 累 先 宗 也、面 牆 擔 板 “Mai một tự kỷ dã, ẩm khí thôn thinh, Đới lụy tiên tông dã, diện tường đảm bản”. “Chôn vùi tự kỷ đó, nén giận mà nuốt lời, Liên lụy đến Tổ tông, do kiến giải sai lệch”. ● 滅 滅 挈 挈. Dung tục thấp hèn. Bích Nham Lục q.1 ghi: “看 他 古 人、見 到、說 到、行 到、用 到、不 妨 英 靈。。。看 他 德 山 潙 山 如 此、豈 是 滅 滅 挈 挈 底 見 解? – Hãy xem người xưa: thấy đến, nói đến, làm đến, dùng đến, quả thật là bậc anh linh… Hãy xem Đức Sơn Quy Sơn như thế, há là kiến giải dung tục thấp hèn ư?”. ● 滅 胡 種 族. Cắt đứt pháp mạch của Phật giáo. Phần lớn được dùng làm lời chê bai những kẻ mê chấp chẳng ngộ. Bích Nham Lục q.1 ghi: “擧:翠 喦 夏 末 示 衆 云:一 夏 以 來 爲 兄 弟 說 話、看 翠 喦 眉 毛 在 麼?。。。翠 嵒 就 中 奇 特。看 他 恁 麼 道。且 道 他 意 落 在 什 麼 處。古 人 垂 一 鉤。終 不 虛 設。須 是 有 箇 道 理 爲 人。人 多 錯 會 道。白 日 青 天 說 無 向 當 話。無 事 生 事。夏 末 先 自 說 過。先 自 點 檢。免 得 別 人 點 檢 他。且 喜 沒 交 涉。這 般 見 解。謂 之 滅 胡 種 族。 – Nêu lên công án: Cuối hạ, Thúy Nham dạy môn đồ như sau: một hạ đã qua, tôi đã khai thị cho huynh đệ, hãy xem lông mày của Thúy Nham tôi có còn không? Thúy Nham trong đấy quả độc đáo, xem ông ta nói như thế, thử hỏi ý ở chỗ nào? Người xưa nói pháp giống như buông câu, không bày chuyện vô ích, phải có đạo lý cho người. Phần lớn người ta hiểu lầm rằng: Giữa ban ngày ban mặt nói không gì đáng nói, đương không bày ra lắm việc, cuối hạ trước tiên ông ta tự nói lỗi, trước tiên tự trách cứ để khỏi bị người khác trách cứ. May thay không dính dáng! Thứ kiến giải này được gọi là cắt đứt pháp mạch Phật giáo.” ● 鷂 子 過 新 羅. Chim cắt bay qua Tân La. Chỉ cho thiền cơ chớp nhoáng đã qua đi xa lơ xa lắc. Thường dùng khi ứng cơ đối cơ, chỉ rõ đối phương đã vuột mất thiền cơ. Lời nói ngụ ý chê bai. Bích Nham Lục q.1 ghi: “如 擊 石 火 似 閃 電 光。這 箇 些 子 不 落 心 機 意 識 情 想 等。你 開 口 堪 作 什 麼 ?計 較 生 時 鷂 子 過 新 羅。 – Việc này như lửa nháng, tợ ánh điện chớp, một chút xíu cũng chẳng để rơi vào tâm cơ, ý thức, tình tưởng. Các ông làm sao mở miệng được! Khi vừa tính toán thì thiền cơ chớp nhoáng đã qua đi xa lơ xa lắc”. ● 妙 印 (1187-1255). Thiền tăng đời Tống, họ Vạn, hiệu Trúc Nham, người xứ Tiến Hiền (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Nguyệt Lâm Sư Quán, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. ● 妙 高 (1219-1293). Thiền tăng đời Nguyên, họ Thẩm, tự Vân Phong, người xứ Trường Khê (nay là phía nam Hà Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Yển Khê Văn. Sư trụ chùa Đại Lô, Tuyên Hưng (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. ● 妙 證. Lãnh ngộ thiền pháp vi diệu. Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “依 他 作 解、塞 自 悟 門。資 口 舌 則 可 勝 淺 聞、廓 神 機 終 難 極 妙 證。 – Nương vào người khác để hiểu là lấp bít cửa ngộ của mình. Kiến giải đó nếu giúp cho việc tranh chấp cãi cọ thì hay hơn những hiểu biết nông cạn. Phát triển trí thông minh tuyệt vời rốt cuộc khó mà diệu chứng trọn ven được.” ● 妙 胤. Thiền tăng đời Nguyên, hiệu Biệt Truyền, nối pháp Thiền Sư Hư Cốc Hy Lăng, tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Chí Chính (1341-1368) đời Nguyên, sư nhận lời mời của dòng họ Túc Lợi sang Nhật Bản hoằng dương tông phong ở chùa Kiến Nhân. ● 妙 用. 1. Thiền tăng đời Minh (1587-1642) họ Trịnh, tự Huyền Vi, hiệu Uyên Hồ, người xứ Hải Diêm (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nam Minh Huệ Quảng, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Huyền Vi Hòa Thượng Tụng Chỉ 1 quyển. ● 2. Năng lực biến hóa khó lường lưu xuất từ tự tính, khi người tu đã triệt ngộ, Lục Tổ Lạc Đạo Ca ghi: 不 摘 葉、不 尋 枝 多 少 妙 用 識 者 希 莫 將 此 事 爲 端 的 不 知 不 悟 又 玄 微 “Bất trích diệp, bất tầm chi Đa Thiểu diệu dụng thức giả hy Mạc tương thử sự vi đoan đích Bất tri bất ngộ hựu huyền vi”. “Không lặt lá, chẳng tìm cành Diệu dụng thế nào ít kẻ rành Chớ đem việc ấy làm cứu cánh Chẳng ngộ, chẳng tri lý diệu huyền”. ● 妙 道. 1. Thiền tăng đời Nguyên (1257-1345), họ Trần, hiệu Trúc Nguyên, người xứ Ninh Hải, Thai Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hoành Xuyên Như Cung, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Hồng Phúc ở Hoàng Nham (nay thuộc Chiết Giang), được Vua ban hiệu “Định Huệ Viên Minh Thiền Sư”. ● 2. Ni sư đời Tống (1100-1170), vốn là con gái của quan Thượng thư bộ Lễ Hoàng Thường, người xứ Diên Bình (nay là Nam Bình, tỉnh Phúc Kiến), Trung Quốc. Ni sư tham vấn Thiền Sư Tông Cảo và được triệt ngộ, làm Tỳ Kheo ni, trụ trì chùa Tịnh Cư tại Ôn Châu (tỉnh Chiết Giang), nổi tiếng một phương. Theo phả hệ ni sư là Tổ: Thiền Tông đời thứ 23, Nam Tông đời thứ 18, hệ Nam Nhạc đời thứ 17, tông Lâm Tế đời thứ 13, phái Dương Kỳ đời thứ 6. ● 妙 行 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Thanh Hộ, đời Ngũ Đại. X. Thanh Hộ. ● 妙 叶. Phối hợp một cách vi diệu, chỉ Thiền cơ khế hợp. Như Tịnh Ngữ Lục q.thượng ghi: “妙 叶 而 孫、全 該 祖 父。 – Con cháu thiền cơ khế hợp thì bao trùm cả ông cha”. ● 妙 叶 凈 啟 禪 師. Thiền tăng Tịnh Khải đời Đường, người đời gọi sư là “Diệu Hiệp Tịnh Khải Thiền Sư”. X. Tịnh Khải. ● 妙 喜 庵. Am ở núi Kính Sơn, huyện Dư Hàng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Vốn được gọi là Minh Nguyệt Đường. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 31 (1161) đời Tống, Đại Huệ Tông Cảo là cao tăng của tông Lâm Tế lui về ở ẩn nơi Minh Nguyệt Đường và ngài mất vào niên hiệu Long Hưng thứ 1 (1163), Vua thụy hiệu là Diệu Hỷ, nên Thừa tướng Trương Thương Anh đặc biệt gọi Minh Nguyệt Đường là Diệu Hỷ Am. ● 妙 堪 (1177-1248). Thiền tăng đời Tống, họ Mao, hiệu Tiếu Ông, người xứ Từ Khê (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tùng Nguyên Sùng Nhạc. Sư trụ chùa Diệu Thắng ở Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Tác phẩm: Thi Văn tập, Ngữ Lục. ● 妙 契. Minh ngộ tự tâm, khế hợp thiền lý. Tục Nghệ Ngôn trong Nguyên Hiền Quảng Lục q.30 ghi: “三 宗 之 中、難 莫 難 於 禪、教 次 之、律 又 次 之。以 禪 則 超 情 離 見、妙 契 在 語 言 文 字 之 表、非 若 教 之 可 以 揣 摩 而 得、講 習 而 通、故 獨 難 也。 – Trong 3 tông, khó nhất là thiền, kế đến là giáo, sau nữa là luật. Do vì THIềN thì siêu tình lìa kiến, minh ngộ tự tâm ở ngoài lời nói chữ nghĩa, chẳng phải như GIÁO có thể nghiền ngẫm tìm tòi mà được, nghiên cứu học tập mà thông, nên nói riêng khó vậy”. ● 妙 空 禪 師. Hiệu của thiền tăng Thủ Nột đời Ngũ Đại. X. Thủ Nột. ● 妙 倫 (1201-1261). Thiền tăng đời Tống, họ Từ, tự Đoạn Kiều, hiệu Tùng Sơn Tử, người xứ Hoàng Nham (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Tác phẩm: Đoạn Kiều Hòa Thượng Ngữ Lục. ● 妙 悟. Lãnh ngộ thiền pháp vi diệu, minh ngộ tự tâm. Tiết Vân Cư Pháp Như Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “備 參 浙 右 諸 宗 匠、晚 至 龍 門、以 平 日 所 証 白 佛 眼、眼 曰:此 皆 學 解、非 究 竟 事。欲 了 生 死、當 求 妙 悟。師 駭 然 諦 信。 – Sư tham học đủ bậc Tông tượng ở miền hữu ngạn Chiết Giang. Cuối cùng đến Long Môn, sư đem sở chứng lúc bình thường ra bạch cùng Phật Nhãn. Nhãn nói: Những thứ này đều là học giải, chẳng phải việc cứu cánh. Muốn liễu thoát sinh tử phải cầu diệu ngộ. Sư giật mình và tin tưởng một cách cung kính chí thành”. ● 妙 因 (1041-1113). Ni sư đời Lý, thuộc thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 17, nối pháp Thiền Sư Chân Không. Bà tên Ngọc Kiều, trưởng nữ của Phụng Càn Vương, Việt Nam. Ni sư ở viện Hương Hải, làng Phù Đổng, Tiên Du. ● 妙 光 (985-1050). Thiền tăng đời Tống, họ Tạ, tự Vân Phúc, người Ông Nguyên, Quảng Đông, Trung Quốc. Thuở nhỏ sư xuất gia ở ấp nhà, rồi đến núi Bạch Vân tham học nơi Thiền Sư Đạt Chân và nối pháp ngài. Niên hiệu Thiên Hựu thứ 5 (1021), Tống Chân Tông ban cho sư hiệu Diệu Quang Đại Sư, ra lệnh cho sư kế vị Trụ trì thiền viện Diên Thọ, núi Bạch Vân. Danh thần Dư Tĩnh đời Tống có ghi sư là vị trụ trì thứ 5 của viện Diên Thọ. Theo phả hệ sư là Tổ: Thiền Tông đời thứ 17, Nam Tông đời thứ 12, hệ Thanh Nguyên đời thứ 11, tông Vân Môn đời thứ 5. ● 妙 濟 大 師. Thụy hiệu của thiền tăng Hồng Cứu đời Ngũ Đại. X. Hồng Cứu. ● 妙 聲. Thiền tăng đời Minh, tự Cửu Cao, người huyện Ngô (nay thuộc Tô Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Cổ Đình. Tác phẩm: Đông Cao tập 7 quyển. ● 妙 手 無 多 子. Diệu thủ: Thủ đoạn rất khéo, pháp rất hay. Vô đa tử: Không có nhiều. Diệu Thủ Vô Đa Tử nghĩa là tuy có thủ đoạn rất khéo nhưng không có nhiều. Tắc 71, Bích Nham Lục (Đại 48, 200 thượng) ghi: “龍 蛇 陣 上 看 謀 略、令 人 長 憶 李 將 君(妙 手 無 多 子、疋 馬 單 鎗、千 里 萬 里、千 人 萬 人。) –Trên trận Long xà xem mưu lược, khiến người nhớ mãi Lý tướng quân. (Thủ đoạn rất khéo nhưng không có nhiều, một thương một ngựa, đi ngàn muôn dặm để đánh với ngàn muôn người)”. ● 妙 性. Bản tính của chúng sinh, cũng là Phật tính. Kệ thị tịch của Thiền Sư Ngộ ấn (Việt Nam): 妙 性 虛 無 不 可 攀 虛 無 心 悟 得 何 難 玉 焚 山 上 色 常 潤 蓮 發 爐 中 濕 未 乾 “Diệu tính hư vô bất khả phan Hư vô tâm ngộ đắc hà nan Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận! Liên phát lô trung thấp vị càn”. “Diệu tính rỗng không chẳng thể vin Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy Lò lửa hoa sen nở thật xinh”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 妙 總 (1120-1185). Ni sư đời Tống, cháu của Thừa tướng Tô Tụng, con của Tô Tốn, tên Thông Huệ, người xứ Đan Đồ, Giang Tô, Trung Quốc. Tuy được sinh trong dòng dõi quý tộc, nhưng từ nhỏ ni sư đã kính tin Phật pháp, không chịu lập gia đình. Nhờ nghe Thiền Sư Tông Cảo thuyết pháp nên ni sư lãnh hội huyền chỉ, khăng khăng quy y cửa Phật. Tông Cảo đặt pháp hiệu cho ni sư là Vô Trước, có bài kệ như sau: 盡 道 山 僧 愛 罵 人 只 有 無 著 罵 不 動 Tận đạo sơn tăng ái mạ nhân Chỉ hữu Vô Trước mạ bất động “Mọi người đều nói sơn tăng thích mắng người, chỉ có Vô Trước chẳng động khi bị mắng”. Một hôm, trong lúc đang tĩnh tọa, chợt đại ngộ, Tông Cảo ấn khả cho ni sư, và sau đó xuất gia làm Tỳ Kheo Ni, trụ trì viện Tư Thọ phủ Bình Giang (tại Tô Châu, Giang Tô). Ni sư nhắm vào câu nói của Vân Môn Văn Yển “Ngày nào cũng là ngày tốt” để dạy hàng đệ tử rằng: “Ngày nào cũng là ngày tốt, Phật pháp thế pháp thảy đều tốt đẹp, Chẳng tìm huyền chỉ nào khác, Chỉ cần ướt át hai đầu bát”. Ni sư tiếp đãi người học một cách hòa nhã, thiền ngữ hàm súc. Khi ra hoằng pháp nổi tiếng bốn phương. Theo phả hệ, ni sư là Tổ Thiền Tông đời thứ 23, Nam Tông đời thứ 18, hệ Nam Nhạc đời thứ 17, tông Lâm Tế đời thứ 13, phái Dương Kỳ đời thứ 6. ● 妙 總 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Đạo Tiềm do Vua Tống Triết Tông ban cho. X. Đạo Tiềm. ● 妙 慈 弘 濟 大 師. Hiệu của Thiền tăng Nhất Ninh do Vua Nguyên Thành Tông ban cho. X.Nhất Ninh. ● 妙 圓. Tốt đẹp tròn đầy. Tiết “Thị Tính Không Đạt Thiền nhân” trong Duy Tắc Ngữ Lục q.3 ghi: “妙 圓 覺 性、本 自 空 寂、平 等 清 凈、廓 若 太 虛。 – Tính giác tốt đẹp tròn đầy, vốn tự rỗng lặng, bình đẳng thanh tịnh, rộng như hư không”. ● 游 州 獵 縣. Vị tăng tuy nói là hành cước mà thật sự là đi chơi. Vân Môn Quảng Lục q. thượng ghi: “各 自 覓 箇 托 生 處 好、莫 空 游 州 獵 縣。 – Mỗi người hãy tự tìm chỗ thác sinh, chớ đi chơi vô ích”. ● 浴 主. Còn gọi: Tri Dục, Dục Ty. Một trong 6 vị Đầu thủ của ban Tây (Tây tự), là chức vụ trông coi nhà tắm trong Thiền viện. Gần đến thời điểm cho đại chúng tắm thì Dục chủ treo “Khai dục bài” (Thẻ báo cho tắm) ở trước Trai đường (nhà ăn), rồi bày biện phòng tắm, kiểm xem than, than đá, củi lửa… Bên dưới Dục chủ có Dục Đầu Hành Giả (Vị cư sĩ túc trực ở buồng tắm) phụ giúp về công việc này. ● 浴 鼓. Trống dùng để đánh lên thông báo giờ tắm. Cách đánh trống này là: Ban đầu đánh thong thả rồi nhặt dần, sau cùng 1 tiếng rồi dừng. Thông thường, vị Tri dục (Dục chủ) đánh trống này. Theo phép tắc thời xưa, lúc nghe tiếng trống, trước tiên là chúng tăng vào tắm, kế là Dục Đầu Hành Giả, sau cùng là Trụ trì, Tri Sự vào tắm. Về sau sửa đổi: ― Hội thứ nhất: Trụ trì vào tắm. ― Hội thứ hai: Chúng trong Tăng đường vào tắm. ― Hội thứ ba: Những vị công quả và những người còn sót lại vào tắm. ● 浴 頭. Còn gọi: Dục Đầu Hành Giả. Trong Thiền viện, vị này đứng dưới và chịu sự sai khiến của Tri dục (Dục chủ), đôi khi thay thế Tri dục để lo các việc của nhà tắm. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 欲 似. Nghĩa giống như chữ Tự 似. Chữ “Dục” đứng trước không có nghĩa. ● 容 易. 1. Coi thường. Huệ Tịch Ngữ Lục ghi: “因 一 日 與 師 言 話 次、乃 勸 云:師 兄 須 是 勤 學、佛 法 不 得 容 易。 – Một hôm, nhân lúc đang trò truyện cùng sư liền khuyên rằng: Sư huynh cần phải siêng học, Phật pháp chẳng được coi thường.” ● 2. Cẩu thả. Chương Phật Nhãn Viễn Thiền Sư trong GTPĐL q.25 ghi: “從 上 南 泉 歸 宗 諸 人、方 喚 作 無 迷 無 悟 之 見、如 今 學 者 也 趁 口 說、無 迷 無 悟 又 何 曾 到 來?不 得 容 易 出 言! – Xưa kia, các vị như Nam Tuyền, Quy Tông mới được gọi có kiến giải không mê không ngộ. Người học ngày nay cũng ghé miệng nói không mê không ngộ nhưng đâu từng đến được trình độ ấy? Không được nói năng cẩu thả.”. ● 3. Lơ mơ, mơ hồ. Chứng Đạo Tụng trong PDNL quyển hạ ghi: “入 聖 超 凡 割 愛 親、無 令 容 易 度 秋 春。 – Cắt đứt dây thân ái để nhập thánh siêu phàm, không phải mơ mơ qua ngày tháng mà được!”. 4. Thô lỗ, vô phép. Chương Nhất Túc Giác Hoà thượng trong TĐT q.3 ghi: “老 宿 去 房 裏、女 出 來 相 看 曰:小 弟 容 易、乞 老 宿 莫 怪。 – Lão túc vào phòng. Cô gái bước ra chào nói: Em của con vô phép, xin lão túc đừng trách”. ● 融 通 (1866-1928). Thiền tăng cận đại, họ Lữ, pháp danh ấn Triệt, biệt hiệu Phạm Liên, người huyện Vô Tích, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư ẩn Nhu. Sư trụ chùa Kim Sơn. ● 桶 頭. Vị tăng trông coi về các thùng gánh nước, thùng cơm canh của Thiền viện. Tiết Huyền Sa Sư Bị trong CĐTĐL q. 18 (Đại 51, 345 trung) ghi: “文 桶 頭 下 山、師 問:桶 頭 下 山 幾 時 歸。曰:三、五 日。歸 時 有 無 底 桶 子、將 擔 歸?文 無 對。 – Có vị Dũng đầu tên Văn xuống núi. Sư hỏi: Dũng đầu xuống núi, bao giờ thì về? Đáp: Ba hoặc năm ngày. Sư hỏi: Lúc trở về có một cái thùng không đáy, có gánh về được chăng? Văn không đáp được”. ● 桶 底 脫. Còn gọi: Thoát Để Dũng. Thùng lủng đáy. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho cảnh giới đại ngộ, hết sạch các điều nghi ngờ, giống như thùng lủng đáy, các vật trong thùng đều rơi sạch. Tắc 7, Bích Nham Lục, quyển 1 ghi: “只 如 超 禪 客 於 此 悟 去、也 是 他 尋 常 管 帶 參 究、所 以 一 言 之 下、如 桶 底 說 相 似。 – Chỉ như vị Thiền khách Siêu ngay đó mà ngộ thì đó là công phu tham cứu hằng ngày của ông ta – chính vì thế nên khi nghe câu nói ấy, ông ta tương tự như một cái thùng lủng đáy”. ● 勇 泉 寺. Chùa ở dưới chân ngọn Bạch Vân, Cổ Sơn, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Theo “Cổ Sơn Chí” ghi rằng nơi đây vốn là một đầm sâu có chứa rồng độc. Quan tùng sự Bùi Vị thỉnh ngài Linh Kiêu vào núi, ở bên cạnh đầm tụng kinh Hoa Nghiêm, rồng liền rời khỏi đầm, không quay lại phá hại nữa. Niên hiệu Khai Bình thứ 2 (908) đời Hậu Lương, Mân Vương là Vương Thẩm biết lấp đầm để xây chùa, thỉnh ngài Thần Yển trụ trì, đồ chúng tụ hội hơn 1000 vị, hưng thạnh một thời. Niên hiệu Hàm Bình thứ 2 (999) đời Tống, nhân trước chùa có tượng La Hán từ dưới suối nổi lên nên Tống Chân Tông ban hiệu là “Dũng Tuyền Thiền Viện”. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 5 (1407) đời Minh chùa được đổi tên. Từ đó về sau, chùa được xây cất lại nhiều phen. Trong 2 đời Minh và Thanh từng có cao tăng Vĩnh Giác Nguyên Hiền và Vi Lâm Đạo Bái trụ trì. Phần lớn kiến trúc hiện còn là của đời Thanh. Đời cận đại sửa sang các kiến trúc: Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Pháp đường, Chung cổ lâu, Bạch vân đường, Minh nguyệt lâu, Thánh tiễn đường, Tàng kinh điện, Hồi long các, quy mô hùng vĩ, là 1 trong 5 ngôi Thiền tự lớn ở Phúc Châu. Trong chùa có rất nhiều tạng kinh, là điều hiếm thấy trong các thiền viện lớn ở Giang Nam. Trong Tàng kinh điện có chứa Nam Bắc Tạng đời Minh, Long Tạng đời Thanh, 9000 bộ kinh Phật, hơn 20. 000 quyển sách, còn có các vị tăng khổ hạnh chích máu chép 675 quyển kinh Phật. Chùa này bắt đầu việc khắc kinh vào đời Tống, đến niên hiệu Khang Hy (1622-1722) đời Thanh là thời kỳ toàn thạnh, có thể các kinh Phật được khắc này đã phát hành toàn quốc. Hiện nay chùa vẫn còn giữ lại hơn 10. 000 bản kinh đời Minh Thanh. ● 涌 泉 寺 千 佛 塔. Nằm trong khuôn viên chùa Dũng Tuyền, núi Cổ Sơn, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tòa mặt đông gọi là “Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Bảo Tháp”, tòa mặt tây gọi là “Hiền Kiếp Thiên Phật Bảo Tháp” dùng đất sứ nung thành vào niên hiệu Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời Tống, năm 1973 dời tháp về chùa Long Thụy phía nam ngoại ô thành phố Phúc Châu. Tháp cao 7m hình bát giác chín tầng, đáy tòa là bệ bằng xây bằng đá. Những bộ phận nhỏ của thân tháp phỏng theo kiểu lâu các bằng gỗ, mỗi tòa thân tháp có đắp 1038 tượng Phật cho nên gọi là “Thiên Phật Tháp”. Mái tháp hình bát giác có đắp 72 tượng Phật và treo 72 cái chuông bằng gốm. Trên tòa tháp có đắp cánh sen, sư tử múa, người lùn và khắc bài minh ghi lại tên họ người thợ cùng năm tháng xây dựng tháp. Hai tòa tháp cao lớn tinh tế mỹ quan này dù bị gió mưa bão táp trải qua hơn 900 năm vẫn hiên ngang vô sự, thật là một văn vật quý báu hiếm có. ● 用 大 碗. Dụng bát lớn, chỉ cho Thiền Sư Dụng Điệt, làm chức Giám tự trong pháp hội của ngài Cao Am. Tắc Đức Dụng Đại Oản trong Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di (Vạn Tục148, 151 hạ) ghi: “高 菴 笑 而 已 故 叢 林 有 用 大 碗 之 稱。 – Dụng Giám tự không thắp đèn dầu của thường trụ, mua bát lớn để đựng thức ăn cúng dường đại chúng”. ● 用 清 (?-996). Thiền tăng đời Tống, họ Triệu, người xứ Hà Châu (nay ở phía tây nam huyện Đông Hương, tỉnh Cam Túc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Diên Quy, tông Pháp Nhãn. Sư trụ núi Đông Bình ở Thiều Châu. ● 惟 安 (?-1625). Thiền tăng đời Minh, họ Hề, hiệu Phổ Môn, người My Huyện (nay là huyện My, tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lễ Không. Tác phẩm: Hành Tích 2 quyển. ● 惟 白. Thiền tăng đời Tống, họ Nhiễm, người xứ Tĩnh Giang (nay là huyện Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Pháp Tú, tông Vân Môn. Tác phẩm: Kiến Trung Tịnh Quốc Tục Đăng Lục 30 quyển, Tạng Kinh Cương Mục 8 quyển. ● 惟 正 (986-1049). Thiền tăng đời Tống họ Hoàng, người xứ Hoa Đình (nay là Tùng Giang, Thượng Hải), Trung Quốc. Thuở bé sư theo nghiệp Nho, lớn lên học Thiền. Sau khi xuất gia, sư đến các danh sơn, tham vấn Thiền Sư Duy Tố ở viện Tịnh Độ, Hàng Châu và đắc pháp, kế vị Trụ trì viện này. Cả đời sư giới hạnh tinh nghiêm, hành vi cao khiết, bốn chúng đều sợ phục. Sư làm thơ hay, viết chữ khéo, bút pháp tuyệt vời. Tác phẩm: Cẩm Giang Tập 30 quyển. Theo phả hệ sư là Tổ: Thiền Tông đời thứ 18, Nam Tông đời thứ 13, hệ Thanh Nguyên đời thứ 12, tông Pháp Nhãn đời thứ 4. ● 維 翰(1410-1495). Thiền tăng đời Minh. Họ Ngô, tự Thiết Nhiêm, tự hiệu Tuyết Khê Hòa Thượng, người xứ Liên Giang Phúc Kiến, Trung Quốc. Thuở nhỏ sư học theo khoa cử, làm thơ vẽ tranh đều hay, nghiên cứu rất nhiều. Trong lần thi đầu tiên, sư than rằng: “Chẳng qua như thế mà thôi!”, thấu rõ được con đường làm quan sư bèn trốn vào chùa. Sau khi thụ giới, sư đi bốn phương, lên núi Thiên Mục, đến chỗ Thiền Sư Nguyệt Giang Giác Tĩnh, sư theo hầu ngài vài năm, tham ngộ thiền lý, giúp ngài chỉnh lý “Nguyệt Giang Ngoại Tập”. Sau khi được tâm ấn của Thầy, Sư chưa vội ra hoằng pháp mà cất am ở Tuyết Khê, người học tìm đến rất nhiều, số tiền bán các bức tranh do Sư họa đều dùng cứu tế dân chúng. Vua Hiến Tông nghe danh của sư, nên vào niên hiệu Thành Hóa (1465) sắc cho sư trụ chùa Thiên Đồng. Vào năm 1468 có vị họa tăng Nhật Bản là Tuyết Chu được sắc làm Thủ tọa chùa Thiên Đồng, vị này nhìn thấy các bức họa của vị Trụ trì đạt đến mức tuyệt diệu, mỗi mỗi đều thể hiện được thiền ý nên thành tâm bái phục sư. Năm kế, Thiên Hoàng hối Tuyết Chu trở về Nhật Bản, thầy trò lưu luyến không nỡ chia ly. Câu chuyện “Tuyết Khê độ Tuyết Chu” này vẫn còn lưu truyền trong giới tu thiền và giới hội họa mãi đến ngày nay. Danh tiếng của sư càng thêm rực rỡ, vì chẳng chịu nổi sự phiền toái do nhiều người đến thăm viếng, sư bèn từ chức trụ trì chùa Thiên Đồng để đi du lịch, hành tung bất định, nhưng tiếng tăm đồn khắp nên đến đâu cũng được nể trọng. Tác phẩm: Tuyết Khê Ngoại Tập. Theo phả hệ sư là Tổ: Thiền Tông đời thứ 35, Nam Tông đời thứ 30, hệ Nam Nhạc đời thứ 29, tông Lâm Tế đời thứ 25, phái Dương Kỳ đời thứ 18, phái Mật Am đời thứ 12. ● 惟 寬 (755-817). Thiền tăng đời Đường, họ Chúc, người xứ Cù Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất thuộc hệ Nam Nhạc. Thụy hiệu: Đại Triệt Thiền Sư. ● 惟 建. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất, thuộc hệ Nam Nhạc. Sư trụ Lặc Đàm ở Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. ● 惟 勁. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Trường Khê (nay thuộc Hà Phụ, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Thự hiệu: Bảo Văn Đại Sư. Tác phẩm: Giám Đăng Ngũ Tự Tụng, Tục Bảo Lâm Truyện, Nam Nhạc Cao Tăng Truyện, Phòng Tà Luận, Thích Tán, Tượng Cốt Kệ. ● 惟 那. Người hướng dẫn các buổi lễ, điều khiển các nghi thức tụng niệm, điều hòa chúng tăng. Thiền Lâm Bảo Huấn q.3 (Đại 48, 1029 thượng) ghi: “雪 堂 曰。高 菴 住 雲 居。。。通 烏 頭 爲 知 客。賢 眞 牧 爲 維 那。 – Tuyết Đường nói: Khi Cao Am trụ trì Vân Cư (…) Thông Ô Đầu làm Tri khách, Hiền Chân Mục làm Duy Na”. ● 惟 儼 (751-834). Thiền tăng đời Đường, họ Hàn, người xứ Giáng Châu (nay là huyện Tân Giáng, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên. Thụy hiệu: Hoằng Đạo Đại Sư. ● 惟 因(1914-1990). Thiền tăng hiện đại, họ Lê, tự Tri Quả, người xứ Phiên Ngộ, Quảng Đông, Trung Quốc. Tuổi trẻ chịu khó đọc sách, đến tuổi trưởng thành từng làm giáo viên tiểu học, nhân viên thuế vụ. Năm 1940, sư xuất gia ở Nam Hoa Thiền Tự, nhờ pháp sư Linh Diệu tế độ. Sau khi thụ giới, sư trụ thiền đường hai năm rất được ngài Trụ trì Hư Vân ưng ý, sư theo hầu ngài mỗi khi ngài đến các nơi hoằng pháp, dự tính trùng tu ngôi Nam Hoa Thiền Tự. Năm 1946, sư đến Đông Giang du lãm thỏa thích rồi trở về Quảng Châu. Năm 1949, Sư lại quay về Tổ đình Nam Hoa. Năm 1953 sư đến núi Vân Cư ở Giang Tây bái yết ngài Hư Vân, chính thức trở thành đệ tử nối pháp của ngài, được truyền “Động Vân Tông Pháp Quyển” rồi trở về. Từ năm 1956 đến 1958, sư nổ lực học tập tại Trung Quốc Phật Học Viện Bắc Kinh. Năm 1980 sư được chọn làm Hội trưởng Hội Phật Học Trung Quốc. Năm 1982 được suy tôn làm trụ trì Nam Hoa Thiền Tự, phó hội trưởng Hội Phật Học Quảng Đông. Đầu năm 1983, sư bố trí lớp bồi dưỡng chư tăng, từ lâu sư đã mang hoài bảo mở lớp giảng sư, nhiệt tình tiếp đãi tăng tục trong và ngoài nước. Năm 1984, sư làm Hòa Thượng Đàn đầu trong 2 năm liên tiếp. Năm 1986 sư được chọn làm Hội trưởng Hội Phật học thành phố Thiều Quan. Năm 1989 sư lại mở thêm lớp Nghiên cứu Thiền học tại chùa, đích thân sư giảng kinh “Pháp Bảo Đàn” và các kinh luận chủ yếu của Thiền Tông. Sau khi sư tịch, tháp được dựng trong khuôn viên chùa. Tác phẩm: Thiền Thất Khai Thị, Duy Nhân Hòa Thượng Pháp Ngữ. Giống như ngài Hư Vân, sư cũng kế thừa 2 hệ Thiền Tông Nam Tông, sư là Tổ: Thiền Tông đời thứ 56, Nam Tông đời thứ 51, hệ Thanh Nguyên, Nam Nhạc đời thứ 50, tông Tào Động, Lâm tế đời thứ 46. ● 惟 一. 1. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thê Hiền Trừng Đề, tông Pháp Nhãn, trụ viện Hưng Giáo, Nam Sơn, Hàng Châu. ● 2. Thiền tăng sống vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên (1202-1281), họ Cổ, hiệu Hoàn Khê, người xứ Tư Châu (nay thuộc huyện Tư Trung, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Vô Chuẩn Sư Phạm, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Tác phẩm: Hoàn Khê Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục 2 quyển. ● 惟 則. 1. Thiền tăng tông Ngưu Đầu sống vào đời Đường (751-830), họ Trường Tôn, người xứ Tây An, nối pháp Thiền Sư Huệ Trung. Tác phẩm: Bảo Chí Thích Đề, Vô Sinh Đẳng Nghĩa (1311-1393). ● 2. Thiền tăng đời Nguyên, họ Đàm, hiệu Thiên Như, người xứ Kiết An (nay thuộc huyện Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Trung Phong Minh Bản, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Tịnh Độ Hoặc Vấn, Thiền Tông Ngữ Lục, Thập Phương Giới Đồ Thuyết, Lăng Nghiêm Kinh Hội Giải 20 quyển, Lăng Nghiêm Kinh Viên Thông Sớ 10 quyển. ● 3. Thiền tăng đời Nguyên (1303-1373), họ Phí, tự Thiên Chân, hiệu Băng Bá Lão Nhân, người xứ Hàng Châu, nối pháp Thiền Sư Vô Cực Chí Nguyên, tông Lâm Tế. ● 維 清 (?-1117). Thiền tăng sống vào đời Bắc Tống, họ Trần, hiệu Phật Thọ, người xứ Vũ Ninh, Nam Châu (nay là huyện Vũ Ninh, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Xuất gia từ thuở bé, mới 17 tuổi, sư đã được thụ giới Cụ túc thành đại tăng và du phương tham học. Đến Diên An, sư ra mắt ngài Pháp An; ngài rất vừa ý và xem trọng sư. Ngài gọi sư là “Thuyền pháp trong biển khổ” đặt hy vọng vào sư nên dạy dỗ cẩn thận rồi bảo sư nên đến ở núi Hoàng Long thuộc Giang Tây. Đến nơi, sư được nhận làm thị giả cho Thiền Sư Hối Đường Tổ Tâm. Sư hầu Tổ Tâm lâu ngày, quan sát lắng nghe nên gặt hái được nhiều điều hay tốt và được khai ngộ, nối pháp ngài thuộc tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Nguyên Hựu (1086-1093) đời Tống, sư dời sang ở Vân Cư, được Thiền Sư Phật ấn Liễu Nguyên (đang là Trụ trì) mời làm Tọa Nguyên. Sư an nhiên nhận chức rồi quảng bá pháp đạo của Thiền Sư Hoàng Long Tổ Tâm, trở thành bậc tông sư của một thời. Về già, sư kế vị trụ trì chùa Vĩnh An núi Hoàng Long, hoằng dương pháp môn thiền của Hoàng Long, tiếp độ vô số, đạo đức vang khắp gần xa. ● 惟 素. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thê Hiền Trừng Đề, tông Pháp Nhãn. Sư làm Sơn chủ Định Sơn ở Chân Châu (nay là Nghị Chinh, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. ● 惟 宿. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Vân Cư Đạo Tề, tông Pháp Nhãn, trụ Xử Châu (nay là huyện Lệ Thủy, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. ● 惟 忠(735-782). Thiền tăng đời Đường, người Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Sư là người nối pháp ngài Hà Trạch Thần Hội. Có vài phả hệ Thiền Tông xếp đặt Thiền Sư Trí Như ở phía sau sư, làm đảo lộn mối quan hệ thầy trò, sư sửa lại cho đúng. Sư đến núi Hoàng Long cất am cỏ để ở. Núi nầy vốn có nhiều chương khí, sau ngày sư đến tĩnh tu ra công khai phá, chướng khí hết sạch. Người dân vùng đó đổi tên núi thành Phục Long Sơn. Đời sau có Thiền Sư Hốt Cơ dựng chùa Diên Hy nơi núi này. Theo phả hệ sư là Tổ Thiền Tông đời thứ 8, Nam Tông đời thứ 3, tông Hà Trạch đời thứ 2. ● 緣 德 (898-977). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Hoàng, người xứ Lâm An (nay là Hàng Châu tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Khê Hồng Tiến, trụ chùa Viên Thông. Thụy hiệu: Đạo Tế Thiền Sư. ● 緣 密 (905-980). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Tạ, người Ích Dương, Hồ Nam, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Vân Môn Văn Yển, trụ trì chùa Đức Sơn ở Đỉnh Châu (nay là miền núi Thường Đức, Hồ Nam). ● 緣 木 求 魚. Leo cây tìm cá. Tề Tuyên Vương thời Chiến Quốc định xưng hùng xưng bá, nhưng cách làm không hợp pháp. Mạnh Tử liền bảo Tề Tuyên Vương rằng: “以 若 所 爲、求 若 所 欲、猶 緣 木 求 魚 也! – Dĩ nhược sở vi, cầu nhược sở dục, do duyên mộc nhi cầu ngư dã”. Nghĩa là: Lấy việc mình làm để thỏa mãn nguyện vọng của mình thì chẳng khác nào trèo lên cây bắt cá vậy! Thiền Sư dùng thành ngữ Duyên Mộc Cầu Ngư để chỉ phương pháp làm sai, tốn công vô ích, hoặc chỉ sự việc không thể làm được. ● 緣 觀 (920-990). Thiền tăng đời Tống, họ Võ, người Lương Sơn, Tứ Xuyên nối pháp Thiền Sư Đồng An Chí, tông Tào Động, trụ Lương Sơn, Đảnh Châu (nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam), Trung Quốc. ● 悅 衆. Phạn: Karmadāna. Hán âm: Yết Ma Đà Na. Còn gọi: Tri Sự. Người biết việc của mình và làm vui lòng đại chúng. Tên gọi chức vụ của người trông nom các công việc trong Tăng đoàn. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 餘 二. Còn lại, cái khác. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “唯 有 一 乘 道、餘 二 則 非 眞。 – Chỉ có con đường nhất thừa, còn những cái khác thì không phải chân thật”. ● 與 麼. Còn gọi: Nhậm Ma, Dị Một, Y Ma, Thập Ma. Như thế, Thế ấy. Vốn là tục ngữ đời Tống, dùng để chỉ trạng thái của sự vật đã được thực hiện và đang tiếp diễn. Vô Môn Quan q.23 (Đại 48, 295 hạ) ghi: “不 思 善、不 思 惡、正 與 麼 時、那 箇 是 明 上 座 本 來 面 目? – Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay lúc ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. ● 與 凡 與 聖. Không luận là phàm nhân hay thánh nhân. Tiết Mông Sơn Quang Bảo Thiền Sư trong NĐHN q.2 ghi: “與 凡 與 聖、平 等 如 幻。 – Không luận là phàm nhân hay thánh nhân đều bình đẳng như huyễn.” ● 豫 搔 待 癢. Chưa ngứa mà đã gãi. Dụ cho hành vi ngu si đáng chê cười. Tiết Tịnh Từ Sư Nhất Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “古 人 恁 麼 說 話、大 似 預 搔 待 痒。 – Người xưa nói như thế giống như chưa ngứa mà đã gãi”. ● 藥 病 對 治. Còn gọi: Dược bệnh tương trị 藥 病 相 治. Nhân bệnh mà cho thuốc, thuốc do bệnh mà lập ra, dụ cho quyền nghi giáo hoá, pháp môn phượng tiện, không phải là pháp căn bản. Tiết Y Khuyết Tự Tại Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “上 堂 曰:卽 心 卽 佛、是 無 病 求 藥 句。非 心 非 佛、是 藥 病 對 治 句。 – Sư thượng đường nói: Tức tâm tức Phật là câu không bệnh mà cầu thuốc; phi tâm phi Phật là câu thuốc bệnh trị nhau.” ● 藥 汞 銀 禪. Thiền thủy ngân. Thiền bắt chước hình thức bên ngoài của thiền chân chính, mà không nắm được thực chất, cũng như thủy ngân bề ngoài giống như bạc, nhưng không phải là bạc thật. Tắc “Lặc Đàm Dược Hống” trong Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di ghi: “Vân Môn như đơn sa đã luyện được 9 lần, đem nhỏ vào sắt, sắt biến thành vàng; còn Hoài Trừng như thủy ngân nhìn thấy tuy đẹp mắt, nhưng để vào lò liền chảy!”. ● 揚 州 天 寧 寺. Chùa ở phía bắc thành Dương Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, đứng đầu trong tám đại danh sát ở Dương Châu vào đời Thanh, dân gian có lời ca ngợi “Nhất miếu ngũ môn thiên hạ thiểu, lưỡng lang thập điện thế gian hy” (Thiên hạ ít có một miếu năm cửa, thế gian hiếm thấy hai lang mười điện). Nền chùa nguyên là biệt thự của Thái Truyền Tạ An đời Đông Tấn. Niên hiệu Nghĩa Hy thứ 14 (418) đời Đông Tấn có tăng thỉnh Tư Không Tạ Diễm xây cất “Hưng Nghiêm Tự”. Niên hiệu Chứng Thánh thứ 1 (695) đời Đường xây cất “Chứng Thánh Tự”. Vào niên hiệu Chính Hòa (1111-1117) đời Tống vua ban tên “Thiên Ninh Thiền Tự”. Khi vua Tống Cao Tông đi về nam từng dừng chân nơi chùa này, về sau bị phá hủy bởi binh lửa. Vào niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh trùng tu. Niên hiệu Khang Hy thứ 23 đến thứ 46 vua Khang Hy sáu lần nam hạ đều dừng chân nơi chùa này. Niên hiệu Càn Long thứ 22 (1757) ban tặng Thiên Ninh Tự là đứng đầu các chùa ở Trường Giang và Hoài Hà. Trong chùa xây cất Hành cung, Ngự hoa viên; trước chùa xây Ngự mã đầu. Trong Ngự hoa viên có xây Đại quán đường, Văn hối các, vua ban tặng “Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành”, “Tứ Khố Toàn Thư” mỗi thứ một bộ. Tào Dần từng nhận lệnh vua thiết kế thư cục, chủ trì in khắc “Toàn Đường Thi”, soạn “Bội Văn Vận Phủ”. Đầu nhà Thanh đại họa gia Thạch Đào, cho đến Trịnh Bản Kiều, Kim Nông, Lý Thiện trong “Dương Châu Bát Quái” từng làm khách nơi tăng xá chùa Thiên Ninh. Khoảng niên hiệu Hàm Phong (1851-1861) bị phá hủy bởi binh lửa. Niên hiệu Đồng Trị thứ 4 đến niên hiệu Tuyên Thống thứ 3 (1865-1911), nhiều lần xây dựng lại. Hiện còn Sơn môn, Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Hoa nghiêm các, Đông tây lang phòng, Phối điện, Phương trượng lâu phân bố thành trục đối xứng, bố cục nghiêm cẩn, ngay ngắn có trật tự. Là quần thể kiến trúc tự miếu theo hình thức tứ hợp viện truyền thống Trung Quốc. ● 陽 焰 波 澄. Vào đầu mùa Xuân, ánh mặt trời chiếu rọi bụi trần bay đi khắp nơi, từ xa trông hiện tượng bụi bay này giống như sóng nước. Đây chỉ là cảm giác sai lầm mà thôi. Hễ sóng nước biến mất thì cảm giác sai lầm cũng hết. Thiền Tông dùng thí dụ này để chỉ cho việc loại trừ ý thức hư vọng. Thư đáp Trịnh Côn Nham Trung thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “如 此 著 力、自 然 得 見 好 消 息。若 一 念 拶 得 破、則 一 切 妄 念、一 時 說 謝。如 空 花 影 落、陽 焰 波 澄。過 此 一 番、便 得 無 量 輕 安、無 量 自 在。 – Dụng công như thế, tự nhiên thấy được tin tức tốt. Nếu bức bách một niệm vỡ được thì tất cả vọng niệm đồng thời rơi rụng như không hoa ảnh lạc, như dương diệm ba trừng. Một phen qua được chỗ này liền được vô lượng khinh an, vô lượng tự tại”. ● 陽 焰 空 花. Dương diệm: Vào đầu mùa Xuân, ánh mặt trời chiếu rọi bụi trần bay đi khắp nơi, từ xa trông hiện tượng bụi bay này giống như sóng nước. Không hoa: Hoa đốm trong hư không mà người bị hoa mắt nhìn thấy. Cả 2 thí dụ đều chỉ cho giả tướng hư huyễn do vọng tâm sinh ra. ● 揚 化. Hoằng dương giáo hóa. Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng ghi: “釋 迦、彌 勒 動 地 雨 花、文 殊、普 賢、觀 音、勢 至、各 踞 一 方、助 佛 揚 化。 – Thích Ca, Di Lặc thuyết pháp vang động khắp nơi; Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí chia nhau mỗi vị ở một phương để giúp Phật hoằng dương giáo hóa”. ● 楊 鴻 飛 (1918-). Cư sĩ hiện đại, người xứ Nam Thông, Giang Tô, Trung Quốc. Năm 12 tuổi bắt đầu ăn chay học Phật. Năm 20 tuổi giã từ cha mẹ thụ giới cụ túc, pháp hiệu Viên Minh, từng theo học với các vị đại sư: ấn Quang, Thái Hư… Lần lượt giữ chức Giảng sư Phật học viện Mân Nam ở Amoy, chủ nhiệm Giáo vụ Phật học viện Thiên Ninh ở Thường Châu, sáng lập tạp chí “Học tăng” ở Phật học viện Tĩnh An. Sau khi đến Đài Loan, ông lại sáng lập tạp chí “Nhân sinh”. Lúc 34 tuổi, ông sang Nhật học tại Đại học Rishō, Kyūshū, đỗ bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ. Về sau hiện thân cư sĩ, sáng lập học viện Trung Văn Đại Bản, kiêm giảng sư bộ môn Văn học thuộc Đại học Đồng Chí Xã ở Kinh đô. Ông còn cực lực tuyên dương văn hóa Phật giáo Trung Quốc, được mời làm Trưởng ban Phật học Nhật Bản của hội Tu Đính Đại Tạng Kinh Trung Hoa. Ông hết lòng tìm hiểu tư tưởng Hà Trạch Thần Hội và có viết luận văn “Người trứ tác và niên đại của Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca”. ● 楊 岐 方 會 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 1 quyển, do Dương Kỳ Phương Hội soạn vào thời Bắc Tống, nhóm Bảo Ninh Nhân Dũng và Bạch Vân Thủ Đoan biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 118, trang 398. Nội dung gồm 5 thiên: 1. Ngữ Lục của Hòa Thượng Phương Hội khi ở Thiền viện Phổ Thông núi Dương Kỳ Viên Châu, do đệ tử là Nhân Dũng ở Thiền viện Bảo Ninh, phủ Giang Ninh ghi chép. 2. Ngữ Lục của Hòa Thượng Phương Hội khi trụ trì chùa Hải Hội núi Vân Cái Đàm Châu, do đệ tử là Thủ Đoan ở Bạch Vân Phong, Thư Châu ghi chép. 3. Ngữ yếu của Thiền Sư Đạo Ngô Chân ở Đàm Châu. 4. Khám biện. 5. Kệ tụng, gồm 9 bài kể từ Quy Sơn Thủy cổ ngưu trở xuống và bài tụng Tam Diệu Tam Quyết. Sách này bị nghi là phần trích riêng ra từ quyển 19 của Cổ Tôn Túc Ngữ Lục. Ngoài ra còn có Dương Kỳ Phương Hội Hòa Thượng Hậu Lục (1 quyển, cũng được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47), nội dung gồm 30 điều bao quát những pháp ngữ lúc nhập viện khai đường ở Hưng Hóa thiền tự, Đàm Châu, cho đến những bài pháp ngữ thượng đường, khám biện 7 điều và bài chân tán tự thuật. Sách này cũng bị nghi là phần trích riêng ra từ Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu do sư Minh đời Tống biên tập. ● 楊 岐 寺. Chùa dưới đỉnh Thọ Đào, núi Dương Kỳ, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, cách thành phố Bình Hương 35km về hướng bắc, được xây dựng vào khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-741) đời Đường, do Thiền Sư Thừa Quảng chủ trì, ban đầu lấy tên là Quảng Lợi Tự. Đầu niên hiệu Khánh Lịch (1041-1048) đời Tống, Thiền Sư Phổ Huệ trụ chùa này đổi tên là Phổ Thông Thiền Tự. Ngài Phương Hội ở đây hoằng dương Thiền Tông, sáng lập phái Dương Kỳ của tông Lâm Tế. Đời Nguyên chùa bị phá hủy. Đầu đời Minh, có vị tăng tên Tự Quan xây dựng lại. Niên hiệu Càn Long thứ 1 (1736) đời Thanh, chùa được sửa sang. Niên hiệu Đạo Quang thứ 23 (1843), các người trong ấp như: Cam Bảo Hiền… tiếp tục sửa sang. Quy mô toàn chùa rất khả quan như hồi đời Đường. Theo “Chân Thúc Đại sư tháp minh” của Đường Vương Quan ghi: 獨 步 楊 崎 山 頂 上、見 出 花 宮 勝 仙 關 樓 檯 壯 勢 射 虛 空、魔 界 輪 幢 盡 摧 折 Đỉnh Dương Kỳ một mình cất bước Thấy cung hoa đẹp vượt cõi tiên Lâu đài sừng sững vút lên Cờ ma xe quỷ hết còn dương uy. (Hạnh Huệ dịch) Đến đời Tống, chùa này trở thành tự viện Thiền Tông quan trọng, quy mô càng hùng vĩ. Trong bài thơ “Phổ Thông Tự” của vị tăng tên Đức Huệ ghi: 傍 山 千 間 屋、騰 空 百 盡 樓 Nhà ngàn gian dựa núi Lầu trăm thước vờn mây. Trịnh Cường, một thi nhân đời Tống cũng có bài thơ “Phổ Thông Tự” như sau: 緣 藍 青 黛 染 晴 山 院 鎖 層 巒 疉 嶂 間 庾 嶺 插 天 雲 漠 漠 曹 溪 瀉 地 水 潺 潺 Núi tạnh nhuộm màu xanh thẫm xanh Viện nằm giữa lớp núi vây quanh Dữu lãnh chọc trời mây mịt mịt Tào Khê phun đất nước lan man. (Hạnh Huệ dịch) Trong chùa còn lại 2 tấm bia đời Đường: 1. Do Lưu Vũ Tích vì Thiền Sư Thừa Quảng soạn văn bia, bia được dựng vào niên hiệu Nguyên Hòa thứ 2 (807) đời Đường. 2. Do Vương Quan viết tên là “Chân Thúc Thiền Sư tháp minh”, dựng vào niên hiệu Thái Hòa thứ 6 (832) đời Đường. Trước chùa có tháp của Thiền Sư Thừa Quảng, trong chùa vốn có tượng Như Lai, Bồ tát Quán Âm, Hộ pháp Vi Đà, 18 tượng La Hán. Hiện chỉ còn các bức phù điêu: Sư tử, hoa Mẫu Đơn, Phù Dung trên 2 cánh cửa gỗ. ● 揚 眉 瞬 目. Còn gọi: Thuấn Mục Dương My, Cử Mục Dương My. Nhướng mày chớp mắt. Dụ cho sự suy nghĩ trong một thoáng. Tiết Khai Tiên Thiện Xiêm Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “一 棒 一 喝、猶 是 葛 藤、瞬 目 揚 眉、拖 泥 帶 水。 – Một gậy một hét còn là trói buộc, một thoáng suy nghĩ liền rơi vào cửa phương tiện”. ● 庾 山 (532). Hiệu của Thiền tăng Tư Học đời Minh. X. Tư Học. ● 多 寳. Thiền tăng cuối đời Lê đầu đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 5, nối pháp Thiền Sư Khuông Việt. Về sau, sư trụ trì chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng (nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội), Việt Nam. ● 多 多. Rất nhiều. Mật Am Ngữ Lục ghi: “更 有 多 多 葛 藤、不 欲 盡 說。 – Còn rất nhiều lời nói rối rắm không muốn nói hết.” ● 多 多 和 和. 1. Bô lô ba la cái miệng mà trong lòng không hiểu gì cả. Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “仁 者!莫 祇 是 記 言 記 語、恰 似 念 陀 羅 尼 相 似、蹋 步 向 前 來、口 裡 哆 哆 和 和 地、被 人 把 住 詰 問 著 沒 去 處、便 嗔 道 和 尚 不 爲 我 答 話、恁 麼 學 事 大 苦。 – Này nhân giả! Chớ nên ghi nhớ ngôn ngữ, giống như niệm kinh Đà la, chân bước tới trước, trong miệng thì bô lô ba la, khi bị người nắm lại vặn hỏi chỗ đi đến thì nổi giận nói rằng Hòa Thượng không trả lời cho ta, việc học đạo phải khổ như thế.” ● 2. Lúng ba lúng búng, ăn nói vụng về. Hàm ý nghĩa lãnh ngộ diệu nghĩa thiền pháp, không chấp trước ngôn cú tri giải. Mật Am Ngữ Lục ghi: “好 大 眾。不 是 文 章 四 六。亦 非 少 室 單 傳。哆 哆 和 和 如 荐 得。祖 師 鼻 孔 一 時 穿。 – Này đại chúng! Chẳng phải văn chương tứ lục, cũng chẳng phải Thiếu Thất riêng truyền, lúng ba lúng búng như tỉnh ngộ được thì nhất loạt xỏ mũi Tổ sư.” ● 多 口 阿 師. Chỉ cho thiền tăng lắm lời, nhiều chuyện. Tắc 50, Bích Nham Lục (Đại 48, 185 trung) ghi: 砵 裹 飯 桶 裹 水 多 口 阿 師 難 下 嘴 “Bát lý phạn, dũng lý thủy, Đa khẩu a sư nan hạ chủy”. “Cơm trong bát, nước trong thùng, Thiền tăng lắm lời khó ghé mỏ”. ● 多 小. Còn gọi: Đa Thiểu 多 少. Bao nhiêu? Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q.3 ghi: “(國 師)又 問:解 算 否?對 曰:解。師 曰:三 七 是 多 小?對 曰:和 尚 弄 弟 子!三 七 二 十 一。 – Quốc sư lại hỏi: Biết tính không? Tăng nói: Biết. Sư hỏi: Ba lần bảy là bao nhiêu? Tăng nói: Hòa Thượng đùa với đệ tử. Ba lần bảy là hai mươi mốt.” ● 拖 泥 帶 水. “Nói năng, văn viết” lôi thôi dài dòng, rườm rà. Tiết Tịnh Từ Huệ Huy Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “雲 門 尋 常 乾 爆 爆 地、錐 劄 不 入。到 這 裡、也 解 拖 泥 帶 水。 – Vân Môn bình thường khô không khốc, dùi đâm chẳng thủng, đến chỗ này mới hiểu các lời chỉ dạy là lôi thôi dài dòng”. ● 打 (k. ng). 1. Đặt trước động từ, thường không có thật nghĩa. Những động từ mang chữ “đả” ở trước đều biểu thị hành vi, động tác của người ấy. Tiết Vân Phong Văn Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “飢 時 喫 飯、困 來 打 眠。 – Lúc đói hãy ăn cơm, khi mệt hãy đi ngủ”. ● 2. Đánh cướp, trộm cướp. Hoa Nghiêm Hòa Thượng trong TĐT q.8 ghi: “賊 不 打 貧 兒 家。 – Cướp không đánh nhà nghèo”. ● 打 板. Đánh vào tấm bảng cây phát ra tiếng để thông báo cho đại chúng biết lúc nào là đến giờ ăn, giờ tắm, giờ làm việc công cộng, giờ thượng đường. Điều Dục Chủ trong Thiền Uyển Thanh Quy q. 4 (Vạn Tục 111, 448 hạ) ghi: “鋪 設 諸 聖 浴 位、及 淨 巾、香 花、澄(疑 作 燈)燭 等、並 眾 僧 風 藥、茶 器、齋 後 打 版。 – Sắp đặt chỗ tắm cho chư tăng, sửa soạn khăn sạch, hương hoa, đèn đuốc cùng với thuốc phong, ẩm trù. Sau giờ ăn thì đánh bảng”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 打 辦. Phấn chấn tinh thần. Tiết Thần Đảnh Hồng Nhân Thiền Sư trong LĐHY q.12 ghi: “諸 兄 弟、直 須 打 辦 精 神、窮 徹 根 源。 – Các huynh đệ cần phải phấn chấn tinh thần truy tìm tận cùng căn nguyên.” ● 打 葛 藤. Trói buộc, vướng mắc, giảng nói. Tiết Thiên Đồng Phổ Giao Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “山 僧 無 恁 麼 閑 唇 吻 與 汝 打 葛 藤、何 不 休 歇 去! – Sơn tăng không có rảnh môi mép như thế để cùng ông giảng nói, sao chẳng ngưng dứt đi!”. ● 打 給. Cấp: Cung cấp, cấp cho. Chỉ cho việc cung cấp cơm cháo cho đại chúng. Tiết Khố Đầu trong Thiền Uyển Thanh Quy q.4 (Vạn Tục 111, 448 thượng) ghi: “如 遇 打 給、即 時 應 副。 – Như gặp phải lúc cung cấp cơm cháo cho đại chúng, liền sẵn sàng làm ngay”. ● 打 之 繞. Đi loanh quanh. Tiết Kính Sơn Biệt Phong Khâu Thiền Sư trong PĐL q. 25 ghi: “直 截 簡 徑、廣 大 明 白 底 一 段 大 事。諸 人 自 打 之 繞、自 求 葛 藤、遂 見 紛 紛 紜 紜。 – Việc quan trọng này vốn thẳng tắt, giản dị, rõ ràng mà các ông tự đi loanh quanh, tự tìm trên văn tự ngữ ngôn”. ● 打 供. Cúng dường, cung phụng. Tông Môn Võ Khố ghi: “暨 明 安 遷 寂。遺 囑 云。瘞 全 身 十 年 無 難。當 爲 大 陽 山 打 供。 – Đến khi Minh An thị tịch có di chúc rằng: ẩn giấu toàn thân mười năm không có tai nạn, nay nên cúng dường cho núi Đại Dương.” (Núi Đại Dương là chỗ ở của thị giả Bình, đệ tử của Thiền Sư Minh An). ● 打 野 榸. Còn gọi: Đả Dã Thái. Du phương hành cước. Tắc 48, Bích Nham Lục (Đại 48, 183 hạ) ghi: “明 招 云: 朗 上 座 喫 卻 招 慶 飯 了。卻 去 江 外 打 野 榸。 – Minh Chiêu nói: Thượng tọa Lãng ăn cơm của Chiêu Khánh xong, rồi đi du phương hành cước”. Ngoài ra, từ “Đả Dã Trai” theo ngạn ngữ Phúc Châu có nghĩa là tụ tập nhiều người và làm ồn náo. ● 打 地. Công án. Sự việc được thấy trong tiết Đả Địa Hòa Thượng, NĐHN q.3 ghi: “打 地 和 尚 忻 州 打 地 和 尚、自 江 西 領 旨、常 晦 其 名。凡 學 者 致 問、唯 以 棒 打 地示 之。時 謂 之 打 地 和 尚。一 日 被 僧 藏 卻 棒 然 後 致 問、師 但 張 其 口。 – Hòa Thượng Đả Địa ở Hân Châu từ Giang Tây lãnh chỉ, thường không rõ tên họ. Hễ người học có hỏi gì thì chỉ lấy chiếc gậy đập xuống đất, cho nên thời ấy gọi sư là Hòa Thượng Đả Địa. Một hôm bị ông tăng giấu đi chiếc gậy, sau đó tăng hỏi, sư chỉ biết há miệng.” Phương sách “đả địa” ẩn ý thiền pháp không thể dùng ngôn ngữ để bày tỏ, cũng thể hiện thiền ngộ như người uống nước lạnh nóng tự mình biết. Tiết Long Môn Thanh Viễn Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “擎 叉 打 地、豎 拂 敲 床。 – Giơ cây xiên, đập gậy xuống đất, dựng phất tử, gõ giường thiền.” ● 打 疊. Quét sạch, thu dọn. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “長 慶 云。淨 潔 打 疊 了 也。卻 近 前 就 我 覓。我 劈 脊 與 爾 一 棒。 – Dọn dẹp sạch sẽ rồi thì trước mắt đến tìm ta, ta sẽ cho ngươi một gậy vào xương sống.” ● 打 交 滾. Vướng mắc. Chương “Thư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham” trong HSLNMDT q.1 ghi: “今 之 做 工 夫 人、總 不 知 自 心 妄 想、元 是 虛 妄、將 此 妄 想 誤 爲 眞 實、專 只 與 作 對 頭、如 小 而 戲 燈 影 相 自、轉 戲 轉 沒 交 涉、弄 久 則 自 生 怕 怖。又 有 一 等 怕 妄 想 的、恨 不 得 一 把 捉 了、拋 向 一 邊、此 如 捕 風 捉 影、終 日 與 之 打 交 滾、費 盡 力 氣、再 無 一 念 休 歇 時。 – Những kẻ tu hành ngày nay không biết tự tâm vọng tưởng vốn là hư vọng, Lầm nhận vọng tưởng này là chân thật nên chuyên chỉ đối đầu với nó giống như trẻ con đùa với cái bóng trước ánh đèn, càng đùa càng không dính dáng, đùa lúc lâu thì sinh ra sợ hãi. Lại có loại người sợ vọng tưởng, chỉ tiếc không nắm bắt nó được để ném qua một bên, đây giống như bắt gió chụp bóng, suốt ngày vướng mắc phí tổn hơi sức và lại không có một niệm ngơi nghỉ.” ● 打 化. Khất hóa, mộ hóa (xin bố thí). Tông Môn Võ Khố ghi: “(淵 首 座)住 慧 安 逐 日 打 化。遇 暫 到。即 請 歸 院 中 歇 泊。容 某 歸 來 修 供。如 此 三 十 年 風 雨 不 易。 – Uyên Thủ tọa trụ chùa Huệ An mỗi ngày đi khất thực. Khi có tăng đến tạm trú sư mời về nghỉ ngơi trong viện để cho sư cúng dường. Ba mươi năm như thế, dù cho mưa gió cũng không thay đổi.” ● 打 鬨. Rắc rối. Tiết Tiến Phúc Hưu Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “此 土 與 西 天、一 隊 黑 漆 桶。誑 惑 世 間 人、看 看 滅 胡 種。山 僧 不 奈 何、趁 後 也 打 鬨。 – Trung Quốc với Tây Thiên toàn một lũ ngu si. Dối gạt kẻ thế gian, sắp diệt mất pháp mạch Phật giáo. Sơn tăng không thể làm gì, đuổi theo sau càng rắc rối.” ● 打 摸 畫 樣. Mô phỏng (bắt chước). Phương Hội Hậu Lục ghi: “釋 迦 老 子 初 生 時、周 行 七 步、自 頋 四 方、一 手 指 天、一 手 指 地。今 時 衲 僧 盡 皆 打 模 畫 樣、便 道 天 上 天 下 唯 我 獨 尊。 – Lão Thích Ca lúc mới sinh bước đi bảy bước, mắt nhìn bốn phương, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Hôm nay nạp tăng hết sức bắt chước, bèn nói trên trời dưới trời chỉ có ta tôn quý”. ● 打 硬. 1. Cố chấp, bướng bỉnh. Bài tán của Thiền Sư Xiển Đề Chiếu trong GTPĐL q.29 ghi: “自 少 來 打 硬、佛 祖 不 奈 何。 – Từ nhỏ đã bướng bỉnh, Phật Tổ cũng đầu hàng”. ● 2. Gắng gượng. Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong LĐHY q. 20 ghi: “你 被 他 諸 方 老 禿 奴 魔 魅 著、便 道 我 是 修 行 人、打 硬 作 模 作 樣、恰 似 得 道 底 人 面 孔。 – Ngươi bị lão trọc các nơi lừa bịp, nên tự nói rằng mình là người tu hành, gắng gượng ra vẻ kiểu cách, giống như bộ mặt của người đắc đạo”. ● 打 瓦 鑽 龜. Dùi rùa đập ngói. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho việc làm tốn công vô ích. Trong bài Tự Thuật của Trần Thánh Tông (Thiền Sư Việt Nam) có ghi: 自 從 丱 角 入 禪 流 打 瓦 鑽 龜 沒 外 求 認 得 本 來 眞 面 目 到 頭 何 處 不 休 休 “Tự tòng quán giốc nhập thiền lưu Đả ngõa toản quy một ngoại cầu Nhận đắc bản lai chân diện mục Đáo đầu hà xứ bất hưu hưu”. “Từ phen để chỏm nhập làng Thiền Tốn công vô ích hướng ngoại tìm, Một khi nhận rõ chân diện mục Đến đâu mà chẳng thấy hồn nhiên”. ● 打 街. Xin ăn ở ngõ phố. Tông Môn Võ Khố ghi: “時 湛 堂 爲 座 元。問(淵 首 座)曰。公 去 如 何 住 持。淵 曰。某 無 福。當 與 一 切 人 結 緣。自 負 栲 栳 打 街 供 眾。 – Bấy giờ Trạm Đường làm Tọa nguyên hỏi Uyên Thủ tọa: Ông đi trụ trì như thế nào? Uyên đáp: Tôi vô phúc, đang kết duyên với mọi người, tự mang cái sọt đi xin ăn ở ngõ phố để cúng dường tăng chúng.” ● 打 拈 衣. Áo ngủ của thiền tăng. Thời xưa, phần đông chư tăng đắp y 5 điều để ngủ. Về sau, mới thay bằng tấm vải trực chuyết gọi là Đả niêm y. ● 打 破 漆 桶. Tất dũng: Thùng sơn, chỉ cho hầm sâu vô minh. Đả Phá Tất Dũng là đập vỡ thùng sơn, là dụ cho phá được vô minh, nói khác đi là kiến tính. Như Tịnh Ngữ Lục, q. hạ có ghi: 打 破 黑 漆 桶、十 方 空 索 索 不 授 靈 山 記、安 居 大 圓 覺 “Đả phá hắc tất dũng Thập phương không sách sách Bất thọ Linh Sơn ký An cư đại viên giác”. “Đập vỡ thùng sơn đen Mười phương trống hoang hoác Chẳng nhận Linh Sơn (thọ) ký ở yên (trong) đại viên giác”. ● 打 飯. Đả: động từ, có nghĩa là làm thành, làm ra. Đả phạn tức là nấu cơm. Theo môn Phạn Phần trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên: “鶴 林 玉 露 云:陸 象 山 家 人、計 口 打 飯。 – Hạc Lâm Ngọc Lộ nói: Gia nhân của Lục Tượng Sơn tính số người ăn để nấu cơm”. Ngoài ra, từ ngữ Đả Phạn còn có nghĩa là ăn cơm. ● 打 成 一 片. Nhồi thành một khối. Trong sách vở Thiền Tông thường dùng thuật ngữ này để biểu thị trạng thái của tâm khi sạch hết quan niệm đối lập, hoặc tham cứu thoại đầu đến trình độ thoại đầu luôn luôn hiện tiền, không bị cảnh duyên cướp đoạt. Phần Bình Tụng của tắc 6 trong Bích Nham Lục (Đại 48, 146 hạ) ghi: “長 短 好 惡。打 成 一 片。一 一 拈 來 更 無 異 見。 – Dài ngắn tốt xấu, nhồi thành một khối, mỗi mỗi nêu ra, trọn không có kiến giải khác”. Phần Bình Xướng của tắc 19 trong Bích Nham Lục (Đại 48, 157 trung) ghi: “嘗 云:我 四 十 年。方 打 成 一 片。 – Hương Lâm ưa nói: Đến 40 năm, tôi mới nhồi thành một khối”. ● 打 草 驚 蛇. Đập cỏ làm rắn kinh sợ. Theo Tây Dương Tạp Trở của Đoàn Thành Thức: Vương Lỗ đời Đường từng làm huyện lệnh huyện Đồ, tính hay lừa lọc mưu lợi, tham nhũng bậy bạ. Có người viết đơn tố cáo ông, chẳng dè đơn ấy lại lọt vào tay ông, ông vừa xem vừa run, cuối cùng ông phê vào lá đơn: “Mi đã đập cỏ, ta như rắn giật mình” (Nhữ tuy đả thảo, ngô dĩ kinh xà). Đời sau rút gọn lời phê thành “Đả thảo kinh xà”, ý nói không giữ được bí mật khi bắt đầu làm việc gì, khiến đối phương kinh động và phòng bị trước. Phần Niêm thuộc Công án thứ 28 trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông ghi: 焚 山 須 虎 避、打 草 要 蛇 驚 “Phần sơn tu hổ tỵ, đả thảo yếu xà kinh”. “Đốt núi khiến hổ lánh, đập cỏ cốt rắn sợ”. ● 打 七. Còn gọi: Kiết Thất. Chỉ cho việc tu hành đặt ra quy định là phải có kết quả trong thời gian 7 ngày. Như trong 7 ngày đó, người chuyên tu niệm Phật thì gọi là Đả Phật thất, gọi tắt là Phật thất, người chuyên tu về Thiền Tông thì được gọi là Đả Thiền thất, gọi tắt là Thiền thất. Điều Khắc Kỳ Thủ Chứng trong Tu Tây Tập Yết của ngài Tín Am (Vạn Tục 110, 206 hạ) ghi: “欲 得 一 心、必 須 結 七。近 今 七 期 念 佛、多 成 散 善 因 緣。 – Muốn được nhất tâm cần phải kiết thất. Gần đây, người ta lấy phương pháp Niệm Phật trong 7 ngày để làm kỳ hạn, phần nhiều thành tựu được nhân duyên tán thiện”. ● 打 靜. Đối lại: Khai tĩnh. Nghĩa là mới bắt đầu ngủ hay tọa thiền. Huấn Đồng Hạnh trong Thiền Uyển Thanh Quy q. 9 (Vạn Tục 111, 44 thượng) ghi: “打 靜 已 後、未 開 靜 已 前、除 常 住 事、不 得 於 堂 內 及 近 童 行 堂 說 話。 – Sau khi đả tĩnh và trước khi khai tĩnh, trừ những việc của Thường trụ, tất cả mọi người không được nói chuyện trong Tăng đường và nói chuyện gần Đồng hạnh đường (nhà ở của các chú điệu mới vào chùa)”. ● 打 并. Sắp xếp, sửa soạn. Mật Am Ngữ Lục: “應 庵 一 日。喝 恭 上 座 云:爾 常 在 此。作 什 麼。恭 煩 惱 打 併 起 單。 – Một hôm ứng Am quát Thượng tọa Cung: Thường ngày ở đây ông làm gì? Thượng tọa Cung phiền não, sắp xếp rời khỏi chùa”. ● 打 坐. Tức chỉ cho việc ngồi thiền. Đả: Động tác, hành vi. Đả tọa: Chư tăng hoặc Đạo nhân thực hành phương pháp ngồi ngay ngắn để tư duy thâu liễm tâm thần, hoặc để tu pháp quán của Tông Thiên Thai hoặc pháp quán Du Già của Mật Tông… Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục q.14 (Đại 47, 779 hạ) ghi: “金 色 頭 陀 論 劫 打 坐、達 磨 少 林 面 壁 九 年。 – Đầu đà Ca Diếp suốt đời tọa thiền, Thiếu Lâm Đạt Ma chín năm ngó vách”. ● 打 圓 毬. Còn gọi: Đả cầu tử. Cuộn bong bóng nước, sủi bọt nước. BNL q.1 ghi: 僧 問 趙 州。初 生 孩 子。還 具 六 識 也 無 州 云。急 水 上 打 毬 子 僧 復 問投 子。急 水 上 打 毬 子。意 旨 如 何 子 云。念 念 不停 流。 — Có vị tăng đến hỏi ngài Triệu Châu: Trẻ em mới sinh có đủ sáu thức chăng? Triệu Châu đáp: Trên dòng nước chảy xiết làm bọt bong bóng nước sủi tuôn. Sau vị tăng ấy đến hỏi ngài Đại Đồng Đầu Tử: Trên dòng nước chảy xiết làm bọt bóng bóng nước sủi tuôn, ý nghĩa thế nào? Sư đáp: Niệm niệm chẳng tạm dừng. ● 鐸 落 鑽. 1. Cái dùi lớn. Theo điển tích: Lúc vua Tần Thủy Hoàng xây cất cung A phòng (có thuyết nói xây dựng Vạn Lý Trường Thành) đã cho thợ làm cái dùi rất lớn để khoan vật. Về sau chiếc dùi này không dùng được nữa. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho kẻ vô dụng, cơ phong chậm lụt. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q. 12 (Đại 51, 291 trung) ghi: “有 僧 扣 門。師 云:阿 誰?僧 云:某甲。師 云:秦 時 鐸 落 鑽。 – Có vị tăng gõ cửa. Sư hỏi: Ai đó? Tăng đáp: Tôi đây. Sư bảo: Đồ chậm lụt!”. ● 2. Một loại dùi có cán xoay, dụ cho thiền ngữ cơ phong. Tiết Hà Sơn Thủ Tuần Thiền sư trong NĐHN q.19 ghi: “〖⿰車度〗 轢 鑽 住 山 斧、佛 祖 出 頭 未 輕 與。縱 使 醍 醐 滿 世 間、你 無 寶 器 如 何 取? – Cái dùi cơ phong, chiếc búa trụ sơn, Phật Tổ ra đời không dám xem thường. Giả sử đề hồ đầy thế gian, các ông không có đồ quý làm sao đựng?” ● 臺 南 開 元 寺. Chùa ở thành phố Đài Nam, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Nguyên là “Bắc Viên Biệt Quán” do Trịnh Kinh con của Trịnh Thành Công, xây cất để phụng dưỡng mẫu thân là Đổng Thị. Vào niên hiệu Vĩnh Lịch (1647-1661) đời Minh sáng lập. Niên hiệu Khang Hy thứ 28 (1689) xây cất lại thành chùa, khi ấy gọi là “Hải Hội Tự”. Vào niên hiệu Càn Long (1736-1795) trùng tu, mở rộng xây dựng, đổi tên chùa là “Lựu Hoàn Tự”,”Lựu Thiền Tự”, “Hải Tình Tự”, cuối cùng quyết định gọi là “Khai Nguyên Tự”. Trụ trì khai sơn là Pháp sư Chí Trung, đời sau các vị trụ trì càng nổi tiếng hơn như Thiền Sư Vinh Phương, Truyền Phương, Huyền Tinh. Hiện chùa có mở Viện Thiền học Khai Nguyên. ● 待. Đối đãi, đối nhau. Tiết “Nghệ Ngôn” trong NHQL q.29 ghi: “悟 之 一 字、待 迷 得 名。今 人 將 悟 字 都 錯 認 了、將 謂 有 道 理 可 知、則 知 道 理 者 是 謂 妄 識、所 知 道 理 是 謂 妄 境 矣、非 迷 而 何? – Một chữ ngộ là đối lại chữ mê mà có tên. Người thời nay đều lầm nhận chữ ngộ này, tưởng rằng có đạo lý khả tri mới gọi là ngộ. Không biết rằng đã có đạo lý khả tri thì cái biết đạo lý là vọng thức, đạo lý bị biết là vọng cảnh, không phải mê lầm là gì?” ● 待 悟 禪. Thiền đợi ngộ. Lời phê phán của tông Tào Động Nhật Bản đối với pháp môn tham thiền của tông Lâm Tế. Bởi tông Lâm Tế rất thạnh hành vào cuối đời Tống. Thiền pháp của họ lấy sự chứng đắc làm mục đích để tu, cũng tức là xem việc tọa thiền là phương pháp khai ngộ. Từ ngữ này hàm ý chê bai. Vĩnh Bình Quảng Lục q.8 ghi: “諸 宗 坐 禪 待 悟 爲 則。譬 如 者 船 筏 而 渡 大 海、將 謂 渡 海 而 可 拋 船 矣!吾 佛 祖 坐 禪 不 然、是 乃 佛 行 也。 – Các Tông phái tọa thiền lấy sự trông chờ chứng đắc làm quy tắc. Ví như nhờ thuyền bè để qua biển lớn, tưởng rằng qua biển rồi có thể vứt bỏ thuyền đi! Tọa tiền của Phật Tổ ta chẳng như thế mà nói toạ thiền ấy là làm Phật!”. ● 大. Quá, rất, thật. Phó từ biểu thị trình độ. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “頓 教 法 者 是 西 流、求 度 世 人 須 自 修。今 報 世 間 學 道 者、不 於 此 見 大 悠 悠。 – Pháp đốn giáo là từ ấn Độ mang đến, cứu độ người đời phải tự tu. Nay báo cho người học đạo ở thế gian rõ, đối với kiến giải này không được quá lơ mờ.” Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 大 不 識 好 惡。 – Ngươi thật không biết tốt xấu.” ● 大 安 (793-883). Thiền tăng đời Đường, họ Trần, hiệu Lại An, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Củng Huệ Tạng. Sư trụ Quy Sơn. Thụy hiệu “Viên Trí Đại Sư”. ● 大 安 居. Hoàn toàn yên lành, hoàn toàn nghỉ ngơi, cũng chính là tỉnh ngộ đến cùng. Tiết Cố Sơn An Vĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: 要 明 箇 事、須 是 具 擊 石 火、閃 電 光 底 手 段、方 能 嶮 峻 巖 頭 全 身 放 捨; 白 雲 深 處 得 大 安 居。 – Muốn sáng được việc của mình, cần phải có thủ đoạn nhanh chóng mới có thể phóng mình từ đỉnh núi cao ngất, đến chỗ mây trắng xa xôi, được hoàn toàn yên lành, hoàn toàn nghỉ ngơi. ● 大 安 樂. Hoàn toàn yên lành, vui sướng, là cảnh giới của người ngộ thiền. Tiết Giáo Trung Di Quang Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “慧 過 雲 門 庵、師 侍 行、一 日 問 曰:某 到 這 裡、不 能 得 徹、病 在 甚 處?慧 曰:汝 病 最 癖、世 醫 拱 手。何 也?別 人 死 了 活 不 得、汝 今 活 了 未 曾 死。要 到 大 安 樂 田 地、須 是 死 一 回 始 得。 – Huệ (chỉ Hòa Thượng Đại Huệ) dời qua am Vân Môn, sư đi theo hầu. Một hôm sư hỏi rằng: Con đến chỗ này chẳng thể thấu triệt được, bệnh ở chỗ nào? Huệ bảo: Ngươi mắc chứng ham mê vô cùng, thầy thuốc thế gian cũng chịu thua. Sao vậy? Vì người khác chết rồi, sống lại chẳng được; còn ngươi bây giờ sống mà chưa hề chết. Muốn đến cảnh giới hoàn toàn yên lành, vui sướng, cần phải chết một phen mới được.” ● 大 安 寺. 1. Chùa nằm trên đường Dự Chương Hầu, trong cửa Đức Thắng, thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Tăng nhân Tây Vực là ngài An Thế Cao sáng lập vào niên hiệu Kiến Ninh thứ 3 (170) đời Đông Hán. Khoảng niên hiệu Vũ Đức (618-626) đời Đường đổi tên là “Tuyên Minh Tự”, khoảng niên hiệu Đại Trung (847-860) đổi tên là “Phổ Tế Tự”. Thiền Sư nổi tiếng Hoàng Bá Hy Vận đến chùa này cử dương tông phong, xây cất Đại thiền uyển, học giả bốn phương tụ hội, Tướng quốc Bùi Hưu cũng thờ sư làm thầy. Đầu đời Minh gọi lại là “Đại An Tự”. Trong chùa có lư hương lớn bằng sắt do tín đồ đệ tử thời Tam Quốc quyên góp sắt đúc thành, cao 8 thước Tàu, trên có khắc bài minh. ● 2. Chùa thuộc nam bộ Thiên Sơn, cách thành phố Yên Sơn, tỉnh Liễu Ninh, Trung Quốc 20km về phía đông, là một trong năm đại thiền lâm ở Thiên Sơn. Chùa xây cất vào đời Minh, đến đời Thanh được tu bổ thêm. Hiện còn Thích Ca điện, Vi Đà điện. Trong điện treo một chiếc chuông sắt được đúc vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 9 (1530) đời Minh. Đỉnh núi phía bắc chùa có “Thạch động tàng vân” là một trong 16 cảnh đẹp ở Thiên Sơn. Thạch động dài hơn 20m, trong có đắp 18 tượng La hán, cho nên cũng gọi là “La Hán Động”. ● 大 音. Thiền tăng đời Minh, họ Diêu, tự Cửu Mặc, người xứ Trường Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Minh Tuyết ở Thiết Bích. ● 大 報 恩 寺 (29). Chùa ở làng Cổ Trường Can bên ngoài cửa Trung hoa, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Được xây cất vào niên hiệu Xích Ô (247) thời Đông Ngô Tam Quốc, gọi là “Kiến Sơ Tự” và xây tháp A Dục Vương. Nam Triều gọi là “Trường Can Tự”. Đời Đường gọi là “Phụng Tiên Tự”. Đời Tống gọi là “Thiên Hy Tự”, các bậc cao tăng Thiền Tông Khuông Dật, Huyền Tắc, Pháp An từng ở chùa này hoằng pháp. Đời nguyên gọi là “Từ Ân Tinh Trung Tự”. Đầu đời Minh bị lửa thiêu hủy. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 10 (1412) vua Minh Thành Tổ quyết định xây cất lại tự tháp tại nền cũ, lấy tên là “Đại Báo Ân Tự”. Công trình trải qua 19 năm, đến niên hiệu Tuyên Đức thứ 6 (1431) hoàn thành. Đại hùng bảo điện, Thiên vương điện đều dùng đá cẩm thạch xây nền, thợ khéo chạm khắc thành hoa văn. Đấu củng điện vũ đồ họa màu, mái tỏa góc vênh trông như chim sải cánh; ngoài ra còn có Phật điện, Quán Âm điện, Tổ sư đường, Pháp đường, Thiền đường. Vào khoảng niên hiệu Hàm Phong (1851-1861) chùa bị phá hủy bởi binh lửa. Hiện còn một dãy nhà điện vũ, một tấm bia Đại Báo Ân Tự. ● 大 寳 光 塔. Còn gọi: Bảo Hoa Ngọc Thạch Tháp. Nằm trong chùa Bảo Hoa sơn huyện Cán, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Theo “Cán Châu Phủ Chí”, tháp này được vua Đường Mục Tông xây cho Thiền Sư Đại Giác vào khoảng niên hiệu Trường Khánh (821-824) đời Đường. Đến đời Vũ Tông phá hủy. Niên hiệu Đại Trung thứ 7 (853) Vua ra lệnh xây lại. Tháp có 7 tầng cao hơn trượng, trong tháp có tượng Bồ Tát, đỉnh tháp dùng đá Đại Lý điêu khắc thành, trang nhã mỹ quan. Vào khoảng niên hiệu Nguyên Phong (1078-1085) đời Tống xây cất lại mới hoàn toàn. ● 大 眾. 1. Chỉ cho chúng tăng học Phật pháp trong tự viện. Lâm Tế Lục ghi: “大 眾 要 會 臨 濟 賓 主 句、問 取 堂 中 二 首 座。 – Sư nói: Đại chúng! Muốn biết câu chủ khách của Lâm Tế, hãy hỏi hai vị Thủ tọa trong Tăng đường.” ● 2. Đại sư. Đối với các vị Thượng tọa, Trưởng lão, thì tăng nhân nhỏ tuổi, hạ lạp thấp, đặc biệt gọi tôn trọng họ là đại chúng. Tiết Lặc Đàm Pháp Hội Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “法 會 禪 師、問 馬 祖:如 何 是 祖 師 西 來 意?祖 曰:低 聲!近 前 來、向 汝 道!師 便 近 前、祖 打 一 摑 曰:六 耳 不 同 謀、且 去。來 日 來。師 至 來 日、獨 入 法 堂 曰:請 和 尚 道。祖 曰:且 去!待 老 漢 上 堂 出 來 問、與 汝 證 明。 – Pháp Hội hỏi Mã Tổ: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Tổ quở: Nói khẽ chứ! Ngươi xích lại gần đây ta nói cho nghe. Sư liền bước tới gần, bị Mã Tổ vả vô miệng bảo: Nơi đông người không thể nói bàn gì được. Ngươi hãy tạm lui ra, ngày mai hãy đến. Đến ngày mai, sư một mình vào thưa: Xin Hòa Thượng chỉ dạy. Tổ nói: Ngươi hãy tạm lui ra, đợi khi lão tăng ta đây thượng đường có đông người hãy bước ra mà hỏi, chừng đó ta sẽ chứng minh cho. Sư bỗng tỉnh ngộ thưa: Tạ ơn đại sư đã chứng minh!” ● 大 證 (1297-1361). Thiền tăng đời Nguyên, họ Sử, tự Vô ấn, người xứ Bà Dương (nay là huyện Ba Dương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vân Ngoại Vân Tụ, tông Tào Động. Sư trụ chùa Nam Thiền ở Cù Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang), sau dời về chùa Quang Hiếu. Sư được Vua ban hiệu “Phật Nhật Viên Minh Huệ Biện Thiền Sư”. ● 大 故. Quả thật, chắc chắn là. Tiết Ngũ Tổ Pháp Diễn Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “師 遂 謁 浮 山 遠 禪 師、請 益 前 話。遠 云:我 有 箇 譬 喻、說 似 你。你 一 似 箇 三 家 村 裡 賣 柴 漢 子、把 箇 匾 擔 向 十 字 街 頭、立 地 問 人、中 書 堂 今 日 商 量 甚 麼 事?師 默 計 云:若 如 此 大 故 未 在。 – Sư liền tham yết Thiền Sư Pháp Diễn ở Phù Sơn, thỉnh ích công án đã tham từ trước. Viễn nói: Ta có một thí dụ nói cho ngươi nghe. Ngươi giống như gã nhà quê đi bán củi, mang tấm bảng đến ngã tư đường rồi hỏi mọi người: Hôm nay trong nhà quan Tể tướng (Trung thư) có bàn bạc việc gì? Sư lặng yên ngẫm nghĩ rồi thưa: Nếu như thế, quả thật là con chưa lãnh ngộ.” ● 大 機. Thiền nghĩa mầu nhiệm, vi tế, sâu kín, không để lại dấu vết. Tiết Hoài Hải trong CTTNL q.1 ghi: “馬 祖 出 八 十 四 人 善 知 識、幾 人 得 大 機、幾 人 得 大 用? – Mã Tổ sản xuất ra 84 vị Thiện tri thức. Có bao nhiêu người được đại cơ? Bao nhiêu người được đại dụng? ● 大 機 大 用. Thiền pháp vi diệu cực kỳ thực tiễn, vận dụng và trao nhận. Tiết Hoài Hải trong CTTNL q.1 ghi: “潙 山 問 仰 山:百 丈 再 參 馬 祖 竪 拂 因 緣、此 二 尊 宿 意 旨 如 何?仰 山 云:此 是 顯 大 機 大 用。 – Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: Bách Trượng tái tham Mã Tổ về nhân duyên giơ phất tử, ý chỉ của 2 vị tôn túc này ra sao? Ngưỡng Sơn nói: Đây là 2 ngài hiển đại cơ đại dụng”. Cũng trong tiết Hoài Hải trong CTTNL q.1: “今 日 因 和 尚 舉 得 見 馬 祖 大 機 大 用。 – Hôm nay nhờ Hoà thượng nêu ra con được thấy đại cơ đại dụng của Mã Tổ.” ● 大 用. Chỉ cho Thiền pháp thực tiễn, thiền pháp vận dụng, thiền pháp trao và nhận. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “人 天 普 會、佛 祖 透 關、發 大 機、顯 大 用。 – Khắp cả trời người hợp lại, lọt qua cửa ải thiền ngộ, phát đại cơ, hiển đại dụng.” Tiết Thủ Sơn Tỉnh Niệm Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “大 用 不 揚 眉、棒 下 須 見 血。 – Đại dụng không phải nhướng mày, gậy đánh cần phải thấy máu.” ● 大 用 堂 堂. Ý nói tính thực tiễn và trao nhận thiền pháp đâu đâu cũng thế cả, vôn công khai không giấu giếm. Tiết Văn Định Hồ An Quốc Cư sĩ trong NĐHN q.18 ghi: 手 握 乾 坤 殺 活 機 縱 橫 施 設 在 臨 時 滿 堂 兔 馬 非 龍 象 大 用 堂 堂 總 不 知 “Thủ ác càn khôn sát hoạt cơ Tung hoành thi thiết tại lâm thời Mãn đường thố mã phi long tượng Đại dụng đường đường tổng bất tri”. “Nắm chặt càn khôn tung bẫy rập Ra tay ngang dọc chỉ tuỳ thời Đầy nhà nào phải hàng long tượng Đại dụng đường đường trọn chẳng hay”. ● 大 用 現 前. Ý nói ngay bây giờ thực tiễn trao và nhận thiền pháp. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q15 ghi: “況 汝 等 各 各 當 人 有 一 段 事、大 用 現 前、更 不 煩 汝 一 毫 頭 氣 力、便 與 祖 佛 無 別。 – Này các ông, mỗi người có mỗi một việc là đại dụng hiện tiền mà không tốn một mảy khí lực, liền cùng Phật Tổ không khác”. ● 大 用 現 前 不 存 軌 則. Đại dụng hiện tiền, chẳng còn phép tắc. Trước mắt chính tự mỗi người phải thực tiễn vận dụng thiền pháp không bị lệ thuộc vào các phép tắc hạn định và ràng buộc, cũng chính là ý nghĩa vận dụng thiền pháp tự do tự tại. Bích Nham Lục q.1 ghi: “大 用 現 前 不 存 軌 則。有 時 將 一 莖 草 作 丈 六 金 身 用、有 時 將 丈 六 金 身 作 一 草 莖 用。 – Đại dụng hiện tiền, chẳng còn phép tắc, có khi đem một cọng cỏ làm thân vàng một trượng sáu, có khi đem thân vàng một trượng sáu làm thành một cọng cỏ.” ● 大 庾 嶺. Còn gọi: Dữu Lãnh, Lãnh Sơn, Mai Lãnh. Núi Đại Dữu. Vị trí ở phía nam huyện Đại Dữu tỉnh Giang Tây, phía bắc huyện Nam Hùng tỉnh Quảng Đông. Xưa gọi là Tái Thượng. Đời Đường Huyền Tông, sau khi ngài Huệ Năng được Ngũ Tổ mật truyền y bát để làm Tổ thứ 6, suốt đêm Lục Tổ mang y bát rong ruổi về Nam. Bạn đồng môn là Huệ Minh cùng 10 người khác đuổi theo Ngài để đoạt lại y bát. Khi đến Đại Dữu Lãnh, Huệ Năng để y bát trên tảng đá rồi ẩn mình trong đám cỏ rậm. Huệ Minh dở y bát lên chẳng nổi rồi xin Lục Tổ khai thị cho, cuối cùng được đại ngộ. Lục Tổ tiếp tục đi đến chùa Pháp Tính ở Quảng Châu. ● 大 庾 嶺 頭 提 不 起. ở núi Đại Dữu giở lên chẳng nổi. Câu truyện của Thiền Tông. X. Đại Dữu lãnh. Pháp Diễn Ngữ Lục, q.thượng ghi: “既 是 大 庾 嶺 頭 提 不 起、爲 什 麼 却 在 這 里? – Đã là ở núi Đại Dữu giở lên chẳng nổi, vì sao lại ở nơi đây?” ● 大 庾 嶺 頭 一 鋪 功 德. Núi Đại Dữu một tòa công đức, chỉ cho việc tham thiền ngộ pháp. Dùng điển cố tại núi Đại Dữu, Lục tổ Huệ Năng khải phát cho Huệ Minh được lãnh ngộ thiền pháp. Mật Am Ngữ Lục ghi: “石 頭 問 長 髭:什 麼 處 來?髭 云:嶺 南 來。石 頭 云:大 庾 嶺 頭 一 鋪 功 德 成 就 也 未? – Thạch Đầu hỏi Trường Thử: Từ đâu đến đây? Thử đáp: Từ Lãnh Nam đến. Thạch Đầu hỏi: Núi Đại Dữu một tòa công đức đã thành tựu hay chưa?”. ● 大 地 沒 人 縫. Khắp nơi trên trái đất không tìm thấy một người để vá may lại. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho cảnh giới bất khả đắc, không, siêu việt mọi thấy biết phân biệt. Nếu dùng trí thông minh thì không thể nào đạt đến cảnh giới này. Đổng Thượng Cổ Triệt, q. thượng (Vạn Tục 125, 358 thượng) ghi: 石 人 衫 子 破、大 地 沒 人 縫 “Thạch nhân sam tử phá, Đại địa một nhân phùng”. “Người đá mặc áo rách, Khắp nơi không người vá”. ● 大 顛 (732-824). Thiền tăng đời Đường, họ Trần, pháp hiệu Bảo Thông, tự hiệu Đại Điên Hòa Thượng, người xứ Dĩnh Châu (nay thuộc huyện Hứa Xương, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên. Tác phẩm: Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Thích Nghĩa, Kim Cang Kinh Thích Nghĩa. ● 大 顛 禪 師 塔. Còn gọi: Thiệt Cảnh Tháp. Nằm ở phía sau chùa Linh Sơn, làng Đồng Vu, huyện Triều Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Là mộ tháp của Thiền Sư Đại Điên, một cao tăng đời Đường. Mộ tháp xây bằng đá hình chuông cao 2,8 mét, thân tháp thẳng đứng cao ngoài 1,8m. Trong khám thờ chính diện khắc năm chữ “Đại Điên Thiền Sư Tháp”. Dưới khám thờ là hình hoa sen nở bằng đá, dưới hoa sen nở là bệ tháp. Chung quanh bệ tháp chạm trỗ đồ án hoa văn theo phong cách thuần phác cổ xưa trang nhã. Trước tháp có lư hương, bó đuốc bằng đá được điêu khắc giản dị trong sáng mang đậm màu sắc hương vị cổ xưa. ● 大 定 (1824-1906). Thiền tăng cận đại, họ Đặng, tên Đại Đảnh, tự Mật Nguyên, người xứ Hoàng Pha, Hồ Bắc, Trung Quốc, nối pháp Hòa Thượng Quán Tâm ở chùa Kim Sơn, Trấn Giang. Sư trụ trì chùa Kim Sơn. ● 大 段. 1. Hết sức, quả là, rất. Phó từ. Tông Môn Võ Khố ghi: “他 大 段 會 説、我 輩 説 時 費 多 少 工 夫、他 只 一 兩 句、便 了 分 明。 – Ông ấy quả là lãnh hội được ngay lời nói, còn lúc nói với bọn tôi thì tốn biết bao là công sức. Ông ấy chỉ nghe một hai câu liền hiểu rõ ràng.” ● 2. Nói chung, đại khái. Thư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q, 2 ghi: “大 段 聖 凡 二 途、只 是 惟 自 心 中 迷 悟 兩 路。一 切 善 惡 因 果、除 此 心 外、無 片 事 可 得。 – Nói chung hai nẻo Thánh phàm chỉ là hai đường mê ngộ trong tự tâm. Tất cả thiện ác nhân quả nếu ngoài tâm này thì không thể lập. Tấu đối cơ duyên ghi: “中 庸 説 心 性、而 歸 之 天 命。與 老 莊 所 見 大 段 皆 同。 Sách “Trung Dung” nói tâm tính rồi quy về thiên mệnh cùng với kiến giải của Lão, Trang đại khái đều giống nhau.” ● 大 都. 1. Quả thật là. Tiết Thắng Nhân Hàm Tĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “釋 迦 老 子 初 成 佛 道 之 時、大 都 事 不 獲 已、纔 方 成 箇 保 社、便 生 退 倦 之 心。 – Ông già Thích Ca lúc mới thành Phật đạo, quả thật là việc bất đắc dĩ. Vừa mới thành xong cái Bảo xã liền sinh tâm rút lui.” ● 2. Đại khái, nói chung. Tiết Ô Cự Đạo Hành Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “黃 梅 雨、麥 秋 寒。恁 麼 會、太 無 端。時 節 因 緣 佛 性 義、大 都 須 是 髑 髏 乾。 – Mưa ở Hoàng Mai khiến mùa gặt lúa mì lạnh lẽo. Làm sao hội được lời nói ấy, thật là kỳ cục. Muốn biết nghĩa Phật tính, thời tiết nhân duyên, đại khái phải là cái đầu lâu rỗng.” ● 大 同. 1. Thiền tăng đời Đường (819-914), họ Lưu, người xứ Hoài Ninh, Thư Châu (nay thuộc huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thúy Nham Vô Học. Sư trụ núi Đầu Tử. Thụy hiệu “Từ Tế Đại Sư”. ● 2. Thiền tăng đời Nguyên (1289-1370), họ Vương, tự Nhất Vân, hiệu Biệt Phong, người xứ Thượng Ngu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư tham học với 2 vị: Hối Cơ Hy Công và Trung Phong Minh Bản. Tác phẩm: Bảo Lâm Tạp Biên, Thiên Trụ Thi Cảo. ● 大 覺. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, tông Lâm Tế. Sư trụ Ngụy Phủ (nay là huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. ● 大 覺 金 仙. Chỉ cho Đức Phật. Nguyên do là vua Tống Huy Tông hạ chiếu bắt buộc phải đổi tên gọi Phật. Theo Huy Tông Kỷ trong Tống Sử: Ngày ất mão, tháng giêng năm 1119, Vua hạ chiếu đổi hiệu Phật thành Đại Giác Kim Tiên, các vị Bồ Tát là Tiên nhân Đại sĩ, Tăng là Đức sĩ, ni là Nữ đức, Nữ quan (Nữ đạo sĩ) là Nữ đạo. ● 大 覺 禪 師 語 錄. Còn gọi: Lan Khê Hòa Thượng Ngữ Lục, Kiến Trường khai sơn Đại Giác Thiền Sư Ngữ Lục, Đại Giác Lục. Ngữ Lục 3 quyển, do Lan Khê Đạo Long soạn vào đời Tống, các vị: Trí Giác, Viên Hiển biên, được xếp vào Đại Chính Tạng. Vào niên hiệu Thuần Hựu thứ 6 (1246) đời Tống, Đạo Long đi sang Nhật Bản hoằng pháp, nên Ngữ Lục này được biên soạn bởi các vị đệ tử nối pháp của ngài Đại Giác ở hai nước Trung Hoa và Nhật Bản. Nội dung bao gồm Ngữ Lục (tiểu tham) ở các chùa tại Nhật Bản như: Thường lạc, Kiến Thường, Kiến Ninh. Riêng có các phần: Phổ thuyết, Pháp ngữ, Tụng cổ, Kệ tụng, Phật Tổ tán, Tiểu Phật sự. Quyển cuối phụ lục 1 thiên “ Phổ thuyết bổ di”. ● 大 覺 寺. 1. Chùa trên ngọn Liên Hoa, núi Thiên Mục, phía tây tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Gọi đủ là “Đại Giác Chính Đẳng Thiền Tự”. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 29 (1292) đời Nguyên, tăng nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế là Cao Phong Nguyên Diệu sáng lập. Sau khi Nguyên Diệu tịch thì Đại Giác Tổ Ung quyền nhiếp việc chùa, sau đó Vĩnh Thái trụ trì chùa này. Trong chùa có Ngũ phụng lâu, Chư thiên các, Tàng kinh khả quan lâu. Cuối đời Nguyên gặp binh lửa. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 10 (1377) đời Minh, Long Tiềm xây cất lại. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 1 (1403) bị hồng thủy hủy hoại. Năm thứ 12 (1414) Tông Cố di dời nền chùa đến chỗ hiện nay. Niên hiệu Hoằng Trị thứ 7 (1494) Tri phủ Lương Vạn Chung khôi phục lại nền cũ, xây cất lại Đại điện và Thiền đường. Cuối đời Minh lại bị phá hủy. ● 2. Xem “Vân Môn Tự”. ● 大 鑑 禪 師 小 清 規. Còn gọi: Đại Giám Tiểu Thanh Quy. Sách, 1 quyển, do Chính Trừng soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 81, trang 619. Sau khi đi Nhật Bản về, Chính Trừng dùng “Bách Trượng Thanh Quy” làm lam bản để soạn sách này, cốt thích ứng với các chùa chiền Nhật Bản. Nội dung gồm có hơn 10 điều: Cách niêm hương lưỡng ban, xuất ban, Cách trải tọa cụ lễ bái, Phép tắc Duy Na cần biết, Văn chú nguyện khi dùng cháo mỗi ngày, Thí thực, Chúng tăng trong tăng đường cần biết, Bảng nơi liêu thị giả, Thưa hỏi xin ở trọ, Tuần đường lễ bái trong 4 mùa, Nghi thức dâng trà nơi tăng đường trong 4 mùa, Bảng nơi liêu Tạng chủ, Cách thăng tòa thuyết pháp, Khuyên tinh tấn. ● 大 教. Chỉ Phật giáo, thiền giáo. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q.7 ghi: “我 將 謂 汝 他 時 後 日 向 孤 峰 頂 上 盤 結 草 菴、播 揚 大大 教、猶 作 這 箇 説 話。 – Ta tưởng đâu mai kia mốt nọ ngươi lên đỉnh núi vắng kết am cỏ ở, xiển dương thiền giáo, dè đâu còn nói lời này!” ● 大 壑 (1576-1627). Thiền tăng đời Minh, họ Tiết, tự Huyền Tân, Nguyên Tân, người xứ Tiền Đường (nay thuộc Hàng Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ, trụ chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu. Tác phẩm: Tịnh Từ Tự Chí 10 quyển, Vĩnh Minh Đạo Tích. ● 大 涵 (1736-1820). Thiền tăng đời Thanh, họ Phan, tự Nhạn Hoàng, hiệu Nghiết Tuyết Tử, người xứ Ngô Giang, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Lĩnh Vân Triện Ngọc, đời thứ 38 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa An Quốc ở Ninh Hải. Tác phẩm: Nam Tham Tập, Trang Du Thảo, Đàn Chỉ Tập. ● 大 限. Ngày tận số. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.6 ghi: “鹽 官 法 會 有 一 僧 知 有 佛 法、身 爲 主 爲、未 得 修 行。大 限 將 至、鬼 便 來 取 僧。 – Trong pháp hội Diêm Quan có một vị tăng biết Phật pháp, thân mắc bận làm chủ sự chưa rảnh để tu hành. Ngày tận số sắp đến, quỷ liền đến bắt ông ta.” ● 大 好. Hay lắm! Khi lặp lại lời nói của đối phương có tính châm biếm, phía trước thêm vào từ “Hảo nhất cá”. Tiết Ôn Châu Tịnh Cư Ni Huyền Cơ trong NĐHN q.2 ghi: Phong (chỉ Thiền Sư Tuyết Phong) hỏi: “峰(即 雪 峰 和 尚)曰:汝 名 甚 麼?師 曰:玄 機。峰 曰:日 織 多 少?師 曰:寸 絲 不 掛。遂 禮 拜 退、纔 行 三 五 步、峰 召 曰:袈 裟 角 拖 地 也。師 回 首。峰 曰:大 好 寸 絲 不 掛。 – Nhà ngươi tên gì? Ni sư đáp: Huyền Cơ. Phong hỏi: Mỗi ngày dệt được bao nhiêu? Ni sư thưa: Tấc tơ chẳng mang. Nói xong, Huyền Cơ lễ bái rồi lui. Vừa đi chừng năm, ba bước, Phong gọi lại, bảo: Chéo áo ca sa quét đất. Ni sư xoay đầu lại nhìn. Phong bảo: Hay lắm! Tấc tơ chẳng mang!” ● 大 訢 (1284-1344). Thiền tăng đời Nguyên, họ Trần, tự Tiếu ẩn, người xứ Nam Xương (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Bách Trượng Hối Cơ. Sư trụ chùa Báo Quốc. Tác phẩm: Tứ Hội Ngữ Lục, Bồ Thất Tập. ● 大 會 拈 華. Chỉ câu truyện Phật Thích Ca Mâu Ni ở pháp hội Linh Sơn giơ cành hoa để khai thị môn đồ. Tiết Ô Cự Hành Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “會 即 便 會、玉 本 無 瑕。若 言 不 會、碓 觜 生 花。試 問 九 年 面 壁、何 如 大 會 拈 華? – Lãnh hội thì liền lãnh hội, ngọc vốn không có tì vết. Nếu nói rằng chẳng lãnh hội thì miệng cối giã gạo trổ hoa. Hỏi thử chín năm ngó vách, sao bằng đại hội niêm hoa?” ● 大 慧 普 覺 禪 師 語 錄. Gọi tắt: Đại Huệ Lục. Ngữ Lục, 30 quyển, do Đại Huệ Tông Cảo soạn vào đời Tống, Tuyết Phong Uẩn Văn biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 47. Quyển l-9: Ngữ Lục (theo thứ tự là Ngữ Lục ở Thiền viện Năng Nhân, Kính Sơn; Ngữ Lục ở Dục Vương Quảng Lợi Thiền Tự; Ngữ Lục ở Thiền Viện Năng Nhân, Kính Sơn lần 2; Ngữ Lục ở am Vân Môn, Giang Tây; Ngữ Lục ở am Dương Dư, Phúc Châu; Bỉnh phất Ngữ Lục ở liêu Thủ tọa, Vân Cư. Quyển 10 : Tụng cổ. Quyển 11: Kệ tụng. Quyển 12: Tán Phật Tổ. Quyển 13-18: Phổ thuyết. Quyển 19-24: Pháp ngữ Quyển 25- 30: Thư từ. Trong một lần xuất bản, Quảng Văn Xương biên tập lại phần Thư từ, gọi tắt là “Đại Huệ Thư” gồm 53 bức thư. Nội dung là lời hỏi đáp giữa sư và hạng đệ tử quan lại, cư sĩ theo hình thức thư từ để thuyết minh yếu chỉ Thiền Tông. ● 大 慧 普 覺 禪 師 普 說. Gọi tắt: Đại Huệ Phổ Thuyết. Ngữ Lục, 5 quyển, do Đại Huệ Tông Cảo soạn vào đời Tống, các vị Huệ Nhiên, Uẩn Văn, Đạo Tiên biên tập vào đời Tống. Nội dung biên chép lời giảng của Thiền Sư Đại Huệ Phổ Giác về tông chỉ của các bậc Thiền Sư đời Tống. Quyển đầu: Câu hỏi của các vị. Quyển 2-4: Ghi chép tỉ mỉ về Thiền phong Lâm Tế, cuối quyển phụ phần Thang Thừa tướng thỉnh Thiền Sư Đại Huệ thăng tòa, sớ ngữ và phần pháp ngữ của ngài Đại Huệ. Quyển 5: Phần trùng biên của cư sĩ Tịnh Trí Hoàng Văn Xương. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Thiệu Hy thứ 1 (1190), tức là sau khi ngài Đại Huệ thị tịch 27 năm. Đây là một tư liệu rất quý để nghiên cứu về thiền cơ tông Lâm Tế. ● 大 休. Hiệu của Thiền tăng Chính Niệm đời Nguyên. X. Chính Niệm. ● 大 休 大 歇. Ý chỉ trừ sạch vọng niệm vọng thức, triệt để lãnh hội thiền pháp, chấm dứt sinh tử. Khai thị thiền nhân Lâm trong Mật Am Ngữ Lục ghi: “正 好 入 大 爐 糒 中。煉 直 教 聖 凡 情 量。徹 底 淨 盡。透 得 金 剛 圈。吞 得 栗 棘 蓬。逗 到 大 休 大 歇 之 場。身 心 若 枯 木 寒 陸。大 棒 打 不 回 頭。千 人 萬 人。羅 籠 不 住。 – Đúng lúc vào trong lò rèn lớn để rèn luyện, bất cứ tình phàm lượng thánh đều quét sạch tới tận cùng. Muốn thấu suốt được công án ngữ cú của cổ nhân, tiêu dung hết những chấp trước mê lầm, đạt đến chỗ trừ sạch vọng niệm vọng thức, triệt để lãnh hội thiền pháp thì thân tâm phải như cây khô tro lạnh, dù cho đánh thật đau cũng chẳng xoay đầu, dù cho ngàn muôn người khống chế cũng chẳng nổi.” ● 大 休 歇 底. Còn gọi: Đại Hưu Đại Yết Chi Địa. Trạng thái của tâm khi quét sạch mọi suy nghĩ phân biệt, thoát khỏi mê vọng, trụ ở cảnh giới đại an lạc. Tu Tâm Quyết (Đại 48, 1007 hạ) ghi: “若 不 以 般 若 中 功 著 力、焉 能 對 治 無 明、得 到 大 休 大 歇 之 地? – Nếu chẳng dùng Bát Nhã để thực hiện công phu thì đâu thể đối trị vô minh, đạt đến chỗ sạch hết mọi suy nghĩ phân biệt, thoát khỏi mê vọng, trụ ở cảnh giới đại an lạc?”. ● 大 器. Người có nhiều tài năng hay gánh vác được việc lớn. Nguyên Hiền Quảng Lục q.30 có ghi: “昔 大 覺 璉 動 靜 尊 嚴、圓 通 訥 一 見 直 以 大 器 期 之。 – Thuở xưa ngài Đại Giác Liễn có cử chỉ tôn nghiêm trong lúc động cũng như lúc tĩnh, nên Thiền Sư Viên Thông Nột thoạt thấy liền đem lòng kỳ vọng Ngài sẽ là bậc tài năng hay gánh vác được việc lớn”. ● 大 輕 安. Hoàn toàn nhẹ nhõm an vui, là cảnh giới của người ngộ thiền. Thư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q.1 ghi: “ – Chỉ cần trực tâm chính niệm, đứng thẳng người hướng về phía trước, ắt sẽ sừng sững rực rỡ, chẳng bị các thứ vọng tưởng này quấy rầy như chim ưng thoát khỏi bàn tay của thợ săn. Trong một ngày đêm ở tất cả cảnh duyên tự nhiên không vướng mắc, tự nhiên được hoàn toàn nhẹ nhõm an vui, được tự do tùy ý, thông suốt, hoạt bát thanh thản.” ● 大 經. Kinh điển chính của Phật giáo. Truyện Đàm Thôi trong TCTT q. 8 ghi: “神 器 夙 昭曆清 風 漸 扇、遂 勉 節 出 塵、棲 心 物 表、金 經 祕 藏、一 目 萬 言、不 逾 歲 叙、而 大 經 淹 通。 – Sư tinh thần dồi dào, sáng suốt vốn sẵn, dần dần có nhân duyên gặp được Phật pháp liền cố gắng trong sự việc xuất trần, gởi tâm ngoài sự vật. Đối với kinh Phật quý giá, mỗi ngày sư đọc đến muôn lời, mặc dù còn ít tuổi song với những kinh điển chính của Phật giáo sư đều thông hiểu sâu xa.” ● 大 期. Hạn chết. Phần “Di giới” trong Vân Môn Quảng Lục q.hạ ghi: “或 能 遵 行 吾 誡。則 可 使 佛 法 流 通 天 神 攝 衛。不 負 四 恩 有 益 於 世。或 違 此 者。非 吾 眷 屬。勉 旃 勉 旃。大 期 將 迫。臨 行 略 示 遺 誡。努 力 努 力。好 住。 – Nếu hay tuân hành lời ta răn dạy thì có thể khiến cho Phật pháp được truyền bá, thiên thần bảo vệ, chẳng phụ bốn ân, hữu ích cho đời. Nếu như làm trái lời này thì chẳng phải quyến thuộc của ta. Cố gắng! Cố gắng! Hạn chết gần kề, Ta sắp ra đi nói vắn tắt vài lời để lại. Nỗ lực! Nỗ lực! Hãy ở lại!” ● 大 朗. Thiền tăng Huệ Lãng đời Đường, được người đời gọi là “Đại Lãng”. X. Huệ Lãng. ● 大 老. Từ xưng hô đối với Thiền Sư tuổi cao, có đức độ được mọi người kính trọng và nổi tiếng. Tông Môn Võ khố ghi: “自 慶 藏 主 者、獨 人、叢 林 知 名、遍 參 眞 如、晦 堂、普 覺 諸 大 老。遊 廬 阜、入 都 城、見 法 雲 圓 通 禪 師。 – Tạng chủ Tự Khánh là người xứ Thục, nổi tiếng khắp tùng lâm, tham vấn các bậc đại lão như: Chơn Như, Hối Đường, Phổ Giác. Sư đi đến Lô Phụ, vào kinh đô, gặp Thiền Sư Viên Thông chùa Pháp Vân.” ● 大 理. Chỉ cho thiền lý, thiền pháp. Tiết Tông Giáo đáp hưởng, Tịnh Độ phẩm đệ nhị trong Nguyên Hiền Quảng Lục q.2 ghi: “果 發 明 大 理、不 妨 念 佛、世 緣 尚 不 礙 道、況 念 佛 乎?濁 界 尚 不 礙 生、況 樂 邦 乎? – Nếu phát minh thiền pháp thì chẳng ngại niệm Phật. Chuyện thế gian còn chẳng ngại nói, huống là niệm Phật? Cõi trược còn chẳng ngại sinh vào, huống là vãng sinh về cõi Cực Lạc?” ● 大 梅 山. Núi thuộc tỉnh Chiết Giang Trung Quốc, nằm cách huyện Ngân 40km về hướng đông nam. Vì trên núi có nhiều cây mai, nên gọi là Đại Mai. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 12 (796) đời Đường, Thiền Sư Pháp Thường từ trên núi Thiên Thai đến đây ở ẩn, người đời sau gọi sư là “Đại Mai Pháp Thường”. Đời Nguyên có thiền tăng Văn Thuật đến trụ trì chùa Hộ Thánh ở núi nầy, sửa đổi các việc suy đồi, chấn chỉnh lại thanh quy. ● 大 滿 禪 師 石 塔. Tháp nằm trên ngọn Bạch Liên dãy Đông Sơn, cách thành phố huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, về phía đông 12km. Tháp xây theo kiểu Lạt Ma, cao 5 mét, thân tháp rêu xanh phủ kín mang một dáng dấp riêng biệt. Tương truyền tháp này là mộ tháp mai táng hài cốt của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Ngọn Bạch Liên đứng sừng sững một mình, trên đỉnh có ao Bạch Liên, tương truyền là nơi trồng hoa sen trắng của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. ● 大 南 禪 苑 傳 燈 集 錄. Đăng Lục, do Hòa Thượng Phúc Điền (Việt Nam) thực hiện bằng cách tập đại thành 3 tác phẩm: Thiền Uyển Tập Anh, Tam Tổ Thực Lục, Kế Đăng Lục và một số tài liệu khác mà HT Phúc Điền “Ngoại khoa Tạp Lục”. Sách được ấn hành vào năm 1859. Đây là tư liệu qúy giá mở ra cho chúng ta thấy chặng đường lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam trong cộng đồng văn hóa dân tộc. ● 大 年 三 十 日 臨 行 之 隮. Ra đi vào ngày 30 cuối năm, chỉ cho lúc sắp chết. Thư đáp Bốc Viễn Thuộc trong MANL ghi: “到 大 年 三 十 日 臨 行 之 際 得 力。不 被 生 死 兩 字 攪 吵。須 是 自 家 回 光 返 照。向 己 躬 腳 跟 下。時 時 推 勘。看 是 什 麼。 – Nếu muốn ngộ được việc trước khi cha mẹ chưa sinh ra ta và muốn đắc lực lúc sắp chết chẳng bị hai chữ sinh tử quấy nhiễu thì mỗi người cần phải hồi quang phản chiếu, nhằm nơi gót chân của mình luôn luôn xem xét, khán coi nó là cái gì?”. ● 大 愚 禪 師 塔. Tháp nằm trên sườn núi phía đông chùa Khai Hóa, đông bắc thành phố huyện Cao Bình, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Được xây vào niên hiệu Đồng Quang thứ 3 (925) đời Hậu Đường. Một tầng, hình vuông, xây bằng đá xanh. Tầng dưới nền tháp là bệ đá chồng khít, tầng trên là tòa sen. Mặt nam thân tháp là một cửa vuông, hai bên cửa điêu khắc Kim Cang Lực sĩ, hai góc trên cửa chạm trổ phi thiên, kỹ nhạc; hình tượng rất sinh động. Đỉnh tháp hình nhọn tứ giác. Đây là tháp tứ giác một tầng có hoa rừng lá chuối, không có ngọc báu, sát can; có một phong cách riêng biệt. ● 代 語. Có 2 nghĩa: 1. Thiền Sư hỏi rồi bảo chúng hạ ngữ, chúng chẳng khế ngộ, Thiền Sư thay chúng mà hạ ngữ. ● 2. Cử một cổ tắc mà cổ nhân không có ngữ, ta bèn thay cổ nhân mà hạ ngữ. ● 大 宜. Đại tiện (đi ỉa). Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q.4 ghi: “問:學 人 有 疑 時 如 何?師 曰:大 宜 小 宜?曰:大 疑。師 曰:大 宜 東 北 角、小 宜 僧 堂 後。 – Hỏi: Khi người học có nghi phải làm sao? Sư đáp: Đại nghi hay tiểu nghi? (Đi ỉa hay đi đái) Đáp: Đại nghi. Sư bảo: Đi ỉa thì ra mé đông bắc, đi đái thì ra sau tăng đường.” Trong thí dụ trên đây, Thiền Sư dùng từ (nghi: chỉ việc tiểu, đại tiện) đồng âm với từ (nghi: chỉ cho nghi tình).” ● 大 義 (746-818). Thiền tăng đời Đường, họ Từ, người xứ Cù Châu, Thuận Giang (nay là huyện Giang Sơn, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ núi Nga Hồ. Thụy hiệu “Huệ Giác Đại Sư”. ● 大 人. 1. Từ xưng hô đối với bậc bề trên, bậc thầy. Chương Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q.14 ghi: “有 西 川 黃 三 郎、教 兩 箇 兒 子、投 馬 祖 出 家。有 一 年、却 歸 屋 裏、大 人 纔 見 兩 僧、生 佛 一 般 禮 云:古 人 道:生 我 者 父 母、成 我 者 明 友。是 儞 兩 箇 僧、便 是 某 甲 明 友、成 持 老 人。曰:大 人 雖 則 年 老、若 有 此 心、有 什 麼 難? – Có Hoàng Tam Lang ở Tây Xuyên dạy hai đứa bé trai theo Mã Tổ xuất gia. Được một năm, hai chú về thăm nhà. Đại nhân vừa thấy hai vị tăng, xem như Phật sống, nói rằng: Người xưa nói: Sinh ta ra là cha mẹ, làm thành ta là bạn bè. Hai vị tăng này chính là bạn bè của ta, giúp đỡ người già. Một trong hai ông tăng nói: Đại nhân dù đã già, nếu có tâm này thì có gì khó?” ● 2. Từ xưng hô đối với người phi phàm, người căn khí thượng đẳng. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “獨 瞎 頂 門 眼、大 人 且 大 見。掀 翻 瓮 里 天、大 智 具 大 機。 – Nhắm con mắt duy nhất trên trán (con mắt trí huệ), người căn khí thượng đẳng có tầm nhìn rộng rãi. Mở nắp ra thì thấy trời trong hủ, bậc đại trí thì có đại cơ. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q.3 ghi: “此 蓋 是 普 賢、文 殊 大 人 之 境 界、非 諸 凡 小 而 能 信 受。 Đây có lẽ là cảnh giới của bậc phi phàm như Phổ Hiền, Văn Thù. Chẳng phải hạng phàm phu, tiểu thừa mà tin nhận nổi.” ● 大 璞 不 耀. Ngọc còn ở trong đá chưa thể phát ánh sáng, tỉ dụ cho người có tài năng lớn mà chưa phát lộ ra ngoài. Truyện Thần Hội trong TCTT q.9 ghi: “會 至 性 懸 解、明 智 內 發、大 璞 不 耀、時 未 知 之。 – Thần Hội thấu rõ bản tính, trí sáng bên trong đã có giống như viên ngọc còn ở trong đá chưa thể phát ánh sáng, nên người đương thời chưa biết được sư”. ● 大 梵 寺. Chùa thuộc huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Vào đời Đường tăng nhân Tông Dương sáng lập, ban đầu gọi là “Khai Nguyên Tự”, sau đổi tên là “Đại Phạm Tự”. Thứ sử Vi Cừ từng thỉnh Lục Tổ Huệ Năng tuyên giảng pháp Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật nơi đây, truyền Vô tướng giới (Bút lục lần thuyết pháp này hình thành quyển Đàn Kinh nổi tiếng). ● 大 法. Chỉ Phật pháp, thiền pháp. Tiết Khai thị Duy Na Như trong DTNL q.3 ghi: “總 而 言 之、只 是 見 地 未 徹、劄 腳 未 穩、道 念 輕 微 故 爾。道 念 者 何?了 生 死、明 大 法 之 念 也。 – Nói tóm lại, chỉ vì kiến địa chưa thấu suốt, việc của mình chưa ổn nên xem nhẹ đạo niệm vậy. Đạo niệm là gì? Là niệm liễu thoát sinh tử, tỏ ngộ thiền pháp đó.” ● 大 法 眼. Huyền chỉ Thiền Tông giáo ngoại biệt truyền tức chính pháp nhãn tạng. Tiết Huệ Khả Thiền Sư trong TĐT q.2 ghi: “如 來 以 大 法 眼 付 囑 迦 葉、如 是 展 轉 乃 至 於 我 – Như Lai đem huyền chỉ Thiền Tông trao cho Ca Diếp, lần lượt truyền trao như thế cho đến tay ta.” ● 大 法 眼 藏. Chỉ huyền chỉ Thiền Tông giáo ngoại biệt truyền. Chương Tổ thứ 9, Phục Đà Mật Đa trong CĐTĐL q.1 ghi: “如 來 大 法 眼 藏 今 付 於 汝、汝 護 念 之。 – Huyền chỉ Thiền Tông của Như Lai giao lại cho ngươi, ngươi phải khéo giữ gìn.” ● 大 峰 (1039-1125). Thiền tăng đời Tống, tên Linh Ngạc, tự là Thông Tẩu, người xứ Vĩnh Gia (Ôn Châu Chiết Giang) Trung Quốc. Xuất thân tiến sĩ, sư bỏ quan để xuất gia. Sư đến Trấn Giang, Giang Tô thờ Thiền Sư Hoài Hiền ở chùa Kim Sơn làm thầy và đắc pháp. Sư từ Mân (Phúc Kiến) đến Hồ Dương, ở bên cạnh Linh Tuyền Cổ Tự cất nhà sơ sài để ở. Trước tiên là chuyên tâm tĩnh tu, sau đó sư thấy sự qua lại của dân hai bên bờ sông quá bất tiện nên sư quyên tiền và động viên dân chúng xây bắc cầu. Niên hiệu Tuyên Hòa thứ 2 (1120), sư bắt đầu chủ trì việc xây dựng cầu đường. Nhờ có kiến thức chuyên môn nên cuối cùng hoàn thành. Cây cầu này dài 30 trượng (90m) rộng 9 thước (2,7m), có tên là “Hồ Dương Hòa Bình”. Hai bên đầu cầu đều có bia đá lớn trên khắc chữ “Hòa Bình Lý” và “Hòa Bình Kiều” do chính tay Văn Thiên Tường cuối đời Tống viết. Ngoài việc làm cầu ra, sư còn giỏi trị bệnh cho người. Nếu kể về thiền tăng có tài giám sát việc xây dựng cầu đường và giỏi trị bệnh thì như đếm trên đầu ngón tay. Đại Phong là một vị tăng có tinh thần khoa học. Theo phả hệ sư là Tổ: Thiền Tông đời thứ 19, Nam Tông đời thứ 14, hệ Nam Nhạc đời thứ 13, tông Lâm Tế đời thứ 9. ● 大 方. 1. Đất đai, thế giới. Tiết Ngọc Tuyền Tông Liễn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “橫 身 宇 宙、獨 步 大 方。 – Một mình bước đi trong thế giới, dang thân nơi vũ trụ”. ● 2. Đường cái. Tiết Tiến Phúc Đạo Anh Thiền Sư trong TĐT q.18 ghi: “不 居 正 位、豈 落 邪 途。不 蹈 大 方、那 趨 小 徑? – Chẳng ở chính vị, há rơi vào nẻo tà? Chẳng đi trên đường cái, đâu thể rảo bước trên lối nhỏ?” ● 大 方 家. Bậc tu hành cao thủ. Tiết Hiền Công Đại Hòa Thượng hành nghiệp khúc ký trong NHQL q. 3 ghi: 大 方 家 之 手 段、遇 物 一 刀 兩 斷 趙 州 救 得 此 猫、未 免 熱 瞞 一 上 “Đại phương gia chi thủ đoạn Ngộ vật nhất đao lưỡng đoạn Triệu Châu cứu đắc thử miêu Vị miễn nhiệt man nhất thượng”. “Thủ đoạn của bậc (tu hành) cao thủ Gặp việc giải quyết dứt khoát Triệu Châu cứu được con mèo Chưa khỏi một phen dối gạt”. ● 大 觀 (1201-1268). Thiền tăng đời Tống, họ Lục, hiệu Vật Sơ, người xứ Ngân Huyện (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Bắc Giản Cư Giản, tông Lâm Tế. Sư trụ Quảng Lợi Thiền Tự ở núi A Dục Vương. Tác phẩm: Vật Sơ Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển, Vật Sơ Thặng Ngữ 25 quyển. ● 大 光 明 藏. Gọi đủ: Truyền Đăng Đại Quang Minh Tạng. Đăng Lục 3 quyển, do ngài Bảo Đàm biên tập vào đời Tống. Từ trong bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ngài sao lục các phần cơ duyên ngộ pháp của chư Tổ được truyền thừa và thêm lời bình, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 137, trang 769. Nội dung bao gồm 7 vị Phật, 28 vị Tổ ấn Độ, các vị Tổ Trung Quốc, các đại sư Đạo Nhất, Hoàng Bá và các vị nối pháp, tính chung được 190 vị. Sách được xuất bản vào niên hiệu Hàm Thuần thứ 1 (1265) đời Tống. Các quyển chú thích sách này gồm có: Đại Quang Minh Tạng Sự Uyển, 1 quyển, do ngài Đạo Luân soạn; Đại Quang Minh Tạng Miệt Mông, 3 quyển, do ngài Thử Sơn Huyền Uyên soạn. ● 大 殺、大 煞. Thật là. Quả thật. Phó từ. Chương Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.6 ghi: “有 僧 問 洞 山:時 時 勤 拂 拭、大 殺 好、因 什 麼 不 得 衣 鉢? – Có vị tăng hỏi Động Sơn: Luôn luôn siêng lau chùi, thật là hay, vì sao chẳng được y bát?” Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “佛 法 大 殺 有、只 是 灸 瘡 痛。 – Phật pháp quả thực có, hiềm vì trên vết bổng lại đốt thêm ngải cứu.” ● 大 事. Việc lãnh ngộ thiền pháp, siêu thoát sinh tử, nhà thiền cho đây là việc lớn bên trong của mỗi người. Tiết “Nghệ Ngôn” trong NHQL q.29 ghi: “解 心 未 絕、往 往 巧 見 橫 生、此 謂 之 聰 明 境 界、亦 謂 之 樹 下 魔 軍、便 當 盡 情 剪 滅、庶 進 移 有 路、而 大 事 可 期。 – Vọng tâm phân biệt chưa hết thì kiến giải do trí thông minh của thế tục sẽ luôn phát sinh. Đây gọi là cảnh giới của trí thông minh, cũng gọi là quân ma dưới cội cây, dễ dàng cho ngươi tiêu diệt thỏa sức. Con đường tiến lên này sẽ có ngả chuyển biến và việc lãnh ngộ thiền pháp mới có hy vọng.” ● 大 事 了 畢. Việc lớn đã xong, tức chỉ cho việc lãnh ngộ hoàn toàn thiền pháp, siêu thoát sinh tử. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “公(指 張 無 盡 居 士)疑 團 愈 熟、在 客 軒 中 行 坐 俱 不 安、方 轉 身 欲 上 床、忽 爾 脫 然、復 走 上 方 丈、時 悅 公(指 兜 率 悅 和 尚)預 知 其 來、備 香 燭 開 門 接 見、乃 曰:且 喜 相 公 大 事 了 畢。 – Cư sĩ Trương Vô Tận lúc ấy khối nghi càng thuần thục, ở bên hiên nhà khách đứng ngồi không yên, vừa xoay mình muốn lên giường, bỗng nhiên rỗng rang, liền chạy lên phương trượng. Khi đó Hòa Thượng Đâu Suất Duyệt biết trước Vô Tận sẽ đến nên chuẩn bị nhang đèn, mở cửa tiếp đón. Ngài nói: Mừng cho Tướng công, việc lớn đã xong”. ● 大 作 佛 事. Làm Phật sự với quy mô lớn. Hoằng dương Phật pháp với quy mô lớn. Truyện Hoằng Nhẫn trong Tống Cao Tăng Truyện ghi: “此 非 凡 童 也、具 體 佔 之、止 闕 七 大 人 之 相、不 及 佛 矣。苟 預 法 流、二 十 年 後 必 大 作 佛 事、胜任 荷 寄。 – Đây chẳng phải là đứa bé tầm thường! Trên thân thể của nó chỉ thua đức Phật có 7 tướng. Nếu cho nó gia nhập hàng ngũ chư tăng, 20 năm sau nhất định là nó sẽ hoằng dương Phật pháp với quy mô lớn còn hơn những gì ta gửi gắm”. ● 大 心 (1652-1728). Thiền tăng đời Thanh, họ Tống, người đời thường gọi “Hằng Đào Đại Tâm Thiền Sư”, người xứ Cổ Điền (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Vi Lâm Đạo Bái, tông Tào Động. Sư có các bài tụng Niêm Cổ, Hoài Cổ lưu hành ở đời. ● 大 盡. Tháng đủ theo âm lịch. Mật Am Ngữ Lục ghi: “只 是 應 時 應 節、不 失 其 宜、大 盡 三 十 日、小 盡 二 十 九、饑 餐 濁 飲、任 運 騰 騰。 – Chỉ là tùy theo thời tiết không làm mất chỗ thích nghi, tháng đủ ba mươi ngày, tháng thiếu hai mươi chín ngày, đói ăn khát uống, mặc tình tự tại.” ● 大 成 (1609-1666). Thiền tăng đời Minh, họ Long, tự Trúc Am, người xứ Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư ẩn Trí Ngân, đời thứ 36 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Quảng Tế ở Giả Sơn, Tác phẩm: Trúc Am Tập, Đại Thành Thiền Sư Ngữ Lục. ● 大 千. Gọi tắt của từ “Đại thiên thế giới 大 千 世 界”. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “拈 起 也 大 千 岌 崿。放 下 也 凡 聖 同 源。 – Giơ lên thì cõi đại thiên cao ngất, buông xuống thì phàm thánh cùng nguồn.” Bài “Nhất bát ca” trong CĐTĐL q.30 ghi: “亦 無 垢、亦 無 淨、大 千 同 一 眞 如 性。 – Cũng không nhơ, cũng không sạch, đại thiên cùng một tính chân như.” ● 大 善. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ núi Thạch Sơn ở Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. ● 大 善 知 識. Chỉ bậc cao tăng Thiền Tông. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “若 不 能 自 悟 者、須 覓 大 善 知 識 示 道 見 性。何 名 大 善 知 識?解 最 上 乘 法、眞 示 正 路、是 大 善 知 識。 – Nếu người không có khả năng tự ngộ, cần tìm bậc cao tăng Thiền Tông dạy cho cách kiến tính. Sao gọi là đại thiện tri thức? Đó là người hiểu pháp tối thượng thừa, chỉ thẳng con đường chính.” ● 大 樹. Hiệu của Thiền tăng Hoằng Chứng đời Minh. X. Hoằng Chứng. ● 大 受 用. Vận dụng thiền pháp và hưởng thọ thiền duyệt tự tại vô ngại. Chương “Khai thị Duy Na Tín” trong DTNL q.3 ghi: “僧 問 歸 宗:如 何 是 佛?歸 宗 云:向 你 道、你 還 信 否?僧 云:和 尚 重 言、焉 敢 不 信?歸 宗 云:卽 你 便 是。僧 云:如 何 保 任?歸 宗 云:一 翳 在 目、空 花 亂 墮。者 僧 可 謂 具 大 信 力、纔 聞 擧 著、便 乃 直 下 承 當、得 大 受 用 去 也。 – Có vị tăng hỏi ngài Quy Tông: Thế nào là Phật? Quy Tông bảo: Ta nói với ngươi, ngươi có tin không? Tăng thưa: Lời Hòa Thượng quan trọng, con đâu dám không tin? Quy Tông bảo: Ngay nơi ngươi chính là Phật. Tăng thưa: Làm sao bảo nhậm? Quy Tông nói: Một khi mắt bị màng che sẽ thấy hoa đốm rơi loạn trong hư không. Có thể bảo vị tăng này có niềm tin rất mạnh, vừa nghe nêu lên liền lập tức thừa đương, được đại thọ dụng vậy.” ● 大 手 宗 師. Thiền Sư có thủ đoạn cao siêu để tiếp dẫn người học. Bích Nham Lục q.1 ghi: “此 是 大 手 宗 師。不 與 爾 論 玄 論 妙。論 機 論 境。一 向 以 本 分 事 接 人。 – Đây là Thiền Sư có thủ đoạn cao siêu, chẳng bàn luận huyền diệu, nói cơ nói cảnh với ngươi, xưa nay chỉ đem việc bản phận để tiếp dẫn người”. ● 大 乘 北 宗 論. Còn gọi: Bắc Tông Luận. Luận, 1 quyển, không rõ tác giả. Là sách thiền Bắc Tông lưu hành vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 85. Dưới đầu đề của sách này có 3 chữ nhỏ “Đại thừa Tâm”, toàn văn chỉ có 469 chữ làm theo hình thức kệ tụng, đứng từ lập trường của Bắc Tông để bàn luận về Đại thừa Tâm và thế đối lập giữa sinh tử cùng Niết Bàn. Chẳng hạn như: “Ta còn chẳng khởi tâm Đại thừa, huống là tâm Thanh văn?… Ta còn chẳng khởi tâm Niết Bàn, huống là tâm sinh tử?” Trong ấy chủ trương “Quên tâm”. ● 大 乘 器. Đồng với “Đại thừa căn khí 大 乘 根 器”. Chương “Tổ thứ tám Phật Đà Nan Đề trong CĐTĐL q.1 ghi: “既 而 領 徒 行 化 至 提 伽 國 城 毘 舍 羅 家。見 舍 上 有 白 光 上 騰。謂 其 徒 曰。此 家 當 有 聖 人。口 無 言 說 眞 大 乘 器。不 行 四 衢 知 觸 穢 耳。 – Sau đấy Tổ thống lãnh đồ chúng đi hóa đạo đến thành Đề Ca Quốc, trước nhà Tỳ Xá La. Tổ thấy trên nóc nhà có một luồng ánh sáng trắng xông lên liền bảo môn đồ rằng: Nhà này đang có thánh nhân, miệng không thốt lời nào, thật là căn khí đại thừa, chẳng đi vào bốn nẻo, vì biết là dơ uế.” ● 大 乘 心. Vốn là thuật ngữ của giáo môn, ý nói theo giáo pháp Đại thừa là cầu Phật ở nơi tâm. Nhà thiền cho rằng chẳng rơi vào tình lượng chỗ nơi, vượt khỏi ngôn ngữ tri giải, thân tâm tự nhiên đạt đạo là “Đại thừa tâm”. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “道 無 方 所、名 大 乘 心、此 心 不 在 內 外 中 間、實 無 方 所。第 一 不 得 作 知 解、只 是 說 汝 今 情 量 處、情 量 若 盡、心 無 方 所。 – Đạo không có nơi chốn gọi là Đại thừa tâm. Tâm này chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, thật không có chỗ nơi. Thứ nhất là chẳng được khởi tri giải, chỉ nói với ngươi là chỗ tình lượng hiện nay nếu hết thì tâm không có nơi chốn.” ● 大 小. Còn gọi: Đại tiểu đại 大 小 大. 1. Lớn như thế, lớn thế ấy. Theo sau cụm từ này phần lớn là danh hiệu các nhân vật nổi tiếng. Tiết Tịnh Từ Ngạn Sung Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “上 堂、舉 雪 峰 示 眾 云:盡 大 地 是 箇 解 脫 門、因 甚 把 手 拽 不 入。師 曰:大 小 雪 峰 話 作 兩 橛、既 盡 大 地 是 箇 解 脫 門、用 拽 作 麼? – Sư thượng đường nêu công án Tuyết Phong dạy môn đồ rằng: Khắp thế giới là cửa giải thoát, vì sao được dẫn dắt nhưng không vào được? Sư nói: Tuyết Phong lớn như thế mà đi nói lời mâu thuẫn, đã nói khắp thế giới là cửa giải thoát còn dùng dẫn dắt làm gì?” Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng ghi: “上 堂 舉。雲 門 垂 語 云。古 佛 與 露 柱 相 交。是 第 幾 機。自 代 云。南 山 起 雲 北 山 下 雨。師 云。大 小 大 雲 門 大 師。元 來 小 膽。 – Thiền Sư Pháp Diễn thượng đường nêu công án Vân Môn có lời dạy chúng rằng: Cổ Phật cùng cây cột cái làm bạn với nhau là cơ thứ mấy? Rồi tự đáp thay: Núi nam nổi mây, núi Bắc mưa. Sư (Pháp Diễn) nói: Đại sư Vân Môn lớn như thế, té ra lá mật lại nhỏ.” ● 2. Đặt ở cuối câu, biểu thị nghi vấn, có nghĩa là bao lớn? bao nhiêu? Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “問:如 何 是 無 縫 塔?師 曰:這 一 縫 大 小? – Có người hỏi: Thế nào là tháp vô phùng (tháp không có mối nối)? Sư hỏi lại: Một mối nối này được bao lớn?” Tiết Chiêu Khánh Tỉnh Đăng Thiền Sư trong NĐHN q.8 ghi: “問 僧:近 離 甚 處?曰:報 恩。師 曰:僧 堂 大 小?曰:和 尚 試 道 看。 – Sư hỏi tăng: Vừa rời chỗ nào? Tăng đáp: Báo Ân. Sư bảo: Tăng đường bao lớn? Tăng nói: Hòa Thượng thử nói xem.” ● 大 須 (1826-1899). Thiền tăng đời Thanh, họ Thái, hiệu Giới Hàng, tự hiệu Bất Bất Đầu Đà, người xứ Diêm Thành, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Ngộ Xuân, đời thứ 47 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Định Huệ ở Tiêu Sơn. Tác phẩm: Giới Hàng Tập, Bất Bất Đầu Đà Ngoại Lục. ● 大 死 大 活. Còn gọi: Tuyệt hậu tái tô. Trạng thái bặt hết tình thức như người chết, để rồi sau đó sống lại với cái tâm chân thật bất sinh bất diệt sẵn có của mình. Trong 108 bài kệ của Thiền Sư Phương Tụ Thành có ghi: 參 禪 第 一、大 死 大 活 破 有 破 空、絕 疑 絕 惑 Tham thiền đệ nhất Đại tử đại hoạt Phá hữu phá không Tuyệt nghi tuyệt hoặc”. “Pháp tham thiền bậc nhất Dám chết mới được sống Phá chấp có, chấp không Hết sạch mọi nghi hoặc”. ● 大 死 底 人. Chỉ cho người chết hết vọng niệm. Những hạng người này đã xa lìa tất cả sự thấy nghe hiểu biết tình thức phân biệt; chẳng bị hạn cuộc trong kiến giải tương đối như: Thế và xuất thế, thuận và nghịch… Tắc 41, Bích Nham Lục (Đại 48, 178 hạ) ghi: “大 死 底 人 卻 活 時 如 何? – Triệu Châu hỏi Đầu Tử: Người chết hết vọng niệm, thì lúc sống lại ra sao?”. ● 大 死 一 番. Chết hết một phen. Người tu theo Phật giáo, muốn đạt được chân lý chẳng phải là tự hủy diệt thân xác của mình, mà là xả bỏ tất cả chấp trước của thân tâm. Tắc 41, Bích Nham Lục (Đại 48, 179 thượng) ghi: “須 是 大 死 一 番、卻 活 始 得。 – Cần phải chết hết một phen, thì mới được sống”. ● 大 自 在. Tự do tùy ý, không bị sự vật câu thúc, mọi nơi đều thông suốt, hoạt bát thanh thản, là cảnh giới sau khi thiền ngộ. Vô Môn Quan ghi: “於 生 死 岸 頭、得 大 自 在、向 六 道 四 生中 遊 戲 三 昧。 – Được đại tự tại ở bên bờ sinh tử; du hí tam muội trong sáu nẻo bốn loài.” ● 大 智 慧 人 亦 有 三 尺 暗. Trên mặt của bậc đại trí huệ cũng có chỗ tối tăm. Tông Môn Võ Khố ghi: “(陳 瓘)立 朝 骨 骾 剛 正、有 古 人 風 烈、留 神 內 典、議 論 奪 席。獨 參 禪 未 有 大 發 明、禪 宗 因 緣 多 以 意 解。酷 愛 南 禪 師 語 錄、詮 釋 殆 盡、唯 金 剛 與 泥 人 揩 背、註 解 不 行。嘗 語 人 曰:此 必 有 出 處、但 未 有 知 之 者。諺 云:大 智 慧 人 面 有 三 尺 暗、果 不 誣 也。 – Khi Trần Quán đang làm quan, tính tình cứng cỏi và ngay thẳng, có phong cách lẫm liệt của người xưa, để tâm nơi nội điển, luận nghị luôn dành phần thắng ở pháp tòa. Riêng về việc tham thiền chưa có đại phát minh. Các cơ duyên Thiền Tông phần lớn ông dùng ý thức để lãnh hội, rất thích Ngữ Lục của Thiền Sư Huệ Nam, giải thích rõ ràng gần hết, chỉ có kinh Kim Cang là không hợp với người trệ ngại, nên ông chú giải chẳng được. Ông thường nói với mọi người: Điều này ắt có lý do, nhưng chưa có người biết đến. Tục ngữ nói: Trên mặt của bậc đại trí huệ cũng có chỗ tối tăm. Quả nhiên không sai vậy”. ● 大 智 上 根. Trí huệ lớn và căn khí bậc thượng. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “此 是 最 上 乘 法、爲 大 智 上 根 人 說。 – Đây là pháp tối thượng thừa, vì người có trí huệ lớn và căn khí bậc thượng mà nói.” Triệt để tỉnh ngộ thiền pháp. Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “識 得 即 是 大 出 脫、大 徹 頭 人、所 以 超 凡 越 聖、出 生 離 死、離 因 離 果、超 毗 盧、越 釋 迦、不 被 凡 聖 因 果 所 謾、一 切 處 無 人 識 得。 – Biết được (tự tính) tức là người triệt để vượt thoát trần tục, triệt để tỉnh ngộ thiền pháp. Thế nên siêu phàm vượt thánh, thoát sinh lìa tử, lìa nhân lìa quả, siêu Tỳ Lô, vượt Thích Ca, chẳng bị phàm thánh nhân quả đánh lừa, mọi nơi không ai biết nổi ngươi.” ● 大 丈 夫 膝 下 有 黃 金. Dưới đầu gối của bậc đại trượng phu có vàng ròng, nghĩa là bậc đại trượng phu xem trọng danh dự, không dễ gì quỳ gối trước mặt mọi người. Tông Môn Võ Khố ghi: “大 丈 夫 膝 下 有 黄 金、爭 肯 禮 拜 無 眼 長 老。 – Đại trượng phu xem trọng danh dự, đâu chịu lễ bái các hạng trưởng lão không mắt (không ngộ)”. ● 大 雲 院. Trong núi Long nhĩ cách huyện Bình Thuận, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc 23km về phía Tây bắc. Được xây dựng vào niên hiệu Thiên Phúc thứ 3 (938) đời Ngũ Đại Hậu Tấn, ban đầu gọi là “Tiên Nham Viện”. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 (983) phụng sắc đổi tên là “Đại Vân Thiền Viện”. Hiện còn Sơn môn, Thiên vương điện, Hậu điện và hai nhà vu, đều là những kiến trúc đời Thanh. Đại Phật điện là kiến trúc thời Ngũ Đại cột tròn ngạch vuông, đấu củng làm theo kiểu ngũ phố, mái tỏa vênh ra, 9 cây đòn tay được ngói lưu ly che phủ, nguy nga tráng lệ, trong chùa có khắc rất nhiều bia qua nhiều đời. Hậu điện và hai nhà vu, đều là những kiến trúc đời Thanh. Đại Phật điện là kiến trúc thời Ngũ Đại cột tròn ngạch vuông, đấu củng làm theo kiểu ngũ phố, mái tỏa vênh ra, 9 cây đòn tay được ngói lưu ly che phủ, nguy nga tráng lệ, trong chùa có khắc rất nhiều bia qua nhiều đời. ● 大 圓 覺. Giác ngộ đầy đủ, hoàn toàn. Như Tịnh Ngữ Lục q.hạ ghi: “打 破 黑 漆 桶、十 方 空 索 索。不 受 靈 山 記、安 居 大 圓 覺。 – Đập vỡ thùng sơn đen, mười phương trống hoang hoác, chẳng nhận Linh Sơn thọ ký, ở yên trong đại viên giác.” ● 大 圓 禪 師 語 錄. X. Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục. ● 大 捨 (1120-1180). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Đạo Huệ. Sư họ Hứa, quê ở phường Đông Tác (nay thuộc huyện Hoàng Long, Hà Đông), miền Bắc Việt Nam. Sư ở chùa Báo Đức, núi Vũ Ninh (tức Trâu Sơn, Bắc Ninh hiện nay). ● 大 出 脫. Triệt để siêu thoát trần tục. Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “識 得 即 是 大 出 脫、大 徹 頭 人、所 以 超 凡 越 聖、出 生 離 死、離 因 離 果、超 毗 盧、越 釋 迦、不 被 凡 聖 因 果 所 謾、一 切 處 無 人 識 得。 – Biết được tức là triệt để siêu thoát trần tục, là người triệt để tỉnh ngộ do đó siêu việt phàm thánh, xuất ly sinh tử, lìa nhân lìa quả, siêu Tỳ Lô, vượt Thích Ca, chẳng bị nhân quả phàm thánh lừa gạt, tất cả chỗ không người biết được”. ● 大 依 (1617-1683). Thiền tăng đời Thanh, họ Ngô, hiệu Nam Am, người đời gọi sư là “Nam Am Đại Y Thiền Sư”, người xứ Bồ Điền (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tung Nhũ Đạo Mật, tông Tào Động. Sư có Ngữ Lục, thi văn tập hơn trăm quyển lưu hành ở đời. ● 大 意. 1. Ý chính của bài thơ, bài văn. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “童 子 引 能(卽 慧 能)至 南 廊 下。能 卽 禮 拜 此 偈、爲 不 識 字、謂 一 人 讀。慧 能 聞 已、卽 識 大 意。 – Đồng tử dẫn Năng (tức Huệ Năng) đến hành lang phía nam. Năng liền lễ bái bài kệ này, vì không biết chữ nên bảo một người đọc giùm. Huệ Năng nghe xong, liền biết ý chính của bài kệ.” ● 2. Tông chỉ thiền pháp. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “不 識 本 心、學 法 無 益。識 心 見 性、卽 悟 大 意。又:(弘 忍 禪 師)令 門 人 等 各 作 一 偈 來 呈 看、悟 大 意、卽 付 衣 法、禀 爲 六 代 祖。 – Chẳng biết bản tâm, học pháp vô ích. Biết tâm thấy tính, tức là ngộ tông chỉ thiền pháp. Lại: (Thiền Sư Hoằng Nhẫn) bảo các môn đồ, mỗi người tự làm một bài kệ trình lên, nếu Tổ thấy ngộ được tông chỉ thiền pháp sẽ giao cho y pháp, vâng mệnh là Tổ đời thứ sáu.” ● 潭 柘 寺. Chùa ở lưng chừng núi Đàm Chá, khu vực Môn Đầu Câu, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, bởi phía sau chùa có đầm rồng, trong núi có cây chá nên có tên này. Được xây cất vào đời Tấn, ban đầu gọi là “Gia Phúc Tự”, là tự viện có sớm nhất ở Bắc Kinh. Ngạn ngữ nói: “Trước có chùa Đàm Chá, sau có thành U Châu”. Đời Đường gọi là “Long Tuyền Tự”, đời Kim gọi là”Vạn Thọ Tự”, niên hiệu Thiên Thuận thứ 1 (1457) đời Minh lại gọi là “Gia Phúc Tự”, niên hiệu Khang Hy thứ 31 (1692) đời Thanh vua ban cho tấm biển “Tụ Vân Thiền Tự”. Trải qua nhiều thời đại đều có xây cất lại, hiện còn là những kiến trúc vào đời Minh Thanh. Chùa chia làm ba lộ trung đông tây. Trung lộ có Bài lâu, Sơn môn, thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Tỳ lô các. Đông lộ có Phương trượng viện,Diên thanh các, Vạn tuế cung, Thái hậu cung. Tây lộ có Lăng nghiêm đàn, Giới đàn, Quán Âm điện. Trong chùa mái ngói xanh, lan can đỏ, rừng trúc xanh tươi, suối trong róc rách, u nhã khác thường, phong cách thuần phác cổ xưa đặc biệt. Ngoài chùa có tháp viện chia làm hai chỗ trên dưới, tổng cộng có 72 ngôi tháp các đời Kim, Nguyên, Minh, Thanh, lung linh nhiều hình dáng, là hiện vật quý báu để nghiên cứu Phật giáo và kiến trúc cổ. ● 曇 照. Thiền tăng đời Đường, là học trò giỏi của Thiền Sư Nam Tuyền Phổ Nguyện, ở chùa Bạch Mã, Kinh Nam, Trung Quốc. Người đời gọi sư là “Bạch Mã Thiền Sư”. ● 曇 穎 (989-1060). Thiền tăng đời Tống, họ Khâu, hiệu Đạt Quán, người xứ Hàng Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Cốc ẩn Uẩn Thông, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Long Du ở Kim Sơn. ● 曇 華 (1103-1163). Thiền tăng đời Tống, họ Giang, tự ứng Am, người xứ Tô Châu (nay là huyện Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc, có thuyết nói là huyện Huỳnh Mai (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc), nối pháp Thiền Sư Hổ Khâu Thiệu Long, tông Lâm Tế. ● 曇 華 道 人. Thiền tăng đời Thanh, tên Tính Độn, tự xưng “Đàm Hoa Đạo Nhân”. X. Tính Độn. ● 曇 旭 (1371-1437). Thiền tăng đời Minh, họ Lâm, tự Đán Sơ, hiệu Nhật Am, người xứ An Cố (nay thuộc huyện Thụy An, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; tham học với Thiền Sư Kính Trung. Sư trụ chùa Diên Khánh, Tô Châu. ● 曇 空. Thiền tăng đời Đường, người xứ U Châu (nay là Bắc Kinh) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Người đời gọi sư là “U Châu Không”. ● 曇 密 (1116-1184). Thiền tăng đời Tống, họ Lô, hiệu Hỗn Nguyên, người xứ Thiên Thai (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hối Cơ Di Quang, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Hỗn Nguyên Mật Hòa Thượng Ngữ Yếu 1 quyển. ● 曇 噩 (1285-1373). Thiền tăng đời Nguyên, họ Vương, tự Vô Mộng, hiệu Tây Am, Mộng Đường, người xứ Từ Khê (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nguyên Tẩu Hạnh Đoan, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Ngữ Lục, Thi Tập và Lục Học Tăng Truyện. ● 曇 方. Thiền tăng đời Nguyên, hiệu Thủ Trung. X. Thủ Trung. 曇 藏 (758-827). Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên. Sư trụ Tây Viên Tinh xá. ● 曇 謖 (1311-1393). Thiền tăng đời Minh, người xứ Nam Hải (nay thuộc tỉnh Quảng Châu) Trung Quốc, tham học với Thiền Sư Nguyên Tẩu Hạnh Đoan. Minh Thái Tổ ban cho sư hiệu “Hoằng Giáo Đại Triệt Thiền Sư” ● 譚 津 文 集. Luận nghị, 19 quyển, do Khế Tung soạn vào đời Tống được xếp vào “Tứ Bộ Tùng San” và Đại Chính Tạng tập 52, trang 646. Đàm Tân (nay là huyện Đằng tỉnh Quảng Tây) là sinh quán của ngài Khế Tung nên lấy đó làm tên của Văn Tập. Tác giả tinh thông cả Phật lẫn Nho nên phản bác lại luận thuyết bài xích Phật giáo của hạng Nho gia đương thời, đề xướng học thuyết Nho Phật nhất trí, có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Quyển 1-3: Phụ giáo thiên. Quyển 4: Hoàng cực luận và Trung dung giải. Quyển 5-7: 40 thiên Luận nguyên. Đứng trên lập trường Phật giáo, tác giả luận về lễ nhạc, tứ đoan, nhân hiếu… của Nho gia. Quyển 8: 6 thiên viết linh tinh và thư từ. Quyển 9,10: Thu thập thư từ của Hoàng đế Nhân Tông. Quyển 11: Thu thập 23 thiên về bài tựa của “Lục Tổ Pháp Bảo Ký Tự”. Quyển 12: Ghi lại những văn bia kỷ niệm. Quyển 13: Thu thập 7 thiên bi ký minh biểu từ và 12 thiên bình luận về tựa sách cùng tán truyện. Quyển 14-16: Có đầu đề là “Phi Hàn”, tức phản bác lại luận thuyết bài xích Phật giáo của các vị như: Hàn Dũ… Quyển 17, 18: 129 bài thơ Cổ luật. Quyển 19: Thu thập thơ văn của các Thiền Sư như: Thạch Môn, Huệ Hồng… ● 曇 晟 (782-841). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người xứ Chung Lăng (nay thuộc phía tây bắc huyện Tiến Hiền, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư trụ núi Vân Nham ở Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam). Thụy hiệu “Vô Trụ Đại Sư”. ● 曇 樹 (1785-1865). Thiền tăng đời Thanh, họ Đinh, tự Hương Sơ, người xứ Hương Sơn (Trung Sơn, Quảng Đông) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Nhạn Hoàng Đại Hàm, đời thứ 39 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Hải Tràng, Quảng Châu. Sư là họa tăng nổi tiếng phái Lĩnh Nam. ● 擔 板 漢. Đồ cố chấp. Chỉ người đàn ông lưng mang bảng cây. Gã chỉ thấy trước mắt mà chẳng thấy hai bên, nên Thiền Tông thường dùng để tỉ dụ người có kiến giải thiên chấp, chẳng dung thông được toàn thể. Ngũ Đăng Hội Nguyên q.4 ghi: “新 到 參、師 問:甚 麼 處 來?曰:南 方 來。師 曰:佛 法 盡 在 南 方、汝 來 這 裡 作 甚 麼?曰:佛 法 豈 有 南 北 耶?師 曰:饒 汝 從 雪 峰、雲 居 來、祇 是 箇 擔 板 漢。 – Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm hỏi vị tăng mới đến tham vấn rằng: Từ đâu đến? Đáp: Từ phương nam đến. Sư nói: Phật pháp đều ở tại phương nam, ông đến đây làm gì? Tăng nói: Phật pháp há có nam bắc sao! Sư bảo: Dù cho ông từ Vân Phong, Vân Cư đến, cũng chỉ là đồ cố chấp” ● 膽 折. Sợ đến vỡ mật. Thư gởi Lân Thủ toạ ở Định Thuỷ trong MANL ghi: “一 棒 一 條 痕。一 摑 一 掌 血。不 是 向 上 機 關。亦 輩 單 傳 妙 訣。佛 祖 見 之 攢 眉。魔 外 聞 之 膽 折。 – Đánh một gậy hằn một vết sẹo, tát một tát in cả bàn tay. Không phải cơ quan hướng thượng cũng chẳng phải diệu quyết riêng truyền. Phật Tổ thấy liền nhíu mày, tà ma ngoại đạo nghe liền vỡ mật.” ● 擔 當 (1593-1673). Thiền tăng đời Thanh, họ Đường, tên Thái, tự Đại Lai, người xứ Tấn Ninh (nay thuộc tỉnh Vân Nam) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Trạm Nhiên, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Tu Viên Tập, Quyết Am Tập, Niêm Hoa Tụng Bách Vận. ● 擔 佛 傍 家 走. Gánh Phật chạy sang nhà láng giềng. Chỉ tăng hành cước chưa ngộ đi đến các nơi tham học cầu Phật. Đây là lời nói hàm ý châm biếm. Bởi vì Thiền Tông cho rằng “Tự Tâm là Phật” mà phần đông tăng sĩ lại chẳng ngộ lý này, bôn ba chạy tìm Phật ở các nơi. Tiết Trường Khánh Đại An Thiền Sư trong NĐHN q.4 ghi: “汝 諸 人 總 來 就 安(安:大 安 禪 師 自 稱)、求 覓 甚 麼?若 欲 作 佛、汝 自 是 佛。擔 佛 傍 家 走、如 渴 鹿 趁 陽 燄 相 似、何 時 得 相 應 去! – Các ngươi cùng đến với An (An: Thiền Sư Đại An tự xưng) để tìm cái gì? Nếu muốn làm Phật thì các ngươi tự là Phật. Còn như gánh Phật chạy sang nhà láng giềng, giống hệt như con nai khát đuổi theo sóng nắng, chừng nào mới được tương ưng!” ● 擔 雪 填 井. Xúc tuyết lấp giếng. Tỷ dụ lời nói và việc làm chẳng hợp tình lý, ngu muội, luống công. Tiết Tịnh Nhân Kế Thành Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “上 堂、舉 汾 陽 拈 拄 杖 示 眾 曰:三 世 諸 佛 在 這 裡、爲 汝 諸 人 無 孔 竅。遂 走 向 山 僧 拄 杖 裡 去、強 生 節 目。師 曰:汾 陽 與 麼 示 徒、大 似 擔 雪 填 井、傍 若 無 人。山 僧 今 日 爲 汝 諸 人 出 氣。 – Sư thượng đường, cử công án Phần Dương giơ gậy dạy chúng: ›Ba đời chư Phật đều ở chỗ này, vì các ngươi không có mắt để thấy nên chạy đến cây gậy của sơn tăng. Vốn không có việc lại sinh ra lắm việc‹. Sư nói: Phần Dương dạy chúng thế ấy giống như xúc tuyết lấp giếng, không coi ai ra chi. Hôm nay sơn tăng (Kế Thành tự xưng) vì các ngươi mà mở miệng.” ● 澹 居. Hiệu của Thiền tăng Pháp Khải đời Minh. X. Pháp Khải. ● 淡 居 子. Hiệu của Thiền tăng Chí Nhân đời cuối Nguyên đầu Minh. X. Chí Nhân. ● 澹 堂. Hiệu của Thiền tăng Đức Bằng đời Tống. X. Đức Bằng. ● 丹 霞 子 淳 禪 師 語 錄. Còn gọi: Tùy Châu Đại Hồng Sơn Thuần Thiền Sư Ngữ Lục; Diệu Tục Đại Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Đan Hà Tử Thuần soạn vào đời Tống, Khánh Dự khảo đính, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 124, trang 486. Quyển thượng là Ngữ Lục của Sư ở núi Đại Hồng 1 quyển, do người cháu đời thứ 13 là Đại Dung Phạm Thanh sao chép. Nội dung bao gồm: Pháp ngữ thượng đường, các bài chân tán. Quyển hạ biên tập thêm ngần ấy pháp ngữ thượng đường, cử cổ cho đến các bài tụng cổ của sư về cơ duyên ngữ cú của các vị: Thanh Nguyên, Dược Sơn, Đạo Ngô, Vân Nham, Động Sơn, Tào Sơn, Huyền Sa, Đầu Tử, Đạo Giai. ● 單 霄 獨 步. Một mình bước đi tự tại giữa hư không. Chỉ cho cảnh giới siêu thoát, tự do sau khi đã ngộ Thiền. Bích Nham Lục q.1 ghi: “雪 竇 道 江 國 春 風 吹 不 起、鷓 鴣 啼 在 深 花 裏。向 這 裏 薦 得 去、可 以 丹 霄 獨 步。你 若 作 情 解、三 生 六 十 劫。 – Tuyết Đậu nói: ›Gió xuân nhẹ lướt Giang Nam, Đa Đa ríu rít trong lùm hoa xinh.‹ Từ chỗ này lãnh hội mới có thể rảo bước tự tại. Nếu ông khởi ý thức phân biệt để tìm hiểu thì cho ông mò đến ba đời sáu mươi kiếp”. ● 壇 經. Kinh, 1 quyển, do Lục tổ Huệ Năng thuyết, nên còn gọi là “Lục Tổ Đàn Kinh”. Lúc Lục tổ Huệ Năng ở chùa Bảo Lâm, Tào Khê có Thứ sử Thiều Châu là Vi Cừ thỉnh ngài vào chùa Đại Phạm để diễn giảng pháp Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Bài giảng của Huệ Năng được đệ tử của ngài là Pháp Hải ghi lại thành sách, về sau gọi là Đàn Kinh. Trải qua nhiều lần sửa chữa thêm thắt, xuất hiện hơn 10 bản khác nhau, nhưng đại khái có thể phân làm 4 bản quan trọng hơn cả: 1. Bản Đôn Hoàng, gọi đủ là Nam Tông Đốn Giáo Tối Thượng Đại Thừa Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư Vu Thiều Châu Đại Phạm Tự Thí Pháp Đàn Kinh. Gồm có 57 tiết, chẳng chia phẩm mục, chữ nghĩa chất phác, được xem là bản có sớm nhất. 2. Bản của Huệ Hân, tên Lục Tổ Đàn Kinh, chia làm 2 quyển thượng và hạ, gồm 11 môn, khoảng hơn 14.000 chữ, ít hơn bản Đôn Hoàng 1.000 chữ. Bài tựa của Huệ Hân viết: “Bản xưa văn rườm rà được đệ tử xem qua, trước vui sau chán”. Có thể thấy rằng bản này đã được lược bớt chút ít. 3. Bản của Khế Tung, gọi đủ là Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh Tào Khê Nguyên Bản, gọi tắt là Tào Khê Nguyên Bản, gồm 1 quyển, 10 phẩm, hơn 20.000 chữ, do sư Khế Tung biên sửa lại vào khoảng niên hiệu Chí Hòa (1054-1056) đời Tống. 4. Bản của Tông Bảo, gọi đủ là Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh, 1 quyển, 10 phẩm, hơn 20.000 chữ, do sư Tông Bảo biên tập lại vào niên hiệu Chí Nguyên thứ 28 (1291) đời Nguyên, đây là bản thường thấy lưu hành, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48 trang 845. Các bản ở trên không ghi chép trung thực về lời giảng ban đầu của Tổ Huệ Năng mà có sự trộn lẫn, sửa đổi về cuộc đời của Tổ cho đến những lý giải về Thiền Tông. Nội dung chủ yếu của Đàn Kinh bản Đôn Hoàng, đại khái chia làm 3 phần: ― Phần I: Thuật lại quá trình Ngũ tổ Hoằng Nhẫn trao truyền y pháp cho Huệ Năng. ― Phần II: Huệ Năng giảng pháp cho đệ tử và các lời ứng đối của Ngài với người hỏi pháp. ― Phần III: Những lời dặn dò đệ tử trước khi Tổ Huệ Năng thị tịch. Kinh này nói về pháp Ma Ha Bát Nhã và phát triển thành Đốn giáo “Nhất siêu trực nhập”. Đem lý luận “Vô niệm”, “Vô tướng” và “Vô trụ” trong Kinh Kim Cang kết hợp lại, rồi đề xướng “Vô niệm là tông”, “Vô tướng là thể”, và “Vô trụ là bản”, làm phương pháp thực tu của Thiền Tông. Lại có cách giải thích mới về thiền định: “Ngoài lìa các tướng là thiền, trong không loạn là định”, tức là chỉ cần đạt đến vô niệm thì chính đó là thiền định. Tóm lại Thiền Tông sau Lục tổ Huệ Năng phát triển rất nhiều tư tưởng đặc sắc, như: Tự tính cụ túc, Kiến tính thành Phật, Tự tâm đốn ngộ, Trực chỉ nhân tâm, và đều phản ánh ở trong Đàn Kinh. Có thể nói Đàn Kinh đặt nền tảng cho sự phát triển của Thiền Tông Nam Tông. ● 檀 越. Thí chủ. Từ dịch âm tiếng Phạn Dānapati. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “洞 庭 檀 越 與 明 州 專 使 相 爭、紜 紜 不 已。 – Đàn việt hồ Động Đình tranh nhau với chuyên sứ (tỉnh) Minh Châu rối bời chẳng dứt”. ● 檀 捨 施. Bố thí của cải vật chất cho người. Chương Bồ Đề Đạt Ma Lược Biện Đại Thừa Nhập Đạo Tứ Hạnh trong CĐTĐL q.30 ghi: “法 體 無 慳。於 身 命 財、行 檀 捨 施 心 無 吝 惜。 – Pháp thể vốn không keo kiệt, cho nên thân mạng của cải thực hành việc bố thí, tâm không xẻn tiếc”. ● 旦 過 寮. Phòng để cho các vị tăng hành cước tối đến ngủ trọ sáng lại ra đi. Các vị tăng du phương đến mỗi chùa, trước hết vào Đán quá liêu rồi mới lên chào vị Trụ trì. Theo PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 旦 過 僧. Vị tăng ở trọ qua đêm, tức chỉ cho các vị Thiền tăng hành cước. ● 但 (k. ng). 1. Chỉ, chỉ cần. Phó từ đặt ở đầu câu biểu thị phạm vi được hạn định. Phẩm Hành Do trong Đàn Kinh, bản của Tông Bảo ghi: “獵 人 常 令(慧 能)守 網、每 見 生 命、盡 放 之。每 至 飲 時、以 菜 寄 煮、肉 鍋 或 門 則 對 曰:但 喫 肉 邊 菜。 – Bọn thợ săn thường bảo Huệ Năng tôi giữ lưới, mỗi khi thấy cầm thú lọt vào tôi đều thả ra hết. Tới bữa ăn, tôi gởi rau trong nồi thịt, có người hỏi thì tôi trả lời: Chỉ ăn rau luộc bên cạnh thịt mà thôi”. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “爾 但 於 凡 聖 兩 處 情 盡、自 然 無 妄。 – Ngươi chỉ cần ở hai cực biên tình phàm lượng thánh sạch hết thì tự nhiên không có vọng.” ● 2. Cứ… đi! Nữa đi! Trợ từ đặt ở đầu câu biểu thị ngữ khí yêu cầu. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “黄 蘗 有 何 言 句 指 示 於 人。師 云:黄 蘗 無 言 句。峯 云:爲 什 麼 無。師 云:設 有 亦 無 舉 處。峯 云:但 擧 看。師 云:一 箭 過 西 天。 – Phong hỏi: Hoàng Bá có chỉ dạy cho người ta lời gì? Sư đáp: Hoàng Bá không có dạy lời nào. Phong hỏi: Vì sao lại không? Sư thưa: Giả sử có cũng không chỗ để kể? Phong bảo: Cứ kể ra đi! Sư đáp: Một mũi tên bay qua ấn Độ”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “問 話 作 麼 生?師 云:某 甲 問 聲 未 絶。和 尚 便 打。某 甲 不 會。首 座 云:但 更 去 問。師 又 去 問。黄 蘗 又 打。 – Thủ tọa nói: Ngươi hỏi thế nào? Sư nói: Con hỏi chưa dứt lời, Hòa Thượng đánh con liền. Con không hiểu nổi? Thủ tọa nói: Đi hỏi nữa đi! Sư lại đi hỏi và bị Hoàng Bá đánh nữa”. ● 但 爀. Sáng rực rỡ, lấp lánh. Nhân thấy bài Ngoạn Châu Ngâm của cổ đức liền làm Ngoạn Châu Ca trong Phần Dương Ngữ Lục ghi: 豁 達 玲 瓏 只 箇 珠 愚 人 不 識 諸 佛 性 活 潑 潑、白 洞 洞 古 聖 今 賢 皆 掌 弄 四 方 八 面 現 靈 光 但 爀 巍 巍 絕 輕 重 Rộng rãi, tinh xảo hạt châu này Người ngu chẳng biết ở Phật tính Thật tròn trặn, rất trong suốt Hiền thánh xưa nay đều mân mê Bốn hướng tám mặt hiện linh quang Lấp lánh, rờ rỡ không nặng nhẹ. ● 但 莫 (k. ng). Xin đừng. Biểu thị ngữ khí khuyên răn. Hoàng Bá Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu ghi: “汝 每 日 行 住 坐 臥、一 切 言 語、但 莫 著 有 爲 法。 – Mỗi ngày trong lúc đi, đứng nằm ngồi, tất cả lời nói, xin ông đừng dính mắc vào pháp hữu vi”. ● 但 是 (k. ng). Phàm là, phàm, tất cả. Ngữ Chi Dư trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q.2 ghi: “但 是 一 塵 一 色、總 是 一 佛。 – Phàm một vọng niệm, một sự vật đều là một vị Phật”. ● 但。。。取 (k. ng). Hãy… đi. Biểu thị ngữ khí cầu khiến. Tông Môn Võ Khố ghi: “首 座、但 向 尿 臭 气 參 取。 – Thủ tọa, hãy tham cứu mùi khai ấy đi!”. ● 黨 理 不 黨 情. Nghĩa đen là trụ nơi lý chứ chẳng theo nhân tình; nghĩa mở rộng là nương nơi pháp mà quên đi cái tình của con người. Tắc 67, Bích Nham Lục (Đại 48, 197 thượng) ghi: “梁 武 帝 請 傅 大 士 講 金 剛 經。大 士 便 於 座 上。揮 案 一 下。便 下 座。武 帝 愕 然。誌 公 問:陛 下 還 會 麼 (黨 理 不 黨 情。盵 膊 不 向 外。也 好 與 三 十 棒) 帝 云:不 會 (可 惜 許) 誌 公 云:大 士 講 經 竟。 – Lương Võ Đế thỉnh Phó đại sĩ giảng Kinh Kim Cang, Đại sĩ đang ở trên tòa dùng cây thước (Thủ xích) vỗ xuống bàn một cái rồi bước xuống tòa. Võ Đế rất ngạc nhiên. Ngài Chí Công hỏi: Bệ hạ hiểu chăng? (Bênh lý chẳng bênh tình, cánh tay không thể co ra ngoài cũng đáng cho 30 gậy!). Vua đáp: Chẳng hiểu! (Đáng tiếc) Chí Công nói: Đại sĩ giảng kinh xong”. ● 頂 戴. Kính lễ. Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện ghi: “忍(指 弘 忍)大 師 卽 將 所 傳 袈 裟 付 能(指 慧 能)、大 師 遂 頂 戴 受 之。 – Nhẫn (chỉ Hoằng Nhẫn) Đại sư tức tương sở truyền ca sa phó Năng (chỉ Huệ Năng), Đại sư toại đảnh đới thọ chi. – Đại sư Hoằng Nhẫn bèn đem ca sa truyền cho Huệ Năng, Sư liền kính lễ nhận lấy.” ● 頂 門 正 眼. Còn gọi: Đảnh Môn Nhãn Chính, Đảnh Môn Cụ Nhãn. Thiên thần Ma Hê Thủ La trong thần thoại Phật giáo có ba con mắt, ở giữa trán mọc một con mắt gọi là đảnh môn nhãn, có thị lực thần kỳ. Trong thiền ngữ dùng từ này để chỉ cho ánh mắt trí huệ đặc biệt quan sát sự vật của người đã ngộ thiền, tức là pháp nhãn. Tiết Thượng Phong Bản Tài Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “見 之 者 撩 起 便 行、聞 之 者 單 刀 直 入。箇 箇 具 頂 門 正 眼、人 人 懸 肘 後 靈 符。 – Người nào thấy liền lập tức lãnh ngộ, kẻ nào nghe thì minh tâm kiến tính, mỗi người đều có pháp nhãn, có lá bùa linh trong tay.” ● 頂 門 眼. Con mắt nằm dọc trên trán, giữa 2 chặn mày, tượng trưng cho trí huệ. Tắc 35, phần lời dẫn, Bích Nham Lục ghi: “若 不 是 頂 門 上 有 眼。肘 臂 下 有 符。往 往 當 頭 蹉 過。 – Nếu không phải là người trên trán có mắt, trong tay có lá bùa thì luôn bỏ lỡ việc trước mắt”. Các Thánh Kinh gọi đó là con mắt Toàn Tri, con mắt thứ ba, con mắt của thần Shiva, con mắt trực giác… ● 頂 〖⿰寧頁〗. Đỉnh đầu. Tiết Dục Vương Giới Thầm Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “踏 著 釋 迦 頂 〖⿰寧頁〗、磕 著 聖 僧 額 頭。 – Giẫm lên đỉnh đầu Thích Ca, gõ trán thánh tăng.” ● 頂 峯. Nhục kế (cục thịt hình búi tóc) nhô ra trên đỉnh đầu. Tiết Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q.4 ghi: “師 有 頂 峰 突 然 而 起。 – Trên đầu sư bỗng có cục thịt mọc vun cao lên”. ● 頂 相. 1. Nhục kế trên đỉnh đầu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là l trong 32 tướng của Phật. Tất cả trời và người đều không thể nhìn thấy đảnh tướng này. ● 2. Trong nhà thiền gọi bức ảnh bán thân của Tổ sư là “Đảnh tướng”. Tông Môn Võ Khố ghi: “徐 師 川 同 佛 果 到 書 記 寮、見 果 頂 相。 – Từ Sư Xuyên cùng Phật Quả đến liêu Thư ký, thấy bức ảnh bán thân của Phật Quả”. ● 刀 刀. Còn viết 忉 忉、叨 叨. (Chỉ người) nói lải nhải. (Chỉ vật) tiếng kêu không dứt. Vân Môn Quảng Lục q.thượng ghi: “若 也 一 言 相 契 、猶 是 多 途、況 復 刀 刀、有 何 所 益? – Nếu nói được một lời khế hợp cũng còn là nhiều lối, hà huống lải nhải mãi có ích lợi gì?” Tiết Long Môn Thanh Viễn Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “刀 刀 林 鳥 啼、被 衣 終 夜 坐 – Ríu rít chim rừng kêu, mặc áo suốt đêm ngồi.” ● 忉 忉 怛 怛. Nhiều lời. Lải nhải. Tiết “Tuyết Phong Tư Huệ Thiền Sư” trong NĐHN q.16 ghi: “如 今 每 日 鳴 鼓 陞 堂、忉 忉 怛 怛 地。問 者 口 似 紡 車、荅 者 舌 如 霹 靂。總 似 今 日、靈 山 慧 命。殆 若 懸 絲。少 室 家 風、危 如 累 卵。 – Hiện tại mỗi ngày đánh trống thăng đường để lải nhải, người hỏi miệng tợ máy dệt, người đáp lưỡi như sấm sét. Cứ như hôm nay huệ mạng Phật Tổ nguy như chỉ mành treo chuông, môn phong nhà thiền bấp bênh như trứng để đầu đẳng”. ● 桃 花 悟 道. Thấy hoa đào liền ngộ đạo. Công án này được thấy nơi tiết Linh Vân Chí Cần Thiền Sư trong NĐHN q.4 như sau: “靈 雲 志 勤 禪 師 。。。初 在 溈 山、因 見 桃 華 悟 道。有 偈 曰:三 十 年 來 尋 劍 客、幾 回 落 葉 又 抽 枝。自 從 一 見 桃 華 後、直 至 如 今 更 不 疑。溈 覽 偈、詰 其 所 悟、與 之 符 契。 – Thiền Sư Chí Cần ban đầu ở Quy Sơn, do thấy hoa đào mà ngộ đạo, có làm bài kệ: ›Ba mươi năm tìm trang kiếm khách, bao phen lá rụng lại đâm chồi. Từ khi nhìn thấy hoa đào nở, cho đến hôm nay chẳng còn nghi.‹ Quy Sơn xem kệ, hỏi lại chỗ ngộ của sư rồi cho rằng sư đã khế hợp.” Công án này phản ánh rõ tư tưởng nơi nơi đều có thiền, mọi việc đều là đạo. ● 逃 峯 赴 壑. Đứng núi này trông núi nọ. Nghĩa đen là bỏ đỉnh núi này để chạy đến hang núi khác, dụ cho hình thức tuy có thay đổi song nội dung thì giống nhau, và chưa buông bỏ được những gì cần buông bỏ. Tiết Hoa Tạng An Dân Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “眾 賣 華 兮 獨 賣 松、青 青 顏 色 不 如 紅。筭 來 終 不 與 時 合、歸 去 來 兮 翠 藹 中。可 笑 古 人 恁 麼 道、大 似 逃 峰 赴 壑、避 溺 投 火。爭 如 隨 分、到 尺 八 五 分 钁 頭 邊、討 一 箇 半 箇。雖 然 如 是、保 寧 半 箇 也 不 要。何 故?富 嫌 千 口 少、貧 恨 一 身 多。 – Mọi người bán hoa, ta bán tùng. Màu xanh chẳng bằng sắc đỏ hồng. Tính ra quả chẳng hợp thời lắm. Chi bằng về vui với cỏ xanh. Nực cười người xưa nói thế ấy, rất giống đứng núi này trông núi nọ, tránh chết chìm lại gặp chết cháy. Đâu bằng tùy phận, đến bên cây cuốc dài 1,2m, tìm lấy một người nửa người. Mặc dù như thế, Bảo Ninh (là pháp hiệu của Thiền Sư An Dân) nửa người cũng chẳng cần. Vì sao? Giàu chê ngàn miệng hãy còn ít, nghèo hận một thân đã quá nhiều”. ● 到 家. Đến nhà, dụ chỉ tỏ ngộ tự tâm. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q.29 ghi: “參 禪 要 悟 自 心、念 佛 亦 是 要 悟 自 心、入 門 雖 異、到 家 是 同。 – Tham thiền cần ngộ tự tâm, niệm Phật cũng cần ngộ tự tâm, vào cửa tuy khác, đến nhà thì giống nhau”. ● 倒 用 橫 拈. Tùy ý nói ra một cách tự tại, không chịu bất cứ một sự câu thúc nào; phần lớn chỉ cho thủ đoạn tiếp dẫn người học của các Thiền Sư cao minh, không bó buộc bởi một cách thức nào mà vẫn khế hợp với thiền chỉ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “自 非 有 明 眼 宗 師。見 處 分 明。行 處 穩 實。則 何 以 倒 用 橫 拈。得 大 總 持 爐 鞴 後 學。皆 成 法 器 耶。 – Tự mình chẳng phải là bậc tông sư mắt sáng, chỗ thấy rõ ràng, chỗ bước đi thật sự vững chắc thì làm sao có thể tùy ý nói ra một cách tự tại, được đại tổng trì, rèn đúc kẻ hậu học đều trở thành pháp khí?”. ● 倒 屣 門 迎. Vì gấp rút ra cửa để tiếp khách nên xỏ ngược dép. Mật Am Ngữ Lục ghi: “Lý thị lang nhập sơn, thượng đường: 幽 禽 噪 破 那 伽 定 便 見 文 星 入 寺 來 倒 屣 門 迎 開 笑 面 林 泉 陟 覺 起 風 雷 U cầm táo phá Na Già định Tiện kiến Văn tinh nhập tự lai Đảo lý môn nghênh khai tiếu diện Lâm Tuyền đẩu giác khởi phong lôi”. “Lý thị lang vào núi, thượng đường: Chim kêu khuấy phá Na Già định Liền thấy Văn tinh đến cửa thiền Xỏ ngược dép ra cười rạng mặt Suối rừng bất chợt nổi sấm rền”. ● 倒 一 說. Lời nói ngược. Chỉ cho đức Thích Tôn thuyết pháp 49 năm, kỳ thật không có nói một chữ. Tắc 15, Bích Nham Lục (Vạn Tục 117, 144 thượng) ghi: “僧 問 雲 門: 不 是 目 前 機。亦 非 目 前 事 時 如 何?門 云: 倒 一 說。 – Công án: Tăng hỏi ngài Vân Môn: Chẳng phải là cơ trước mắt, cũng chẳng phải sự việc trước mắt là như thế nào? Vân Môn đáp: Lời nói ngược”. ● 倒 退 三 千. Còn gọi: Thoái Đảo Tam Thiên. Thối lui ba ngàn dặm. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho cơ phong bén nhạy của bậc thầy, người học sợ, chẳng dám đương đầu và bỏ chạy. Phần Thùy thị của tắc 85, Bích Nham Lục q.9 (Đại 48, 210 trung) ghi: “坐 斷 天 下 人 舌 頭。直 得 無 出 氣 處。倒 退 三 千 里。是 衲 僧 氣 宇。 – Tự dưng làm líu lưỡi mọi người trong thiên hạ khiến họ không nói được và thối lui ba ngàn dặm, là phong thái của Thiền tăng”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 道 安. 1. Thiền tăng đời Minh (1340-1416), nối pháp Thiền Sư Tùng ẩn Nhiên, tông Lâm Tế. ● 2. Thiền tăng đời Thanh (1617-1688), họ Hồ, người xứ Tấn Giang (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vĩnh Giác. Sư có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 3. Tăng nhân hiện đại (1907-1977), người xứ Kỳ Dương, Hồ Nam, Trung Quốc. Sư lần lượt trụ trì các chùa: Chúc Thánh, Phần Sơn, Thiện Đạo, Huyền Trang. Tác phẩm: Trung Quán Sử Luận Cập Kỳ Triết Học, Càn Khôn Vạn Cổ Nhất Hoàn Nhân, Nhị Lực Thất Văn Tập. ● 道 隱. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Tử Lăng Khuông Nhất, tông Tào Động. ● 2. Thiền tăng đời Nguyên, hiệu Linh Sơn, người Hàng Châu, nối pháp Thiền Sư Tuyết Nham Tổ Khâm, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. ● 道 婆. Từ dùng để gọi các tăng nhân phái nữ, Sư cô. Tiết “Vong danh Đạo bà” trong NĐHN q.6 ghi: “溫 州 陳 道 婆、嘗 遍 扣 諸 方 名 宿、後 於 長 老 山 淨 和 尚 語 下 發 明。 – Sư cô họ Trần ở Ôn Châu, từng tham học với các bậc danh túc khắp nơi, sau ở nơi lời nói của Trưởng lão là Hòa Thượng Sơn Tịnh mà phát minh”. ● 道 霈 (1615-1702). Thiền tăng đời Thanh, họ Đinh, tự Vi Lâm, hiệu Lữ Bạc, Phi Gia Tẩu, người xứ Kiến An (nay là huyện Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền, tông Tào Động. Tác phẩm: Nhân Vương Bát Nhã Kinh Hợp Sớ 3 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Luận Toản Yếu 120 quyển, Lữ Bạc Am Cảo 4 quyển, Thiền Hải Thập Trân 1 quyển, Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Bỉnh Phất Ngữ Lục 2 quyển. ● 道 平 (?-1127). Thiền tăng đời Tống, họ Hứa, hiệu Phổ Dung, người xứ Tiên Đô, nối pháp Thiền Sư Đại Quy Mộ Triết, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Trí Hải ở Đông Kinh. ● 道 眞 (thế kỷ XVII). Thiền tăng đời Lê trung hưng, không rõ thuộc hệ phái nào tục danh Vũ Khắc Minh, người xã Gia Phúc, huyện Phúc Khê, Bắc Việt. Sư theo học với Hòa Thượng Đạo Long, người xã Thạch Lỗi, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Sư trụ trì chùa Pháp Vũ, cũng tên là chùa Thành Đạo, địa phương gọi là chùa Đậu (nay thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình). Sư còn để lại nhục thân được tôn thờ ở chùa Đậu. ● 道 舟 (1585-1655). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trịnh, tự Cổ Hàng, người xứ Tấn Giang (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nguyên Lai, tông Tào Động. ● 道 章 (1635-1734). Thiền tăng đời Thanh, họ Cố, tự Duyệt Phong, ban đầu tên Pháp Hiền, người xứ Tiền Đường (nay thuộc tỉnh Hàng Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nhật Bản Độc Trạm Tính Oánh. Tác phẩm: Duyệt Phong Thiền Sư Ngữ Lục 3 quyển. ● 道 具. Những đồ dùng mà người tu hành Phật đạo phải có đủ. Thông thường thì có 3 y, 6 vật, 18 vật, 101 vật… cũng là vật mà tăng ni mang theo bên mình. Theo Sắc Tu Bách ● 道 舊. Từ dùng để gọi bạn cũ trong nhà chùa. Như Tịnh Ngữ Lục ghi: “諸 方 道 舊 至、上 堂:。。。咦!大 家 顛 倒 舞 春 風、惊 落 杏 花 飛 亂 紅。 – Bạn cũ khắp nơi đến, sư thượng đường: … ổi! Mọi người múa loạn dưới gió xuân, sợ rụng hoa thơm bay bụi hồng”. ● 道 延 (?-922). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lưu, người xứ Trường Lạc (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch, tông Tào Động. Sư trụ Động Sơn, đời thứ 4. Thụy hiệu “Hồng Quả Đại Sư”. ● 道 融. Thiền tăng đời Tống, tự Cổ Nguyệt, nối pháp Thiền Sư Đồ Độc Trí Sách, tông Lâm Tế, phái Hoàng Long. Tác phẩm: Tùng Lâm Thạnh Sự 2 quyển. ● 道 余 錄. Lục, 1 quyển, do Diêu Quảng Hiếu (tức Đạo Diễn) soạn vào đời Minh, được xếp vào “Hàm Phân Lâu Bí Cấp”. Mục đích và ý chính của sách này nhằm phản bác lại luận thuyết bài xích Phật giáo của Lý học đời Tống, tác giả cho rằng “Do không nghiên cứu sách Phật nên chẳng biết chỗ uẩn áo của Phật”. Tác giả đứng trên lập trường Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông để triển khai phê bình các ông Trình Di, Trình Hạo và Chu Hy. ● 道 余 錄. Trượng Thanh Quy q. hạ có nêu ra 13 món đạo cụ là: ― Bay Quần ― Cây phất Tọa cụ ― Cây gậy Chuỗi ― Áo thiên sam Tích trượng ― Tịnh bình Áo trực chuyết ― Bát Đãi lọc nuớc ― Con dao ● 道 端. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Linh ẩn Thanh Tủng, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Quang Hiếu ở Hàng Châu. ● 道 獨 (1600-1661). Thiền tăng đời Thanh, họ Lục, hiệu Tông Bảo, biệt danh Không ẩn, người xứ Nam Hải (nay là Quảng Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Bác Sơn Vô Dị Nguyên Lai. Sư trụ các chùa: Trường Khánh, ứng Hồ, Giới Am, Hải Tràng. Tác phẩm: Trường Khánh Tông Bảo Độc Thiền Sư Ngữ Lục 6 quyển. ● 道 者. Người tu theo đạo Phật. Về sau, từ này được dùng để chỉ cho hành giả trong nhà Thiền hoặc những người vào chùa xin xuất gia nhưng chưa được cạo tóc. ● 道 覺 (1490-1568). Thiền tăng đời Minh, họ Trương, tự Thiên Chân, người xứ Kiến An (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Cổ Âm, tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Đẩu Phong ở Kiến Ninh (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. ● 道 楷 (1043-1118). Thiền tăng đời Tống, họ Thôi, người xứ Chiết Thủy (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh. Tác phẩm: Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư Ngữ Yếu 1 quyển. ● 道 簡 (868-950). Thiền tăng đời cuối Đường đầu Ngũ Đại, họ Lô, người Ích Dương (nay là huyện Trác, tỉnh Hà Bắc), Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Đạo Ưng, thuộc tông Tào Động đời thứ 3, trụ Vân Cư kế thừa sự nghiệp của Thầy . Đạo Giao ● 道 交. Căn lành của chúng sinh phát khởi gọi là Cơ. Tâm đại bi cảm lại gọi là ứng. Cơ ứng tương xứng gọi là Đạo giao. Pháp Hoa Văn Cú Ký q. 1, thượng (Đại 34, 155 thượng) ghi: “諸 佛 不 來、眾 生 不 往、機 應 相 稱、故 曰 道 交。 – Chư Phật chẳng đến, chúng sinh chẳng đi, cơ ứng tương xứng nên gọi là đạo giao”. ● 道 價. Còn gọi: Đạo Thanh. Danh tiếng về đạo pháp của nhà thiền. “Bài minh viết trên tháp” của Phụ Cát Tất trong Mật Am Ngữ Lục quyển cuối ghi: “自 此 道 價 益 喧。人 天 推 出。 – Từ đây danh tiếng đạo pháp của nhà thiền càng vang xa, trời người đều tôn sùng”. ● 道 行. 1. Thiền tăng đời Lý (?-1115), thuộc thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 12 tục danh Từ Lộ, người làng Yên Lãng, Bắc Việt Nam. Sư trụ trì chùa Thiên Phúc (chùa Thầy) ở núi Phật Tích (nay là núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Sơn Bình). Kệ thị tịch: 秋 來 不 報 雁 來 歸 冷 笑 人 間 暫 發 悲 爲 報 門 人 休 戀 著 古 師 幾 度 作 今 師 Thu lai bất báo nhạn lai quy Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi Vị báo môn nhân hưu luyến trước Cổ sư kỷ độ tác kim sư. “Thu về chẳng hẹn nhạn cùng bay Cười lạt người đời luống xót vay Thôi! Hỡi môn đồ đừng lưu luyến Thầy xưa mấy lượt hóa Thầy nay”. ● 2. Thiền tăng đời Đường (741-835), họ Mai, người xứ Cối Kê, Việt Châu (nay thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. ● 3. Thiền tăng đời Đường (752-820), họ Dương, người xứ Quế Dương (nay thuộc tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. ● 4. Thiền tăng đời Tống (1089-1151), họ Diệp, người đời thường gọi “Tuyết Đường”, người xứ Kiền Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Phật Nhãn Thanh Viễn, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Tác phẩm: Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Ngữ Lục, 1 quyển, Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Thập Di Lục, 1 quyển. 5. Còn gọi: Đạo Nghiệp. Chỉ cho sự tu hành Phật đạo. ● 道 恒 (?-991). Còn gọi: Đạo Thường. Thiền tăng đời Tống, họ Kha, người xứ Ngạc Châu nối pháp Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ núi Bách Trượng, Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. ● 道 和. 1. Thiền tăng đời Tống (1057-1124), họ Phan, người xứ Tiên Du (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thiện Bản, tông Vân Môn. ● 2. Thiền tăng đời Thanh (1634-1707), họ Phương, tự Hát Thiền, hiệu Tại Điềm, người xứ Hải Trừng (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Mộc Am Tính Oánh. Sư là người khai sáng chùa Thiện Phúc. ● 道 化. Giáo hóa bằng đạo pháp. Tiết Hoài Nhượng, đời thứ 1 dưới Đại Giám trong CTTNL ghi: “從 吾 向 後、勿 傳 此 衣、但 以 法 傳、若 傳 此 衣、命 如 懸 絲、惟 示 道 化。 – Từ đời ta trở về sau chớ truyền y này, chỉ dùng pháp truyền. Nếu truyền y này thì nguy đến tính mạng của người được trao cho, nên chỉ giáo hóa bằng đạo pháp”. ● 道 興. Thiền tăng đời Tống, vốn tên là Nguyên Tĩnh, về già đổi tên là “Đạo Hưng”. X. Nguyên Tĩnh. ● 道 希. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Phúc Châu, nối pháp Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị. Sư trụ viện Bạch Long nên người đời gọi sư là “Bạch Long Tổ Sư”. ● 道 熙. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển. Sư trụ viện Báo Ân ở Chương Châu (nay là huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. ● 道 欽. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Chiêu Khánh Đạo Khuông. Sư trụ núi Hưng Dương ở Sính Châu (nay là huyện Kinh Sơn, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. ● 2. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Thái Nguyên (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Thê Hiền ở Lô Sơn. X. Pháp Khâm. ● 道 匡 (900-966). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lý, người xứ Hồ Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Huệ Lăng ở Tuyền Châu. ● 道 堅. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Pháp An, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Thê Hiền ở Lô Sơn. ● 道 虔. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại (?-923), họ Lưu, người Phúc Châu, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. Người đời gọi sư là “Cửu Phong Kiền” vì sư trụ Cửu Phong ở Thụy Châu. Thụy hiệu “Đại Giác Thiền Sư”. ● 2. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Kê Sơn Chương, tông Tào Động. Sư trụ núi Song Tuyền, Tùy Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc), sau dời về viện Pháp Vân, An Châu (nay là huyện An Lục, tỉnh Hồ Bắc). ● 道 皎 (1298-1378). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Nguyệt Lâm Đạo Kiểu, vào niên hiệu Chí Trị thứ 2 (1322) sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Cổ Lâm Thanh Mậu, đời thứ 23 hệ Nam Nhạc, đời thứ 6 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Trường Phúc. ● 道 林. 1. Thiền tăng cuối Lê đầu Lý (?-1023), thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 16, nối pháp Thiền Sư Pháp Dung. Sư họ Tăng, quê ở Cửu Cao, Chu Diên, Việt Nam. Sư trụ trì chùa Long Vân, làng Siêu Loại, Long Phúc. ● 2. Thiền tăng đời Đường (741-824), họ Phan, tên Hương Quang, nối pháp Thiền Sư Tông Chiếu Đạo Khâm, tông Ngưu Đầu. Người đời thường gọi sư là “Điểu Khòa Hòa Thượng”, thụy hiệu “Viên Tu Thiền Sư”. ● 道 聯 (1346-1409). Thiền tăng đời Minh, họ Lục, tự Tổ Phương, hiệu Chuyết Dật Tẩu, người huyện Ngân (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Tác phẩm: Chuyết Dật Ngữ Lục. ● 道 隆 (1213-1278). Thiền tăng sống vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên, họ Nhiễm, tự Lan Khê, người xứ Bồi Lăng (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vô Minh Huệ Tính. ● 道 倫 (898-958). Thiền tăng đời cuối Đường đầu Ngũ Đại, họ Lô, người Tân Châu (nay là Tân Hưng, Quảng Đông), Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ trì viện Pháp Tướng ở Long Cảnh Sơn. Hiệu: Tán Thánh Đại Sư. ● 道 亮 (1608-1691). Thiền tăng đời Thanh, họ Trần, tự Trừng Nhất, người xứ Hàng Châu, nối pháp Bản Am Tính Đạo. ● 道 流. Từ dùng để gọi thiền nhân. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。眞 佛 無 形 眞 法 無 相。爾 只 麼 幻 化 上 頭 作 模 作 樣。設 求 得 者。皆 是 野 狐 精 魅。並 不 是 眞 佛。 – Đạo lưu! Chân Phật Vô Hình, Chân Pháp Vô Tướng, các ông chỉ muốn ở trên huyễn hóa làm dáng làm điệu, đủ thứ mong cầu, dẫu cho cầu được cũng là dã hồ tinh, chẳng phải là chân Phật”. ● 道 旻 (1047-1114). Thiền tăng đời Tống, họ Lê, người đời gọi là “Cổ Phật”, người xứ Tiên Du (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lặc Đàm ứng Can, tông Lâm Tế, phái Hoàng Long. Sư trụ Quán Khê, thụy hiệu “Viên Cơ Thiền Sư”. ● 道 忞 (1596-1674). Thiền tăng đời Thanh, họ Lâm, tự Mộc Trần, hiệu Sơn Ông Mộng ẩn, người xứ Triều Dương (nay thuộc Quảng Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Mật Vân Viên Ngộ, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Hoằng Giác Mân Thiền Sư Ngữ Lục 20 quyển, Tấu Thọ Lục 3 quyển, Bố Thủy Đài Văn Tập 32 quyển, Bắc Du Tập 6 quyển. ● 道 明 (630-718). 1. Còn gọi: Huệ Minh. Thiền tăng đời Đường, họ Trần, là cháu của Trần Tuyên Đế, người xứ Bà Dương (nay là huyện Ba Dương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, từng nhận tước “Tứ Phẩm Tướng quân” nên có hiệu là Tướng quân. Sư nối pháp Lục tổ Huệ Năng, trụ Bố Thủy Đài ở Lô Sơn, sau trụ Mông Sơn ở Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây). ● 2. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất, trụ Nam Nguyên ở Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân, Giang Tây). ● 3. Thiền tăng đời Đường, họ Trần, người đời thường gọi Trần Tôn Túc, nối pháp Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận. Lời dạy của sư rất hiểm hóc, khó lãnh hội, chỉ có bậc huyền học bén nhạy mới biết và khâm phục. Do sư đan giày cói để nuôi mẹ nên người đời thường gọi sư là “Trần Bồ Hài”. ● 道 吾 山. Núi nằm ở làng Tập Lý, cách Bắc thành huyện Lưu Dương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc 10km về phía bắc, là một nhánh trong dãy Mạc Phụ Sơn, cách mặt biển khoảng 800m. Vua Đường Văn Tông từng xuống chiếu chỉ xây dựng “Hộ Quốc Hưng Hoa Đại Thiền Tự” quy mô lớn, cảnh tượng hùng tráng, từng có: Liên Hoa Phật điện, Thủy Các hương đình, Phi khứ tháp, Long tỉnh, 100 gian phòng. Trong chùa thờ rất nhiều tượng Như Lai, Bồ tát Quan Âm, Quan thánh đế. Thiền Sư Tông Trí là Tổ khai sơn. Về sau, ngài Tuy Kỷ trùng tu lại chùa, nhưng theo năm tháng trôi đi, đến nay chẳng còn gì. ● 道 悟. 1. Thiền tăng đời Đường (738-819), họ Thôi, người xứ Chử Cung (nay là huyện Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Thường được gọi “Thiên Vương Đạo Ngộ” ● 2. Thiền tăng đời Đường (748-807), họ Trương, người xứ Đông Dương, Vụ Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên. Sư trụ chùa Thiên Hoàng ở Kinh Châu (nay là huyện Uông Lăng, tỉnh Hồ Bắc) nên được gọi là “Thiên Hoàng Đạo Ngộ”. ● 道 元. 1. Thiền tăng đời Tống, họ Đặng, hiệu Triệt Am, vốn tên là Ngũ Đẩu, người xứ Miên Châu (nay là huyện Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Viên Ngộ Khắc Cần, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Sư trụ trì chùa Chiêu Giác. ● 2. Còn gọi: Vĩnh Bình Đạo Nguyên (1200-1253). Tổ khai sáng phái thiền Tào Động, Nhật Bản, họ Nguyên, tên Hy Huyền. Sư xuất gia với ngài Lương Hiển ở núi Tỉ Duệ học tập giáo nghĩa Thiên Thai. Năm 1214 sư đến chùa Kiến Nhân ở Kinh Đô yết kiến ngài Vinh Tây. Năm 1223, sư cùng với ngài Minh Toàn (đệ tử của Vinh Tây) sang Trung Quốc, đến núi Thiên Đồng Tây Minh, lần lượt tham lễ các vị Vô Tế Liễu Phái, Triết Ông Như Diễm… nhưng không khế hợp. Sau đó, sư yết kiến ngài Trường Ông Như Tịnh, bỗng nhiên đại ngộ, được ngài ấn khả và trao ca sa, trúc bề, bạch phất, sách Bảo Cảnh Tam Muội, Ngũ Vị Hiển Quyết do ngài Phù Dung Đạo Giai truyền lại. Sau khi trở về Nhật Bản, sư đến Sơn Áo thuộc Việt Tiền, sáng lập chùa Vĩnh Bình, xiển dương thiền Tào Động, đề xướng pháp môn Chỉ quản đả tọa, đời sau gọi là phái thiền Mặc Chiếu. Thụy hiệu: Phật Tính Truyền Đông Quốc Sư, Thừa Dương Đại Sư. Tác phẩm: Chính Pháp Nhãn Tạng 95 quyển, Vĩnh Bình Thanh Quy 2 quyển, Học Đạo Dụng Tâm Tập, Vĩnh Bình Quảng Lục 10 quyển, Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi, Tùy Văn Ký.v.v… Thiền tăng đời Tống, nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Thừa Thiên Vĩnh An ở Tô Châu. Tác phẩm: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, 30 quyển. ● 道 義 (760-835). Thiền tăng đời Đường, họ Thôi, người nước Tân La (nay là Triều Tiên). Niên hiệu Hưng Nguyên thứ 1 (784) sư vào Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Tây Đường Trí Tạng và được ngài Hoài Hải trao cho Bách Trượng Thanh Quy. Năm 821 sư trở về nước, trụ Ca Trí Sơn và làm Tổ đời thứ 1 ở đây, thuộc hệ Nam nhạc đời thứ 4. ● 道 巘 (?-999). Thiền tăng đời Tống, họ Lưu, người xứ Lô Châu (nay là huyện Hợp Phì, tỉnh An Huy) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Quang Hiếu Huệ Giác. Sư trụ viện Trường Khánh ở Thăng Châu (nay là huyện Nam Kinh, tỉnh Giang Tô). ● 道 業. Sự nghiệp tu tập đạo pháp. Tiết “Bạch Dương Pháp Thuận Thiền sư” trong NĐHN q.20 ghi: “染 緣 易 就、道 業 難 成。 – Nhiễm duyên dễ theo, đạo nghiệp khó thành”. ● 道 顏 (1094-1164). Thiền tăng đời Tống, họ Tiên Vu, hiệu Vạn Am, người xứ Đồng Xuyên (nay là huyện Tam Thai, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo, tông Lâm Tế. Sư từng trụ các chùa: Tiến Phúc, Báo Ân, Bạch Dương, Đông Lâm. ● 道 閒. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Trường Khê (nay là huyện Hà Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Nham Đầu Toàn Khoát. ● 道 眼. 1. Sự thông suốt của mắt do tu đạo mà có. Còn gọi: Thiên nhãn thông; ● 2. Chỉ cho con mắt quán sát đạo. ● 道 寧. 1. Thiền tăng đời Tống, (1053-1113), họ Chú, người xứ Vụ Nguyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Tác phẩm: Khai Phúc Ninh Thiền Sư Ngữ Lục. ● 2. Thiền tăng đời Thanh (1598-?), họ Lý, hiệu Thể Tông, người xứ Lô Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Phá Sơn Hải Minh, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Vân Phong Thể Tông Ninh Thiền Sư Ngữ Lục, 1 quyển. ● 道 范. Phong độ của đạo pháp hoặc phong độ của nhà thiền. ● 道 丕. Thiền tăng đời Đường, người xứ Hồng Châu (nay thuộc huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng, tông Tào Động. Sư trụ viện Đồng An, núi Phong Thê, Hồng Châu. ● 道 怤 (868-937). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sau khi xuất gia, sư du phương đến đất Mân, tham vấn Tuyết Phong Nghĩa Tồn, rất được ngài xem trọng. Khi ra hoằng pháp, sư trụ chùa Cảnh Thanh, Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang). Ngô Việt Võ Túc Vương rất kính mộ, thỉnh sư trụ chùa Thiên Long và ban cho hiệu “Thuận Đức Đại Sư”. ● 道 溥. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trịnh, người xứ Phúc Đường (nay là huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư trụ núi Thùy Long, Tuyền Châu. ● 道 果. Quả báo thu được khi tu tập đạo nghiệp. Chương “Ma noa la, Tổ thứ 22” trong CĐTĐL q.2 ghi: “於 是 焚 香遙 語 月 氏 國 鶴 勒 那 比 丘 曰:汝 在 彼 國、教 導 鶴 眾、道 果 將 證、宜 自 知 之。 – Khi ấy sư đốt hương từ xa bảo Tỳ Kheo Hạc Lặc Na ở nước Nguyệt Thị rằng: Ngươi ở nước ấy, dạy dỗ bầy hạc chứng được đạo quả, nên tự biết đó”. ● 道 廣 (675-743). Thiền tăng đời Đường, họ Chu, người Sâm Châu, Hồ Nam, Trung Quốc. Sư là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng khi ngài về già. Sư tạm ngụ ở Nhân Thọ Đài (nay là chùa QuangVận thuộc thành phố Thiều Quan). Do đời sư có nhiều điều linh dị nên người đời gọi sư là Phật sống, vua ban thụy là Chứng Thệ Đại sư. ● 道 生. Thiền tăng đời Tống, hiệu Tào Nguyên, người Nam Kiếm Châu (nay là huyện Nam Bình, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Mật Am Hàm Kiệt, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Quy Phong ở Tín Châu (nay thuộc huyện Thượng Nhiêu, Giang Tây). Tác phẩm: Tào Nguyên Hòa Thượng Ngữ Lục, Tào Nguyên Sinh Thiền Sư Ngữ Yếu. ● 道 心 (thế kỷ XVII). 1. Thiền tăng đời Lê trung hưng, không rõ thuộc hệ phái nào, tục danh Vũ Khắc Trường, người xã Gia Phúc, huyện Phúc Khê (nay là thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, tỉnh Hà Sơn Bình) Việt Nam, cháu kêu Thiền Sư Đạo Chân bằng chú. Sau thay chú trụ trì chùa Đậu vào năm 1639. Sau khi thị tịch sư cũng để lại nhục thân và được tôn thờ ở chùa này. ● 2. Tâm tham ngộ đạo pháp. Minh Chân Tụng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q.18 ghi: “莫 教 一 念 嗔 起、滅 盡 無 邊 道 心。 – Chớ bảo rằng một niệm sân khởi lên là không hề gì. Nó có khả năng diệt hết đạo tâm rộng lớn đấy”. ● 道 濟. 1. Thiền tăng đời Tống (1148-1209) họ Lý, tên Tâm Viễn, tự Hồ ẩn, hiệu Phương Viên Tẩu, người xứ Lâm Hải (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Người đời thường gọi sư là “Tế Điên”, nối pháp Thiền Sư Hạt Đường Huệ Viễn, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. ● 2. Thiền tăng đời Minh (1487-1560), họ Trương, tự Pháp Chu, người xứ Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Cát Am Tộ, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Pháp Chu Ngữ Lục 3 quyển, Pháp Chu Hòa Thượng Thượng Ngữ 1 quyển. ● 道 齊. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại (929-997), họ Kim, người Hồng Châu (Nam Xương, Giang Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Thái Khâm ở viện Thanh Lương, thuộc tông Pháp Nhãn đời thứ 3, trụ chùa Vân Cư Sơn, Hồng Châu (tại huyện Vĩnh Tu, Giang Tây). Tác phẩm: Sưu Huyền, Niêm Cát, Đại Biệt. ● 2. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Kim Sơn Thiện Ninh, tông Vân Môn. Sư trụ chùa Lộc Uyển ở Tú Châu (nay thuộc huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang). ● 道 誠. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Báo Ân Huệ Minh, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Bảo Minh, Phúc Châu. Thụy hiệu “Thông Pháp Thiền Sư”. ● 道 成 (1352-1432). Thiền tăng đời Minh, họ Triệu, tự Thứu Phong, hiệu Tuyết Hiên, người xứ Bảo Định (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thu Giang Khiết, tông Tào Động. Tác phẩm: Đạo Thành Ngữ Lục. ● 道 盛 (1592-1659). Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, hiệu Giác Lãng, biệt hiệu Trượng Nhân, người xứ Phố Thành (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vô Minh Huệ Kinh, tông Tào Động. Tác phẩm: Phật Tổ Đạo Lưu Tán, Truyền Đăng Chính Tông, Thiên Giới Giác Lãng Thiền Sư Toàn Lục 33 quyển, Thiên Giới Giác Lãng Thiền Sư Gia Hòa Ngữ Lục 1 quyển. ● 道 琛. X. Định Thâm. ● 道 實 (1620-1692). Thiền tăng đời Thanh, họ Trịnh, tự Tính Nhất, nối pháp Thiền Sư ẩn Nguyên Long Kỳ, trụ trì chùa Trấn Hải. Tác phẩm: Huyễn Cư Thảo 1 quyển. ● 道 禪 (thế kỷ V). Thiền tăng thời Bắc thuộc người Giao Chỉ, sớm xuất gia lập hạnh tinh nghiêm, giới luật trong sạch, chẳng kém các bậc cao đức. Sư giảng dạy kinh điển rất thông, năm 483 đến kinh đô ở chùa Vân Cư Hạ tại Chung Sơn, Trung Quốc, vâng lệnh Vua điều khiển tăng chúng, nổi tiếng vì rộng dùng Luật Thập Tụng… Sư thích sống đạm bạc, miệng không bao giờ nói chuyện phù phiếm. Năm 527, sư mất ở chùa núi, thọ 70 tuổi. ● 道 樹 (734-825). Thiền tăng đời Đường, họ Văn, người xứ Đường Châu (nay thuộc huyện Bí Dương, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc, nối pháp Đại sư Thần Tú, Thiền Tông Bắc Tông. Sư cất am tranh trên núi Tam Phong, Thọ Châu (nay là huyện Thọ, tỉnh An Huy). ● 道 通 (731-813). Thiền tăng đời Đường, họ Hà, người xứ Lô Giang (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ núi Tử Ngọc. ● 道 收 (1634-1666). Thiền tăng đời Thanh, họ Lâm, tự Thao Huyền, hiệu Hiểu Đường, người xứ Hưng Hóa (nay thuộc huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Huệ Môn. ● 道 術. 1. Kỹ thuật của đạo pháp, là pháp thông cả nội ngoại, thế và xuất thế gian. ● 2. Chỉ cho các pháp thuật làm ra lúc cầu phúc, hàng ma, làm cho hết tai nạn… của Đạo giáo. ● 道 詮 (930-985). Thiền tăng đời Tống, họ Lưu, người xứ An Phúc, Kiết Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Diên Thọ Huệ Luân. Sư trụ viện Long Tế ở Cửu Phong. ● 道 常. X. Đạo Hằng ● 道 潛. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại (?-961), họ Vũ, người xứ Hà Trung (nay là huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Huệ Nhật Vĩnh Minh ở Hàng Châu. ● 2. Thiền tăng đời Tống, hiệu Tham Liêu Tử, nối pháp Thiền Sư Đại Giác Hoài Liễn, tông Vân Môn. Tác phẩm: Tham Liêu Tử Thi Tập 12 quyển. ● 道 信 (580-651). Vị Tổ thứ 4 của Thiền Tông Trung Quốc, họ Tư Mã, người xứ Hà Nội (nay là huyện Sấm Dương, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc, nối pháp Tam tổ Tăng Xán. Tổ trụ núi Song Phong. Đệ tử: Hoằng Nhẫn, Pháp Dung. Thụy hiệu “Đại Y Thiền Sư”. ● 道 全 (?-894). Thiền tăng đời Đường, họ Tuyên, người xứ Thường Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Động Sơn Lương Giới, tông Tào Động. Sư trụ Trung Sơn ở Tuyển Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc, nên được gọi là “Trung Sơn Hòa Thượng”. ● 道 宗 (1629-1709). Thiền tăng đời Thanh, hiệu Duyệt Sơn, người xứ Tấn Giang (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư ẩn Nguyên Long Kỳ. Tác phẩm: Nam Nhạc Duyệt Sơn Thiền Sư Ngữ Lục, Hoàng Bá Duyệt Sơn Thiền Sư Ngữ Lục. ● 道 存 (1660-1735). Thiền tăng đời Thanh, họ Thạch, tự Lôi Nham, hiệu Thạch Đầu Hòa Thượng, người xứ Giang Ninh, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thạch Liêm Sán, đời thứ 36 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì am Đào Hoa ở Dương Châu. ● 道 場. Đạo tràng có đến 6 nghĩa, đây nói 1 nghĩa theo Thiền Tông. Theo tông Lâm Tế, đạo tràng là nơi tu hành của chư tăng hành cước. ● 道 塲 寺. Chùa nằm trong núi Đạo Tràng (tên cũ là Vân Phong), phía Tây nam thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Trung Hòa (881-885) đời Đường, Như Nột sáng lập. Còn gọi là “Chân Chính Thiền Viện”, “Diệu Giác Tự”, “Hộ Thánh Vạn Thọ Tự”. ● 道 臻 (1014-1093). Thiền tăng đời Tống, họ Đới, tự Bá Tường, người xứ Cổ Điền (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Phù Sơn Pháp Viễn, tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Nhân Thánh, chùa Tịnh Nhân ở Đông Kinh (nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam). ● 道 澄 (1616-?). Thiền tăng đời Thanh, họ Dương, hiệu Không Cốc, người xứ Trung Nam (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Mẫn Thọ Như Tướng, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Tam Thánh ở Nội Giang (nay thuộc Tứ Xuyên). Tác phẩm: Không Cốc Đạo Trừng Thiền Sư Ngữ Lục 20 quyển. ● 道 遵 (895-976). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người Tương Đàm, Hồ Nam, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Văn Yển, làm truyền nhân tông Vân Môn đời thứ 2, trụ trì viện Thủy Tây Nam Đài, Đàm Châu (nay là Trường Sa, Hồ Nam). Thụy hiệu: Pháp Vân Đại Sư. ● 道 淵 (1400-1470). Thiền tăng đời Minh, họ Đậu, tự Long Thất, tên Nhật Bản là Long Thất Đạo Uyên, người xứ Ninh Ba, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Vĩnh Từ chùa Đông Minh, Nam Xương, Giang Tây, đời thứ 29 hệ Nam Nhạc, đời thứ 12 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Thiên Long. Tác phẩm Long Thất Quốc Sư Ngữ Lục. ● 道 膺 (848-902). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người xứ Ngọc Điền (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Động Sơn Lương Giới, tông Tào Động. Sư trụ chùa Chân Như ở núi Vân Cư nên người đời gọi Sư là “Vân Cư Đạo Ưng”. Thụy hiệu “Hoằng Giác Thiền Sư”. ● 道 位. Chỉ cho giai vị tu đạo, như 52 vị của Đại thừa Bồ tát: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác. ● 道 圓. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Thanh Thái ở Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. ● 道 望. Danh tiếng về thiền pháp. Tiết Hộ Thánh Cư Tĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.27 ghi: “年 十 四、禮 白 馬 安 慧 爲 師。聞 南 堂 道 望、遂 往 依 焉。 – Năm 14 tuổi, Sư lễ Bạch Mã An Huệ làm thầy. Sư nghe danh tiếng thiền pháp của ngài Nam Đường (là pháp hiệu của Thiền Sư Đại Tùy Nguyên Tĩnh), liền đi đến để y chỉ với Ngài”. ● 道 璨 (?-1271). Thiền tăng đời Tống, hiệu Vô Văn, người xứ Thái Hòa (nay thuộc tỉnh Giang Tây), Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tiếu Ông Diệu Kham, tông Lâm Tế, phái Đại Huệ. Sư trụ Tiến Phúc Thiền Tự ở Nhiêu Châu (nay là huyện Ba Dương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Tác phẩm: Vô Văn Ấn (Thi Văn Tập) 20 quyển. Vô Văn Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển. ● 道 昌 (1089-1171). Thiền tăng đời Tống, họ Ngô, hiệu Nguyệt Đường, người xứ Bảo Khê (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Diệu Trạm Tư Huệ. Sư trụ trì chùa Đại Cát, Quy Sơn, Tưởng Sơn, Kính Sơn, Linh ẩn. ● 道 川. Thiền tăng đời Tống, họ Địch, người xứ Ngọc Phong, Tô Châu, nối pháp Thiền Sư Đông Trai Khiêm, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Xuyên Lão Kim Cang Kinh Chú. ● 道 要. Yếu chỉ thiền pháp. Tiết Bác Sơn Hòa Thượng truyện trong NLQL q.35 ghi: “走 見 夀 昌、時 夀 昌 已 從 峨 峰 徒 寶 方 矣。語 次、頗 離 微 不 合、遂 居 寶 方、力 求 道 要。 – Sư chạy tìm Thọ Xương; khi ấy Thọ Xương đã từ Nga Phong dời sang Bảo Phương. Một hôm bàn luận thấy được thể dụng chẳng hợp, sư liền ở lại Bảo Phương, nỗ lực cầu yếu chỉ thiền pháp”. ● 答 香. Còn gọi: Hoàn Hương. Trong Thiền viện, khi có khách đến viếng, vào Thiền đường đốt hương cắm vào lư hương, ta cũng vì họ mà cắm hương. Đây là quy tắc trong Thiền viện. Theo PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 踏 破 草 鞋. Đi rách giày cỏ. Chỉ cho việc hành cước tham vấn các nơi của các thiền tăng. Tiết Trí Môn Quang Tộ Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “祇 如 四 種 叢 林、是 汝 諸 人 在 阿 那 箇 叢 林 裡 安 身 立 命?若 無 安 身 立 命 處、虛 踏 破 草 鞋、閻 羅 王徵 你 草 鞋 錢 有 日 在。 – Như có bốn hạng tùng lâm, các ông ở trong tùng lâm nào để an thân lập mạng? Nếu không có chỗ an thân lập mạng thì uổng công hành cước tham vấn, có ngày vua Diêm La sẽ tính tiền giày cỏ với ông”. ● 達. Thông đạt, lãnh ngộ. Chương “Nhất bát ca” trong CĐTĐL q.30 ghi: “直 語 向 君 君 未 達。更 作 長 歌 歌 一 鉢。 – Nói thẳng với anh anh chưa lãnh ngộ, lại làm trường ca ca về một bát.” ● 達 本 鄉. Về đến quê hương, dụ chỉ kiến tính minh tâm, nhận thức được lý tự tâm là Phật. Chương Thập Huyền Đàm trong CĐTĐL q.29 ghi: 勿 於 中 路 事 空 王 策 杖 還 須 達 本 鄉。 撒 手 到 家 人 不 識 更 無 一 物 獻 尊 堂 “Vật ư trung lộ sự Không Vương Sách trụ hoàn tu đạt bản hương… Tán thủ đáo gia nhân bất thức Cánh vô nhất vật hiến Tôn đường”. “Chớ thờ Không Vương ở giữa đường Chống gậy cần về đến quê hương… Buông tay đến nhà người chẳng biết Cũng không một vật hiến tôn đường”. ● 達 眞 (960-1020). Thiền tăng đời Tống, họ Khổng, tự Vân Đoan, người Lạc Xương, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Khế Bổn, làm truyền nhân tông Vân Môn đời thứ 4, trụ trì thiền viện Diên Thọ ở núi Bạch Vân, Thiều Châu. ● 達 剛 (1609-1669). Thiền tăng đời Thanh, họ Tiếu, hiệu Mật Nham, người xứ Trà Lăng (nay thuộc tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Sơn Tỳ Thông Tế, tông Lâm Tế. Sư cất chùa Tử Vân ở Bảo Khánh (nay thuộc huyện Thiệu Dương, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. ● 達 磨 門 下 四 神 足. Chỉ cho 4 vị: Đạo Phó, ni Tổng Trì, Đạo Dục, Huệ Khả. Chương Bồ Đề Đạt Ma trong CĐTĐL q. 3 (Đại 51, 219 trung) ghi: “達 磨 一 日 令 門 人 各 述 說 心 得。。。而 此 四 人 亦 因 之 被 稱 爲 達 磨 門 下 四 大 神 足、其 中 慧 可 即 後 來 之 禪 宗 二 祖。 – Một hôm, Tổ Đạt Ma bảo các vị học trò rằng mỗi vị hãy trình bày chỗ tâm đắc của mình. Họ đều lần lượt đưa ra kiến giải và bốn vị học trò này được gọi là Đạt Ma môn hạ tứ đại thần túc; trong ấy Huệ Khả là vị Tổ thứ hai của Thiền Tông Trung Quốc”. ● 達 岸 (918-978). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lương, tự Chí Tịnh, người xứ Khúc Giang (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc. Sư trụ chùa Bảo Quang. ● 達 如 (1761-1840). Thiền tăng đời Thanh, họ Hà, tự Hằng Trí, hiệu Chuyết Am, người xứ Nam Hải, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Liễu Nguyệt chùa Thiên Ninh, đời thứ 43 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Thiên Ninh. Tác phẩm: Chuyết Am Tập, Đạt Như Ngữ Lục. ● 達 觀1. Thiền tăng đời Tống (1138-1212), họ Triệu, hiệu Tức Am, người xứ Nghĩa Điểu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thủy Am Sư Nhất, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. ● 2. Thiền tăng đời Tống, hiệu Đàm Dĩnh. X. Đàm Dĩnh. ● 達 觀 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Trí Quân đời Ngũ Đại. X. Trí Quân. ● 達 士. Người thông đạt linh ngộ. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “達 士 相 逢。非 存 目 擊。若 云 言 中 有 響 句 裹 呈 機。猶 曲 爲 中 下 之 流。向 本 分 衲 僧。遠 之 遠 矣。 – Người thông đạt gặp gỡ, chẳng phải lưu lại để mục kích. Nếu nói rằng trong lời có tiếng vang, trong câu có cơ phong vẫn là phương tiện tiếp dẫn căn cơ trung hạ, đối với thiền tăng lão luyện thì còn cách xa lắm.” ● 達 尊 (1609-1664). Còn gọi: Nhĩ Chiêm. Thiền tăng đời Thanh, họ Đường, người Trịnh Huyện (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Sơn Tỳ Thông Tế, tông Lâm Tế. Sư trụ am Lục La ở Hành Sơn. Tác phẩm: Nhĩ Chiêm Tôn Thiền Sư Ngữ Lục 2 quyển. ● 達 位 (1618-1684). Thiền tăng đời Thanh, họ Cù, tự Thiện Quyền, người xứ Sở Bắc, nối pháp Thiền Sư Nguyệt Tràng Thiệt Liễu. Sư trụ chùa Vạn Thọ ở An Nam. Tác phẩm: Thiện Quyền Vị Thiền Sư Ngữ Lục, 2 quyển. ● 得. 1. Được, bị. Tiết “Thính tùng phong bố đại” trong Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “松 風 鳴、側 耳 聽。捫 腹 而 笑、賊 精 賊 精。咦!千 古 萬 古 得 人 憎。 – Gió tùng reo, hãy lắng nghe. Để tay lên bụng mà cười, khôn ghê, khôn ghê! ổi! Ngàn đời muôn đời bị người ghét”. ● 2. Đặt ở trước từ ngữ chỉ thời gian, biểu thị thời gian đã trải qua. Tiết “Bồ Đề Đạt Ma Hòa Thượng” trong Tổ Đường Tập q. 2 ghi: “自 魏 丙 辰 之 歲 遷 化、迄 今 壬 子 歲、得 四 百 一 十 三 年 矣。 – Từ năm Bính thìn đời Ngụy, Tổ thị tịch đến nay là năm Nhâm tý đã được 413 năm” ● 3. Biểu thị ngữ khí nghi vấn, tương đương với chẩm (= sao?). Tiết Trường Sinh Hạo Nhiên Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “師 以 手 拿 頭 曰:這 師 僧 得 恁 麼 發 人 業? – Sư lấy ôm đầu, nói: Ông tăng này làm sao mà người ta phiền não như thế?” ● 4. Lại, vậy mà. Tông Môn Võ Khố ghi: “寂 壽 道 人 乃 問 佛 果 云:此 外 有 何 方 便、令 某 甲 會 去?果 云:有 箇 方 便、不 是 心、不 是 佛、不 是 物?壽 於 此 有 省、乃 云:元 來 得 恁 麼 近。 – Tịch Thọ đạo nhân liền hỏi Phật Quả rằng: Ngoài cái này ra, còn có phương tiện nào khác khiến tôi hội được chăng? Quả đáp: Có phương tiện là chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật? Thọ ngay nơi lời này có tỉnh, liền nói: Té ra lại gần như thế!” ● 得 彬 (1002-1072). Thiền tăng đời Tống, họ Ngô, người Hóa Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối Pháp Thiền Sư Văn Tụ, làm truyền nhân tông Vân Môn đời thứ 5, trụ trì chùa Chính Giác, núi Đông Bình, Thiều Châu. ● 得 旨. Đạt được thiền pháp. Bích Nham Lục q.1 ghi: “時 韶 國 師 久 依 疏 山。自 謂 得 旨。乃 集 疏 山 平 生 文 字 頂 相。領 眾 行 腳。至 法 眼 會 下。 – Quốc sư Đức Thiều từ lâu nương Sơ Sơn, tự bảo đạt được thiền pháp, liền thu thập các văn tự, đảnh tướng của Sơ Sơn lúc còn sinh thời, rồi lãnh chúng hành cước đến đạo tràng của Pháp Nhãn.” ● 得 得. Riêng, chuyên, đặc biệt. Bích Nham Lục q.1 ghi: “達 磨 遙 觀 此 土 有 大 乘 根 器。遂 泛 海 得 得 而 來。單 傳 心 印。開 示 迷 塗。 – Tổ Đạt Ma từ xa xem thấy cõi này có căn khí đại thừa nên đặc biệt vượt biển mà đến, riêng truyền tâm ấn, khai thị những kẻ mê muội.” ● 得 當. Khế hợp thiền pháp. Tiết Huyền Sa Sư Bị trong NĐHN q.7 ghi: “還 有 凡 夫 諸 佛 麼?有 汝 心 行 麼?不 可 道 無 便 得 當 去 也。 – Lại nói: Thế thì thể tính kim cang có phàm phu, có chư Phật không? Có tâm hành của ông không? Có thể nói không gì mà chẳng khế hợp với thiền pháp.” ● 得 力 句. Lời nói then chốt để lãnh ngộ thiền pháp. Đây là lời nói siêu việt ngôn ngữ, nhà thiền cho rằng đây là lời nói không có cách gì để biểu đạt. Tiết Bách Linh Hòa Thượng trong NĐHN q.3 ghi: “一 日 與 龐 居 士 路 次 相 逢。問 曰:南 嶽 得 力 句、遇 曾 舉 向 人 也 無?士 曰:曾 舉 來。師 曰:舉 向 甚 麼 人?士 以 手 自 指 曰:龐 公。師 曰:直 是 妙 德、空 生 也 讚 歎 不 及。士 卻 問:阿 師 得 力 句、是 誰 得 知?師 戴 笠 子 便 行。士 曰:善 爲 道 路!師 更 不 回 首。 Một hôm sư gặp Bàng cư sĩ trên đường. Sư hỏi: Câu đắc lực của Nam Nhạc ông đã từng nêu ra cho người chưa? Cư sĩ đáp: Đã từng. Sư hỏi: Nêu ra cho người nào? Cư sĩ tự chỉ vào mình nói: Tôi đây. Sư nói: Đúng là Diệu Đức, Không Sinh cũng phải khen ngợi! Cư sĩ hỏi lại: Câu đắc lực của Thầy kẻ nào được biết? Sư đội nón lá bỏ đi. Cư sĩ nói: Đi đường bảo trọng nhé! Sư cũng không nhìn lại.” ● 得 恁 軟 頑. Đồ nhút nhát. Đây là lời trách mắng những vị tăng tu hành thiếu kém khí phách. Tắc 80, Thung Dung Lục (Đại 48, 278 trung) ghi: “牙 云:打 即 任 打、要 且 無 祖 師 意。(得恁軟頑!) – Long Nha nói: Đánh thì cứ đánh, nhưng vẫn không có ý Tổ sư. (Đồ nhút nhát!)”. ● 得 人 憎 處. Chỉ cho cảnh giới của người ngộ. Vì người đã ngộ có cái nhìn khác hẳn người thường, nên người thường dễ sinh lòng chán ghét họ. ● 得 一 望 二. Tuy đã sở hữu được một vật, nhưng chưa cho thế là đủ, trong lòng còn mong cầu một vật khác nữa. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho hạng người phàm phu tham lam mê tình không chán. ● 得 心 (518). Lãnh ngộ thiền chỉ. Tiết Thiên Hoàng Đạo Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “師 從 此 頓 悟。罄 殫 前 二 哲 匠(指 馬 祖 石 頭 二 位 禪 師)言 下 有 所 得 心。 – Sư từ đây đốn ngộ, hết lòng hầu hạ Mã Tổ, Thạch Đầu, ngay nơi lời nói sư lãnh ngộ được thiền chỉ.” ● 得 升 (1096-1169). Còn gọi: Đức Thăng. Thiền tăng đời Nam Tống, họ Hà, hiệu Ngoan Am, người xứ Hán Châu (nay là huyện Quảng Hán, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư xuất gia đắc giới ở ấp nhà. Ban đầu tu tập theo Thanh Văn, lâu ngày sinh chán nản liền đến yết kiến Thiền Sư Văn Thù Tâm Đạo, nhưng không khế hợp. Về sau, sư đến chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn thuộc đất Mân để tham vấn Trúc Am Sĩ Khuê, được ngài chấp nhận cho nối pháp, thuộc tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng thứ 25 (1155), sư nhậm chức trụ trì Thiền viện Chân Như trên núi Vân Cư. Hơn 10 năm nhậm chức, sư chỉ dùng vô vi mà an chúng, nghiêm khắc với bản thân, giữ vững thành quả của các vị Trụ trì trước như: Viên Ngộ Khắc Cần, Đại Huệ Tông Cảo… Số chúng thường trụ lên đến một, hai ngàn người, chẳng kém các đại đạo tràng ở phương nam. ● 得 坐 披 衣. Được ngồi mặc áo. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc tu hành một cách chân thật. Khai thị thiền nhân Chính Văn trong Thiên Mục Minh Bản Thiền Sư Tạp Lục (Vạn Tục 122, 375 thượng) ghi: “本 色 出 家 兒、須 得 坐 披 衣 乃 可 受 人 天 供 養。 – Bản phận của người xuất gia là phải chân thật tu hành mới đáng thọ nhận trời người cúng dường”. ● 得 意. Lãnh ngộ thiền ý. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q.7 ghi: “若 是 得 意 底 人、自 解 作 活 計、舉 措 悉 皆 索 索 底、時 常 恬 恬 底。 – Nếu là người lãnh ngộ thiền ý thì tự biết vận dụng thực tế thiền pháp. Mỗi hành động đều nhanh nhẹn dứt khoát, lúc nào cũng điềm tĩnh.” ● 特 地. 1. Trái lại, biểu thị ngữ khí chuyển chiết. Cảnh Thanh Đạo Mân Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “如 今 事 不 得 已、向 汝 道 各 自 驗 看 實 箇 親 切。既 恁 麼 親 切、到 汝 分 上 因 何 特 地 生 疏? – Hôm nay việc bất đắc dĩ, tôi nói với các vị mỗi người hãy tự nhìn lại cái thật gần gũi. Đã gần gũi như thế, trái lại đến phần các vị sao mà cách xa?” ● 2. Càng thêm. Tiết “Cổ Sơn Hòa Thượng” trong Tổ Đường Tập q.10 ghi: 直 下 猶 難 會、尋 言 轉 便 賒 擬 論 佛 與 祖、特 地 隔 天 涯 “Trực hạ do nan hội, Tầm ngôn chuyển tiện xa. Nghĩ luận Phật dữ Tổ Đặc địa cách thiên nhai” “Ngay đó còn khó hội, Tìm lời liền cách xa Định bàn Phật với Tổ Càng thêm cách chân trời”. ● 3. Cố tình theo ý riêng, thừa thải. Bài thơ “Đô tụng” của Thiền Sư Thường Tổng Chiếu Giác trong Kiến Trung Tịnh Quốc Kế Đăng Lục ghi: 清 涼 海 岸 休 他 覓、華 藏 峨 嵋 莫 外 尋 彈 指 圓 成 猶 特 地、那 堪 擬 議 隔 千 峰 “Thanh Lương hải ngạn hưu tha mịch, Hoa Tạng, Nga My mạc ngoại tầm, Đàn chỉ viên thành do đặc địa, Na kham nghĩ nghị cách thiên phong”. “Bờ biển Thanh Lương thôi hỏi kiếm Hoa Tạng, Nga My chớ tìm ngoài Phút chốc viên thành còn thừa thải Đâu cho do dự cách nghìn trùng”. ● 特 牛 生 兒. Trâu đực sinh con. Đặc ngưu là con trâu đực. Chỉ sự việc không thể có. Thiền Tông thường dùng câu “Ta có một câu, đợi khi nào trâu đực sinh con, thì ta sẽ nói cho ngươi nghe (我 有 句 子、待 特 牛 生 兒、即 爲 汝 說)” để tỷ dụ cho then chốt của Thiền mà chẳng rơi vào ngôn thuyên. ● 燈 頭. Tên gọi chức vụ của vị trông coi đèn đuốc trong Thiền viện. Điều Tứ Nhai Phường, Thủy đầu, Thán đầu, Hoa Nghiêm đầu trong Thiền Uyển Thanh Quy q.4 ghi: “菜 街 坊、衣 街 坊、水 頭、燈 頭(。。。)並 是 外 勸 檀 越 增 長 福 田、內 助 禪 林 修 持 道 果。 – Thái nhai phường, Y nhai phường, Thủy đầu, Đăng đầu (…), ngoài thì khuyến hóa đàn việt tăng trưởng phúc điền, trong thì trợ giúp chư tăng tu trì Đạo quả”. ● 登 溷. Vào nhà xí. Tông Môn Võ Khố ghi: “錢 弋 郎 中 訪 眞 淨、說 話 久、欲 登 溷、淨 令 行 者 引 從 西 邊 去。 – Quan Lang trung Tiền Dặc đến hỏi đạo ngài Chân Tịnh, bàn chuyện hồi lâu, ông muốn đi vào nhà xí. Tịnh sai hành giả dẫn ông đi từ bên phía tây”. ● 燈 來 (1614-1685). Thiền tăng đời Thanh, họ Tằng, tự Vi Độ, hiệu Tam Sơn, người xứ Điểm Giang (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thiết Bích Huệ Cơ, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Tam Sơn Lai Thiền Sư Ngữ Lục 16 quyển, Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu 3 quyển, Cao Phong Tam Sơn Thiền Sư sớ ngữ 3 quyển. ● 燈 錄. Gọi đủ: Truyền Đăng Lục. Sách có nội dung ghi chép về lịch sử truyền thừa thiền pháp. Mục đích của Đăng Lục là trình bày sự phát triển lịch sử Thiền Tông thông qua việc ghi chép ngôn hạnh của các nhân vật và việc sắp xếp các thế hệ truyền pháp theo thứ tự; thường chú trọng đến cơ ngữ và hành vi của Thiền Sư trong khi khải phát tiếp dẫn người học. Ví như bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên, nội dung gồm có: Quyển 1, 2: Ghi chép theo thứ tự: Bảy đức Phật, 28 vị Tổ ấn Độ, 6 vị Tổ Trung Hoa và các vị nối pháp thuộc dòng phụ của các Tổ Đạo Tín, Hoằng Nhẫn, Huệ Năng. Các quyển sau ghi chép về hai hệ phái lớn là Nam Nhạc và Thanh Nguyên. Dưới Nam Nhạc lại chia làm tông Quy Ngưỡng và tông Lâm Tế, dưới Thanh Nguyên còn chia làm tông Pháp Nhãn, tông Tào Động và tông Vân Môn. Dưới tông Lâm Tế còn chia làm 2 phái: Hoàng Long và Dương Kỳ. Các thế hệ được ghi chép theo thứ tự rõ ràng, chi phái sáng sủa, từ ấn Độ đến Trung Hoa (chú trọng về phần Trung Hoa), nói lên được nguồn gốc và sự phát triển Thiền Tông ngày càng nhiều thêm. Nhìn chung, các bộ Đăng Lục của nhà thiền có thể chia làm 6 loại như sau: 1. Loại ghi chung tất cả pháp thống, như: Ngũ Đăng Hội Nguyên, Tục Truyền Đăng Lục. Loại này xuất hiện rất sớm. 2. Loại nêu riêng tông chỉ, như: “Thủy Nguyệt Trai Chỉ Nguyệt Lục”, không chỉ trình bày rõ về lịch sử truyền thừa thiền pháp mà còn có ý muốn độc giả nhân xem sách này được kiến tính minh tâm. 3. Loại thiên về hệ phái, như “Nam Nhạc Đơn Truyền Ký” chuyên ghi về lời nói, hành vi của các Thiền Sư cùng thể hệ truyền thừa của tông Lâm Tế. “Động Thượng Tổ Hiến Lục” chuyên ghi về lịch sử phát triển, cuộc đời và pháp ngữ của các Thiền Sư thuộc tông Tào Động. 4. Loại thiên về nhân vật, như “Cư Sĩ Phần Đăng Lục” chuyên ghi chép về việc tu tập thiền pháp, sự trao truyền có căn cứ của hàng Cư sĩ. 5. Loại thiên về khu vực, như “Cẩm Giang Thiền Đăng” ghi chép về sự nghiệp, pháp ngữ, nguồn gốc và sự phát triển của việc truyền thừa của các Thiền Sư giáo hóa tại đất Thục hoặc sinh tại đất Thục mà giáo hóa nơi khác. 6. Loại thiên về gia phổ: Là loại Đăng Lục đặc biệt dùng đồ biểu để ghi lại hệ thống truyền thừa thiền pháp, như “Thiền Đăng Thế Phổ”, “Phật Tổ Tông Phái Thế Phổ”. Các bộ Đăng Lục không chỉ ghi chép về thiền tăng mà còn chép cả cư sĩ tại gia bao gồm những người có tiếng tăm trong xã hội như: các vị Đế vương, Tể tướng, văn sĩ… và phản ánh khách quan lịch trình phát triển của Thiền Tông, cũng như biểu hiện được tầm nhìn rộng rãi của Thiền tăng về xã hội nhân văn. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến học thuật và trứ thuật của đương thời và đời sau, như Chu Hy viết “Y Lạc Uyên Nguyên Lục” vào đời Nam Tống, Hoàng Tông Hi viết “Minh Nho Học Án” vào đời Minh và Vạn Tư Đồng viết “Nho Lâm Tông Phái” vào đời Thanh đều phỏng theo thể lệ các bộ Đăng Lục của Thiền Tông. ● 燈 籠. Cây đèn lồng đặt trong các tự viện để chiếu sáng ban đêm giúp chư tăng tới lui dễ dàng. Nó có thể được làm bằng gỗ, tre, mây, giấy v. v… và thường được đặt trên một cái trụ bằng gỗ hay gạch. Thiền Tông dùng từ Đăng lung để biểu thị cho vô tình hoặc phi tình. Nhưng khi ghép với từ Lộ trụ (cây cột) thì hàm ý chỉ cái trình hiện ra Bản lai diện mục, tức bản tướng biểu thị chân lý của vạn vật tự nhiên vô sinh diệt. Chương Truyền Ân Thiền sư trong CĐTĐL q.14 ghi: “僧 問:見 色 便 見 心、燈 籠 是 色、那 箇 是 心?師 曰:汝 不 會 古 人 意。曰:如 何 是 古 人 意?師 曰:燈 籠 是 心。 – Vị tăng hỏi: Thấy sắc liền thấy tâm. Đèn lồng là sắc, vậy cái gì là tâm? Sư nói: Ngươi không hiểu ý của Cổ nhân rồi. Tăng hỏi: Ý cổ nhân thế nào? Sư nói: Đèn lồng chính là tâm.” ● 燈 心 皂 角 鋪. Cửa hàng (tiệm) bán tim đèn, xà bông. Tạo giác: Tức cây Bồ Kết, trái của nó được dùng để chế thành chất liệu gội đầu, giặt đồ, giống như xà bông bây giờ) Tiết Trường Lô Thủ Nhân Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: 開 箇 燈 心 皂 角 鋪 日 求 升 合 度 朝 昏 只 因 風 雨 連 綿 久 本 利 一 空 愁 倚 門 “Khai cá đăng tâm tạo giác phố. Nhật cầu thăng họp độ triêu hôn Chỉ nhân phong vũ liên miên cửu, Bản lợi nhất không sầu ỷ môn”. “Tiệm tim đèn xà bông vừa mở Chỉ cần bán chác sống qua ngày. Cũng bởi gió mưa sụt sùi mãi Tựa của buồn trông sạch vốn lời”. ● 登 時. Ngay lúc đó, lúc bấy giờ. Tiết Ngũ Tiết Hòa Thượng trong NĐHN q.15 ghi: “後 有 人 舉 似 洞 山、洞 山 云:登 時 若 不 是 五 泄、大 難 得 承 當。雖 然 如 此、猶 涉 途 在。 – Về sau có người thuật lại với Động Sơn, Động Sơn nói: Ngay lúc đó nếu chẳng phải là Ngũ Tiết, rất khó nhận lấy. Mặc dù như thế, ông ta vẫn còn phải lặn lội (hành cước)!” ● 騰 騰. Tự tại vô vi. Tiết Thường Am Sùng Thiền Sư trong GTPĐL q.30 ghi: 有 時 向 日 岩 前 坐 有 時 乘 困 日 高 眠 不 學 禪、不 修 道 只 麼 騰 騰 恣 顛 倒。 “Hữu thời hướng nhật nham tiền tọa, Hữu thời thừa khốn nhật cao miên, Bất học thiền, bất tu đạo, Chỉ ma đằng đằng tứ điên đảo”. “Có khi cả đêm ngồi trước động Có khi mệt mỏi ngủ đến trưa Chẳng học thiền, chẳng tu đạo, Cứ muốn vô vi mặc điên đảo”. ● 騰 騰 和 尚. Thiền tăng Nhân Kiệm đời Đường phóng khoáng đồng ruộng ngoại thành, người đời gọi là “Đằng Đằng Hòa Thượng”. X. Nhân Kiệm. ● 騰 騰 兀 兀. Tùy ý tự nhiên, vô sự vô vi, có dáng điệu như người buồn ngủ. Phần Dương Ngữ Lục q. hạ ghi: “唯 有 隱 倫 高 趣 者、騰 騰 兀 兀 混 時 機。 – Duy có ẩn dật là thú thanh cao, tùy ý tự nhiên sống qua ngày”. ● 騰 騰 任 運. Tự tại vô vi, mặc tình tự nhiên. Tiết Đằng Đằng Hòa Thượng trong Tổ Đường Tập q.3 ghi: 晨 時 以 鬻 充 飢、仲 時 更 餐 一 頓 今 日 任 運 騰 騰、明 日 騰 騰 任 運。 “Thìn thời dĩ chúc sung cơ Trọng thời cánh san nhất đốn Kim nhật nhậm vận đằng đằng Minh nhật đằng đằng nhậm vận”. “Sáng sớm dùng cháo đỡ dạ, Giữa trưa lại ăn một bữa Hôm nay tự tại vô vi Ngày mai vô vi tự tại”. ● 等 閑. Rảnh rang, dễ dãi. CĐTĐL q.12 ghi: “諸 子、生 子 事 大、快 須 進 取、莫 爲 等 閑 業 識 茫 茫。 – Này các ngươi, sinh tử là chuyện lớn, hãy mau lo tiến thủ, đừng vì dễ dãi mà để nghiệp thức mù mịt”. ● 鄧 尉 山. Núi ở phía Tây nam thị trấn Quang Phúc, huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, nhân Thái úy Đặng Vũ đời Đông Hán ẩn cư núi này mà đặt tên. Trên núi trồng nhiều mai, lúc hoa nở rộ hương thơm bay khắp chốn, trông như biển tuyết nên còn gọi núi này là “Hương Tuyết Hải”. Khoảng niên hiệu Thiên Bảo (742-755) đời Đường sáng lập Thiên Thọ Thiền tự. Khoảng niên hiệu Bảo Hựu (1253-1258) đời Tống lại xây Thánh Ân Thiền am. Cuối đời Nguyên chùa hủy, am còn. Đầu đời Minh có Thiền Sư Vạn Phong khai san thuyết pháp tại đây, từ đây cổ đức hướng về đều truyền pháp tông Lâm Tế, sinh khởi các bậc long tượng cho thiền môn. Hiện còn Thiên Thọ Thánh Ân tự. ● 鄧 尉 山 聖 恩 寺 志. Chí, 18 quyển, do Chu Vĩnh Niên soạn vào đời Minh. Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) đời Minh, Thẩm Nhuận Khanh soạn “Đặng Úy Sơn Chí”. Khoảng niên hiệu Sùng Trinh (1628-1644), Chu Vĩnh Niên đem bộ chí của họ Thẩm bổ sung thêm và biên tập thành “Đặng Úy Sơn Thánh Ân Tự Chí”, chia làm 22 mục, lấy nhân vật, nghệ văn làm chính. Sau đó từng được biên tập thêm các sự kiện xảy ra trong khoảng niên hiệu Thuận Trị và Khang Hy (1644-1722). Sau niên hiệu Khang Hy chưa nghe ai biên chép tiếp tục bộ chí này. Năm 1930, vị Trụ trì chùa Thánh Ân là Trung Thứ căn cứ vào bản in vào niên hiệu Sùng Trinh đời Minh đến Khang Hy đời Thanh mà ảnh ấn (in chụp), và được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập1. ● 兜. Gõ, đánh, vỗ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “廁 坑 籌 子 〖⿰孛〗。入 諸 人 八 萬 四 千 毛 竅 裏。觸 著 五 臟 神。惡 發 連 兜 兩 掌。直 得 血 濺 梵 天。 – Những que cứt trong nhà xí ùn ùn chui vào trong tám mươi bốn ngàn lỗ chân lông của các ông, đụng nhằm Thần ngũ tạng liền nôn ra, hai tay vỗ liên tục đến nỗi máu bắn tung toé đến Phạm Thiên.” ● 頭 (k. ng). 1. Hậu tố danh từ: a) Tiếp sau từ căn danh từ, như: Thạch đầu: đá, Cốt đầu: xương, Thiệt đầu: lưỡi, Xích đầu: thước, Quán đầu: hộp, Miêu đầu: mạ, Lộ đầu: con đường; b) Tiếp sau từ căn động từ: Niệm đầu: ý nghĩ, Khấu đầu: tiền khấu trừ, Tiếp đầu nhi: chỗ tiếp nối, Thính đầu nhi: chỗ đáng nghe; c) Tiếp sau từ căn hình dung từ: Hữu chuẩn đầu: có chỗ đúng, Thường liễu điềm đầu nhi: nếm vị ngọt. ● 2. Hậu tố phương vị từ: Thượng đầu: trên, Hạ đầu: dưới, Tiền đầu: trước, Hậu đầu: sau, Lý đầu: trong, Ngoại đầu: ngoài. ● 3. Đồng hành ngữ, biểu thị các chức vụ của chư tăng tại thiền viện: Mễ đầu: Người coi sóc việc xay xát lúa gạo; Thủy đầu: Người coi sóc việc gánh nước; Sài đầu: Người coi sóc việc bổ củi; Điền đầu: Người coi sóc việc làm ruộng; Khố đầu: Người coi sóc việc kho lẫm; Dũng đầu: Người coi sóc việc chế tạo thùng chứa nước; Dục đầu: Người coi sóc việc tắm rửa; Tịnh đầu: Người coi sóc việc quét dọn; Cung đầu: Người coi sóc việc cung cấp nhu yếu phẩm; Viên đầu: Người coi sóc việc trồng rau; Hỏa đầu: Người coi sóc việc bếp núc; Phạn đầu: Người coi sóc việc nấu cơm. ● 投. Tìm đến, trước khi, sắp sửa. Tiết Trường Lô Đạo Hòa Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “不 許 夜 行、投 明 須 到。意 旨 如 何? – Không cho đi đêm, trước khi trời sáng phải đến, ý chỉ như thế nào?” ● 投 機. Còn gọi: Đậu Cơ. Ăn ý thiền cơ, khế ngộ thiền pháp. Tiết Huệ Hải Nghi Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “大 迦 葉 靈 山 會 上、見 佛 拈 華、投 機 微 笑。 – Trong hội Linh Sơn ngài Đại Ca Diếp thấy Phật giơ cành hoa, khế ngộ thiền pháp liền mỉm cười.” ― Đầu cơ kệ: Qua sự khải phát của bậc Thầy, người học nhân đó mà khai ngộ. Về sau, người ấy đem chỗ cảm ngộ vào lúc đó biểu thị ra bằng bài kệ. Bài kệ này được gọi là Đầu cơ kệ. ― Đầu cơ tụng: Bài tụng được làm ra nhằm biểu thị tâm cảnh triệt để đại ngộ của người học khế hợp với yếu cơ của Phật Tổ. Trong các tự viện Thiền Tông từ xưa đến giờ, có thể thấy rất nhiều loại Đầu cơ kệ, Đầu cơ tụng trong các sách Thiền như: Tổ Đường Tập, Chỉ Nguyệt Lục, Chư Truyền Đăng Lục. Có thể cường điệu rằng đây là một điểm nổi bật của văn học Thiền Trung Quốc. Theo: Nhân Thiên Nhãn Mục quyển 2. ● 頭 頭. Mọi việc, mọi nơi, tất cả. Phần “Tụng Vân Môn Tam ngữ cú – Hàm cái càn khôn” của Đức Sơn Duyên Mật phụ lục trong quyển cuối sách Vân Môn Quảng Lục q.hạ ghi: “乾 坤 并 萬 象、地 獄 及 天 堂、物 物 皆 眞 現、頭 頭 總 不 傷。 – Đất trời cùng vạn vật, địa ngục với thiên đường, mọi vật đều từ chân tâm hiện ra, tất cả hoàn toàn chẳng gây trở ngại.” ● 頭 頭 是 道. Ý nói mỗi chỗ đều có đạo pháp, mọi việc hiển bày thiền cơ. Bích Nham Lục q.1 ghi: “至 道 無 難 言 端 語 端 一 有 多 種 二 無 兩 般。雖 無 許 多 事 天 際 日 上 時 月 便 下、檻 前 山 深 時 水 便 寒。到 這 裏 言 也 端 語 也 端、頭 頭 是 道 物 物 全 眞、豈 不 是 心 境 俱 忘、打 成 一 片 處? – ›Chí đạo không khó, ngôn ngữ vẫn đúng, một có nhiều thứ, hai không hai loại‹, câu này dạy người không nên nhiều việc khi mà ở chân trời mặt trời mọc mặt trăng lặn, khi mà ở trước thềm núi sâu suối lạnh. Đến cảnh giới ấy, lời cũng đúng, nói cũng đúng, mỗi chỗ đều có đạo pháp, vật vật toàn chân, há chẳng phải công phu tâm cảnh đều quên, nhồi thành một khối?‹”. ● 頭 角 生. Trên đầu mọc sừng. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc khởi lên ý niệm phiền não, hoặc phàm phu khởi tâm “hữu sở đắc”. Tắc 95, Bích Nham Lục (Đại 48, 218 thượng) ghi: “有 佛 處 不 得 住。住 著 頭 角 生。無 佛 處 急 走 過。不 走 過。草 深 一 丈。 – Phần lời dẫn: Chỗ có Phật chẳng được dừng lại, nếu dừng lại thì trên đầu mọc sừng. Chỗ không có Phật hãy chạy qua cho mau, nếu chẳng chạy mau thì cỏ mọc dày một trượng”. ● 頭 首. Trong Thiền viện, chức sự tăng được chia làm hai ban đông tây; những vị đứng đầu ban Tây gọi là Đầu thủ. Tông Môn Võ Khố ghi: “洪 州 奉 新 縣 慧 安 院 門 臨 道 左。衲 子 往 還 黃 龍 泐 潭 洞 山 黃 蘗 無 不 經 由。偶 法 席 久 虛。太 守 移 書 寶 峰 眞 淨 禪 師。命 擇 人 主 之。頭 首 知 事 耆 宿 輩 皆 憚 其 行。時 有 淵 首 座。向 北 人 孤 硬 自 立。參 晦 堂 眞 淨。實 有 契 悟 處。泯 泯 與 眾 作 息。人 無 知 者。聞 頭 首 知 事 推 免 不 肯 應 命。白 眞 淨 曰。惠 淵 去 得 否。眞 淨 曰。汝 去 得。 – Viện Huệ An nằm ở bên trái đường Môn Lâm, huyện Phụng Tân, Hồng Châu. Chư tăng muốn đến núi Hoàng Long, Lặc Đàm, Động Sơn, Hoàng Bá không thể không đi ngang đó. Bất chợt thấy ngôi đạo tràng nầy từ lâu không có người coi sóc nên viên Thái thú liền gửi công văn đến Thiền Sư Chân Tịnh ngỏ ý này với đại chúng thì các bậc kỳ túc, Thủ tọa, Tri Sự đều sợ phải hành đạo nơi ấy. Lúc đó có Thủ tọa Uyên là người phương Bắc, tính tình cứng cỏi thích tự lập, tham vấn các ngài Hối Đường, Chân Tịnh đã có chỗ khế ngộ, nhưng khi cùng chúng sinh hoạt sư vẫn giấu kín nên không ai biết. Sư nghe các vị Đầu thủ, Tri Sự từ chối chẳng vâng lời ngài Chân Tịnh đi trụ trì, sư liền thưa với ngài: Huệ Uyên đi được chăng? Chân Tịnh nói: Ngươi đi được.” ● 頭 上 安 頭. Còn gọi: Tuyết Thượng Gia Sương (trên tuyết thêm sương). Trên cái đầu sẵn có đặt thêm một cái đầu khác nữa. Ý nói làm việc trùng lặp, quá dư, không cần thiết. Tắc 34, Bích Nham Lục (Đại 48, 173 thượng) ghi: “白 雲 重 重 (千 重 百 匝。頭 上 安 頭)。 – Mây trắng lớp lớp. (Trăm vòng ngàn lớp, trên đầu đặt thêm đầu!)”. ● 投 子 大 同 禪 師 語 錄. Còn gọi: Từ Tế Thiền Sư Ngữ Lục, Đầu Tử Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Đầu Tử Đại Đồng soạn vào đời Đường, được biên định vào niên hiệu Kiến Long thứ 2 (961) đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 118, trang 620. Nội dung gồm: Những Ngữ Yếu thị chúng, thượng đường của Thiền Sư Đại Đồng ở viện Tịch Trụ, núi Đầu Tử, huyện Đồng Thành, Thư Châu. Các Ngữ Yếu của Thúy Vi tham vấn với sư. Những cơ phong vấn đáp của sư với các vị: Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Triệu Châu Tùng Thẩm, Thái thú Y Kiến Phong. ● 投 子 義 青 禪 師 語 錄. Còn gọi: Thư Châu Đầu Tử Thanh Thiền Sư Ngữ Lục, Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Lục, Diệu Tục Đại Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Đầu Tử Nghĩa Thanh soạn vào đời Tống, Tự Giác Trọng biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 124, trang 479. Nội dung gồm có: Ngữ Lục ở Thiền viện Hải Hội núi Bạch Vân, Ngữ Lục ở Thiền viện Thắng Nhân núi Đầu Tử, Sư đáp 10 câu hỏi của Đồng Lâm, Bài tựa Ngũ Vị Tụng, Bài vè về Ngũ Vị Thiên Chính, Tứ Tân Chủ, kệ, 100 tắc công án tụng cổ. Ngoài ra còn có Thư Châu Đầu Tử Sơn Diệu Tục Đại Sư Ngữ Lục của Đạo Giai biên tập 1 quyển, còn gọi là Đầu Tử Nghĩa Thanh Thiền Sư Ngữ Lục. Sách này chỉ gom chép 25 điều Ngữ Yếu thượng đường thị chúng và 1 thiên “Nghĩa Thanh lược truyện” do Đan Hà Tử Thuần soạn. ● 投 子 山. Núi nằm ở huyện Tiềm Sơn tỉnh An Huy, Trung Quốc. Đời Đường, Tống, nơi này gọi là Thư Châu. Trong núi có chùa Đầu Tử, Thiền Sư Đại Đồng ở đây vào đời Đường, cử dương tông phong hơn 30 năm. Niên hiệu Hy Ninh thứ 8 (1075) đời Tống, Thiền Sư Nghĩa Thanh ở viện Thắng Nhân trong núi nầy, hết sức cử dương tông phong Tào Động; vào niên hiệu Nguyên Phong thứ 6 (1083), sư thị tịch ở núi nầy. Đời Tống còn có Thiền Sư Liễu Minh ở đây. ● 頭 鼻. Dụ cho nguyên tắc của sự lý. ● 斗 搆. Xoi mói sinh sự. Nguyên Hiền Quảng Lục q.30 ghi: “白 雲 端 初 住 九 江 承 天、圓 通 訥 讓 圓 通 居 之、而 自 退 居 西 堂。久 之、群 小 斗 搆 其 間、訥 不 能 忍、頗 訴 于 客。群 小 遂 謂 訥 不 堪 寂 寞、有 復 住 圓 通 之 意、端 乃 辭 而 去 之。 – Bạch Vân Đoan ban đầu ở Thừa Thiên thuộc Cửu Giang, Viên Thông Nột nhường Viên Thông cho Đoan ở, rồi tự lui về Tây Đường. Dần dà, Quần Tiểu xoi mói sinh sự, Nột không nhịn nổi bèn tố cáo với khách. Quần Tiểu cho rằng Nột không chịu được cảnh vắng vẻ, có ý trở về Viên Thông, Đoan bèn từ biệt mà đi”. ● 斗 諜. Đặt ra lời giềm pha. Tông Môn Võ Khố ghi: “五 祖 演 和 尚。依 舒 州 白 雲 海 會 端 和 尚。咨 決 大 事 深 徹 骨 髓。端 令 山 前 作 磨 頭。演 逐 年 磨 下 收 糠 麩 錢 解 典 出 息。雇 人 工 及 開 供。外 剩 錢 入 常 住。每 被 人 於 端 處 鬥 諜 是 非 云。演 逐 日 磨 下 飲 酒 食 肉。及 養 莊 客 婦 女。一 院 紛 紜。 – Hòa Thượng Ngũ Tổ Pháp Diễn theo Hòa Thượng Bạch Vân Thủ Đoan học hỏi giải quyết đại sự, thâm triệt cốt tủy. Thủ Đoan sai sư làm người trông coi việc xay lúa phía trước núi. Mỗi năm Pháp Diễn lấy tiền bán cám để trừ nợ thu hoạch, trả tiền nhân công và các chi phí khác, tiền còn dư thì nhập vào thường trụ. Thường bị người ở chỗ Thủ Đoan đặt lời giềm pha thị phi rằng: Pháp Diễn mỗi ngày thường lấy tiền cám để uống rượu ăn thịt và nuôi dưỡng phụ nữ trong làng, làm cả viện xôn xao.” ● 斗 合 禪. Thiền ngữ linh hoạt tập hợp ý riêng biệt của cả hai bên. Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q.10 ghi: “明 朝 索 上 堂、升 座 便 喚 師、師 便 出 來。和 尚 云:昨 夜 事、大 眾 却 疑 你 道、兩 箇 老 漢 預 造 斗 合 禪。你 既 有 見 處、大 眾 前 道 得 一 句 話。 – Hòa Thượng Minh Triêu Sách thượng đường, lên tòa liền gọi sư. Sư bước ra. Hòa Thượng bảo: Chuyện hôm qua, đại chúng còn nghi lời ông nói. Cho rằng: Hai lão già đã sắp đặt Thiền ngữ linh hoạt dung hợp ý kiến của cả hai bên. Nếu ông kiến tính thì hãy nói một câu trước mặt đại chúng xem!”. ● 斗 額. Gặp nhau, đối mặt nhau. Tiết Vân Phong Văn Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “古 佛 與 露 柱 相 交、佛 殿 與 燈 籠 斗 額。 – Cổ Phật cùng cột cái xen nhau, điện Phật cùng lồng đèn đối nhau”. ● 斗 湊. Tập hợp, tụ tập. Mật Am Ngữ Lục ghi: “解 夏、上 堂:一 箇 葫 蘆 才 倒 地、滿 地 葫 蘆 盡 傾 倒。欲 識 單 傳 直 指 禪、今 日 斗 湊 得 恰 好。 – Giải hạ, thượng đường nói: Một chiếc hồ lô vừa lật ngã, mọi chiếc hồ lô đều lật ngã. Muốn biết Thiền trực chỉ đơn truyền, hôm nay tụ tập rất đúng lúc”. ● 抖 擻. Kể chuyện. Mật Am Ngữ Lục ghi: “平 生 敗 闕 處、盡 性 抖 擻 了 也。 – Cả đời lận đận, tận tình kể ra hết rồi”. ● 抖 擻 眉 毛. Còn gọi: Trát thượng my mao, Dịch khởi my mao. Có ba nghĩa: 1. Suy nghĩ một chút. Ngũ Đăng Hội Nguyên q.15 ghi: “若 論 此 事、眨 上 眉 毛、早 是 蹉 過。 – Luận về việc này, nếu có một chút suy nghĩ là sớm đã vượt qua”. ● 2. Phấn chấn lên. Tổ Đường Tập q. 10 ghi: “何 不 抖 擻 眉 毛、著 些 子 精 彩 耶? – Sao chẳng phấn chấn lên để xuất sắc hơn một chút?”. ● 3. Dựng đứng lông mày, hàm nghĩa phấn chấn tinh thần. Đây là lời Thiền Sư quen dùng. Thung Dung Am Lục q.1 ghi: “抖 擻 眉 毛、昂 藏 鼻 孔。 – Dựng đứng lông mày, phập phồng lỗ mũi”. ● 抖 擻 屎 腸. Vắt óc suy nghĩ, vắt óc tìm mọi cách. Đây là lời nói thô tục. Tông Môn Võ Khố ghi: “婆 子 詬 罵 曰:雪 竇 抖 擻 屎 膓、說 禪 爲 爾、爾 得 恁 麼 辜 恩 負 德。 – Bà già mắng rằng: Tuyết Đậu đã tìm mọi cách nói thiền để tiếp dẫn người, vậy mà người cô phụân đức thế ấy”. ● 逗. 1. Đi đến, đến tận nơi. Tiết Thiêm Phán Lưu Kính Thần cư sĩ trong NĐHN q.16 ghi: “熟 睡 至 五 鼓、覺 來 方 追 念 問、見 種 種 異 相、表 裡 通 徹、六 根 震 動、天 地 回 旋、如 雲 開 月 現、喜 不 自 勝。忽 憶 韶 山 臨 別 所 囑 之 言、姑 抑 之。逗 明 趨 智 海、悉 以 所 得 告。 – Ông ngủ vùi một giấc đến canh năm, tỉnh dậy liền nhớ lại câu hỏi, thấy các thứ tướng lạ, trong ngoài thông suốt, sáu căn rung động, đất trời xoay chuyển, như mây tan trăng hiện, vui mừng quá đỗi, ông liền đi đến ngài Minh Xu Trí Hải đem hết sở đắc trình với ngài.” ● 2. Ăn khớp, phù hợp. Tiết Vân Cư Đạo Ưng Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “將 有 限 身 心 向 無 限 中 用、如 將 方 木 逗 圓 孔、多 少 誵 訛。 – Đem thân tâm hữu hạn để dùng vào việc vô hạn giống như muốn cho cây vuông ăn khớp với lỗ tròn, thật là lầm lẫn biết bao!” Tiết Khai Nguyên Tử Kỳ Thiền Sư trong NĐHN q.17 ghi: “五 祖 演 禪 師 命 分 座、室 中 垂 語 曰:一 人 有 口、道 不 得 姓 字 爲 誰?後 傳 至 東 林、總 禪 師 歎 曰:琦 首 座 如 鐵 山 萬 仞、卒 難 逗 他 語 脈。 – Thiền Sư Ngũ Tổ Diễn vâng lệnh phân tòa (để thuyết pháp), Tử Kỳ ở trong thất rủ lòng dạy rằng: ›Một người có miệng mà nói chẳng được chữ Tính (họ) là ai‹. Sau đó, lời nói này được truyền đến Đông Lâm, Thiền Sư Tổng khen rằng: Thủ tọa Tử Kỳ như núi sắt muôn trượng, rốt cuộc khó mà phù hợp với câu nói của ông ta.” ● 逗 湊. Tụ tập, góp nhặt. Tiết “Thư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham” trong HSLNMDT q.1 ghi: “如 此 深 觀、凡 一 念 起、決 定 就 要 勘 他 箇 下 落、切 不 可 輕 易 放 過、亦 不 可 被 他 瞞 昧、如 此 做 工 夫、稍 近 眞 切。除 此 之 外、別 扯 玄 妙 知 見 巧 法 來 逗 湊、全 沒 交 涉。 – Quan sát sâu xa như thế, hễ một niệm khởi lên phải quyết định tìm cho ra tăm tích của nó, cấp thiết không được khinh thường bỏ qua, cũng không thể bị nó dối gạt. Tu hành như thế chút ít được gần rõ ràng xác thực. Ngoại trừ việc này, chớ nên tụ tập nói về xảo pháp tri kiến huyền diệu, hoàn toàn không dính dáng.” ● 逗 接. Tiếp dẫn. Tựa của Pháp Anh trong TĐSU ghi: “後 達 磨 五 百 年 而 生 雲 門、隨 機 應 問、逗 接 來 學。 – Sau Đạt Ma 500 năm mới sinh Vân Môn, tùy cơ trả lời tiếp dẫn người học.” ● 提 撕. 1. Nêu lên, đưa ra, khêu gợi. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “問:舉 步 涉 千 溪、尋 源 轉 路 迷。箇 中 一 句 子、請 師 方 便 爲 提 撕。師 云:千 年 無 影 樹、今 日 見 枝 柯。若 不 伸 此 問、爭 得 見 師 機。 – Hỏi: Cất bước vượt ngàn khe, tìm nguồn chuyển nẻo mê, một câu nói trong đây, thỉnh sư phương tiện nêu ra! Sư đáp: Ngàn năm cây không bóng, hôm nay thấy được cành, nếu chẳng đưa ra câu hỏi này, đâu thấy được cơ của sư?” ● 2. Đề khởi, tham cứu. Vô Môn Quan ghi: “參 箇 無 字、晝 夜 提 撕、莫 作 虛 無 會、莫 作 有 無 會。 – Tham một chữ Vô ấy, ngày đêm đề khởi, chớ có hiểu như hư vô, chớ có hiểu như hữu vô”. ● 提 唱. Đưa ra tông chỉ thiền pháp hoặc cơ duyên công án rồi thêm phần trình bày, bình luận. Minh Giác Ngữ Lục ghi: “提 唱 佛 祖、抑 揚 古 今。 – Đưa ra tông chỉ thiền pháp của Phật Tổ rồi bình luận, chê trách hoặc khen ngợi xưa nay”. ● 諦 求. Tìm kiếm lẽ thật. Uyển Lăng Lục ghi: “從 佛 至 祖、並 不 論 別 事、唯 論 一 心、亦 云 一 乘。所 以 十 方 諦 求、更 無 餘 乘。 – Từ Phật đến Tổ đều không bàn việc gì khác, chỉ bàn về Nhất tâm, cũng gọi là Nhất thừa. Thế nên tìm kiếm lẽ thật ở mười phương mà không có thừa nào khác”. ● 諦 當. Xác đáng, thỏa đáng, thích hợp, hay. Mật Am Ngữ Lục ghi: “因 看 玄 沙 語 錄、大 喜 他 勘 靈 雲 道:諦 當 甚 諦 當、敢 保 老 兄 未 徹 在。可 謂 壁 立 萬 仞。 – Nhân dịp sư xem Ngữ Lục của ngài Huyền Sa, rất thích đoạn Ngài khám phá Linh Vân và nói: Hay thì thật hay, nhưng dám bảo đảm là lão huynh còn chưa triệt ngộ. Đáng gọi là như vách cao muôn trượng”. ● 諦 當 漢. Người đã lãnh ngộ thiền pháp. Tiết Pháp Luân Ngạn Tư Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “若 是 諦 當 漢、通 身 無 隔 礙。舉 措 絕 毫 釐、把 手 出 紅 塵。 – Nếu là người đã lãnh ngộ thiền pháp thì toàn thân không chướng ngại, hành động không sai sót, nắm tay ra khỏi cõi bụi hồng”. ● 諦 觀. Xem kỹ, Quán sát lẽ thật. Tiết Pháp Nhãn Hy Minh Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “各 自 諦 觀。也 須 是 諸 人 著 眼。 – Điều này cũng cần các ông lưu ý, mỗi người phải xem kỹ”. ● 諦 信. Tin tưởng một cách cung kính và chí thành. Tiết Vân Cư Pháp Như Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “備 參 浙 右 諸 宗 匠。晚 至 龍 門、以 平 日 所 證 白 佛 眼。眼 曰:此 皆 學 解、非 究 竟 事。欲 了 生 死、當 求 妙 悟。師 駭 然 諦 信。 – Sư tham học đủ bậc tông tượng ở miền hữu ngạn Chiết Giang. Cuối cùng đến Long Môn, sư đem sở chứng lúc bình thường ra bạch cùng Phật Nhãn. Nhãn nói: Những thứ này đều là học giải, chẳng phải việc cứu cánh. Muốn liễu thoát sinh tử phải cầu diệu ngộ. Sư giật mình và tin tưởng một cách cung kính chí thành”. ● 底. Nào? Gì? Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “問:布 髮 掩 泥 因 底 事?全 身 半 偈 爲 誰 施? – Hỏi: Trải tóc lót bùn do việc gì? Thí thân lấy (nửa) kệ là vì ai?” ● 底 箇. Trợ từ song âm, tương đương với chữ “đích” có nghĩa là “của”. Tiết Trường Lô Thanh Liễu Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “山 僧 底 箇、山 僧 自 知; 諸 人 底 箇、諸 人 自 説。 – Của sơn tăng thì sơn tăng tự biết, của các ông thì các ông tự nói”. ● 抵 敌 語. Lời nói ứng phó, lời nói biện bác. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “向 來 如 許多 言 説、皆 是 抵 敌 語、都 未 曾 有 實 法 指 示 於 人。 – Về sau nếu có nói nhiều lời, đều là lời nói ứng phó, không từng có thật pháp để cho người”. ● 抵 敌 生 死. Đối phó sinh tử luân hồi, siêu việt sinh tử. Tiết Hòa Sơn Huệ Phương Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “然 五 家 宗 派、門 庭 施 設 則 不 無、直 饒 辨 得 倜 儻 分 明 去、猶 是 光 影 邊 事。若 要 抵 敵 生 死、則 霄 壤 有 隔。 – Nhưng đối với ngũ gia tông phái, việc môn đình thi thiết thì chẳng phải không, dù cho biện được thoải mái rõ ràng đi, cũng là việc hư huyễn không thật. Nếu muốn đối phó sinh tử luân hồi thì cách xa như trời với đất”. ● 抵 擬. Còn gọi: Để ngô. ứng phó, đối phó. Ngộ Bản Ngữ Lục ghi: “鹽 官 會 下 有 一 主 事 僧、忽 見 一 鬼 使 來 追。。。至 七 一 後 復 來 覓 其 僧、了 不 可 得。若 被 覓 著 時、如 何 抵 擬 他? – Dưới hội Diêm Quan có 1 vị tăng chủ sự, chợt thấy một gã quỷ sứ đến tìm bắt mình… Trải qua 7 ngày quỷ sứ đến tìm vị tăng ấy, tìm mãi mà không được. Nếu lúc bị nó tìm được thì làm sao đối phó đây?”. ● 抵 死. Liều chết. Mật Am Ngữ Lục ghi: “拼 却 性 命、抵 死 窮 究。 – Vất bỏ thân mạng, liều chết tham cứu”. ● 弟 昆 (287). Huynh đệ (anh em trong đạo). Tông Môn Võ Khố ghi: “(保 寧 勇 禪 師)至 長 沙 雲 蓋。參 見 楊 岐 會 和 尚。與 白 雲 端 和 尚 爲 弟 昆。 – Thiền Sư Bảo Ninh Dũng đến Trường Sa Vân Cái tham kiến Hòa Thượng Dương Kỳ Hội, cùng Hòa Thượng Bạch Vân làm huynh đệ.” ● 遞 代. Đời này tiếp nối đời trước, mỗi đời tiếp nối nhau. Khai thị Thiền nhân Đổng Văn Thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “金 色 頭 陀、破 顏 微 笑、乃 至 二 十 八 傳、遞 代 授 手。 – Đầu Đà Ca Diếp rạng mặt mỉm cười cho đến 28 vị Tổ, đời này tiếp nối đời trước trao tay”. Chỉ cho ngữ cú biểu đạt thiền nghĩa huyền diệu. Tiết Quy Tông Chính Hiền Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “且 第 一 句 如 何 道?直 饒 你 十 成 道 得、未 免 左 之 右 之。 – Rốt cuộc đệ nhất cú làm sao nói? Cho dù ngươi hoàn toàn nói được cũng không khỏi bị chi phối.” ● 第 一 道. Diệu đạo vô thượng, chỉ cho thiền pháp. Tối Thượng Thừa Luận ghi: “努 力 努 力。勤 求 本 心 勿 令 妄 漏。過 去 不 知。已 過 亦 不 及。今 身 現 在 有 遇 得 聞 妙 法。分 明 相 勸 決 解 此 語。了 知 守 心。是 第 一 道。 – Hãy nỗ lực! Hãy nỗ lực! Khuyên nhau cầu bản tâm chớ theo vọng tưởng. Quá khứ không biết, việc đã qua cũng không bằng, nay thân hiện tại may có được và nghe diệu pháp. Rõ ràng khuyên bảo nhau, nhất quyết giải cho được lời này, biết giữ gìn tâm, là đệ nhất đạo.” ● 第 一 義. Chỉ cho chân lý tối cao của Phật giáo, thiền nghĩa huyền diệu tột cùng. Mật Am Ngữ Lục ghi: “演 第 一 義、提 最 上 乘。 – Diễn bày đệ nhất nghĩa, đề khởi tối thượng thừa.” ● 第 二 句. Đối lại “đệ nhất cú”, chỉ cho ngữ cú biểu đạt ý nghĩa thông thường. Tiết Quy Tông Chính Hiền Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “且 第 一 句 如 何 道?汝 等 若 向 世 界 未 成 時、父 母 未 生 時、佛 未 出 世 時、祖 師 未 西 來 時 道 得、已 是 第 二 句。 – Rốt cuộc đệ nhất cú làm sao nói? Nếu các ông đối với lúc thế giới chưa thành lập, lúc cha mẹ chưa sinh, lúc Phật chưa ra đời, lúc Tổ sư chưa từ ấn Độ sang mà nói được cũng đã là đệ nhị cú.” ● 第 二 頭. Còn gọi: Đệ Nhị, Đệ Tam Thủ. Chỉ cho sự lý ngoài thiền pháp huyền diệu. Tiết Huệ Thông Thanh Đán Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “說 佛 說 祖、正 如 好 肉 剜 瘡。舉 古 舉 今、猶 若 殘 羹 餿 飯。一 聞 便 悟、已 落 第 二 頭。一 舉 便 行、早 是 不 著 便。 – Nói về Phật Tổ giống như trên da thịt lành lặn khoét vết thương; nêu công án cổ nhân cũng như ăn cơm thừa canh cặn; một khi nghe liền ngộ đã rơi vào đệ nhị đầu; một khi nêu lên liền làm sớm bỏ lỡ thời cơ rồi.” ● 第 二 義. Đối lại “đệ nhất nghĩa”, chỉ cho nghĩa lý ngoài thiền nghĩa huyền diệu. Đệ nhị nghĩa là những điều không khế hợp thiền pháp. Chương Nam Thiền Khế Phồn Thiền Sư trong CĐTĐL q.19 ghi: “時 有 僧 問。如 何 是 第 一 義。師 曰。何 不 問 第 一 義。曰。見 問。師 曰。已 落 第 二 義 也。 – Khi ấy có vị tăng hỏi: Thế nào là đệ nhất nghĩa? Sư nói: Sao chẳng hỏi đệ nhất nghĩa? Tăng nói: Hiện đang hỏi. Sư nói: Đã rơi vào đệ nhị nghĩa rồi.” ● 第 二 月. Mặt trăng thứ hai, chỉ cho hình tượng hư vọng. Bài thơ gởi Diệu Quả Chính Trưởng lão trong MGNL q.2 ghi: “游 歷 不 知 參 訪 誰。曾 道 天 無 第 二 月。 – Du lịch không biết tham phỏng ai, từng nói bầu trời không có mặt trăng thứ hai.” ● 遞 相. Tiếp tục theo thứ tự, lẫn nhau. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.4 ghi: “從 此 共 師 弟 遞 相 成 持。 – Từ đây Thầy trò giúp đỡ lẫn nhau”. ● 地 頭. Điểm cuối cùng, mục đích. Tiết Trường Lô Thanh Liễu Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “識 得 拄 杖 子、猶 是 途 路 中 事。作 麼 生 是 到 地 頭 一 句? – Biết được chiếc gậy vẫn còn là chuyện trên đường đi, vậy thế nào là một câu đến điểm cuối cùng?”. ● 的. Đích xác, xác thực. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “洪 覺 范 書 有 六 種、。。此 老 文 字 的 是 名 家、僧 中 希 有、若 論 佛 法、則 醇 疵 相 半。 – Hồng Giác Phạm viết có 6 loại… Chữ nghĩa già giặn này xác thực là của hàng danh gia, trong chư tăng ít có. Nếu luận về Phật pháp thì nửa ưu nửa khuyết”. ● 嫡 骨 孫. Cháu đích tôn, chỉ cho người được truyền thừa thiền pháp đời thứ ba. Tiết Đạo Quân Pháp Như Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “圓 極 嘗 贊 之 曰:生 鐵 面 皮 難 湊 泊、等 閑 舉 步 動 乾 坤, 戲 拈 十 智 同 眞 話、不 負 黃 龍 嫡 骨 孫。” “Viên Cực Thường tán chi viết: Sinh thiết diện bì nan tấu bạc Đẳng nhàn cử bộ động càn khôn Hí niêm Thập Trí Đồng Chân thoại Bất phụ Hoàng Long đích cốt tôn”. “Ngài Viên Cực Thường khen sư như sau: Nhân cách lạnh lùng khôn ghé hợp Bình thường cất bước động càn khôn ›Thập trí Đồng Chân‹ nêu tông chỉ Chẳng phụ Hoàng Long cháu đích tôn”. ● 的 當. 1. Thích hợp, thỏa đáng. Đại Châu Ngữ Lục q.hạ ghi: “禪 師 適 來 説 眞 如 有 變 易、如 今 又 道 不 變 易、如 何 即 是 的 當? – Vừa rồi Thiền Sư nói Chân như có biến đổi, bây giờ lại nói không biến đổi, thế nào mới thỏa đáng?”. ● 2. Cứu cánh, rốt cuộc (Biểu thị ngữ khí nghi vấn). Tiết Đại Hồng Thủ Toại Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “李 刺 史 問 藥 山:何 姓?山 曰:正 是 時?李 罔 測、乃 問 院 主:某 甲 適 來 問 長 老 何 姓。答 道:正 是 時。的 當 是 姓 甚 麼? – Thứ sử họ Lý hỏi Dược Sơn: Họ gì? Sơn đáp: Vừa đúng lúc? Lý mờ mịt, liền hỏi Viện chủ: Vừa rồi tôi hỏi Trưởng lão họ gì, ngài đáp rằng Vừa đúng lúc. Rốt cuộc là họ gì?”. ● 的 的. 1. Xác thực, chân thiết. Tiết Tô Châu Tây Thiền Hòa Thượng trong NĐHN q.4 ghi: “三 乘 十 二 部 分 教 則 不 問、如 何 是 祖 師 西 來 的 的 意? – Tăng hỏi: Ba thừa, mười hai phần giáo thì chẳng hỏi, thế nào là ý xác thực của Tổ sư từ ấn Độ?”. ● 2. Chỉ dạy một cách thiết thực. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “僧 問 當 山 启 禪 師:學 人 卓 卓 上 來、請 師 的 的。启 云:我 者 裏 一 屙 便 了、有 甚 麼 卓 卓 的 的? – Tăng hỏi Thiền Sư Đương Sơn Khải: Nãy giờ người học đứng đợi, thỉnh Thầy chỉ dạy một cách thiết thực? Khải nói: Trong đây ta vừa đi tiêu xong, có cái gì là cao siêu thiết thực?”. ● 的 嗣. Nối pháp dòng chính. Tông Môn Võ Khố ghi: “湛 堂 准 和 尚興 元 府 人、眞 淨 之 的 嗣。 – Hòa Thượng Trạm Đường Chuẩn, người phủ Hưng Nguyên, nối pháp dòng chính của ngài Chân Tịnh Khắc Văn”. ● 覿 面 分 付. Tận mặt giao phó, trước mặt dặn dò. Tiết Hưng Thánh Trọng Mãn Thiền Sư trong NĐHN q.8 ghi: “覿 面 分 付、不 待 文 宣。對 眼 投 機、喚 作 參 玄, 上 士 若 能 如 此、所 以 宗 風 不 墜。 – Tận mặt giao phó, chẳng đợi nói rõ bằng chữ nghĩa; trước mắt hợp cơ gọi là tham huyền. Bậc thượng sĩ nếu được như thế sẽ khiến cho tông phong chẳng suy sụp”. ● 覿 面 承 當. Trước mặt nhận lấy, khế hợp thiền cơ. “Bài minh viết trên tháp” của Phụ Cát Tất trong Mật Am Ngữ Lục q.cuối ghi: 曹 溪 一 滴、源 遠 流 長 至 于 臨 濟、其 道 益 張 如 擊 石 火、如 閃 電 光 不 離 當 處、覿 面 承 當” “Tào Khê nhất trích, Nguyên viễn lưu trường Chí ư Lâm Tế Kỳ đạo ích trương Như kích thạch hỏa Như thiểm điện quang Bất ly đương xứ Địch diện thừa đương”. “Giọt nước Tào Khê, nguồn xa giòng dài Đến nơi Lâm Tế, đạo ấy hoằng khai Như lửa đá nháng, như ánh điện chớp Chẳng rời nơi đây, trước mặt nhận lấy”. ● 覿 面 相 呈. Trình ra trước mặt. Huệ Tịch Ngữ Lục ghi: “覿 面 相 呈、猶 是 鈍 漢、豈 況 形 於 紙 墨。 – Trình ra trước mặt vẫn còn là kẻ độn căn thì đâu thể so sánh với sự biểu hiện trên giấy mực”. ● 敵 論. Biện luận. Tiết Báo Ân Huệ Minh Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “師 尋 遷 天 台 山 白 沙 卓 庵、有 朋 彥 上 座 博 學 強 記、來 訪 師 敵 論 宗 乘。 – Sư tìm cách dời sang am Bạch Sa Trác núi Thiên Thai. Thượng tọa Hữu Bằng Ngạn học rộng hiểu nhiều, đến thăm sư biện luận tông thừa.” ● 敵 生 死. Siêu việt sinh tử, là cảnh giới của người thiền ngộ. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “不 識 曲 彔 樹。爭 解 喫 果 子。不 過 祖 師 關。爭 會 敵 生 死。 – Không biết được cây khúc lục thì làm sao biết ăn quả của nó? Không qua được cửa ải Tổ sư thì làm sao hiểu được cảnh giới thiền ngộ.” ● 釘 觜 鐵 舌. Miêu tả cơ ngữ sắc bén cứng rắn. Tiết Trường Lô ứng Phu Thiền sư trong NĐHN q.16 ghi: “上 堂、顧 大 眾 曰:這 箇 爲 甚 麼 擁 不 聚、撥 不 散、風 吹 不 入、水 灑 不 著、火 燒 不 得、刀 斫 不 斷。是 箇 甚 麼?眾 中 莫 有 釘 觜 鐵 舌 底 衲 僧、試 爲 山 僧 定 當 看。還 有 麼? – Sư thượng đường nhìn đại chúng nói: Cái gì mà ôm không tụ, gạt chẳng tan, gió thởi không vào, nước rước chẳng dính, lửa thiêu chẳng được, dao chặt không đứt? Là cái gì vậy? Trong chúng có thiền tăng cơ ngữ sắc bén cứng rắn không, thử vì sơn tăng phân biệt rõ xem? Có hay không?”. ● 丁 寧. Cẩn thận, rõ ràng. Phạm Kỳ Ngữ Lục q.7 ghi: 山 僧 一 片 閑 田 地 叉 手 丁 寧 問 祖 翁 幾 度 賣 來 還 自 買 爲 憐 松 竹 引 清 風 Sơn tăng nhất phiến nhàn điền địa Xoa thủ đinh ninh vấn Tổ ông Kỷ độ mại lai hoàn tự mãi Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong. Một khoảnh đất hoang trước núi xanh, Chắp tay cẩn thận hỏi cha ông, Bao phen bán đi rồi mua lại Vì thương tùng trúc gió trong lành. ● 釘 福 保 (1874-1952). Học giả Phật giáo hiện đại, tự là Trọng Hữu, biệt hiệu Trù ẩn Cư sĩ, người đất Vô Tích, Giang Tô, Trung Quốc. Năm 22 tuổi ông học tập ở Giang Âm Nam Thanh Thư Viện. Niên hiệu Quang Tự thứ 27 (1901) đời Thanh, đến Đông Ngô đại học đường ở Tô Châu học y khoa. Năm 1903 nhậm chức Giáo sư Toán học và sinh lý học tại Đại học Kinh Sư, trở lại nhậm chức Giáo sư lớp phiên dịch. Năm 1905, ông đọc Ngữ Lục Thiền Tông, trích lục một số lời viết làm bài minh. Còn kết bạn với học giả Dương Nhân Sơn. Năm 1908 ông hành nghề y tại Thượng Hải và sáng lập Y Học Thư Cục. Năm 1916 ông sùng tín Phật giáo, năm sau biên ấn Phật học thư tịch. Có trứ thuật 34 sách Phật học như “Phật Học Đại Từ Điển”, “Lục Tổ Đàn Kinh Tiên Chú” v.v… ● 釘 橛 空 中. Còn gọi: Hư Không Đinh Quyết. Đóng cọc vào hư không. Chỉ cho hành vi hư vọng, không thể làm được. Ngũ Đăng Hội Nguyên q.20 ghi: “釘 橛 空 中。豈 況 牽 枝 引 蔓。 – Đóng vào hư không đâu thể so sánh với việc ra vào ngôn ngữ rối rắm”. ● 釘 殺 腳 跟. Triệt ngộ thiền chỉ, hoàn thành bản phận đại sự. Tiết Tín Tương Tông Hiển Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “往 依 昭 覺 得 度、具 滿 分 戒、後 隨 眾 咨 參。覺 一 日 問 師:高 高 峰 頂 立、深 深 海 底 行。汝 作 麼 生 會?師 於 言 下 頓 悟、曰:釘 殺 腳 跟 也。 Đến quy y với ngài Chiêu Giác được xuất gia, thọ đầy đủ giới, sau đó theo chúng thưa hỏi tham thiền. Một hôm Giác hỏi sư: Đứng trên ngọn núi cao ngất, đi dưới đáy biển sâu thẳm. Ngươi hiểu như thế nào? Ngay lời này sư chợt ngộ, nói: Con đã triệt ngộ thiền chỉ.” ● 庭 前 柏 樹 子. Cây bách trước sân, là cơ ngữ của Hòa Thượng Triệu Châu đời Đường, cũng là công án nổi tiếng được thấy nơi tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q.4 như sau: “僧 問:如 何 是 祖 師 西 來 意?師 曰:庭 前 柏 樹 子。曰:和 尚 莫 將 境 示 人?師 曰:我 不 將 境 示 人。曰:如 何 是 祖 師 西 來 意?師 曰:庭 前 柏 樹 子。 – Tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Cây bách trước sân. Tăng thưa: Hòa Thượng chớ đem cảnh dạy người. Sư bảo: Ta chẳng đem cảnh dạy người. Tăng hỏi lại: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Cây bách trước sân.” Mũi nhọn của công án này ở chỗ gợi ý người học chớ nên tìm tòi câu nệ trên ngôn ngữ, không nên rơi vào tri thức kiến giải, tình niệm ý tưởng, cần phải thoát khỏi tất cả, lập tức ngộ nhập. ● 渟 囚 長 置. Biện pháp trì hoãn để tìm cách đối phó. Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện q.1 ghi: “不 用 渟 囚 長 置、速 道 相 來! – Chẳng được trì hoãn, hãy nói mau đi!” ● 廷 俊 (1299-1368). Thiền tăng đời Nguyên, họ Đổng, tự là Dụng Chương, hiệu là Lại Am, Lại Ông, Ký Xuyên, người xứ Phàn Dương (Ba Dương, Giang Tây). Thuở nhỏ xuất gia, học rộng nhớ dai, rất am tường những sự thật triều Tống, bậc túc nho đều khâm phục sự hiểu biết sâu rộng của sư. Sư yết kiến Tiếu ẩn Đại Tố ở Thiên Trúc. Đại Tố khen rằng: “Ông là dòng dõi Hoàng Long, Phật ấn.” Khi Đại Tố trụ trì chùa Long Tường, chùa Tập Khánh ở Nam Kinh đều mời sư làm Đệ nhất tọa. Về sau sư lần lượt trụ các chùa Long Phong, Thụy Nham, Trung Thiên Trúc, Tịnh Từ. Niên hiệu Hồng Võ thứ 1 (1368) đời Minh sư thị tịch ở Chung Sơn. Tác phẩm: Ký Xuyên Tập, Ngũ Hội Ngữ Lục. ● 定. 1. Tâm chuyên chú một cảnh mà không tán loạn. Chương Tổ thứ 16 La Hầu La Đa trong CĐTĐL q.2 ghi: “(尊 者)領 諸 學 眾 泝 流 而 上。至 彼 見 僧 伽 難 提 安 坐 入 定。尊 者 與 眾 伺 之。經 三 七 日 方 從 定 起。 – Tôn giả lãnh đạo các học chúng theo ngược dòng mà lên, khi đến thấy Tăng Già Nan Đề ngồi yên nhập định, Tôn giả cùng học chúng đợi chờ. Trải qua 21 ngày mới xuất định.” ● 2. Cân lường. Tiết Hoàng Long Tử Tâm Tân Thiền Sư trong GTPĐL q.25 ghi: “稱 斤 定 量、恰 如 人 開 雜 貨 鋪 相 似。 – Cân đong đo đếm giống như người mở tiệm tạp hóa.” ● 3. Phân biệt rõ. Chương Pháp Đăng Thái Khâm Thiền Sư trong CĐTĐL q.25 ghi: “今 汝 諸 人 試 說 箇 道 理 看。是 如 來 禪 祖 師 禪。還 定 得 麼。 – Hôm nay các ông thử nói đạo lý xem đây là Như Lai Thiền hay là Tổ Sư Thiền? Có phân biệt được chăng?” ● 定 槃 星. Còn gọi: Định Bàn Tử. Định bàn: Cái cân. Tinh: Cái khía (trên cân xách), con số (trên cân đồng hồ). Thông thường dùng Định Bàn Tinh làm dụ để chỉ cho tiêu chuẩn của một sự việc. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho kiến giải chủ quan. Vô Môn Quan ghi: “大 梅 引 多 少 人、錯 認 定 槃 星、爭 知 道 説 箇 佛 字、三 日 漱 口。 – Đại Mai khiến cho bao nhiêu người nhận lầm theo kiến giải chủ quan, đâu biết nói một chữ Phật thì phải súc miệng đến ba ngày”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 定 執. Chấp trước, câu nệ. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q.3 ghi: “眾 生 迷 時、結 性 成 心。眾 生 悟 時、釋 心 成 性。汝 若 定 執 無 性 無 佛 性 者、經 不 應 言:三 界 唯 心、萬 法 唯 識。故 華 嚴 經 曰:三 界 所 有 法、一 切 唯 心 造。 – Lúc chúng sinh mê thì đóng cứng tính trở thành tâm; khi chúng sinh ngộ thì tan chảy tâm trở thành tính. Nếu ngươi chấp trước loài vô tình không có Phật tính thì lẽ ra Kinh không nên nói: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, nên kinh Hoa Nghiêm nói: Tất cả pháp trong tam giới, chỉ do tâm tạo”. ● 定 照 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Đạo Giai đời Tống. X. Đạo Giai. ● 定 當. Còn gọi: Định thủ. Nhận biết, phân biệt rõ. Tiết Chân Tịnh Khắc Văn Thiền Sư trong LĐHY q.14 ghi: “諸 禪 德、且 道 報 寧 快 活 何 似 三 聖 快 活?莫 有 快 活 底 漢?出 來 定 當 看。 – Chư Thiền đức, hãy nói là Ninh vui vẻ có giống như Tam Thánh vui vẻ hay không? Không có gã nào vui vẻ sao? Hãy bước ra phân biệt rõ xem”. ● 定 定. Chắc chắn, nhất thiết phải. Phạm Kỳ Ngữ Lục q.3 ghi: “結 夏 小 參。。。師 乃 云:今 日 結 却 布 袋 口、有 也 被 布 袋 罩 却、無 也 被 布 袋 罩 却。總 未 有 出 頭 分 在。若 要 布 袋 口 開、定 定 九 十 日、一 日 也 減 他 不 得。 – Kiết hạ, nhằm lúc tiểu tham… Sư nói: Hôm nay cột miệng túi vải lại, có cũng bị túi vải bao trùm, không cũng bị túi vải bao trùm, chung quy chưa có phần thoát ra. Nếu muốn miệng túi vải mở ra, nhất thiết phải là 90 ngày, bớt một ngày cũng chẳng được”. ● 定 動. 1. Chớp mắt. Tiết Phật Giám Thiền Sư trong GTPĐL q.25 ghi: “欲 知 此 事、覿 面 相 呈、未 語 已 前、早 是 差 過。如 金 翅 鳥 王 入 阿 盧 大 海、擊 開 雪 浪、直 取 龍 吞。眼 睛 定 動 之 間、早 已 喪 身 失 命。 – Muốn biết việc này thì phải tận mặt trình nhau, còn việc về trước chưa nói mà sớm đã lỡ qua. Giống như chim đại bàng chúa vào biển lớn A Lô, vỗ cánh rẽ sóng để bắt rồng ăn thịt. Trong khoảng chớp mắt sớm đã bỏ thân mất mạng”. ● 2. Do dự, ngờ vực. Tiết Tam Giao Trí Tung Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “須 用 直 須 用、心 意 莫 定 動。 – Cần dùng thì dùng ngay, tâm ý chớ có ngờ vực”. ● 定 堂. Thiền tăng đời Minh, tên Bản Thiếp, hiệu Định Đường. X. Bản Thiếp. ● 定 賢 (1860-1941). Tăng nhân hiện đại, họ Hoàng, tên Duy Tiền, tự Lễ Xướng, người xứ Tấn Giang, Phúc Kiến; tham học với Bát Chỉ Đầu Đà. Sư trụ trì chùa Nhất Phiến ở Nam An. ● 定 慧. 1. Thiền tăng cuối Lê đầu Lý, thuộc thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 12, nối pháp Thiền Ông Đạo Giả. Sư họ Khúc, quê ở Cẩm Điền, Phong Châu, Việt Nam. Sư trụ trì chùa Quang Hưng, làng An Trinh, phủ Thiên Đức. ● 2. Thiền tăng đời Ngũ Đại (900-960), họ Phổ, tên Huân, người Thủy Hưng, Quảng Đông, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Long Cảnh Đạo Luân thuộc tông Vân Môn đời thứ 3, trụ trì chùa Ông Sơn ở núi Linh Trì tại Ông Nguyên. Nam Hán Chủ ban hiệu Định Huệ Đại Sư. ● 定 慧 禪 師. 1. Thụy hiệu của Thiền nhân Tông Mật đời Đường. X. Tông Mật. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Huyền ứng đời Ngũ Đại. X. Huyền ứng. ● 定 慧 寺. Chùa ở núi Tiêu Sơn, thành phố Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Tương truyền được xây cất khoảng niên hiệu Hưng Bình (194-195) đời Đông Hán ban đầu gọi là “Phổ Tế Am”, đời Tống đổi tên là “Phổ Tế Thiền Tự”, có các vị Thiền Sư như Viên Ngộ Khắc Cần, Khô Mộc Pháp Thành, Phật ấn Liễu Nguyên từng hoằng pháp tại chùa này. Đời Nguyên đổi tên là “Tiêu Sơn Tự”, đời Thanh vua Khang Hy đi tuần tra phía nam có đến nơi đây, ban cho tên “Định Huệ Tự”. Về sau có Cổ Tiều Trí Tiên trụ chùa này đến 40 năm thay đổi chế độ con cháu xuất gia thành chế độ truyền cho kẻ hiền ở mọi nơi, chấn hưng tông phong Tào Động, cùng với Cổ Sơn Tự ở Phúc Châu là đạo tràng chủ yếu của tông Tào Động thời cận đại Trung Quốc. Tự viện kiến trúc hùng vĩ, phía trước có Thiên vương điện, ở giữa là Đại hùng bảo điện, phía sau là Tàng kinh lâu, ngoài ra còn có Trai đường, Đại liêu, Niệm Phật đường, Phương trượng thất. ● 定 縣 開 元 寺 塔. Còn gọi: Liệu Địch Tháp. Tháp nằm trong Khai Nguyên Thiền Tự, huyện Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Niên hiệu Hàm Bình thứ 4 (1001) đời Tống vua Tống Chân Tông hạ chiếu xây tháp, niên hiệu Chí Hòa thứ 2 (1055) hoàn thành, vì trải qua 55 năm xây dựng nên có lưu truyền truyền thuyết “chặt sạch cây trên núi Gia Sơn để làm thành tháp Định Châu”. Huyện Định thời Tống cùng với nước Khiết Đan sát nhau là yếu điểm quân sự, Tống vương triều lợi dụng tháp này để dò xét tình hình quân địch cho nên gọi là “Liệu địch tháp”. Tháp xây trên đài cao, bằng gạch hình bát giác, 11 tầng, cao 84,2m, là tháp cao nhất hiện còn ở Trung Quốc. Mỗi tầng thẳng đứng và tỉ lệ cao độ cân xứng, kết cấu nghiêm cẩn. Tháp được tô màu trắng. Tầng thứ nhất khá cao, trên có mái tháp tòa bằng; các tầng còn lại chỉ có mái tháp mà không có tòa bằng. Hình thức mái tháp là dùng gạch chồng khít nhau để gánh lấy mái ngắn, mặt cắt của nó hiện ra đường cong lõm rõ ràng. Tháp phân làm hai lớp trong ngoài, xung quanh có hành lang bao quanh, trong cột hình bát giác trung tâm có bậc thềm bằng gạch đi lên đỉnh tháp. Trong tháp hai vách đều có Bích Phật khám (khám thờ Phật trên vách), trong Phật khám nguyên có bích họa và tượng đắp. Trên vách hành lang gấp khúc bao quanh mỗi tầng lung linh ngập mắt những tấm bia khắc và những đề vịnh của danh nhân qua nhiều đời. Gần đây nhất trong tường kép của tầng thứ hai phát hiện tranh màu và tranh tường sắc thái như mới, là nguyên tác thời Bắc Tống. Lên đỉnh tháp trông ra xa thấy bờ ngang bờ dọc bình nguyên phía bắc Trung Hoa, ruộng vườn như tranh vẽ; Sa hà, Đường hà sóng biếc cuồn cuộn như trong gang tấc; núi Thái non Hành nhấp nhô uốn lượn nhìn thấy hết trơn. ● 定 空 (730-808). Thiền tăng thời Bắc thuộc, thuộc thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 8. Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp, miền Bắc Việt Nam. Sư trụ các nơi: Chùa Quỳnh Lâm, chùa Thiền Chúng ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức, Bắc Ninh. ● 定 林 寺. Chùa ở làng Tưởng Lăng, dưới núi Chung Sơn, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 1 (424) đời Lưu Tống, Huệ Giác sáng lập. Năm thứ 13 (433) Đàm Ma Mật Đa trụ tích nơi đây, bởi tính ngài thích tĩnh nhã nên cất một ngôi chùa ở phía tây núi gọi là “Thượng Định Lâm Tự”, chùa gốc thì gọi là “Hạ Định Lâm Tự”. Các bậc cao đức thạc học đến ở rất đông như Pháp Vân, Trí Tạng, Tăng Mân, Tăng Nhu. Đầu đời Lương, Pháp Thông vào ở Thượng Định Lâm Tự hơn 30 năm chỉ dạy đệ tử tọa thiền, lễ sám. Niên hiệu Đại Thông thứ 2 (528) Tổ Đạt ma thị tịch an táng tại núi Hùng Nhĩ, xây tháp tại chùa Định Lâm. Về sau chùa dần dần hoang phế. Niên hiệu Hoằng Trị thứ 5 (1492) đời Minh xây cất lại ● 定 分. Danh phận đã được xác định, kết quả tất nhiên. Tiết Khai thị Như Duy na trong DTNL q.3 ghi: “當 思 樂 緣、苦 境、亦 不 偶 然、總 是 宿 業 所 招、系 乎 定 分、不 容 苟 求 而 得、苟 避 而 免 也。又 當 思 遇 苦 遇 樂、雖 屬 定 分、然 亦 浮 幻 不 實、暫 有 還 無。 – Đang nghĩ về duyên vui cảnh khổ, cũng không phải ngẫu nhiên mà là do túc nghiệp chiêu cảm, ấy là định phận, không phải muốn cầu mà được, muốn tránh mà khỏi. Lại đang nghĩ về gặp khổ gặp vui, tuy thuộc định phận song cũng là hư huyễn không thật, tạm có rồi không.” ● 定 光. Danh hiệu Phật, tức Phật Nhiên Đăng. Tiết Tây Thiền Thủ Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “爭 奈 定 光 金 地 遙 招 手、智 者 江 陵 暗 點 頭。 – Ngặt vì vẫy tay giã từ cõi Phật Định Quang, ngài Trí Giả ở Giang Lăng thầm gật đầu”. ● 定 琛 (1632-1689). Còn gọi: Đạo Sâm. Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, tự Từ Nhạc, hiệu Vô Hà Minh Trí, người xứ Vĩnh Xuân (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, là người nối pháp tông Hoàng Bá Nhật Bản. Tác phẩm: Vĩnh Thánh Thiền Cư Thảo 3 quyển. ● 定 著. Đình đốn, dừng lại. Chương Nhất bát ca trong CĐTĐL q.30 ghi: 本 來 無 姓 亦 無 名 只 麼 騰 騰 信 脚 行 有 時 鄽 市 并 屠 肆 一 朵 紅 蓮 火 上 生 也 曾 策 杖 游 京 落 身 似 浮 雲 無 定 著 “Bản lai vô tính diệc vô danh Chỉ ma đằng đằng tín cước hành Hữu thời triền thị tinh đồ tứ Nhất đóa hồng liên hỏa thượng sinh Dã tằng sách trượng du kinh lạc Thân tợ phù vân vô định trước”. “Xưa nay không họ cũng không tên Cứ thế vô vi bước nhẹ tênh Khi thì chợ búa khi hàng thịt Trên lò lửa nở một cành sen Cũng từng chống gậy chơi Kinh Lạc Thân như mây nổi mãi bồng bềnh”. ● 點. 1. Châm trà, rót nước. Mật Am Ngữ Lục ghi: “山 僧 點 一 盞 薄 荷 湯。與 伊 濕 口。 – Sơn tăng rót một ly nước bạc hà, cùng ông nhấm nháp.” ● 2. Dính đến, chạm đến. Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “老 和 尚 腳 跟 猶 未 點 地。 – Lão Hòa Thượng gót chân chưa chạm đất.” ● 點 對. Kiểm tra, so sánh. Lời bạt của Bạch Vạn Sơn trong NTNL ghi: “Tái triển lưỡng bổn, trầm tư điểm đối, tả thủ bất đồng, hỗ hữu đắc thất. – Giở hai bản ra xem lại, trầm tư so sánh thấy bản chép tay không giống nhau cho nên có chỗ hay chỗ dở.” ● 點 軒 叟. Hiệu của Thiền tăng Tông Tĩnh đời Minh. X. Tông Tĩnh. ● 點 胸. Dùng tay chỉ vào giữa ngực. Tiết Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “師 自 點 胸 曰:我 這 裡 未 穩 在、不 敢 自 謾 。 – Sư tự lấy tay chỉ vào ngực rồi nói: Tôi trong đây chưa ổn, chẳng dám tự dối”. ● 2. Vỗ ngực. Động tác cao ngạo, khoe khoang. Tiết Chư Phương Quảng Ngữ, Nhân Vương Khâm Thiền Sư trong NĐHN q.25 ghi: “如 是 之 流、皆 是 造 作、忽 若 一 旦 被 些 福 緣 推 出 來、便 即 點 胸 自 負、爭 人 爭 我、爭 胜 爭 負、恣 意 亂 統、貶 剝 諸 方。 – Các giòng như thế, đều là tạo tác, chợt một mai được chút phúc duyên làm nên danh phận liền khoe khoang tự phụ, tranh nhân tranh ngã, tranh hơn tranh thua, phóng túng càn bậy, chê bai các Thiền Sư khác”. ● 點 檢. 1. Kiểm tra. Tiết Lương Sơn Sư Viễn Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “浴 佛 上 堂、舉 藥 山 浴 佛 公 案、拈 云:這 僧 問 處、依 稀 越 國、髣 彿 楊 州。藥 山 答 來、眼 似 流 星、機 如 掣 電。點 檢 將 來、二 俱 不 了。 – Tắm Phật xong, sư thượng đường nêu ra công án tắm Phật của Dược Sơn, bình rằng: Câu hỏi của vị tăng kia mang máng Việt Quốc, na ná Dương Châu; lời đáp của Dược Sơn, mắt như sao băng, cơ như điện chớp. Kiểm tra lại thì cả hai đều không hiểu.” ● 2. Phân biệt rõ. Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng ghi: “上 堂 舉。法 眼 道。識 得 橙 子 周 匝 有 餘。雲 門 道。識 得 橙 子 天 地 懸 殊。師 云。這 兩 人。一 人 過 船。一 人 渡 水。若 點 檢 得 出。許 儞 具 正 法 眼。 – Thượng đường nêu công án Pháp Nhãn nói: Biết được quả cam thì xung quanh có dư. Vân Môn nói: Biết được quả cam thì trời đất khác nhau xa. Sư nói: Hai người này, một người qua bằng thuyền, một người lội qua sông, nếu phân biệt được thì ta chấp nhận ngươi có con mắt chính pháp.” ● 3. Trách móc. Bích Nham Lục q.1 ghi: “擧 翠 嵒 夏 末 示 眾 云。一 夏 以 來。爲 兄 弟 說 話、看 翠 嵒 眉 毛 在 麼。。。夏 末 先 自 說 過。先 自 點 檢。免 得 別 人 點 檢 他。 – Nêu công án, Thúy Nham cuối hạ dạy chúng: Từ đầu hạ đến nay ta vì các huynh đệ nói pháp, các ông xem lông mày của ta còn chăng?… Lúc cuối hạ trước tự nói lỗi của mình ra, trước tự trách móc để khỏi bị người khác trách móc.” ● 點 額. Điểm trán, thông thường dùng để chỉ cho người đi thi trượt. Theo Thủy Kinh Chú, hàng năm vào tháng 3, cá từ các nơi về Long Môn nhảy thi. Con nào nhảy qua được cửa ấy thì hóa rồng, không nhảy qua được thì bị chấm trán trở về. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho những thiền tăng chưa kiến tính (bị người chấm trán). Minh Giác Ngữ Lục q.1 có ghi: “十 方 同 聚 會、箇 箇 學 無 爲。此 是 選 佛 處、心 空 及 第 歸。如 何 得 及 第 去?師 云:徒 遭 點 額。” “Thập phương đồng tụ hội Cá cá học vô vị Thử thị tuyển Phật trường Tâm không cập đệ quy. Như hà đắc cập đệ khứ? Sư vân: Đồ tao điểm ngạch”. “Mười phương đồng tụ hội Đây là nơi tuyển Phật Tâm không, thi đậu về. Thế nào mới được chấm đậu? Sư đáp: Uổng bị điểm trán (chấm trượt)”. ● 點 眼. Vạch mắt mở ra, tức làm cho người thấu rõ được Thiền pháp giáo ngoại biệt truyền (Kiến tính). Như Tịnh Ngữ Lục q.thượng ghi: “凈 慈 借 詩 說 教、要 與 衲 僧 點 眼。 – Tịnh Từ mượn thi ca để chỉ dạy, cốt muốn cho các thiền tăng được kiến tính”. ● 點 即 不 到. Đối lại: Đáo Tức Bất Điểm. Lúc tăng chúng tụ tập để điểm danh, vị nào vắng mặt sẽ được ghi một chấm ngay tên người đó, gọi là Điểm tức bất đáo. Còn những vị có mặt, trên tên của họ chẳng ghi dấu, gọi là Đáo Tức Bất Điểm. Nghĩa mở rộng là trong Thiền Tông, người nào lãnh hội được yếu chỉ thì ít nói ra, còn người không lãnh hội được lại la lối om sòm. Ngoài ra, “Đáo Tức Bất Điểm” còn chỉ cho người học đã đạt đến cảnh giới ngộ nên chẳng cần Thầy chỉ điểm nhiều. ● 點 茶 點 湯. Còn gọi: Điện Trà, Điện Thang. Châm trà, châm xúp. Trong Thiền tự dùng nghi thức này để cúng dường Phật, Tổ sư và đại chúng. Từ nghĩa cúng dường này mở rộng ra chỉ cho việc châm trà, châm xúp trước hương linh của người đã mất thì gọi là Điện trà thang. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 點 著 便 行. Một phen chạm phải liền hành động, chỉ người tham thiền căn cơ bén nhạy, một phen được khơi gợi lập tức lãnh ngộ. Tiết Tuyết Phong Huệ Không Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂 曰:俊 快 底 點 著 便 行、癡 鈍 底 推 挽 不 動。便 行 則 人 人 歡 喜、不 動 則 箇 箇 生 嫌。山 僧 而 今 轉 此 癡 鈍 爲 俊 快 去 也。 – Sư thượng đường nói: Tính linh lợi là một phen chạm phải liền hành động, còn tính si độn là dù kéo đẩy cũng chẳng nhúc nhích. Liền hành động thì mọi người hoan hỷ. Chẳng nhúc nhích thì ai ai cũng ghét. Hôm nay sơn tăng chuyển tính si độn này thành tính linh lợi.” ● 田 庫 奴. Đồ nhà quê. Tắc 57, Bích Nham Lục ghi: “僧 問 趙 州。至 道 無 難 唯 嫌 揀 擇。如 何 是 不 揀 擇。州 云。天 上 天 下 唯 我 獨 尊。僧 云。此 猶 是 揀 擇。州 云。田 厙 奴。什 麼 處 是 揀 擇。僧 無 語。 – Tăng hỏi Triệu Châu: Chí đạo không khó chỉ đừng phân biệt. Thế nào là không phân biệt? Triệu Châu đáp: Trên trời dưới đất chỉ có mình ta tôn quí. Tăng nói: Vẫn là phân biệt. Triệu Châu nói: Đồ nhà quê, phân biệt chỗ nào? Tăng không đáp được.” ● 典 客. Còn gọi: Tri Khách, Điển Tân. Vị tăng có nhiệm vụ tiếp khách tăng tục nơi tùng lâm. Đây là 1 trong 6 vị Đầu thủ của Tây tự (ban Tây). Khi có khách đến, vị này phải đem hương trà để tiếp đãi và tùy lúc phái người đi thông báo cho vị Trụ trì biết (nếu là các bậc tôn túc, quan chức) rồi sau mới đưa đến yết kiến vị Trụ trì. Như ngài Ngưỡng Sơn làm Điển khách dưới hội Tổ Quy Sơn. ● 典 座. Chức vụ phụ trách công việc tạp sự về cơm cháo cho đại chúng. Đây là 1 trong 6 vị Tri Sự ở Đông tự (ban Đông). Tuy là việc lặt vặt về ăn uống, nhưng từ xưa chức vụ này rất được coi trọng. Thông thường chỉ đề cử vị tăng nào có chí nguyện thanh cao liêm khiết, xem việc làm này như một cách tu hành, như ngài Quy Sơn giữ chức Điển tọa dưới hội Tổ Bách Trượng. Các chức vụ bên dưới, do Điển tọa sai khiến gồm: Phạn đầu, Chúc đầu, Mễ đầu, Sài đầu, Viên đầu. Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di (Vạn Tục 148, 150 hạ) ghi: “雪 峰 擔 笊 籬 木 杓 行 腳 到 處 作 典 座。 – Tuyết Phong mang cái vợt cán gỗ hành cước đến chỗ nào cũng làm Điển tọa”. ● 殿 主. Còn gọi: Tri Điện, Điện Ty. Chức vụ trông coi các món trên điện Phật như: Đèn đóm, hương hoa và làm các việc lau rửa bàn thờ, tượng Phật. Một trong 6 vị Đầu thủ của Tây tự (ban Tây). ● 電 光 石 火. Điện chớp, đá nháng. Tỷ dụ Thiền cơ rất là nhanh chóng, hễ chậm thì chết. Lâm Tế Lục ghi: “大 徳。到 這 裏 學 人 著 力 處 不 通 風。石 火 電 光 即 過 了 也。學 人 若 眼 定 動。即 沒 交 渉。擬 心 即 差。動 念 即 乖。 – Đại đức, dến chỗ này là chỗ người học ra sức mà chẳng lộ tin tức, chỉ có Thiền cơ thật nhanh chóng mới vượt qua được. Nếu người học do dự thì chẳng dính dáng, dùng tâm suy nghĩ liền sai, động niệm liền trái”. ● 調 制. Điều tiết và chế phục (vọng niệm tà kiến). Chương Chứng Đạo Ca trong CĐTĐL q.30 ghi: 嗟 末 法、惡 時 世 眾 生 福 薄 難 調 制 去 聖 遠 兮 邪 見 深 魔 強 法 弱 多 怨 害 “Ta mạt pháp, ác thời thế Chúng sinh phúc bạc nan điều chế Khứ thánh viễn hề tà kiến thâm Ma cường pháp nhược đa oán hại”. “Ôi mạt pháp! Ác thời thế! Chúng sinh phúc mỏng khôn điều chế Hiền thánh xa rồi, tà vạy sâu Ma mạnh pháp yếu nhiều ác tệ”. ● 鳥 道. Đạo pháp của Thiền Tông thẳng tắt, không lưu lại dấu vết giống như đường chim bay. Pháp Diễn Ngữ Lục q.hạ ghi: “大 眾、須 是 過 得 祖 師 關、會 鳥 道 玄 路、始 會 此 般 說 話。 – Sư nói: Đại chúng! Cần phải qua được Tổ sư quan, biết được đạo thiền huyền diệu mới biết được lời nói này”. ● 鳥 道 玄 路. Con đường huyền diệu, linh hoạt kỳ ảo, ẩn chỉ cho đạo pháp Thiền Tông. Tiết Hộ Thánh Cư Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “參 學 至 要、不 出 先 南 堂 道:最 初 句 及 末 後句、透 得 過 者、一 生 事 畢。儻 或 未 然、更 與 你 分 作 十 門、各 各 印 證 自 心、還 得 穩 當 也 未?一 、須 信 有 教 外 別 傳。二。。。六、須 行 鳥 道 玄 路。 – Tham học rất cần phải như Nam Đường nói: Câu đầu tiên và câu cuối cùng nếu thấu qua được thì việc một đời đã xong. Nếu như chưa được như thế thì lại chia ra mười môn cho ngươi, mỗi người ấn chứng tự tâm có được thỏa đáng chưa? Một là phải tin có việc truyền ngoài giáo điển. Hai là… Sáu là phải đi con đường huyền diệu linh hoạt kỳ ảo.” ● 鳥 窠 吹 布 毛. Công án. Thiền Sư Điểu Khòa người Chiết Giang đời Đường (tên Đạo Lâm) rút từ trong áo sợi vải thổi trước mặt thị giả, thị giả lập tức tỏ ngộ. Tiết Đông Lâm Đạo Nhan Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “上 堂:一 葉 落、天 下 秋。一 塵 起、大 地 收。鳥 窠 吹 布 毛、便 有 人 悟 去。今 時 學 者、爲 甚 麼 卻 不 識 自 己? – Sư thượng đường: Một chiếc là rơi thiên hạ vào thu, một hạt bụi dấy cả mặt đất toàn thâu. Điểu Khòa thổi sợi vải liền có người tỉnh ngộ. Người học thời nay vì sao không biết tự kỷ?” ● 鳥 巢 滄 海 底 魚 躍 石 山 頭. Chim làm ổ dưới đáy biển cả, cá nhảy qua ngọn núi đá. Cơ ngữ kỳ đặc của nhà Thiền, ý ở chỗ chỉ dạy người học thoát khỏi sự hiểu biết về nghĩa lý, dẹp trừ vọng tâm phân biệt. Tiết Đại Quy Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂:雨 下 階 頭 濕、晴 乾 水 不 流。鳥 巢 滄 海 底、魚 躍 石 山 頭。眾 中 大 有 商 量、前 頭 兩 句 是 平 實 語、後 頭 兩 句 是 格 外 談。若 如 是 會、祇 見 石 磊 磊、不 見 玉 落 落。若 見 玉 落 落、方 知 道 寬 廓。咦! – Sư thượng đường nói: Mưa xuống ướt thềm nhà, trời tạnh thì khô chẳng có nước; chim làm ổ dưới đáy biển cả, cá nhảy qua ngọn núi đá. Trong chúng có nhiều người thương lượng: Hai câu trước là lời bình thường, hai câu sau là lời vượt mức bình thường. Nếu ông hiểu như thế, thì chỉ là thấy đá lục cục, chẳng thấy ngọc sáng ngời. Nếu thấy ngọc sáng ngời thì ông mới biết đại đạo thênh thang rộng rãi. Ôi chao!”. ● 鳥 迹. Dấu vết chim bay, tỷ dụ cho sự vật hư huyễn, linh hoạt kỳ ảo. Tiết “Cô tịch ngâm” của Hòa Thượng Đan Hà trong TĐT q.4 ghi: “直 似 長 空 搜 鳥 迹、始 得 玄 中 又 更 玄。 – Cần phải như tìm dấu vết chim bay trong hư không mới được trong huyền lại thêm huyền.” ● 垜 根. Chấp trước, câu nệ vào ngôn cú tri giải. Tiết Đầu Tử Đại Đồng Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “我 老 兒 氣 力 稍 劣、脣 舌 遲 鈍、亦 無 閑 言 語 與 汝。汝 若 問 我、便 隨 汝 答、也 無 玄 妙 可 及 於 汝。亦 不 教 汝 垛 根、終 不 說 向 上 向 下、有 佛 有 法、有 凡 有 聖。 – Ta đã già rồi khí lực suy kém, nói năng chậm lụt cũng không có chuyện phiếm cho ngươi. Nếu ngươi hỏi ta thì ta tùy tiện đáp cho. Cũng không có lời huyền diệu cho ngươi, cũng không dạy ngươi chấp trước ngôn cú tri giải. Ta hoàn toàn không nói hướng thượng hướng hạ, có Phật có pháp, có phàm có thánh.” ● 墮 根. Đào sâu tìm hiểu, chấp trước, câu nệ ở lời nói, tri giải, cũng dùng làm từ để quở mắng. Tiết Đạo Ngô Hòa Thượng trong Tổ Đường Tập q.4 ghi: “石 頭 是 眞 金 鋪、江 西 雜 貨 鋪、師 兄 在 彼 中 墮 根 作 什 麼?千 萬 千 萬、速 來 速 來! – Thạch Đầu là tiệm vàng ròng, Giang Tây là tiệm tạp hóa, sư huynh ở trong ấy đào sâu tìm hiểu cái gì? Nhất định cần phải, đến mau đến mau!”. ● 墮 坑 落 塹. Sa hầm sụp hố, phần lớn chỉ cho việc ứng đối, tham tập làm lỡ mất cơ duyên, chẳng khế hợp thiền pháp. Bích Nham Lục q.1 ghi: “才 作 道 理、墮 坑 落 塹。 – Vừa so đo thì đã sa hầm sụp hố!”. ● 端 喻 (1085-1150). Thiền tăng cuối đời Bắc Tống, hiệu Phật Trí, Phùng Am, người xứ Cối Kê (nay là thành phố Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, vốn là con cháu của Ngô Việt Vương Tiền Lưu vào thời Ngũ Đại. Sư bẩm tính thông tuệ, mày mắt đẹp đẽ, xuất thân trong gia đình danh tiếng, có địa vị trong xã hội, nhưng chỉ có mình sư là hâm mộ cửa KHÔNG. Năm 14 tuổi, sư cạo tóc xuất gia tại chùa Đại Thiện trong ấp. Năm 18 tuổi được thụ giới cụ túc và du phương tham học, đầu tiên sư nương Thiền Sư Tịnh Từ Sư Nhất. Ít lâu sau, sư chợt nghe một vị tăng gõ cây cột cái phát tiếng kêu boong boong, bỗng nhiên có tỉnh. Sau đó ra mắt các vị: Long Môn Thanh Viễn, Mục Lộ Thủ Trác, Lặc Đàm Cảnh Tường. Các vị thầm biết sư là pháp khí nên dạy sư đến tham học với ngài Viên Ngộ. Sư liền đến chùa Thiên Ninh Vạn Thọ ở Kim Lăng ra mắt Thiền Sư Viên Ngộ Khắc Cần. Khi gặp nhau cả hai đều rất vui vẻ, sư ngay nơi lời nói đại ngộ, và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Ban đầu ngài bảo sư làm Thư ký, ít lâu sau được ngài phân tòa khai pháp. Từ đó, đạo của sư càng cao, tiếng tăm càng vang xa. Sư liên tiếp trụ trì khai pháp các chùa nổi tiếng như: Đan Hà ở Trịnh Châu, Hổ Khâu ở Cô Tô, Kính Sơn ở Dư Hàng, Tây Hoa ở Bình Giang, Bảo Ninh ở Kim Lăng, Vạn Thọ ở Cô Tô, Hiền Sa ở Mân Trung, Tây Thiền ở Thọ Sơn, Linh ẩn ở Hàng Châu. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 18 (1148), sư phụng chỉ trụ trì chùa Dục Vương tại Ninh Ba. Sư thần sắc uy nghiêm, thượng đường xướng đạo không biết mệt mỏi khiến cho tăng chúng rất kính mến, khâm phục. Từ Ninh Hoàng thái hậu từng triệu sư vào cung diễn pháp, rất khen ngợi và ban cho sư ca sa Kim Lan. Thụy hiệu: Đại Ngộ Thiền Sư. ● 端 的. 1. Xác thật, chân thật. Phần Bình xướng của tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 140 hạ) ghi: “且 道:達 磨 是 觀 音、志 公 是 觀 音?阿 那 箇 是 端 的 底 觀 音? – Hãy nói Đạt Ma là Quán Âm hay Chí Công là Quán Âm? Người nào mới thật là Quán Âm?” ● 2. Nếu làm phó từ, thì Đoan Đích có nghĩa là hoàn toàn. Tắc 88, Bích Nham Lục (Đại 48, 212 hạ) ghi: “端 的 瞎。是 則 接 物 利 生、未 必 不 見 在。 – Dù học nhân hoàn toàn mù, nhưng khi Tông sư tiếp vật lợi sinh chưa hẳn là họ chẳng thấy”. ● 3. Chỉ rõ, nói rõ. Tiết Phong Huyệt Diên Chiểu Thiền Sư trong NĐHN q.11 có ghi: “問:西 祖 傳 來、請 師 端 的。 – Hỏi: Tổ sư ấn Độ truyền đến, thỉnh sư chỉ rõ”. ● 4. Lãnh hội, rõ ràng. Tiết Đức Học Ca trong Phần Dương Ngữ Lục có ghi: “物 外 高 譚 會 者 希、世 智 辯 聰 未 奇 特、 道 中 人、數 相 覓、瞬 目 揚 眉 便 端 的” “Bàn luận cao siêu ít người hiểu Thế trí biện thông chưa phải lạ Người trong đạo, luôn tìm nhau Nhướng mày chớp mắt liền lãnh hội”. ● 斷 頭 取 活. Vì muốn tìm sự sống mà lại chặt cái đầu đi, ý nói làm việc si mê ngu xuẩn. Chương Long Cảnh Luân Thiền Sư trong CĐTĐL q.22 ghi: “初 開 堂、提 起 拂 子 曰:還 會 麼?若 會 即 頭 上 更 增 頭、若 不 會 即 斷 頭 取 活。 – Mới khai đường, sư giơ phất tử lên, nói: Có hiểu không? Nếu hiểu thì giống như trên đầu chồng thêm đầu, nếu chẳng hiểu thì giống như chặt đầu mà tìm sự sống”. ● 斷 崖. Hiệu của Thiền tăng Liễu Nghĩa đời Nguyên. X. Liễu Nghĩa. ● 斷 拂. Thiền tăng Minh Phương đời cuối Minh đầu Thanh tham kiến Viên Trừng, lúc truyền pháp Viên Trừng giao cho sư một đoạn phất tử, cho nên có biệt hiệu “Đoạn Phất”. X. Minh Phương. ● 奪 境 不 奪 人. Đoạt cảnh chẳng đoạt nhân, là một trong “Tứ liệu giản” của Thiền Sư Lâm Tế. Đối với người học nào còn nặng về “ Pháp chấp”, Thiền Sư sẽ chọn biện pháp này để tiếp dẫn họ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “僧 云。如 何 是 奪 境 不 奪 人。師 云。王 令 已 行 天 下 遍。將 軍 塞 外 絕 煙 塵。 – Tăng hỏi: Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân? Sư đáp: Lệnh vua ban truyền khắp thiên hạ. Tướng quân biên giới khói mù tan.” Các Thiền Sư Tông Lâm Tế về sau thường vận dụng cách tiếp dẫn này. ● 奪 人 不 奪 境. Đoạt nhân chẳng đoạt cảnh, là một trong “Tứ liệu giản” của Thiền Sư Lâm Tế. Đối với người học nào còn nặng về “Ngã chấp” Thiền Sư sẽ dùng biện pháp tiếp dẫn này để dìu dắt. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “有 僧 問。如 何 是 奪 人 不 奪 境。師 云。煦 日 發 生 鋪 地 錦。瓔 孩 垂 髮 白 如 絲。 – Có vị tăng hỏi: Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh? Sư đáp: Mặt trời ẩn hiện phô gấm vóc. Trẻ thơ rủ tóc trắng như tơ.” Phần lớn các Thiền Sư tông Lâm Tế về sau thường vận dụng cách tiếp dẫn này. ● 奪 人 奪 境. Biện pháp tiếp dẫn người học mà Tông Lâm Tế thường sử dụng để phá trừ “Ngã chấp” và “Pháp chấp” cho họ. X. Tứ liệu giản. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL q.9 ghi: “臨 濟 宗 棒 喝 交 馳、雷 奔 電 激、奪 人 奪 境、照 用 并 行。 – Tông Lâm Tế đánh hét xen nhau giống như sấm nổ điện chớp, đoạt nhân đoạt cảnh, chiếu dụng cùng thi hành.” ● 都 來. Còn gọi: Đô lô, đô thông. Tất cả, đều. Uyển Lăng Lục ghi: “山 河 大 地、日 月 星 辰、總 不 出 汝 心。三 千 世 界 都 來 是 汝 箇 自 己。 – Núi sông mặt đất, mặt trời mặt trăng tinh tú đều không ngoài tâm ngươi, tam thiên thế giới đều là tự kỷ của ngươi.” ● 涂 糊. Giễu cợt, trêu chọc. Tiết Thích Ca Mâu Ni Phật trong LĐHY q.1 ghi: “Đường đường như đức Thế Tôn mà còn bị ngoại đạo trêu chọc ngay trước mặt”. ● 涂 污. Làm bẩn, bôi bẩn, giễu cợt. Chương Tùng Triển Thiền Sư trong CĐTĐL q.19 ghi: “莫 涂 污 老 僧 好! – Đừng đem đồ bất tịnh kia làm bẩn lão tăng nghen!”. ● 肚 皮 禪. Thiền một bụng. Chỉ cho thiền pháp cạn cợt, không dứt trừ được gốc rễ sinh tử. Phần giải tụng của tắc 98, Bích Nham Lục q.10 (Đại 48, 222 thượng) ghi: “堪 笑 他 會 一 肚 皮 禪。更 使 些 子 不 著。 – Nực cười cho ông ta lãnh hội thiền một bụng, muốn dùng chút ít cũng chẳng được”. ● 杜 口. Còn gọi: Đỗ Từ, Đỗ Mặc. Lặng im chẳng nói. Tiết Hoàng Long Pháp Trung Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “淨 名 杜 口 於 毗 耶、釋 迦 掩 室 於 摩 竭。 – Tịnh Danh lặng im ở Tỳ Da. Thích Ca đóng cửa thất nơi Ma Kiệt.” Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “文 殊 辯 說。認 螢 火 爲 太 陽。居 士 杜 詞。指 魚 目 同 明 珠。 – Văn Thù biện thuyết, nhận huỳnh hỏa vi thái dương; cư sĩ đỗ từ, chỉ ngư mục đồng minh châu – Văn Thù biện luận, nhận đom đóm là mặt trời. Cư sĩ lặng im, trỏ mắt cá đồng với minh châu.” Chương Từ Tế Thiền Sư trong CĐTĐL q.25 ghi: “如 今 更 別 說 箇 什 麼 即 得?然 承 恩 旨 不 可 杜 默 去 也。 Như kim cánh biệt thuyết cá thập ma tức đắc? Nhiên thừa ân chỉ, bất khả đỗ mặc khứ dã. – Hôm nay lại đặc biệt nói cái gì thì được? Nhưng vâng theo chiếu chỉ nhà Vua, không thể chẳng nói.” ● 杜 撰 禪 和. Còn gọi: Đỗ Thiền Hòa. Chỉ cho các thiền sinh chưa chân thật thấu rõ Phật pháp. Hiệp chú, tắc 63, Bích Nham Lục (Đại 48, 194 hạ) ghi: “可 惜 放 過。一 隊 漆 桶 堪 作 什 麼。杜 撰 禪 和 如 麻 似 粟。 – Đáng tiếc đã bỏ qua, một lũ ngu si đâu thể làm được gì? Thiền sinh chưa kiến tính nhiều như mè, như lúa”. ― Đỗ soạn Trưởng lão: Chỉ cho vị Hòa Thượng không có khả năng thấu rõ chân nghĩa Phật pháp hoặc người nghiên cứu tu tập Thiền pháp lâu năm mà không ngộ đạo. ― Đỗ soạn gia, Đỗ gia: Người chẳng am tường về điển cố mà thích phát biểu dẫn chứng dài dòng. ● 度. 1. Thông qua nghi thức nhất định để người xuất gia làm tăng. Chương Tổ thứ 5 Đề Đa Ca trong CĐTĐL q.1 ghi: “彌 遮 迦 曰。。。。願 師 慈 悲 令 我 解脫。尊 者 (指 提 多 迦)即 度 出 家。 Di Già Ca viết: ……. nguyện sư từ bi, linh ngã giải thoát. Tôn giả (chỉ cho Đề Đa Ca) tức độ xuất gia. – Di Già Ca nói: …. xin sư từ bi khiến cho con giải thoát. Tôn giả Đề Đa Ca liền độ cho xuất gia.” ● 2. Giao, đưa. Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “潭(指 接、潭 復 吹 滅。 – Hòa Thượng Long Đàm thắp đuốc đưa cho sư, sư toan nhận, Long Đàm lại thổi tắt.” ● 度 門 寺. Nằm trên ngọn Lăng Già, huyện Đương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, ngài Thần Tú sáng lập vào khoảng niên hiệu Nghi Phụng (676-678) đời Đường, tên chùa phát xuất từ kinh Lăng Già “vô lượng độ môn tùy loại phổ hiện”. Niên hiệu Thần Long thứ 2 (706) Thần Tú tịch, thụy là “Đại Thông Thiền Sư” bèn đổi tên là “Đại Thông Tự”. Vua Đường Duệ Tông ban cho 30 vạn tiền để mở rộng xây dựng trở thành đạo tràng trọng yếu của Thiền Bắc tông. Sau đó hoang phế. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh Vô Tích Chứng Hải trùng tu, một lần nữa được phục hưng. Khoảng niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh vị tăng tên An Tướng trùng tu và xây cất thêm, chia làm hai chùa Độ Môn và Đại Thông. ● 髑 髏 裏 眼 睛. Con mắt trong đầu lâu, ẩn dụ khi diệt hết các nhiễm tập trần tục, những tình thức hư vọng thì sẽ hiển bày con mắt trí huệ. Đây là sự thể nghiệm của người tham thiền ngộ đạo. Tắc 2, Bích Nham Lục (Đại 48, 142 trung) ghi: “僧 問 香 嚴。如 何 是 道。嚴 云。枯 木 裹 龍 吟。僧 云。如 何 是 道 中 人。嚴 云。髑 髏 裹 眼 睛。 – Tăng hỏi Hương Nghiêm: Thế nào là đạo? Sư đáp: Rồng đùa trong cây khô, Thế nào là người trong đạo? Con mắt trong đầu lâu”. ● 獨 眼 龍. Có 2 nghĩa: 1. Thông thường chỉ cho người chột mắt; 2. Thiền Tông mượn từ Độc Nhãn Long để chỉ cho nhân vật có học vấn và đạo đức hơn người. Tiết Minh Chiêu Mục Miễu trong NĐHN q.13 ghi: “務 州 明 昭 謙 和 尚 眇 一 目、叢 林 號 獨 眼 龍。 – Hòa Thượng Minh Chiêu Khiêm ở Vụ Châu bị chột mắt. Trong tùng lâm gọi sư là Độc nhãn long”. ● 獨 參. Người học một mình đi đến thất của Thiền Sư để trình kiến giải của mình về công án đang theo đuổi. Đây là luật lệ của tông Lâm Tế: Sau giờ ngọ hoặc sau khóa tu buổi sáng hoặc sau buổi ăn cháo chiều, Thiền sinh nghe tiếng chuông gọi của Thầy để vào thất trình kiến giải. ● 獨 脫. Ngộ. Phần lời dẫn của tắc 51, Bích Nham Lục q.6 (Đại 48, 185 hạ) ghi: “直 饒 便 到 獨 脫 處。未 免 萬 里 望 鄉 關。 – Dù cho ông có ngộ đi nữa, cũng vẫn còn cách ý chỉ thiền rất xa”. ● 獨 足 夔. Con Quỳ một chân. Quỳ là một loài thú rất đặc biệt, chỉ có một chân mà đi được. Thiền Tông mượn hình ảnh này để nói lên điều kỳ diệu. Bài tán của Tông Cảnh trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 吾 師 禪 道 獨 足 夔 懸 涯 撒 手 心 如 如 剎 竿 頭 上 煎 鎚 子 驀 然 倒 騎 三 腳 驢 “Thiền thầy ta, con Quỳ một chân Hố thẳm buông tay tâm như như Trên đầu cột phướn nấu quả chùy Bỗng nhiên cỡi ngược lừa ba cẳng”. ● 堆 堆 (504). Ngồi lâu bất động, đờ đẫn. Tiết “Khai thị Bính Thiền nhân” trong MANL ghi: “白 日 只 堆 堆 地 坐、全 不 知 佛 法 道 理。 – Ban ngày chỉ ngồi bất động hoàn toàn không biết đạo lý Phật pháp.” ● 䭔 子. Bánh hấp. Như Tịnh Ngữ Lục q.hạ: “剎 竿 頭 上 煎 䭔 子。 – Nấu bánh hấp trên đầu cột phướn”. ● 堆 雲 叟. Hiệu của Thiền tăng Tông Diệu đời Minh. X. Tông Diệu. ● 對 機. Có 2 nghĩa: 1. Đối là đối đáp. Cơ là căn cơ. Chỉ cho Thiền Sư ứng với căn cơ của người học mà đáp. ● 2. Căn cơ của đối thủ. ― Về mặt Thiền Sư: Đối cơ là người học nhận được sự giáo hóa lợi ích. ― Về mặt chư Phật: Đối cơ là chúng sinh nhận lấy lời thuyết pháp của chư Phật. Theo môn Tham Thỉnh trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên: Trò hỏi, Thầy đáp gọi là Vấn đáp. Nếu chỉ thuộc về bên Thầy thì gọi là Đối cơ. ● 對 面 千 里. Tuy ở ngay trước mặt mà như cách xa ngàn dặm, dụ cho Thiền nghĩa ở sát bên mỗi người mà chúng ta rất khó nhận biết được. Ngũ Đăng Hội Nguyên q.12 ghi: “忽 遇 仙 陀 客 來、又 作 麼 生?師 曰:對 面 千 里。– Hỏi: Chợt gặp kẻ mau lãnh hội đến, thì làm sao? Sư đáp: Trước mặt mà như cách xa ngàn dặm”. ● 對 眼 投 機. Hợp ý thiền cơ, ăn khớp với thiền cơ. Tiết Hưng Thánh Trọng Mãn Thiền Sư trong NĐHN q.8 ghi: “覿 面 分 付、不 待 文 宣。對 眼 投 機、喚 作 參 玄。上 士 若 能 如 此、所 以 宗 風 不 墜。 – Tận mặt giao phó, chẳng đợi chữ nghĩa tuyên bày mà vẫn ăn khớp với thiền cơ, gọi là huyền tham. Nếu bậc thượng sĩ làm được như vậy thì tông phong mới chẳng bị sa sút”. ● 對 一 説. Lời nói đúng. Chỉ cho ba tạng kinh, 12 phần giáo thảy đều trình bày theo đạo lý tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Tắc 14, Bích Nham Lục (Vạn Tục 117, 143 hạ) ghi: “舉 僧 問 雲 門:如 何 是 一 代 時 教。雲 門 云:對 一 說。 – Công án: Tăng hỏi ngài Vân Môn: Thế nào là giáo lý một đời? Vân Môn đáp: Lời nói đúng!”. ● 對 酬 錐 鑿. Trong khi ứng đối thuyết pháp, thiền ngữ qua lại nhằm khải phát tính linh, khơi mở pháp nhãn. Thiên Đồng Chính Giác Hòa Thượng sớ thêm vào ở quyển cuối của CĐTĐL q.30 ghi: “應 接 麼 礱 之 妙、對 酬 錐 鑿 之 方、電 卷 之 機 輪、風 馳 之 問 答。 – Cái diệu của việc ứng tiếp mài dũa, cách thức đối thù chùy tạc là, cơ phong như điện chớp, hỏi đáp như gió cuốn”. ● 頓 機. Chỉ cho loại căn cơ nghe pháp Đốn giáo mà chóng ngộ Phật đạo. Kinh Viên Giác (Đại 17, 921 hạ) ghi: “是 經 名 爲 頓 教 大 乘、頓 機 眾 生 從 此 開 悟 。 – Kinh này tên là Đại thừa đốn giáo, chúng sinh đốn cơ theo đây mà khai ngộ”. ● 頓 教. Giáo pháp của Thiền Tông dạy người học giác ngộ tự tâm một cách nhanh chóng, cũng gọi là pháp thiền trực tiếp, nay gọi là Tổ sư Thiền. Phần Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận trong Thần Hội Di Tập q.2 có ghi: “唯 傳 頓 教 法、出 世 破 邪 宗。 – Chỉ truyền pháp đốn giáo, ra đời phá tà tông”. ● 頓 悟 漸 悟. Đốn ngộ: Sự giác ngộ nhanh chóng, ngay đó liền vào nơi cứu cánh. Tiệm ngộ: Sự giác ngộ nương theo thứ lớp, dần dần tiến lên đến chỗ cứu cánh. ở Trung Quốc, khoảng thế kỷ thứ V có cuộc tranh luận giữa hai thuyết “Đốn ngộ thành Phật” và “Tiệm ngộ thành Phật” dựa trên cơ sở là Kinh Niết Bàn. Về sau, thuyết “Đốn ngộ thành Phật” của Đạo Sinh dịch từ Kinh Niết Bàn (bản 40 quyển) được mọi người chấp nhận. Thiền Tông Trung Quốc, dựa vào sự sai khác của giáo nghĩa mà phát sinh Tông phong khác nhau: Hệ thống Huệ Năng thuộc phương Nam (Nam đốn), hệ thống Thần Tú thuộc phương Bắc (Bắc tiệm). Phần Thùy thị (lời dẫn) của tắc 38, Bích Nham Lục q.4 (Đại 48, 175 hạ) ghi: “若 論 漸 也。返 常 合 道。鬧 市 裹 七 縱 八 橫。若 論 頓 也。不 留 朕 跡。千 聖 亦 摸 索 不 著。儻 或 不 立 頓 漸。又 作 麼 生。 – Nếu luận về TIệM, thì trái với thông thường mà hợp với đạo, ở trong ồn náo thật tự tại. Nếu luận về ĐổN thì chẳng để lại dấu vết, ngàn thánh mò tìm chẳng được. Còn như chẳng lập ĐổN TIệM thì sao?” Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 鈍 置. Còn gọi: Độn 鈍, Độn trí 鈍 致. Giày vò, chọc quê, giở trò. Tắc 38, Bích Nham Lục (Tục 117,167, thượng) ghi: “一 死 更 不 再 活、這 漢 鈍 置 殺 人 遭 他 毒 手。 – Một khi chết rồi không sống lại, lão này (Lô Pha) hay chọc quê người lắm, song vấp phải thủ đoạn hiểm độc của Phong Huyệt”. ● 東 庵. Hiệu của Thiền tăng Đức Quang đời Tống. X. Đức Quang. ● 東 壁 打 西 壁. Trong nhà không có một vật. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ muôn vật đều không. Tiết Tưởng Sơn Toản Nguyên Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “僧 問:如 何 是 和 尚 家 風?師 曰:東 壁 打 西 壁。 – Tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa Thượng? Sư đáp: Muôn vật đều không”. ● 東 卜 西 卜. Nhiều cách giải thích, nhiều cách suy đoán. Tiết Đại Quy Mộ Triết Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “上 堂:山 僧 本 無 積 蓄、且 得 粥 足 飯 足、困 來 即 便 打 眠、一 任 東 卜 西 卜。” “Thượng đường: Sơn tăng bản vô tích súc Thả đắc chúc túc phạn túc Khốn lai tức tiện đả miên Nhất nhậm đông bốc tây bốc”. “Sư thượng đường nói: Sơn tăng vốn không chất chứa May được đủ cơm, đủ cháo Lúc mệt thì đi ngủ ngay Mặc cho suy đoán nhiều cách”. ● 東 葛 西 葛. Nói đông nói tây. Lải nhải. Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “承 天 自 開 堂 後、便 安 排 些 葛 藤 來 山 南 東 葛 西 葛。 – Sau khi khai đường, Thừa Thiên liền sắp đặt vài lời để đến Sơn Nam nói đông nói tây”. ● 東 涌 西 沒. Đông nổi tây chìm. Chỉ cho cảnh giới tự do tự tại, thông suốt vô ngại của Thiền gia sau khi ngộ đạo. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “東 涌 西 沒、卷 舒 自 在。 – Cảnh giới sau khi ngộ, co duỗi tự tại”. ● 東 陽. Hiệu của Thiền tăng Đức Huy đời Nguyên. X. Đức Huy. ● 東 和 禪 寺. Thuộc thành phố Đài Bắc, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Niên hiệu Quang Tự thứ 34 (1908) do Tâm Nguyên, Thiện Huệ, Giác Lực cùng chung sáng lập. Niên hiệu Tuyên Thống thứ 2 (1910) hoàn thành Quán Âm thiền đường, Tổ đường. Thời kỳ Nhật Bản thống trị Đài Loan đổi tên là “Tào Động Tông Đại Bản Sơn Biệt Viện”. Năm 1923 xây xong Bản đường đại điện. Sau khi kháng chiến thắng lợi đổi tên là “Đông Hòa Thiền Tự” do Hòa Thượng Giác Lực trụ trì. ● 東 溪. Hiệu của Thiền tăng Phương Trạch đời Minh. X. Phương Trạch. ● 東 陵. Hiệu của Thiền tăng Vĩnh Dư đời Nguyên. X. Vĩnh Dư. ● 東 明. Hiệu của thiền tăng Huệ Nhật đời Nguyên. X. Huệ Nhật. ● 東 坡 禪 喜 集. Gọi tắt: Thiền Hỷ Tập. Sách, 9 quyển do Tô Đông Pha soạn vào đời Tống, Từ Trường Nhụ biên tập. ― Quyển 1: Tụng ― Quyển 2: Tán ― Quyển 3: Kệ ― Quyển 4: Minh ― Quyển 5: Ký ― Quyển 6: Thư, bạt. ― Quyển 7: Tự, truyện, văn sớ. ― Quyển 8: Thiền hỷ kỷ sự. ― Quyển 9: Phật ấn vấn đáp, Ngữ Lục. Đời Minh, Trần Kế Nho và Lục Thọ Thanh viết tựa và lời bạt về văn hiến đời Đường. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 18 (1590) đời Minh, chép 25 điều Ngữ Yếu thượng đường thị chúng và 1 thiên “Nghĩa Thanh lược truyện” do Đan Hà Tử Thuần soạn. ● 冬 瓜 印 子. Con dấu bằng bí đao. Cắt ngang trái bí để làm một cái ấn, tuy có giống cái ấn nhưng chẳng phải ấn thật, Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho bậc Thầy khi tiếp hóa người học chưa khám nghiệm kỹ lưỡng mà đã vội tùy tiện ấn chứng cho họ. Tắc 98, Bích Nham Lục (Đại 48, 221 hạ) ghi: “只 管 被 諸 方 冬 瓜 印 子 印 定 了 便 道。我 會 佛 法 奇 特。莫 教 人 知。 – Chỉ muốn được các nơi dùng con dấu bí đao để ấn chứng cho, liền nói: Tôi hiểu Phật pháp một cách đặc biệt, chớ bảo cho người ta biết”. Ngoài ra, “Đông qua trực lung đồng” nghĩa là trái bí đao tuy thẳng thớm nhưng chưa chín, dùng dụ này để chỉ cho người có bản chất tốt nhưng chưa thành thục (Lung đồng, có nghĩa là chưa thành thục). ● 東 君. Chúa Xuân. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: 春 雨 洒 無 涯、乾 坤 已 具 知 東 君 行 正 令、梅 柳 一 枝 枝 “Xuân vũ sái vô nhai Càn khôn dĩ cụ tri Đông quân hành chính lệnh Mai liễu nhất chi chi”. “Mưa xuân gội khắp nơi Đất trời đã biết rồi Chúa Xuân hành chính lệnh Một nhánh liễu, cành mai”. ● 東 初 (1908-1977). Tăng nhân hiện đại, họ Phạm, tự Đăng Lãng, hiệu Nhân Thự, người huyện Thái, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, nối pháp Hòa Thượng Trí Quang, tông Tào Động. Tác phẩm: Trung Nhật Phật Giáo Giao Thông Sử, Trung ấn Phật Giáo Giao Thông Sử, Trung Quốc Phật Giáo Cận Đại Sử, Phật Giáo Nghệ Thuật, Thiền, Tâm Kinh Tư Tưởng Sử. ● 東 山 法 門. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn hoằng truyền Thiền Tông tại núi Đông Sơn, nên các tùng lâm dùng hai chữ Đông Sơn để ám chỉ pháp môn của Ngũ Tổ truyền dạy. Hoằng Nhẫn truyện trong TCTT q.8 ghi: “擁 納 之 侶、麕 至 蟬 聯、商 人 不 入 於 化 城; 貧 女 大 開 於 寶 藏、人 其 趣 者 號 東 山 法 門 歟。 – Bạn bè giúp đỡ liên tục kéo đến cả lũ, khách buôn chẳng vào Hóa Thành, cô gái nghèo mở rộng cửa Bảo Sở. Cái làm hứng thú người ta có tên gọi Đông Sơn pháp môn chăng?”. ● 東 西. Qua lại thăm viếng, rời bỏ. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.4 ghi: “儞 來 去 爲 阿 誰?對 曰:替 佢 東 西。師 曰:何 不 教 伊 并 投 行。 – Sư bảo: Ngươi vì ai mà qua lại thăm viếng? Đáp rằng: Thay y mà qua lại thăm viếng. Sư bảo: Sao chẳng dạy y cùng đi.” Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “某 甲 家 風 只 如 此 也、肯 與 不 肯、终 不 抑 勤 闍 黎、一 任 東 西。 – Gia phong của ta chỉ như thế, chẳng ép buộc xà lê chấp nhận hay không chấp nhận, mặc cho ông rời bỏ.” ● 東 司. Nhà xí, nhà vệ sinh. Tông Môn Võ Khố ghi: “錢 弋 中 郎 訪 眞 淨、說 話 久。欲 登 溷。淨 令 行 者 引 從 西 邊 去。錢 遽 云。既 是 東 司。爲 什 麼 卻 向 西 去。 Tiền Dặc Trung lang phỏng Chân Tịnh, thuyết thoại cửu, dục đăng hỗn. Tịnh linh hành giả dẫn tùng tây biên khứ. Tiền cự vân: Ký thị đông ty, vi thập ma hướng tây khứ? – Quan Trung lang Tiền Dặc đến thăm Chân Tịnh, nói chuyện hồi lâu ông muốn đi nhà xí. Chân Tịnh sai hành giả dẫn ông ta đi hướng tây. Tiền Dặc vội vàng nói: Đã là đông ty vì sao lại đi về hướng tây.” ● 銅 頭 鐵 額 漢. Thiền tăng có cơ phong mạnh mẽ, hoặc là chỉ cho bậc căn cơ linh lợi. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “栖 賢 辨 和 尚 偈 曰: 勿 謂 栖 賢 窮、身 窮 道 不 窮。 草 鞋 獰 似 虎、拄 杖 活 如 龍。 渴 飲 曹 溪 水、饑 吞 栗 棘 蓬。 銅 頭 鐵 額 漢、盡 在 我 山 中。 – Hòa Thượng Biện ở chùa Thê Hiền có bài kệ như sau: Chớ bảo Thê Hiền nghèo Thân nghèo đạo chẳng nghèo Cây gậy như rồng quẫy Giày cỏ tợ cọp ngầu Đói ăn cỏ gai góc Khát uống nước khe Tào Hạng căn cơ linh lợi Đều ở tại núi ta”. ● 同 慶 寺. Nằm trên sườn nam núi Quy sơn cách huyện Ninh Hương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc 70km Dưới về phía tây. Cuối niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) đời Đường Tổ tông Quy Ngưỡng là Linh Hựu hoằng dương thiền pháp tại chùa này. Sau nhờ Lý Cảnh Nhượng tấu thỉnh vua ban cho tấm biển “Đồng Khánh Tự”. ● 同 參. Còn gọi: Đồng Học. Chỉ cho người cùng theo một thầy để cùng nhau tham thiền. Về sau trở thành tiếng xưng hô thông thường giữa các vị tăng với nhau. Tiết Thiết Phật Trí Tung Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “有 同 參 到、師 見 便 問:還 記 得 相 識 麼?參 頭 擬 議、第 二 僧 打 參 頭 一 坐 具 曰:何 不 快 祗 對 和 尚?師 曰:一 箭 兩 垛。 – Có vị tăng đồng tham đến, sư liền hỏi: Còn nhớ nhau chăng? Vị này đang do dự, vị tăng thứ hai đánh y một tọa cụ, rồi nói: Sao chẳng đáp ngay cho Hòa Thượng? Sư nói: Một mũi tên trúng hai mục tiêu”. ● 動 地 雨 花. Chấn động thế giới, trời rải hoa thơm, hình dung lời thuyết pháp rất hay. Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng ghi: “釋 迦、彌 勒、動 地 雨 花。 – Thích Ca, Di Lặc thuyết pháp rất hay”. ● 洞 下. Chỉ cho ở dưới môn đình tông Tào Động. Tiết “Tục Nghệ Ngôn” trong NHQL q.30 ghi: “雲 門 雖 承 雪 峰、記 莂 而 後、乃 曆 參 洞 下 諸 師、如 曹 山、疏 山、乾 峰、九 峰、皆 有 機 緣。是 知 大 道 惟 公、法 無 偏 黨。 –Vân Môn tuy thừa kế Tuyết Phong, sau khi được thọ ký, ngài lần lượt tham học với các sư ở dưới môn đình tông Tào Động như Tào Sơn, Sơ Sơn, Kiền Phong, Cửu Phong, thảy đều có cơ duyên. Biết rõ đại đạo công bình, pháp không nghiêng lệch về một phía.” ● 動 絃 別 曲. Nghe khảy đàn liền biết rõ điệu khúc. Dụ cho việc khế hợp thiền cơ một cách nhanh chóng. Tiết Thiên Đồng Hàm Kiệt Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “動 絃 別 曲、葉 落 知 秋。舉 一 明 三、目 機 銖 兩。 – Nghe tiếng đàn liền biết rõ điệu khúc, thấy lá rơi biết mùa thu tới, cơ dụng lanh lợi vừa nhìn thoáng qua đã đánh giá được sự việc”. ● 洞 山. Còn gọi: Tân Phong sơn. Núi nằm ở xã Đồng An, huyện Nghi Phong, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Chính nơi núi này thân hào Lôi Hành quyên hơn 3.000 mẫu ruộng, lập nên Phổ Lợi Thiền Tự. Khoảng niên hiệu Đại Trung (847-859) đời Đường, Thiền Sư Lương Giới, Tổ tông Tào Động ra sức mở mang thiền học, số người tham học được vài trăm vị. Niên hiệu Hàm Thông thứ 10 (869), Lương Giới viên tịch ở Động Sơn. Đường Hiến Tông ban cho thụy hiệu “Ngộ Bản Thiền Sư” và ra lệnh xây “Huệ Giác Bảo Tháp” ở mé sau chùa để thờ Ngài. Tô Triệt sau khi đến viếng Động Sơn, có làm bài thơ như sau: 古 寺 依 山 占 幾 峯 精 廬 仿 佛 似 天 宮 三 年 欲 到 官 爲 碍 百 里 相 望 意 自 通 Cổ tự y sơn chiếm kỷ phong Tinh lô phảng phất tự thiên cung Tam niên dục đáo quan vi ngại Bách lý tương vọng ý tự thông “Chùa xưa tựa núi dáng vững vàng Điện đường phảng phất tợ thiên cung Ba năm muốn đến, quan làm ngại Trăm dặm ngóng về ý tự thông”. Các vị cao tăng trụ trì chùa này trải qua nhiều đời gồm có: Đạo Toàn, Sư Kiền, Đạo Diên, Hy Tổ, Huệ Hồng, Tịnh Thông, Thạch Hiệp… ● 洞 山 悟 本 大 師 語 錄. Còn gọi: Động Sơn Lương Giới Thiền Sư Ngữ Lục. Gọi tắt: Động Sơn Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Động Sơn Lương Giới soạn vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 597. Nội dung gồm có 120 tắc về: Thượng đường thị chúng, cử cổ, vấn đáp; 11 loại ca tụng, được xem là Ngữ Lục quan trọng nhất của Tông Tào Động, là một bộ toàn thư có phong cách thiền miên mật, lợi ích rộng lớn cho tông Tào Động. ● 洞 山 五 位. Còn gọi: Động Thượng Ngũ Vị. Là phương pháp đặc thù tiếp dẫn người học của tông Tào Động. Tiết Ô Cự Đạo Hạnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “臨 濟 三 玄、雲 門 三 句、洞 山 五 位、癡 人 面 前、不 得 說 夢。 – Tam huyền của Lâm Tế, tam cú của Vân Môn, ngũ vị của Động Sơn, trước mặt kẻ ngu không được nói mộng.” ● 洞 山 五 位 顯 訣. Ngữ Lục, 1 thiên, do Động Sơn Lương Giới soạn vào đời Đường, Huệ Hà biên tập vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 228. Nội dung nói về Chính Thiên Ngũ Vị, là cơ duyên thi thiết quan trọng của tông Tào Động. Thiên Ngữ Lục này được xếp vào Phủ Châu Tào Sơn Bản Tịch Thiền Sư Ngữ Lục quyển hạ. Những bản chú sớ về thiên này quan trọng hơn cả là: ― Ngũ Vị Hiển Quyết Nguyên Tự Cước của ngài Động Thủy. ― Ngũ Vị Hiển Quyết Canh Vân Chú Chủng Nguyệt Quân Lộc Cảo của Kiệt Đường Năng Thắng. ― Ngũ Vị Hiển Quyết Tham Chú của Bản Quang Hạt Đường. ● 洞 山 守 初 禪 師 語 要. Ngữ Lục 1 quyển, do Thiền Sư Động Sơn Thủ Sơ soạn vào đời Tống. Nội dung gồm các bài Ngữ Yếu thượng đường thị chúng và bài ca, bài tụng, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục quyển 38, Tục Tạng Kinh tập 118, trang 645. ● 洞 上. Tức tông Tào Động. Tiết “Tục Nghệ Ngôn” trong NHQL q.30 ghi: “投 子、芙 蓉 之 後、能 振 洞 上 一 宗 者、天 童 覺、眞 歇 了 也。 – Sau Đầu Tử, Phù Dung, người có thể chấn hưng tông Tào Động là Thiên Đồng Giác, Chân Yết Liễu.” ● 洞 上 古 轍. Còn gọi: Vĩnh Giác Hòa Thượng Động Thượng Cổ Triệt. Ngữ Lục, 2 quyển, do Vĩnh Giác Nguyên Hiền thu thập vào đời Minh, Vi Lâm Đạo Bái biên tập lại, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 125, trang 401. Nội dung gồm các Ngữ Yếu của các cao tăng tông Tào Động. Quyển thượng: Giải thích Tham Đồng Khế của Thạch Đầu Hy Thiên, Bảo Cảnh Tam Muội của Động Sơn Lương Giới. Kế là chia các mục: Động Sơn ngũ vị, Ngũ vị đồ thuyết, thu thập nhiều tư liệu liên quan đến ngũ vị. Quyển hạ gọi là “Tiên đức vi ngôn”, nêu ra các Ngữ Yếu về cương tông của chư sư để hiển bày tôn chỉ của tông Tào Động. ● 洞 上 玄 風. Chỉ cho thiền học môn phong của tông Tào Động. Tiết Động Sơn Lương Giới Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “師 自 唐 大 中 末 於 新 豐 山 接 誘 學 徒。。。。又 得 曹 山 深 明 的 旨、妙 唱 嘉 猷。道 合 君 臣、偏 正 回 互。由 是 洞 上 玄 風、播 於 天 下。 – Từ cuối niên hiệu Đại Trung (859) đời Đường, Thiền Sư Giới tiếp dẫn người học ở núi Tân Phong… Hơn nữa, Tào Sơn nhận sâu được ý chỉ của Ngài nên nói về lý thật tướng rất có bài bản: Đạo hợp quân thần, thiên chính hồi hỗ, nhờ đó mà thiền học môn phong của tông Tào Động được truyền bá khắp nơi”. ● 洞 上 宗 旨. Ý chỉ thiền pháp của tông Tào Động. Tiết Hoàng Long Đạo Chấn Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “少 依 覺 印 英 禪 師 爲 童 子、英 移 居 泗 之 普 照、適 淑 妃 擇 度 童 行、師 得 圓 具。久 之、辭 謁 丹 霞 淳 禪 師。一 日、與 論 洞 上 宗 旨。 – Thuở bé Sư nương Thiền Sư Anh ở chùa Giác ấn xuất gia làm điệu. Thiền Sư Anh dời sang chùa Phổ Chiếu ở Tứ Chi, vừa gặp lúc bà Vương phi chọn lựa Da Di tuổi nhỏ cho xuất gia, sư được độ vào dịp này. Về sau, sư giã từ Thầy đến yết kiến Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần. Một hôm, sư bàn luận với Ngài về ý chỉ thiền pháp của tông Tào Động”. ● 動 便. Động một tí (thì, là), thường thường. Vô Môn Quan ghi: “雲 門 因 僧 問、如 何 是 佛。門 云、乾 屎 橛。無 門 曰、雲 門 可 謂、家 貧 難 辨 素 食、事 忙 不 及 草 書。動 便 將 屎 橛 來、撐 門 拄 戶。佛 法 興 衰 可 見。 – Có vị tăng hỏi ngài Vân Môn: Thế nào là Phật? Vân Môn đáp: Que chùi đít. Vô Môn bình: Có thể bảo Vân Môn nghèo đến nỗi không lo được bữa cơm chay, bận rộn đến nỗi không kịp viết thư, động một tí là đem que chùi đít để chống đỡ môn đình, đủ thấy Phật pháp thịnh hay suy rồi!” ● 動 靜. Cử chỉ, hành vi. Tiết “Tục Nghệ Ngôn” trong NHQL q.30 ghi: “昔 大 覺 璉 動 靜 尊 嚴、圓 通 訥 一 見、直 以 大 器 期 之; 黃 龍 南 進 止 有 度、居 常 正 襟 危 坐。二 老 豈 局 曲 之 士 哉? – Ngày xưa Đại Giác Liễn cử chỉ tôn nghiêm, Viên Thông Nột một khi thấy biết là bậc tài giỏi; Hoàng Long Nam tính tình độ lượng, ở đâu cũng ngồi ngay ngắn nghiêm trang. Hai lão này đâu thể là kẻ câu nệ?” ● 動 著. Vọng tưởng. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho tâm dao động, khởi lên các thứ vọng tưởng. Tắc 6, Bích Nham Lục (Đại 48, 146 trung) ghi: “空 生 巖 畔 花 狼 籍、彈 指 堪 悲 舜 若 多。莫 動 著!動 著 三 十 棒! – Ngài Tu Bồ Đề ngồi thiền trong hang đá, trời rải mưa hoa. Trong khoảng thời gian rất ngắn, xót thương cho thần Hư Không. Chớ vọng tưởng. Hễ vọng tưởng là ăn 30 gậy”. ● 咄. 1. Hây! Từ biểu thị tiếng quát. Thiền Sư thường dùng để kết thúc một bài kệ của chính mình làm ra. Bài Tán Tuệ Trung Thượng Sĩ của Thiền Sư Pháp Loa có ghi: “Á! Thép ròng rèn được Gang sống đúc thành Thước trời tấc đất Gió mát trăng thanh Hây!” ● 2. Dốt, sai rồi. Lời quở trách đặt ở đầu câu. Đoạn “chấp tất cả vô trước là tâm” trong Kinh Lăng Nghiêm q.1 có ghi: “阿 難 言:如 來 現 今 徵 心 所 在、而 我 以 心 推 窮 尋 逐、即 能 推 者、我 將 爲 心。佛 言:咄 阿 難!此 非 汝 心。 – A Nan nói: Nay Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào, con dùng tư tưởng suy tìm ấy, con cho là tâm. Phật bảo: Sai rồi, A Nan! Cái ấy chẳng phải tâm ngươi”. Tắc Ngưỡng Sơn Xuất Tỉnh trong Thiền Uyển Mông Cầu, q. hạ (Vạn Tục 148, 275 thượng) ghi: “師 後 舉 問 耽 源:如 何 是 出 得 井 中 人?源 曰:咄、癡漢!誰 在 井 中? – Về sau, sư hỏi Đam Nguyên: Người ở dưới giếng làm sao ra được? Nguyên nói: Dốt quá! Đồ ngốc! Ai mà ở dưới giếng?” ● 3. Chà! Tiếng thốt ra biểu thị sự ngạc nhiên, tán thưởng hoặc than phiền. Bài Phóng Cuồng Ca trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục có ghi: “咄 咄!浮 雲 兮 富 貴、吁 吁!過 隙 兮 年 光 – Chà chà! Cảnh giàu sang như mây nổi, ối ối! Thời gian thấm thoát như bóng ngựa qua kẽ vách”. ● 4. ủa! Từ biểu lộ sự sửng sốt. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Hòa Thượng Trung Phong Minh Bản ghi: “闢 曰:咄!說 有 可 放 也 合 喫 棒。說 無 可 放 也 合 喫 棒。何 則?爲 儞 脫 他 得 失 是 非 未 得 在。 – Tịch rằng: ủa! Nói “Có thể buông bỏ” cũng đáng ăn gậy, nói “không thể buông bỏ” cũng đáng ăn gậy, tại sao? Vì ông chưa thoát khỏi được đắc thất thị phi vậy!” ● 5. Thôi thôi! Từ biểu thị ý can ngăn hoặc từ chối. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Hòa Thượng Trung Phong Minh Bản ghi: “咄!動 是 銀 山、靜 是 鐵 壁。或 未 曾 一 捏 扮 碎。要 教 他 二 相 不 生、萬 里 崖 州 未 爲 達 在。 – Thôi thôi! Động là núi bạc, tịnh là vách sắt. Nếu chưa từng đập nát mà muốn hai tướng kia không sinh thì còn cách xa quá!”. ● 6. Hứ! Từ biểu lộ sự bất bình, phản đối. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Thiền Sư Trung Phong Minh Bản ghi: “咄!總 是 開 眼 尿 牀、燒 香 引 鬼 何 以。 – Hứ! Tất cả đều là mở mắt đái dầm, đốt nhang dẫn quỷ, tại sao vậy?”. ● 帶 刀 語. Trong lời nói ngầm chứa dao bén có thể cứu sống hoặc giết chết người một cách tự tại. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho cơ ngữ sắc bén nhằm mở mắt trí huệ của người học. Phần giải thích trong Động Sơn Ngũ Vị Hiển Quyết (Vạn Tục 119, 467 hạ) ghi: “最 妙 兼 帶、無 過 藥 山 答 雲 巖 帶 刀 語。 – Câu kiêm đới hay nhất, không gì bằng cơ ngữ sắc bén của Dược Sơn đối đáp Vân Nham”. ● 單. Đặt trước một con số để tạo thành số từ, có tác dụng gần giống chữ “linh” (lẻ). Pháp Diễn Ngữ Lục q.trung ghi: “冬 日 上 堂 云:大 眾!一 百 單 五 近 清 明、上 元 定 是 正 月 半。 – Ngày đông chí sư thượng đường, nói: Đại chúng! Từ nay đến 105 ngày nữa mới tới tiết Thanh minh, Thượng nguyên thuộc về nửa tháng giêng”. ● 單 提. Sự tu tập tham thiền của thiền giả không câu nệ vào ngữ ngôn tri giải, chẳng dính mắc nơi tục tình vọng niệm, chỉ nhắm thẳng vào cội nguồn bản tâm. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “出 家 兒 十 指 不 點 水、百 事 不 干 懷、三 条 椽 下、七 尺 單 前、晝 三 夜 三、單 提 獨 弄。 – Người xuất gia mười ngón tay chẳng dính nước, trăm việc chẳng để lòng, dưới 3 cây đòn dông, trước cái đơn 7 thước (2,1m), ngày 3 thời đêm 3 thời, chỉ làm một việc là nhắm thẳng vào bản tâm”. ● 單 刀 直 入. Nghĩa đen là cầm có mỗi một con dao và chạy thẳng vào trận địch. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho bậc thầy khi chỉ dạy người học, chẳng dùng trí mưu sách lược, buông bỏ tất cả lời nói hòa hoãn, xung đột, mà trực tiếp nói về vấn đề tâm tính để khai mở tâm nhãn cho họ. Nhân Thiên Nhãn Mục q.2 (Đại 48, 311 hạ) ghi: “大 用 天 輾、赤 手 殺 人、單 刀 直 入、人 境 俱 奪、照 用 並 行。 – Đại dụng như trời xoay, tay không giết người, một dao vào thẳng, nhân cảnh đều đoạt, chiếu dụng đồng thời”. ● 單 單 的 的. Một cách đơn độc, chân chính. Thư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q.1 ghi: “只 要 把 身 心 世 界 撇 向 一 邊、單 單 的 的 提 此 一 念、如 橫 空 寶 劍、任 他 是 佛 是 魔、一 齊 斬 絕、如 斬 亂 絲。 – Chỉ cần đem thân tâm thế giới vứt sang một bên, một mình chân chính đề khởi một niệm này, như múa kiếm báu trong hư không, chẳng kể là Phật hay ma, chém hết một loạt như chém cuộn tơ rối”. ● 單 傳. Còn gọi: Đơn Đề. Truyền trao cho nhau một cách riêng lẻ, thuần nhất. Chỉ cho cách truyền giáo của Thiền Tông, chẳng dựa vào ngôn ngữ văn tự mà chỉ dùng cách một người học trò lãnh hội được đại ý Phật pháp trước mặt một vị Thầy liền được vị này truyền cho tâm ấn. Đây gọi là ›Đơn truyền tâm ấn‹. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q.3 ghi: “傳 法 諸 祖 初 以 三 藏 教 乘 兼 行。後 達 磨 祖 師 單 傳 心 印、破 執 顯 宗、所 未 教 外 別 傳、不 立 文 字、直 指 人 心、見 性 成 佛 也。 – Trước khi Tổ Đạt Ma sang Trung Quốc, Thiền Tông tu hành cả giáo thừa của Tam tạng, đến khi Tổ từ ấn Độ sang, Thiền Tông mới dùng cách ›Đơn truyền tâm ấn‹ để phá chấp hiển tông, cũng chính là chủ trương Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”. Ngoài ra, từ “Đơn truyền” còn được dùng ghép với những từ khác để tạo thành: ― Đơn truyền trực chỉ. ― Trực chỉ đơn truyền. ― Phật tổ đơn truyền. ― Đơn truyền Phật pháp. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 單 位. Chỗ ngồi của chư tăng tham thiền trong Thiền đường. Do vì trên chỗ ngồi của mỗi vị tăng đều có dán tên, nên gọi là “đơn vị”. Tông Môn Võ Khố ghi: “自 慶 藏 主 與 秀 大 師 偕 行 到 法 雲、秀 得 參 堂、以 慶 藏 主 之 名 達 圓 通、通 曰:且 今 別 處 掛 塔、俟 此 間 單 位 空、即 今 參 堂。 – Tự Khánh Tạng chủ cùng Tú Đại sư đi đến chùa Pháp Vân, Tú được cho vào Tăng đường đem tên của Khánh Tạng chủ trình lên ngài Viên Thông. Thông nói: Chớ có đi nơi khác, sau nhà này còn chỗ trống, cho vào Thiền đường ngay”. ● 德. Lời tôn xưng các bậc Thiền Sư. Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện ghi: “神 龍 元 年 正 月 十 五 日、敕 迎 大 師 入 內、表 辭 不 去。高 宗 大 帝 敕 曰:朕 虔 誠 慕 道、渴 仰 禪 門。召 諸 州 名 山 禪 師、集 內 道 場 供 養、安(指 慧 安)秀(指 神 秀)二 德、最 爲 僧 首。 – Vào đầu niên hiệu Thần Long, ngày rằm tháng giêng, Vua xuống chiếu rước đại sư vào cung. Sư từ tạ chẳng đi. Cao Tông Đại đế phê chiếu rằng: Trẫm chí thành mộ đạo, khát ngưỡng thiền môn, mời các vị Thiền Sư các nơi về đạo tràng trong cung để cúng dường, 2 vị Thiền Sư Huệ An và Thần Tú là đứng đầu tăng chúng”. ● 德 寶. 1. Thiền tăng đời Minh (1486-1570), họ Lưu, người xứ Dương Tân (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Văn Tái, tông Tào Động. Sư trụ chùa Yên Nam. ● 2. Thiền tăng đời Minh (1510-1581), họ Ngô, hiệu Tiếu Nham, người xứ Kim Đài (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Vô Văn Minh Thông, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Tiếu Nham Tập và Ngữ Lục. ● 德 朋 (?-1167). Còn gọi: Đắc Bằng. Thiền tăng đời Tống, họ Cố, pháp danh Đạm Đường, người xứ Diêm Quan, Hàng Châu (nay thuộc phía tây nam huyện Hải Ninh, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Chân Hiết Thanh Liễu, tông Tào Động. Người đời gọi sư là “Trúc Giản Hòa Thượng”, “Đạm Đường Trúc Giản”. Tác phẩm: Đạm Đường Trúc Giản Ngữ Lục. ● 德 異 (1231-?). Thiền tăng đời Nguyên, họ Lô, hiệu Mông Sơn, người đời thường gọi “Cổ Quân Tỳ Kheo”, người xứ Cao An (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hoàn Sơn Chính Ngưng, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Tác phẩm: Phật Tổ Tam Kinh Tự, Mông Sơn Hòa Thượng Lục Đạo Phổ Thuyết. ● 德 涌 (?-1368). Thiền tăng đời Nguyên, họ Phùng, tự Đông Hải, nối pháp Thiền Sư Nguyên Ông Tín. Sư trụ chùa Quảng Đức, Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. ● 德 用. Thiền tăng đời Tống, họ Đới, người xứ Vụ Châu (nay là huyện Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Cao Am Thiện Ngộ, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Trong thiền lâm thường gọi Sư là “Dụng Đại Oản”. ● 德 馨 (1302-1372). Thiền tăng đời Nguyên, họ Phương, tự Lan Thất, người xứ Ô Thương (Nghĩa Ô, Chiết Giang) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Nguyên Trường, đời thứ 25 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Thánh Thọ. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 德 會. Thiền tăng đời Nam Tống, họ Hà, hiệu Bồng Am, người phủ Trùng Khánh (nay là thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Đầu Tự Hồi, thuộc tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Gia Định thứ 3 (1210), sư nhậm chức trụ trì Thiền viện Chân Như trên núi Vân Cư. ● 德 洪 (1071-1128). Thiền tăng đời Tống, họ Dụ, tự Giác Phạm, ban đầu tên Huệ Hồng, hiệu Tịch Âm Tôn giả, người xứ Thụy Châu (nay là huyện Cao An, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Chân Tịnh Khắc Văn, tông Lâm Tế, phái Hoàng Long. Tác phẩm: Lâm Gian Lục 2 quyển, Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện 30 quyển, Cao Tăng Truyện 20 quyển, Trí Chứng Truyện 10 quyển, Chí Lâm 10 quyển, Lãnh Trai Dạ Thoại 10 quyển, Thạch Môn Văn Tự Thiền 30 quyển, Pháp Hoa Hợp Luận 7 quyển, Lăng Nghiêm Tôn Đảnh Nghĩa 10 quyển, Kim Cang Pháp Nguyên Luận 1 quyển. ● 德 輝. Thiền tăng đời Nguyên, hiệu Đông Dương, nối pháp Hối Cơ Nguyên Hy, tông Lâm Tế. Sư là người quản lý “Đại Trí Thánh Thọ Tự” ở núi Bách Trượng và vâng lệnh Vua biên tập lại “Bách Trượng Thanh Quy”. ● 德 興. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Bách Trượng Đạo Hằng, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Vạn Thọ, Tô Châu. ● 德 謙. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư La Sơn Đạo Nhàn, trụ viện Minh Chiêu, Vụ Châu (nay là huyện Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. ● 德 見 (1280-1360). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Long Sơn Đức Kiến, vào niên hiệu Đại Đức thứ 9 (1305) được phái sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Hư Cốc Hy ẩn, đời thứ 23 hệ Nam Nhạc, đời thứ 6 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Đâu Suất ở Long Hưng. ● 德 明 (thế kỷ XV). 1. Thiền tăng đời Lê trung hưng, không rõ hệ phái, họ Nguyễn, người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, miền Bắc Việt Nam. Còn gọi là Thánh Bối. Vua Trần Hậu Đế phong sư là “Đại Thánh Khai Sơn Nghĩa Tồn Bình Đẳng Hành Thiện Đại Bồ Tát”. Sư trụ trì chùa Quảng Nghiêm (chùa Trăm Gian, chùa Tiên Lữ) trên núi Tiên Lữ, nay thuộc xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội. ● 2. Thiền tăng đời Minh, họ Lâm, hiệu Tiền Khê, người xứ Hoàng Nham (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. ● 3. Thiền tăng đời Thanh, họ Ân, hiệu Bạch Quang, người xứ Tráp Xuyên, Trường Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Cổ, tông Tào Động. Tác phẩm gồm 2 quyển Ngữ Lục. ● 德 玉 (1628-1701). Thiền tăng đời Thanh, họ Vương, hiệu Thánh Khả, người xứ Doanh Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Phá Sơn Hải Minh, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Thánh Khả Thiền Sư Ngữ Lục 10 quyển, Thiền Lâm Bảo Huấn Thuận Chu 4 quyển. ● 德 源 禪 寺. Thuộc làng Trúc Kỳ, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Niên hiệu Càn Long thứ 5 (1740) đời Thanh do Hòa Thượng Nghĩa Mẫn sáng lập, ban đầu gọi là “Thanh Hoa Sơn Quán Âm Đình”. Năm 1913 đổi tên là “Thanh Hoa Sơn Đức Nguyên Thiền Tự”. Năm 1963 Pháp sư Duy Giác nhậm trụ trì, qua ba năm xây xong Đại hùng bảo điện, Liêu phòng. Tự viện trang nghiêm rộng lớn, nguy nga tráng lệ. Trong chùa mở thêm Viện Thiền học Thanh Hoa Sơn Đức Nguyên, bồi dưỡng nhân tài Phật giáo Thiền Tông, hoằng dương tông phong. ● 德 普 (1025-1091). Thiền tăng đời Tống, họ Bồ, người xứ Miên Châu (nay thuộc huyện Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Hoàng Long Huệ Nam, tông Lâm Tế, phái Hoàng Long. Sư trụ Hòa Sơn ở Kiết Châu (nay là huyện Kiết An, tỉnh Giang Tây). ● 德 富 (1627-1690). Thiền tăng đời Thanh, họ Cung, hiệu Kỳ Bạch, người xứ My Châu (nay là huyện My Sơn, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thông Túy, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Ngọc Tuyền Kỳ Bạch Phú Thiền Sư Ngữ Lục 3 quyển. ● 德 光 (1121-1203). Thiền tăng đời Tống, họ Bành, hiệu Đông Am, người xứ Tân Dụ (nay là huyện Tân Dư, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo, tông Lâm Tế. Tác phẩm: Phật Chiếu Thiền Sư Tấu Đối Lục 1 quyển, Phật Chiếu Quang Hòa Thượng Ngữ Yếu 1 quyển. ● 德 山. 1. Thiền tăng đời Đường, tên Tuyên Giám, trụ Đức Sơn 30 năm nên người đời gọi sư là “Đức Sơn”. X. Tuyên Giám ● 2. Thiền tăng đời Minh, hiệu Thúy Phong, người xứ Ninh Hạ, nối pháp Thiền Sư Bảo Nguyệt Đàm Công. Sư trụ núi Phục Ngưu, chùa Cát Tường ở Kinh Sư. ● 德 清 (1546-1623). Thiền tăng đời Minh, họ Thái, tự Trừng ấn, Đăng ấn, hiệu Hám Sơn, Hám Sơn Lão Nhân, Hám Sơn Đạo Nhân, người xứ Toàn Tiêu (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc. Sư chủ trương dung hợp 2 tông “Thiền và Hoa Nghiêm”, 3 giáo: Nho, Đạo, Thích cùng về một thuyết, cho rằng “Không biết Xuân Thu thì chẳng thiệp thế, không tinh thông Lão Trang thì chẳng thể quên thế gian; không tham thiền thì chẳng thể xuất thế”. Tác phẩm: Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập 55 quyển, Hám Sơn Ngữ Lục 20 quyển. ● 德 誠. Thiền tăng đời Đường, người xứ Toại Ninh (nay là huyện Đổng Nam, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc, nối pháp Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư ở ẩn bên bờ sông Ngô, chỗ ở gọi là Hoa Đình (nay là huyện Tùng Giang, Thượng Hải), sống bằng nghề đưa đò nên người đời gọi sư là “Thuyền Tử Hòa Thượng”. ● 德 韶 (891-972). Thiền tăng đời Đường, họ Trần, người xứ Tấn An, Xử Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư có bài kệ nổi tiếng: “通 玄 峰 頂、不 是 人 間、心 外 無 法、滿 目 青 山。” “Thông Huyền phong đỉnh Bất thị nhân gian Tâm ngoại vô pháp Mãn mục thanh sơn”. “Trên ngọn Thông Huyền Chẳng phải nhân gian Ngoài tâm không pháp Đầy mắt núi xanh”. ● 德 祥. Thiền tăng đời Minh, tự Lân Châu, hiệu Chỉ Am, người xứ Nhân Hòa (nay là Hàng Châu, Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lâm chùa Tịnh Từ, tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Tịnh Từ. Tác phẩm: Đồng Dự Tập. ● 當. 1. Khế hợp, tương xứng. Tiết Thạch Môn Quân Thủ tọa trong NĐHN q.14 ghi: “一 日 荷 鉏 入 園、僧 問:三 身 中 那 一 身 去 作 務?師 拄 鉏 而 立。僧 曰:莫 便 當 也 無?師 攜 鉏 便 行。 – Một hôm sư vác cuốc vào vườn, tăng hỏi: Trong ba thân thì thân nào làm việc? Sư chống cuốc mà đứng. Tăng nói: Chẳng lẽ việc này khế hợp thiền cơ sao? Sư cầm cuốc bỏ đi.” ● 2. Sẽ. Phó từ chỉ thời gian. Tiết Tứ Tổ Ưu Ba Cúc Đa Tôn giả trong NĐHN q.1 ghi: “後 有 一 長 者 子、名 曰 香 眾、來 禮 尊 者、志 求 出 家。。。尊 者 曰:汝 當 大 悟、心 自 通 達。宜 依 佛 法 僧、紹 隆 聖 種。 – Sau đó có một người con của trưởng giả tên là Hương Chúng, đến lạy Tôn giả cầu xin xuất gia…. Tôn giả nói: Ngươi sẽ đại ngộ, tâm tự thông đạt. Ngươi nên quy y Phật pháp tăng để tiếp nối dòng thánh.” ● 3. Biểu thị ngữ khí nghi vấn, có lúc tương đương như từ “rốt cuộc”. Tiết Giáp Sơn Thiện Hội Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “古 人 布 髮 掩 泥、當 爲 何 事? – Người xưa trải tóc lấp bùn rốt cuộc vì cái gì?” ● 當 機. Có 2 nghĩa: 1. Thích ứng với căn cơ trình độ của chúng sinh. Đồng nghĩa với từ Khế cơ. Như Tịnh Ngữ Lục q.thượng ghi: “解 夏、上 堂:解 却 禪 和 布 袋 頭、虛 空 豁 達 逞 風 流。去 亦 得、住 亦 得、大 用 現 前 無 軌 則。諸 方 恁 麼、淨 慈(如 淨 禪 師 法 號、此 系 自 稱)不 然。咦!當 機 切 忌 錯 流 傳。 – Giải hạ, sư thượng đường: Cởi bỏ túi vải Thiền tăng, hư không thênh thang thích phong lưu. Đi cũng được, ở cũng được, đại dụng hiện tiền không còn phép tắc. Các nơi như thế, Tịnh Từ (pháp hiệu tự xưng của Như Tịnh) thì chẳng phải vậy. ổi chao! Đương cơ rất kỵ lầm lưu truyền” ● 2. Người đại diện đứng ra thưa hỏi về yếu chỉ kinh điển để đức Phật trả lời cho hội chúng đều biết. Hoặc chỉ cho người trực tiếp thưa hỏi Tổ sư về “việc lớn” mà mình đang thao thức. Tham Thiền kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、不 可 輕 忽 錯 過 當 機、何 時 悟 入 “Tham thiền đệ nhất Bất khả khinh hốt Thố quá đương cơ Hà thời ngộ nhập?” “Pháp tham thiền bậc nhất Chẳng thể để khinh suất Đương cơ nếu lầm qua Bao giờ mới ngộ nhập?”. ● 當 陽. 1. Hiển lộ, minh bạch. Chương La Hán Quế Sâm Hòa Thượng Minh Đạo Tụng trong CĐTĐL q.29 ghi: “我 宗 奇 特 當 陽 顯 赫。佛 及 眾 生 皆 承 恩 力。 Ngã tông kỳ đặc, đương dương hiển hách, Phật cập chúng sinh, giai thừa ân lực. – Tông ta kỳ đặc minh bạch hiển hách, Phật cùng chúng sinh đều nhận lấy ân lực.” ● 2. Trước mặt, tại chỗ, lập tức. Bích Nham Lục q.1 ghi: “一 句 下 便 見。當 陽 便 透。若 向 句 下 尋 思。卒 摸 索 不 著。 – Dưới câu nói mà thấy thì lập tức thấu triệt. Còn nếu nhằm dưới câu nói mà cứ tầm tư thì cuối cùng không thể sờ mó được.” ● 當 頭. Ngay tại chỗ, ngay tức thì. Tiết Hộ Quốc Cảnh Nguyên Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: 我 有 明 珠 一 顆、切 忌 當 頭 蹉 過 雖 然 覿 面 相 呈、也 須 一 鎚 打 破 “Ngã hữu minh châu nhất khỏa Thiết kỵ đương đầu sa quá Tuy nhiên tảng diện tương trình Dã tu nhất chùy đả phá”. “Ta có một hạt minh châu Rất kỵ tại chỗ bỏ qua Tuy là trước mặt trình nhau Cũng cần một chùy đập vỡ”. ● 當 頭 棒 喝. Bổng hát: Gậy và hét, phương thức tiếp dẫn giáo hóa đệ tử của các vị Tổ sư Thiền Tông. Dùng gậy bắt đầu từ ngài Đức Sơn, hét bắt đầu từ ngài Lâm Tế. Đương Đầu Bổng Hát nghĩa là đòn cảnh tỉnh. ● 當 家 種 草. Lựa chọn người kế vị chốn tùng lâm. Thiền Lâm Bảo Huấn q.1 (Đại 48, 1019 thượng) ghi: “如 當 家 種 草。此 其 觀 探 詳 聽 之 理 明 驗 也。豈 容 巧 言 令 色。便 僻 諂 媚 而 充 選 者 哉。 – Còn như việc lựa chọn người kế vị chốn tùng lâm lại cần phải suy nghiệm cái lý xét kỹ nghe tường này, có đâu lại dung cho kẻ dối trá, hẹp hòi, phỉnh nịnh mà được sung tuyển vào chức đó sao?”. ● 當 人. Tự nơi mỗi người. Trong bài thơ Xuân Cảm của Đại sư Hám Sơn có câu: “若 須 更 覓 菩 提 路、只 要 當 人 退 步 行。 “Nhược tu cánh mích Bồ Đề lộ Chỉ yếu đương nhân thoái bộ hành”. “Nếu như muốn tìm về nẻo giác. Chỉ cần tự mỗi người lùi bước”. ● 當 體 即 空. Khi 6 căn tiếp xúc 6 trần sinh ra 6 thức, ngay đó biết được thức vừa khởi vốn là vô thủy vô sinh, vốn tự không tịch, chẳng đợi trần cảnh diệt rồi mới không. Nói cách khác, ngay khi thấy sự vật liền biết cái niệm vừa khởi đó là không, gọi là Đương thể tức không. Theo: Danh từ Thiền Học Chú Giải của HT. Duy Lực. ● 當 意. Vừa ý, hợp tâm ý. Tiết Đại Tùy Nguyên Tĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “元 祐 三 年、通 經 得 度。留 講 聚 有 年、而 南 下 首 參 永 安 恩 禪 師、於 臨 濟 三 頓 棒 話 發 明。次 依 諸 名 宿、無 有 當 意 者。 – Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 3, sư thông hiểu kinh kệ được độ, ở lại giảng dạy nhiều năm. Sau đi về phương nam ban đầu tham kiến Thiền Sư Vĩnh An Ân, nhờ giai thoại Lâm Tế ba lần bị ăn gậy mà sư tỏ ngộ. Kế nương theo các bậc danh túc song không có ai vừa ý sư cả.” ● 堂 斑. Vị trí các ban thuộc Đông, Tây đường ở trong nhà Thiền. Lúc ngồi trên nhà Thiền, vị trí của mọi người tùy thuộc vào đạo đức hoặc chức vụ của họ mà quy định. ● 堂 主. Gọi đủ: Diên Thọ Đường Chủ. Chức vụ coi sóc tất cả sự việc trong phòng bệnh (Diên thọ đường). Điều Diên Thọ Đường Chủ Tinh Đầu trong Thiền Uyển Thanh Quy q.4 (Vạn Tục 111, 449 hạ) ghi: “堂 主 一 職、須 延 請 堪 能 寬 心 耐 事、道 念 周 旋、安 養 病 僧、而 善 知 因 果 之 人 任 之。 – Khi chọn Đường chủ, cần mời người giỏi việc, có lòng lượng thứ, đạo niệm chu toàn, biết an ủi nuôi dưỡng người bệnh, biết rõ nhân quả”. Từ “Đường chủ” còn chỉ cho người coi sóc các nhà như: Thủy lục đường chủ, La hán đường chủ. ● 堂 頭. Vốn chỉ cho chỗ ở của vị Trụ trì trong Thiền viện (Phương trượng). Nghĩa mở rộng là vịTrụtrì của các tựviện Thiền Tông. Còn gọi là: Đường thượng, Đường đầu Hòa Thượng. Lâm Tế Hành Lục (Đại 47, 504 hạ) ghi: “首 座 云:汝 何 不 去 問 堂 頭 和 尚、如 何 是 佛 法 的 大 意? – Thủ tọa nói: Sao ngươi chẳng đi hỏi vị Đường đầu thế nào là đại ý Phật pháp?” Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 唐 土 二 三. Sáu vị Tổ Thiền Tông Trung Quốc. Pháp Diễn Ngữ Lục, q.trung ghi: “威 音 王 已 前 也 恁 麼、威 音 王 已 後 也 恁 麼、三 世 諸 佛 也 恁 麼、西 天 四 七、唐 土 二 三 也 恁 麼。 – Từ Phật Oai Âm Vương về trước cũng thế ấy, từ Phật Oai Âm Vương về sau cũng thế ấy, ba đời chư Phật cũng thế ấy, 28 vị Tổ ấn Độ và 6 vị Tổ ở Trung Quốc cũng thế ấy”. Pháp Diễn Ngữ Lục, q.hạ ghi: “三 世 諸 佛。若 無 第 一 義。將 什 麼 化 度 有 情。西 天 四 七 唐 土 二 三 乃 至 天 下 老 和 尚。若 無 第 一義。將 什 麼 建 立 宗 風。 – Ba đời chư Phật, nếu không có đệ nhất nghĩa thì lấy cái gì để độ chúng sinh? 28 vị Tổ ấn Độ, 6 vị Tổ Trung Quốc cho đến các vị Hòa Thượng khắp nơi, nếu không có đệ nhất nghĩa thì lấy cái gì để kiến lập tông phong?”. ● 堂 堂 密 密. Còn gọi: Biến Giới Bất Tằng Tàng. Chỉ cho lý tuyệt đối bày hiện khắp nơi một cách rõ ràng. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q.18 (Đại 51, 348) ghi: “雪 峰 有 時 謂 眾 曰:堂 堂 密 密 地。師 出 問 曰:是 什 麼 堂 堂 密 密?雪 峰 起 立 曰:道 什 麼?師 退 步 而 立。 – Đôi khi Tuyết Phong bảo chúng rằng: Chân lý hiện bày khắp nơi một cách rõ ràng. Sư bước ra hỏi: Cái gì là chân lý hiện bày khắp nơi? Tuyết Phong đứng dậy nói: Nói cái gì? Sư lùi bước rồi đứng”. ● 堂 一 玄 (1892-1988). Học giả Phật giáo hiện đại, người Thanh Phố, Thượng Hải, Trung Quốc. Ông tốt nghiệp Học viện Quốc Phòng Quân Y khóa 9. Đối với Quốc học và Trung Tây Y học ông đều học hỏi đến nơi đến chốn. Năm 1929 ông quy y đại sư Thái Hư, từng làm Viện trưởng Cao Hùng Lục Thập Binh Công Xưởng Phụ Thiết Y Viện và dạy học ở Đông Phương Phật Giáo Học Viện. Tác phẩm: Trùng Đính Vô Tướng Tụng Giảng Thoại, Thiền Môn Thặng Ngữ, Pháp Hoa Kinh Bổ Thuật, Lục Tổ Đàn Kinh Điều Mục, Độc Hoa Nghiêm Kinh, Pháp Hoa Kinh Ký Hiệp San, Viên Giác Kinh Giảng Nghĩa. ● 堂 屋 裏 販 楊 州. Ngồi ở trong nhà mà có thể buôn bán ở Dương Châu. Dương Châu: Trung tâm thương nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa ở Trung Quốc vào đời Đường. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho diệu dụng tự tại của nạp tăng. Tắc 30, Thung Dung Lục (Đại 48, 247 hạ) ghi: “輸 我 當 行 相 買 賣(堂 屋 裏 販 揚 州)。 – Còn thua tôi buôn bán phát đạt (Ngồi ở trong nhà mà có thể buôn bán ở Dương Châu)”. ● 堂 司. 1. Căn phòng của Duy Na ở trong Tự viện. Tiết Long Tường Sĩ Khuê Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “一 日 侍 立 次、問 云:絕 對 待 時 如 何?眼 曰:如 汝 僧 堂 中 白 椎 相 似。師 罔 措。眼 至 晚 抵 堂 司、師 理 前 話。眼 曰:閑 言 語。師 於 言 下 大 悟。 – Một hôm sư đang đứng hầu, hỏi rằng: Khi bặt hết đối đãi thì thế nào? Hòa Thượng Phật Nhãn nói: Giống như ngươi bạch chùy trong tăng đường. Sư mờ mịt. Chiều tối, Nhãn đến phòng của Duy Na, sư hỏi lại lời trước. Nhãn nói: Lời nói suông. Sư ngay câu nói này liền đại ngộ”. ● 2. Chức vụ Duy Na. Cùng sách trên ghi: “始 登 龍 門、即 以 平 時 所 得 白 佛 眼。眼 曰:汝 解 心 已 極、但 欠 著 力 開 眼 耳。遂 俾 職 堂 司。 – Ban đầu sư đến Long Môn, đem sở đắc thường ngày ra trình với Phật Nhãn. Nhãn nói: Chỗ hiểu của ngươi đã tột, chỉ thiếu ra sức để ngộ mà thôi! Nhãn dạy sư lãnh chức vụ Duy Na”. ● 瘞 發 塔. Tháp ở trước điện Lục Tổ, trong khuôn viên chùa Quang Hiếu, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, dưới tháp có chôn cất tóc của Lục Tổ Huệ Năng, nên gọi là “Ế Phát Tháp”, tục gọi “Lục Tổ Phát Tháp”. Niên hiệu Nghi Phụng thứ 1 (676) đời Đường, Lục Tổ Huệ Năng tại chùa Pháp Tính (nay là chùa Quang Hiếu) tranh luận gió động phướn động, công khai thân phận nối pháp Thiền Tông, dưới cội bồ đề phía sau đại điện cạo tóc truyền giới, vị tăng Trụ trì Pháp Tài ngay lập tức đem tóc của Tổ chôn dưới gốc cây và xây tháp che lên. Tháp cao 7,8m, mặt bằng hình bát giác 7 tầng. Tháp lấy đá làm cơ bản, dùng vôi cát gạch xây thành. Mỗi tầng của tháp đều có 8 cái khám Phật, mỗi khám mỗi pho tượng Phật ngồi, tạo dáng sinh động, là tinh phẩm đá khắc quý báu vô cùng. Nền tháp có lan can đá bao quanh, trang trọng thuần phác cổ xưa. Qua nhiều đời đều có sửa chữa. Năm 1954, 1977 lại trùng tu. Cạnh tháp có bia tượng Lục Tổ và bia tượng Đạt ma được khắc vào đời Nguyên. ● 家. 1. Dùng sau danh từ xưng hô, có nghĩa là bọn, đám. Tiết Pháp Vân Pháp Tú Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “衲 僧 家 高 揖 釋 迦、不 拜 彌 勒、未 爲 分 外。 – Bọn thiền tăng kính lễ Thích ca mà không bái Di Lặc, chưa phải đặc biệt.” ● 2. Dùng sau đại từ nhân xưng. Tiết Hoàng. Long Pháp Trung Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “千 種 言、萬 般 說、祇 要 教 君 自 家 歇。 – Ngàn vạn lời nói chỉ muốn dạy ông tự mình thôi nghỉ.” ● 家 家 門 里 透 長 安. Mỗi nhà đều có con đường đi đến Trường An (Thủ đô). Thiền Tông dùng nhóm từ này để chỉ cho con đường tỉnh ngộ ở nơi tâm của mỗi người. Mật Am Ngữ Lục ghi: “忽 有 問 徑 山(系 密 庵 禪 師 法 號):如 何 是 不 錯 底 路?只 向 他 道:家 家 門 里 透 長 安。 – Chợt có người hỏi Kính Sơn: Thế nào là con đường đúng? Chỉ nói với y: Mỗi nhà đều có con đường đi đến Trường An”. ● 家 活. Của cải trong nhà. Thiền Tông dùng từ này để chỉ nhiều thứ: gia nghiệp, gia tư, vật dụng hàng ngày. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “每 日 起 來、拄 却 臨 濟 棒、吹 雲 門 曲、應 趙 州 拍、擔 仰 山 鍬、驅 潙 山 牛、耕 白 雲 田。七 八 年 來、漸 成 家 活。 – Mỗi ngày thức dậy, chống gậy Lâm Tế, thổi sáo Vân Môn, gõ nhịp Triệu Châu, vác dá Ngưỡng Sơn, lùa trâu Quy Sơn, cày ruộng Bạch Vân. Bảy tám năm nay dần dần trở thành gia hoạt”. ● 爺 孃. Cha mẹ. Chương Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong CĐTĐL q.19 ghi: “千 鄉 萬 里、拋 卻 老 爺 孃、師 僧 和 尚、這 般 底 去 去、這 打 野 菜 禿、有 什 麼 死 急 行 腳 去! – Xa cách quê hương, bỏ cả cha mẹ già, sư tăng hòa thượng, các lão trọc hành cước này có gì mà vội vã đi hành cước!” ● 家 風. Tác phong riêng biệt của mỗi Tổ dùng để phát dương Tông chỉ biệt truyền của Thiền Tông. Duyên Quán Ngữ Lục ghi: “僧 問:如 何 是 和 尚 家 風?師 曰:益 陽 水 急 魚 行 澀、白 鹿 松 高 烏 泊 難。 – Tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa Thượng? Sư đáp: Sông Ích Dương nước chảy xiết nên cá lội nhọc. Núi Bạch Lộc cây tùng cao nên chim đậu khó”. ● 家 事. Đồ gia dụng. Chương Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư trong CĐTĐL q.8 ghi: “師 住 庵 時 有 一 僧 到 庵。師 向 其 僧 道。某 甲 上 山。待 到 齋 時 做 飯 自 喫 了。送 一 分 來 山 上。少 時 其 僧 自 喫 了。卻 一 時 打 破 家 事 就 床 臥。 – Khi sư ở am, có một vị tăng đến am. Sư bảo vị tăng: Ta lên núi, chờ khi đến giờ thọ trai, ăn xong ông đem một phần cơm lên núi cho ta. Không bao lâu vị tăng ăn xong liền nhất loạt đập phá đồ gia dụng rồi lên giường nằm.” ● 家 泰 普 燈 錄. Đăng Lục 30 quyển, có riêng 3 quyển Mục lục, do ngài Lôi Am Chính Thọ biên soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 137, trang 1. Chính Thọ bỏ ra 17 năm để viết tiếp theo sau các bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Thiên Thánh Quảng Đăng Lục, Kiến Trung Tịnh Quốc Tục Đăng Lục. Ngài gom chép cơ duyên Ngữ Yếu của 2 giới tu sĩ và cư sĩ trong nhà thiền như: Tông sư, Vương hầu, Công khanh, Ni sư. Nội dung bao quát: Cơ ngữ thị chúng, Vua thánh tôi hiền, Thánh hiền ứng hóa (phụ thập di), Quảng ngữ, Niêm cổ, Tụng cổ, Kệ tán, trứ tác lặt vặt. Quyển đầu có phần hành nghiệp của Thiền Sư Lôi Am Thọ. Sách được hoàn thành vào niên hiệu Gia Thái thứ 4 (1204), trình lên vua Ninh Tông, phụng sắc nhập Tạng. ● 家 常. Lời xin bố thí cơm ăn (khi chư tăng hành hóa). Tiết Bảo Phúc Tùng Triển Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “師 見 僧 喫 飯、乃 拓 鉢 曰:家 常。 – Sư thấy tăng ăn cơm, liền bưng bát, nói: Gia thường!”. ● 家 珍. Đồ quý báu trong nhà, phần lớn dụ chỉ cho tự tâm, bản tính. Bài tựa của Thiền Sư Vô Môn trong Vô Môn Quan ghi: “從 門 入 者、不 是 家 珍。從 緣 得 者、始 終 成 壞。 – Từ cửa mà vào thì không là đồ quý báu trong nhà, nhờ duyên tạo được tất phải có trước sau, có thành hoại”. ● 家 中 捨 父. Bỏ cha trong nhà, tỷ dụ bỏ mất cái rất quan trọng là tự tâm bản tính. Tiết Chính Pháp Hy Minh Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “己 靈 獨 耀、不 肯 承 當; 心 明 孤 圓、自 生 違 背。何 異 家 中 舍 父、衣 內 忘 珠。 – Tính linh sáng rực chẳng chịu nhận lấy; trăng tâm tròn đầy lại tự xoay lưng. Đâu khác gì kẻ bỏ cha trong nhà, kẻ quên hạt châu trong chéo áo”. ● 加 卫. Phù hộ. Tiết Huệ Khả Thiền Sư trong TĐT q.2 ghi: “父 寂、初 無 其 子、共 室 念 言:我 今 至 善 家 而 無 慧 子、深 自 嘆 羨、何 聖 加 卫? – Cha mất mà chưa có con trai, cả nhà nghĩ rằng: Nhà ta toàn làm điều thiện mà không có con trí huệ, lại hết sức ca ngợi việc mình làm thì Phật trời nào phù hộ?” ● 這 邊 句. Câu bên này, chỉ cho lời nói còn nằm trong vọng tâm phân biệt, chưa thể thoát khỏi tri thức kiến giải. Tiết Linh Tuyền Quy Nhân Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “初 問 初 山:枯 木 生 花、始 與 他 合。是 這 邊 句、是 那 邊 句?山 曰:亦 是 這 邊 句。 – Ban đầu sư hỏi Sơ Sơn: Cây khô trổ hoa mới hợp với người, là câu bên này hay là câu bên kia? Sơn đáp: Cũng là câu bên này”. ● 這 箇. Giá: này. Cá: lượng từ, nghĩa là cái. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ thị đại từ có nghĩa là cái này. Phần Thượng Đường trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 96 trung) ghi: “師 云:這 箇 師 僧、却 堪 持 論。 – Sư nói: Cái ông tăng này lại kham bàn luận”. ● 2. Lời nhấn mạnh đằng sau để giúp cho lời nói có tính cụ thể. Chỉ cho bản thân mình, chẳng phải sự vật nào khác. Phần Thị Chúng trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 497 trung) ghi: “是 爾 目 前 歷 歷 底、勿 一 箇 形 段 孤 明、是 這 箇 解 說 法 聽 法。 – Là vật rõ ràng trước mắt ông, chớ đoạn cô minh, cái này biết thuyết pháp nghe pháp”. ● 這 箇、那 箇. Bên nầy, bên kia. Bên này (giá cá) ám chỉ bờ mê, phương tiện tướng dụng hay thế giới khái niệm tục đế. Bên kia (na cá) ám chỉ bến giác, phương tiện thể tính hay thế giới chân đế. CĐTĐL q.14 ghi: “師 見 詢 布 衲 洗 佛、乃 問:這 箇 隨 汝 洗、還 洗 得 那 箇 麽?詢 曰:把 相 那 箇 來。師 便 休。 – Sư (Duy Nghiễm) thấy Tuân Bố Nạp tắm tượng Phật, bèn hỏi: Bên nầy để ông tắm, nhưng ông có tắm được bên kia không? Tuân đáp: Hãy đem bên kia đến đi! Sư đành thôi không nói nữa.” ● 駕 肩 接 迹. Chen vai nối gót, hình dung số người qua lại rất nhiều, nườm nượp chẳng dứt. Tiết Thiên Hoàng Đạo Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “後 卜 荊 州 當 陽 紫 陵 山、學 徒 駕 肩 接 迹、都 人 士 女、向 風 而 至。 – Về sau, sư chọn núi Tử Lăng tại Kinh Châu, người học nườm nượp chẳng dứt, gồm cả nam nữ nghe danh sư mà đến”. Núi Tử Lăng ở Tương Dương, Kinh Châu. ● 這 裏. Còn gọi: Thử gian 此 間. Nơi đây. CĐTĐL q.9 ghi: “洞 山 來 禮 拜 次、師 曰:汝 以 住 一 方、又 來 這 裏 作 麽? – Khi Động Sơn đến lễ bái. Sư (Huệ Siêu) hỏi: Ngươi đã trụ một nơi rồi, còn đến đây để làm gì?” Chương Hương Nghiêm Trí Nhàn Thiền Sư trong CĐTĐL q.10 ghi: “僧 問:一 句 死 如 何?師 云:此 間 一 句 亦 無。 – Tăng hỏi: Một câu thôi thì thế nào? Sư đáp: Nơi đây một câu cũng chẳng có.” ● 遮. Tức bây giờ là chữ GIÁ 這. Mật Am Ngữ Lục ghi: “且 要 天 下 衲 僧。向 後 各 各 自 有 生 涯。莫 總 作 遮 野 狐 精 見 解。又:果 是 得 入、一 任 四 方 八 面。若 也 未 然、辄 不 得 離 却 遮 裏。 – Vả lại, muốn cho nạp tăng trong thiên hạ sau này mỗi người đều có con đường sống, chứ đừng khởi kiến giải dã hồ tinh này. Lại: Nếu như vào được thì tha hồ đi khắp nơi, còn như chưa được thì không nên rời khỏi nơi đây”. ● 者. Tức là chữ giá (這) ngày nay, có nghĩa là này. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “且 鷺 池、鷲 岭、海 甸、庵 園、三 百 法 會 之 中、甚 處 有 者 箇 消 息? – Hãy nói trong 300 pháp hội như ở Lộ trì, Thứu lãnh, Hải điện, Am viên v.v… chỗ nào có tin tức này?”. ● 假 雞 聲 韻. Chỉ cho ý nghĩa bắt chước tiếng gà gáy để ngụy trang gạt người. Điển tích này rút ra từ truyện Sử ký Mạnh Thường Quân, sách chép rằng: Nửa đêm Mạnh Thường Quân muốn đi qua cửa ải Hàm Cốc, các môn khách giúp ông bắt chước tiếng gà gáy. Vị quan giữ cửa ải tưởng gà gáy sáng bèn mở cửa, Mạnh Thường Quân an nhiên đi qua, không bị toán quân Tần đuổi theo giết hại. Thung Dung Lục q. 2 (Đại 48, 239 hạ) ghi: “假 雞 聲 韻 難 謾 我、未 肯 模 胡 放 過 關。 – Giả tiếng gà gáy khó lừa được ta, chưa cho kẻ giả dạng qua cửa ải”. ● 覺 照 禪 師. Thiền tăng Hoài Hải đời Đường sau khi tịch, đời Tống truy thụy “Giác Chiếu Thiền Sư”. X. Hoài Hải. ● 覺 海. 1. Thiền tăng đời Lý, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Không Lộ. Sư họ Nguyễn, quê làng Hải Thanh, Việt Nam. Kệ thị tịch: 春 來 花 蝶 善 知 時。花 蝶 應 須 共 應 期 花 蝶 本 來 皆 是 幻。莫 須 花 蝶 向 心 持 Xuân lai hoa điệp thiện tri thì Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ Hoa điệp bản lai giai thị huyễn Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì “Xuân về hoa bướm khéo tri thì Hoa bướm phải cần gặp đúng kỳ Hoa bướm xưa nay đều là huyễn Giữ tâm bền chặt bướm hoa chi”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT Thanh Từ. ● 2. Thiền tăng đời Tống, hiệu Nhã Sung. X. Nhã Sung. ● 覺 海 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Tán Nguyên đời Tống. X. Tán Nguyên. ● 覺 海 寺. Chùa nằm ở số 345/45 Hùng Vương, phường 12, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Chùa được xây cất vào năm 1887 do bà Trần thị Liễu phát tâm cúng dường phần tài chính, tên chùa do Thiền Sư Hoằng Ân đặt và giao cho đệ tử là Thiền Sư Như Nhãn Từ Phong trụ trì. Hiện nay tại chùa này có thờ tượng của ngài Từ Phong là Thiền Sư thuộc phái Nguyên Thiều Siêu Bạch, đời thứ 39 tông Lâm Tế. ● 覺 華. Thiền tăng đời Minh, họ Lưu, tự Đại Huệ, người xứ Dương Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Bảo Nguyệt Đàm. Sư trụ chùa Sùng Phúc ở Nam Kinh. ● 角 虎 集. Sách, 2 quyển, do Tế Năng biên tập vào đời Thanh, gồm những Ngữ Yếu về việc tranh luận giữa Thiền và Tịnh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 109, trang 499. Quyển thượng gồm các Ngữ Yếu của: ― 14 vị thuộc tông Lâm Tế như: Tử Tâm Ngộ Tân, Huệ Hải Nghi, Sở Thạch Phạm Kỳ, Trương Thương Anh, Phùng Tế Xuyên… ― 11 vị thuộc tông Tào Động như: Chân Hiết Thanh Liễu, Hoằng Trí Chính Giác, Vạn Tùng Hành Tú, Vạn An Quảng Ân … Quyển hạ gồm các Ngữ Yếu của: ― 5 vị thuộc tông Tào Động như: Bác Sơn Nguyên Lai, Tuyết Quan Trí Lư… ― 9 vị thuộc tông Vân Môn như: Bản Giác Pháp Chân, Thiên Y Nghĩa Hoài, Dương Kiệt, Phạm Trọng Yêm… ― 1 vị thuộc tông Pháp Nhãn là ngài Vĩnh Minh Diên Thọ. ― 1 vị thuộc tông Quy Ngưỡng là ngài Văn Hỷ Vô Trước. ― 7 vị Tôn túc như: Bạch Cư Dị, Văn Ngạn Bác… ― 11 vị: Lô Sơn Huệ Viễn, Nam Nhạc Huệ Tư, Thiên Thai Trí Khải, Viên Hoằng Đạo… ― Tính chung cả tăng lẫn tục, sách này gồm có Ngữ Yếu của 59 vị. Đầu quyển có phụ bài tựa nhỏ được chọn khắc và mục thứ. Cuối quyển có phụ 7 nghi thức niệm Phật và Ngữ Yếu, tiểu truyện của biên giả là Tế Năng. Căn cứ vào bài tựa nhỏ được chọn khắc thì biết rằng tên sách là do chọn từ bài kệ Tứ liệu giản về tham thiền và niệm Phật của ngài Diên Thọ như sau: “有 禪 有 淨 土、猶 如 帶 角 虎。 – Có thiền có tịnh độ, giống như cọp thêm sừng”. ● 覺 軻. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Quy Tông Nghĩa Nhu, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Công Thần ở Hàng Châu. ● 覺 浪. Thiền tăng đời Thanh, hiệu “Đạo Thạnh”. X. Đạo Thạnh. ● 覺 林 寺. Chùa ở số 118 đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Chùa do người Minh Hương là Lý Thụy Long dựng năm Giáp Tý niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804). Nơi đây vốn là đồi cây phong cảnh tươi đẹp của xã Phú Mỹ Thọ, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định vào thời Nguyễn. Trong chùa có bài vị của 2 Thiền Sư: Minh Vi Mật Hạnh và Minh Khiêm Hoằng Ân. Nơi khuôn viên chùa có tháp Tổ Linh Nhạc Phật Ý. ● 覺 岸 (1286-?). Tăng nhân đời Nguyên, họ Ngô, hiệu Bảo Châu, người xứ Điểu Trình (nay là Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư trụ chùa Bảo Tướng ở Điểu Trình. Tác phẩm: Thích Thị Kê Cổ Lược 4 quyển. ● 覺 清 (1780-1853). Thiền tăng đời Thanh, họ Du, tự Quảng Phúc, hiệu Cửu Phong, người xứ Trấn Giang, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Định Huệ Tri, đời thứ 41 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Long Hoa ở Trường Hưng (Chiết Giang). ● 覺 詮 (1810-1880). Thiền tăng đời Thanh, họ Hứa, tự Tính Nguyên, người xứ Hồ Châu, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Đảm Vân Thanh Cảnh, đời thứ 43 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Vân Lâm. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 覺 凈 (1401-1479). Thiền tăng đời Minh, họ Thẩm, tự Nguyệt Giang, người xứ Tô Châu, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Huệ Lãm, tông Lâm Tế. ● 覺 智 圓 明. Hiệu của Thiền tăng Văn Thuật đời Nguyên. X. Văn Thuật. ● 覺 澄 (1395-1473). Thiền tăng đời Minh, họ Trương, tự Cổ Khê, người xứ Úy Châu (nay là huyện Úy, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thiệu Kỳ, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Cao Tòa ở Nam Kinh. Tác phẩm: Vũ Hoa Tập. ● 解 證. Giải ngộ và chứng ngộ, là 2 thứ lãnh ngộ khác nhau. Cái trước là thông qua ngôn ngữ tri giải mà minh tâm. Cái sau là lập tức ngộ nhập, thấu suốt tự tâm, là chân tham thật ngộ. Thư đáp “Trịnh Côn Nham Trung thừa” trong HSLNMDT q.1 ghi: “凡 修 行 人、有 先 悟 後 修 者、有 先 修 後 悟 者、然 悟 有 解 證 之 不 同。 – Luận về người tu hành, có người trước ngộ sau tu, có người trước tu sau ngộ, nhưng ngộ có giải chứng khác nhau”. X. Giải Ngộ, Chứng Ngộ. ● 解 達. Sáng tỏ, tỏ ngộ, thấy suốt. Chương Phù âu ca của Lạc Phổ Hòa Thượng trong CĐTĐL q.30 ghi: 只 知 漚 向 水 中 出 豈 知 水 亦 從 漚 生 權 將 漚 水 類 余 身 五 蘊 虛 攢 者 立 人 解 達 蘊 空 漚 不 實 方 能 明 見 本 來 眞 “Chỉ tri âu hướng thủy trung xuất, Khởi tri thủy diệc tùng âu sinh Quyền tương âu thủy loại dư thân Ngũ uẩn hư toản giả lập nhân Giải đạt uẩn không âu bất thật Phương năng minh kiến bản lai chân”. “Chỉ biết bọt kia từ nước khởi Nước do sóng bọt kết tinh thành Phù âu, lưu thủy giả danh suông Bọt nước in tuồng huyễn hoá thân Thấy suốt thân không, bọt chẳng thật Mới hay bắt gặp bản lai chân”. ● 解 會. Chấp trước vào sự vật hư huyễn rồi cố đem kiến giải để phân biệt. Tông Môn Võ Khố ghi: “照 覺(禪 師)以 平 常 無 事、不 立 知 見 解 會 爲 道、更 不 求 妙 悟。 – Thiền Sư Chiếu Giác cho cái bình thường vô sự, chẳng lập tri kiến giải hội là đạo, lại thêm chẳng cầu diệu ngộ”. ● 解 路. Con đường sinh ra nhiều tri kiến tình giải, thông thường là quá trình tư duy, phân tích. Tiết Nghệ ngôn trong NHQL q.29 ghi: “有 師 云:參 禪 不 必 看 教、看 教 恐 增 解 路、障 自 悟 門。 – Có sư nói: Tham thiền chẳng cần xem kinh, xem kinh e thêm giải lộ, làm chướng ngại cửa ngộ của mình”. ● 解 免. Kinh qua giải thích khỏi phải xử lý. Tông Môn Võ Khố ghi: “(浮 山)遠 至、首 云。實 取 油 麵 煮 粥。情 願 乞 和 尚 責 罰。省 令 算 所 直 估 衣 缽 還 訖。打 三 十 拄 杖 出 院。遠 舍 於 市 中。託 道 友 解 免。省 不 允。 – Phù Sơn Viễn đến, Thủ tọa thưa: Đích thực ông ta lấy dầu để nấu cháo, tình nguyện xin Hòa Thượng trách phạt. Hòa Thượng Tỉnh bảo tính giá trị, đánh giá y bát để trả lại xong, đánh 30 gậy rồi đuổi ra khỏi viện. Viễn bỏ vào trong thị trấn nhờ đạo hữu giải thích để khỏi bị xử lý, Hòa Thượng Tỉnh không đồng ý.” ● 解 悟. Do lời nói, chữ nghĩa, tri thức, kiến giải mà lãnh ngộ tự tâm. Thư đáp “Trịnh Côn Nham Trung thừa” trong HSLNMDT q.1 ghi: “若 依 佛 祖 言 教 明 心 者、解 悟 也、多 落 知 見、於 一 切 境 緣、多 不 得 力。 – Nếu người nương vào lời dạy của Phật Tổ được minh tâm, ấy là Giải ngộ, phần lớn rơi vào tri kiến, đối với tất cả cảnh duyên không đắc lực”. ● 解 粘 去 縛. Gỡ niêm cởi trói. X. Khử niêm giải phược. ● 解 心. Đối với sự vật hư huyễn, cố dùng vọng tâm để phân biệt, giải thích. Thiền Tông chủ trương chẳng lập tri giải, trừ sạch “giải tâm”. Tiết Nghệ ngôn trong NHQL q.29 ghi: “直 透 過 三 句 底 人、解 心 既 絕、千 機 頓 發、自 然 七 縱 八 橫、天 回 地 轉、無 滴 水 而 作 浪 興 波、沒 寸 絲 而 羅 天 网 地。 – Người nào thấu được 3 câu, giải tâm dứt sạch thì ngàn cơ chóng phát, tự nhiên vô ngại, xoay trời chuyển đất, không một giọt nước mà làm dậy sóng, không một tấc tơ mà bủa giăng trời đất”. ● 解 話 會. Thông qua lời giải thích để lãnh hội. Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng ghi: “況 第 一 義 本 來 清 淨、不 受 諸 塵、如 何 説 得?同 道 方 知。今 日 放 過 一 著、向 建 化 門 中、別 作 箇 解 話 會。 – Huống là đệ nhất nghĩa vốn thanh tịnh, chẳng nhiễm các trần, làm sao nói được? Kẻ đồng đạo mới biết. Hôm nay hãy cởi mở một phen, trong cửa dựng lập tiếp hóa đặc biệt thông qua lời giải thích để lãnh hội”. ● 解 脫 禪 師 塔. Tháp nằm ở sườn núi tây bắc chùa Phật Quang huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Nơi đây có một số mộ tháp của tăng nhân chùa Phật Quang đời Đường đến nay, nên tháp này có niên đại rất sớm. Đây là mộ tháp của Thiền Sư Giải Thoát, một cao tăng đời Đường, xây vào niên hiệu Trường Khánh thứ 4 (824) đời Đường. Đó là một tòa mộ tháp tứ giác một mái bằng gạch cao khoảng 10 mét. Phía dưới là bệ đá hình vuông, phía trên là thân tháp hình vuông. Trong thân tháp rỗng, chính diện có cửa vòm cung, phần trên trong tháp là khung trang trí. Trên thân tháp vươn ra vành mái tháp. Trên vành mái tầng thứ nhất lại chồng chất bệ vuông hai bực. Trên bệ vuông khắc bằng gạch hai lớp cánh hoa sen to lớn, có ý nghĩa như đài sen. Trên đài sen lại có một tòa tháp nhỏ hình vuông. Tháp này tạo hình kỳ đặc, độc đáo, dùng tòa tháp nhỏ giống như thân tháp làm đỉnh tháp, một tình huống ít thấy. Bên cạnh tháp này còn có một tòa tháp hoa xây vào niên hiệu Thái Hòa thứ 5 (1205) đời Kim, phần trên do năm lớp cánh sen làm thành. ● 解 摘. Phân tích, giải thích. Tiết Linh Diệu Công Lương Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “有 箇 葛 藤 露 布、與 諸 人 共 相 解 摘 看。 – Có cơ duyên ngữ cú các ông cùng nhau giải thích xem”. ● 解 院 主. Tên gọi chức vụ chủ quản trong các việc tính toán sổ sách, tiếp đãi… trong Thiền viện. Giải viện là nơi Thiền Tông thực hành các công việc trên. ● 緘 默. Bịt miệng im lặng. Thiền Lâm Bảo Huấn q.3 (Đại 48, 1030 hạ) ghi: “若 夫 主 者 好 逞 私 心。專 己 喜 怒 而 進 退 於 人。則 賢 者 緘 默。不 肖 者 競 進。紀 網 紊 亂 叢 林 廢 矣。 – Còn như người làm chủ tùng lâm mà thích làm theo ý riêng, chỉ chuyện vui buồn theo sự tiến thoái của người, thì người hiền phải im lặng, kẻ xấu đua nhau tiến lên, làm cho kỷ cương rối loạn, tùng lâm suy vi”. ● 鑒 眞 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Sư Nãi đời Ngũ Đại. X. Sư Nãi. ● 鑒 多 口. Thiền tăng Hạo Giám giỏi biện luận nên người đời gọi là “Giám Đa Khẩu”. X. Hạo Giám. ● 監 收. Chức vụ quản lý việc thu nhập mọi sở hữu của tự viện và các việc tạp như thuế ruộng, chức vụ này được lập ra vào đời Nguyên, dưới quyền của Trang chủ. Quyền hành của Giám thu tương đương với Tri Khố. Thiền Lâm Bảo Huấn q.1 (Đại 48, 1020 trung) ghi: “黃 龍 曰:監 收 未 得 人。晦 堂 遂 荐 感 副 寺。黃 龍 曰:感 尚 暴。恐 爲 小 人 所 謀。晦 堂 曰:化 侍 者 稍 廉 謹。黃 龍 謂 化 雖 廉 謹。不 若 秀 莊 主 有 量 而 忠。 – Hoàng Long nói: Chưa tìm được người làm Giám thu. Hối Đường liền tiến cử Cảm Phó tự. Hoàng Long nói: Cảm còn thô bạo, sợ bị kẻ tiểu nhân mưu hại. Hối Đường nói: Hóa thị giả là người liêm cẩn. Hoàng Long bảo: Hóa tuy liêm cẩn nhưng lại không bằng Tú Tạng chủ, có độ lượng và trung thực”. ● 鑒 宗 (793-866). Thiền tăng đời Đường, họ Tiền, người xứ Hồ Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; tham học nơi Thiền Sư Diêm Quan Ngộ Không. Sư trụ Đông Phong Kính Sơn ở Thiên Mục. ● 鑒 寺. Còn gọi: Giám Viện, Viện Chủ, Chủ Thủ, Tự Chủ. Chức vụ quản lý mọi mặt trong tự viện. Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “慈 明 自 南 源 徙 道 吾、石 霜、師 皆 佐 之、總 院 事。。。一 日、明 遞 出、雨 忽 作、師 偵 之 小 徑、既 見、遂 扭 住 曰:這 老 漢 今 日 須 與 我 説、不 説 打 你 去! 明 曰:監 寺 知 是 般 事 便 休。語 未 卒、師 大 悟。 – Từ Minh từ Nam Nguyên dời đến Đạo Ngô, Thạch Sương, sư (Dương Kỳ) đều theo phụ giúp, coi sóc mọi mặt trong chùa… Một hôm, Từ Minh vừa ra khỏi chùa, trời chợt đổ mưa. Sư rình ông ta ở con đường tắt. Thấy Từ Minh đến, sư liền nắm chặt lại, nói: Ông già này, bữa nay phải nói cho tôi nghe, nếu không tôi sẽ đánh ông! Minh nói: Giám tự biết là việc này liền thôi. Minh chưa dứt lời, sư liền đại ngộ”. ● 間 器. Chỉ cho bậc xuất cách không can dự với đời, tức là người anh tài rất hiếm có. Thiền Lâm Bảo Huấn q.3 (Đại 48, 1029 hạ) ghi: “子 曰:貫 亦 僧 中 間 氣 也。 – Ta nói: Đức Quán cũng là bậc anh tài hiếm có trong hàng ngũ chư tăng”. ● 簡 浙 客. Thiền tăng đời Tống, tên Thanh Giản, do tính tình giản dị, trong sạch, lại là người xứ Hàng Châu, nên người đời gọi sư là “Giản Chiết Khách”. X. Thanh Giản. ● 揀 話. Lời phê bình, phân biệt thiền cơ. Đây là một hình thức vấn đáp trong khi thuyết pháp của nhà thiền. Thiên Đoan Lộc Bản Tiên Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “大 凡 參 學 未 必 學、問 話 是 參 學 未 必 學、揀 話 是 參 學 未 必 學、代 語 是 參 學 未 必 學、別 語 是 參 學 未 必 學。。 – Nói chung, không hẳn là học vấn thoại, học giản thoại, học đại ngữ, học biệt ngữ mới gọi là tham học”. ● 揀 擇. Tức tuyển trạch, tức là dựa vào trí huệ phán đoán chính xác để bỏ ngụy lấy chân. “Giản” và “trạch” đều có nghĩa là lựa chọn, phân biệt. Nhờ sức giản trạch mà được Diệt đế Niết bàn thì gọi là Trạch diệt. Ngoài ra, vị Thầy lựa chọn phân biệt trong hàng đệ tử xem người nào kham nổi giáo pháp thì gọi là Giản khí. Khí có nghĩa là căn khí, căn cơ. ● 簡 直. Ngắn gọn. Tiết Nghệ ngôn trong NĐHN q.29 ghi: “少 室 心 印、豈 落 文 彩?古 人 聊 爲 接 引 之 計、始 掛 唇 吻、然 皆 渾 朴 簡 直、刻 的 示 人。 – Tâm ấn Thiếu Thất há câu nệ vào việc trau chuốt lời nói câu văn? Người xưa tạm vì kế tiếp dẫn mà mượn lời nói, nhưng đều hồn hậu, chất phác, ngắn gọn, chuẩn xác và trong sáng để dạy người”. ● 江 湖 風 月 集. Còn gọi: Giang Hồ Tập. Thi ca hợp tập, 2 quyển, do Tùng Pha Tông Tức biên tập vào đời Nguyên. Ông sưu tập các kệ tụng do bậc Tôn túc khắp nơi làm ra từ niên hiệu Cảnh Định, Hàm Thuần đời Tống đến niên hiệu Diên Hựu, Chí Trị đời Nguyên rồi biên tập thành sách. Nội dung bao gồm những điều thu hoạch được trong quá trình tham học của các bậc Tôn túc khắp nơi, mượn cảnh trí thiên nhiên như gió mát, trăng thanh để bày tỏ cảnh giới ngộ của mình. Sách chia làm 2 quyển thượng và hạ, gồm có 76 vị và 270 bài kệ tụng, trong đó có 13 bài kệ tụng của Tùng Pha làm. ● 江 謙 (1875-1942). Cư sĩ hiện đại, tự Dị Viên, hiệu Dương Phục, người Vụ Nguyên, Giang Tây, Trung Quốc. Niên hiệu Quang Tự thứ 28 (1902) đời Thanh, ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Sư Phạm Thông Châu. Năm 1914 làm Giám đốc Sở Giáo Dục tỉnh Giang Tô. Năm sau nhậm chức Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nam Kinh. Ông có trứ tác “Đông Pha Thiền Học Thi Văn Yếu Giải”. ● 江 心 寺. Chùa nằm trên hòn đảo Giang Tâm, thành phố Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Được xây cất vào niên hiệu Hàm Thông (860-873) đời Đường, nguyên có Đông tháp Phổ Tịch viện, Tây tháp Tịnh Tín viện. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 4 (1130) đời Tống đổi làm hai viện Long Tường và Hưng Khánh. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) Thục tăng là Thanh Liễu trụ trì viện Long Tường hợp hai viện thành một chùa, gọi là “Giang Tâm Thiền Tự”. Cuối đời Tống đầu đời Nguyên, Ngột Am trụ chùa này. Đời Nguyên Liễu Vạn trụ trì chùa này. Đầu niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh xây cất Phật các, Pháp đường, Phương trượng thất, Quan phòng. Niên hiệu Tuyên Đức thứ 4 (1429) Đàm Húc trụ trì chùa này. Sau đó trải qua nhiều lần sửa chữa, đến niên hiệu Càn Long thứ 54 (1789) lại xây dựng lại mới thành quy mô hiện tại. Toàn chùa diện tích khoảng 2,8 ha dùng để thờ Quán Âm Đại sĩ, 18 vị La hán, Địa Tạng Vương Bồ Tát. Xung quanh chùa mây nước bao quanh, cổ tùng cao vút, phong cảnh thanh nhã u tịch. ● 講 僧. Còn gọi: Tọa chủ, giảng giả, giảng nhân. Chỉ Giảng sư giảng thuyết kinh Phật, giải thích nghĩa kinh, thuộc các tông phái ngoài Thiền Tông. Tiết Đạo Nhất trong CTTNL q.1 ghi: (dùng lại thí dụ có sẵn) Tiết Tây Thục Giám Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “由 是 隱 居 二 十 年、道 俗 追 慕、復 命 演 法。。。兩 川 講 者 爭 依 之。 – Từ đó sư ở ẩn hai mươi năm, đạo tục hâm mộ tìm đến, sư vâng lệnh triều đình diễn thuyết Phật pháp… Các vị giảng sư vùng Lưỡng Xuyên đua nhau đến nương tựa.” Như Tịnh Ngữ Lục q, thượng ghi: “上 堂、時 有 講 人 相 訪。 – Sư thượng đường, lúc ấy có vị giảng sư đến thưa hỏi.” ● 講 席. Còn gọi: Giảng Hội. Pháp hội giảng nói kinh Phật, giải thích nghĩa kinh thuộc các tông phái Phật giáo ngoài Thiền Tông. Tiết Huệ Khả Thiền Sư trong Tổ Đường Tập q.2 ghi: “法 師 講 下 人 少、辯 和 怪 於 師、遂 往 縣 令 瞿 宗 侃 説 之:彼 邪 見 道 人、打 破 講 席。 – Số người nghe Pháp sư thuyết pháp bị giảm xuống. Biện Hòa oán ghét sư nên đến quan huyện Cù Tông Khản nói rằng: Ông ta (Huệ Khả) là đạo nhân tà kiến, đến phá rối giảng tịch”. ● 講 肆. Nơi giảng nói kinh Phật, giải thích nghĩa kinh thuộc các tông phái Phật giáo ngoài Thiền Tông. Thung Dung Am Lục q.1 ghi: “講 肆 謂 之 升 座、禪 林 號 曰 上 堂。 – Giảng tứ gọi việc ấy là Thăng tòa, còn Thiền Tông gọi việc ấy là Thượng đường”. ● 交 加. Lẫn lộn, pha tạp, tổng hợp. Bích Nham Lục q.1 ghi: “雪 竇 可 謂 有 大 手 脚、一 時 與 尒 交 加 頌 出、然 雖 如 是、都 無 兩 般。 – Có thể nói Tuyết Đậu có thủ đoạn kiệt xuất khi tổng hợp tụng ra cho ngươi. Mặc dù như thế, đều không có hai thứ”. ● 膠 口. Ngậm miệng không nói được. Tiết Tịnh Nhân Kế Thành Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “善(華 嚴)曰:如 何 是 寶 所?師 曰:非 汝 境 界。善 曰:望 禪 師 慈 悲。師 曰:任 從 滄 海 變、終 不 爲 君 通。善 膠 口 而 退。 (Thiện Hoa Nghiêm) viết: Như hà thị bảo sở? Sư viết: Phi nhữ cảnh giới. Thiện viết: Vọng Thiền Sư từ bi! Sư viết: Nhậm tùng thương hải biến, chung bất vị quân thông. Thiện giao khẩu nhi thoái. – Thiện Hoa Nghiêm hỏi: Thế nào là bảo sở? Sư đáp: Chẳng phải cảnh giới của ngươi. Thiện nói: Mong Hòa Thượng từ bi chỉ dạy! Sư nói: Bất luận biển cả biến đổi trọn không vì ông thông suốt. Thiện ngậm miệng không nói được mà lui ra.” ● 膠 擾. Vướng mắc, quấy nhiễu. Tiết Khai thị Tính Không Đạt Thiền nhân trong DTNL q.3 ghi: “從 情 識 而 起 緣 業、從 緣 業 而 動 情 識、互 相 膠 擾、返 覆 纏 綿。 – Từ tình thức mà khởi duyên nghiệp, từ duyên nghiệp mà động tình thức, nó vướng mắc với nhau thay đổi triền miên.” ● 交 關. Trao đổi, mua bán. Tiết Tuyết Phong Long Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “家 財 運 出 任 交 關、勸 君 莫 競 錐 頭 利。 – Của cải bung ra mặc trao đổi, khuyên anh đừng hám lợi nhỏ nhen”. ● 教. 1. Thiền Tông tự xưng “giáo ngoại biệt truyền”, các tông phái khác của Phật giáo thì gọi là “giáo”. ● 2. Những tông phái cùng tồn tại với Thiền Tông, Luật tông trong Phật giáo. Tiết “Tục Nghệ Ngôn” trong NHNL q.30 ghi: “禪、教、律 三 宗、本 是 一 源、後 世 分 之 爲 三。 – Ba tông Thiền, Giáo, Luật vốn cùng một nguồn, hậu thế phân chia làm ba.” ● 3. Còn gọi: Giảo, Hiệu. Khác nhau. Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q.10 ghi: “因 僧 舉 雲 巖 補 草 鞋 次、藥 山 問:作 什 麼?巖 對 問:將 敗 壞 補 敗 壞。藥 山 不 肯、云:卽 敗 壞、非 敗 壞?師 云:藥 山 與 麼 道、猶 教 一 節 在。 – Nhân vị tăng nêu công án Vân Nham đang vá giày, Dược Sơn hỏi: Làm gì thế? Vân Nham đáp: Lấy bại hoại vá bại hoại. Dược Sơn không đồng ý, nói: Tức bại hoại, phi bại hoại. Sư nói: Dược Sơn nói như thế vẫn còn khác nhau một đoạn.” ● 4. Liên tiếp trong câu vị ngữ và bổ ngữ. Tiết Quy Phong Huệ Quang Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “(菩 提 達 磨)煩 惱 九 年。若 不 得 二 祖 不 惜 性 命、往 往 轉 身 無 路、煩 惱 教 死。 – Bồ Đề Đạt Ma phiền não chín năm, nếu không được Nhị Tổ chẳng tiếc tính mệnh thì không có con đường chuyển thân, phiền não đến chết.” ● 教 詔. Giáo dục, chỉ dạy. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “須 知 有 一 人、不 從 人 得、不 受 教 詔、不 落 階 級。若 識 此 人、一 生 參 學 事 畢。 – Phải nên biết có một người không nhờ người khác mà đắc, không cần chỉ dạy, không rơi vào giai cấp. Nếu ai biết được người này thì việc tham học một đời đã xong.” ● 教 頓 機 漸. Tức là pháp chỉ dạy không theo thứ lớp tu hành mà trực tiếp khai thị chỗ nhiệm mầu của Phật pháp; song căn cơ của người nhận lãnh là độn căn, thì cần phải theo thứ tự tu hành tích lũy mới được chứng quả. ● 教 亨 (1150-1219). Thiền tăng đời Kim, họ Vương, tự Hư Minh, người xứ Nhậm Thành, Tế Châu (nay là huyện Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Bảo Công. Sư trụ 5 ngôi chùa lớn: Giới Đàn ở Tung Sơn, Vân Môn ở Thiều Châu, Phổ Chiếu ở Trịnh Châu, Đại Giác ở Lâm Khê, Pháp Vương ở Tung Sơn. ● 教 門. 1. Chỉ cho Phật giáo. Tiết Cấp sự Phùng Tiếp cư sĩ trong NĐHN q.20 ghi: “著 僧 衣 履、踞 高 座、囑 諸 官 吏 及 道 俗、各 宜 向 道、扶 持 教 門、建 立 法 幢。 – Mặc áo mang giày tăng sĩ, ngồi trên tòa cao, dặn dò các quan sứ và đạo tục, mỗi người nên hướng về đạo, giúp đỡ Phật giáo, dựng lập pháp tràng.” ● 2. Giáo phái, pháp môn. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “故 此 教 門 立 無 念 爲 宗。 – Cho nên pháp môn này lập vô niệm làm tông.” ● 教 外 別 傳. 1. Còn gọi: Đơn truyền. Không nhờ văn tự ngữ ngôn, trực ngộ cảnh giới Phật đã ngộ tức là Giáo ngoại biệt truyền. Cho nên Thiền Tông còn gọi là Biệt truyền tông, gọi tắt của Giáo ngoại biệt truyền tông. Pháp thiền truyền ngoài giáo điển này cũng chính là Tổ Sư Thiền mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền thọ. Liên Đăng Hội Yếu q.1 (Vạn Tục 136, 220 hạ) ghi: “世 尊 在 靈 山 會 上、拈 花 示 眾、眾 皆 默 然、唯 迦 葉 破 顏 微 笑。世 尊 道:吾 有 正 法 眼 藏、涅 槃 妙 心、實 相 無 相、微 妙 法 門、不 立 文 字、教 外 別 傳、付 囑 摩 訶 迦 葉。 – Đức Thế Tôn trên hội Linh Sơn giơ cành hoa dạy chúng, chúng đều im lặng, chỉ riêng Ca diếp rạng mặt mỉm cười. Thế Tôn nói: Ta có Chính Pháp Nhãn Tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, phó chúc cho Ma ha Ca diếp”. Tắc công án này không những biểu thị Thiền gia chú trọng Chính pháp tương truyền, mà còn biểu thị ý nghĩa Thiền Tông không kẹt vào văn tự ngôn ngữ của giáo môn, trực tiếp tỏ ngộ thấy suốt tâm địa. Theo Hoài Thiền Sư Tiền Lục trong Tổ Đình Sự Uyển q. 5 ghi: “Thiền Tông truyền pháp, chư Tổ cũng dùng 3 tạng giáo thừa tiếp dẫn đệ tử, đến thời đại Tổ sư Đạt ma mới riêng truyền tâm ấn, phá chấp hiển tông, tức là chỗ gọi rằng ›Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật‹”. ● 2. Sách, 16 quyển, do nhóm các ông Lê My (Quách Ngưng Chi)… biên tập vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 144, trang 1. Tác giả tham cứu sâu lẽ vi diệu của Thiền, bản nguyên của Phật Tổ, sưu tập cơ duyên Ngữ Yếu để cử dương tông thừa của Tổ sư và nêu ra nguồn gốc của 5 tông phái Thiền, gia phong của mỗi phái, khiến cho kẻ sĩ tham thiền học đạo nhận ra nơi mỗi người đều có bản lai diện mục, giơ cao đèn Tổ. Nội dung toàn sách gồm có cơ duyên của 410 vị, trong đó 38 vị bị lạc mất tên. Trước sách có lời tựa của các vị Hán Nguyệt Pháp Tạng, Mật Vân Viên Ngộ, Tuyết Kiệu Viên Tín. ● 教 一 節. Khác nhau một đoạn, có nghĩa là không khế hợp thiền chỉ. Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q.10 ghi: “因 僧 舉 雲 巖 補 草 鞋 次、藥 山 問:作 什 麼?巖 對 問:將 敗 壞 補 敗 壞。藥 山 不 肯、云:卽 敗 壞、非 敗 壞?師 云:藥 山 與 麼 道、猶 教 一 節 在。僧 問:和 尚 如 何?師 云:汝 猶 教 一 節 在。僧 云:學 人 則 與 麼 教 和 尚 一 節 在、未 審 作 麼 生 則 得 盡 於 師 機? – Nhân vị tăng nêu công án Vân Nham đang vá giày, Dược Sơn hỏi: Làm gì thế? Vân Nham đáp: Lấy bại hoại vá bại hoại. Dược Sơn không đồng ý, nói: Tức bại hoại, phi bại hoại. Sư bảo: Dược Sơn nói như thế vẫn chưa khế hợp thiền chỉ. Tăng hỏi: Hòa Thượng như thế nào? Sư nói: Ngươi vẫn chưa khế hợp thiền chỉ. Tăng hỏi: Học nhân không khế hợp thiền chỉ như thế, chẳng ha phải làm thế nào để được khế hợp thiền chỉ của Hòa Thượng? ● 教 迹. Phương thức giáo hóa thông qua ngôn ngữ văn tự, so với Thiền Tông bất lập văn tự, tâm tâm tương ấn là có dấu vết có thể tìm. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “只 如 有 祖 有 佛、皆 是 教 迹 中 事。 – Chỉ như hữu Tổ hữu Phật, giai thị giáo tích trung sự. – Ngay như có Tổ có Phật đều là việc trong giáo tích.” ● 教 宗. Tông phái Phật giáo cùng tồn tại với Thiền Tông, Luật tông. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “何 謂 無 量 法 門?開 之 言 之、有 八 萬 四 千 種。總 而 論 之、則 有 三 宗、曰:教 宗、禪 宗、律 宗 也。 – Vì sao gọi là vô lượng pháp môn? Nói rộng ra thì có tám vạn bốn ngàn thứ. Nói tóm lại thì có ba tông, đó là: giáo tông, thiền tông, luật tông.” ● 較 些 子. 1. Khá hơn một chút. Liên Đăng Hội Yếu q.10 phần sau ghi: “我 見 八 十 餘 員 知 識、只 有 你 較 些 子。 – Ta thấy trong hơn tám mươi vị Tri thức, chỉ có ngươi là khá hơn một chút.” CĐTĐTL q.14 ghi: “只 宜 汝 於 言 下 便 見 去、猶 較 些 子。 – Nếu ngay lời nói ngươi liền thấy được thì còn khá hơn một chút.” Tiết Ngọc Tuyền Thừa Hạo Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “製 犢 鼻 褌、書 歷 代 祖 師 名 字。乃 曰:唯 有 文 殊 普 賢 較 些 子。且 書 於 帶 上。 – Sư làm một chiếc quần đùi, viết tên các đời Tổ sư lên đó, rồi nói: Chỉ có Văn thù, Phổ Hiền là khá hơn một chút. Và sư viết tên hai vị thánh lên thắt lưng.” ● 咬 猪 狗 手 脚. Còn gọi: Giảo Trư Cẩu Cước Thủ. Thiền Sư kiệt xuất tiếp dẫn người học, hoặc đọ sức cơ phong không bàn đến tình cảm. Thiền Sư có thủ đoạn kỳ đặc. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “若 未 有 箇 入 頭 處、遇 著 本 色 咬 豬 狗 手 腳、不 惜 性 命、入 泥 入 水 相 爲。有 可 咬 嚼 、眨 上 眉 毛、高 挂 缽 囊、拗 折 拄 杖。十 年 二 十 年、辦 取 徹 頭、莫 愁 不 成 辦。 – Nếu chưa có chỗ ngộ nhập, gặp được Thiền Sư chính tông kiệt xuất tiếp dẫn chẳng tiếc tính mạng, lập bày phương tiện dạy cho, ngươi nên quyết tâm phấn chấn tinh thần, treo cao túi bát, bẻ gãy cây gậy; trong 10 năm hoặc 20 năm làm cho thấu triệt, chớ lo không thành công”. ● 夾 山. 1. Núi ở huyện Thạch Môn tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, nằm cách trung tâm huyện khoảng 17km về hướng đông nam. Niên hiệu Hàm Thông thứ 11 (870) đời Đường, Thiền Sư Thiện Hội xây dựng thiền viện ở núi này để hoằng dương thiền pháp, nổi tiếng một thời. ● 2. Núi ở huyện Đan Đồ, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, nằm cách trung tâm huyện khoảng 2km về phía nam. Trong núi có chùa Trúc Lâm, Thiền Sư Thiện Hội cũng từng thuyết pháp ở nơi đây. ● 夾 山 寺. Nằm bên cầu Tam Bản, cách huyện Thạch Môn, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc 15km về phía Đông nam. Niên hiệu Hàm Thông thứ 11 (870) đời Đường, Thiền Sư Thiện Hội kết am tranh ở nơi đây, người học tìm đến bèn trở thành Thiền viện. Quận sử Cử Văn ban tặng tấm biển “Linh Tuyền Viện”. Đầu đời Tống là thời kỳ hưng thịnh nhân tài lớp lớp xuất hiện. Sau đó đổi tên chùa càng thấy hưng thịnh thêm. Viên Ngộ Khắc Cần cũng từng trụ trì chùa này, ở nơi đây ngài biên tập Bích Nham Lục. Thời vua Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ từng sửa chữa. Bởi sơn môn với đại điện cách nhau rất xa, nên có tên gọi “Kỵ mã quan sơn môn”. Hiện còn Đại hùng bảo điện được xây cất lại vào đời Thanh, rộng 7 gian, sâu 5 gian, mái chồng đỉnh yết sơn, mái dưới tường ngoài không dùng trụ mà dùng tường gạch, hai cánh vểnh lên không dùng gỗ mà dùng tường gạch 45o, từ trụ kim xây đến trụ mái, cao ra mái dưới thành đốc nhà hình cung, sáng chế độc đáo. Trong điện có một cái chuông sắt nặng đến vạn cân đúc vào niên hiệu Đại Quán thứ 3 (1109) đời Tống. ● 戒 臺 寺. Nằm trên sườn núi Mã Yên, khu Môn Đầu Câu, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Được xây cất vào niên hiệu Vũ Đức thứ 5 (622) đời Đường, ban đầu gọi là “Huệ Tụ Tự”. Hòa Thượng Pháp Quân nước Liêu thiết lập giới đàn tại đây, sau khi bắt đầu truyền giới, tăng chúng bốn phương tìm đến thọ giới nhộn nhịp, nhân đây mà tiếng tăm chấn động. Niên hiệu Chính Thống thứ 13 (1448) đời Minh đổi tên là “Vạn Thọ Thiền Tự”, vua lệnh cho Như Huyễn thuyết pháp tại chùa này. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 29 đến thứ 35 (1550 1556) tiến hành tu sửa toàn diện ngôi chùa này. Bởi trong chùa có xây giới đài cho nên tục gọi “Giới Đài Tự”. Chùa dựa theo thế núi cao thấp mà cất, kiến trúc chủ yếu có Đại hùng bảo điện, Thiên Phật các, Giới đàn. Giới đàn nằm ở Viện Tây Bắc của chùa, là một kiến trúc hình vuông mái chồng đỉnh lợp ngói lưu ly, trong có giới đài bằng đá cẩm thạch cao hơn trượng, ba bậc, điêu khắc tinh mỹ, là di vật đời Minh. Thiên Phật Các mái chồng gác tầng, kiến trúc hùng vĩ, lên cao có thể thấy sông Hồn. Trong chùa còn phân bố nhiều đình viện, kết cấu và cách thức đẹp đẽ tĩnh mịch khác thường, có đầy đủ phong cách tự viện Giang Nam. Dưới đài cao của Giới đàn Đông Bắc là tháp viện có một tòa Liêu tháp (Tùng Bảo Tháp), một tòa Nguyên tháp. Trong chùa còn có năm cội tùng xanh đều cùng một hình dáng. ● 戒 壇 石. Còn gọi: Kiết Giới Thạch. Bia đá đặt trước cổng tự viện Luật Tông hoặc Thiền Tông. Thông thường, trên bia đá khắc dòng chữ: “Cấm người uống rượu ăn thịt vào cổng chùa”. Về nguồn gốc của nó thì không rõ, chỉ thấy trong Hoàng Bá Thanh Quy có ghi: Bia đá cao khoảng 1m8 đến 2m, rộng khoảng 0,3m đến 0,4m. ● 戒 牒. Giấy chứng nhận thụ giới, cấp phát cho tăng ni xuất gia sau khi đã thụ giới. Theo Thích Thị Kê Cổ Lược q. 3 ghi: Đời Đường Tuyên Tông năm 856, bổ nhiệm Pháp sư Biện Chưởng làm Thủ tọa tam giáo, thừa lệnh cấp phát giới điệp cho tăng ni thụ giới. Đây là mở đầu việc cấp giới điệp cho tăng ni chính thức thụ giới. Trước đó, vào năm 729, Đường Huyền Tông từng hạ chiếu cứ mỗi 3 năm, tất cả tăng ni phải đăng ký 1 lần; năm 747 hạ lệnh tất cả tăng ni phải thuộc lệ Lưỡng nhai công đức sứ, và do Thượng thư Tỉnh từ bộ cấp giấy chứng minh gọi là Từ bộ điệp. Vào thời đại Đường, Tống, khi tăng ni xuất gia phải lãnh lấy độ điệp (= Tăng tịch: Giấy chứng minh là tu sĩ), sau khi thụ giới lại lãnh giới điệp đều do quan địa phương cấp phát. Khi thụ giới phải trình độ điệp mới được thụ giới. Đời Minh vào khoảng năm 1368-1424, ba lần cấp cho tăng tục thụ giới sao bạch điệp văn mang theo bên mình để làm chấp chiếu đi đường. Đời Thanh, vua Ung Chính dẹp bỏ độ điệp, tăng ni xuất gia không kiểm soát được, các nơi cũng được tự do truyền giới, giới điệp do các tự viện truyền giới cấp phát. Đến đời Dân Quốc về sau, không còn cấp độ điệp nữa, chỉ cấp giới điệp do hội Phật giáo Trung Quốc cấp. Ở Nhật Bản từ khoảng năm 749-756 về sau mới có cấp phát giới điệp do Tam sư Thất chứng đứng tên truyền giới. ● 介 定. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Lạc Phố Nguyên An. Sư trụ Động Khê ở Gia Châu (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. ● 戒 空. Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ ni đa lưu chi đời thứ 15, nối pháp Thiền Sư Quảng Phúc. Sư tục danh là Nguyễn Tuân, người quận Mãn Đẩu, miền Bắc Việt Nam. Kệ thị tịch: 我 有 一 事 奇 特。非 青 黃 赤 白 黑 天 下 在 家 出 家。親 生 惡 死 爲 賊 不 知 生 死 異 路。生 死 秖 是 失 得 若 言 生 死 異 塗。賺 卻 釋 迦 彌 勒 若 知 生 死 生 死。方 會 老 僧 處 匿 汝 等 後 學 門 人。莫 認 盤 星 軌 則 “Ngã hữu nhất sự kỳ đặc Phi thanh huỳnh xích bạch hắc Thiên hạ tại gia xuất gia Thân sinh ố tử vi tặc Bất tri sinh tử dị lộ Sinh tử chỉ thị thất đắc. Nhược ngôn sinh tử dị đồ Trám khước Thích ca Di lặc Nhược tri sinh tử, sinh tử Phương hội lão tăng xứ nặc Nhữ đẳng hậu học môn nhân Mạc nhận bàn tinh quỹ tắc”. “Ta có một việc kỳ đặc Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng Cả người tại gia xuất gia Thích sinh chán tử là giặc Chẳng rõ sinh tử khác đường Sinh tử chỉ là được mất. Nếu cho sinh tử khác đường Lừa cả Thích ca, Di lặc Ví biết sinh tử, sinh tử Mới hiểu lão tăng chỗ náu Môn nhân hậu học các ngươi Chớ nhận định theo chủ quan”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 戒 靈. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Vĩnh Thái Linh Thoan. Sư trụ chùa Thượng Lâm ở Hồ Nam. ● 介 清 (1239-1301). Thiền tăng đời Nguyên, họ Vương, hiệu Long Nguyên, người xứ Trường Khê, Phúc Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tịch Song Hữu Chiếu, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Sư trụ chùa Thọ Quốc, sau dời về Khai Thọ Phổ Quang Thiền Tự. Sư có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 介 諶 (1080-1148). Còn gọi: Giới Thậm. Thiền tăng đời Tống, họ Trương, tự Vô Thị, người Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu, Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Thủ Trác, thuộc tông Lâm Tề thứ 12, trụ trì chùa Khánh Nguyên Dục Vương (nay thuộc huyện Ninh Ba, Chiết Giang). ● 芥 子 納 須 彌、須 彌 納 芥 子. Hột cải chứa Tu di, Tu di chứa hột cải. Cái rất nhỏ chứa cái rất lớn, cái rất lớn chứa cái rất nhỏ. Với cái nhìn tương đối thì Tu di chứa hột cải là việc bình thường, nhưng hột cải mà chứa Tu di thì thật khó hiểu. Đây muốn chứng tỏ sau khi ngộ rồi chẳng còn phân biệt tương đối nữa, vì trong cảnh giới của người chứng ngộ thì lớn nhỏ có thể dung hợp lẫn nhau. ● 訶 佛 罵 祖. Còn gọi: Sát Phật Lục Tổ. Nghĩa là quở Phật, mắng tổ, Thiền Tông thường dùng từ này để phủ định pháp quyền uy, cởi bỏ kiến chấp cho học nhân khiến họ thể đắc cảnh giới tự tại. Bích Nham Lục q.1 ghi: “潙 山 云:此 子 已 後 向 孤 峰 頂 上 盤 結 草 庵 呵 佛 罵 祖 去 在。 – Quy Sơn nói: Gã này về sau leo lên đỉnh núi chon von, cất am bằng cỏ để rồi quở Phật mắng Tổ”. ● 荷 葉 團 團. Đoàn đoàn: vành vạnh. Cả câu có nghĩa là tròn như lá sen. Trong Thiền Tông, chỉ cho sự viên mãn triệt để. Tiết Giáp Sơn Thiện Hội trong NĐHN q.5 (Vạn Tục 138, 94 thượng) ghi: 荷 葉 團 團 團 似 鏡 菱 角 尖 尖 尖 似 錐 “Hà diệp đoàn đoàn đoàn tợ cảnh Lăng giác tiêm tiêm tiêm tợ chùy”. “Lá sen vành vạnh tròn tợ gương Củ ấu thon thon nhọn tợ dùi”. ● 何 當. Như thế nào, làm sao. Chương Tổ thứ 24 Sư Tử Tỳ Kheo trong CĐTĐL q.2 ghi: “仁 者 習 定 何 當 來 此。既 至 于 此 胡 云 習 定? – Nhân giả đang tập định thì làm sao đến nơi này? Đã đến nơi này thì tại sao bảo đang tập định?” ● 何 挾. Giúp đỡ. Chương Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư trong CĐTĐL q.18 ghi: “若 是 根 機 遲 鈍。直 須 勤 苦 忍 耐 日 夜 忘 疲 失 食 如 喪 考 妣 相 似。恁 麼 急 切 盡 一 生 去。更 得 人 荷 挾 剋 骨 究 實。不 妨 亦 得 覯 去。 –Nếu là căn cơ chậm lụt cần phải siêng năng nhẫn nại, ngày đêm quên ăn bỏ ngủ giống như cha mẹ chết. Cấp thiết như thế đến hết một đời này, lại được người giúp đỡ, khắc cốt tham cứu thực sự thì tự nhiên cũng được lãnh hội.” ● 何 有. Nơi tịch diệt vô vi. Trang Tử nói: “Vô hà hữu chi hương”, nghĩa là quê hương không có nơi chốn. Bài thơ Điệu Tiên sư của Tuệ Trung Thượng sĩ ghi: 一 曲 無 生 唱 了 時 擔 橫 櫛 栗 故 鄉 歸 上 頭 打 過 胡 何 有 一 箇 泥 牛 任 倒 騎 “Vừa lúc vô sinh dứt khúc ca Cầm ngang ống sáo lại quê nhà Vượt qua quê cũ không nơi chốn Cưỡi ngược trâu bùn mặc sức ta”. ● 蝦 蟆 口. Nói nhiều, nhiều chuyện. Vân Môn Lục q. trung (Đại 47, 564 trung) ghi: “某 甲 不 欲 開 蝦 蟆 口。 – Ta không muốn nhiều chuyện”, tức biểu thị đối với sự tu đạo mà nói nhiều không lợi ích gì. ● 蝦 蟆 禪. Từ dùng để châm biếm kẻ tu Thiền bị ngưng trệ một bên, không thể tự tại hoạt dụng. Có 2 thuyết: 1. Nghĩa là con ễnh ương chỉ biết nhảy mà không hiểu đường đi nước bước gì cả; cho nên lấy đó tỷ dụ tử thiền không linh hoạt. 2. Chỉ cho kẻ chỉ biết ngồi Thiền, dáng ngồi giống con ễnh ương ngồi trên lá sen, nên có tên gọi là “Hà mô thiền”. Vân Môn Lục (Đại 47, 549 hạ) ghi: “這 死 蝦 蟆 – Con ễnh ương chết này”. ● 荷 澤 大 師. Thiền tăng Thần Hội đời Đường do trụ trì chùa Hà Trạch ở Lạc Dương, cho nên hiệu là “Hà Trạch Đại Sư”. X. Thần Hội. ● 下 鉢. Đặt bát xuống. Nghi thức dùng bữa trong chùa. Tăng chúng nghe hiệu lệnh tiếng bảng, mọi người đồng thời đặt bát xuống. Phép hạ bát có quy định chắp tay, cúi đầu, vái chào, nâng bát… Điều Phó Chúc Phạn trong Thiền Uyển Thanh Quy q.1 ghi: “先 於 食 位 就 坐、後 長 板 鳴、及 打 三 下、即 起 身 下 鉢。 – Trước đến ngồi vào chỗ ăn, chờ đánh bảng 3 tiếng liền đứng dậy đặt bát xuống”. ● 下 棒. Trong nhà Thiền, khi Thầy trò cơ phong vấn đáp, vị thầy cho đệ tử hoặc người tham học ăn gậy, gọi là Hạ bổng. Đây là phương pháp tiếp hóa mà vị Thầy vì lòng từ bi dùng khí thế khích lệ đệ tử. Cùng với “Hát” (Hét) gọi chung là “Bổng hát”. X. Hát. ● 下 語. Còn gọi: Trước Ngữ, Giản Ngữ. Có 3 nghĩa: 1. Trình bày kiến giải của mình đối với công án hoặc cổ tắc; 2. Pháp ngữ của vị Thầy nhằm khai thị cho đệ tử; 3. Lời phê bình ngắn đối với kinh luận. ● 鶴 林 寺. Chùa nằm dưới núi Hoàng Hạc, thành phố Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Tên cũ là “Trúc Lâm Tự”. Niên hiệu Đại Hưng thứ 4 (321) đời Tấn sáng lập. Lúc Lưu Tống Vũ Đế chưa đăng cơ từng nghỉ ngơi nơi đây, sau khi lên ngôi vua cho thi công việc lớn, gọi là “Hạc Lâm Luật Viện”. Vào niên hiệu Khai Nguyên, Thiên Bảo (713-755) Thiền Sư Huyền Sách tông Ngưu Đầu trụ trì chùa này, tăng đồ ngày càng đông mới đổi làm Thiền tự. Còn gọi “Cổ Trúc Viện”. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) đời Tống xây cất lại, đổi tên là “Báo Ân Quang Hiếu Thiền Tự”. Khoảng niên hiệu Hàm Thuần (1265-1274) tăng Khánh Thanh trùng tu. Các niên hiệu Vĩnh Lạc, Hoằng Trị, Vạn Lịch đời Minh đều có xây cất lại. ● 鶴 林 寺 志. Chí, 4 quyển, do Minh Hiền soạn vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 10 (1582), và được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Chí Toàn Tập. Vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh, Hứa Quốc Thành và Cao Nhất Phúc sửa quyển “Kinh Khẩu Tam Sơn Toàn Chí”, và phụ lục vào phần sau quyển Hạc Lâm Tự Chí. Cùng lúc ấy, Minh Hiền cũng biên soạn Hạc Lâm Tự Chí, phần sưu tập so ra đầy đủ hơn quyển kể trên. Nội dung chia làm 14 loại: Sơn xuyên, Kiến trí, Sơn giới, Điền thổ, Bi minh, Cổ kiệt, Cao tăng, Nhân vật, Kỷ dị (phụ Tạp ký), Ký, Tự, Sớ văn, Thuyết, Thi. Riêng phần Bí minh và Cổ kiệt có giá trị sử liệu khá cao.. ● 赫 赤. Sáng chói, có dáng dấp khiến người chú ý. Tiết Ngọc Tuyền Thừa Hạo Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “晷 運 推 移、布 褌 赫 赤。莫 怪 不 洗、無 來 換 替。 – Thời gian có đổi dời (nhưng) quần vải vẫn sáng chói, đừng trách (sao) không giặt (vì) không có gì để thay”. ● 赫 赤 窮. Nghèo rớt mồng tơi dụ cho tất cả đều không, quét sạch mọi vọng niệm trần tục. Phần Dương Ngữ Lục q.hạ: “問:如 何 是 衲 衣 下 事?師 云:赫 赤 窮 漢。 – Hỏi: Thế nào là việc lớn trong nhà Thiền? Sư đáp: Gã nghèo rớt mùng tơi”. ● 排(諧)句. Thể thơ phổ biến và thịnh hành của người Nhật, chỉ gồm có ba câu: 5-7-5 âm, tổng cộng 17 âm. Haiku không có vần luật, cốt ở thanh điệu và ý. Những Tổ sư của trường phái này là Basho (Ba Tiêu, 1644-1694), Buson (Vu Thôn, 1716-1784). Bài thơ 38 trong Hán Tự Hài Cú của Ngô Văn Tao (Bùi Giáng dịch) ghi: “Hạ tinh thiền tự giai Dương quang trung ngọ tuyệt thiền thanh Tịch dương hoàng dực điệp”. “Hạ thời thiền tự bực thềm Dương quang giờ ngọ im lìm tiếng ve Tịch thường bướm đậu ngàn thâu”. ● 孩 撫. Giống như an ủi vỗ về trẻ con. Hàm ý xem thường. Tông Môn Võ Khố ghi: “法 雲 平 生 氣 吞 諸 方 孩 撫 時 輩。蓋 所 得 有 大 過 人 處。乃 敢 爾 也。 – Pháp Vân bình sinh muốn thôn tính các thiền viện, xem thường bọn đương thời, bởi sở đắc có chỗ hơn người cho nên mới dám như thế.” ● 海 蔭 (1820-1885). Thiền tăng đời Thanh, họ Ô Nhã Thị, hậu duệ của Mãn Thanh Chính hoàng kỳ, tự Mặc Khê. Nối pháp Thiền Sư Giác Thuyên, đời thứ 44 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì am Thanh Liên ở Thượng Hải. Tác phẩm: Mặc Khê Tập. ● 海 印. 1. Tăng nhân hiện đại, họ Lỗ, tự Hàm Hư, người huyện Nguyên Giang, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Sư sang Nhật Bản, ở núi Cao Dã, chuyên học Thiền Mật. Lúc 34 tuổi, sư được giai vị A xà lê và trở về nước ở chùa Cảnh Hoàng, Nguyên Giang, Hồ Nam. Trước sau sư sáng lập: Phật Học Viện, Sở Nghiên cứu Phật học Phổ thông, Phật giáo Cư Sĩ Lâm, Hội Niệm Phật… Tác phẩm: Thiền Hải Trân Tham 1 quyển. ● 2. Thiền tăng đời Nguyên, tên Chiêu Như, tự hiệu “Hải ấn”. X. “Chiêu Như”. ● 海 舟. Thiền tăng đời Minh, tên Phổ Từ, hiệu Hải Chu. X. “Phổ Từ”. ● 海 衆. Chư tăng hoặc tín đồ Phật giáo từ khắp nơi tụ tập lại một chỗ. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “冬 至 上 堂、僧 問:鼓 聲 才 罷、海 眾 齊 臻、新 節 一 句、請 師 垂 示。 – Đông chí thượng đường, tăng hỏi: Tiếng trống vừa dứt, chư tăng cùng đến tụ tập, thỉnh sư dạy bảo cho một câu nhân tiết mới”. ● 海 東. Theo Tống Cao Tăng Truyện: Cao tăng Nguyên Hiểu người Hải Đông, nước Tân La, sang Trung Quốc du học, ông có cốt cách khác tục, phong thái siêu thoát, khiến ai cũng mến. Do đó, hai thuật ngữ Tân La và Hải Đông dùng để chỉ cảnh giới thanh tịnh, giải thoát. Bài Trừu Thần Ngâm trong Tuệ Trung Ngữ Lục có ghi: “到 任 麼 時 兮 理 事 全 彰、提 持 放 過 兮 何 須 擬 擬、石 牛 夜 半 入 海 東、撞 著 珊 瑚 月 如 水。 – Đến khi nào chừ, sự lý rõ ràng, cầm nắm buông bỏ chừ cần gì do dự! Nửa đêm trâu đá chừ, chạy xuống Hải Đông, xô vỡ biển san hô chừ, trăng trong bàng bạc”. ● 海 慧 (?-1145). Thiền tăng đời Kim. Thuở bé thông minh xuất chúng, học chẳng nhờ Thầy, sách vở đọc qua liền thông suốt. Ban đầu, sư tìm đến các pháp hội, đạt đến chỗ cùng cực của cái học Tính Tướng. Sau sư vào núi Ngũ Đài, tọa thiền 15 năm. Sư trụ chùa Đại Trữ Khánh. Thụy hiệu: “Phật Giáo Hựu Quốc Đại Thiền Sư”. ● 海 會. Tụ tập, tụ hội, họp thành. Tiết Báo Từ Hành Ngôn Đạo Sư trong NĐHN q.10 ghi: “江 南 國 主 建 報 慈 院、命 師 大 闡 宗 猷。海 會 二 千 餘 眾 、別 署 導 師 之 號。 – Quốc chủ Giang Nam dựng viện Báo Từ, khiến sư hoằng truyền Thiền Tông, tụ tập hơn 2.000 người được tặng hiệu Đạo sư”. ● 海 會 寺. 1. Ở làng Đại Kiều, cách huyện Dương Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc 15km về phía Đông. Chùa được xây vào niên hiệu Càn Ninh thứ 1 (894) đời Đường, ban đầu gọi là “Quách Cốc Viện”, bởi trong chùa có suối tên “Long tuyền” nên vua Đường Chiêu Tông đổi tên là “Long Tuyền Thiền Viện”. Niên hiệu Đại Định thứ 27 (1187) đời Kim, sau khi tăng nhân Tông Hựu chủ trì trùng tu, đổi tên là “Hải Hội Tự”. Lưng tựa Phàn Sơn, mặt đối Đại Xuyên. Điện đường, Kinh đường 60 gian. Trong chùa có song tháp lưu ly đứng đối mặt, một tháp xây vào cuối đời Đường, một tháp xây vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 40 (1561) đời Minh. ● 2. Nằm trên sườn núi Bạch Vân cách huyện Thái Hồ, tỉnh An Huy, Trung Quốc 15km về phía đông. Đệ tử nối pháp của Dương Kỳ Phương Hội là Bạch Vân Thủ Đoan sáng lập, trong điện có tám biển đề “Hoài Tây Đệ Tam Thiền Sát”. Vào các niên hiệu Khang Hy, Càn Long, Đạo Quang, Đồng Trị, Quang Tự đều có sửa chữa. Hiện vẫn còn hai tòa Phật điện, vũ các hiên ngang rất là tráng lệ. Trước mặt chùa là sông Ngọc Đái, sau lưng chùa là ngọn Phụng Hoàng, bên phải chùa có Hưởng Thủy Nhai, ngoài chùa rừng trúc cao vút, trong chùa nhiều cội cổ tùng già giặn cứng cáp. ● 海 琳 (995-1065). Còn gọi: Huệ Lâm, Lâm Trưởng lão. Thiền tăng đời Tống, họ Đặng, người Khúc Giang Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Tự Bảo, làm truyền nhân tông Vân Môn đời thứ 5, trụ trì chùa Bạch Liên ở Lâm Sơn và ngụ tại tháp Kiến Thọ ở phía Tây chùa Phục Sơn. ● 海 明 (1597-1666). Còn gọi: Thông Minh. Thiền tăng đời Thanh, họ Kiển, tự Vạn Phong, người đời gọi là “Phá Sơn Tổ Sư”, người xứ Tây Thục, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Mật Vân Viên Ngộ, tông Lâm Tế. Sư trụ Gia Hòa Đông Tháp, Đại Nga, Vạn Phong, Trung Khánh, Phong Sơn, Vô Tế, Phật Ấn… Tác phẩm: Phá Sơn Minh Thiền Sư Ngữ Lục 12 quyển. ● 海 迥 慈 風 (1728-1811). Thiền tăng đời Nguyễn Tây Sơn, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 40, nối pháp Thiền Sư Bảo Sơn Tính Dược. Sư họ Nguyễn, quê ở thôn Nghiêm Xá huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, miền Bắc Việt Nam. Kệ thị tịch: 諸 法 空 相、不 生 不 滅 已 無 所 得、是 眞 佛 説 Chư pháp không tướng Bất sinh bất diệt Dĩ vô sở đắc Thị chân Phật thuyết “Các pháp không tướng Chẳng sinh chẳng diệt Bởi không chỗ được Là thật Phật nói”. ● 海 參. Từ khắp nơi đến tham bái thỉnh ích. Văn Ích Ngữ Lục ghi: “自 是 諸 方 會 下、有 存 知 解 者、翕 然 而 至。始 則 行 行 如 也、師 微 以 激 發、皆 漸 而 服 膺。海 參 之 眾、常 不 不 減 千 計。 – Từ thiền viện các nơi, người còn có tri giải, hợp nhau liền đến. Đầu tiên thì họ có thái độ hiu hiu tự đắc nhân được sư khai ngộ cho, dần dần họ mới chịu tin phục. Số người từ khắp nơi đến tham bái thỉnh ích thường không dưới số ngàn”. ● 海 壽 (1338-1390). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Xuân Đình Hải Thọ, vào niên hiệu Chí Chính thứ 23 (1363) sư sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp ngài Lại Am Đình Tuấn ở Hàng Châu, đời thứ 26 hệ Nam Nhạc, đời thứ 9 tông Lâm Tế Nhật Bản. Sư trụ trì chùa Phúc Xương huyện Ngân, tỉnh Chiết Giang. ● 海 潮 寺. Nằm ở sườn phía nam Tháp Sơn cách huyện Triều Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc 2km về phía tây. Niên hiệu Đại Lịch thứ 1 (766) đời Đường, Thiền Sư Đại Điên đến chùa này lễ Thiền Sư Huệ Chiếu làm thầy, cạo tóc thọ giới, trong chùa vẫn còn di tích tu thiền vào năm ấy. Chùa tựa vào núi mà kiến thiết, sân liền nhau, đường hẹp quanh co, nhà và hành lang nối nhau, tùng xanh trúc biếc, nước chảy róc rách, tĩnh mịch u nhàn. Trong chùa có giếng Gián Triều sâu hơn 1m, trong suốt sảng khoái, lúc dâng cao lúc hạ thấp. Song dù dâng cao cũng không tràn ra mặt giếng, dù hạ thấp cũng không khô cạn. Tương truyền địa mạch nơi này cùng với hải triều tương thông cho nên nước giếng tùy theo thủy triều lên xuống mà dâng cao hoặc hạ thấp, chùa Hải Hội nhân đây mà được tên. ● 海 淵. Thiền tăng đời Thanh, tên Thượng Uyên. X. Thượng Uyên. ● 海 晏 河 清. Sông trong, biển lặng. Ý nói đất nước thái bình. Theo điển tích: Nước sông Hoàng Hà thường là đục, bỗng trở thành trong vào năm Giáp Dần, đời vua Tần Trang Vương (247, tr. TL). Chính là năm Lưu Bang sinh ra đời, sau là vua Hán Cao Tổ. Sông Hoàng Hà trong là điềm có Thánh nhân xuất hiện làm cho thiên hạ thái bình. Trong các bài phục nguyện thường có câu: “陰 超 陽 盛、海 晏 河 清、法 界 眾 生、齊 成 佛 道。 – Kẻ mất được siêu thăng, người còn được thịnh vượng, đất nước thái bình, mọi chúng sinh trong pháp giới đều thành tựu đạo Giác ngộ”. ● 函 可 (1611-1659). Thiền tăng đời Thanh, họ Hàn, tự Tổ Tâm, hiệu Thặng Nhân, người xứ Bác La ở Huệ Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tông Bảo Đạo Độc, tông Tào Động. Sư trụ chùa Thiên Sơn Triêu Dương ở Liêu Dương (nay thuộc Liêu Ninh). Tác phẩm: Thiên Sơn Thặng Nhân Hòa Thượng Ngữ Lục 6 quyển. ● 咸 傑 (1110-1186). Thiền tăng đời Tống, họ Trịnh, hiệu Mật Am, người xứ Phúc Thanh (nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đàm Hoa, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Sư trụ Điểu Cự Am, sau trụ các chùa: Tương Sơn Hoa Tạng, Kính Sơn, Linh ẩn, Thiên Đồng, A dục Vương. Tác phẩm: Mật Am Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển. ● 函 是 (1608-1685). Thiền tăng đời Minh, họ Tằng, tên Khởi Tân, hiệu Hạt Đường, tự Lệ Trung, pháp hiệu Thiên Nhiên, người xứ Nam Hùng, Quảng Đông. Nối pháp Thiền Sư Đạo Độc, đời thứ 34 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Báo Ân ở Nam Kinh. Tác phẩm: Hạt Đường Thi Tập, Lăng Nghiêm Trực Chỉ. ● 含 情. Chỉ cho người và tất cả sinh vật có tình thức. “Huệ Lãng Truyện” trong TCTT q.8 ghi: “一 夕、忽 睹 神 光 從 頂 而 出、旁 燭 山 川、盈 十 數 里、含 情 之 類 罔 不 歸 依。 – Một đêm chợt thấy ánh sáng lạ phóng ra từ trên đỉnh chiếu sáng cả núi sông trải khắp vài mươi dặm, các loài hàm tình không ai không quy y.” ● 含 酸. Đau buồn. “Đàm Thôi truyện” trong TCTT q.8 ghi: “俄 端 然 入 定、七 日 而 滅、春 秋 六 十 二。是 歲 天 授 三 年 二 月 六 日 也。翌 日、依 天 竺 法 火 化、遺 骸 收 灰 建 塔、士 庶 含 酸、悉 皆 號 慟。 – Phút chốc trang nghiêm nhập định đến bảy ngày nhập diệt, thọ 62 tuổi. Là ngày mùng 6 tháng 2 năm Thiên Thọ thứ 3. Hôm sau y theo pháp Thiên Trúc hỏa táng, thu nhặt tro di hài xây tháp thờ, sĩ thứ đau buồn thảy đều khóc gào thảm thiết” ● 咸 澤. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng. Sư trụ chùa Quảng Nghiêm, núi Linh ẩn, Hàng Châu, Trung Quốc. ● 韓 愈 (768-824). Nhà văn học, nhà triết học đời Đường, tự là Thối Chi, người Hà Dương (nay thuộc phía tây huyện Mạnh tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14 (819) ông dâng biểu can gián vua Hiến Tông cung nghinh Phật cốt nên bị biếm chức làm Thứ sử ở Triều Châu. Ông từng thỉnh Thiền Sư Đại Điên đến Châu Nha đàm đạo hơn mười ngày, và vì cầu mưa cúng tế thần biển mà phải đến Triều Dương, ở lại ngủ tại chùa Linh Sơn. Khi Hàn Dũ phụng mệnh đến nhận chức Thứ sử Viên Châu còn để lại chiếc áo tặng cho Thiền Sư Đại Điên. Người đời sau xây cất Lưu Y Đình trong chùa Linh Sơn để kỷ niệm. ● 寒 灰. Hiệu của Thiền tăng Huệ Hỉ đời Minh. X. Huệ Hỉ. ● 韓 獹 逐 塊、獅 子 咬 人. Chó mực đuổi theo cục xương, còn sư tử thì cắn người. Hàn lô: Giống chó mực rất thông minh của nước Hàn. Có người quăng ra cục xương, con chó mực đuổi theo cục xương mà cắn, sư tử thì phát hiện người quăng cục xương mà cắn ngay người đó. Người dụ cho tự tính, cục xương dụ cho lời nói của chư Phật, chư Tổ. Nếu hướng vào lời nói lãnh hội là con chó, còn hướng vào tự tính lãnh hội mới là con sư tử. Niệm Phật Kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: “念 佛 三 昧、全 體 無 外、韓 獹 逐 塊、獅 子 咬 人。 – Pháp niệm Phật tam muội, toàn thể đều gồm thâu, sư tử thì cắn người, chó đuổi theo cục xương”. ● 寒 山. Còn gọi: Hàn Sơn Tử, Bần Tử. Thi tăng đời Đường. Sư sinh vào đầu niên hiệu Cảnh Vân (710-711). Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) sư ở trong hang núi vắng vẻ lạnh lẽo núi Thiên Thai, bởi không biết rõ tên họ nên gọi là Hàn Sơn. Sư làm bạn với tăng nhân Thập Đắc chùa Quốc Thanh. Thập Đắc thường thu nhặt cơm thừa canh cặn của tăng trong chùa đựng trong ống trúc, đợi khi Hàn Sơn đến thì đưa cho. Hành vi của sư rất quái đản, giống như điên khùng, đến chùa Quốc Thanh, hoặc có khi đi chầm chậm dưới mái hiên, hoặc có khi quát tháo chửi mắng người, hoặc hướng lên trời chửi đổng, các ông tăng trong chùa nhịn không nổi bèn lấy gậy đánh đuổi thì sư lộn nhào vỗ tay cả cười mà bỏ đi. Sư ăn mặc rách rưới, hình hài khô héo, thích ngâm thi xướng kệ thường khế hợp lý thiền. Theo truyền thuyết, sư là hóa thân của Bồ tát Văn thù, cùng với Phong Can (Di Đà hóa thân), Thập Đắc (Phổ Hiền hóa thân) gọi là “Tam Thánh”, “Tam ẩn”. Lại do ba vị này ẩn náu trong chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, cho nên còn gọi là “Quốc Thanh Tam ẩn”. Niên hiệu Ung Chính thú 11 (1733) đời Thanh phong Hàn Sơn làm Hòa Thánh, Thập Đắc làm Hiệp thánh, cùng xưng là “Hòa Hiệp Nhị Thánh”, “Hòa Hiệp Nhị Tiên”. Người đời sau tập hợp hơn 300 bài thơ của sư đặt tên là “Hàn Sơn Tử Thi Tập” ● 寒 山 子 詩 集. Còn gọi: Hàn Sơn Thi. Thi ca biệt tập, 1 quyển, do vị tăng đời Đường là Hàn Sơn soạn, được xếp vào “Tứ Bộ Tùng San”. Về cuộc đời của nhà sư Hàn Sơn không ai biết rõ, sư ra đời khoảng thế kỷ thứ VIII, là vị tăng ở chùa Quốc Thanh, Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang. Theo mục “Đông độ ứng hóa Thánh hiền” trong NĐHN q.2 thì sư là một vị thi tăng nổi tiếng vào đời Đường. Sách này thu thập hơn 300 bài thơ của sư, phần lớn là thơ ngũ ngôn, một số ít thuộc thể thất ngôn. Lời lẽ phổ thông, không coi trọng cách luật. Nội dung biểu hiện rất phong phú, hoặc tự thuật về thân thế, hoặc miêu tả phong tục, hoặc ngâm vịnh về cuộc sống ẩn cư, hoặc giải bày thiền nghĩa Phật lý. Chẳng hạn như: Tâm ta tợ trăng thu Đầm xanh trong tinh khiết Không vật nào sánh được Bảo ta nói cái gì? Trên thực tế là sư đã thi ca hóa các Ngữ Lục của nhà thiền. Hàn Sơn Thi rất được mọi người ưa thích, bắt đầu từ đời Tống trải qua các triều đại đều có bản in mới và được dịch ra nhiều ngoại ngữ, truyền bá rộng rãi ở nước ngoài. Phần phụ sau sách này có trên 50 bài thơ của Thập Đắc, phong cách giống như thơ Hàn Sơn. Thập Đắc là người cùng thời đại với Hàn Sơn, cũng là một thi tăng nổi tiếng. ● 寒 山 寺. Còn gọi: Phong Kiều Tự. Nằm bên cầu Giang Thôn thị trấn Phong Kiều, bên ngoài cổng thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Được xây cất vào niên hiệu Thiên Giám (502-519) đời Lương, ban đầu gọi là “Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện”. Tương truyền vào niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường, Hàn Sơn và Thập Đắc kết am cỏ nơi đây, sau đó xây cất tự viện, gọi là “Hàn Sơn Tự”. Thi nhân đời Đường là Trương Kế có làm thơ vịnh chùa này: “Nguyệt lạc điểu đề sương mãn thiên, Giang Phong ngư hỏa đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.” (Chim kêu trăng lặn sương mù khắp, đối diện đèn chài giấc ngủ buồn. Hàn Sơn chùa ở ngoài thành ấy, chuông vẳng đến thuyền lúc nửa đêm). Vần thơ thanh thoát mọi người đều thích, chùa Hàn Sơn nhân đây mà nổi tiếng trong thiên hạ. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 1 (976) đời Tống, Tiết độ sứ Tôn Thừa Hựu xây tháp 7 tầng. Những năm Gia Hựu (1056-1063) đổi tên là “Phổ Minh Thiền Viện”. Cuối đời Nguyên chùa bị binh lửa phá hủy, khoảng niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh trùng tu. Niên hiệu Hàm Phong thứ 10 (1860) lại bị phá hủy bởi binh lửa. Hiện còn những kiến trúc được lần lượt xây lại vào niên hiệu Quang Tự thứ 22 đến niên hiệu Tuyên Thống thứ 3 (1896-1911) đời Thanh như đại điện, lầu tàng kinh, lầu chuông, lầu Phong Giang, bia đá, hành lang. Sau giải phóng lại trải qua hai lần sửa chữa toàn diện, bên ngoài chùa sông ngòi tôn vẻ đẹp cho nhau, cầu đá cao vút, bên trong chùa lan can uốn khúc, hành lang lượn quanh, cây xanh tường vàng, có thờ tượng khắc đá Hàn Sơn, Thập Đắc và một đôi tượng đắp “ vui đùa khi gặp thần” do họa gia La Sính đời Thanh làm ra. Còn có bia đá khắc nét bút của những danh nhân Nhạc Phi, Đường Dần, Khang Hữu Vi, bia đá khắc kinh Kim Cang của người Tống, vài chục tấm bia đá khắc thơ đề vịnh chùa Hàn Sơn qua nhiều đời. Chuông cổ đựơc đề vịnh trong thơ Trương Kế đã bị thất lạc. Chuông chùa Hàn Sơn đúc vào đời Minh về sau lưu nhập Nhật Bản. Người Nhật mô phỏng đúc chuông theo đời Đường để trả lại, hiện treo bên trái đại điện. Trên lầu chuông phía sau điện còn có một cái chuông lớn đúc vào cuối đời Minh. ● 寒 山 寺 志. Chí, 3 quyển, do Diệp Xương Sí soạn vào đời Thanh, được khắc bản vào năm 1922, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Ông bắt đầu biên tập vào niên hiệu Tuyên Thống thứ ba (1911) đời Thanh, chia làm 10 loại: Chí Kiều, Chí Tự, Chí Tượng, Chí Chung, Chí Bi, Chí Tăng, Chí Sản, Chí Du, Chí Sự, Chí Thi và phụ lục sự tích của Hàn Sơn với Thập Đắc, giải thích tựa Hàn Sơn Thi Tập, khảo chứng tự bạt phần thi thoại và thư từ của chư gia. ● 行 靄. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Bạch Triệu Chí Viên. Sư trụ núi Bạch Mã ở Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc, người đời gọi sư là “Bạch Mã Hòa Thượng”. ● 行 棒 行 喝. Đánh bằng gậy và sử dụng tiếng hét, là cách ứng cơ, thị cơ mà các Thiền Sư tông Lâm Tế thường dùng. Chỉ chung cho việc lập bày thiền cơ nhanh chóng và mãnh liệt. Bích Nham Lục q.1: “趙 州 平 生 不 行 棒 喝。 – Triệu Châu suốt đời không đánh bằng gậy và sử dụng tiếng hét”. ● 行 脚. Còn gọi: Du Phương, Du Hành, Vân Thủy. Nghĩa là tăng lữ không có chỗ ở nhất định, hoặc vì tìm kiếm Danh sư hoặc vì tự mình tu trì, hoặc vì giáo hóa kẻ khác, mà chu du bốn phương. Tăng đi du phương gọi là Hành cước tăng. Tăng hành cước, lúc đi du phương có thể mang theo bên mình một số vật thường dùng, nhưng số lượng và loại biệt của vật dụng đều có sự hạn chế nhất định. Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di (Vạn Tục 148, 150 hạ) ghi: “巖 頭 擔 鋤 頭、行 腳 到 處 只 做 園 頭。 – Nham Đầu vác cái bừa hành cước đến nơi nào cũng chỉ làm Viên đầu”. ● 行 脚 眼. Pháp Nhãn. Con mắt trí huệ soi thấy chân tướng sự vật của người ngộ thiền. Tiết Kim Ngưu Hòa Thượng trong NĐHN q.3 ghi: – Có chỗ hội chăng? Nếu chưa hội, con mắt trí huệ ở đâu?”. ● 行 止. Hành tung, phẩm hạnh. Quy Sơn Cảnh Sách ghi: “如 斯 行 止、實 不 枉 披 法 服、亦 乃 酬 報 四 恩、拔 濟 三 有。 – Phẩm hạnh như thế, thật không uổng mang pháp phục, cũng là thù đáp bốn ơn, cứu vớt ba cõi”. ● 行 者. 1. Chỉ cho người quán hạnh, hoặc chỉ chung một số người tu hành theo đạo Phật. Còn gọi: Hành nhân, Tu hành nhân. Thí dụ: Hành giả niệm Phật, Hành giả Chân Ngôn, Hành giả Pháp Hoa. ● 2. Chỉ cho những người làm công quả ở chùa mà chưa cạo tóc xuất gia (Tịnh nhân), cũng có khi đã được cạo tóc nhưng việc làm của họ còn giống như người thế tục như: gánh nước, bổ củi, nấu cơm… Hành giả có các loại: Phương hành, Tây hành, Hậu hành, Giám hành, Phó hành, Duy hành, Điển hành, Khách Hành, Thủ hành, Đồng hành. ● 行 林 (910-985). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trương, người Cát Châu nối pháp Thiền Sư Quy Tông Nghĩa Nhu, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện La Hán ở Nam Khang (nay là huyện Tinh Tử, tỉnh Giang Tây), được vua ban hiệu “Tổ Ấn Thiền Sư”. ● 行 履. Hành vi, tác vi. ● 行 滿. Thiền tăng đời Tống, người xứ Nam Phố, Vạn Châu (nay là huyện Vạn, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư từng học thiền nơi Thiền Sư Thạch Sương, trụ viện Trí Giả dưới ngọn Hoa Đảnh. Sư có hành tích kỳ lạ, thường hiện thân Đại Sĩ Quán Thế Âm. ● 行 謐. x: Bản Mật. ● 行 明 (?-840). Thiền tăng đời Tống, họ Vu, người xứ Hàng Châu, Trung Quốc; nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Sư trụ trì chùa Lục Hòa, được Tống Thái Tông ban hiệu “Truyền Pháp Thiền Sư”, và đổi tên chùa thành Khai Hoa. ● 行 言. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ trì viện Báo Từ ở Kim Lăng (nay thuộc Nam Kinh, Giang Tô). Thụy hiệu “Huyền Giác Đạo Sư”. ● 行 嶽 (1614-1666). Thiền tăng đời Minh, họ Trầm, tự Thê Vân, người xứ Ô Trình (Hồ Châu, Chiết Giang). Nối pháp Thiền Sư Thông Tú núi Thiên Mục, đời thứ 36 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Báo Ân (núi Vũ Khang phía tây bắc huyện Đức Thanh, tỉnh Chiết Giang). Tác phẩm: Ngữ Lục và Ám Hắc Đậu Tập. ● 行 因. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Nhạn Môn (nay là huyện Đại, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Lộc Môn Xử Chân. Sư ở trong động Phật Thủ Nham tại Lô Sơn nên còn có hiệu “Phật Thủ Nham Hòa Thượng”. ● 行 人 事. Đưa lễ vật tặng người. Tiết Ngưỡng Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.18 ghi: “怪 和 尚 把 大 家 底 行 人 事。潙 山 云:汝 不 見 達 磨 從 西 天 來、亦 將 此 物 行 人 事、汝 諸 人 盡 是 受 他 信 物 者。 – Trách Hòa Thượng đem lễ vật tặng mọi người. Quy Sơn nói: Ông chẳng thấy Đạt ma từ ấn Độ sang, cũng đem vật này tặng người. Các ông đều là người nhận tín vật của ngài”. ● 衡 山. Còn gọi: Nam Nhạc. Núi thuộc huyện Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, cách trung tâm huyện 15km về hướng tây bắc. Thế núi hùng vĩ, chu vi vài trăm dặm, lớn nhỏ gồm có 72 tòa. Trong đó có 5 ngọn nổi tiếng nhất: Chúc Dung, Thiên Trụ, Phù Dung, Tử Cái, Thạch Lẫm. Riêng Chúc Dung Phong cao hơn mặt biển 1290 m, đứng trên đỉnh núi này có thể nhìn bao quát nhóm núi, thưởng thức vầng đông vừa lố dạng. Ngoài ra còn có: 10 động, 15 hang, 38 suối, 25 khe, 9 ao, 9 đầm, 9 giếng. Vào niên hiệu Thái Thủy thứ 4 (268) đời Tây Tấn, ngài Pháp Sùng đến đây khai sơn, sáng lập chùa Lệ Sơn. Niên hiệu Thái Kiến thứ 2 (570) đời Trần, ngài Huệ Tư vào Hành Sơn giảng kinh Bát nhã, Trung Luận, gọi là Đạo tràng Bát nhã, nên Huệ Tư còn được gọi là “Nam Nhạc Đại Sư”. Vào niên hiệu Tiên Thiên thứ 2 (713) đời Đường, Hoài Nhượng vào Hành Sơn trụ ở đài Quan Âm chùa Bát nhã 30 năm, hoằng dương thiền pháp, mở ra hệ phái Nam Nhạc. Mã Tổ Đạo Nhất ở núi này tham học với Hoài Nhượng, đắc pháp, lưu lại di tích “Ma cảnh đài” (Đài mài gương). Niên hiệu Thiên Bảo thứ 1 (742), Hy Thiên vào núi này cất am trên tảng đá nên được gọi là “Thạch Đầu Hòa Thượng”. Từ đó về sau, các hoạt động của cao tăng Thiền Tông rất nhiều, như đời Tống có Phật Quả Khắc Cần, Vô Chuẩn Sư Phạm từng ở chùa Đạo Lâm, núi Hành Sơn. Có khá nhiều tự viện trong núi như: Đại Miếu, Phúc Thánh Tự, Tàng Kinh Điện, Phương Quảng Tự, Thượng Phong Tự, Chúc Dung Điện, Nam Đài Tự, Phúc Nghiêm Tự. Hành Sơn Tứ Tuyệt (4 cảnh đẹp của Hành Sơn) là: Độ cao của Chúc Dung Phong, cái đẹp của Tàng Kinh Điện, độ sâu của Phương Quảng Tự, cái lạ của Thủy Liêm Động. Nếu cộng thêm cái vắng vẻ của Ma Cảnh Đài, cái hiểm trở của Thức Tâm Thạch, cái xưa của Đại Vũ Bi, cái hùng của Nam Nhạc Miếu thì thành Hành Sơn Bát Tuyệt. ● 行 韜 (?-1652). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Triệu, vốn tên là Dữu Tiên, tự Đại Dữu, người xứ Ngô Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Phù Thạch Thông Hiền, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Quốc Thanh. Tác phẩm: Đại Dữu Thiền Sư Trụ Thiên Thai Cảnh Đức Quốc Thanh Thiền Tự Ngữ Lục 1 quyển. ● 行 滔. x: Linh Thao. ● 行 纏. Còn gọi: Hành Tất, Cước Bán. Thiền tăng lấy vải quấn quanh chân khi đi hành cước. Tiết Vạn Cư Hiểu Thuấn trong LĐHY q.28 (Vạn Tục 136, 454 thượng) ghi: “夜 間 脫 襪 打 睡、早 朝 旋 繫 行 纏。 – Ban đêm cởi vớ đi ngủ, sáng sớm quấn vải vào chân”. ● 行 修. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tự Quang Mục, hiệu Huệ Quán, nối pháp Thiền Sư Cửu Phong Đạo Kiền. Sư trụ Nam Nguyên ở Viên Châu (nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. ● 2. Thiền tăng đời Ngũ Đại (?-950), do sư có vành tai dài, lông mày rũ xuống nên người đời gọi là “Trường Nhĩ Hòa Thượng”. ● 行 秀 (1166-1246). Thiền Sư sống vào khoảng hai đời Kim, Nguyên, họ Thái, tự Báo Ân, hiệu Vạn Tùng Lão Nhân, người xứ Hà Nội (nay là phía nam Lạc Dương, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tuyết Nham Mãn, tông Tào Động. Sư trụ các chùa: Tịnh Độ, Thê ẩn. Tác phẩm: Thung Dung Lục, Vạn Tùng Lão Nhân Bình Xướng Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Niêm Cổ Thỉnh Ích Lục, Tổ Đăng Lục, Minh Đạo Tập, Tứ Hội Ngữ Lục. ● 行 思 (?-740). Thiền tăng đời Đường, họ Lưu, người xứ Lô Lăng Cát Châu (nay thuộc Cát An, Giang Tây) Trung Quốc, nối pháp Lục Tổ Huệ Năng. Sư trụ chùa Tĩnh Cư ở núi Thanh Nguyên. Pháp hệ hình thành thuộc những đời sau sư gồm có các tông: Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. ● 行 道. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Vương, người xứ Tuyền Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư trụ viện Tiên Cư, Phúc Châu. Thụy hiệu “Nhân Huệ Đại Sư”. ● 行 珙. Thiền tăng Như Củng đời Tống mạt Nguyên sơ, còn gọi là Hạnh Củng. X. Như Củng. ● 行 端 (1253-1341). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hà, tự Cảnh Nguyên, hiệu Nguyên Tẩu, người xứ Lâm Hải (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tạng Tẩu Thiệu Trân, tông Lâm Tế. Sư trụ Tư Phúc Thiền Tự ở núi Tường Phong, sau dời về chùa Linh ẩn Cảnh Đức. Tác phẩm: Huệ Văn Chính Biện Phật Nhật Phổ Chiếu Nguyên Tẩu Đoan Thiền Sư Ngữ Lục 8 quyển. ● 行 海. 1. Thiền tăng đời Thanh (1604-1670), họ Tiễn, hiệu Đại Phương, người xứ Đồng Hương, Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư từng tham học nơi Mật Vân Viên Ngộ, Phí ẩn Thông Dung và trụ am Thiền Đăng ở Lâu Giang tỉnh Giang Tô. Tác phẩm: Đại Phương Thiền Sư Ngữ Lục 6 quyển. ● 2. Thiền tăng đời Thanh, họ Tương, người đời gọi sư là “Thiết Chu Hạnh Hải Thiền Sư”, người xứ Tân An (nay thuộc tỉnh Hà Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Nhược Am Thông Vấn, tông Lâm Tế. Sư trụ Long Du Thiền Tự. Tác phẩm: Kim Sơn Chí Lược. ● 行 森 (1614-1677). Thiền tăng đời Thanh, họ Lê, tự Mao Khê, hiệu Từ Ông, người xứ Bác La (nay thuộc Quảng Đông) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Ngọc Lâm Thông Tú, tông Lâm Tế. Sư trụ am Long Khê ở Hàng Châu, sau đổi tên thành chùa Viên Chiếu. Tác phẩm: Mao Khê Lâm Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. ● 行 崇. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển. Sư trụ viện Báo Ân ở Chương Châu (nay là huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. ● 毫 釐 靡 忒. Không có mảy may sai lầm. Chương “Cưu Ma Đa La” Tổ thứ 19 trong CĐTĐL q.2 ghi: “凡 人 恆 見 仁 夭 暴 壽 逆 吉 義 凶。便 謂 亡 因 果 虛 罪 福。殊 不 知 影 響 相 隨 毫 釐 靡 忒。縱 經 百 千 萬 劫 亦 不 磨 滅。 – Người đời bình thường thấy người làm điều nhân đức lại chết sớm, kẻ làm việc bạo ác lại sống lâu, làm quấy lại gặp tốt lành, làm điều phải lại gặp xấu ác nên bảo là mất nhân quả, không tội phúc, mà chẳng biết là chúng theo nhau như bóng như vang, không có mảy may sai lầm, dù trải qua trăm ngàn muôn kiếp cũng chẳng tiêu mất”. ● 誵 訛. Nhầm lẫn, sai lầm. Tiết Vân Cư Đạo Ưng Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “如 將 方 木 逗 圓 孔、多 少 誵 訛。 – Như đem cây vuông tra vào lỗ tròn. Bao nhiêu là nhầm lẫn”. ● 好 (k. ng). 1. Đặt ở cuối câu, biểu thị ngữ khí cầu khiến: a/…… hảo: hãy….. đi! Ngũ Đăng Hội Nguyên q.3 ghi: “長 老 房 中 有 客、歸 去 好。 – Trong phòng Trưởng lão có khách, hãy về đi!” b/ Bất như…….. hảo: chẳng bằng…… nhé! Ngũ Đăng Hội Nguyên q.15 ghi: “不 如 悟 去 好。 – Chẳng bằng ngộ đi nhé!”. c/ Tu… hảo: Ngũ Đăng Hội Nguyên q.7 ghi: “也 須 安 慰 好! – Cũng cần an ủy nhau!”. d/ Bất phòng….. hảo: Cứ….. đi! Cứ…. đi nhé! Ngũ Đăng Hội Nguyên q.10 ghi: “若 也 知 得、不 妨 參 取 好! – Nếu cũng biết được thì cứ tham đi!”. e/ Mạc….. hảo!: Đừng … nhé! Ngũ Đăng Hội Nguyên q.7 ghi: “和 尚 莫 謾 人 好! – Hòa Thượng đừng có gạt người nhé!” ● 2. Đặt ở đầu câu, biểu thị sự bất mãn. Vô Môn Quan ghi: “好 箇 師 僧 又 恁 麼 去。 – Hay nhỉ, Thầy lại đi như vậy à!”. ● 好 看. Chú ý, đề phòng. Tiết Hoàng Bá Hy Vận trong NĐHN q.4 ghi; “大 雄 山 下 有 一 大 蟲、汝 等 諸 人 也 須 好 看! – Dưới núi Đại Hùng có một con cọp, các ông phải đề phòng!” ● 好 肉 剜 瘡. Da thịt đang lành lặn chợt khoét thành thương tích. Tỷ dụ không việc mà bày ra việc, hiệu quả hoàn toàn ngược lại. Vô Môn Quan ghi: “從 門 入 者、不 是 家 珍。從 緣 得 者、始 終 成 壞。恁 麼 説 話、大 似 無 風 起 浪、好 肉 剜 瘡。 – Từ cửa mà vào thì không là đồ gia bảo, nhờ duyên tạo được tất phải có trước sau, có thành hoại. Nói như vậy, thiệt chẳng khác chi khi không gió mà dậy sóng, da thịt đang lành chợt khoét thành thương da thịt đang lành chợt khoét thành thương tích”. ● 好 彩. May mà. Tiết Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư trong LĐHY q.9 ghi: “臨 濟 也 麤 心!好 彩 是 這 僧、若 是 今 時 衲 僧、且 作 麼 生 出 得? – Lâm Tế cũng sơ ý! May mà gặp ông tăng này, nếu như gặp phải nạp tăng hôm nay thì làm sao ra được?” ● 好 住. Lời dặn dò từ biệt trước khi chết hoặc trước khi ra đi, giống như nói “bảo trọng”. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “大 師 言:汝 等 門 人 好 住、吾 留 一 頌、名 自 性 眞 佛 解 脫 頌、後 代 迷 人 識 此 頌 意、卽 見 自 心 自 性 眞 佛。與 汝 此 頌、吾 共 汝 别。 – Đại sư nói: Các ông hãy bảo trọng! Ta để lại một bài tụng gọi là “Tự tính chân Phật giải thoát tụng”, những kẻ si mê đời sau hiểu được ý nghĩa bài tụng này liền thấy chân Phật tự tâm tự tính. Cho các ông bài tụng này rồi ta sẽ từ biệt các ông.” ● 顥 鑒. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Vân Môn Văn Yển, tông Vân Môn. Sư trụ chùa Tân Khai, Ba Lăng Nhạc Châu (nay là huyện Nhục Dương, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc, người đời gọi sư là “Ba Lăng Hạo Giám”. Do giỏi biện luận nên sư còn có tên “Giám Đa Khẩu”. ● 顥 暹. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Công Thần Giác Kha, tông Pháp Nhãn. Sư trụ Nghiêu Phong, Tô Châu. ● 欱、嗬、喝. Ăn. Tiết Dược Sơn Duy Nghiễm Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “(行 腳 僧)曰:雖 在 彼 中、且 不 曾 上 他 食 堂。師 曰:口 欱 東 南 風 那。 – (Tăng hành cước) nói: Tuy ở lại nơi đó nhưng chưa từng đi lên đến nhà ăn. Sư nói: Vậy ăn không có khí sạch”. ● 喝. 1. Tiếng hét. Đời Đường trở đi, Thiền Sư thường dùng tiếng hét để phá trừ tà chấp của học nhân, hoặc thay cho lời nói, suy nghĩ không diễn tả được. Theo Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q. 1: Bách Trượng đã từng bị Mã Tổ hét. Đây là sự khởi nguyên sử dụng tiếng hét. Về sau Bách Trượng đề xướng nó, Hoàng Bá thọ lãnh cơ dụng ấy mà đánh bằng gậy, Lâm Tế thì sử dụng cả hét và đánh. Theo phần Khám Biện trong Lâm Tế Lục, thì tiếng hét của Lâm Tế có 4 tác dụng: ― Có lúc tiếng hét như gươm báu Kim Cang Vương (phá trừ chấp trước danh tướng ngôn cú). ― Có lúc tiếng hét như sư tử lông vàng ngồi xổm trên đất (phá tiểu cơ tiểu kiến). ― Có lúc tiếng hét như cành trúc thăm dò, như bóng cỏ (nghiệm định học nhân hoặc khám biện Sư gia). ― Có lúc tiếng hét chẳng có tác dụng tiếng hét (chỉ cho tiếng hét hướng thượng thâu về tất cả, có đầy đủ mọi tác dụng mà chưa tác dụng). Đây chính là “Lâm Tế tứ hát”. Nhưng nếu không biết tác dụng mà hét thì gọi là “Hát loạn” (Hét loạn xạ). Pháp ứng cơ tiếp vật này về sau trở thành tông phong của Lâm Tế, thạnh hành ở Trung Quốc, Nhật Bản. 2. Nghĩa là “Xướng”. Trong Thiền Tông hay dùng đến. “Hát tham” tức là xướng lên rằng mình đã đến rồi; “Hát tán” là tuyên cáo giải tán mọi người; “Hát hỏa” là xướng câu đề phòng hỏa hoạn trước khi đi ngủ. ● 喝 火. Kêu gọi đề phòng hỏa hoạn. Trong Thiền Tông, trước khi ngủ kiểm tra các liêu, kêu gọi nhớ tắt đèn đuốc. Kệ tụng của Khai Phúc Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục (Vạn Tục 120, 239 thượng) ghi: “夜 深 聞 喝 火 皑 聲。故 經 曰:即 時 觀 其 音 聲 而 得 解 脫。 – Đêm khuya nghe tiếng hô đề phòng lửa.. Cho nên kinh nói: Tức thời quán xét âm thanh kia mà được giải thoát”. Lại theo Oánh Sơn Thanh Quy: Mỗi tối, sau tiếng trống thứ hai của canh hai, đi quanh chùa lắc chuông hô to ›Coi chừng đèn đuốc, củi lửa‹, đi từ tam quan đến phương trượng rồi trở về nhà kho, đúng tiếng trống thứ ba của canh hai. ● 喝 佛 罵 祖. Còn gọi: Ha (呵) Phật Mạ Tổ. Chửi Phật mắng Tổ. Thiền gia đối với sự vật bên ngoài tâm không chấp trước, không mê tín, chủ trương tự tâm là Phật, tự mình làm chủ, thường dùng ngôn cú chửi Phật mắng Tổ để khải phát người học đạo. Uyển Lăng Lục ghi: “說 禪 說 道、喝 佛 罵 祖。到 這 裏 都 用 不 著。 – Nói thiền nói đạo, chửi Phật mắng Tổ, đến chỗ này đều dùng không được.” ● 喝 參. Trong Thiền viện, người có chức vụ, thân phận thấp hơn, lúc ra đứng trước bậc Tôn trưởng phải báo cáo rằng mình đang có mặt tại đây. Điều Huấn Đồng Hạnh, chương Trụ Trì trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. thượng (Đại 48, 1122 thượng) ghi: “參 頭 領 眾 雁 立、插 香、喝 參 三 拜、退 分 東 西 序 後 雁 立。 – Tham đầu dẫn chúng đứng thành hàng, cắm hương hát tham, ba lạy rồi lui lại phía sau, theo thứ tự chia ra đông tây đứng thành hàng”. ● 喝 食. 1. Trong Thiền viện, đến giờ chư Tăng ăn cơm, hành giả xướng báo cho đại chúng biết ăn món gì và cách thức ra sao. Như xướng “Tịnh chúc” tức là phân phối cháo; xướng “Hương thang tịnh” tức là phân phối nước nóng; còn như ăn xong, sau khi rửa sạch chân bát thì xướng “Triết thủy”. ● 2. Gọi tắt của Hát Thực Hành Giả, là chức vụ trông coi việc Hát thực. Điều Phó Chúc Phạn trong Thiền Uyển Thanh Quy q. 1 ghi rằng: Pháp hát thực như sau: “Hát Thực Hành Giả” sau khi bước vào Tăng đường, lần lượt vái chào Thánh tăng, Trụ trì, Thủ tọa. Chờ Thủ tọa thí thực xong rồi mới tiến hành Hát thực; lúc xướng cần phải rõ ràng, danh mục nếu có sai lầm thì chưa hoàn thành phép thọ thực, ắt cần phải xướng lại. Ngoài ra, chức vụ của Hát Thực Hành Giả không những xướng báo đồ ăn uống mà còn xướng báo việc tham thiền, như điều Đại Tọa Tham, chương Lưỡng Tự trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. hạ (Đại 48, 1143 hạ) ghi: “Hát Thực Hành Giả đứng giữa vái chào rồi xướng dài: Phóng tham! Đánh 3 tiếng chuông, mọi người đứng dậy cùng nhau xướng Hòa nam”. Chức vụ này không liên quan đến tuổi tác, song ở Nhật Bản gần đây phần lớn giao nhiệm vụ này cho đứa trẻ khoảng 10 tuổi chưa được cạo tóc. Còn đối với Sa di đã cạo tóc mà lãnh nhiệm vụ Hát thực thì gọi là “Sa hát”, gọi tắt của “Sa Di Hát Thực”. ● 瞎 屢 生. Còn gọi: Hạt Lư, Hạt Hán, Lũ Sinh Tử, Độn Lũ Sinh, Ngốc Lũ Sinh. Hạt: mắt mù. Lũ: ngu muội. Sinh: người. Hạt Lũ Sinh nghĩa là người ngu si, người không có kiến thức. Phần Thị Chúng trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 501 hạ) ghi: “瞎 屡 生!爾 向 枯 骨 上 覓 什 麼 汁。 – Đồ ngu si! Ngươi tìm nước gì trên bộ xương khô?” Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q.2 (Đại 47, 997 trung) ghi: “師 云:明 之 則 瞎。僧 云:謝 師 指 示。師 云:屢 生 子! – Sư nói: Chứng tỏ việc đó thì bị mù. Tăng đáp: Cảm ơn Thầy chỉ dạy. Sư nói: Đồ ngu si!”. ● 瞎 驢. Con lừa mù, chỉ cho người không sáng được pháp nhãn. Đây là lời chê trách của Thiền Sư. Bài thơ “Nữ tử xuất định” trong MANL ghi: “出 得 何 如 未 出 時、瞎 驢 成 隊 喪 全 機。 – Xuất (định) được đâu bằng lúc chưa xuất, bọn không có pháp nhãn vùi chôn tông chỉ thiền”. ● 瞎 禿 子. Gã mù trọc đầu, chỉ cho thiền tăng không sáng được pháp nhãn. Đây là lời chê trách của Thiền Sư. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “有 一 般 瞎 禿 子。飽 喫 飯 了。便 坐 禪 觀 行。把 捉 念 漏 不 令 放 起。 – Có một bọn mù trọc đầu ăn cơm no rồi ngồi thiền quán hạnh, chụp bắt niệm lậu không cho sinh khởi”. ● 黑 面 婆 羅 門. Bà la môn mặt đen. Từ để gọi Bồ Đề Đạt Ma, hàm ý khinh tiện. Tiết Hoàng Long Đạo Chấn Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “師 上 堂:少 林 冷 坐 、門 人 各 說 異 端、大 似 眾 盲 摸 象。神 光 禮 三 拜、依 位 而 立。達 磨 云:汝 得 吾 髓。這 黑 面 婆 羅 門、腳 跟 也 未 點 地 在。 – Sư thượng đường: Thiếu Lâm ngồi trong xó, mỗi vị đệ tử nói mỗi khác, rất giống lũ mù sờ voi. Thần Quang lạy 3 lạy rồi trở về đứng chỗ cũ. Đạt ma nói: Ngươi được tủy của ta. Gã Bà la môn mặt đen này, gót chân còn chưa chấm đất‹”. ● 黑 豆 法. Phép đậu đen. Thiền Tông dùng đậu đen để chỉ cho văn tự. Nghĩa là nghiên cứu văn tự, ngôn cú, pháp số trong kinh điển một cách miên mật chi ly, giống như đếm số đậu đen; do quá chú trọng mặt chữ nghĩa mà không thấy được nghĩa chân thật. Thiền Tông dùng từ này để chê cười thái độ chấp chặt vào văn tự, ngôn cú. Hư Đường Lục q.8 (Đại 47, 1047 hạ) ghi: “松 源 師 祖 臨 示 寂 告 眾 云:久 參 兄 弟、正 路 上 行 者 有、只 不 能 用 黑 豆 法。 – Sư tổ Tùng Nguyên trước khi tịch bảo chúng: Các huynh đệ tham cứu lâu nay, mặc dù đi trên đường chính, nhưng không nên chấp chặt vào văn tự”. Lại “Án hắc đậu” cũng chỉ cho thái độ chấp trước kinh văn. Ngoài ra, “Hắc đậu khám định” cũng dùng để châm biếm kẻ chỉ nghiên cứu Phật giáo trên văn tự. ● 黑 豆 未 生 芽 時. Lúc đậu đen chưa nẩy mầm. Thiền Tông dùng cụm từ này để dụ cho dáng dấp xưa nay hoàn toàn không hình tướng; tức là mặt mũi lúc cha mẹ chưa sinh. Tào Sơn Nguyên Chứng Sư Ngữ Lục (Đại 47, 531 hạ) ghi: “無 語 中 有 語、如 云 黑 豆 未 生 芽 時、十 方 諸 佛 出 身 處。 – Có lời trong không lời, như nói lúc hạt đậu đen chưa nẩy mầm, là chỗ xuất thân của chư Phật mười phương”. ● 黑 輪 皴. Chỉ cho cây gậy đen bóng, hình vảy cá. Phá Am Tổ Tiên Thiền Sư Ngữ Lục (Vạn Tục 121, 417 hạ) ghi: “萬 化 千 變、惟 有 拄 杖 子、黑 輪 皴、沒 思 算! – Muôn ngàn sự biến hóa chỉ có một cây gậy đen bóng hình vảy cá, không có so đo”. ● 黑 漫 漫. Nguyên chỉ dòng sông mênh mang đen tối. Trong Thiền Tông mượn dùng để chỉ trạng thái vô tri không phân biệt thị phi, thiện ác. Tắc 44, Bích Nham Lục (Đại 48, 181 trung) ghi: “報 君 知、莫 莽 鹵、甜 者 甜 兮 苦 者 苦。(謝 答 話、錯 下 注 腳、好 與 三 十 棒、喫 棒 得 也 未?便 打。依 舊 黑 漫 漫)。 – Báo cho ông biết, chớ có lỗ mãng. Ngọt thì ngọt còn đắng thì đắng. (Cảm ơn lời đáp, lầm buông lời giải thích bậy, đáng cho 30 gậy, ăn gậy được chưa? Liền đánh. Vẫn như lối cũ tối mênh mang)”. ● 黑 山. Núi tối đen. Luận Câu Xá q. 11 ghi: Phía bắc Nam Thiệm Bộ châu, ba chỗ đều có ba lớp Hắc sơn. Nơi ấy tối tăm, là chỗ ở của các ác quỷ. Trong Thiền Tông mượn từ này dụ cho sự chấp trước tình thức phân biệt, như sa vào hang tối của Hắc sơn không cách nào ra được. Tắc 41, Bích Nham Lục (Đại 48, 179 trung) ghi: “銀 山 鐵 壁、擬 議 則 髑 髏 前 見 鬼、尋 思 則 黑 山 下 打 坐。 – Núi bạc vách sắt, do dự thì quỷ hiện trước mắt, suy nghĩ thì ngồi trong núi tối đen”. ● 黑 膝 崑 崙 夜 裏 奔. Một mình, chân trần đi trong đêm tối ở đảo Côn Lôn. Côn Lôn là một hòn đảo tối tăm mờ mịt và cô quạnh. Một mình đi trong đêm tối ở đó cũng chẳng khác nào người thủy thủ lạc hướng trong biển cả mênh mông, không biết đâu là bờ bến. Sau khi ngài Oánh Sơn tham công án “Bình thường tâm thị đạo” được liễu ngộ, ngài đảnh lễ tạ ơn thầy là Thiền Sư Triệt Thông Nghĩa Giới. Ngài Triệt Thông liền hỏi: Ngươi đã ngộ được đạo lý gì? – Một mình, chân trần đi trong đêm tối ở đảo Côn Lôn. ● 黑 漆 桶. 1. Còn gọi: Tất Dũng. Thùng sơn. Vô minh nhiều kiếp của chúng sinh kết tập dính chặt khiến che mất Phật tính sẵn có, giống như thùng sơn đen tối thui không thấy một vật. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 140 trung) ghi: “一 等 是 打 破 葛 藤、不 妨 與 他 打 破 漆 桶。 – Một hạng người đả phá ngôn ngữ song chẳng ngại gì việc Đạt ma đạp vỡ thùng sơn cho họ”. Cũng có người lấy từ “Tất Dũng”, “Tất Dũng Bối” để quở mắng bọn ngu độn, không hiểu chân lý Phật pháp. 2. Nghĩa là đen thui không thấy một vật gì. Dụ cho cảnh giới tuyệt đối siêu việt mọi sai biệt đối lập. Như Tịnh Hòa Thượng Ngữ Lục q. hạ (Vạn Tục 124, 487 hạ) ghi: “平 地 起 骨 堆、慿 空 剜 窟 籠;驀 透 兩 重 關、拈 卻 黑 漆 桶。 – Đất bằng nổi phần mộ, hư không khoét hang lỗ, vượt qua hai lớp ải, liền vào cảnh giới tuyệt đối”. Lại, nhà thiền dùng từ “Tất Dũng bất hội” cũng có 2 nghĩa, một chỉ cho tâm vọng tưởng phân biệt, không rõ sự lý; hai chỉ cho vũ trụ pháp giới siêu tuyệt suy nghĩ phân biệt. Tắc 5, Bích Nham Lục (Đại 48, 144 hạ) ghi: “舉:雪 峰 示 眾 云:盡 大 地 撮 來 如 粟 米 粒 大、拋 向 面 前。漆 桶 不 會。打 鼓 普 請 看。 – Tuyết Phong dạy chúng: Gom cả đất đai rồi vò lại lớn bằng hạt thóc, ném ra trước mặt, nếu không rõ được sự lý thì đánh trống mời hết đi!”. ● 恒 通 (834-905). Còn gọi: Thường Thông. Thiền tăng đời Đường, họ Lý, người xứ Bình Ân, Hình Châu (nay là phía tây huyện Khâu, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Chiêu Hiền Cảnh Sầm. Sư trụ viện Thụy Thánh ở Tuyên Thành (nay thuộc tỉnh An Huy), sau dời về chùa Tuyết Đậu ở Tứ Minh. ● 忻 悟 (1337-1391). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Nữu, hiệu Không Tẩu, người huyện Ngô (nay là Tô Châu) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Ngu Am, tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Sùng Ninh ở Chiết Giang, sau trụ trì chùa Linh ẩn ở Hàng Châu. Tác phẩm: Tam Hội Ngữ Lục. ● 後 機. Lời xưng hô của Thiền gia đối với những kẻ hậu học vãn bối. Pháp Diễn Ngữ Lục q.5 ghi: “諸 人 且 作 麼 生 會。白 蓮(系 法 演 禪 師 之 法 號)今 日 曲 順 後 機。不 惜 眉 毛。亦 爲 頌 出。有 中 有。無 中 無。細 中 細。粗 中 粗。 – Các ông làm sao hiểu đây? Bạch Liên (là pháp hiệu của Thiền Sư Pháp Diễn) hôm nay chìu theo kẻ hậu cơ không tiếc lông mày, cũng làm bài tụng: hữu trong hữu, vô trong vô, tế trong tế, thô trong thô.” ● 後 架. Cái giá để rửa ráy ở phía sau tăng đường trong tự viện. Tông Môn Võ Khố ghi: “晨 興 後 架。秖 取 小 杓 湯 洗 面。復 用 濯 足。 – Sáng sớm thức dậy, tại hậu giá chỉ được lấy một ít nước nóng rửa mặt, lại dùng rửa chân.” ● 後 際. Đời sau, vị lai. Uyển Lăng Lục ghi: “前 際 無 去、今 際 無 住、後 際 無 來。 – Quá khứ không đi, hiện tại không dừng, vị lai không đến.” ● 堠 子. Bảng chỉ đường (vào đời xưa). Chương Vân Đảnh Sơn Tăng Đức Phu trong CĐTĐL q.30 ghi: 見 人 須 棄 敲 門 物 知 路 仍 忘 堠 子 名 “Kiến nhân tu khí sao môn vật Tri lộ nhưng vong hậu tử danh”. “Gặp được người rồi cần ném đi vật gõ cửa, biết được đường đi rồi phải quên luôn bảng chỉ đường” (Hai câu này tỷ dụ cần phải “được ý quên lời”). ● 繫 驢 橛. Trụ gỗ bên đường để cột lừa. Thiền Tông dùng hình ảnh này để dụ cho sự trói buộc khi người học chấp trước vào một kiến giải, dù cho nó có cao siêu đến mấy. Lâm Tế Lục (Đại 47, 497 hạ) ghi: “羅 漢 辟 支 猶 如 厠 穢。菩 提 涅 槃 如 繋 驢 橛。 – La Hán Bích Chi giống như phẩn dơ, Bồ Đề Niết Bàn giống như cọc cột lừa”. ● 系 南 (1050-1094). Thiền tăng đời Tống, họ Trương, người xứ Đinh Châu (nay là huyện Trường Đinh, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Vân Cư Nguyên Hựu, tông Lâm Tế. Sư trụ thiền viện La Hán ở Lô Sơn nên người đời gọi là “La Hán Hệ Nam”, hoặc gọi là “Tiểu Nam” để phân biệt với Hoàng Long Huệ Nam. ● 熙 怡 叟. Hiệu của Thiền tăng Chí Nhân đời Nguyên mạt Minh sơ. X. Chí Nhân. ● 戲 海 獰 龍 摩 天 俊 鶻. Rồng dữ đùa biển, diều hâu bay cạm trời. Ninh long: rồng dữ. Tuấn cốt: diều hâu. “Ninh long, tuấn cốt” dụ cho bậc tài trí vượt hơn mọi người. Thiền Tông dùng thuật ngữ này để chỉ cho người tu hành đã đạt đến cảnh giới thênh thang như biển rộng trời cao, nhậm vận tự tại. Gia Thái Phổ Đăng Lục q.27 (Vạn Tục 137, 194 hạ) ghi: “即 心 即 佛、鐵 牛 無 骨、戲 海 獰 龍、摩 天 俊 鶻。西 江 吸 盡 未 爲 奇、火 裏 生 蓮 香 緐 緐。 – Tâm chính là Phật, trâu sắt không xương, rồng dữ đùa biển, diều hâu bay cahm trời. Uống cạn Tây Giang cũng chưa phải lạ, sen mọc trong lò mùi hương phảng phất”. ● 賢 寬 (?-1326). Thiền tăng đời Nguyên, họ Chu, người xứ Hàm Sơn Hòa Châu (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Kim Ngưu Chân, tông Lâm Tế. Người đời gọi sư là “Vô Dụng Hiền Khoan Thiền Sư”. Sư trụ chùa Phổ Minh ở Thái Hồ, được vua ban hiệu “Phật Chiếu Viên Ngộ”. ● 顯 教 大 師. Hiệu của Thiền tăng Chí Viên đời Ngũ Đại. X. Chí Viên. ● 顯 宗 記. Gọi đủ: Hà Trạch Đại Sư Hiển Tông Ký. Ký, 1 thiên, do Hà Trạch Thần Hội soạn vào đời Đường. Toàn thiên chỉ có 660 chữ, kể về tông yếu Thiền Tông. Lời đầu quyển là: “Vô niệm là tông, Vô tác là bản, Chân không là thể, Diệu hữu là dụng”. Từ đó trở đi là giải thích vắn tắt ý nghĩa của chủ trương Vô niệm, Vô tác. Kế đến bàn luận đến lý Bát nhã và Niết bàn cùng về một mối. Theo các câu truyện truyền y của Thiền Tông thì sự truyền thừa rất quan trọng. Toàn thiên lấy “Bát nhã KHÔNG TRÍ, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” của Kinh Kim Cang Bát nhã làm nền tảng, và kế thừa tư tưởng: Bát nhã Vô Tri Luận, Niết bàn Vô Danh Luận của Tăng Triệu đời Hậu Tần và Định Huệ nhất thể của Đàn Kinh. Lại trình bày về sự truyền y để chỉ rõ Huệ Năng là người chính thức được truyền thừa. Thiên này được xếp vào Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 30, Toàn Đường Văn quyển 916, Đại Chính Tạng tập 51. ● 顯 慈 (1888-1955). Tăng nhân hiện đại, người huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Năm 1922, sư tham thiền ở chùa Cao Mân, giữ chức Thủ tọa. Năm 1928, sư đến chùa Trích Tinh đóng cửa ẩn tu. Sau khi ra thất, sư vân du các nơi để hoằng giáo thuyết pháp. Tác phẩm: Tâm Kinh Quán Châu Giải, Lăng Nghiêm Nghĩa Giải Sớ, Viên Giác Kinh Thích Yếu, Kim Cang Kinh Chân Nghĩa Sớ. ● 顯 聖 寺. Còn gọi: Vân Môn Hiển Sơn Thánh Tự. Nằm trong núi Vân Môn, thành phố Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Đời Minh Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng tông Tào Động ban đầu trụ chùa này. Sau đó các vị Thiền Sư tông Tào Động như Nhĩ Mật Minh Phục, Thạch Vũ Minh Phương trụ chùa này. ● 顯 通 寺. Nằm phía Bắc thị trấn Đài Hoài, Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, là một trong năm đại thiền lâm của Ngũ Đài Sơn. Được xây cất vào niên hiệu Vĩnh Bình (58-75) đời Đông Hán, ban đầu gọi “Linh Thứu Tự”. Đời Bắc Ngụy vua Hiếu Văn Đế ban tên là “Hoa Viên Tự”. Đời Đường đổi tên là “Đại Hoa Nghiêm Tự”. Vào niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh trùng tu, ban cho tấm biển “Đại Hiển Thông Tự”. Đời Thanh lại trùng tu, hình thành quy mô hiện hữu. Trên tuyến trục giữa điện vũ bảy tầng không cái nào giống cái nào. Phối điện hai bên nghiêm chỉnh đầy đủ, Trai đường, Thiền viện hoàn hảo. Điện đồng 3 gian đúc rất tinh xảo. Điện Vô Lượng xây gạch mái chồng đỉnh yết sơn, quy mô hùng vĩ, gạch khắc tỉ mỉ. Lầu chuông trước cửa hùng vĩ tráng lệ, bên trong treo cái chuông đồng nặng vạn cân, khi đánh lên âm thanh vang khắp núi. Trong các núi ở Ngũ Đài Sơn, Hiển Thông Tự quy mô rất lớn, lịch sử rất lâu đời, tục gọi là “Chùa Tổ”. Những tín đồ lên chùa dâng hương lễ Phật thì trước hết phải bái kiến Hiển Thông Tự. ● 顯 通 寺 銅 塔. Tháp ở trong khuôn viên chùa Hiển Thông, thị trấn Đài Hoài, huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Chùa Hiển Thông là ngôi chùa Phật lâu đời nhất trong lịch sử Ngũ Đài Sơn, là một trong năm đại thiền lâm. Phía sau chùa có ba tòa kiến trúc đúc bằng đồng, chính giữa là một tòa điện đồng, hai bên điện đồng có đặt một đôi tháp đồng do Thiền Sư Diệu Phong tại Vân Nam hóa duyên đúc nên vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1620) đời Minh. Ngoại hình hai tháp gần giống nhau, tạo dáng kỳ đặc, do tổ hợp lâu các, đình các, bát úp tạo thành. Tháp cao 8m tọa lạc trên bệ đá điêu khắc tinh mỹ, phần dưới tháp là tòa Tu di, trên tòa là bát úp, phía trên là thân tháp 13 tầng theo kiểu lâu các. Trên thân tháp lại có đình các mái chồng, trên cùng mới là tháp sát. Trên dưới thân tháp được trang trí hoa văn đúc bằng đồng, so với tháp sắt tinh tế hơn nhiều. Phía đông trên tháp có ghi tháp được đúc vào tháng 8 niên hiệu Vạn Lịch thứ 38 (1610) đời Minh. ● 顯 通 寺 無 梁 殿 內 塔. Nằm trong điện Vô Lương, chùa Hiển Thông, thị trấn Đài Hoài, huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Tháp này là tháp trong điện xây trên một cái bệ gạch hình vuông, trên bệ là tòa nền hình bát giác, trên tòa xây tháp. Toàn bộ tháp dùng gỗ làm thành, là hình bát giác mặt bằng, 13 tầng, cao 15m. Tầng thứ nhất hình trụ có hành lang bao quanh tám mặt. Mỗi tầng đều mở ra cửa ngõ hình vuông. Tháp xây cất vào đời Minh, tạo dáng nhỏ mà cao. Thân tháp màu vàng kim phối hợp với tòa nền màu hồng hiển bày sự to đẹp đàng hoàng. ● 顯 文 (1856-1909). Tăng nhân cận đại, họ Dương, tự Khôi Ấn, người xứ Hồ Nam, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Pháp Nhẫn. Sư trụ trì chùa Tỳ Lô ở Nam Kinh. ● 現 量. Người tu chính pháp được chứng ngộ, hiển hiện bản thể tự tính đầy khắp thời gian, không gian. Cái thật tướng này gọi là Hiện lượng, cái dụng gọi là Hiện lượng trí. ● 現 光 (?-1221). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 14, nối pháp Thiền Sư Trí Thông. Sư tên Lê Thuần, quê ở thành Thăng Long, miền Bắc Việt Nam. Kệ thị tịch: 幻 法 皆 是 幻。幻 修 皆 是 幻 二 幻 皆 不 即。即 是 除 諸 幻 Huyễn pháp giai thị huyễn Huyễn tu giai thị huyễn Nhị huyễn giai bất tức Tức thị trừ chư huyễn “Huyễn pháp đều là huyễn Huyễn tu đều là huyễn Hai huyễn đều chẳng nhận Tức là trừ các huyễn”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 現 成. Chỉ cho sự thành tựu ở ngay trước mắt. Tức là chân lý tuyệt đối tự nhiên hiện bày chẳng phải nhờ bàn tay con người sắp đặt hoặc làm ra. Tắc 164, Thiền Uyển Mông Cầu (Vạn Tục 148, 109 thượng) ghi: “第 一 句:且 自 承 當 現 成 具 足 盡 十 方 世 界 更 無 他 故 祇 是 仁 者 更 教 誰 現 誰 聞。 – Câu thứ nhất: Hãy tự nhận lấy chân lý tuyệt đối hiện bày tự nhiên ở trước mắt, vì khắp mười phương thế giới không có ai khác, chỉ là chính ngươi, còn ai thấy nghe?”. ● 歇. Gọi đủ: Hưu hiết 休 歇. Lãnh ngộ thiền chỉ. Vân Môn Quảng Lục q.thượng ghi: “師 云。我 事 不 獲 巳 向 你 諸 人 道。直 下 無 事 早 是 相 埋 沒 也。更 欲 蹋 步 向 前。尋 言 逐 句 求 覓 解 會。千 差 萬 別 廣 設 問 難。贏 得 一 場。口 滑 去 道 轉 遠。有 什 麼 歇 時。 – Sư nói: Tôi bất đắc dĩ nói với các vị là ngay đây vô sự, cũng sớm mai một rồi! Nếu như còn muốn tiến lên mé trước mà đuổi theo lời nói, tìm kiếm tri giải thì khác nhau rất nhiều. Lập bày nhiều cách thưa hỏi, trách cứ, chỉ là đổi lấy trò chơi trên đầu lưỡi, cách đạo càng xa, bao giờ mới được lãnh ngộ?” ● 曉 了 (685-745). Thiền tăng đời Đường, họ Đặng, tự Bá Tri, pháp danh Hiểu Liểu, người Ông Nguyên Quảng Đông, Trung Quốc. Sư là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng, cất am ở núi Biển Đảm để hoằng pháp. ● 曉 通 (?-1030). Thiền tăng sống vào đầu đời Bắc Tống, họ Đỗ, người xứ Khúc Giang, Thiều Châu (nay là huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Văn thù ứng Chân, thuộc tông Vân Môn. Đầu niên hiệu Hàm Bình (998) đời Tống, sư đến Giang Tây ở Lô Sơn, không có bạn thân. Lúc ấy, pháp hội ở chùa Kiến Xương, núi Vân Cư rất hưng thịnh, sư liền đến đó xin ở đậu. Trong chúng, sư đáp được câu hỏi của chư tăng bằng câu: “Quân tử yêu tiền, nhờ tiền mà có đạo”. Am chủ Tường ở Liên Hoa Phong nghe lời đáp này rất kinh sợ, nói: Con cháu Vân Môn vẫn còn! Ngay đêm ấy, ông ta hướng về núi Vân Cư lễ bái. Từ đó tên tuổi sư được xem trọng trong chốn tùng lâm. Khi ở trên núi Vân Cư, sư tự tay trồng muôn gốc tùng ở ngọn núi phía đông và chỉ tụng kinh Kim Cang Bát nhã. Về sau, sư nhậm chức trụ trì chùa Phổ Sát ở Động Sơn (nay là huyện Nghi Phong, tỉnh Giang Tây), phát huy tông phong, pháp hội cực thịnh một thời. ● 曉 雲 (1913-?). Tăng nhân hiện đại, họ Du, biệt hiệu Thanh Phong, người xứ Quảng Châu, Trung Quốc. Sư tốt nghiệp trường dạy Văn Quảng Đông, trường Mỹ Thuật Nam Trung. Năm 1946 được Đại học Tagore (ấn Độ) mời làm nghiên cứu viên, dạy môn họa Trung Quốc. Từng dự Hội nghị Chuyên gia Nghệ thuật Phật giáo Thế giới, Hội nghị Học giả Đông Phương lần thứ 28. Tác phẩm: Thiền Lâm Giáo Hóa đối Hiện Đại Giáo Dục chi Khải Thị. ● 曉 榮 (920-990). Thiền tăng đời Tống, họ Đặng, người xứ Ôn Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Tịnh Phúc ở Phú Dương (nay thuộc Chiết Giang), sau dời về chùa Long Sách ở Hàng Châu. ● 形 山. Tức chỉ thân thể. Lại, tâm tính chúng ta ẩn núp trong thân thể, cho nên trong sách nhà Phật phần nhiều dùng từ “Bí tại hình sơn” để chỉ tâm tính chúng ta. Tắc 92, Thung Dung Lục (Đại 48, 286 hạ) ghi: “夫 天 地 之 內、宇 宙 之 間、中 有 一 寶、祕 在 形 山。 – Đại sư Vân Môn nói: Trong trời đất, vũ trụ, có một vật báu ẩn náu tại thân thể”. ● 學 解. Tri thức đạo lý thông thường của thế gian. Thiền Tông cho rằng thiền pháp vi diệu siêu việt “học giải”, cần phải bài trừ chướng ngại của nó thì mới có thể tỉnh ngộ. Tiết Vân Cư Pháp Như Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “備 參 浙 右 諸 宗 匠、晚 至 龍 門、以 平 日 所 証 白 佛 眼、眼 曰:此 皆 學 解、非 究 竟 事。欲 了 生 死、當 求 妙 悟。 – Sư tham vấn đủ hết bậc tông tượng ở miền hữu ngạn Chiết Giang. Cuối cùng đến Long Môn, đem sở chứng từ trước ra bạch cùng Phật Nhãn. Nhãn nói: Đây là học giải, chẳng phải việc cứu cánh. Muốn thoát sinh tử phải cầu diệu ngộ”. ● 學 匠. Thông thường trong Thiền Tông gọi bậc Thầy giỏi là Sư tượng, nên Học tượng là chỉ cho học trò giỏi. ● 學 蘊 (1613-1689). Thiền tăng đời Thanh, họ Vương, hiệu Tri Không, người xứ Đam Hải (nay thuộc Vân Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Mật Hạnh Tịch Nhẫn, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Phúc Thành ở Sở Hùng (nay thuộc Vân Nam), chùa Đại Phương Quảng ở núi Cửu Đài. Tác phẩm: Tri Không Uẩn Thiền Sư Ngữ Lục 2 quyển, Thảo Đường Tập. ● 華 亭 寺. Chùa ở lưng chừng núi Hoa Đình, công viên rừng rậm Tây Sơn, thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Vốn là biệt thự của Thiện xiển hầu Cao Trí Thăng ở nước Đại Lý. Vào niên hiệu Diên Hựu thứ 7 (1320) đời Nguyên, vị cao tăng nổi tiếng của Thiền Tông là Nguyên Phong dựng chùa Viên Thông ở đây. Khoảng niên hiệu Cảnh Thái (1450-1456) đời Minh, Trấn thủ Vân Nam là Thái giám Lê Nghĩa trùng tu, đổi tên là Đại Viên Giác Tự. Niên hiệu Khang Hy thứ 26 (1687) đời Thanh, Tuần phủ Vương Kế Văn lại trùng tu, đổi tên là Hoa Đình Tự. Niên hiệu Hàm Phong thứ 7 (1857) một phần kiến trúc của chùa này bị thiêu hủy bởi nạn binh lửa. Niên hiệu Quang Tự thứ 9 (1883) chùa được trùng tu không lớn lắm. Năm 1920, Hòa Thượng Hư Vân trụ trì chùa này, xây dựng điện đường, công trình kéo dài liên tục trong 6 năm. Sau khi hoàn thành đổi tên là Tĩnh Quốc Vân Thê Thiền Tự. Kiến trúc trong chùa có: Chung lâu (lầu chuông), Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Thiền phòng, Khách đường. Điện vũ nguy nga, quy mô rộng lớn, bố cục nghiêm chỉnh. Trong Thiên vương điện có tượng Tứ đại Thiên vương và Phật Di Lặc, Tôn giả Vi Đà. Nơi Đại hùng bảo điện có tượng Tam thế Phật, hai bên vách có đắp tượng 500 vị La hán, mỗi vị đều đủ thần thái. Chung quanh chùa là rừng tre tươi tốt, mây rừng khói biển, cảnh sắc đẹp rực rỡ. Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) đời Minh, khi Dương Thận bị giáng chức và đày đến Vân Nam, có làm một cặp đối liễn cho chùa này như sau: Nhất thủy bao thành Tây, yên ái hữu vô, trụ trượng tăng quy thương mang ngoại. Quần phong triều các hạ, vũ tình nùng đạm, ỷ lan nhân tại họa đồ trung. “Một con sông bao bọc thành Tây, mây mù khi có khi không, Chống gậy tăng trở về cõi thênh thang, nhóm núi chầu dưới gác, mưa tạnh lúc đậm lúc nhạt, tựa lan (can) người ở trong bức tranh vẽ”. ● 華 林 寺. 1. Ở đường Hạ Cửu, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tương truyền vào niên hiệu Đại Thông thứ 1 (527) đời Lương, nơi đây là chỗ đặt chân đầu tiên của Bồ Đề Đạt Ma khi vượt biển đến Trung Hoa, cho nên gọi là “Tây Lai Sơ Địa”, có cất am Tây Lai. Những năm đầu niên hiệu Sùng Trinh (1628-1643) đời Minh, Tông Phù lão nhân từ Chương Châu đến Quảng Châu thể theo lời thỉnh của Am chủ mà cất đạo tràng. Niên hiệu Thuận Trị thứ 12 (1655) đời Thanh hoàn thành Đại hùng bảo điện, lâu các, đường vũ, liêu thất, kênh đào dẫn nước gọi là công đức thủy, trồng cây thành Kỳ Viên, bảng đề “Hoa Lâm Thiền Tự”. Tông Phù trụ trì chùa này 17 năm, siển dương tông chỉ Đạt Ma, thường dạy Tam quan ngữ (Ba lời then chốt), đạo phong vang xa, người nghe ngưỡng mộ. Hoa Lâm Tự cùng với bốn ngôi chùa Quang Hiếu, Tịnh Huệ, Hải Tràng, Đại Phật được gọi là “Quảng Phủ Ngũ Đại Tùng Lâm”. Nguyên quy mô rất lớn, hiện chỉ còn La hán đường. Trong La hán đường có thờ 500 pho tượng La hán do tăng nhân bản tự đắp nặn vào niên hiệu Đạo Quang thứ 25 (1845) đời Thanh, trong đó có tượng Mã Khả Ba La. Chính giữa La hán đường có tháp A dục Vương đúc bằng đồng nặng 725 kg. ● 2. Nằm trên sườn phía Nam núi Bình Sơn, khu bắc bộ thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Niên hiệu Càn Đức thứ 2 (964) đời Tống, Ngô Việt Vương họ Tiền chiếm cứ Phúc Châu, bề tôi Bào Tu Nhượng làm Quận thủ xây chùa nơi đây, ban đầu gọi là “Việt Sơn (Bình Sơn) Kiết Tường Thiền Viện”. Khoảng niên hiệu Chính Thống (1436-1449) đời Minh ban cho tấm biển, đổi tên là “Hoa Lâm Tự”. Nguyên có Pháp đường, Hoàn phong đình, Tuyệt học liêu đều đã hư phế. Chỉ còn đại điện mái đơn đỉnh có 9 cây đòn dông, dù được trùng tu qua hai đời Minh Thanh nhưng phần chủ yếu như xà nhà, đấu củng vẫn là nguyên vật lúc mới xây cất, gìn giữ phong cách kiến trúc thời kỳ Đường Tống, là kiến trúc bằng gỗ cổ xưa nhất ở Trung Quốc từ Trường Giang xuống phía Nam. Đây là hiện vật quý báu dùng để nghiên cứu kiến trúc cổ. ● 華 嚴 藏 (740-835). Thiền tăng đời Đường, họ Hoàng, pháp danh Trí Tạng (vì trùng tên với bạn đồng môn, nên mọi người lấy tên chùa sư trụ trì ghép vào để gọi), người Thượng Cao, Giang Tây, Trung Quốc. Sư nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất, thuộc hệ Nam Nhạc đời thứ 3, trụ trì chùa Hoa Nghiêm. Có Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 華 嚴 寺. Nằm trên sườn núi Na La Diên (cũng gọi núi Hoa Nghiêm) thuộc Đông bộ Lao Sơn, thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, lưng tựa núi mặt hướng biển, là chùa Phật duy nhất hiện còn trong núi Lao Sơn. Vào niên hiệu Sùng Trinh (1628-1644) đời Minh, Hoàng Tông Xương quyên tạo, ban đầu gọi là “Hoa Nghiêm Am”, cũng gọi “Hoa Nghiêm Thiền Viện”, mặt tây của chùa hiện nay sau đó bị chiến tranh phá hủy. Đầu đời Thanh, Hoàng Thản giúp Thiền Sư Từ Triêm xây cất lại trên nền hiện nay, năm 1931 đổi tên là “Hoa Nghiêm Tự”. Trong chùa nguyên cất giữ Phật kinh, Phật tượng, thư họa danh nhân, nhân trải qua nhiều lần chiến tranh nay đã không còn. Tàng kinh các cất phía trên sơn môn, bên ngoài gác có hành lang bao quanh, lên gác trông ra xa thấy biển cả mênh mông, trời nước bao la. Phía tây chùa một dặm có khối đá lớn nằm nghiêng như cá, trên có hang nhỏ, dùng tay gõ vào tiếng oang oang tợ như trống da cá, cho nên gọi là “Ngư Cổ Thạch”. Phía tây nam chùa có động Na La Diên rộng 7m, cao và sâu đều 15m, có thể chứa hơn trăm người. Trong động bốn vách nhẵn bóng, đá dưới đáy bằng phẳng giống như gác đá. Tương truyền vào đời Minh Hòa Thượng Hám Sơn (tức Thiền Sư Đức Thanh) nhân mộ danh động này mà không ngại đường xa ngàn dặm từ Ngũ Đài Sơn đến nơi này. ● 華 嚴 塔. Còn gọi: Tùng Ẩn Tháp. Nằm phía đông bắc thị trấn Tùng ẩn, huyện Kim Sơn, thành phố Thượng Hải, Trung Quốc. Đời Nguyên Phật giáo đồ sáng lập Tùng ẩn Thiền Viện, tăng nhân trong Thiền viện chép tay Kinh Hoa Nghiêm 81 quyển. Vì để gìn giữ kinh văn này tăng nhân quyên góp tiền bạc xây tháp để cất chứa kinh văn trong tháp. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 14 (1380) đời Minh phá thổ động công, trải qua bốn năm mới xong. Tháp kết cấu bằng gạch gỗ, 7 tầng hình vuông, theo kiểu lâu các, cao khoảng 51m. Vào đời Minh mà xây tháp vuông bằng gạch gỗ rất là hiếm thấy. Tháp này dù trải qua bao cuộc bể dâu song vẫn đứng hiên ngang bên bờ sông Hoàng Phố. ● 華 嚴 院. Nằm trên núi Lộc Môn, huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Kiến Vũ (494-498) đời Nam Tề, Tập Úc lập Thiền từ trong núi, và bố trí hai con nai bằng đá cho nên tục gọi “Lộc Môn Sơn”. Tù đời Tùy Đường trở đi, kẻ ẩn dật phần nhiều thích ở nơi này. Hoa Nghiêm Viện xây cất vào đời Đường, Thiền Sư Xử Chân hoằng dương thiền pháp ở nơi này bèn trở thành tùng lâm, đời Minh mở rộng xây dựng đổi làm Thiền tự. ● 華 擘. Chia cắt, phân chia. Tiết Tây Thiền Thủ Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: 談 玄 說 妙、撒 屎 撒 尿 行 棒 行 喝、將 鹽 止 渴 立 主 立 賓、華 擘 宗 乘 設 或 總 不 恁 麼、又 是 鬼 窟 裡 坐。 “Đàm huyền thuyết diệu Tản thỉ tản niệu Hành bổng hành hát Tương diêm chỉ khát Lập chủ lập tân Hoa phách tông thừa Thiết hoặc tổng bất nhậm ma, hựu thị quỷ quật lý tọa”. “Bàn huyền nói diệu Tung cứt vãi đái Sử dụng đánh hét Uống muối giải khát Lập chủ lập khách Chia cắt tông thừa Giả sử tất cả chẳng như thế, cũng là ngồi trong hang quỷ”. ● 華 峰 山 志. Chí, 5 quyển, do Giám Truyền soạn vào đời Thanh. Núi Hoa Phong cách huyện Tăng Thành, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc 46km về phía nam. Thuở xưa, Dung Lão Hòa Thượng từ chùa Hoàng Sơn Giang Tây đi về phía Nam, do mến cảnh đẹp ở núi Nam Tiêu, Tăng Thành nên cất am để ở đấy, chính là Thủy tổ của núi này, sau đó am bị hư hoại. Niên hiệu Khang Hy thứ 21 (1682) đời Thanh, Hòa Thượng Nam Tiêu đến ở núi này, trên Mai Lâm sáng lập Hải Môn Thiền Tự. Khoảng niên hiệu Càn Long (1736-1795) đời Thanh, Thiền Sư Bản Nguyên phấn chí trung hưng, dời điện xuống Mai Lâm, nhưng vẫn để hiệu Hải Môn Thiền Viện. Khoảng niên hiệu Quang Tự (1875-1908), vị tăng ở chùa là Giám Truyền soạn Sơn chí gồm 5 quyển. Quyển đầu trình bày cảnh đẹp, quyển 2 nói về nhân vật trong viện, quyển 3 nói về tự sớ cùng bia ký trải qua nhiều đời cùng văn thơ của các du khách. Quyển 4: Phụ lục “Hư Chu Di Cảo” của Giác Hải. Quyển 5: “Tạng Chuyết Đường Thi Tồn” của Giám Truyền. Quyển chí này, tuy lấy tên núi để đặt tên, nhưng kỳ thực làm ra vì Hải Môn Thiền Tự và được khắc bản vào niên hiệu Quang Tự thứ 26 (1900), được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. ● 華 藏 海 石 塔. Nằm trong khuôn viên Hoa Tạng Hải Thiền Tự, núi Ngọc Tuyền, trong Di Hòa Viên, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Chùa không còn, chỉ còn thạch tháp. Chùa và tháp cùng được xây cất vào khoảng niên hiệu Càn Long (1736-1795) đời Thanh. Tháp cao 7 tầng hình bát giác, toàn bộ được xây bằng đá cẩm thạch. Hình dáng và cấu tạo tháp phỏng theo kiểu mái kín kết cấu gỗ, đặc ruột bên trong, không có cửa sổ. Toàn diện thân tháp điêu khắc Phật tượng, tranh vẽ truyện Phật kinh và các thứ hoa văn. Phần thắt lưng tòa Tu di khắc tranh vẽ cốt truyện Phật Thích ca, thợ khắc thành thạo tỉ mỉ, là phong cách nghệ thuật điêu khắc của thời kỳ toàn thịnh đời Thanh. Tháp sát là một tòa tháp Lạt ma nhỏ theo kiểu Suất Đổ Ba, rất thường thấy trong những tháp vào thời kỳ Minh Thanh. Tháp được bảo tồn hoàn hảo, chỉ có tác phẩm điêu khắc phần dưới thân tháp bị liên quân tám nước đập phá một phần. ● 華 塔. Trong khuôn viên chùa Lục Dung, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Hình tháp hoa lệ hùng tráng hệt như trụ hoa mọc thẳng lên trời cho nên mới có tên gọi Hoa tháp. Nguyên tên là “Xá lợi Tháp”, được xây cất vào niên hiệu Đại Đồng thứ 3 (537) đời Lương thời Nam Triều, bên trong cất chứa xá lợi mà Pháp sư Đàm Dụ mang từ ấn Độ về. Vương Bột đời Đường từng đi dạo chùa này, có soạn “Quảng Châu Bảo Trang Nghiêm Tự Xá lợi Tháp Bi Ký”. Niên hiệu Thiệu Thánh thứ 4 (1097) đời Tống trùng tu, bên trong thờ phụng Hiền kiếp thiên Phật tượng, gọi là “Thiên Phật Tháp”. Tháp kết cấu bằng gạch gỗ, cao 57m, hình bát giác 9 tầng, mỗi tầng đều có tầng ngầm gồm 9 bậc 17 tầng, men theo bậc thang lên phía bên phải, xuống phía bên trái. Bên ngoài mỗi tầng đều có hành lang gấp khúc bao quanh, có thể tựa vào lan can nhìn ra xa thấy phong cảnh toàn thành. Đỉnh tháp có trụ đồng thiên Phật được đúc vào niên hiệu Chí Chính thứ 18 (1358) đời Nguyên, thân trụ khắc nổi dày đặc 1020 tượng Phật. Tháp này vẫn còn giữ hình thức và phong cách kiến trúc đời Tống. ● 化. 1. Giáo hóa. Hoằng Nhẫn Truyện trong Tống Cao Tăng Truyện ghi: “乃 以 法 服 付 慧 能、受 衣 化 於 韶 陽。 – Liền đem pháp phục trao cho Huệ Năng. Huệ Năng nhận y đi giáo hóa ở Thiều Dương.” 2. Đi khất thực, quyên góp. Pháp Diễn Ngữ Lục q.thượng: “白 雲 海 會 院。足 水 兼 柴 炭。唯 少 麻 與 麥。眾 人 皆 盡 見。親 去 化 檀 那 疏 卻 阿 羅 漢 且 望 大 慈 悲。一 一 看 佛 面。 – Trong viện Hải Hội chùa Bạch Vân có đủ nước, củi, than. Chỉ thiếu mè và lúa mạch, mọi người đều thấy hết. Hễ thân quen đi quyên góp của đàn việt, còn không thân thì từ khước cả A la hán. Thử hi vọng đức Đại Từ Bi cho mỗi người thấy được mặt Phật.” ● 化 主. 1. Đồng nghĩa với Giáo chủ, tức là Đức Thích Tôn. ● 2. Chỉ cho vị Trụ trì. Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di (Vạn Tục 148, 151 thượng) ghi: “既 爲 化 主 即 處 於 方 丈。 – Ai đã là Hóa Chủ thì được ở trong phương trượng”. ● 3. Gọi tắt của từ “Nhai phường hóa chủ”, chỉ cho vị tăng chuyên lo việc đi vào phố phường khuyến hóa đàn việt bố thí, giúp đỡ các chùa chiền, tự viện. Còn gọi: Hóa sĩ, cúng dường chủ. Tiết Chính pháp Hy Minh Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “幸 值 眾 僧 自 恣、化 主 還 山。 – Nhằm này chúng tăng tự tứ, hóa chủ trở về núi.” ● 化 母. Kẻ tạo ra vạn vật, nhà Phật dùng nó chỉ cho tâm tính. Thung Dung Am Lục q.1 ghi: “一 段 眞 風 見 也 麼、綿 綿 化 母 理 機 梭。織 成 古 錦 含 春象、無 柰 東 君 漏 泄 何。。。化 母 化 工 造 物 之 別 號。儒 道 二 教。宗 於 一 氣。佛 家 者 流。本 乎 一 心。圭 峰 道。元 氣 亦 由 心 之 所 造。 – Một đoạn chân phong có thấy chăng? Hóa mẫu luôn mãi bày khung cửi, dệt thành gấm đẹp chứa mùa xuân, tiếc rằng sao để lộ chúa xuân… Hóa mẫu là biệt hiệu của hóa công tạo vật. Nho giáo và Đạo giáo đều có tôn chỉ nơi nhất khí; hàng Phật gia lấy nhất tâm làm căn bản. Khuê Phong nói: Nguyên khí cũng do tâm tạo.” ● 化 祥 (1866-1922). Tăng nhân cận đại, họ Phương, pháp danh Diệu Tịch, người huyện Xạ Hồng, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Theo Hòa Thượng Tùng Ngạn Công xuất gia năm 26 tuổi, năm sau sư thụ giới Cụ túc ở chùa Vân Tụ tại Bắc Kinh. Sư còn đi về phương Nam đến các chùa: Kim Sơn ở Trấn Giang, Cao Mân ở Dương Châu để tham vấn các bậc Cao tăng Đại đức. Đến Xích Sơn theo ngài Pháp Nhẫn tụng kinh tập thiền, tỏ thông pháp yếu. Sư hoằng thiền ở hang Bí Ma núi Ngũ Đài. ● 和 和. Tiếng oa oa. Tiết Trung ấp Hồng Ân Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “每 見 僧 來、拍 口 作 和 和 聲。仰 山 謝 戒、師 亦 拍 口 作 和 和 聲。 – Mỗi khi thấy tăng đến, sư vỗ miệng kêu oa oa. Ngưỡng Sơn đến tạ giới sư cũng vỗ miệng kêu oa oa.” ● 1. Hỗn hợp, điều hòa. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL q.9 ghi: “有 志 之 士、纔 聞 此 話、便 能 於 六 根 六 塵 六 識 之 中、照 破 虛 妄、和 合 生 死、了 知 情 境 惑 業、如 幻 如 夢、如 影 如 響。 – Người có chí khí vừa nghe lời này liền có thể ở nơi sáu căn, sáu trần, sáu thức chiếu phá hư vọng, điều hòa sinh tử, biết rõ tình cảnh hoặc nghiệp như mộng như huyễn, như bóng như vang.” ● 2. Như ý, thuận lợi. Chương Tổ thứ 19 Cưu Ma La Đa trong CĐTĐL q.2 ghi: “我 家 父 母 素 信 三 寶 而 嘗 縈 疾 瘵。凡 所 營 作 皆 不 如 意。而 我 鄰 家 久 爲 旃 陀 羅 行。而 身 常 勇 健 所 作 和 合。彼 何 幸 而 我 何 辜。 – Cha mẹ ta rất tin Tam Bảo vậy mà hay bị bệnh và công việc làm ăn không như ý. Còn nhà hàng xóm lâu nay tu hạnh Chiên đà la vậy mà thân thường khỏe mạnh, công việc làm ăn thuận lợi. Tại sao họ có phúc còn ta lại vô phúc?” ● 和 羅 飯. Cơm Hòa la. Hòa la tức là bát Hòa la phạn (pravara a), Trung Quốc trước đây dịch là “Tự thú”, sau này dịch là “Tùy ý”. Vào ngày tự tứ (16 tháng 7 âm lịch), chư tăng đều được “Tùy ý” nêu tội lỗi của mình ra để sám hối trước đại chúng. Thiền Tông mượn thuật ngữ này để chỉ cho cơm Hòa la hay cơm Tùy ý. Bài Phóng Cuồng Ca trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục có ghi: 饑 則 喰 兮 和 羅 飯 困 則 眠 兮 何 有 鄉 “Cơ tắc xan hề hòa la phạn Khốn tắc miên hề hà hữu hương”. “Đói thì ăn hề, cơm tùy ý Mệt thì ngủ hề, nơi vô vi”. ● 和 南. Kính lễ, lễ bái. Chương Tăng già nạn đề, Tổ thứ 17 trong CĐTĐL q.2 ghi: “以 偈 告 其 父 母 曰:稽 首 大 慈 父、和 南 骨 血 母、我 今 欲 出 家、幸 願 哀 愍 故。 – Ngài dùng kệ thưa với cha mẹ rằng: Dập đầu trước cha lành, kính lễ mẹ hiền, nay con muốn xuất gia, cúi mong thương xót cho”. ● 和 泥 合 水. Còn gọi: Đà Nê Đới Thủy. Dùng phương thức phiền toái như ngôn ngữ v.v… để khêu gợi, tiếp dẫn người học. Nhìn từ góc độ không lập văn tự ngữ ngôn của Thiền Tông thì đây không phải là cách truyền dạy cao minh, song được phần đông chấp nhận vì giúp người học dễ tiếp thu. NĐHN q.20 ghi: “放 一 線 道、十 方 剎 海、放 光 動 地。是 則 是、爭 奈 和 泥 合 水。 – Mở ra một con đường, mười phương cõi nước đều rung động và phóng quang. Phải thì phải, tiếc rằng sử dụng phương tiện dạy người”. ● 和 麩 粜 麵. Đem cám trộn vào bột để bán. Đem giả tráo thật để lừa người. Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “眾 中 有 不 受 人 謾 底、便 道 楊 歧 和 麩 糶 麵。然 雖 如 是、布 袋 裡 盛 錐 子。 – Trong chúng có người chẳng chịu bị gạt, liền nói Dương Kỳ đem giả tráo thật. Mặc dù như vậy trong túi vải chứa đầy dùi”. ● 和 光 混 俗. Còn gọi: Cộng Tục Hoà Quang. ẩn giấu tài năng, hòa mình cùng trần tục. Tiết Tính Không Diệu Phổ Am Chủ trong NĐHN q.8 ghi: “磊 磊 落 落、無 罣 無 礙。六 十 餘 年、和 光 混 俗。四 十 二 臘、逍 遙 自 在。 – Thật là lỗi lạc, không còn bị ngăn ngại. Hơn 60 năm ẩn giấu tài năng hòa mình cùng trần tục. 42 lạp tiêu dao tự tại”. ● 禾 山. Còn gọi: Thu Sơn. Núi nằm về phía tây bắc huyện Vĩnh Tân, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Ngọn cao nhất gọi là Xích diện phong, dưới ngọn núi này có chùa Hòa Sơn (còn gọi chùa Cam Lộ). Xưa nay là một trong những đạo tràng nổi tiếng của Thiền Tông. Các vị như: Huệ Tông, Vô Ân, Đức Phổ, Huệ Phương lần lượt hoằng pháp tại đây. Người đời khi gọi Pháp hiệu của các vị, thường đặt 2 chữ Hòa Sơn ở trước. ● 禾 山 德 普. Thiền tăng Đức Phổ đời Tống trụ Hòa Sơn lâu đến 12 năm, người đời gọi là “Hòa Sơn Đức Phổ”. X. Đức Phổ. ● 和 贓 捉 敗. Bắt được kẻ trộm cùng với tang vật. Tiết Thủ Sơn Tĩnh Niệm Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “非 但 昨 日、今 日 和 贓 捉 敗。 – Chẳng những hôm qua, cả hôm nay cũng bắt được kẻ trộm cùng tang vật”. ● 和 聲 便 打. Lời nói chưa dứt liền bị đánh. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “若 是 五 祖 即 不 然。有 人 問 總 不 恁 麼 來 時 如 何。和 聲 便 打。 – Nếu là Ngũ tổ thì chẳng như thế. Có người hỏi: Khi tất cả chẳng như thế thì sao? Lời nói chưa dứt, liền bị đánh”. ● 和 尚 子. Xưng hô đối với tăng đồ. Chương Tuyết Phong Hòa Thượng trong TĐT q.7 ghi: “和 尚 子、若 實 未 得 悟 入、直 須 悟 入 始 得。 – Này các Hòa Thượng, nếu thực sự chưa được ngộ nhập thì cần phải ngộ nhập mới được.” ● 火 版. Tấm bảng gỗ treo trên bếp lò nơi Khố ty trong Thiền viện. Khi cơm đã chín, Phạn đầu đánh Hỏa bảng 3 tiếng, Hỏa đầu liền tắt bếp lửa. Đồng thời đại chúng ngưng việc tọa thiền, chuẩn bị ăn cơm. ● 火 浴. Còn gọi: Hỏa hóa, hỏa táng. Tông Môn Võ Khố ghi: “諸 方 尊 宿 示 滅。全 身 火 浴 得 舍 利 極 多。 – Bậc tôn túc ở các nơi thị diệt, dùng lửa thiêu toàn thân thâu được xá lợi rất nhiều.” ● 火 頭. Tên gọi chức vụ trông coi việc đèn đuốc. Còn gọi là Du đầu. Hoặc cho rằng người nấu cơm cũng gọi là Hỏa đầu. Chương Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong CĐTĐL q.10 ghi: “師 作 火 頭。一 日 閉 卻 門 燒 滿 屋 煙。叫 云:救 火 救 火。 – Sư làm Hỏa đầu, một hôm đóng chặt cửa, un khói đầy thất, kêu lên: Cứu lửa! Cứu lửa!”. ● 火 裏 螅 蟟 吞 却 虎. Trong lửa con thiêu thân nuốt con cọp. Lời nói vô nghĩa trong nhà thiền. Ám chỉ thiền pháp vi diệu hoặc chân như thật tướng không thể dùng ngữ cú thông thường mà biểu đạt. Tiết Tứ Châu Dụng Nguyên Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “一 二 三 四 五、火 裡 蝍 蟟 吞 卻 虎。六 七 八 九 十、水 底 泥 牛 波 上 立。 – Một hai ba bốn năm, trong lửa thiêu thân nuốt con cọp. Sáu bảy tám chín mười, trong nước trâu đất đi trên sóng”. ● 火 著. Còn gọi: Hỏa trợ. Que cời than. Chương Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư trong CĐTĐL q.8 ghi: “師 在 方 丈 與 杉 山 向 火 次。師 云。不 用 指 東 指 西。直 下 本 分 事 道 來。杉 山 插 火 著 叉 手 立。 – Sư đang cùng Sam Sơn hơ lửa nơi phương trượng, sư nói: Không cần chỉ đông chỉ tây, lập tức nói ra bản phận sự? Sam Sơn cắm chiếc que cời than rồi khoanh tay mà đứng.” ● 畫 餅 充 饑. Theo truyện Lư Dục thuộc Ngụy Thư trong Tam Quốc Chí: Thời Tam quốc, Ngụy Minh Đế có lần định tuyển chọn một vị Trung thư lang, nhưng lại sợ người ta tiến cử những người hữu danh vô thực, liền nói với các hạ thần rằng: “Đừng chọn những người chỉ có danh như vẽ bánh dưới đất, không no bụng được (Họa bính sung cơ)”. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho sự vô dụng của lời nói và chữ viết, muốn thoát sinh tử không nên mắc kẹt vào đó. Thiền Lâm Bảo Huấn q.3 (Đại 48, 1034 trung) ghi: “辯 公 謂 混 融 曰:像 龍 不 足 致 雨。畫 餅 安 可 充 饑。 – Biện Công bảo Hỗn Dung rằng: Rồng giả không thể làm được mưa, bánh vẽ sao hay đỡ được đói?”. ● 畫 樣 起 模. Lời nói và việc làm giả dối, chỉ bắt chước người xưa làm bộ làm tịch. Tiết Khai Phúc Ninh Thiền Sư trong TBCTT q.2 ghi: “俱 尸 城 畔、槨 示 雙 趺。熊 耳 峰 前、親 遺 隻 履。祖 禰 不 了、殃 及 兒 孫 畫 樣 起 摸、到 干 今 日。 – Bên thành Câu thi na, Phật ló hai bàn chân ra quan tài. Trước núi Hùng Nhĩ, Tổ lưu lại một chiếc dép. Nhà thờ Tổ còn chẳng rõ, gây hoạ đến con cháu, chỉ bắt chước người xưa làm bộ làm tịch cho đến hôm nay”. ● 畫 虎 成 狸. Vẽ cọp thành mèo. Tỷ dụ muốn khéo thành vụng. Mật Am Ngữ Lục ghi: “二 老 宿 敲 塼 打 瓦。瑯 琊 和 尚 畫 虎 成 狸。 – Hai vị lão túc gõ gạch đập ngói, Hòa Thượng Lang Da vẽ cọp thành mèo”. ● 畫 龍 點 睛. Vẽ rồng điểm mắt. Đi đúng trọng tâm. Theo Lịch Đại Danh Họa Ký của Trương Nham Viên: Thời Nam Bắc Triều có họa sĩ Trương Tăng Do vẽ 4 con rồng nhưng không vẽ con mắt (con ngươi) ở trên vách chùa An Lạc, Kim Lăng. Lý do là vì Trương cho rằng nếu vẽ mắt thì rồng sẽ bay mất. Mọi người không tin. Nhưng khi Trương vừa lấy bút điểm mắt cho một con rồng, thì sấm sét nổi lên, bức vách lung lay và con rồng có mắt vụt bay lên, còn ba con kia vẫn ở yên chỗ cũ. Thiền Tông dùng thành ngữ này để chỉ cho việc nắm lấy chỗ trọng tâm của vấn đề. ● 畫 蛇 添 足. Còn gọi: Dữ Xà Họa Túc. Vẽ rắn thêm chân. Theo Tề sách trong Chiến Quốc Sách, người nước Sở cho các xá nhân một chén rượu. Họ bàn nhau vẽ rắn thi, ai vẽ xong trước thì được uống rượu. Một người vẽ xong trước, thấy các bạn còn đang vẽ, anh cậy tài, ngồi vẽ thêm chân rắn. Vì thế hóa chậm và không được uống rượu. Thiền Tông dùng từ này để chỉ việc vốn đơn giản lại làm cho rối rắm vô ích. Nhàn Thiền Sư Ngữ Lục ghi: “上 堂:是 汝 諸 人 本 分 事、若 教 老 僧 道、即 是 與 蛇 畫 足。 – Sư thượng đường: ấy là việc bản phận của các ông, nếu bảo lão tăng nói, tức là vẽ thêm chân cho rắn” ● 鑊 湯 爐 炭. Vạc sôi lò lửa. Hình phạt khốc liệt dưới địa ngục. Tiết Thị Chân Ngộ Thiền Nhân trong HSLNMDT q.2 ghi: “鐵 床 銅 柱 依 幻 而 施 設、鑊 湯 爐 炭 依 幻 力 而 沸 騰。 – Giường sắt cột đồng nhờ vào sức huyễn mà lập bày, vạc sôi lò lửa nhờ vào sức huyễn mà sôi sục”. ● 懷 感. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thạch Môn Huệ Triệt, tông Tào Động. Sư trụ viện Bắc Thiền ở Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. ● 懷 海 (720-814). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người xứ Trường Lạc, Phúc Châu (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ núi Bách Trượng ở Tân Ngô (nay là huyện Phụng Tân, tỉnh Giang Tây). Thụy hiệu “Đại Trí Thiền Sư”. Tác phẩm: Bách Trượng Thanh Quy, Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Ngữ Lục, Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Quảng Lục 1 quyển. ● 淮 海. Hiệu của Thiền tăng Nguyên Triệu đời Tống. X. Nguyên Triệu. ● 懷 暉 (756-815). Còn gọi: Hoài Uẩn. Thiền tăng đời Đường, họ Tạ, người xứ Tuyền Châu, Trung Quốc, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ chùa Linh Nham rồi dời về chùa Bách Nham. Thụy hiệu “Đại Tuyên Giáo Thiền Sư”. ● 懷 祐. Thiền tăng đời Đường, người xứ Tuyền Châu, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. Sư trụ chùa Thê Hiền ở Lô Sơn. Thụy hiệu “Huyền Ngộ Thiền Sư”. ● 懷 空 (704-787). Thiền tăng đời Đường, họ Thương, người Hà Dương (nay là huyện Mạnh, Hà Nam) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Thần Hội. thuộc tông Hà Trạch đời thứ 2, cất am ở núi Định An, An Lạc, Hồ Bắc để ẩn tu. ● 懷 岳. Thiền tăng đời Đường, người Tuyền Châu, nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư trụ viện Báo Ân ở Chương Châu (nay thuộc huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. ● 懷 讓 (677-744). Thiền tăng đời Đường, họ Đỗ, người xứ An Khang, Kim Châu (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc; nối pháp Lục Tổ Huệ Năng, là học trò giỏi của Ngài. Sư trụ chùa Bát Nhã ở Hành Sơn, hoằng dương học thuyết của Huệ Năng, dùng cách giáo hóa cao vút, khó khăn, mở ra 1 phái Nam Nhạc nên người đời gọi Sư là “Nam Nhạc Hoài Nhượng”. Thụy hiệu “Đại Huệ Thiền Sư”. Tác phẩm: Nam Nhạc Đại Huệ Thiền Sư Ngữ Lục. ● 懷 楚. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Bạch Triệu Chí Viên. Sư trụ viện Trúc Càn ở An Châu (nay là huyện An Lục tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. ● 懷 敞 (1120-1195). Thiền tăng đời Nam Tống, họ Vạn, tự Nhân Thiền, người xứ Dư Hàng, Chiết Giang. Nối pháp Thiền Sư Thiên Đồng Tùng Cẩn, đời thứ 19 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Vạn Niên ở Thiên Đài. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 懷 深 (1077-1132). Thiền tăng đời Tống, họ Ưu, tự Từ Thọ, người đời gọi là “Từ Thọ Thiền Sư”; nối pháp Thiền Sư Tư Thánh Sùng Tín, tông Vân Môn. Sư trụ chùa Tư Phúc, Tây Am ở Tương Sơn. Tác phẩm: Từ Thọ Thâm Hòa Thượng Quảng Lục. ● 懷 信 (1280-1357). Thiền tăng đời Nguyên, họ Khương, hiệu Phu Trung, người xứ Phụng Hóa (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Trúc Tây Diệu Đán, tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Quán Âm ở Minh Châu (nay thuộc huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang). Ít lâu sau, Sư dời về chùa Phổ Đà. ● 懷 晝. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thanh Phong Truyền Sở. Sư trụ chùa Khai Sơn ở Phòng Châu (nay là huyện Phòng, tỉnh Hồ Bắc). ● 懷 忠. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Giáp Sơn Thiện Hội. Sư trụ núi Tiêu Dao ở Phủ Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. ● 懷 惲. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng, tông Tào Động. Sư trụ chùa Quy Tông ở Lô Sơn và còn trụ núi Bách Trượng. ● 懷 渭 (1317-1375). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Ngụy, tự Thanh Viễn, hiệu Trúc Am, người xứ Nam Xương (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Long Tường Toàn Ngộ. Sư trụ các chùa: Bảo Tướng, Báo Ân, Tịnh Từ. Tác phẩm: Tứ Hội Ngữ Lục, Trúc Am Ngoại Tập. ● 還 (k. ng). Phó từ nghi vấn, tương đương với “khả”, có nghĩa là “hay không?” Hoài Hải trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q.1 ghi: “山 下 有 一 虎 子、爾 還 見 麼? – Dưới núi có một con cọp, ngươi có thấy hay không?” Bình Điền Phổ Ngạn Thiền Sư trong NĐHN q.4 ghi: “爾 還 曾 見 我 嫂 也 未? – Ông có lần nào gặp chị dâu của tôi chưa?” ● 還 古 未 了 還 今 到 來. Trở về xưa chưa đến, trở về nay đến rồi. Thuật ngữ biểu thị Thật tướng của các pháp không có tướng khứ lai, bởi vì bản chất và trạng thái chân thật của vạn sự vạn vật trong vũ trụ xưa nay là Như thị. ● 還 普. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Giáp Sơn Thiện Hội. Sư trụ Thiều Sơn ở Lạc Dương. Thụy hiệu “Vô Úy Thiền Sư”. ● 還 山 錄. Gọi đủ: Cổ Sơn Vi Lâm Thiền Sư Hoàn Sơn Lục. Còn gọi: Vi Lâm Thiền Sư Hoàn Sơn Lục. Ngữ Lục, 4 quyển, do Vi Lâm Đạo Bái soạn vào đời Thanh, nhóm ông Hưng Đăng… biên tập, thu thập các Ngữ Lục từ lúc sư Đạo Bái trụ Cổ Sơn trở về sau nên gọi là Hoàn Sơn Lục, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 125, trang 921. Nội dung bao gồm: Thượng đường, Thị chúng, Phật sự, Kệ, Tán, Tự, Đề bạt, Ký. Quyển cuối phụ lục 1 thiên “Lữ Bạc Huyễn Tích” là ghi lại phần tự thuật về cuộc đời và tác phẩm của Sư. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 27 (1688) đời Thanh. ● 還 他. Buông bỏ. Một phần bài tán của Bảo Phác trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 欲 知 鹽 味 全 還 他 老 鼠 〖⿱漸耳〗 Dục tri diêm vị toàn Hoàn tha lão thử nỉ Muốn biết toàn vị mặn Buông bỏ con chuột đi! (Muốn biết trọn vẹn pháp giải thoát của Phật thì hãy buông bỏ ý niệm sinh diệt của thời gian.) ● 還 中 (780-862). Thiền tăng đời Đường, họ Lữ, người xứ Phố Bản, Hà Đông (nay là huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải. Sư trụ chùa Thường Nhạc ở Hành Sơn. Thụy hiệu “Tính Không Đại Sư”. ● 寰 中 虛 白. Hoàn trung có nghĩa là trống rỗng; hư bạch là tâm thuần khiết. Chỉ cho cảnh giới tuyệt đối siêu việt thiện ác, thị phi, hữu vô, mê ngộ… ● 闤 中 天 子 塞 外 將 軍. Hoàn trung thiên tử tức là Hoàng đế có quyền hành tối cao trong nước. Tái ngoại tướng quân tức là vị tướng quân ở ngoài biên giới, có quyền xử lý các sự việc một cách tạm thời. Thiền Sư thường dùng lời này để ngầm chỉ dạy người học hãy lãnh ngộ tự tâm là Phật, chính mình là chủ. NĐHN q.14 ghi: “問:如 何 是 學 人 自 己?師 曰:寰 中 天 子、塞 外 將 軍。 – Hỏi: Thế nào là tự kỷ của học nhân? Sư nói: Hoàng đế ở trong triều, tướng quân ở ngoài biên ải”. ● 喚 鐘 作 瓮. Nhận lầm cái ly là cái hũ, dụ cho nhầm lẫn sự lý. Vô Môn Quan ghi: “者 僧 聽 事 不 眞、喚 鐘 作 瓮。 – Vị tăng này nghe sự việc không chính xác cho nên nhận lầm cái ly là cái hũ.” ● 喚 奴 作 郎. Nhận lầm người tớ là ông chủ, dụ cho nhầm lẫn sự lý, không biết tự tâm là Phật, tự mình là chủ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “且 喚 什 麼 作 靈 覺。有 般 漢。東 西 不 辨。南 北 不 分。便 道。經 行 及 坐 臥 是。喫 粥 喫 飯 是。正 是 喚奴 作 郎。認 賊 爲 子。 – Thử nói cái gì là linh giác? Có hạng người đông tây không rõ, nam bắc chẳng phân, liền nói kinh hành cùng ngồi nằm, ăn cháo ăn cơm là đạo. Đây đúng là cho tớ là chủ, nhận giặc làm con.” ● 黄 壁 斷 際 語 錄. Còn gọi: Đoạn Tế Thiền Sư Ngữ Lục, Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Hoàng Bá Hy Vận soạn vào đời Đường, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 118, trang 180. Nội dung bao gồm cơ duyên ngữ cú của Hoàng Bá Hy Vận tham yết ngài Bách Trượng Hoài Hải, cho đến các lời thượng đường, Pháp Ngữ vấn đáp thị chúng. ● 黃 蘗 虎 話. Cơ ngữ qua lại giữa Hoàng Bá và Thầy của sư là Bách Trượng Hoài Hải. Công án này được thấy nơi tiết Hoài Hải đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q.1 như sau: “師 問 黃 檗:甚 處 來?檗 云:山 下 采 菌 子 來。師 云:山 下 有 一 虎 子、汝 還 見 麼?檗 便 作 虎 聲、師 於 腰 下 取 斧 作 斫 势。檗 約 住 便 掌。師 至 晚 上 堂 云:大 眾、山 下 有 一 虎 子、汝 等 諸 人 出 入 好 看、老 僧 今 朝 親 遭 一 口。 – Hoài Hải hỏi Hoàng Bá: Ở đâu đến? Bá đáp: Nhổ nấm dưới núi đến. Hải hỏi: Dưới núi có một con cọp ngươi có thấy chăng? Bá liền làm tiếng cọp rống. Hải rút chiếc búa bên lưng làm bộ chém. Bá ra hiệu bảo Hải dừng lại rồi tát Hải một tát. Buổi chiều, Hải thượng đường nói: Đại chúng, dưới núi có một con cọp, các ngươi ra vào phải chú ý, sáng nay lão tăng bị nó ngoặm một miếng.” Công án phản ánh sự tiếp cơ nhạy bén và tùy chỗ làm chủ của Hoàng Bá Hy Vận cùng với sự tán thành của Hoài Hải đối với Hoàng Bá. ● 黄 壁 山. 1. Còn gọi: Thứu Phong Sơn. Núi thuộc huyện Nghi Phong, tỉnh Giang Tây,Trung Quốc, cách trung tâm huyện 57km về phía tây. Đời Đường Tống, Thiền Sư Hy Vận đến đây khai sơn. Chẳng bao lâu người học khắp nơi nghe danh Ngài nên tụ hội về, số người vãng lai có hơn ngàn vị. Đường Tuyên Tông từng đến núi này, cùng với Hy Vận ngắm thác nước, làm thơ phú. Từ đó, tông phong Hoàng Bá thạnh hành ở Giang Nam. Các vị trụ trì nối tiếp Thiền Sư Hy Vận gồm có: Pháp Tế, Chí Nhân, Duy Sơ, Duy Thắng, Đạo Toàn, Vĩnh Thái, núi càng thêm nổi tiếng. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 9 (1139) đời Tống, Vua Cao Tông ban cho chùa tên “Báo Ân Quang Hiếu Thiền Tự”, cốt để truy niệm chỗ Vua cha xuất gia (Tống Huy Tông). Niên hiệu Trung Hiệp đời Minh, chùa đã bị phá hủy một lần. Về sau, sư Thường Huệ v.v… từng phục hưng lại chùa. ● 2. Còn gọi: Nam Sơn. Núi thuộc huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến, nằm cách Tây thành 17km. Vì núi sản xuất rất nhiều cây Hoàng Bá nên có tên như thế. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 5 (789) đời Đường, Thiền Sư Chính Can khai sơn cất chùa, tên là Bát nhã Đường. Về sau bị nạn phá bỏ chùa miếu, trải qua 8 năm, chùa đổi tên là Kiến Phúc Tự. Thiền Sư Hy Vận đến trụ núi này, danh tiếng Hoàng Bá nổi lên nhanh chóng. Về sau trở thành đại đạo tràng của tông Lâm Tế, rất hưng thạnh vào đời Tống. Sau đó chùa trải qua bao phen thăng trầm. Minh Thần Tông ban cho tấm biển “Vạn Phúc Thiền Tự”. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 14 (1641) đời Minh, sư ẩn Nguyên trùng hưng núi này. Về sau, ẩn Nguyên đi sang Nhật Bản, khai sáng Vũ Trị Đại Hòa Sơn, phỏng theo quy mô của chùa này và đặt tên là “Hoàng Bá Sơn Vạn Phúc Thiền Tự”. (Obaku san Manpuku ji) ● 黄 壁 山 志. Chí, 8 quyển, do Tính U biên tập vào đời Thanh, ẩn Nguyên sửa lại, ghi chép lại lúc bắt đầu, lịch trình thay đổi và phát triển Vạn Phúc Thiền Tự ở núi Hoàng Bá, huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Nội dung chia làm 8 loại: Sơn, Tự, Tăng, Pháp, Tháp, Ngoại hộ, Văn, Thi kệ dật sự. Quyển đầu có phụ bản đồ cảnh chùa và tháp đài. Hơn nữa còn ghi lại nguồn gốc và sự phát triển dòng chính của Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận cho đến pháp hệ của Thiền Sư ẩn Nguyên. Sách được biên tập xong vào niên hiệu Đạo Quang thứ 4 (1824) và được khắc bản vào niên hiệu Đạo Quang thứ 10 (1830) đời Thanh. ● 黄 壁 山 斷 際 禪 師 傳 心 法 要. Ngữ Lục, 1 quyển, do Hoàng Bá Hy Vận soạn vào đời Đường. Vào niên hiệu Đại Trung thứ 11 (857) đời Đường, Bùi Hưu ghi chép lại những Pháp Ngữ của Hy Vận mà ông đích thân nghe được trong những năm tháng gần gũi Ngài. Đầu quyển có bài tựa của Bùi Hưu, cuối quyển có phụ “Uyển Lăng Lục”, và được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 379 Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 9. Các chương đều bỏ bớt năm tháng, cuối quyển lại tỉnh lược 1/3 và phụ thêm bằng kệ Truyền Tâm, thể tứ ngôn trường thiên của Bùi Hưu. ● 黄 壁 清 規. Sách, 1 quyển, do Cao Tuyền Tính Xích biên tu vào đời Thanh, Mộc Am Tính Đạo hiệu duyệt, được xếp vào Đại chính Tạng tập 82, trang 766. Sách này phỏng theo thể lệ của “Bách Trượng Thanh Quy”, trình bày về những quy tắc nghi thức do ẩn Nguyên Long Kỳ chế định. ẩn Nguyên là Trụ trì pháp hội núi Hoàng Bá, sau đó sang Nhật Bản sáng lập ra tông Hoàng Bá, nên sách này có tên là Hoàng Bá Thanh Quy. Nội dung gồm 10 chương: Chúc hy, Báo ân, Tôn tổ, Trụ trì, Phạm hạnh, Phúng tụng, Tiết tự, Lễ pháp, Phổ thỉnh, Thiên hóa và phụ lục Phật sự Phạm bối tán, Khai sơn dự chúc ngữ, Tháp viện quy ước, Cổ đức tập yếu, Pháp cụ đồ. ● 黃 白 器 物. Chỉ cho vàng bạc. Tông Môn Võ Khố ghi: “入 塔 時 門 人 恐 平(指 大 陽 平 禪 師)將 不 利 於 師(明 安 禪 師)。遂 作 李 和 文 都 尉 所 施 黃 白 器 物。書 於 塔 銘。而 實 無 也。 – Khi nhập tháp, môn nhân lo sợ Thiền Sư Đại Dương Bình gây bất lợi cho sư (Thiền Sư Minh An) bèn giả vờ đem việc Lý Hòa Văn Đô úy cúng vàng bạc ghi vào tháp minh, nhưng sự thực là không có.” ● 黄 榜 式. Thiền viện dùng giấy vàng làm tờ yết thị thông báo công việc phải làm gọi là Hoàng bảng thức. Như quy định trong chương Chúc Ly, Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, thì vào ngày sinh của Hoàng đế (Thiên thọ thánh tiết) phải thiết lập đạo tràng Kim Cang Vô Lượng Thọ và viết trên “Tấm giấy vàng” hàng chữ: “Kim Thượng Hoàng Đế thánh thọ vạn tuế”, ghi pháp hiệu của Trụ trì dán trên miếng gỗ rồi đem gắn lên bên phải cửa chùa. ● 黄 面 老 子. Còn gọi: Hoàng Diện Cù Đàm, Hoàng Diện Lão, Hoàng Đầu Đại Sĩ, Hoàng Đầu Lão, Hoàng Diện, Hoàng Lão, Hoàng Đầu. Chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thân của Ngài là thân kim sắc nên có tên là Hoàng diện (mặt vàng). Lại, thành Ca Tỳ La Vệ, tên Phạn là: Kapilavastu, trong đó, Kapila là màu vàng, vastu là thành, trụ sở. Bởi Đức Thích ca sinh ra nơi thành này nên gọi Ngài là Hoàng Diện Lão Tử (Ông già mặt vàng). Thiền Tông dùng từ này chỉ cho cơ pháp chửi Phật mắng Tổ. Điều Thế Tôn Niêm Hoa trong Vô Môn Quan (Đại 48, 293 hạ) ghi: “黃 面 老 子 誑 謼 閭 閻 若 道 無 傳 授 爲 甚 麼 獨 許 迦 葉。 – Ông già mặt vàng dối gạt nhân gian, nếu nói không truyền thọ tại sao lại riêng trao cho ngài Ca diếp?”. ● 黄 楊 木 禪. Thiền pháp như cây Hoàng Dương. Lời quở mắng kẻ độn căn tham thiền hoài mà không tỏ ngộ. Tục bảo rằng cây Hoàng Dương lớn lên rất chậm, nếu gặp năm nhuận thì thân bị co rút lại 3cm. Tiết Tẩm Thực Lưỡng Vong trong Thiền Quan Sách Tiến ghi: “見 密 菴 傑、隨 問 隨 答、密 歎 曰:黃 楊 木 禪 耳!奪 勵 彌 切、至 忘 寢 食。 – Sư đến học với Mật Am Kiệt. Kiệt hỏi đến đâu, Sư trả lời đều thông suốt cả. Kiệt than: Thiền pháp như cây Hoàng Dương mà thôi! Sư càng cố gắng tinh tấn hơn, cho đến quên ăn quên ngủ”. ● 黄 頭. Người vàng, chỉ cho Đức Phật. Bài tụng thứ tư trong phần Tụng Cổ của Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 黃 頭 饒 舌 賺 眾 生 處 處 年 時 獨 自 行 不 管 夜 闌 猶 夢 裏 丁 東 鳳 闕 曉 催 更。 “Hoàng đầu nhiêu thiệt trám chúng sinh Xứ xứ niên thời độc tự hành Bất quản dạ lạn du mộng lý Đinh đông phụng khuyết hiểu thôi canh. “ “Người vàng (Phật) khua lưỡi gạt chúng sinh, chốn chốn ngủ say – dạo một mình. Chẳng quản đêm tàn còn mộng mị. Đinh, đông cửa phượng giục tàn canh”. ● 黄 庭 堅 (1045-1105). Cư sĩ đời Tống, tự là Lỗ Trực, hiệu là Sơn Cốc Đạo Nhân, Phù Ông, người Phần Ninh, Hồng Châu (nay là Tu Thủy, Giang Tây), Trung Quốc. Niên hiệu Trị Bình thứ 4 (1067) đỗ Tiến sĩ. Lần lượt nhậm chức Quốc tử giám Giáo thọ, Khởi cư xá nhân, Bí thư thừa. Bởi mắc tội sửa chữa sách “Thần Tông Thực Lục” không chân thật nên bị giáng chức làm Biệt giá ở Phù Châu. Sau lại phạm tội “Văn chương báng quốc” nên bị quản thúc ở Nghi Châu. Ông có khuynh hướng chính trị cựu đảng, là một nhân vật đại biểu cho phái Thục Học. Sáng lập “Giang Tây Thi Phái” có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Từng hỏi đạo với Thiền Sư Hối Đường, lại yết kiến Thiền Sư Tử Tâm, có chỗ tỉnh ngộ. Ngoài ra ông còn viết bài tựa các Ngữ Lục của các Thiền Sư Thúy Nham Chân, Vân Cư Hựu, Đại Quy Triết, Thúy Nham Duyệt v.v… lại làm bài minh trên bia tháp của các Đại sư Hoàng Long Tâm, Phúc Xương Tín, Pháp An, Trí Ngộ. Bởi trên đường chính trị ông bị bao nỗi thăng trầm, nên không những ông thích giáo lý “chư hành vô thường, nhất thiết giai khổ; chư pháp vô ngã, tịch diệt vi lạc”, mà còn say mê cảnh giới tự tại nhất thiết tùy duyên. Tác phẩm: Sơn Cốc Tập. ● 黄 端 伯 (?-1645). Cư sĩ đời Minh, tự Nguyên Công, hiệu Hải Ngạn Đạo Nhân, người Tân Thành (nay thuộc Giang Tây) Trung Quốc. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 1(1628) đậu Tiến sĩ, làm quan Lễ bộ lang trung. Sau vì quân lính nhà Thanh bắt giam, ông bất khuất chịu chết. Ông rất thích Phật pháp, từng tham học với Thiền Sư Vô Minh Huệ Kinh tông Tào Động. Ngày đêm tham cứu công án “Cây bách trước sân” có chỗ tỉnh ngộ. Tác phẩm “Di sớ”, “Dao Quang Các Tập”. ● 黄 金 擔 子 千 鈞 重. Kẻ gánh vàng ròng nặng ngàn cân, Thiền Tông dùng thuật ngữ này dụ cho khí thế mạnh mẽ của người ngộ đạo. Hư Đường Lục q.9 (Đại 47, 1055 thượng) ghi: “僧 云:世 尊 云:吾 有 正 法 眼 藏、分 付 摩 訶 大 迦 葉。此 意 又 作 麼 生?師 云:黃 金 擔 子 千 鈞 重。 – Tăng hỏi: Thế Tôn nói: Ta có Chính Pháp Nhãn Tạng phó chúc cho Ma ha Ca diếp, ý này thế nào? Sư đáp: Kẻ gánh vàng ròng nặng ngàn cân”. ● 黄 金 宅. Chỉ cho già lam. Ngày xưa ở ấn Độ, trưởng giả Tu Đạt muốn mua mảnh vuờn của Thái tử Kỳ Đà để xây cất tinh xá. Thái tử nói chơi: Nếu lát vàng ròng khắp vườn thì mới chịu bán. Trưởng giả y theo lời cho lát vàng khắp vườn. Thái tử cảm kích lòng chí thành của ông bèn hiến cúng mảnh vườn, trưởng giả liền xây dựng tinh xá Kỳ Viên. ● 黄 龍 達. Thiền tăng đời Tống, tên Kế Đạt, ở Hoàng Long, My Châu, người đời gọi là “Hoàng Long Đạt”. X. Kế Đạt. ● 黄 龍 慧 南 禪 師 語 錄. Còn gọi: Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Hoàng Long Huệ Nam nói vào đời Tống, Huệ Tuyền biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120 trang 187. Nội dung bao gồm các Ngữ Yếu, kệ tụng của Thiền Sư Huệ Nam. Đầu tiên là 11 điều Thượng đường ngữ của Hoàng Long buổi đầu trụ Thiền viện Đồng An Sùng Thắng. Sau đó theo thứ tự là: ― 13 điều Ngữ Lục của sư khi đời về chùa Quy Tông. ― 14 điều Pháp Ngữ lúc ở núi Hoàng Bá, Quân Châu. ― 14 điều Ngữ Lục ở núi Hoàng Long. Phần sau có 40 bài kệ tụng. Trong Ngữ Yếu cũng có thu thập các cơ ngữ của những bậc cổ đức như: Dược Sơn, Hoài Nhượng, Hy Vận, Vân Môn, Đại Điên, Nghiêm Dương, Lâm Tế, Đức Sơn, Cảnh Thanh, Lặc Đàm, Vĩnh Gia, Bàng cư sĩ, Đại Châu. ● 黄 龍 慧 南 禪 師 語 錄 續 補. Ngữ Lục, do Hoàng Long Huệ Nam soạn vào đời Tống, Cao Phong Đông Tuấn ở viện Lưỡng Túc, chùa Kiến Nhân, Kyoto, Nhật Bản biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120 trang 201. Tác giả thu thập hơn 50 điều Ngữ Yếu của Thiền Sư Hoàng Long Huệ Nam từ các sách: Liên Đăng Hội Yếu, Gia Thái Phổ Đăng Lục, Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu, Thiền Môn Niêm Tụng tập, Vĩnh Bình Quảng Lục, Vô Thị Giới Kham, Thiền Sư Ngữ Lục và thu thập 12 bài kệ tụng từ các sách: Gia Thái Phổ Đăng Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên, Lâm Gian Lục, Vân Ngọa Kỷ Đàm để biên thành sách này. ● 黄 龍 山. Núi nằm ở nơi giáp ranh của 3 tỉnh Tương (Hồ Nam), Ngạc (Hồ Bắc), Cám (Giang Tây), phía tây huyện Tu Thủy, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Là ngọn núi chính trong dãy núi Mạc Phụ, cách mặt biển hơn 1.500m, diện tích khoảng 27 ㎢. Tương truyền trên đỉnh núi có một con rồng vàng có thể kêu gió gọi mưa nên núi này được đặt tên “Hoàng Long”. Đời Đường, ngài Hối Cơ khai sơn, đến đời Tống ngài Huệ Nam hoằng dương thiền pháp ở núi này. Các đời sau kế thừa ngài làm thành pháp hệ “Hoàng Long phái”, các vị đó là: Tổ Tâm, Ngộ Tân, Duy Thanh, Trí Minh, Đức Phùng, Đạo Chấn, Pháp Trung. Họ nối tiếp trụ trì ở núi này hơn 150 năm, tông phong rất thạnh. Dưới núi là chùa Hoàng Long, chỉ còn 2 gian điện sót lại, mé bên trái chùa có “Tinh tỉnh” (giếng sao) và Tứ phương Thạch Tỉnh đình được xây vào đời Minh là vẫn còn hoàn hảo. ● 黄 龍 四 家 語 錄. Ngữ Lục, 4 quyển do Huệ Tuyền biên tập vào đời Tống, bao gồm Ngữ Lục của 4 vị Thiền Sư thuộc phái Hoàng Long, tông Lâm Tế, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120. Theo thứ tự là: 1. Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư Ngữ Lục. 2. Bảo Giác Tổ Tâm Thiền Sư Ngữ Lục của Hối Đường Tổ Tâm, đệ tử ngài Huệ Nam. 3. Tử Tâm Ngộ Tân Thiền Sư Ngữ Lục của Tử Tâm Ngộ Tân, đệ tử ngài Tổ Tâm. 4. Siêu Tông Huệ Phương Thiền Sư Ngữ Lục của Hòa Sơn Huệ Phương, đệ tử ngài Ngộ Tân. Huệ Tuyền – người biên tập Ngữ Lục này – chính là bạn đồng môn với Hòa Sơn Huệ Phương. Quyển đầu có bài tựa do Tiền Mật viết vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 11 (1141) đời Tống. ● 黄 茂 林 (?-1933). Học giả Phật giáo cận đại, người tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông tinh thông Anh văn, từng ở Hongkong và nước Anh để nghiên cứu về tư tưởng Tiểu thừa. Sau ông quy y với Đại Sư Thái Hư và tin theo Đại thừa. Tác phẩm: Ông dịch sang Anh văn các quyển kinh: Pháp Bảo Đàn, Thập Thiện Nghiệp Đạo và sáng lập tạp chí Phật giáo Trung Quốc. ● 橫 病. Bệnh tật bất ngờ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “法 喜 禪 悦 身 光 自 照。思 衣 羅 綺 千 重。思 食 百 味 具 足。更 無 横 病。 – Khi được thiền duyệt pháp hỷ thì hào quang nơi thân tự chiếu, nghĩ đến mặc liền có muôn lớp lụa là, nghĩ đến ăn liền có đầy đủ trăm vị, cũng không có bệnh tật bất ngờ”. ● 橫 該 竪 括. Còn gọi: Hoành cai thụ mạt. Thiền pháp được lập bày một cách xứng tính (tùy tính nhậm ý), chẳng bị câu thúc mà còn khế hợp ở mọi chỗ, là thiền pháp được vận dụng đến cảnh giới cao siêu. Mật Am Ngữ Lục ghi: “坐 見 聲 和 响 順、萬 法 無 差、舉 一 明 三、目 機 銖 兩;橫 該 竪 括、縱 奪 臨 時。 – Ngồi yên thấy tiếng hòa vang thuận, muôn pháp không khác; căn cơ lanh lợi vừa trông qua sự vật liền phán đoán được; đấy là thiền pháp được vận dụng đến cảnh giới cao siêu, cho lấy đúng thời”. ● 橫 擔 拄 杖. Chư tăng ra ngoài hành cước. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “僧 問:冬 去 春 來 時 如 何?師 云:橫 擔 拄 杖、東 西 南 北、一 任 打 野 榸。 – Tăng hỏi: Lúc Đông đi Xuân lại thì thế nào? Sư nói: Ra ngoài hành cước khắp nơi, mặc cho ông ra ngoài hành cước”. ● 橫 眠 竪 坐. Nằm ngang ngồi thẳng, chỉ cho việc bình thường, lẽ đương nhiên. NĐHN q.11 ghi: “如 何 是 道 中 人?師 云:橫 眠 竪 坐。 – Hỏi: Thế nào là người trong đạo? Sư nói: Nằm ngang ngồi thẳng”. ● 橫 拈. Còn gọi: Hoành Niêm Thụ Phóng, Hoành Niêm Đảo Dụng. Lúc Thiền Sư chỉ dạy người học, ngài tùy ý nói một cách vô ngại. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “這 老 漢(趙 州)平 生 不 以 棒 喝 接 人。。。蓋 爲 他 平 生 無 許 多 計 較、所 以 橫 拈 倒 用、逆 行 順 行、得 大 自 在。 – Ông già này (Triệu Châu) suốt đời không dùng đánh hét để tiếp người… Bởi vì ông ta (Triệu Châu) cả đời không có nhiều suy nghĩ so đo, cho nên tùy ý nói làm ngược làm xuôi một cách tự tại”. ● 橫 川. Hiệu của Thiền tăng Như Củng đời Tống mạt Nguyên sơ. X. Như Củng. ● 豁 豁. Hiểu rõ, thông đạt. Bài Nhất Bát Ca trong CĐTĐL q.30 ghi: “丈 夫 語 話 須 豁 豁、莫 學 癡 人 受 摩 捋。 – Bậc trượng phu đối với cơ ngữ của người xưa cần thông đạt, đừng bắt chước kẻ ngu hiểu biết qua loa”. ● 豁 然. Hiểu rõ, rõ ràng. Chương La hầu đa la, Tổ thứ 16 trong CĐTĐL q.2 ghi: “難 提 心 意 豁 然、即 求 度 脫。 – Tâm ý Nan đề hiểu rõ liền xin ngài độ thoát”. ● 活 句 死 句. Còn gọi: Hoạt Ngữ, Tử Ngữ. Hoạt cú là câu linh diệu, vượt thoát mọi phân biệt. Tử cú là câu nói không hoạt dụng. Lâm Gian Lục q. thượng (Vạn Tục 148, 299 hạ) ghi: “語中 有 語、名 爲 死 句;語 中 無 語、名 爲 活 句。 – Thiền Sư Động Sơn Thủ Sơ bảo: Trong câu có lời gọi là tử cú, trong câu không lời gọi là hoạt cú”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 活 計. 1. Nghề nghiệp mưu sinh, công việc. Trong các trước tác Thiền Tông phần nhiều dùng từ này để dụ cho thiền pháp hoặc hành vi cơ dụng. Mật Am Ngữ Lục ghi: “方 圓 不 用 機 謀 力。長 短 休 將 語 默 尋。一 斧 便 成 眞 言 計。三 思 始 就 費 光 陰。 – Vuông tròn không cần đến cơ mưu, dài vắn chớ đem nói nín tìm. Một chiếc búa cũng là nghề nghiệp chân chính, suy nghĩ chỉ làm phí thời gian.” ● 2. Công cụ, gia sản sinh sống. Chương Khuông Ngộ Thiền Sư trong CĐTĐL q.17 ghi: “問:如 何 是 閉 門 造 車。師 曰。活 計 一 物 無。 – Hỏi: Thế nào là đóng cửa tạo xe? Sư đáp: Gia sản không có gì cả.” ● 活 人 劍. Đối lại: Sát Nhân Đao (Đao giết người). Gươm cứu sống người; kiếm, đao được dùng để dụ cho trí huệ. Thiền Tông dùng từ Hoạt nhân kiếm để dụ cho khả năng đánh thức người học quay về linh tính sẵn có. Ngược lại, Sát Nhân Đao để chỉ cho phương tiện làm cho người học mắt kẹt vào tình thức phân biệt. Chương Nham Đầu Toàn Khoát trong CĐTĐL q.16 (Đại 48, 152 hạ) ghi: “石 霜 雖 有 殺 人 刀、且 無 活 人 劍。 – Thạch Sương tuy có đao giết người, nhưng không có gươm cứu người”. Phần Thùy Thị, tắc 12, Bích Nham Lục (Đại 48, 152 hạ) ghi: “殺 人 刀、活 人 劍、乃 上 古 之 風 規、亦 今 時 之 樞 要。 – Đao giết người, gươm cứu người là quy cách đã có từ xưa, và cũng là chỗ then chốt ngày nay”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 弘 辨. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Hoài Uẩn, trụ chùa Đại Tiến Phúc ở Trường An. Vua ban hiệu “Viên Trí Thiền Sư”. ● 弘 照 大 師. Thiền tăng đời Đường, thụy hiệu Linh Huấn. ● 弘 烛 (610-1683). Thiền tăng đời Thanh, họ Mao, người xứ Sơn Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tung Nhũ Đạo Mật, tông Tào Động. Sư trụ trì chùa Hồng Phúc. ● 弘 證 (1588-1646). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, tự Tại Khả, hiệu Đại Thọ, người xứ Vô Tích (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Hoa Tạng ở Lương Khê, chùa Thanh Lương ở Tam Phong. ● 弘 章. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Hoài Uẩn. Sư kế tiếp thầy, trụ trì chùa Quy Tông. ● 弘 曇 (1602-1671). Thiền tăng đời Thanh, họ Tô, tự Linh Thụy, người xứ Chư Thành (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tung Nhũ Đạo Mật. Sư trụ các chùa: Báo Ân, Bồ Đề. ● 弘 瑫. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Tuyền Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư trụ viện An Quốc, Phúc Châu. Thụy hiệu “Minh Chân Thiền Sư”. ● 弘 道 大 師. Thiền tăng đời Đường, thụy hiệu Duy Nghiễm. X. Duy Nghiễm. ● 弘 覺 大 師. 1. Thiền tăng đời Đường, thụy hiệu Đạo Ưng. X. Đạo Ưng ● 2. Thiền tăng đời Thanh, tên Đạo Mân, Vua ban hiệu Hoằng Giác Thiền Sư. X. Đạo Mân. ● 宏 覺 寺 塔. Ở núi Ngưu Thủ, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Niên hiệu Đại Lịch thứ 1 (766) đời Đường vua Đại Tông cảm ứng theo giấc mộng, ra lệnh xây tháp tại bên trái điện chùa Hoằng Giác, niên hiệu Đại Lịch thứ 9 (774) xây xong. Tháp hình bát giác 7 tầng bằng gạch, cao khoảng 25m. Phần bên trong hình vuông, mỗi tầng không ngay thẳng nhau mà xê xích 45o cho nên gọi là “Thác giác kết cấu”, thang lầu nơi trung tâm tháp nay đã hư. Mái tháp, đấu củng, tòa bằng đều bằng gỗ. Mỗi mặt tháp mở ra ba gian, bốn mặt mỗi tầng đều mở ra cửa vòm. Hai bên cửa tháp có khám đèn hình vuông, vách tường bên trong khám đều có làm bích động hình cung tròn để tăng cường hiệu quả phản quang. Đời Minh từng đại tu tháp này, ở mặt bên cửa tháp có bia khắc vào niên hiệu Sùng Trinh (1628-1643) đời Minh. Năm 1956 tại giữa đáy tháp phát hiện địa cung, trong có một tòa tháp Lạt ma bằng vàng ròng, bên cạnh tháp có hộp sứ, bình ngọc, tượng Phật điêu khắc bằng sừng thú. ● 弘 教 大 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, hiệu Đạo Phổ. X. Đạo Phổ. ● 弘 教 大 徹 禪 師. Thiền tăng đời Minh, tên Đàm Tốc được Minh Thái Tổ ban cho hiệu Hoằng Giáo Đại Triệt Thiền Sư”. X. Đàm Tốc. ● 弘 繼 (1605-1686). Thiền tăng đời Thanh, họ Bộc, người xứ Tô Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tung Nhũ Đạo Mật. Sư trụ chùa Trác Tích, có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 弘 禮 (1600-1667). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trương tự Cụ Đức, người xứ Cối Kê (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng. Sư trụ trì chùa Vân Môn Quang Hiếu. Tác phẩm: Cụ Đức Lễ Thiền Sư Ngữ Lục 13 quyển. ● 弘 能. Thiền tăng đời Thanh, họ Phan, tự Sơn Dữu; nối pháp Hoà thượng Bồ Đề Mật, tông Tào Động. Sư trụ các nơi: Cảnh Hội, Giang Phố, Độc Phong. ● 弘 忍. 1. Thiền tăng đời Đường (602-675), tổ thứ 5 của Thiền Tông, họ Chu, người xứ Hoàng Mai, Kỳ Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc; nối pháp Tứ Tổ Đạo Tín. Ngài trụ chùa Đông Sơn núi Song Phong huyện Hoàng Mai, nên người đời còn gọi tông phong của Ngài là “Đông Sơn pháp môn”. Tác phẩm: Tối Thượng Thừa Luận. ● 2. Thiền tăng đời Minh (1599-1638), họ Trịnh, tự Đàm Cát, người xứ Tư Châu (nay là huyện Tư Trung, Tứ Xuyên) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa An ẩn. Tác phẩm: Ngũ Tông Cứu 10 quyển, An Ẩn Lục, Tẫn Dư Ngoại Tập. ● 弘 贊 (1611-1685). Thiền tăng đời Thanh, họ Chu, tự Tại Sám, người xứ Tân Hội (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Đảnh Hồ Đạo Khâu, tông Tào Động. Ban đầu sư trụ Bảo Tượng Lâm, sau trụ Đảnh Hồ. Tác phẩm: Đảnh Hồ Sơn Mộc Nhân Cư Tại Sám Thiền Sư Thặng Cảo 5 quyển, Tứ Phần Giới Bản Như Thích 12 quyển, Quy Giới Yếu tập 3 quyển, Tâm Kinh Luận, Bát Quan Trai Giới. ● 弘 濟 大 師. Thiền tăng đời Tống, hiệu Trí Hồng. X. Trí Hồng. ● 弘 聖 (1581-1658). Thiền tăng đời Minh, họ Vu, tự Thạc Cơ, hiệu Không Phàm, người xứ Kinh Khê (nay là huyện Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tam Phong Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Tiêu Sơn ở Trấn Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tô). Tác phẩm: Nhị Hội Ngữ Lục. ● 弘 成 (?-1641). Thiền tăng đời Minh, tự Nhất Mặc, người xứ Tiền Đường (nay thuộc Hàng Châu) Trung quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Đâu Suất ở Hoành Sơn, có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 弘 乘 (1585-1645). Thiền tăng đời Minh, họ Hùng, tự Vấn Thạch, người xứ Cánh Lăng (nay là Thiên Môn, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Tiêu Sơn, Trấn Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Thụy hiệu “Huệ Chiếu Thiền Sư”, có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 宏 智 禪 師. Là thụy hiệu của Thiền tăng Chính Giác đời Tống. X. Chính Giác. ● 弘 徹 (1588-1648). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Bách, tự Huyễn Không, hiệu Đảnh Mục, người xứ Kim Lăng (nay là Nam Kinh) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư kế tiếp Thầy, trụ trì chùa Thanh Lương ở Tam Phong. ● 弘 儲 (1605-1672). Thiền tăng đời Thanh, họ Lý, tự Kế Khởi, hiệu Thối Ông, người xứ Thông Châu (nay là huyện Nam Thông, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư từng trụ các chùa: Sùng Báo, Bảo Vân, Vân Nham. Tác phẩm: Nam Nhạc Kế Khởi Hòa Thượng Ngữ Lục 10 quyển, Nam Nhạc Lặc Cổ 1 quyển, Vân Nham Ký Lược 1 quyển. ● 弘 慈 廣 濟 寺 新 志. Chí, 3 quyển, do Trạm Hữu soạn vào đời Thanh, Nhiên Tùng biên tập, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San Tập 1. Hoằng Từ Quảng Tế Tự vào đời Nguyên gọi là Báo Ân Hồng Tế Tự, do các vị Vạn Tùng Hành Tú, Lâm Tuyền Tùng Luân nối nhau trụ trì. Tên thường gọi hiện nay là Quảng Tế Tự. Vào khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722), Trạm Hữu dựng đàn Đại Bi, nảy ra sáng kiến sửa lại quyển chí, mới đưa ra thể lệ chung, sưu tập nhiều tư liệu, sau đó được Nhiên Tùng biên tập chỉnh lý làm 3 quyển. Phần đầu là Văn bia Hoằng Từ Quảng Tế Tự do vua ngự chế, bảng hiệu chùa do vua viết. Phần sau có 4 môn: Kiến trí đồ, Bi minh tụng, Truyện ký tự, Phú tán bạt. Sách này được khắc bản vào niên hiệu Khang Hy thứ 43 (1704) đời Thanh. ● 弘 垣 (1581-1643). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, tự Đạm Tử, người xứ Ngô Huyện (nay là Tô Châu) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hán Nguyệt Pháp Tạng, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Hiển Ninh ở núi Cao Đình. ● 呼 風 嘯 指. Huýt sáo kêu gió. Từ này xuất xứ từ điển tích danh y Triệu Bỉnh đời Hậu Hán. Ngày nọ, Triệu Bỉnh muốn qua sông, gọi đò mà không ai đáp lại; ông bèn huýt sáo kêu gió, lấy nón làm thuyền qua sông. Đời sau, Thiền Tông dùng điển tích này làm thuật ngữ để chỉ cho người học Đạo tham thiền đã tỏ ngộ, được tự tại giải thoát, xử thế linh hoạt không bị trói buộc. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q.8 (Đại 47, 1045 thượng) ghi: “呼 風 嘯 指、傍 若 無 人;百 數 成 群、不 屬 王 化。 – Huýt sáo kêu gió, thản nhiên như không có ai; trăm người họp thành đám đông, không thuộc về sự cai trị của Vua”. ● 糊 餅. Bánh mè. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “觀 世 音 菩 薩 將 錢 來 買 糊 餅。放 下 手 元 來 卻 是 箇 饅 頭。 – Bồ Tát Quán Thế Âm đem tiền để mua bánh mè, lúc xoè tay hóa ra là cái bánh bao”. ● 胡 亂. Nghĩa là cẩu thả. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 140 thượng) ghi: “胡 亂 指 注。 – Bàn luận cẩu thả”. ― Hồ tham, hoặc Hồ toản loạn tràng: Tham cứu cẩu thả. ― Hồ loạn tọa: Ngồi chẳng theo ngôi thứ. ― Hồ thuyết, Hồ đạo, hoặc Hồ thuyết loạn đạo: Xướng thuyết, nói năng càn. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 胡 言 漢 語. Nói năng hồ đồ, bậy bạ. NĐHN q.16 ghi: “這 裡 從 汝 胡 言 漢 語、若 到 同 安、如 何 過 得? – Ở đây ông có thể nói năng hồ đồ. Nếu đến Đồng An thì ông làm sao vượt qua được?”. ● 胡 適 (1891-1962). Học giả Phật giáo hiện đại, tự Thích Chi, người Tích Khê, An Huy, Trung Quốc. Năm 1917 ông tốt nghiệp Đại học Colombia, đỗ bằng Tiến sĩ Triết học, về nước làm giáo sư Đại học Bắc Kinh. Năm 1926, ông phát hiện nhiều sử liệu về Thiền Tông thời kỳ ban đầu tại Thư viện Quốc Lập ở Paris, viện bảo tàng Đại Anh ở London. Năm 1938 nhậm chức Đại sứ Mỹ. Năm 1946 giữ chức Hiệu trưởng trường Đại học Bắc Kinh. Về già ông ngụ ở Đài Loan. Tác phẩm: ― Tùng Dịch Bản Lý Nghiên Cứu Phật Giáo đích Thiền Pháp ― Thiền Học Cổ Sử Khảo ― Luận Thiền Tông Sử đích Cương Lãnh. ― Bạch Cư Dị Thời Đại đích Thiền Tông Thế Hệ ― Bồ Đề Đạt Ma khảo ― Hà Trạch Đại Sư Thần Hội Truyện. ― Đàn Kinh khảo ― Lăng già Sư Tư Ký Tự. ― Lăng già Tông khảo ― Thần Hội Hòa Thượng Di Tập (Biên tập). ● 䠒 跪. Quỳ theo tư thế: chỉ có một đầu gối chạm đất. Đây là cách quỳ của người ấn Độ thời cổ đại và của dân tộc thiểu số ở miền tây bắc Trung Quốc. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q.3 ghi: “大 宗 曰:師 滅 度 後、弟 子 將 何 所 記?師 曰:告 檀 越 造 取 一 所 無 縫 塔。帝 乃 䠒 跪 而 曰:就 師 請 取 塔 樣。 – Vua Đại Tông hỏi: Sau khi Thầy diệt độ, đệ tử sẽ làm gì để nhớ? Sư đáp: Làm cho lão tăng một cái tháp vô phùng. Vua liền hồ quỳ và nói: Thỉnh Thầy ra kiểu tháp”. ● 胡 梯. Thang lầu. Tiết Triệu Châu Hòa Thượng trong TĐT q.18 ghi: “師 爲 沙 彌、扶 南 泉 上 胡 梯。 – Sư làm sa di dìu Nam Tuyền lên thang lầu.” ● 胡 孫. 1. Con vượn. Như Tịnh Ngữ Lục q.hạ ghi: “剎 竿 頭 上 煎 鎚 子、三 箇 胡 孫 夜 簸 錢。 – Trên đầu cột phướn chiên bánh, ba con vượn đếm tiền đêm.” ● 2. Dụ cho cái tâm lăng xăng bất an. Tiết Phá Am Tổ Tiên Thiền Sư trong TTĐL q.35 ghi: “有 道 者 請 益 云:胡 孫 子 捉 不 住、願 垂 開 示。師 曰:用 捉 他 作 什 麼?如 風 吹 水 自 然 成 紋。 – Có đạo giả thỉnh ích: Cái tâm lăng xăng tôi nắm không được, xin sư rũ lòng chỉ dạy. Sư bảo: Cần nắm nó làm gì! Như gió thổi thì nước tự nhiên gợn sóng.” ● 虎 跑 定 慧 寺. Nằm dưới núi Đại Từ, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Nguyên tên là “Đại Từ Định Huệ Thiền niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14 (819) đời Đường Thiền Sư Hoàn Trung cùng với đệ tử Tính Không đến đây cư trú, bị khổ vì không có nước. Một hôm nằm mộng thấy thần nhân báo rằng “Nam Nhạc có suối Đồng Tử đang sai khiến hai con cọp dời sang”, sáng ra quả thấy hai con cọp cào đất làm huyệt, nước suối phun lên, nên gọi là “Hổ Bào Tuyền”, nước suối ngọt lạnh, có tên gọi “Thiên hạ đệ tam tuyền”. Chùa này trải qua ba đời Tống Nguyên Minh bao lần phá hủy bao lần xây cất. Niên hiệu Ung Chính thứ 9 (1731) đời Thanh trùng tu, niên hiệu Hàm Phong thứ 11 (1861) bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Đồng Trị thứ 6 (1867) xây cất lại. Núi non sừng sững bao quanh, phong cảnh đẹp đẽ tĩnh mịch. Phía tây suối Hổ Bào có tháp viện của cao tăng Đạo Tế (Tế Công) đời Tống, hậu sơn có điêu khắc và nặn tượng về “mộng hổ”. ● 虎 跑 定 慧 寺 志. Chí, do Thánh Quang biên soạn vào đời Thanh, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Hổ Bào Định Huệ Tự vốn được gọi là Đại Từ Định Huệ Thiền Tự, người đời gọi là Hổ Bào Tự, nằm dưới chân núi Đại Từ, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Vào niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14 (819) đời Đường, Thiền Sư Hoàn Trung dừng chân cất am ở đây. Sau đó am trải qua nhiều lần hư hoại và kiến thiết. Tự chí có bản Khang Hy đời Thanh, do Thiền Sư Nhiên Thâm soạn bản thảo, Mao Kỳ Linh viết tựa, rất được khen ngợi. Đáng tiếc là bị binh lửa thiêu hủy vào niên hiệu Hàm Phong thứ 11 (1816). Vào năm 1900, Trụ trì chùa Thánh Quang cho biên tập lại Tự chí thành 1 tập bản thảo, chia ra: Thần ân, Kiến trí, các loại sơn thủy, sau mỗi loại có phụ ghi các bài thơ vịnh chùa trải qua nhiều đời. ● 虎 丘 塔. Còn gọi: Vân Nham Tự Tháp. Tháp nằm trên đỉnh núi Hổ Khâu, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Khởi công vào niên hiệu Hiển Đức thứ 6 (959) đời Hậu Chu triều Ngũ Đại, hoàn thành vào niên hiệu Kiến Long thứ 2 (961) đời Tống. Là một tòa tháp gạch bảy tầng hình bát giác, kết cấu theo kiểu lâu các giống như gỗ, cao 47 mét. Thân tháp do ba phần: vách bên ngoài, hành lang bao quanh và tâm tháp tạo thành, tám mặt đều có làm cửa khổn và dùng gạch để xây những cấu kiện giống như gỗ như cửa sổ song chấn, bình tòa, cột trụ, đấu củng v,v… Tiến vào hành lang và lòng tháp các tầng có thể thấy cấu trúc tinh mỹ của đấu củng và khung trang trí, cho đến dùng vôi đắp các đồ án quét lên các màu đỏ, đen, trắng, vàng, xanh, sáng đẹp lạ thường tràn trề ý xưa. Năm 1956, khi tu bổ lại tháp phát hiện trong tháp những di vật văn hóa từ đời Ngũ Đại đến đời Bắc Tống như cái khám bằng gỗ chiên đàn, cái rương kinh bằng gỗ chiên đàn, tháp thiếp vàng, tượng Phật đồng, gương đồng, pho kinh bằng gấm lụa. Trải qua ngàn năm sương gió tháp vẫn đứng sừng sững, tượng trưng cho cổ thành Tô Châu. ● 虎 丘 紹 隆 禪 師 語 錄. Còn gọi: Hổ Khâu Long Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Hổ Khâu Thiệu Long soạn vào đời Tống, nhóm ông Tự Đoan… biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 791. Nội dung bao gồm các lời dạy của Sư ở: ― Khai Thánh Thiền Viện tại Hòa Châu. ― Chương Giáo Thiền Viện tại Tuyên Châu. ― Linh Nham Thiền Tự, núi Hổ Khâu tại phủ Bình Giang, các bài tán Sơ Tổ, bài minh khắc ở tháp tên “Tống Lâm Tế Chính Truyền Hổ Khâu Long Hòa Thượng”. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 20 (1592). ● 虎 丘 寺. Chùa nằm ở núi Hổ Khâu ngã tư Sơn Đường ngoài cổng thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Niên hiệu Hàm Hòa thứ 2 (327) đời Đông Tấn, quan Tư Đồ Vương Tuần và quan Tư Không Vương Mân sửa nhà làm chùa, lấy tên là Hổ Khâu Tự, chia làm 2 chùa đông, tây. Đời Đường do tránh tên húy mà đổi tên thành “Võ Khâu Báo Ân Tự”. Khi gặp pháp nạn Hội Xương, chùa cũng bị phá hủy; về sau chùa được dời lên đỉnh núi, nhập hai chùa làm một. Khoảng niên hiệu Chí Đạo (995-997) đời Tống, chùa được xây cất lại và đổi tên là “Vân Nham Thiền Tự”. Từ đó, Thiền Tông đại thạnh, chùa này trở thành đạo tràng tu hành của thiền tăng. Khi ngài Thiệu Long, phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế trụ trì chùa này, tăng chúng tụ về đông đảo, tiếng tăm vang dậy, hình thành phái Hổ Khâu. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131- 1162) đời Tống, chùa Vân Nham quy mô hùng vĩ, có cung ngọc tháp báu, đình các nhiều tầng cực thịnh một thời. Trong khuôn viên chùa có: Thiên Phật Các, Chuyển Luân Đại Tạng Điện, Thổ Địa Đường, Thủy Lục Đường, La Hán Đường, Già Lam Đường, Đại Sĩ Am, Ngọc Hoàng Điện, Hoa Thần Miếu, là một đại tòng lâm của miền Đông Nam, được liệt vào một trong 10 chùa 5 núi (Ngũ sơn thập sát). Khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, Vua ban cho tấm biển “Hổ Phụ Thiền Tự”. Chùa Hổ Khâu từ đời Tùy đến cuối đời Thanh đã 7 lần hư hoại, các kiến trúc cổ may mắn còn sót lại gồm có: Vân Nham Tự tháp được xây vào thời Ngũ Đại và Đoạn lương điện được xây vào đời Nguyên. Còn Sảng các, Lãnh hương các, ứng thúy sơn trang, Nhị tiên đình đều là các kiến trúc đời Thanh. Sau giải phóng, (1-10-1949) các kiến trúc mới được hoàn thành như: Hải dũng kiều, Ngộ thạch hiên, Tôn Võ tử đình, Thông U hiên, Ngọc Lan Sơn phòng, Vạn cảnh sơn trang v.v.. ● 怙 恃. Chỉ cha và mẹ. Hổ (怙) là nương nhờ cha, Thị (恃) là nương nhờ mẹ. Tiểu truyện Thiền Sư Quảng Nghiêm trong TUTA ghi: “… 丹 鳳 人 也、姓 阮 氏、蚤 失 怙 恃、從 舅 是 寶 嶽 受 業。 –Thiền Sư họ Nguyễn, người Đan Phượng, từ nhỏ mồ côi cả cha lẫn mẹ, xuất gia và theo học với cậu là Bảo Nhạc. ● 戶 履 日 滿. Trong thất mỗi ngày đều đầy ắp người. Tiết Trung Phong Hòa Thượng Hành Lục trong TPQL q.30 ghi: “師 之 法 量 汪 洋、辯 才 無 碍、至 於 悲 愿 誘 掖、諄 諄 誨 諭、户 履 日 滿、一 無 倦 容。 – Pháp lượng của sư mênh mông, biện tài vô ngại, chí nguyện từ bi dìu dắt giúp đỡ, dạy dỗ dặn dò, trong thất mỗi ngày đều đầy ắp người nhưng sư không lộ chút gì là mệt mỏi”. ● 晦 庵. 1. Thiền tăng đời Tống, tên Huệ Quang, hiệu Hối Am. X. Huệ Quang. ● 2. Thiền tăng đời Tống, tên Di Quang, hiệu Hối Am. X. Di Quang. ● 晦 機. Thiền tăng đời Đường, họ Trương, người xứ Thanh Hà (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Huyền Tuyền Sơn Ngạn. Sư trụ núi Hoàng Long ở Ngạc Châu (nay là huyện Vũ Hán, Hà Bắc), được vua ban hiệu “Siêu Huệ Đại Sư”. ● 晦 堂. Thiền tăng đời Tống, tên Tổ Tâm, hiệu Hối Đường. X. Tổ Tâm. ● 晦 夫. Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, tên Bản Dự, hiệu Hối Phu. X. Bản Dự. ● 晦 山 (1610-1672). Thiền tăng đời Thanh, họ Vương tự Nguyện Vân, người xứ Thái Thương (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Cụ Đức. Sư trụ trì am Hải Tạng, chùa Vân Sơn Chân Như. Tác phẩm: Thiền Môn Đoạn Luyện Thuyết, Phật Pháp Bản Thảo, Hiện Quả Tùy Lục. ● 回 換. Điều động, biến đổi, lôi cuốn. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “如 今 學 者 不 得。病 在 甚 處。病 在 不 自 信 處。爾 若 自 信 不 及。即 便 忙 忙 地。徇 一 切 境 轉。被 他 萬 境 回 換。不 得 自 由。 – Hiện nay người học chẳng được khai ngộ là bệnh ở chỗ nào? Chính là bệnh ở chỗ chẳng tự tin. Nếu chẳng tự tin, tức thì các ông rộn ràng lan man theo cảnh, bị muôn cảnh lôi cuốn chẳng được tự do”. ● 回 互. 1. Dung hợp. Tiết Mông Sơn Quang Bảo Thiền Sư trong NĐHN q.2 ghi: “眼 耳 緣 聲 色 時、爲 復 抗 行、爲 有 回 互? – Khi tai mắt duyên theo thanh sắc, có phải là chống đối lại hay là dung hợp nhau”. ● 2. Châm chước, do dự. Tiết Linh Nham Trọng An Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “覿 面 相 呈、更 無 回 互。 – Tận mặt trình nhau, không hề do dự”. ● 回 光 返 照. Vốn chỉ ánh nắng phản xạ từ chân trời vào lúc chiều tối. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc xoay nhãn quang đang hướng ngoại tìm cầu trở về chiếu soi lại thân tâm của mình. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “言 下 便 自 回 光 返 照。更 不 別 求。知 身 心 與 祖 佛 不 別。 – Các ông ngay dưới lời nói của ta phải tự hồi quang phản chiếu, không nên tìm cầu gì khác, phải biết thân tâm của mình không khác với Phật, Tổ”. Chương Thạch Đầu Thảo Am Ca trong CĐTĐL q. 30, (Đại 51, 461 hạ) ghi: 住 此 庵、休 作 解 誰 誇 鋪 席 圖 人 買? 迴 光 返 照 便 歸 來、 廓 達 靈 根 非 向 背。 “Trụ thử am, hưu tác giải, Thùy khoa phô tịch đồ nhân mãi? Hồi quang phản chiếu tiện quy lai, Quách đạt linh căn phi hướng bối”. “Ở thảo am này dứt kiến giải, Ai hay thuyết pháp để người nghe? Hồi quang phản chiếu liền trở về, Thấu đạt linh căn không thuận nghịch”. ● 會. 1. Đoàn thể Phật giáo, pháp hội. Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh Tự của Đức Dị có ghi: “三 傳 而 至 黃 梅、會 中 高 僧 七 百、惟 負 舂 居 士(指 慧 能)一 偈 傳 衣、爲 六 代 祖。 – Y được truyền 3 lần mới đến Hoàng Mai, trong hội có 700 Cao tăng nhưng chỉ có cư sĩ giã gạo (tức Huệ Năng) nhờ 1 bài kệ mà được truyền y làm Tổ đời thứ 6”. ● 2. Lãnh hội, lãnh ngộ. Lâm Tế Ngữ Lục có ghi: “學 人 不 會、便 即 心 狂。 – Người học chẳng lãnh hội thường là do tâm điên cuồng”. ● 3. Hiểu. Tắc Hoa Lâm Nhị Hổ trong Thiền Uyển Mông Cầu (Vạn Tục 148, 208 thượng) ghi: “裴 休 問:師 作 何 行 業 感 得 如 此?師 良 久、曰:會 麼?曰:不 會。師 云:山 僧 常 念 觀 音。 – Bùi Hưu hỏi: Sư làm hạnh nghiệp gì mà cảm hóa được hai con cọp này? Sư im lặng hồi lâu bảo: Hiểu không? Đáp: Chẳng hiểu. Sư nói: Sơn tăng thường niệm Quán Âm”. ● 會 善 寺. Dưới ngọn Tích Thúy, núi Tung Sơn, huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, là đạo tràng trọng yếu của tông Tào Động. Nguyên là hành cung mùa hè của vua Lý Văn Đế đời Bắc Ngụy, về sau quyên góp làm chùa Phật. Khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-600) đời Tùy đổi tên là “Hội Thiện Tự”. Vào đời Đường tăng lữ tụ hội về đây càng lúc càng đông. Đạo An sau khi đắc pháp nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn lui về ở chùa Hội Thiện. Pháp tự của ngài Thần Tú là Cảnh Hiền đã thị tịch tại chùa này vào niên hiệu Khai Nguyên thứ 11 (723). Vào đầu đời Đường, Thiền Sư Nhất Hạnh cùng Luật sư Nguyên Đồng từng mở giới đàn Ngũ Phật Chính Tư Duy tại đây, nghiêm tịnh một thời, sau đó suy vi. Niên hiệu Đại Lịch thứ 2 (767) triều đình ra lệnh kiến lập Giới Đàn Viện phía tây chùa, mỗi năm có vài ngàn người đến thọ giới, thiền tăng nổi tiếng Triệu Châu Tùng Thẩm cũng thọ giới nơi này. ● 會 通 (780-860). Thiền tăng đời Đường, họ Trịnh, tự Vô Ngôn, người Hồ Dương, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải, hệ Nam Nhạc đời thứ 4, dòng Vô Ngôn Thông ở Việt Nam sư là Tổ khai sáng (Sư theo thuyền buôn sang Việt Nam vào niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 (820) để hoằng pháp). X. Vô Ngôn Thông. ● 會 上. Còn gọi: Hội trung, Hội hạ, Thiền hội, Thiền tịch, Pháp hội, Pháp tịch. Nơi tập thể người học Thiền cùng sinh hoạt học tập, nghe thuyết giảng đạo pháp, tức là đạo tràng vậy. Tiết Thủ Đoan Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “開 堂 示 眾 云:昔 日 靈 山 會 上、世 尊 拈 花、迦 葉 微 笑。 – Sư khai đường nói với môn đồ rằng: Khi xưa tại đạo tràng ở Linh Sơn, đức Thế Tôn giơ cành hoa, ngài Ca diếp mỉm cười.” Tổ Đường Tập q.3 ghi: “(三 祖 僧 璨)大 集 群 品、普 雨 正 法。會 中 有 一 沙 彌、年 始 十 四。 – (Tam Tổ Tăng Xán) tập họp người học thuộc mọi thành phần để sư thuyết pháp. Trong hội của Tổ có một Sa di tuổi vừa 14.” Linh Hựu Ngữ Lục ghi: “石 霜 會 下 有 二 禪 客 到 云:此 間 無 一 人 會 禪。 – Có hai vị Thiền khách đến tại đạo tràng của Thiền Sư Thạch Sương bảo: Nơi này chả có ai hiểu Thiền pháp cả.” Chương Hương Nghiêm Trí Nhàn trong CĐTĐL q.11 ghi: “香 嚴 智 閒 依 潙 山 禪 會。 – Thiền Sư Hương Nghiêm Trí Nhàn nương thân tu học tại thiền hội của Quy Sơn.” Tiết Thanh Nguyên Hành Tư trong NĐHN q.5 ghi: “聞 曹 溪 法 席 乃 往 參 禮。 – Thiền Sư Hành Tư nghe tiếng đạo tràng Tào Khê, bèn đến tham vấn đạo pháp.” ● 渾. Thực sự, rất. Tiết La Hán Quế Sâm Thiền Sư trong NĐHN q.8 ghi: “和 尚 恁 麼 道、渾 是 不 慈 悲! – Hòa Thượng nói như thế thực sự không từ bi.” ● 渾 崙. Còn gọi: Hỗn Luân, Cốt Luân, Hốt Luân, Côn Luân. Chỉ cho trạng thái hỗn độn, lờ mờ giống như một khối vẩn đục, trước khi trời đất chưa hình thành, âm dương chưa có phân chia rõ rệt. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho một khối hồn nhiên, hoặc một vật chẳng thể cắt chia. Đôi khi cũng được dùng để chỉ cho chân tính bình đẳng, vô sai biệt. Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục (Đại 47, 504 thượng) ghi: “師 見 僧 來。展 開 兩 手。僧 無 語。師 云 會 麼。云 不 會。師 云。渾 崙 擘 不 開。與 爾 兩 文 錢。 –Sư thấy một vị tăng đi đến liền dang rộng hai tay, Tăng không đáp được. Sư hỏi: Hiểu không? Tăng đáp: Chẳng hiểu. Sư nói: Không mở bày được chân tính, cho ngươi hai đồng tiền”. ● 洪 英 (1012-1070). Thiền tăng đời Tống, họ Trần, người đời gọi là “Anh Thiệu Vũ”; người xứ Thiệu Vũ (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Hoàng Long Huệ Nam, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Lặc Đàm. Tác phẩm: Lặc Đàm Anh Thiền Sư Ngữ Yếu 1 quyển. ● 洪 恩. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất, sư trụ Trung ấp ở Lãng Châu (nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. Người đời gọi sư là “Trung ấp Ân”. ● 鴻 究. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Nam Tháp Quang Dũng, tông Quy Ngưỡng. Sư trụ chùa Huệ Lâm ở Thiều Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc. Thụy hiệu “Diệu Tế Đại Sư”. ● 洪 州 宗. Môn phái của Mã Tổ Đạo Nhất (709-788). Hồng Châu là tên gọi tắt của xứ Nam Xương, Giang Tây, ở đó có chùa Khai Nguyên, nơi Mã Tổ Đạo Nhất ở. Vì Ngài ở đấy suốt đời để hoằng dương Thiền Tông nên môn phái của Ngài mới được gọi tên là Hồng Châu Tông. Tông chỉ: Trong mọi sinh hoạt hàng ngày như: Khởi tâm động niệm, nhướng mày chớp mắt đều là hiển bày Phật tính. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 吽 吽. Tiếng kêu của loài trâu, cọp, biểu thị âm thanh ghê rợn khiến loài khác kinh sợ. Từ này phần nhiều được dùng trong Phật giáo. Thiền Tông thường dùng 2 chữ Hồng Hồng để biểu thị cảnh giới vô phân biệt không thể dùng văn tự ngữ ngôn giải thích được. Phần Khám biện trong Lâm Tế Lục (Đại 47,504 thượng) ghi: “師 問 杏 山。如 何 是 露 地 白 牛。山 云。吽 吽。 – Sư hỏi Hạnh Sơn: Thế nào là trâu trắng lộ thiên? Sơn đáp: Hồng! hồng!”. ● 叿 叿. Gào lên lớn tiếng. Chương Chí Công Hòa Thượng trong CĐTĐL q.29 ghi: “世 人 迷 倒 至 甚、如 犬 吠 雷 叿 叿。 – Người thế gian mê muội hết sức, như chó sủa tiếng sấm ì ầm.” ● 紅 爐 上 一 點 雪. Một mảnh tuyết ném vào lò đang rực cháy. Có 2 nghĩa: 1. Vô thường, hư huyễn. Chương Trường Thử Hòa Thượng trong CĐTĐL q.14 (Đại 51, 413 thượng) ghi: “石 頭 問:爾 見 箇 什 麼 道 理 便 禮 拜?髭 云:據 某 甲 所 見、如 虹 爐 上 有 一 點 雪。 – Thạch Đầu hỏi: Ông thấy đạo lý gì mà lễ bái? Trường Thử nói: Theo chỗ thấy của con thì như ném mảnh tuyết vào lò đang rực cháy”. ● 2. Không để lại dấu vết. Tắc 69, Bích Nham Lục (Đại 48, 198 hạ) ghi: “透 荊 棘 林、衲 僧 家、如 紅 爐 上 一 點 雪。 – Việc vượt qua rừng gai góc đối với nạp tăng giống như việc làm không để lại dấu vết”. ● 洪 儼. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng. Sư trụ viện Thủy Lục ở Phúc Châu. ● 洪 諲. 1. Thiền tăng đời Đường (828-901), họ Ngô, người xứ Ngô Hưng (nay là huyện Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Linh Hựu, tông Quy Ngưỡng. Sư trụ viện Kính Sơn ở Hàng Châu. Vua ban hiệu “Pháp Tế Đại Sư”. ● 2. Thiền tăng đời Tống, họ Hộ, người xứ Tương Thủy (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thủ Sơn Tỉnh Niệm. Sư trụ chùa Thần Đảnh ở Tương Âm. Tác phẩm: Thần Đảnh Sơn Đệ Nhất Đại Yên Thiền Sư Ngữ Lục. ● 洪 忍 禪 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Tùng Thâm, hiệu “Hồng Nhẫn Thiền Sư”. X. Tùng Thâm. ● 洪 如 (1592-1664). Thiền tăng đời Minh, họ Đặng, tự Vô Trụ, người xứ Định Viễn (nay là huyện Mâu Định, tỉnh Vân Nam) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Triệt Dung Chu Lý. Sư trụ chùa Phúc Thành, Định Viễn. Tác phẩm: Thương Sơn Tập, Không Minh Tập, Khổ Hải Từ Hàng Tập, Tông Môn Ngữ Lục, Nam Đăng Tục Diệm, Kê Sơn Ngữ Lục. ● 洪 福 寺. Còn gọi: Chùa Hòe Nhai. Chùa thuộc số nhà 19 phố Hàng Than, Hà Nội, hiện là Tổ đình của phái thiền Tào Động, Việt Nam. Đây là ngôi chùa cổ tương truyền có từ đời Lý, trải qua nhiều lần sửa chữa lớn vào các năm 1687, 1899, 1952. Phạm vi chùa trước kia khá lớn, sang thời Pháp thuộc bị thu lại như hiện nay. Phía trước là chính điện, phía sau là nhà Tổ và tăng phòng, xung quanh là hành lang. Trong chùa có 1 số bia đá, cổ hơn cả là bia dựng năm Chính Hòa thứ 24 (1703) ghi rõ vị trí chùa ở phường Hòe Nhai tại Đông Bộ Đầu tức Bến Đông. Trong chùa có nhiều tượng, cổ nhất là tượng Cửu Long (Thích Ca sơ sinh) và đặc sắc nhất là tượng vua Lê Hi Tông để tượng Phật trên lưng, rồi nằm phục xuống biểu lộ vẻ ăn năn sám hối. Năm 1963, Thành hội Phật giáo Hà Nội đã dựng tại chùa này tháp Ấn Quang để kỷ niệm Hòa Thượng Thích Quảng Đức vì pháp thiêu thân vào ngày 11. 6. 1963 tại Sài Gòn. Đây là ngôi chùa có cụ Tổ pháp chủ Thích Đức Nhuận thuộc dòng Tào Động trụ trì và viên tịch. ● 洪 果 大 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Đạo Diên, thụy hiệu “Hồng Quả Đại Sư”. X. Đạo Diên. ● 規. Tức đại pháp. Thiền Lâm Bảo Huấn q.1 (Đại 48, 1019 thượng) ghi: “如 一 器 水 傳 於 一 器。始 堪 克 紹 洪 規。 – Cũng như rót nước từ bình này sang bình khác, mới hay nối tiếp được đại pháp”. ● 洪 山 寶 塔. Còn gọi: Linh Tế Tháp. Bởi tháp nằm phía sau Bảo Thông Thiền Tự, núi Hồng Sơn, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ bắc, Trung Quốc, cho nên gọi là “Hồng Sơn Bảo Tháp”. X. “ Linh Tế Tháp.” ● 洪 濟 大 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Hành Tư, thụy hiệu “Hồng Tế Đại Sư”. X. Hành Tư. ● 洪 樹. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Quốc Sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Hưng Giáo ở Hàng Châu. ● 洪 荐. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. Sư trụ núi Phúc Thuyền ở Phúc Châu. Thụy hiệu “Thiệu Long Đại Sư”. ● 洪 進. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư La Hán Quế Sâm. Sư trụ núi Thanh Khê ở Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. 洪 肇 (1586-1632). Thiền tăng đời Minh, họ Cao, tự Tấn Vân, người xứ Phùng Châu (nay là huyện Phùng An, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư từng tham học với pháp sư Nhị Lăng Nhất Vũ. ● 洪 椿 坪. Dưới ngọn Thiên Trì, núi Nga My, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Xưa gọi là “Thiên Phật Am”, Thiền Sư Sơ Sơn Tính Nhất đời Minh sáng lập, niên hiệu Càn Long thứ 55 (1790) đời Thanh, Thiền Sư Nga Vân trùng tu, bởi trước chùa có cây cổ thụ Hồng Xuân cho nên đổi tên là “Hồng Xuân Bình”. Tự viện tựa vào núi mà xây cất, lâu các tầng lớp một điện rồi một điện. Trong chùa có một ngọn đèn hoa sen ngàn Phật được làm vào cuối đời Minh cao khoảng 1m, đường kính 70 cm, 7 cạnh, trên góc đèn có khắc rồng mây thú lạ, tinh xảo lung linh. Trên đèn điêu khắc 500 tượng Phật, công nghệ tinh tế, tạo dáng sinh động. Xung quanh chùa núi rừng bao bọc xanh um tĩnh mịch. Mây mù trong núi bay bập bềnh, buổi sáng mùa hạ sương mù cuồn cuộn, là một trong mười cảnh đẹp ở Nga My. ● 〖⿰言忽〗 〖⿰言忽〗 詷 詷. Hình dung lời nói vội vàng, không thận trọng, nói bá láp. Vân Môn Quảng Lục q. thượng ghi: “莫 空 過 不 識 好 惡。〖⿰言忽〗 〖⿰言忽〗 詷 詷 地。聚 頭 說 葛 藤。莫 教 老 僧 見 捉 來 勘 不 相 當 槌 折 腰。莫 言 不 道。 – Đừng để luống qua, chẳng biết tốt xấu, dụm đầu nói chuyện bá láp. Nếu lão tăng gặp, bắt lại khám nghiệm mà nói chẳng được, thì ta đánh cho gãy lưng, chớ bảo ta chẳng nói trước!”. ● 囫 圇 吞 棗. Nuốt trộng trái táo. Thiền Sư dùng thành ngữ này để chỉ cho việc đọc kinh sách nhưng không hiểu, không tiêu hóa được. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Thiền Sư Trung Phong Minh Bản ghi: “儞 若 道 是 句 也 掃、非 句 也 掃、正 是 渾 侖 吞 箇 棗 – Nếu ông nói: Câu phải cũng quét, câu chẳng phải cũng quét, chính là nuốt trộng trái táo”. ● 合. Nên, cần phải, có khả năng. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “人 天 普 集、合 發 明 箇 什 麼 事? – Trời người tụ hội, nên phát minh việc gì?”. ● 合 同 船. Còn gọi: Thừa Hợp Thuyền. Nghĩa là đi chung một chiếc thuyền mà không phân biệt thân phận khác nhau. Thiền Tông dùng từ Hợp Đồng Thuyền để chỉ cho cảnh giới “Vô phân biệt”. Chương Nam Dương Huệ Trung trong CĐTĐL q.5 (Đại 51, 245 thượng) ghi: 無 影 樹 下 合 同 船、琉 璃 殿 上 無 知 識。 – Dưới cây không bóng, vô phân biệt, trên điện lưu ly không tri thức”. ● 合 干. Có nghĩa là “Quan hệ với… “. Hợp can nhân: Người có liên quan đến việc tống táng trong chùa. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 合 得. Khả dĩ, có thể. Tiết Hoàng Long Chí Nguyện Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “迦 葉 上 行 衣、何 人 合 得 披? – Y đi đường của ngài Ca diếp, người nào có thể đắp?”. ● 合 頭. Tương ứng, phù hợp nhau. Bài Cư Độn Tụng của Hòa Thượng Long Nha trong CĐTĐL q.29 ghi: 夫 人 學 道 莫 貪 心、萬 事 無 心 道 合 頭。 – Hễ người học đạo chớ tìm cầu, muôn việc vô tâm mới hợp (tương ứng với) đạo”. ● 合 下. Còn gọi: Trực hạ. Nghĩa là tức khắc, tức thì. Tắc 79, Bích Nham Lục (Đại 48, 205 hạ) ghi: 合 下 做 箇 圈 繢 子、教 投 子 入 來。 – Tức thì đặt cái tròng để Đầu Tử bước vào”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 合 煞. Kết thúc, cuối cùng. Khắc Văn Ngữ Lục trong CTTNL q.43 ghi: “腊 月 二 十 八、一 年 將 合 煞。 – Ngày 28 tháng chạp, sắp kết thúc một năm”. ● 合 取 口. Ngậm miệng. Ý nói không thể dùng lời nói để diễn tả nghĩa chân thật của Phật pháp. Tắc 8, Bích Nham Lục (Đại 48, 148 hạ) ghi: 嘮 嘮 翠 巖!(這 野 狐 精、合 取 口 好)。 – Cứ lải nhải mãi! Thúy Nham! (Con chồn tinh ranh này hãy ngậm miệng lại đi!)”. ● 合 水 和 泥. Chỉ cho sử dụng ngôn cú khai thị thiền pháp. Đây là pháp môn phương tiện. Tiết Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “照 用 不 同 時、有 問 有 答、立 賓 立 主、合 水 和 泥、應 機 接 物。 – Chiếu dụng không cùng một lúc, có hõi có đáp, lập khách lập chủ, sử dụng ngôn cú ứng cơ tiếp vật.” X. Hòa nê hợp thủy. ● 慧 安 (582-709). Thiền tăng sống vào khoảng đời Tuỳ Đường, họ Tiết, người xứ Chi Giang, Kinh Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. Vốn tên là Đạo An, người đời sau gọi lầm là Huệ An và còn gọi là Đại An, nối pháp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, là 1 trong 10 vị đệ tử lớn của Ngài. Người đương thời gọi sư là “Lão An Quốc Sư”. ● 慧 根. Trí huệ Phật giáo giống như cội rễ hay phát sinh (nhánh lá) đạo pháp, là 1 trong ngũ căn (Tín, tấn, niệm, định, huệ căn). Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q.29 ghi: “未 悟 往 生 者、必 念 佛 極 其 誠 切。若 參 禪 者 亦 如 彼 之 誠 切、則 雖 止 滯 人 天、取 悟 不 遠、再 出 頭 來、慧 根 頓 發、超 證 菩 提、未 可 限 量。 – Người chưa ngộ mà muốn vãng sinh, cần phải niệm Phật thật thành tâm tha thiết. Nếu người tham thiền cũng thành tâm tha thiết như người kia thì mặc dù còn ở trong vòng trời người, giữ lấy chỗ ngộ; một khi sinh trở lại, huệ căn chóng phát, siêu chứng Bồ đề, không thể lường được”. ● 慧 懃 (1059-1117). Thiền tăng đời Tống, họ Giang, tự Phật Giám, người xứ Thư Châu (nay là huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Ngũ Tổ Pháp Diễn, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Hưng Quốc ở núi Thái Bình. ● 慧 球 (?-913). Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Bồ Điền, Tuyền Châu (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, còn gọi là “Trung Tháp Hòa Thượng”; nối pháp Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị. Sư kế tiếp Huyền Sa trụ trì viện An Quốc ở núi Ngọa Long Phúc Châu. Thụy hiệu: Tịch Chiếu Thiền Sư. ● 慧 照 (1289-1373). Thiền tăng đời Nguyên, họ Ma, tự Đại Thiên, hiệu Mộng Thế Tẩu, người xứ Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hối Cơ Hy Công. Sư trụ chùa Minh Khánh ở Lạc Thanh (nay thuộc Chiết Giang). Tác phẩm: Huệ Chiếu Ngữ Lục. ● 慧 照 禪 師. 1. Thụy hiệu của Lâm Tế Nghĩa Huyền. X. Nghĩa Huyền. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Hoằng Thừa đời Minh. X. Hoằng Thừa. ● 慧 機 (1603-1668). Thiền tăng đời Thanh, họ La, tự Thiết Bích, người xứ Doanh Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Xuy Vạn Quảng Chân, tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Tụ Vân, chùa Khánh Trung. Tác phẩm: Khánh Trung Thiết Bích Cơ Thiền Sư Ngữ Lục 20 quyển, Khánh Trung Tập 2 quyển. ● 慧 恭 (820-903). Thiền tăng đời Đường, họ La, người xứ Phúc Châu; nối pháp Thiền Sư Đức Sơn Tuyên Giám. Sư trụ viện Thụy Long ở núi Tử Ngưng. ● 慧 居. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Mân; nối pháp Thiên Thai Đức Thiều Quốc Sư, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Long Hoa ở Hàng Châu. ● 慧 融. X. Pháp Dung. ● 慧 曇 (1304-1371). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Dương, tự Giác Nguyên, người xứ Thiên Thai (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tiếu ẩn Hân Công. Sư từng trụ các chùa: Ngưu Thủ, Thanh Lương, Quảng Huệ, Bảo Ninh. ● 慧 達. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiên Thai Đức Thiều Quốc Sư, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Hoa Nghiêm ở Lộ Thành (nay thuộc tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc. ● 慧 定 (1310-1378). Thiền tăng đời Nguyên, họ Ngô, tự Tất Dị, người xứ Phần Dương, Sơn Tây. Nối pháp Thiền Sư Không Tướng Khuê, đời thứ 24 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Khai Nguyên ở Liêu Châu (huyện Tả Quyền, tỉnh Sơn Tây). ● 慧 同. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trương, người xứ Ngụy Phủ (nay là huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Long Tế Thiệu Tu. Sư trụ chùa Phụng Tiên ở Thăng Châu (nay là huyện Giang Ninh, tỉnh Giang Tô). ● 慧 覺. 1. Thiền tăng đời Đường; nối pháp Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm. Sư trụ chùa Quang Hiếu ở Dương Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. ● 2. Thiền tăng đời Thanh, hiệu là Chiếu Y. X. Chiếu Y. ● 慧 覺 寶 塔. Còn gọi: Giá Tổ Tháp. Tháp nằm phía sau Phổ Lợi Thiền Tự, núi Động Sơn, huyện Nghi Phong, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đây là mộ tháp của Động Sơn Lương Giới, do vua Đường Ý Tông ra lệnh xây cất. Tháp hình lục giác cao vài thước Tàu rêu xanh phủ kín, chỉ sót lại vài chữ “Sư Huệ Giác Bảo Tháp”. Phật giáo đồ xưa nay luôn xem tháp này là thánh vật, đỉnh lễ quỳ lễ. Cuối đời Minh, Hòa Thượng Tịnh Thông từng kết am ở nhiều năm dưới tháp. ● 慧 覺 大 師. Thiền tăng đời Đường, thụy hiệu “Đại Nghĩa”. X. Đại Nghĩa. ● 慧 海. 1. Thiền tăng đời Đường, họ Chu, người xứ Kiến Châu (nay là huyện Kiến An, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Người đời gọi sư là “Đại Châu Hòa Thượng”. Tác phẩm: Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận. ● 2. Thiền tăng đời Thanh (1626-?), họ Tạ, tự Thủy Giám, còn gọi là Sa Ông, Ngụ Tẩu, Ngụ Nhân, người xứ Ngạc Châu (nay là tỉnh Vũ Hán) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Độc Quan Hành Kính, tông Lâm Tế. Sư trụ các chùa: Thiết Phật, Thiên Vương, Địa Tạng, Hoàng Long, Thê Hiền, Quảng Huệ. Tác phẩm: Thiên Vương Thủy Giám Hải Hòa Thượng Lục Hội Lục 10 quyển, Ngũ Hội Lục 6 quyển, Thiên Vương Thủy Giám Hải Hòa Thượng Trụ Kim Túc Ngữ Lục 3 quyển. ● 慧 暉 (1097-1183). Thiền tăng đời Tống, họ Trương, người xứ Thượng Ngô (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Chân Hiết Thanh Liễu. Sư trụ chùa Tịnh Từ ở Lâm An (nay là Hàng Châu), được vua ban hiệu “ Tự Đắc Thiền Sư”. Tác phẩm: Linh ẩn Tịnh Từ Tự Đắc Thiền Sư Ngữ Lục. ● 慧 喜 (1564-1639). Thiền tăng đời Minh, họ Lưu, tự Tâm Duyệt, hiệu Hàn Khôi, người xứ Bồ Thành (nay thuộc Hà Bắc) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Chính Đạo. Sư nối tiếp Thầy, trụ trì chùa Thiếu Lâm. ● 慧 可 (487-593). Thiền Sư thời Bắc Ngụy, Bắc Tề, là Tổ thứ hai của Thiền Tông, họ Cơ, ban đầu tên Thần Quang, người xứ Hổ Lao (nay là Huỳnh Dương, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc, nối pháp Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Thụy hiệu “Đại Tổ Thiền Sư”. ● 慧 開 (1183-1260). Thiền tăng đời Tống, họ Lương, tự Vô Môn, người xứ Hàng Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Nguyệt Lâm Sư Quán, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Báo Quốc ở Cát An (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) sau dời về các chùa: Thiên Vũ, Thúy Nham, Khai Nguyên, Linh Nham, Tiêu Sơn, Bảo Ninh. Tác phẩm: Vô Môn Quan 1 quyển. ● 慧 空 大 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, hiệu “Tồn Đức”. X. Tồn Đức. ● 慧 劍. Trí huệ Phật giáo dụ như cây kiếm, dùng nó cắt đứt tất cả phiền não và tà thuyết của ngoại đạo. Tiết Phổ Hiền Nguyên Tố Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: 大 丈 夫 秉 慧 劍 般 若 鋒 兮 金 剛 焰 非 但 能 摧 外 道 心 早 曾 落 卻 天 魔 膽。 “Đại trượng phu, bỉnh huệ kiếm Bát nhã phong hề kim cương diệm Phi đản năng tồi ngoại đạo tâm Tảo tằng lạc khước thiên ma đảm” “Đại trượng phu cầm kiếm huệ Ánh Bát nhã hề kim cương lóe Đã hay ngoại đạo bạt tâm mê Lại khiến thiên ma lùi khiếp vía”. ● 慧 堅. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Linh ẩn Quy Nhân, tông Tào Động. Sư trụ núi Đại Dương ở Sính Châu (nay thuộc huyện Chung Tường, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. ● 慧 經 (1548-1618). Thiền tăng đời Minh, họ Bùi, tự Vô Minh, người xứ Sùng Nhân (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thường Trung, tông Tào Động. Sư trụ chùa: Bảo Phương, Thọ Xương. Tác phẩm: Vô Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục. ● 慧 朗. 1. Thiền tăng đời Đường (765-835), họ Âu Dương, người xứ Thủy Hưng (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên. Sư trụ chùa Chiêu Đề ở Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam). ● 2. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Trường Khánh Huệ Lăng, tên thường gọi là “Lãng Thượng tọa”. Sư trụ viện Báo Ân ở Phúc Châu. ● 3. Thiền tăng đời Đường (661-725), họ An, người Thuần An, Chiết Giang, Trung Quốc. Sư nối pháp Lục Tổ Huệ Năng, thuộc Thiền Tông Nam tông đời thứ 2, trụ chùa Long Hưng ở Mục Châu (nay là huyện Kiến Đức, Chiết Giang). ● 慧 棱 (854-932). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Tôn, người đời gọi sư là “Tôn Công”, người xứ Diêm Quan, Hàng Châu (nay ở phía tây nam huyện Hải Ninh, Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Thụy hiệu “Siêu Giác Đại Sư”. ● 慧 廉. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển. Sư trụ viện Chương Giang ở Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. ● 慧 龍 (1005-1055). Thiền tăng đời Tống, họ Triệu, tự Tử Năng, người Phượng Tường, Thiểm Tây, Trung Quốc. Sư nối pháp Đại Sư Diệu Quang, thuộc tông Vân Môn đời thứ 6, trụ thiền viện Diên Thọ, núi Bạch Vân, Thiều Châu. ● 慧 輪. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển. Sư trụ chùa Diên Thọ ở Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. ● 慧 滿. 1. Thiền tăng đời Đường, họ Trương, người xứ Huỳnh Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tăng Na. Sư trụ chùa Hội Thiện ở Lạc Châu (nay là Lạc Dương). ● 2. Thiền tăng đời Tống (?-1206), hiệu Tuyết Nham, người đời gọi sư là “Tuyết Nham Huệ Mãn”; nối pháp Thiền Sư Thể, tông Tào Động. Sư trụ chùa Đại Minh ở Từ Châu (nay là huyện Từ, tỉnh Hà Bắc). ● 慧 命. Pháp mạch của Phật giáo. Trí huệ là sinh mạng của Phật giáo nên gọi là Huệ mạng. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “大 道 惟 公、法 無 偏 黨。後 世 妄 生 人 我、割 截 虛 空、嗣 臨 濟 者 謗 曹 洞、嗣 曹 洞 者 謗 臨 濟、破 滅 法 門、自 喪 慧 命、豈 不 深 可 痛 哉! – Đạo lớn công bằng, pháp không thiên lệch. Đời sau vọng sinh nhân ngã, chia cắt hư không, người nối pháp tông Lâm Tế thì hủy báng tông Tào Động và ngược lại, cả hai đều làm hư mất pháp môn, tự vùi chôn huệ mạng, há không đau xót lắm sao!”. ● 慧 明. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại (895-975), họ Tưởng, người xứ Tiền Đường (nay thuộc tỉnh Hàng Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ núi Đại Mai ở Ngân Huyện (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). ● 2. Thiền tăng đời Minh (1318-1386), họ Hạng, tự Tính Nguyên, hiệu Huyễn ẩn, Huyễn ẩn Sinh; người xứ Hoàng Nham (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Nguyên Tẩu Đoan Công. Sư trụ trì chùa Kim Sơn ở Trấn Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tô), sau dời về chùa Linh ẩn ở Hàng Châu. ● 3. Tăng nhân hiện đại (1859-1930), họ Ôn, pháp hiệu Viên Chiếu, người xứ Đinh Châu (nay là huyện Trường Đinh, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư trụ chùa Linh ẩn ở Hàng Châu. Tác phẩm: Huệ Minh Pháp Sư Khai Thị Lục. ● 慧 明 大 師. Thiền tăng đời Tống, vua Tống Thái Tông ban cho sư hiệu Hy Biện. X. Hy Biện. ● 慧 明 禪 師. Thiền tăng đời Tống, hiệu Diên San. X. Diên San. ● 慧 目. Hiệu của Thiền tăng Uẩn Năng đời Tống. X. Uẩn Năng. ● 慧 南 (1002-1069). Thiền tăng đời Tống, họ Chương, người Ngọc Sơn, Giang Tây (có thuyết nói là người Thượng Nhiêu, Giang Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Sở Viên, làm truyền nhân tông Lâm Tế đời thứ 8 và là sơ tổ phái Hoàng Long. Sư lần lượt trụ các nơi:Viện Đồng An Sùng Thắng ở Phúc Kiến, Lô Sơn Tây Thiền viện, Hoàng Bá Sơn tự ở Quân Châu (nay là Cao An, Giang Tây), chùa Sùng Ân trên núi Hoàng Long ở phủ Long Hưng. Có Ngữ Lục truyền bá ở đời. Thụy hiệu: Phổ Giác Thiền Sư. ● 慧 能 (638-713). Thiền tăng đời Đường, Tổ thứ 6 của Thiền Tông, người khai sáng Nam Tông, họ Lư, nguyên quán Phạm Dương (nay là Đại Hưng, Bắc Kinh), sinh ở Tân Hưng, Nam Hải (nay thuộc Quảng Đông) Trung Quốc; nối pháp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Ngài chủ trương tất cả chúng sinh đều có Phật tính, mỗi người đều có thể thành Phật, dùng cách dạy đạo giản dị, chú trọng cải cách lối dạy kinh nghĩa lộn xộn rối rắm của truyền thống Phật học cũ. ● 慧 悟 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Xung Húc đời Ngũ Đại. X. Xung Húc. ● 慧 顒 (860-930). Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Hà Bắc, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hưng Hóa Tồn Tương, tông Lâm Tế. Sư trụ Nam Viện của Bảo ứng Thiền Viện ở Nhữ Châu (nay là huyện Lâm An, tỉnh Hà Nam) nên sư còn có pháp hiệu “Nam Viện”, người đời thường gọi “Bảo ứng Thiền Sư”. ● 慧 元 (1037-1091). Thiền tăng đời Tống, họ Nghê, người xứ Hồ Dương, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Huệ Nam làm truyền nhân tông Lâm Tế đời thứ 9, phái Hoàng Long đời thứ 2. Sư từng trụ các nơi: Thừa Thiên Vạn Thọ Tự, Ngô Giang Thọ Thánh Tự, Côn Sơn Huệ Nghiêm Tự, Hồ Châu Báo Bản Tự. ● 慧 月 禪 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, hiệu Pháp Đoan. X. Pháp Đoan. ● 慧 因 高 酈 寺 至 志. Chí, 12 quyển, do Lý Trợ soạn vào đời Minh, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Vào đời Tống, Tấn Thủy Tịnh Nguyên trụ trì Huệ Nhân Thiền tự chú thích kinh Hoa Nghiêm. Vị tăng Cao Ly là Nghĩa Thiên theo ngài Tịnh Nguyên học kinh Hoa Nghiêm, dùng giấy xanh giấy vàng để dịch 300 bộ kinh Hoa Nghiêm, đến nỗi chùa Huệ Nhân có tên là chùa Cao Ly. Vào khoảng niên hiệu Thiên Khải (1621-1627) đời Minh, Lý Trợ nhận lời yêu cầu của vị tăng trong chùa là Chỉ Thủy, biên tập tự chí, chia làm 10 loại: Nguyên thủy, Cảnh vật, Tổ đức, Đàn na, Cung vũ, Bi ký, Truyện chí, Tạp văn, Đề vịnh, Pháp tự. ● 慧 因 寺. Bên bờ tây nam Tây Hồ, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Thiên Thành thứ 2 (927) đời Hậu Đường, Ngô Việt Vương Tiền Lưu sáng lập, gọi là “Huệ Nhân Thiền Viện”. Đời Tống Tấn Thủy Tịnh Nguyên vào ở chùa này, tăng người Triều Tiên là Nghĩa Thiên cũng đến đây học Hoa Nghiêm với Tịnh Nguyên. Thời vua Tống Thần Tông (1068- 1085) đổi tên là “Huệ Nhân Giáo Viện” và xây bia kỷ niệm. Vào niên hiệu Càn Đạo (1165-1173) Viên Trừng Nghĩa Hòa trụ chùa này soạn “Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Vô Tận Đăng” 1 quyển, đề xướng pháp môn niệm Phật viên dung Hoa Nghiêm. Sau khi Viên Trừng dời sang chùa Năng Nhân, Bình Giang, đặc biệt có hai Thiền Sư Hoài Tường, Nghĩa Tận vào ở chùa này. Thời Tống Lý Tông (1225-1264) Pháp sư Dị Am đổi thiền viện thành giảng đường. Cuối đời Nguyên đại bộ phận kiến trúc bị chiến tranh phá hủy. Khoảng niên hiệu Chính Đức (1506-1521) đời Minh, Vạn Tùng Huệ Lâm vào ở chùa này, giảng thuyết kinh Hoa Nghiêm, đồ chúng vân tập vài ngàn người. Cao túc của Huệ Lâm là Dị Am Như Thông, Ngộ Huyền, Vô Tế Minh Huệ vào ở chùa này. Như Thông xây lại Thiên vương điện, Đại hùng điện, Luân tàng các, Diệu ứng điện, Chung lâu, Thiền đường. Minh Huệ kế thừa y bát tông Lâm Tế đời thứ 27, vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 6 (1578) trùng tu Huệ Nhân Tự cùng lập bi ký. Pháp tự Nguyệt ấn khởi công xây dựng lầu kinh Hoa Nghiêm. Niên hiệu Càn Long thứ 22 (1757) ban cho hiệu “Pháp Vân Tự”. ● 慧 日 (1272-1340). Thiền tăng đời Nguyên, họ Thẩm, hiệu Đông Minh, người xứ Định Hải, Minh Châu nay là đông bắc huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Trực Ông Đức Cử, tông Tào Động. Tác phẩm: Tông Môn Vô Tận Đăng Luận, Bạch Vân Đông Minh Hòa Thượng Ngữ Lục 3 quyển. ● 慧 風. Gió Phật pháp, Phật pháp và sự giáo hóa của Phật Tổ như cơn gió bay đi khắp nơi.. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “欲 使 慧 風 與 堯 風 并 扇、庶 佛 日 與 舜 日 同 明。 – Muốn khiến cho Gió Phật pháp và Gió (đạo đức) của vua Nghiêu đều được nổi lên, ngõ hầu mặt trời Phật và mặt trời (trí huệ) của vua Thuấn cùng sáng”. ● 慧 方. 1. Thiền tăng đời Đường (629-695), họ Bộc; nối pháp Thiền Sư Trí Nham, tông Ngưu Đầu. Sư trụ núi Ngưu Đầu 10 năm không xuống núi. ● 2. Thiền tăng đời Tống (1073-1129), họ Cung, hiệu Siêu Tông, người xứ Lâm Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tử Tâm Ngộ Tân, tông Lâm Tế, phái Hoàng Long. Sư trụ chùa Hòa Sơn, Kiết Châu (nay là huyện Kiết An, Giang Tây). Tác phẩm: Siêu Tông Huệ Phương Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. ● 3. Thiền tăng đời Tống, họ Hứa, người xứ Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Văn thù Tâm Đạo, tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Sở An, Đàm Châu. ● 慧 觀. Hiệu của Thiền tăng Hành Tu đời Ngũ Đại. X. Hành Tu. ● 慧 光. 1. Thiền tăng đời Tống, họ Hạ Hậu, hiệu Tịch Thất, người xứ Tiền Đường (nay thuộc Hàng Châu) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Huệ Lâm Hoài Thâm, tông Vân Môn. Sư trụ chùa Linh ẩn, Hàng Châu ● 2. Thiền tăng đời Tống, hiệu Hối Am, người xứ Kiến Ninh (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Ô Cự Đạo Hành, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Sư trụ núi Quy Phong, Tín Châu (nay là huyện Thượng Nhiêu, tỉnh Giang Tây). Tác phẩm: Hối Am Quang Thiền Sư Ngữ Yếu 1 quyển. ● 惠 光 (1888-1967). Tăng nhân hiện đại, họ Lý, pháp danh Thánh Như, biệt hiệu Phục Định, người huyện Tương Đàm, Hồ Nam, Trung Quốc. Sư từng học tại các Phật học viện: Khai Phúc ở Trường Sa, Vũ Xương ở Hồ Bắc, Trung Hoa ở Bắc Kinh, Báo Ân ở Thất Tháp và có sự thể ngộ khá sâu đối với các tông: Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tính, Tướng, Luật, Tịnh, Mật, Thiền. Tác phẩm: Tông Môn Giảng Lục, Thiền Học Chỉ Nam, Thiền Học Vấn Đáp. ● 慧 廣 (1576-1620). Thiền tăng đời Minh, họ Hàn, tự Nam Minh, người xứ Hải Diêm (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Xa Khê. Tác phẩm: Ngữ Lục 1 quyển. ● 慧 廣 大 師. Thiền tăng đời Tống, hiệu “Quy Hiểu”. X. Quy Hiểu. ● 慧 旵 (1372-1441). Thiền tăng đời Minh, họ Vương, tự Hư Bạch, người Hồ Quảng, ở Đơn Dương (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Phổ Trì, thuộc tông Lâm Tế, trụ trì Đông Minh Thiền Tự. ● 慧 生 (?-1063). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ ni đa lưu chi đời thứ 13. Sư họ Lâm, tên Khu Vũ, người làng Đông Phù Liệt, dòng dõi Lâm Phú ở núi An Trà, miền Bắc Việt Nam. Bài kệ đáp vua Lý Thái Tông về cách dụng tâm: 法 本 如 無 法、非 有 亦 非 無 若 人 知 此 法、眾 生 與 佛 同 寂 寂 楞 伽 月、空 空 度 海 舟 知 空 空 覺 有、三 昧 任 通 週 “Pháp bản như vô pháp Phi hữu diệc phi vô Nhược nhân tri thử pháp Chúng sinh dữ Phật đồng Tịch tịch Lăng già nguyệt Không không độ hải chu Tri không không giác hữu Tam muội nhậm thông châu” “Pháp vốn như không pháp Chẳng có cũng chẳng không Nếu người biết pháp ấy Chúng sinh cùng Phật đồng. Trăng Lăng già vắng lặng Thuyền Bát nhã rỗng không Biết không, không giác có Chính định mặc thong dong”. Tác phẩm: Pháp sự trai nghi, Chư Đạo Tràng Khánh Tán Văn : Thiên Phúc, Thiên Khánh, Khai Quốc ở Tiên Du; Diệu Nghiêm, Báo Đức v.v… ở Vũ Ninh. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 慧 崇 禪 師 塔. Nằm trong rừng tháp chùa Linh Nham, huyện Trường Thanh, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, là mộ tháp của Thiền Sư Huệ Sùng, cao tăng chùa Linh Nham đời Đường, được xây vào khoảng niên hiệu Thiên Bảo (742-755) đời Đường. Tháp cao khoảng 5,3m, toàn bộ xây bằng đá, là tháp một tầng mái chồng theo kiểu đình các. Dưới tháp là tòa Tu di, trên tòa xây thân tháp hình vuông. Mặt chính của tháp có cửa, ba mặt còn lại khắc cửa giả khép nửa, trên cửa có khắc đồ án Sư đầu, Kỹ nhạc, Phi thiên, Võ sĩ, diễn cảm sinh động hoạt bát, điêu khắc khỏe khoắn có lực, là phong cách nghệ thuật thời kỳ thịnh Đường. Tháp thất cũng hình vuông, đỉnh thất là hình cái đấu úp. Đỉnh tháp hình tứ giác nhọn đầu. Mái tháp dùng thạch bản lớp lớp chồng khít lên nhau. Trên tháp sát có lộ bồn, ngưỡng liên, bảo châu, là hình thức thông thường của thạch tháp một tầng đời Đường. Cả tháp tạo dáng vừa mạnh mẽ vừa đẹp đẽ. ● 慧 才 (?-1570). Thiền tăng đời Minh, tên đời là Nghiêm Đường, hiệu Thiên Dục, Tây Chiếu, người xứ Dương Lâm (nay là huyện Tung Minh, tỉnh Vân Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Kính Sơn Vạn Tùng. Sư trụ chùa Mã Kỳ ở Tùng Giang (nay thuộc Thuợng Hải). ● 慧 藏. Thiền tăng đời Đường, người xứ Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây) Trung Quốc; nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư cất am ở núi Thạch Củng nên người đời gọi sư là “Thạch Củng Hòa Thượng”. ● 慧 濟 禪 師. Hiệu của thiền tăng Pháp An đời Ngũ Đại. X. Pháp An. ● 慧 濟 寺. Còn gọi: Phật Đỉnh Sơn Tự. Nằm trên núi Phật Đỉnh, Phổ Đà Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Nguyên là một thạch đình thờ Phật. Đời Minh tăng Huệ Viên sáng lập Huệ Tế Am. Niên hiệu Càn Long thứ 58 (1793) đời Thanh mở rộng thành chùa đổi tên là “Huệ Tế Thiền Tự”. Niên hiệu Quang Tự thứ 33 (1907) Hòa Thượng Văn Chính xây dựng thêm bèn trở thành chùa lớn, cùng với Phổ Tế Tự, Pháp Vân Tự được coi là ba chùa lớn ở Phổ Đà Sơn. Toàn chùa có 4 điện, 7 cung, 6 lầu. Đại hùng bảo điện mái đơn đỉnh yết sơn, rường cột khắc họa, chính giữa thờ Phật Thích ca và hai vị đệ tử, không giống những chùa miếu thờ Quán Âm ở Phổ Đà Sơn. Chùa ở trên đỉnh núi cao tĩnh mịch tuyệt tục. Tại đây nhìn xuống có thể thấy toàn cảnh Phổ Đà Sơn và biển cả bao la. Nếu như gặp thời tiết mây mù từng cụm mây trắng như sóng biển cuồn cuộn, lúc thì bồng bềnh trên đầu, lúc thì trôi đi dưới chân, đây là một trong mười cảnh đẹp của Phổ Đà. ● 慧 清 (885-960). Thiền tăng đời Ngũ Đại, người nước Tân La; nối pháp Thiền Sư Nam Tháp Quang Dũng, tông Quy Ngưỡng. Sư trụ núi Ba Tiêu ở Sính Châu (nay là Kinh Sơn, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. ● 慧 誠 (941-1007). Thiền tăng đời Tống, họ Thôi, người xứ Dương Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Pháp An, tông Pháp Nhãn. Sư trụ trì chùa Quy Tông ở Lô Sơn. ● 慧 勝 (thế kỷ V). Thiền tăng thời Bắc Thuộc, ở chùa núi Tiên Châu, theo Thiền Sư nước ngoài là Đạt ma đề bà học pháp quán hạnh. Lưu Tích ở Bành Thành khi làm Thái Thú ở Nam Hải nghe đạo phong của sư, lúc về nước thỉnh sư cùng đi. Khi về tới Bành Thành, sư cư trú tại chùa U Thê. Sư giữ kín chỗ kỳ đặc, thường tỏ ra ngu ngốc, nhưng người ở lâu với sư rất kính trọng, những học giả về Thiền rất khâm phục. ● 慧 深. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Chiêu Khánh Đạo Khuông. Sư trụ viện Từ Vân ở Liên Châu (nay thuộc huyện Liên, tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc. Vua ban hiệu “Phổ Quang Đại Sư”. ● 慧 涉 (741-822). Thiền tăng đời Đường, họ Tạ, là đời sau của Tạ An đời Đông Tấn, người xứ Cối Kê (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Sơn Trung, tông Ngưu Đầu. Sư trụ chùa Trang Nghiêm ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh). ● 慧 通 (1431-1501). Thiền tăng đời Minh, tên đời là Thiệu, tự Đại Xiển, người xứ Chính Hòa (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Hội Trung, tông Lâm Tế. ● 慧 寂 (814-890). Thiền tăng đời Đường, là 1 trong 2 vị Tổ sư khai sơn tông Quy Ngưỡng, họ Diệp, người xứ Hoài Hóa (nay ở phía đông nam huyện Phiên Vũ, tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu. Sư trụ Ngưỡng Sơn ở Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây). Người đời gọi sư là “Ngưỡng Sơn Tiểu Thích ca”. Môn phong Ngưỡng Sơn: Dùng tay vẽ một vòng tròn, rồi vẽ trong ấy 1 chữ hoặc 1 bức tranh để khai thị người học. ● 慧 性. Thiền tăng đời Minh, hiệu Tổ Minh. ● 慧 省. Thiền tăng đời Đường; nối pháp Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư trụ viện Ti Thọ ở Tuyên Châu (nay thuộc Tuyên Thành, tỉnh An Huy) Trung Quốc. ● 慧 宗. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Trường Khê (nay là huyện Hà Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Nham Đầu Toàn Khoát. Sư trụ chùa Linh Nham ở Cát Châu (nay là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây). ● 慧 智. Thiền tăng đời Tống, tên Hy Biện. Huệ Trí là hiệu của sư do Ngô Việt Trung Ý Vương ban tặng. X. Hy Biện. ● 慧 哲 (765-846). Thiền tăng đời Đường, họ Kim, người nước Tân La (nay là Triều Tiên). Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 9 (814), sư vào Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Trí Tạng Tây Đường, thuộc hệ Nam Nhạc đời thứ 4. Niên hiệu Khai Thành thứ 4 sư trở về nước, hoằng dương Thiền Tông ở chùa Thái An, núi Đồng Lý, là Tổ khai sơn Đồng Lý Sơn Triều Tiên. ● 慧 徹. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Thạch Môn Hiến Uẩn, tông Tào Động. Sư kế tiếp Hiến Uẩn trụ trì chùa Thạch Môn ở Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. ● 慧 忠. 1. Thiền tăng đời Đường (683-769), họ Vương, người xứ Thượng Nguyên, Nhuận Châu (nay là huyện Giang Ninh, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc nối pháp Thiền Sư Trí Oai, tông Ngưu Đầu. Sư trụ chùa Diên Tộ. ● 2. Thiền tăng đời Đường (690-775), họ Nhiễm, người xứ Chư Kỵ (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Lục Tổ Huệ Năng, là 1 trong 5 bậc tông tượng sau Lục Tổ. Thụy hiệu “Đại Chứng Thiền Sư”, đời thường gọi “Nam Dương Quốc Sư”. ● 3. Còn gọi: Chí Trung. Thiền tăng đời Đường (817-882), họ Trần, người xứ Tuyên Du, Tuyền Châu (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thảo Am Pháp Nghĩa. ● 慧 慈 (800-872). 1. Thiền tăng đời Đường, họ Trần, người Hà Bắc, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Trí Viễn, thuộc tông Hà Trạch đời thứ 6, trụ chùa Đại Vân ở Thiều Châu, thu phục một con cọp để cưỡi, người đời gọi sư là Hổ Thiền Sư. Có điềm linh dị khi xây tháp nên người trong làng gọi tháp của sư là Thánh Sư tháp. ● 2. Thiền tăng đời Ngũ Đại (912-972), họ Long, tự Bảo Hoa, người Hoài Hóa (nay là Hoài Tập, Quảng Đông) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Lãng Thượng, thuộc tông Vân Môn đời thứ 3, trụ trì viện Địa Tạng ở Liên Châu (nay thuộc Liên, Quảng Đông). Hiệu: Minh Thức Đại Sư. ● 慧 圓. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Thê Hiền ở Lô Sơn. ● 慧 遠 (1103-0076). Thiền tăng đời Tống, họ Bành, tự Hạt Đường, người My Sơn, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Khắc Cần, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 12, phái Dương Kỳ đời thứ 5. Sư trụ trì chùa Linh ẩn tại Hàng Châu, được vua ban hiệu Phật Hải Đại Sư. Tác phẩm: Hạt Đường Tập, Phật Hải Đại sư Ngữ Lục. ● 雄 辨 法 師 大 寂 塔. Tháp ở hậu sơn chùa Cùng Trúc, thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tháp có 4 phương 8 mặt 12 góc, xây bằng gạch, đáy tòa hình vuông, tháp sát hình tròn. Bia đá Bảo Vân tháp minh của Pháp sư Hùng Biện lập vào niên hiệu Chí Đại thứ 3 (1310) đời Nguyên. Nguyên trước khi lập mộ hiện di dời vào trong Hoa Nghiêm các. Pháp sư Hùng Biện họ Lý, sinh tại Côn Minh, tịch vào niên hiệu Đại Đức thứ 5 (1301) đời nguyên. 23 tuổi xuất gia, từng đi khắp nơi trong nước học Phật pháp 25 năm. Nguyên Thế Tổ ban pháp danh “Hồng Cảnh”. Khi Lương vương làm vua Vân Nam, Hùng Biện trở về Vân Nam giảng dạy kinh điển Thiền Tông, tiếng tăm càng nổi, đối với sự phát triển của Phật giáo Vân Nam và sự khai thác chùa Cùng Trúc có nhiều cống hiến. ● 熊 耳 山. Núi ở phía nam Lô Chi, Hà Nam, tiếp giáp với Vĩnh Ninh (Nay là huyện Lạc Ninh) Trung Quốc. Vì hai ngọn của rặng núi này dựng đứng lên như tai gấu nên núi được gọi là Hùng Nhĩ Sơn. Tháp của Tổ Đạt ma được xây tại núi này. Bài Tự Đề của Tuệ Trung Thượng Sĩ có ghi: 秋 光 有 筆 莫 形 容 激 目 山 何 處 處 同 一 派 曹 溪 寒 湛 湛 千 年 熊 耳 碧 叢 叢 “Thu quang hữu bút mạc hình dung Khích mục sơn hà xứ xứ đồng Nhất phái Tào Khê hàn trạm trạm Thiên niên Hùng Nhĩ bích tùng tùng” “Sắc thu, bút khó vẽ nên hình Sông núi nơi nơi một vẻ thanh Một dải Tào Khê ngăn ngắt lạnh Nghìn năm Hùng Nhĩ chập chùng xanh”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di, Thơ văn Lý Trần của Viện Khoa học Xã hội. ● 玄 本. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Chi Đề Biện Long, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Linh ẩn, Hàng Châu. ● 玄 機 (645-720). Thiền Sư ni đời Đường, họ Tạ, người Dư Hàng, Chiết Giang, Trung Quốc. Sư nối pháp Lục Tổ Huệ Năng, Nam tông đời thứ 2, trụ Vô Tận Am, Tịnh Cư Am hoằng thiền pháp Tào Khê. ● 玄 旨. 1. Ý chỉ huyền diệu, phần nhiều chỉ cho ý chỉ Thiền. Tín Tâm Minh (Đại 48, 376 trung) ghi: 違 順 相 爭、是 爲 心 病 不 識 玄 旨、徒 勞 念 靜 “Vi thuận tương tranh Thị vị tâm bệnh Bất thức huyền chỉ Đồ lao niệm tịnh”. “Thuận nghịch tranh nhau ấy là tâm bệnh. Chẳng biết huyền chỉ uổng công niệm tịnh”. 2. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Bạch Long Đạo Hy. Sư trụ chùa Quảng Bình, Phúc Châu. ● 玄 徒. Còn gọi: Huyền Lưu. Tăng đồ, tăng nhân. Tiết Đức Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.5 ghi: “Hàm Thông sơ niên, Vũ Lăng Thái thú Tát Đình Vọng, nghinh thỉnh (Đức Sơn Hòa Thượng) thỉ cư Đức Sơn, tự thị tứ hải huyền đồ, đông hạ thường doanh ngũ bách hĩ. – Niên hiệu Hàm Thông thứ 1, Thái thú Vũ Lăng là Tát Đình Vọng nghinh thỉnh Hòa Thượng Đức Sơn về ở Đức Sơn, từ đây tăng đồ khắp nơi tụ hội về vào mùa đông mùa hạ thường lên đến năm trăm người.” ● 玄 覺 (665-713). Thiền tăng đời Đường, họ Đới, tự Đạo Minh, người xứ Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu, Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Lục Tổ Huệ Năng. Sư trụ chùa Long Hưng ở Ôn Châu. Tác phẩm: Vĩnh Gia Tập 10 thiên, Thiền Tông Ngộ Tu Viên Chỉ 1 quyển, Chứng Đạo Ca 1 thiên. ● 玄 覺 導 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Hành Ngôn, hiệu “Huyền Giác Đạo Sư”. X. Hành Ngôn. ● 玄 鑒. 1. Gương mầu nhiệm. Chỉ cho chân tâm. ● 2. Thiền tăng đời Nguyên, người xứ Khúc Tĩnh (nay thuộc Vân Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Trung Phong Minh Bản, tông Lâm Tế. Sư trụ núi Đại Hoa. ● 玄 侶. Chư tăng. Chương Thủ Thanh Thiền Sư trong CĐTĐL q.22 ghi: “出 家 於 巖 背 山、悟 心 之 後、受 請 居 清 泉、玄 侶 臻 集。 – Sư xuất gia ở núi Nham Bối, sau khi ngộ tâm được mời ở chùa Thanh Tuyền, chư tăng kéo đến tụ hội”. ● 玄 悟 禪 師. Thiền tăng đời Đường, tên là Hoài Hựu, thụy hiệu “Huyền Ngộ Thiền Sư”. X. Hoài Hựu. ● 懸 崖 撒 手. Trên bờ vực thẳm buông tay. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho cảnh giới Ngộ, hình dung việc vượt khỏi tâm ý thức giống như đã leo đến đỉnh núi, bốn bề là vực thẳm mà còn bước thêm một bước và hai tay chẳng vịn vào đâu. Tham thiền kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、漆 桶 打 脫 撒 手 懸 崖、那 問 死 活 “Tham thiền đệ nhất Tất Dũng đả thoát Tát thủ huyền nhai Na vấn tử hoạt?” “Pháp tham thiền bậc nhất Đập thùng sơn lủng đáy Trên vực thẳm buông tay Hỏi làm chi sống chết?”. ● 玄 人. Chư tăng, tăng sĩ. Tiết Vân Môn Hòa Thượng trong TĐT q.11 ghi “日 入 西、玄 人 莫 向 途 中 走、黃 葉 浮 漚 賺 殺 人、命 盡 慞 惶 是 了 手。 – Phật pháp xế chiều, chư tăng chớ nên rong chơi, lá vàng bọt nước lừa gạt chết người, đợi khi sắp chết hoảng hốt thì còn nước xuôi tay”. ● 玄 訥 (878-960). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Thôi, người xứ Cao Ly; nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư trụ viện Phúc Thanh, Tuyền Châu. ● 玄 峰 (1266-1349). Thiền tăng đời Nguyên, họ Chu, vốn là người nước Sở, do đời ông làm quan ở Điền Nam nên bị xóa tên trong sổ ở Côn Minh, nối pháp Thiền Sư Trung Phong Minh Bản, tông Lâm Tế. Sư trụ Hoa Đình ở Vân Nam. Tác phẩm: Cao Tăng truyện và Ngữ Lục. ● 玄 光 (1254-1334). Thiền tăng đời Trần, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử, tổ thứ 3, nối pháp Thiền Sư Pháp Loa. Sư tên Lý Tải Đạo, người làng Vạn Tải lộ Bắc Giang, miền Bắc Việt Nam. Năm 1274, đỗ Trạng Nguyên làm quan ở viện Hàn Lâm. Năm 1305 xuất gia, thụ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, làm thị giả đức Điều Ngự. Tác phẩm: ― Ngọc Tiên Tập ― Chư Phẩm Kinh ― Công Văn Tập ― Phổ Tuệ Ngữ Lục. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 玄 沙 師 備 禪 師 語 錄. Còn gọi: Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Thiền Sư Ngữ Lục, Huyền Sa Đại Sư Ngữ Lục, Huyền Sa Ngữ Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, do Huyền Sa Sư Bị soạn vào đời Đường, Lâm Hoằng Viễn biên tập vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh, tập 126, trang 487. Sách này thu thập những Ngữ Yếu chưa được đem vào bộ “Quảng Lục” như: Thượng đường, niêm hương, thùy thị; bao gồm Huyền Sa lược truyện, 3 câu Cương tông, Huyền Sa phê bình cổ tắc công án. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Thiên Khải thứ 6 (1626) đời Minh. ● 玄 沙 師 備 禪 師 廣 錄. Gọi đủ: Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư Quảng Lục. Còn gọi: Huyền Sa Quảng Lục. Quảng Lục, 3 quyển, do Huyền Sa Sư Bị soạn vào đời Đường, Trí Nghiêm biên tập, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 126, trang 351. Nội dung bao gồm các lời thượng đường, dạy chúng trong lúc thượng đường, Phương Trượng Lục, Phật Tâm Ấn Lục. Quyển cuối có phụ lục “Đường Phúc Châu An Quốc Thiền Viện Tiên Khai Sơn Tông Nhất Đại Sư Bi Văn Tinh Tự”. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Nguyên Phong thứ 3 (1080) đời Tống. ● 玄 策. 1. Thiền tăng đời Đường (668-746), họ Lý, người xứ Kim Hoa, Vụ Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Lục Tổ Huệ Năng. Sư trụ Kim Hoa. ● 2. Thiền tăng đời Đường (?-854), họ Lỗ, người xứ Cối Kê (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ núi Cửu Tỉnh ở Hoàng Pha (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc). Thụy hiệu “Viên Tịch Đại Sư”. ● 玄 則. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Tiết Nam, Hoạt Châu (nay là đông bắc huyện Hoạt, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ Kim Lăng. ● 玄 泰. Còn gọi: Thái Bố Nạp. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. Sư trụ lan nhã “Thất Bảo Đài” phía đông Hành Sơn, kết bạn với các vị Quán Hưu, Tề Kỷ. Tác phẩm: Dư Sơn Dao 1 bài. ● 玄 寂 大 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên ẩn Vi, hiệu “Huyền Tịch Đại Sư”. X. ẩn Vi. ● 玄 素 (663-752). Thiền tăng đời Đường, họ Mã, tự Đạo Thanh, người đời gọi sư là Mã Sách, Mã Tổ; người xứ Diên Lăng, Nhuận Châu (nay là tây nam huyện Đơn Dương, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Trí Oai, tông Ngưu Đầu. ● 玄 宗. Tông chỉ huyền diệu, chỉ cho Thiền Tông. Lục tổ Lạc Đạo Ca ghi: 諸 門 徒、窮 釋 子 不 會 如 來 眞 宗 趣 盡 心 向 上 達 玄 宗 不 論 賢 愚 都 勸 論 “Các môn đồ hèn Thích tử Chẳng hội Như Lai chân tông thú Hết lòng hướng thượng ngộ Thiền Tông Chẳng luận hiền ngu khuyên tiến thủ”. ● 玄 賾. Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người xứ Kỳ Huyện (nay thuộc tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc, từng theo giúp ngài Huyền Trang dịch kinh; nối pháp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Sư trụ Thọ Sơn ở An Châu (nay là huyện An Lục, tỉnh Hồ Bắc). Tác phẩm: Lăng Già Nhân Pháp Chí. ● 玄 應 (910-975). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Ngô, người xứ Tấn Giang (nay là Phúc Kiến, Tuyền Châu) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Bạch Long Đạo Hy. Sư trụ viện Báo Cù ở Chương Châu. ● 幻 隱. Hiệu của Thiền tăng Huệ Minh đời Minh. X. Huệ Minh. ● 幻 居. Hiệu của thiền tăng Tịnh Giới đời Minh. X. Tịnh Giới. ● 幻 空. Hiệu của Thiền tăng Viên Quả đời Minh. X. Viên quả. ● 幻 住 庵 清 規. Sách, 1 quyển, do Trung Phong Minh Bản soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111. Minh Bản dựa theo những điều cần biết hàng ngày trong tùng lâm Nhật Bản để chế định, từ đó trở thành quy củ của gia phong núi Thiên Mục. Nội dung gồm có 10 loại: Nhật tư, Nguyệt tiến, Niên quy, Thế phạm, Doanh biện, Gia phận, Danh phận, Tiễn lý, Nhiếp dưỡng, Tân tống. Phần phụ lục gồm: Khai cam lộ môn, Phổ thí pháp thực văn, sớ. Sách được ấn hành vào niên hiệu Diên Hựu thứ 4 (1317) đời Nguyên. ● 幻 住 道 人. Thiền tăng Minh Bản đời Nguyên tự xưng là Huyễn Trụ đạo nhân. X. Minh Bản. ● 血 脈. Còn gọi: Huyết Mạch Tương Thừa. Huyết mạch nghĩa đen là mạch máu, Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho sự tiếp nối. Huyết Mạch Tương Thừa là pháp môn thầy trò truyền nhau liên tục và rộng khắp giống như mạch máu liền lạc trong cơ thể con người. BNL q.1 (Đại 48, 142 trung) ghi: “僧 又 問 曹 山:如 何 是 枯 木 裏 龍 吟?山 云:血 脈 不 斷。 – Vị tăng này lại đến hỏi Tào Sơn: Thế nào là rồng ngâm trong cây khô? Tào Sơn đáp: Huyết mạch chẳng dứt”. ● 虛 谷. Hiệu của Thiền tăng Hi Lăng đời Nguyên. X. Hi Lăng. ● 虛 舟 (1196-1277). Thiền tăng sống vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên, họ Sử, tên Phổ Độ, người xứ Giang Đô (nay là huyện Dương Châu, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thiết Ngưu. Sư trụ chùa Bán Sơn ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh) sau dời đến ở các chùa: Kim Sơn, Lộc Uyển, Thừa Thiên. ● 虛 融 淡 溥. Biểu thị trạng thái xa lìa tất cả vọng chấp biên kiến, được tự do tự tại. ● 虛 堂. 1. Hiệu của Thiền tăng Trí Ngu đời Tống. X. Trí Ngu. 2. Hiệu của Thiền tăng Vĩnh Ninh đời Nguyên. X. Vĩnh Ninh. ● 虛 堂 和 尙 語 錄. Còn gọi: Hư Đường Trí Ngu Thiền Sư Ngữ Lục, Hư Đường Thiền Sư Ngữ Lục, Hư Đường Lục. Ngữ Lục, 10 quyển, do Hư Đường Trí Ngu soạn vào đời Tống, là Ngữ Lục quan trọng của tông Lâm Tế, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 658. Nội dung bao gồm: Pháp ngữ của Hư Đường Trí Ngu, Kệ tụng, Thi văn. Từ quyển 7 về trước là lúc Hư Đường còn trụ thế, do đệ tử của sư ấn hành; còn 3 quyển sau là do Diệu Nguyên thu thập, ấn hành vào niên hiệu Hàm Thuần thứ 5 (1269) đời Tống. ● 虛 堂 集. Gọi đủ: Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đan Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập. Sách, 6 quyển, do Đan Hà Tử Thuần soạn vào đời Tống, Lâm Tuyền Tùng Luân bình xướng, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 124, trang 514. Tùng Luân trích ra 100 tắc tụng cổ từ Đan Hà Tử Thuần Thiền Sư Ngữ Lục rồi biên tập lại, thêm vào phần thị chúng, trước ngữ, bình xướng để biểu đạt kiến giải về Tông thừa của sư, trở thành chỉ nam cho người tham học ngộ đạo. Sách được ấn hành vào niên hiệu Trinh Nguyên thứ 1 (1295) đời Nguyên. ● 虛 幻 子. Hiệu của Thiền tăng Vĩnh Ninh đời Nguyên. X. Vĩnh Ninh. ● 虛 捏 怪. Làm việc kỳ lạ, giả dối. Phần Dương Ngữ Lục q.thượng ghi: “祖 代 不 惺 惺、子 孫 虛 捏 怪。 – Đời ông cha không tỉnh tỉnh, thì đến đời con cháu sẽ làm việc kỳ lạ, giả dối”. ● 虛 生 浪 死. Sống luống uổng, chết lãng phí. Tiết Từ Vân Tu Huệ Thiền Sư trong LĐHY q.28 ghi: “若 承 當 去、頭 頭 應 用、取 捨 自 由、十 二 時 中、受 用 不 盡;若 用 不 得、一 任 懷 寶 迷 邦、向 外 馳 求、踏 破 草 鞋、虛 生 浪 死。 – Nếu thừa đương được thì mỗi chỗ ứng dụng, lấy bỏ tự do, trong 24 giờ thọ dụng chẳng hết. Nếu dùng chẳng được, mặc cho mang hạt châu trong chéo áo mà vẫn làm kẻ nghèo khổ tha hương, tìm cầu bên ngoài đi rách giày cỏ, sống luống uổng chết lãng phí”. ● 虛 雲 (1840-1959). Tăng nhân hiện đại, họ Tiêu, ban đầu tên Cổ Nham, tự Đức Thanh, biệt hiệu Huyễn Du. Nguyên quán Tương Hương, Hồ Nam, sinh ở Tuyền Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc. Sư từng tham học ở các chùa nổi tiếng: Cao Mân, Thiên Đồng, Thiên Ninh và trùng tu các ngôi tự viện: Hoa Đình, Nam Hoa, Chân Như. Tác phẩm: Hư Vân Hòa Thượng Pháp Vựng, Hư Vân Hòa Thượng Khai Thị Lục và trên 300 bài kệ. ● 許 可. 1. Đồng ý cho phép; cho phép. “請 和 尚 許 可。 – Xin Hòa Thượng đồng ý cho phép”. ● 2. Lời nói hoặc hành vi chứng nhận cho đệ tử đã ngộ đạo do Thiền Sư nói ra hoặc biểu lộ ra. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 2 (Đại 48, 1027 thượng) ghi: “高 菴 表 裏 端 勁 風 格 凜 然。動 靜 不 忘 禮 法。在 眾 日 屢 見 侵 害 殊 不 介 意。終 身 以 簡 約 自 奉。室 中 不 妄 許 可。稍 不 相 契。必 正 色 直 辭 以 裁 之。衲 子 皆 信 服。 – Cao Am là người nghiêm nghị cả bên trong lẫn bên ngoài, phong cách lẫm liệt. Dù động hay tĩnh sư không quên phép tắc. Trong chúng dù nhiều lần bị hãm hại sư cũng không thèm để ý đến, trọn đời ăn xài rất giản dị. Trong thiền thất, sư không bao giờ hứa khả một cách lầm lẫn. Nếu có gì không thích hợp, chắc chắn sư sẽ nghiêm sắc mặt nói thẳng để ngăn cản nên các thiền tăng đều tin phục”. ● 興 古. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Tân ở núi Điểu Nha. Sư trụ núi Đại An ở An Châu (nay là huyện An Lục, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. ● 興 化 存 獎 禪 師 語 錄. Còn gọi: Hưng Hóa Ngữ Lục, Quảng Tế Đại Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Hưng Hóa Tồn Tương soạn vào đời Đường, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục quyển 5 và Tục Tạng Kinh tập 118, trang 220. Nội dung bao gồm cơ duyên ngữ cú của Tồn Tương với Thầy của Sư là ngài Nghĩa Huyền, lời đối đáp của sư với vua Trang Tông đời Hậu Đường, Pháp Ngữ khai đường thị chúng ở chùa Hưng Hóa. Cuối quyển có phần phụ lục “Lâm Tế Huệ Nhiên Thiền Sư Tháp Ký” do Tồn Tương khảo đính. ● 興 莞 (1634-?). Thiền tăng đời Thanh, họ Ai, người đời gọi là “Cổ Nham Hưng Hoan Thiền Sư”, người quận Chuẩn, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Đàn Độ Y, tông Tào Động. Sư trụ chùa Văn thù, sau dời về chùa Hồ Tâm. Tác phẩm: Tục Cận Đại Tôn Túc Lục. ● 興 隆 (1790-1865). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trần, người đời gọi là “Biến Chiếu Hưng Long Thiền Sư”, người xứ Cổ Điền (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Văn Giác, tông Tào Động. Sư vâng theo lời di chúc của Hằng Trù, trụ Cổ Sơn. ● 興 法 大 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Thiệu Khanh, hiệu Hưng Pháp Đại Sư. X. Thiệu Khanh. ● 興 國 禪 寺. Còn gọi: Thiên Phật Tự. Nằm ở lưng chừng núi Thiên Phật, thành phố Tế Nam, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Được xây cất vào khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường, đến đời Tống lại mở rộng xây cất. Cuối đời Nguyên bị chiến tranh phá hủy. Hiện còn kiến trúc chủ yếu được xây cất lại vào niên hiệu Thành Hóa (1465-1487) đời Minh, đời Thanh lại trùng tu. Y theo núi mà lập chùa, tự viện hướng đông tây dài, hướng nam bắc hẹp, gồm 4 thiền viện, trong có Quán Âm đường, Phật gia điện, Văn xương các, Thuấn vương điện. Tự viện là kiến trúc chủ thể của Thiên Phật Sơn, ngói xanh trụ đỏ, đấu củng đồ họa màu, đình các chằng chịt, thiền viện âm u tĩnh mịch, điện vũ sảnh lang hùng vĩ tráng lệ. ● 興 聖 國 師. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Thần Yến, hiệu Hưng Thánh Quốc Sư. X. Thần Yến. ● 興 聖 萬 壽 寺. Còn gọi: Kỉnh Sơn Tự, Năng Nhân Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự, Vạn Thọ Tự. Trên núi Kính Sơn cách trung tâm huyện Dư Hàng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc 25km về phía tây bắc. Niên hiệu Thiên Bảo thứ 3 (744) đời Đường, Thiền Sư Pháp Khâm vào núi kết am mà ở, Tiền giám hải Linh Ngô Mổ cảm mến đức độ, sửa biệt thự trong núi lập thành tinh xá. Pháp Khâm hoằng dương thiền phong tông Ngưu Đầu tại núi này. Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) ban tặng tấm biển “Kỉnh Sơn Viện”. Khoảng niên hiệu Trường Hưng (930-933) đời Hậu Đường Ngô Việt Vương tu sửa lại hoàn toàn mời Thiền Sư Toàn Tể trụ trì, đổi tên là “Trấn Quốc Thiền Viện”. Đời Tống gọi “Hưng Thánh Vạn Thọ Tự”, hương khói cực thịnh, đứng đầu trong năm thiền viện lớn ở Giang Nam. Quy mô rộng lớn, tăng chúng hơn 1700 người. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 7 (1137) Đại Huệ Tông Cảo nhậm trụ trì, từ đây về sau cao tăng lớp lớp xuất hiện như Đại Thiền Liễu Minh, Phật Chiếu Đức Quang, Vô Chuẩn Sư Phạm. Danh tăng Nhật Bản đến đây cầu học cũng tấp nập không dứt. Bởi do chiến tranh và không tu sửa nên hiện chỉ còn một tòa lầu chuông, ba tượng Phật sắt đời Tống, một tấm bia lịch đại Tổ sư. ● 興 徹 (1635-?). Thiền tăng đời Thanh, họ Ngụy, người đời gọi là “Nghĩa Vân Hưng Triệt Thiền Sư”, người xứ Tế Nam (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc; nối pháp Hòa Thượng Đàn Độ Y, tông Tào Động. Sư trụ Kim Phong, sau dời về Thạch Đầu. ● 興 儔 (1639-1695). Thiền tăng đời Thanh, là tổ phái Thọ Xương, tông Tào Động Nhật Bản, họ Phù, tự Tâm Việt, hiệu Đông Cao, người xứ Kim Hoa (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thúy Vi Khoát Đường. Sư trụ chùa Vĩnh Phúc ở Tây Hồ và khai đường ở chùa Kỳ Viên. Tác phẩm: Đông Cao Tập. ● 香 海 (1628-1715). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc thiền phái Trúc Lâm. Sư quê ở làng ấn Độ, huyện Châu Phúc, miền Bắc Việt Nam. Năm 18 tuổi đỗ Hương Tiến, được bổ làm Tri phủ phủ Triệu Phong (nay là tỉnh Quảng Trị). Năm 25 tuổi xuất gia. Bài kệ dạy vua Lê Dụ Tông: 返 聞 自 己 每 常 光 審 察 思 惟 仔 細 看 莫 教 夢 中 尋 知 識 相 來 面 上 覩 師 顏 “Phản văn tự kỷ mỗi thường quan Thẩm sát tư duy tử tế khan Mạc giáo mộng trung tầm tri thức Tương lai diện thượng đổ sư nhan”. “Hằng ngày quán lại nơi chính mình Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh Trong mộng tìm chi người tri thức Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình”. Tác phẩm: 1. Giải Pháp Hoa Kinh. 2. Giải Kim Cang Kinh lý nghĩa 3. Giải Sa di Giới Luật 4. Giải Phật Tổ Tam Kinh 3 quyển 5. Giải A di đà Kinh 6. Giải Vô Lượng Thọ Kinh 7. Giải Địa Tạng Kinh 8. Giải Tâm Kinh Đại Điên 9. Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ 10. Giải Chân Tâm Trực Thuyết 11. Giải Pháp Bảo Đàn Kinh 6 quyển 12. Phổ Khuyến Tu Hành 1 quyển. 13. Cơ duyên vấn đáp tinh giải. 14. Lý sự dung thông 15. Quán Vô Lượng Thọ Kinh quốc ngữ. ● 香 海 寺. Còn gọi: Chùa Linh Ứng. Chùa nằm bên cạnh chùa Kiến Sơ, ở làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, Việt Nam. Trong chùa có thờ tượng ni sư Diệu Nhân. ● 香 嚴 寺. Chùa ở núi Bạch Nhai, phía tây bắc thành phố Đặng Châu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, được xây dựng bởi ngài Nhất Hạnh và Hổ Nhân đời Đường. Về sau, ngài Nhất Hạnh thị tịch ở Trường An, vua Túc Tông đích thân tống táng, trong núi bỗng có mùi hương nhè nhẹ, trải mấy tháng chẳng dứt, nên Vua đặt tên chùa là “Hương Nghiêm Tự”. Về sau, Nam Dương Huệ Trung trụ tích ở đây,người thời ấy gọi là “Hương Nghiêm Trường Thọ Tự”, sau khi Huệ Trung tịch cũng được an táng ở chùa này. Thiền Sư Trí Nhàn của tông Quy Ngưỡng cũng trụ trì chùa này. Công án này được thấy nơi tiết Hương Nghiêm Trí Nhàn Thiền Sư trong NĐHN q.9 như sau: “上 堂:若 論 此 事、如 人 上 樹、口 銜 樹 枝、腳 不 蹋 枝、手 不 攀 枝、樹 下 忽 有 人 問、如 何 是祖 師 西 來 意?不 對 他、又 違 他 所 問。若 對 他、又 喪 身 失 命。當 恁 麼 時 作 麼 生 即 得?時 有 虎 頭 招 上 座 出 眾 云:樹 上 即 不 問、未 上 樹 時 請 和 尚 道。師 乃 呵 呵 大 笑。 – Hương Nghiêm thượng đường nói: Nếu luận về việc này thì giống như người leo cây cao, miệng cắn vào một cành cây, hai chân buông thõng giữa hư không, hai tay không vin vào đâu hết. Chợt dưới gốc cây có người hỏi vọng lên: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Người trên cây không trả lời thì có lỗi với người hỏi, mà trả lời thì rơi chết hốt xương. Chính trong hoàn cảnh ấy phải làm sao? Lúc ấy có Thượng tọa Hổ Đầu bước ra khỏi chúng nói: Lúc trên cây thì chẳng hỏi, lúc chưa leo lên cây thỉnh Hòa Thượng nói! Sư liền cười lên ha hả.” Vấn đề do Hương Nghiêm đặt ra không thể dùng cách trả lời hợp lý bằng ngôn ngữ thông thường, ắt cần bỏ hết những tri giải tình niệm, thoát khỏi vọng tâm phân biệt, thấy suốt bản lai diện mục mới có thể lập tức ngộ nhập. ● 香 巖 寺. Thuộc nam bộ Thiên sơn, cách thành phố Yên Sơn, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc 20km về phía đông, là một trong năm đại thiền lâm ở Thiên Sơn. Niên đại xây cất không rõ. Chùa cất trong Song Nhai Giáp Hộ. Phía trước có Tướng quân phong, bên trái có Cẩm tú pha, bên phải là Tiên nhân tình. Tự viện phân chính điện trước sau, phối điện trái phải. Chính điện nguyên là kiến trúc một tầng kiểu ngạnh sơn, điêu khắc rất tinh tế, về sau cải tạo nên đã mất đi hình dáng cũ. ● 香 巖 寺 塔. Nằm trên núi phía đông Hương Nham Thiền Tự, Thiên Sơn, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc. Tương truyền xây vào đời Đường, chỉ nhìn vào hình thức và cấu tạo của tháp là biết tháp thuộc kiểu mái kín tiêu chuẩn Liêu Kim, được xây vào đời Kim, là một tòa kiến trúc cổ nhất hiện còn ở Thiên Sơn. Toàn bộ xây gạch hình bát giác 9 tầng, cao 20m. Phần dưới của tháp là tòa Tu di điêu khắc rất đẹp. Tầng thứ nhất cao lớn hơn cả có khắc đồ án Phật tượng, Phi thiên, điêu khắc tinh mỹ, hình tượng sinh động. ● 香 山 寺. Thuộc Long Môn Đông Sơn (Hương Sơn) thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Sáng lập vào thời Bắc Ngụy (385-475), thời kỳ Võ Tắc Thiên (690-704) đời Đường trùng tu. Vào niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) Phục Ngưu Tự Tại là pháp tự của Mã Tổ Đạo Nhất trụ tích tại đây, cùng với Đan Hà Thiên Nhiên nhiều lần giao du. Bạch Cư Dị từng đem của cải riêng mà trùng tu Hương Sơn Tự. Vào đời Tống chùa vẫn còn, nhưng đến đời Kim Nguyên bị phá hủy. Niên hiệu Khang Hy thứ 47 (1708) đời Thanh xây cất lại nhưng không phải trên nền cũ. Niên hiệu Càn Long thứ 15 (1750) vua Càn Long đăng lâm Hương Sơn Tự và làm thơ khắc vào đá để kỷ niệm. Hiện còn đại Phật điện, họa tượng bi, ngự bi đình, y bát tháp. ● 香 積 寺. Còn gọi: Đại Thánh Tự, Phổ Quang Tự. Chùa ở phía tây huyện Túc Thiên tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Vào khoảng niên hiệu Long Sóc (661-663) đời Đường, chùa được xây dựng, sau đổi tên là Phổ Chiếu Tự. Niên hiệu Tuyên Hòa thứ 6 (1124) đời Tống, Thiền Sư Hoằng Trí Chính Giác nhận lời mời trụ chùa này hoằng pháp. Niên hiệu Vĩnh Đông thứ 1 (1403-1422) chùa xây dựng lại một lần nữa. ● 香 泉 寺. Trên núi Lâm Lạc, huyện Cấp, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Trong núi có suối từ trong khe đá chảy ra, nước suối trong xanh, mùi vị thơm lạnh nổi tiếng từ lâu, vào thời Bắc Ngụy gọi là “Lâm Lạc Tuyền Tự”. Bắc Chu Võ Đế hủy Phật, đổi thành vườn chơi. Đời Đường xây cất lại, đổi tên là “Hương Tuyền Tự”. Từ Kim Nguyên trở đi là đạo tràng tông Tào Động. Thời kỳ đang thịnh thiền tăng nhiều đến vạn người cùng tu phạm hạnh nghiêm chỉnh nổi tiếng bốn phương. Năm 1929 đổi thành trường học. ● 向. 1. Sưởi ấm, hơ lửa. Tiết “Đan Hà Thiên Nhiên Thiền Sư” trong NĐHN q.5 ghi: “後 於 慧 林 寺 遇 天 大 寒、取 木 佛 燒 火 向。 – Về sau sư đến chùa Huệ Lâm, gặp lúc trời thật giá rét, sư đem tượng Phật gỗ xuống đốt để sưởi ấm”. ● 2. Giới từ, tương đương với “tùng” (從, có nghĩa là “từ”). Tiết “Động Sơn Lương Giới Thiền Sư” trong NĐHN q.13 ghi: “老 僧 日 前 也 向 人 家 屋 簷 下 過 來。 – Hôm qua lão tăng cũng từ mái hiên nhà người ta đến đây”. ● 3. Giới từ, tương đương với “tại” 在, biểu thị thời gian hoặc nơi chốn). Tiết “Động Sơn Hiểu Thông Thiền Sư” trong NĐHN q.15 ghi: “瑞 州 洞 山 曉 聰 禪 師、遊 方 時 在 雲 居 作 燈 頭、見 僧 說 泗 州 大 聖 近 在 揚 州 出 現。有 設 問 曰:既 是 泗 州 大 聖、爲 甚 麼 卻 向 揚 州 出 現? – Thiền Sư Hiểu Thông ở Động Sơn Thụy Châu, lúc du phương đến ở Vân Cư làm Đăng đầu, gặp một vị tăng nói đại thánh Tứ Châu xuất hiện ở Dương Châu. Sư có đặt câu hỏi rằng: Đã là đại thánh Tứ Châu, vì sao lại xuất hiện ở Dương Châu”. ● 向 袈 裟 下. Núp dưới tấm ca sa. Người xuất gia không sáng được đạo lý, chỉ mượn lốt ca sa để sinh sống mà thôi. Thiền Lâm Bảo Huấn q.1 (Đại 48, 1021 trung) ghi: “三 途 地 獄 受 苦 者。未 是 苦 也。向 袈 裟 下 失 卻 人 身。實 爲 苦 也。 – Dù có phải chịu cái khổ ở tam đồ địa ngục cũng chưa phải là khổ, mà làm người xuất gia không sáng được đạo lý mới thật là khổ vậy”. ● 向 火. Hơ lửa để sưởi ấm. Mật Am Ngữ Lục ghi: 火。熱 則 乘 涼。 – Đói thì ăn cơm, mệt thì đi ngủ, lạnh thì hơ lửa, nóng thì hóng mát.” ● 向 去. Còn gọi: Hướng hậu. Về sau, biểu thị thời gian. Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “從 今 向 去、更 不 疑 天 下 老 和 尚 舌 頭 也。 – Từ nay về sau không còn nghi những lời nói của các Hòa Thượng trong thiên hạ.” ● 向 來. Vừa rồi. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “向 來 如 許 多 言 說、皆 是 底 敵 語、都 未 曾 有 實 法 指 示 於 人。 – Vừa rồi nhiều lời như vậy đều là những lời ứng phó, đều là chưa từng có thật pháp chỉ dạy người.” ● 向 上 一 路. Chỗ thiền pháp chí cực vi diệu. Bích Nham Lục q1 có ghi: “向 上 一 路、千 聖 不 傳、學 者 勞 形、如 猿 捉 影。– Chỗ thiền pháp chí cực vi diệu ,ngàn Thánh chẳng truyền, người học nhọc thân, như vượn bắt bóng”. ● 向 上 關 捩. Thiền nghĩa quan trọng vi diệu tột cùng. Phật Quả Ngữ Lục q.1 ghi: “直 饒 棒 如 雨 點、喝 似 奔 雷、猶 未 動 著 向 上 關 捩 在。 – Dù cho ông vung gậy như mưa rơi, tiếng hét tợ sấm rền cũng chưa đả động gì đến Thiền nghĩa quan trọng vi diệu tột cùng.” ● 向 上 全 提. Nêu ra hoàn toàn triệt để đối với thiền pháp vi diệu tột cùng. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “未 曾 親 近 早 隔 大 千;向 上 全 提 轉 無 交 涉。向 者 裏、莫 有 脫 窠 臼、透 離 微 底 麼? – Chưa từng gần gũi sớm cách đại thiên; hướng thượng toàn đề càng không dính dáng. Đến chỗ này không có người thoát khỏi khuôn mẫu có sẵn, thấu suốt thể dụng sao?” ● 向 上 宗 乘. Ý chỉ Thiền Tông chí cực huyền diệu. Bích Nham Lục q.1 ghi: “直 饒 棒 如 雨、點 喝 似 雷 奔 也、未 當 得 向 上 宗 乘 中 事。 – Dù cho ông vung gậy như mưa, hét vang như sấm cũng chưa đáng được ý chỉ Thiền Tông chí cực huyền diệu”. ● 享 堂. Ngôi nhà dùng để thờ phụng hình tượng và bài vị của Tổ sư. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 休. Đồng nghĩa: Tức. Có nghĩa: Lãnh ngộ Thiền chỉ, hoàn thành đại sự. ● 休 庵. Hiệu của Thiền tăng Khả Thọ đời Nguyên mạt Minh sơ. X. Khả thọ. ● 休 复 (?-943). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Vương, người xứ Bắc Hải (nay là huyện Duy Phường, tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Quế Sâm, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Sùng Thọ, viện Thanh Lương. Thụy hiệu “Ngộ Không Thiền Sư”. ● 有 章 (880-950). Thiền tăng đời Đường, họ Cung, người Ông Nguyên Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ Lâm Tuyền Sơn viện ở Thiều Châu hoằng pháp. Thự hiệu: Thiền Tưởng Thiền Sư. ● 有 緣. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Cư Hải ở núi Đại Quang. Sư trụ chùa Cốc Sơn ở Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. ● 友 幻. Hiệu của thiền tăng Tú Xương, sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh. X. Tú Xương. ● 有 梅 (1286-1366). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Tuyết Thôn Hữu Mai, vào niên hiệu Đại Đức thứ 11 (1307) sư sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Kinh Sơn Nguyệt Lâm, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, đời thứ 7 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Thúy Vi ở Trường An. Tác phẩm: Mân Nga Thi Tập, Bảo Cảnh Chân Không Thiền Sư Thiền Yếu. ● 有 權 (?-1180). Thiền tăng đời Tống, họ Kỳ, hiệu Y Am, người đời gọi là “Y Am Hữu Quyền”, người xứ Lâm An (nay là Hàng Châu) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Vô Am Pháp Toàn, tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Sư trụ chùa Hoa Tạng ở Thường Châu (nay thuộc Giang Tô), sau dời về chùa Vạn Niên. ● 有 甚 交 涉. Tức là “Một giao thiệp”. Nào có dính dáng. Có nghĩa là căn bản không hợp thiền pháp. Tiết Tôn Thắng Hữu Bằng giảng sư trong NĐHN q.18 ghi: “祇 如 和 尚 恁 麼 道 有 甚 交 涉?須 要 新 戒 草 鞋 穿。 – Ngay như Hòa Thượng nói như thế nào có dính dáng? Cần phải tôn trọng người mới bắt đầu hành cước tham học.” ● 友 蟾. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc; nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Phổ Hiền ở Vân Cư, sau dời về chùa Bát Nhã ở Đài Châu (nay là huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang). Được vua ban hiệu là “Từ Ngộ Thiền Sư”. ● 又. Nhưng, lại. Biểu thị ngữ khí chuyển chiết. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “唯 有 一 僧、姓 陳 名 慧 順、先 是 三 品 將 軍、性 行 麤 惡、直 至 嶺 上、來 趁 犯 著、慧 能 即 還 衣 法、又 不 肯 取、言:我 故 遠 來 求 法、不 要 其 衣。 – Duy có một vị tăng, họ Trần tên Huệ Thuận, trước là Tam phẩm tướng quân, tính hạnh thô ác, chạy theo đến Dữu lãnh thì đuổi kịp Tổ. Huệ Năng liền trả lại y pháp, nhưng Huệ Thuận không chịu lấy, bảo rằng: Tôi từ xa đến để cầu pháp, chẳng cần chiếc y kia.” Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong NĐHN q.7 ghi: “師 令 侍 者 喚 義 存、存 上 來、師 曰:我 自 喚 義 存、汝 又 來 作 其 麼?存 無 對。 – Sư sai thị giả gọi Nghĩa Tồn. Tồn lên đến. Sư bảo: Ta cho gọi Nghĩa Tồn, sao ngươi lại đến? Tồn không đáp được.” ● 佑 民 寺. Ở đường Dân Đức, thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đời Đường gọi là “Thượng Lam Viện”. X. “Thượng Lam Viện”. ● 希 辯. 1. Thiền tăng đời Tống (921-997), còn gọi: Phổ Môn Hy Biện, người xứ Thường Thục, Tô Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc; nối pháp Quốc sư Đức Thiều, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Thanh Thái ở Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang), sau dời về chùa Phổ Môn ở Hàng Châu. ● 2. Thiền tăng đời Kim (1081-1149), còn gọi: Nhất Biện, họ Hoàng, người xứ Hồng Châu; nối pháp Thiền Sư Lộc Môn Tự Giác. Sư trụ trì chùa Phổ Giác ở Thanh Châu (nay là huyện Ích Đô, tỉnh Sơn Đông), sau dời về chùa Đại Vạn Thọ. Tác phẩm: Thanh Châu Bách Vấn. ● 希 陵 (1247-1322). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hà, tự Tây Bạch, hiệu Hư Cốc, người xứ Nghĩa Điểu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tuyết Nham Tổ Khâm. Sư trụ trì chùa Thái Bình Hưng Quốc ở Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây). Tác phẩm: Bộc Nham Tập và Ngữ Lục. ● 希 奉. Thiền tăng đời Tống, họ Tạ, người Tô Châu, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Chính Cần ở Thường Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô). ● 希 叟 紹 曇 禪 師 廣 錄. Còn gọi: Hy Tẩu Hòa Thượng Quảng Lục. Ngữ Lục, 7 quyển, do Hy Tẩu Thiệu Đàm soạn vào đời Tống, thị giả Pháp Trừng biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 122, trang 187. Nội dung gồm có các lời dạy của sư Hy Tẩu như: ― Tiến sơn ngữ ở Phật Đà Sơn, phủ Khánh Nguyên. ― Tiến sơn ngữ ở Pháp Hoa Tự, phủ Bình Giang. ― Tiến sơn ngữ ở Hiền Thánh Tự, núi Tuyết Đậu, phủ Khánh Nguyên, Tiểu tham, Pháp ngữ, Niêm cổ, Đề bạt, Tụng, Tán, Tiểu Phật sự… ― “Thị Nhật Bản Bình Tướng quân Pháp Ngữ” trong quyển 4 là vị tăng Nhật Bản tên Đương Khê Đạo Long sai sứ thỉnh Hy Tẩu khai thị Pháp Ngữ, Hy Tẩu do đây gởi cho Tướng quân Mạc phủ đương thời là Bắc Loại Thời Tông một số lời dạy. ― “Tuấn thị giả tương biệt sơn Tứ hội Ngữ Lục quy Nhật Bản hành cầu dư tự dẫn” và “Nhật Bản Trừng Thượng nhân (Tối Trừng)” trong quyển 6. ― Các bài tụng của Thượng nhân Pháp Nhiên (Nhật Bản) đều hiển bày mối quan hệ mật thiết giữa Hy Tẩu với các vị tăng Nhật Bản đến Trung Quốc. Nhóm ông Tự Ngộ biên tập 1 quyển Hy Tẩu Thiệu Đàm Thiền Sư Ngữ Lục, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 122, trang 159. ● 希 迁 (700-790). Thiền tăng đời Đường, họ Trần, người xứ Cao Yếu, Đoan Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư. Sư đến phía đông chùa Hành Sơn Nam cất am trên một vồ đá nên người đời gọi sư là “Thạch Đầu Hòa Thượng”, hoặc “Thạch Đầu Hy Thiên”. Tác phẩm: Tham Đồng Khế 1 thiên, Thảo Am Ca 1 thiên. ● 晞 賜 (1110-1189). Thiền tăng đời Tống, họ Tô, người Trinh Dương (nay là Anh Đức, Quảng Đông) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Liễu Nhất, thuộc tông Vân Môn đời thứ 10, trụ Anh Đức Nam Sơn. Tác phẩm: Thiền Tông Mông Cầu, Tróc sắt hiên ký. ● 希 運 (765-850). Thiền tăng đời Đường, họ Vương người xứ Mân, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải. Sư trụ núi Hoàng Bá phát huy tâm yếu trực chỉ đơn truyền nên người đời gọi sư là “Hoàng Bá Hy Vận”. Thụy hiệu: “Đoạn Tế Thiền Sư”. Tác phẩm: Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu 1 quyển, Uyển Lăng Lục 1 quyển. ● 雞 峰 續 焰. Chỉ cho Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp thừa truyền thiền pháp. Kê phong tức là núi Kê Túc. Tiết Nam Phong Vĩnh Trình Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “始 自 雞 峰 續 焰、少 室 流 芳、大 布 慈 雲、宏 開 慧 日。 – Bắt đầu từ Ca Diếp, Thiếu Thất để lại tiếng thơm, trải khắp đám mây từ bi, mở rộng mặt trời trí huệ.” ● 雞 足 山. 1. ở nước Ma Kiệt Đà của ấn Độ thuở xưa nhân có 3 ngọn núi hình dáng như chân gà nên được gọi là Kê Túc Sơn. Tương truyền là chỗ nhập diệt của Sơ tổ Thiền Tông ấn Độ, Ma Ha Ca Diếp. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục q.1 ghi: “說 偈 已。乃 持 僧 伽 梨 衣 入 雞 足 山。 – Nói kệ xong, Ngài bèn cầm y Tăng Già Lê vào núi Kê Túc”. ● 2. Núi thuộc huyện Tân Xuyên, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, nằm cách trung tâm huyện hơn 50km về phía tây bắc. Núi non nhấp nhô giống như chín cánh hoa sen, nên còn gọi là “Cửu Trùng Nham Sơn”. Đỉnh bằng hướng về nam, 3 hướng còn lại mỗi hướng đều có một nhánh núi, giống như bàn chân gà các ngón tỏe ra nên gọi là Kê Túc Sơn. Trên đỉnh núi có “Ca Diếp Thạch Môn Động Thiên”, tương truyền là nơi Ma Ha Ca Diếp giữ gìn y của Phật để chờ Đức Phật Di Lặc, nên núi này cũng được xem là đạo tràng của Tổ Ma Ha Ca Diếp, là trung tâm Phật giáo Vân Nam nên chư tăng tụ tập rất đông. Thời Tam Quốc có dựng am nhỏ, đến đời Đường mở rộng thêm. Lúc hưng thịnh có hơn trăm ngôi tự viện lớn nhỏ, trong ấy có 5 ngôi lớn nhất là Thạch Tông, Tất Đàn, Đại Giác, Hoa Nghiêm, Truyền Y. Ngoài ra các chùa khác như: Tịch Quang, Chúc Thánh cũng khá quy mô. ● 髻 辮. Bím tóc, tóc tết bím. Chỉ cho thiếu niên, tuổi trẻ. Pháp Khâm Truyện trong TCTT q.9 ghi: “在 於 髻 辮、則 好 爲 佛 事、立 性 溫 柔、雅 好 高 尚。 – ở tuổi thiếu niên, sư thích làm Phật sự, lập tính ôn hòa mềm mỏng, thường thích việc cao thượng”. ● 髻 珠. Còn gọi: Kế Trung Châu 髻 中 珠. Hạt minh châu trên búi tóc, thí dụ cho yếu chỉ vi diệu của thiền pháp. Điển tích rút từ phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa, trong ấy dùng “Kế châu” để tỷ dụ cho diệu nghĩa của kinh Pháp Hoa. Tiết Trí Oai truyện trong TCTT q.9 ghi: “既 穫 髻 珠、淡 然 閑 放、形 容 溫 潤、面 如 滿 月。 – Sư đã được yếu chỉ vi diệu của thiền pháp nên (tính tình) dửng dưng thanh thản, dáng vẻ ôn hòa, gương mặt như trăng rằm”. ● 繼 達. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Hối Cơ ở Ngạc Châu. Sư trụ chùa Hoàng Long ở My Châu (nay là My Sơn tỉnh Tứ Xuyên), nên người đời gọi sư là Hoàng Long Đạt. ● 繼 燈 錄. 1. Ngữ Lục, 6 quyển và 1 quyển mục lục, do Vĩnh Giác Nguyên Hiền soạn vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 701. Nguyên Hiền sưu tập nhiều sách vở của các Thiền Sư rồi chọn lựa biên chép cơ duyên lược truyện của 264 vị kỳ túc chốn thiền lâm; pháp ngữ tông thừa, trong ấy kể từ Thiên Đồng Như Tịnh đời thứ 16 hệ Thanh Nguyên thuộc tông Tào Động trở xuống gồm có 41 người, kể từ Tịnh Từ Ngộ Minh đời thứ 18 hệ Nam Nhạc thuộc tông Lâm Tế trở xuống gồm có 216 người. Còn phụ lục 7 vị không rõ thuộc pháp hệ nào như: Quy Sơn Thái Sơ… Sách này được ấn hành vào niên hiệu Thuận Trị thứ 8 (1651) đời Thanh. ● 2. Gọi đủ: Ngự Chế Thiền Uyển Thống Yếu Kế Đăng Lục. Đăng Lục, do Thiền Sư Như Sơn (Việt Nam) soạn tại chùa Hồng Phúc, dưới sự bảo trợ của vua Lê Thuần Tông, được khắc bản vào năm 1734. Nội dung sách này phần lớn viết về tiểu sử của các vị Tổ sư ấn Độ và Trung Hoa. Về phần Thiền Sư Việt Nam, sách chỉ nêu 3 vị thuộc tông Lâm Tế, 2 vị thuộc tông Tào Động. ● 繼 成. Thiền tăng đời Tống, họ Lưu, tự Bàn Am, người xứ Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Sùng Ninh (1102-1106), sư tham Thiền Sư Ngưỡng Sơn Phổ, được ngài độ, sư còn tham Vân Cái Trí Bản. Về sau đến thiền viện Trí Hải ở Khai Phong tham Phổ Dung Đạo Bình và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Mùa xuân năm 1124, sư phụng chiếu trụ Hữu Nhai Hiển Trung Tự. Vua Tống Huy Tông xin quy y và ban cho sư hiệu “Phật Từ Thiền Sư”. Năm 1127, sư lên Hoa Đảnh Phong thuộc núi Thiên Thai. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162), sư lên ngọn Tú Phong ở Phúc Kiến. ● 繼 徹. Thiền tăng đời Tống. Sư đến núi Ba Tiêu ở Dĩnh Châu (nay là Đông Sơn tỉnh Hồ Bắc) để yết kiến Thiền Sư Huệ Thanh, gặp lúc Huệ Thanh thượng đường cử lời Ngưỡng Sơn Huệ Tịch nói: ›Hai cái miệng hoàn toàn không có lưỡi, ấy là tông chỉ của ta‹. Sư hoát nhiên có tỉnh; nối pháp Ngài, thuộc tông Quy Ngưỡng. Về sau, kế thừa Ngài trụ trì, có bài kệ rằng: 芭 蕉 的 旨、不 挂 唇 齒 木 童 唱 和、石 人 側 耳 “Tông chỉ của Ba Tiêu Chẳng dính đến môi lưỡi Người bằng gỗ xướng họa Người bằng đá lắng nghe”. ● 繼 往 開 來. Kế thừa người trước, dẫn dắt kẻ sau. Truyện Thiền Sư Đại Pháp trong Vân Cư Sơn Chí trang 155 ghi: “師 以 身 作 則、嚴 飭 子 孫、俾 嗣 徒 子 孫、遵 師 奉 道、繼 往 開 來、各 有 所 成。 – Sư đem thân làm mẫu mực, nghiêm dạy hàng con cháu trong đạo khiến cho họ vâng theo lời giáo huấn phục vụ đạo pháp, kế thừa người trước dẫn dắt kẻ sau, mỗi người đều thành tựu sự nghiệp tu hành”. ● 偈. Gọi tắt của âm chữ Phạn: Kệ Đà, có khi cũng được dịch là tụng, là một thể thơ mà nhà Phật thường dùng. Thông thường mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có số chữ bằng nhau. Pháp Diễn Ngữ Lục, q.hạ có ghi: “乃 擲 下 竹 杖、合 掌 說 偈 云:虛 空 無 有 邊、佛 功 德 亦 然、若 有 能 量 者、窮 劫 不 可 盡。 – Sư liền ném cây gậy, chắp tay, nói kệ rằng: Hư không thật vô biên, công đức Phật cũng thế. Nếu có thể đo lường, suốt đời không hết được”. ● 結. Tức “kết hạ”. Mật Am Ngữ Lục ghi: “四 月 十 五 日 結、七 月 十 五 日 解。 – Ngày rằm tháng tư kết hạ, ngày rằm tháng bảy giải hạ.” ● 結 交 頭. Lúc hoặc thời gian tiếp nối thay thế. Mật Am Ngữ Lục ghi: “歲 夜 小 參。。。一 年 三 百 六 十 日。今 宵 正 是 結 交 頭。 – Một đêm trong năm tiểu tham…. một năm có 360 ngày, đêm nay chính là lúc tiếp nối thay thế.” ● 結 舌. Ngậm miệng, không nói được. Tiết Hiếu Nghĩa Tính Không Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “僧 參 人 事 畢、師 曰:與 麼 下 去、還 有 佛 法 道 理 也 無?曰:某 甲 結 舌 有 分。 – Tăng tham vấn, mọi việc đã xong, sư nói: Lui ra như thế có còn Phật pháp đạo lý không? Đáp: Con có phần ngậm miệng.” ● 結 座. Khi Thiền Sư thượng đường thuyết pháp kết thúc, phần nhiều hay nêu ra công án hoặc tụng niệm kệ thi, gọi là “kết tòa”. Tiết Thượng Phong Bản Tài Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “一 夕 汎 掃 次、印(指 海 印 和 尚)適 夜 參、至 則 遇 結 座、擲 拄 杖 曰:了 即 毛 端 吞 巨 海、始 知 大 地 一 微 塵。師 豁 然 有 省。 – Một đêm nọ sư đang quét dọn, Hòa Thượng Hải ấn đi dạ tham, khi đến nơi thì gặp kết tòa, liền ném chiếc gậy nói: Liễu ngộ thì đầu sợi lông chứa cả biển lớn, mới biết quả đất trong một hạt bụi. Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ.” ● 可 眞 (?-1064). Thiền tăng đời Tống, người xứ Trường Khê (nay thuộc huyện Hà Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Sở Viên thuộc tông Lâm Tế. Người đời thường gọi sư là Chân Điểm Hung. Sau đó, sư trụ núi Thúy Nham Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây), rồi dời đến núi Đạo Ngô Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam), nhờ cơ biện nhanh chóng nên nổi tiếng khắp gần xa. Tác phẩm: Thúy Nham Chân Thiền Sư Ngữ Yếu 1 quyển, được xếp vào Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu. ● 可 弘. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn, trụ viện Đại Đình ở Ôn Châu (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Có vị tăng hỏi: Thế nào là một con đường chân chính? Sư đáp: Thất điên bát đảo. ● 可 休. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, lúc ra hoằng pháp trụ Động Nham Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Có vị tăng hỏi: Thế nào là chủ của Động Nham? Đáp rằng: Mở cửa động. ● 可 勛. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Chu, người xứ Kiến Châu (nay thuộc Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Hưng Phúc ở Tuyên Châu (nay thuộc Tuyên Thành, tỉnh An Huy). Có vị tăng hỏi: Đạo là gì? Sư đáp: Siêng năng mà thực hành đi!. ● 可 漏 子. Còn gọi: Xác Lậu Tử, Khả Lậu. Phong thư của các chùa thời xưa. Khả lậu, vốn chỉ vỏ trứng, nghĩa là thư từ dán kín trong một ống tre, như côn trùng rút vào vỏ bọc. Cách thức gửi thư về các sự việc ghi trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 2, q. 3 như: Nghinh đãi tôn túc, Sơn môn thỉnh tân mệnh trai, di thư, phó cáo, tân Thủ tọa đặc vị hậu đường đại chúng trà… đều sử dụng từ ngữ này, người đời sau dùng vào văn tế, văn sở, văn khuyến thỉnh. ● 可 觀. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Tiết, người xứ Phúc Đường (nay thuộc huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư ra hoằng pháp trụ viện Kim Luân, Hành Sơn. ● 2. Tăng nhân đời Tống (1092-1182), họ Thích, có thuyết nói họ Phó, tự Nghi Ông, hiệu Giải Không, Trúc Am. Người xứ Hoa Đình (nay là huyện Tùng Giang, tỉnh Thượng Hải) Trung Quốc. Năm 16 tuổi thụ giới cụ túc rồi sư học giáo pháp Thiên Thai. Ban đầu sư y chỉ với Nam Bình Tinh Vi, sau nghe Thiền Sư Xa Khê Trạch Khanh nổi tiếng khắp vùng Giang Chiết, sư liền mang sách vở theo học và được nối pháp ngài. Ban đầu, sư trụ trì Thọ Thánh Tự ở Gia Hòa (nay thuộc Gia Hưng tỉnh Chiết Giang). Sau đó sư dời sang trụ Đức Tạng Tự ở Đương Hồ (nay thuộc huyện Bình Hồ, Chiết Giang). Ngoài lúc giảng kinh, sư còn chú thích kinh Lăng Già. Sư còn từng trụ các nơi: chùa Tường Phù, am Lâm Trúc, Bắc Thiền Thiên Thai Tự, Nam Hồ Diên Khánh Tự. Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo từ Kính Sơn đến đây cùng sư bàn luận suốt ngày và khen sư là “Giáo hải lão long” (Con rồng trong biển giáo pháp). Tác phẩm: Lăng Già Thuyết Đề tập Giải Bổ Chú, Kim Cang Thông Luận, Kim Cang Sự Thuyết, Viên Giác Thủ Giám, Trúc Am Thảo Lục. Các vị đệ tử nối pháp sư gồm có: Bắc Phong Tông ấn, Trí Hành Thủ Mân, Thần Biện Thanh Nhất. ● 可 殺. Thật là, thực sự, chân thật, quả tình, thực ra. Bài thơ “Tự Tán” trong NTNL q.hạ ghi: 行 脚 都 無 用 處 推 倒 只 好 做 牛 釘 雙 角、插 條 尾 綠 楊 芳 草 春 風 里 可 殺 有 力 會 耕 田 賣 與 閻 王 還 飯 錢 “Hành cước đô vô dụng xứ Thôi đảo chích hảo tố ngưu Đinh song giác, trừu điều vĩ Lục dương phương thảo xuân phong lý Khả sát hữu lực hội canh điền Mại dữ Diêm Vương hoàn phạn tiền”. “Hành cước đều không có chỗ dùng Xô ngã con trâu khỏe to đùng Nắm hai sừng, kéo cái đuôi Liễu xanh cỏ thơm đón gió Xuân Thật là có sức biết cấy cày Bán cho Diêm Vương trả tiền cơm”. ● 可 什 (1298-1368). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Vật Ngoại Khả Thập, vào niên hiệu Diên Hựu thứ 7 (1320) sư sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Thiên Ninh Minh Mục, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, đời thứ 7 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Sùng Phúc, chùa Kiến Trường. ● 可 授 (1307-1375). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Lý, tự Vô Chỉ, hiệu Hưu Am, người xứ Lâm Hải (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 12 tuổi xuất gia ở chùa Thạch Môn, 19 tuổi thụ giới cụ túc, tham học với Thiền Sư Phổ Giác ở chùa Linh ẩn Hàng Châu và đắc pháp. Niên hiệu Chí Chính thứ 6 (1346) đời Nguyên, sư ra hoằng pháp trụ chùa An Thánh ở Lâm Hải. Về sau trụ các chùa: Long Ân, Chân Như, Long Hoa. Niên hiệu Hồng Võ thứ 6 (1373), sư trụ trì chùa Tịnh Từ Hàng Châu. Về già lui về ở ẩn nơi viện Trúc Hạ, lặng lẽ thị tịch. ● 可 惜 許. Còn gọi: Khả Tích Hồ. “Hứa” và “Hồ” đều là ngữ trợ từ. Khả Tích Hứa nghĩa là đáng tiếc. Tắc 38, Bích Nham Lục (Đại 48, 175 hạ) ghi: “穴 云。慣 釣 鯨 鯢 澄 巨 浸。卻 嗟 蛙 步 輾 泥 沙 。陂 佇 思 (可 惜 許。也 有 出 身 處。可 惜 放 過) – Huyệt nói: Quen câu cá lớn ở trong chằm, không ngờ ếch nhái lại cắn câu. Lô Pha trầm ngâm. (Thật đáng tiếc, cũng có chỗ xuất thân mà lại bỏ qua)”. ● 可 中. Đồng nghĩa với giả nhược (nếu như), kháp hảo (vừa mới), hoặc cho rằng giả sử, cũng như… Là phương ngôn của thời đại Đường Tống. Thiền lâm cũng quen sử dụng, là từ thường dùng trong khi trò chuyện giữa các thiền tăng. Quy Sơn Cảnh Sách (Vạn Tục 111, 146 hạ) ghi: “可 中 頓 悟 正 因、便 是 出 塵 階 漸。 – Nếu như đốn ngộ chính nhân mới là nấc thang để ra khỏi trần lao”. ● 可 従 (1420-1483). Thiền tăng đời Minh, họ Hứa, hiệu Vô Phương, người xứ Lạc Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Câu Không Khế Bân ở núi Thiếu Thất thuộc tông Tào Động. Ban đầu sư ở ẩn trong chùa Định Quốc, chẳng bao lâu ra khai pháp ở chùa Bồ Đề. Niên hiệu Thành Hóa thứ 9 (1473), sư thừa kế pháp hội chùa Thiếu Lâm. Đến năm 1482, sư trụ trì chùa Quán Âm ở Quân Châu (nay là huyện Vũ tỉnh Hà Nam). ● 可 湘 (1206-1290). Thiền tăng sống vào đời Tống đầu đời Nguyên, họ Cát, hiệu Tuyệt Ngạn, người xứ Ninh Hải Thai Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm, thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế. Sư từng trụ các chùa: Lưu Hồng Hưng Thánh Thiền Tự ở Gia Hưng (nay thuộc Chiết Giang), Nhạn Sơn Năng Nhân Thiền Tự ở Ôn Châu (nay thuộc Chiết Giang), Cửu Nham Huệ Vân Thiền Tự, Hộ Quốc Quảng Ân Thiền tự, Sùng Ân Diễn Phúc Thiền Tự, Giang Tâm Long Tường Hưng Khánh Thiền Tự. Năm 1272, sư trụ Sùng Thánh Thiền Tự ở núi Tuyết Phong Phúc Châu. Tác phẩm: Tuyệt Ngạn Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển. ● 可 畏. Thật là, thật ra, quả tình. Phó từ. Chương Táo Thọ Hòa Thượng (đời thứ 2) trong CĐTĐL q.24 ghi: “和 尚 近 日 可 畏 爲 人 切。 – Đệ nhất tòa nói: Gần đây Hòa Thượng quả tình thiết tha vì người”. ● 客 頭 行 者. Gọi tắt: Khách Hành. Cư sĩ phụ giúp vị Tri khách. Trong Thiền tự, vị này lệ thuộc vào Tri khách (Chức vụ tiếp đãi khách khứa), nhận mệnh lệnh để làm thị giả cho khách. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 客 作. Người làm thuê, làm khách. Thiền gia thường dùng từ nay để quở trách, ngầm ý nghĩa quên đi chính mình, chạy tìm bên ngoài. Tiết Minh Khê Đạo Hạnh Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “僧 問:如 何 修 行?師 曰:好 箇 阿 師! 莫 客 作! – Tăng hỏi: Thế nào là tu hành? Sư nói: Ông sư này chớ nên làm khách.” ● 客 塵. Chỉ cho các sự vật hư huyễn cho đến những nghi hoặc phiền não. Chương Bồ Đề Đạt Ma “Lược biện Đại thừa nhập Đạo Tứ Hạnh” trong CĐTĐL q.30 ghi: “理 入 者。謂 藉 教 悟 宗。深 信 含 生 同 一 眞 性。但 爲 客 塵 妄 想 所 覆 不 能 顯 了。 – Lý nhập nghĩa là nhờ giáo lý mà tỏ ngộ tâm tính, tin chắc chúng sinh đồng một chân tính, chỉ vì khách trần vọng tưởng che đậy nên không thể lộ bày.” ● 客 司. Chức sự tăng phụ trách tiếp đãi khách. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “師 赴 雪 竇。經 過 杭 州。徐 轉 運 問 師。雪 竇 名 山。多 有 具 眼 底 衲 僧。忽 相 靠 來。長 老 作 麼 生 支 遣 他。師 高 聲 召 客 司。司 近 前。師 云。運 使 問 箇 什 麼? – Sư đến Tuyết Đậu, khi đi ngang Hàng châu Từ Chuyển Vận hỏi sư: Danh sơn Tuyết Đậu có nhiều Thiền tăng ngộ đạo, chợt có kẻ đến tiếp cận thì Trưởng lão làm sao đối phó? Sư lớn tiếng gọi Khách ty, Khách ty đến gần, sư hỏi: Vận sứ hỏi cái gì thế?” ● 開. Truyền bá (đạo pháp). Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện ghi: “於 後 慧 能 於 此 樹 下 坐、爲 眾 人 開 東 山 法 門。又:其 年 四 月 八 日、大 師 爲 大 眾 初 開 法 門。 – Sau đó, đại sư Huệ Năng ngồi dưới cội cây nầy, truyền bá pháp môn Đông Sơn cho mọi người. Lại: Mồng 8 tháng 4 năm ấy, Đại sư vì đại chúng mới truyền bá pháp môn”. ● 開 枕. Còn gọi: Khai Bị An Chẩm. Nghĩa là dọn bày mền gối để ngủ. Trong Thiền môn, sau Sơ canh (canh một) 5 giờ, “Thần ty” bắt đầu báo cáo giờ giấc, kế đó “Đường hành” ở trước Tăng đường đánh bảng 3 hồi, tiếp theo “Chung ty” đánh chuông 18 tiếng để báo cáo giờ Tọa thiền đã kết thúc, 18 tiếng chuông này gọi là Khai chẩm chung, Thập bát chung, Định chung, Sơ dạ chung. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 開 演. Tuyên thuyết đạo pháp. Tiết Phúc Tiên Chiêu Khánh Hòa Thượng trong TĐT q.13 ghi: “昔 日 靈 山 會、匿 王 請 佛; 今 日 招 慶、太 尉 迎 師。人 天 交 接 於 座 隅、至 理 愿 垂 於 開 演。 – Thuở xưa trong pháp hội Linh Sơn, vua Ba Tư Nặc thỉnh Phật; hôm nay ở chùa Chiêu Khánh, Thái úy đón rước sư. Trời người tụ hội dưới pháp tòa ngưỡng mong rủ lòng thương xót tuyên thuyết đạo pháp”. ● 開 浴. Mở cửa nhà tắm để vào tắm. Theo điều Lưỡng Tự Đầu Thủ, chương Lưỡng Tự trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q.hạ: “Hễ gặp lúc khai dục thì trước Trai đường có treo tấm bảng Khai dục. Trời lạnh thì 5 ngày tắm 1 lần, trời nóng thì tắm mỗi ngày, khi nghe tiếng trống khai dục, Tăng chúng vào tắm trước, sau cùng đến Tri sự và Trụ trì”, về sau đảo ngược thứ tự này. Phật chế có 2 thứ: Tắm nước nóng, tắm hơi nóng. Thiền Tông thì dùng nước ấm để tắm. Cách tắm có 2: Thời xa xưa phần nhiều đứng ngoài bồn múc nước tắm, gọi là Cấp thang thức; về sau vào trong bồn tắm gọi là Nhập thang thức. Khi tắm phải im lặng, cấm cười nói. Trước khi tắm, thắp hương hướng về Bạt Đà Bà La xướng kệ chú 7 biến (Đại 82, 776 hạ): “Khi rửa chân, phải nguyện chúng sinh đầy đủ thần lực; tắm rửa thân thể, phải nguyện chúng sinh thân tâm không dơ, trong ngoài sạch sẽ. Án, bạt chiếc la não ca tra, tóa ha”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 開 堂. Trụ trì mới nhận chức, lúc nhập viện phải khai pháp đường tuyên nói đại pháp. Bích Nham Lục q.1 ghi: “師 開 堂 說 法、有 鞠 常 侍 致 問:靈 樹 果 子 熟 也 未?門 云:什 麼 年 中 得 信 道 生? – Lúc Vân Môn khai đường nói pháp, có vị quan Thường thị họ Cúc bước ra hỏi:Trái Linh Thọ đã chín chưa? Vân Môn nói: Ông nghe nói chưa chín hồi nào?”. ● 開 化 寺. Thuộc thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Khai Bảo thứ 4 (971) đời Tống, Vĩnh Minh Diên Thọ theo lời mời của Ngô Việt Vương Tiền Thúc, vì trấn phục thủy triều sông Tiền Đường mà cất chùa, ban đầu gọi là “Thọ Ninh Viện”. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 26 (1156) đời Tống, Trí Đàm trụ trì chùa này, không nhờ sức quan tự bỏ y bát của mình mà quyên góp tịnh tài để xây tháp bảy tầng, thành tựu viện vũ trăm cửa. Niên hiệu Long Hưng thứ 2 (1164) vua ban cho tấm biển “Từ Ân Khai Hóa Giáo Tự”. Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) đời Minh chùa bị thiêu hủy, khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) trùng tu trở lại. ● 開 慧 (1824-1906). Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, tên Châu, pháp danh Khai Huệ, hiệu Chân Tịnh, người xứ Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Giác Thanh chùa Long Hoa, đời thứ 42 hệ Nam Nhạc. Trụ trì am Diêm Tràng. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 開 口 見 膽. Một khi mở miệng liền hiển bày mọi ý nghĩ trong lòng. Vô Môn Quan ghi: “無 門 曰、趙 州 開 口 見 膽、露 出 心 肝。者 僧 聽 事 不 眞、喚 鐘 作 甕。 – Vô Môn nói: Triệu Châu mở miệng liền hiển bày mọi ý nghĩ trong lòng, vị tăng này phán xét không đúng cho chuông là hũ”. ● 開 廓. Nói ra, hoằng dương. Tiết Nam Phong Vĩnh Trình Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “或 照 用 雷 奔、或 機 鋒 電 掣。無 非 剪 除 邪 妄、開 廓 玄 微。直 下 明 宗、到 眞 實 地。 – Hoặc chiếu dụng như sấm nổ, hoặc cơ phong như điện chớp, chẳng qua là trừ dẹp tà vọng, hoằng dương lẽ huyền vi, lập tức minh tông, đến chỗ chân thật”. ● 開 爐. Mở cửa lò. Trong chùa gọi ngày mồng một tháng mười là ngày khai lô, kể từ ngày này mới có thể đốt lò sưởi ấm. Tiết Pháp Xương ỷ Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: 法 昌 今 日 開 爐、 行 腳 僧 無 一 箇。 唯 有 十 八 高 人、 緘 口 圍 爐 打 坐。 “Pháp Xương kim nhật khai lô, Hành cước tăng vô nhất cá Duy hữu thập bát cao nhân Giam khẩu vi lô đả tọa”. “Hôm nay Pháp Xương mở lò Không một vị tăng hành cước Chỉ có mười tám cao nhân Ngồi thiền quanh lò im lặng”. ● 開 明 禪 師. Hiệu của thiền tăng Nghi Yến đời Tống. X. Nghi Yến ● 開 眼 瞌 睡. Ngồi ngủ mà mắt mở trao tráo, dụ cho sự hồ đồ si mê. NĐHN q.18 ghi: “堪 嗟 迷 者 成 群、開 眼 瞌 睡。 – Than ôi, kẻ mê hợp thành bầy mở mắt ngồi ngủ”. ● 開 眼 寐 語. Mở to đôi mắt mà nói mớ, dụ chỉ lời nói lờ mờ si mê. Tiết Thị Dục Tạng Chủ trong DTNL q.3 ghi: “你 若 未 具 超 宗 越 格 底 眼 目、又 無 縛 虎 拏 龍 底 手 段、未 免 一 切 處 一 切 時、見 色 被 色 碍、聞 聲 被 聲 碍、以 至 出 言 吐 气 皆 是 清 天 白 日 開 眼 寐 語。 – Nếu ngươi chưa có con mắt siêu tông việt cách, cũng không có thủ đoạn trói cọp bắt rồng, chưa khỏi ở mọi nơi mọi lúc thấy sắc bị sắc làm ngại, nghe tiếng bị tiếng làm ngại, cho đến mở miệng nói năng đều là giữa ban ngày ban mặt mở to mắt mà nói mớ”. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “若 是 無 物、更 何 用 照?爾 莫 開 眼 寐 語 去。 – Nếu là không có vật gì cả thì đâu cần phải chiếu soi? Ngươi đừng có mở mắt mà nói mớ nữa”. ● 開 眼 尿 牀. Mở mắt đái dầm, dụ cho việc làm vô lý đáng chê cười. Mật Am Ngữ Lục ghi: “行 棒 行 喝。開 眼 尿 床。 – Sử dụng phương tiện đánh hét cũng là vô lý được và đáng chê cười”. ● 開 眼 作 梦. Mở to đôi mắt mà nằm mơ, tỷ dụ cho trạng thái lờ mờ, si mê. Mật Am Ngữ Lục ghi: “一 出 一 入。胡 餅 裹 呷 汁。一 擒 一 縱。開 眼 作 夢。 – Một bên ra một bên vào, nước cốt trong bánh mè; một bên bắt một bên tha mở mắt như mộng”. ● 開 法. Lần nói pháp đầu tiên của vị Trụ trì, sau khi vị này đắc đạo. Tiết Thiên Đồng Hàm Kiệt Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “未 半 載、頓 明 大 事。去 謁 此 庵、分 座 連 雲、開 法 妙 嚴。後 遷 諸 巨 剎。 – Chưa đầy nửa năm ngài Đàm Hoa đã thấu rõ việc sinh tử. Ngài đến yết kiến Thử Am, được phân tòa giáo hóa ở Liên Vân, khai pháp ở Diệu Nghiêm, sau dời đến các chùa nổi tiếng”. ● 開 福 道 寧 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Đàm Châu Khai Phúc Thiền Sư Đẳng Thập Cửu Đại Hòa Thượng Ngữ Lục. Còn gọi: Đàm Châu Khai Phúc Báo Từ Thiền Tự Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục, Khai Phúc Ninh Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Khai Phúc Đạo Ninh soạn vào đời Tống, Nguyệt Am Thiện Quả biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 450. Nội dung bao gồm: Pháp ngữ khai đường tấn viện niêm hương, Thượng đường, Tiểu tham, Thùy thị, Kệ tụng, Di giới. Đầu quyển cuối quyển có phụ lục bài tựa và các văn sớ. Sách này được in lại vào niên hiệu Thuần Hy thứ 6 (1179) đời Tống. ● 開 福 寺 (80). Thuộc thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Thời Ngũ Đại Sở vương Mã Ân sáng lập. Con là Mã Hy Phạm lại xây Hội Xuân Viên. Đời Tống Thiền Sư Đạo Ninh ở đây. ● 開 關. Mở cửa. Quan: Chốt cửa. Chương Già Da Xá Đa Tổ thứ 18 trong CĐTĐL q.2 ghi: “羅 多 聞 語 知 是 異 人。遽 開 關 延 接。 – La Đa nghe nói, biết là dị nhân liền mở cửa tiếp rước”. ● 開 詗 (1634-1676). Thiền tăng đời Minh, họ Trương, hiệu Huệ Cung, người Thuận Đức, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Tuyết Duy Thao Pháp, đời thứ 34 hệ Nam Nhạc. Trụ trì Nam Hải Bảo Tượng Lâm. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 開 士. 1. Người thông đạt, tỏ ngộ. Chương Bát Nhã Đa La, Tổ thứ 27 trong CĐTĐL q.3 ghi: “祖 般 若 多 羅 者。東 印 度 人 也。既 得 法 已。行 化 至 南 印 度。彼 王 名 香 至。崇 奉 佛 乘 尊 重 供 養 度 越 倫 等。又 施 無 價 寶 珠。時 王 有 三 子。其 季 開 士 也。 – Tổ Bát Nhã Đa La là người Đông ấn. Sau khi đắc pháp, Tổ đi hóa đạo đến Nam ấn Độ. Vua nước Hương Chí phụng thờ Phật pháp, tôn trọng cúng dường hết mức và còn ban cho viên ngọc vô giá. Bấy giờ vua có 3 người con, người con út là bậc thông đạt”. ● 2. Lời Thiền Sư gọi các vị tăng tham thiền. Phần Dương Ngữ Lục q. trung ghi: “普 告 諸 開 士、同 明 第 一玄 – Bảo chung cho các vị thiền tăng hãy cùng nhau sáng tỏ đệ nhất huyền”. ● 開 山. Vốn chỉ cho việc khai núi lập chùa, bởi tự viện thời xưa phần nhiều lập nơi núi non u tịch, và vị Trụ trì đời thứ nhất của tự viện cũng được tôn xưng là Khai sơn. Vân Cư Sơn Chí (142, hạ) ghi: “遂 立 志 開 山 弘 法、立 寺 傳 教、利 己 利 他、濟 人 濟 世。 – Sư liền lập chí khai sơn hoằng pháp, cất chùa truyền giáo, lợi mình lợi người, cứu giúp mọi người”. ● 開 山 老 殿. X. Chính Tông Tự. ● 開 心 眼. Mở sáng con mắt pháp, tỏ ngộ đạo lý Phật pháp. Tiết Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q.14 ghi: “江 西 馬 祖 嗣 讓 禪 師、在 江 西。師 諱 道 一、漢 州 十 方 縣 人 也、姓 馬、於 羅 漢 寺 出 家。自 讓 開 心 眼、來 化 南 昌。 – Mã Tổ Giang Tây nối pháp Thiền Sư Hoài Nhượng ở Giang Tây. Sư húy là Đạo Nhất, người huyện Thập Phương thuộc Hán Châu, họ Mã, xuất gia nơi chùa La Hán. Được Hoài Nhượng mở sáng con mắt pháp, sư đến giáo hóa tại Nam Xương”. ● 開 示. Tuyên thuyết (nói pháp). Tiết Lương Sơn Quán Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “大 眾 雲 臻、請 師 開 示。 – Tăng nói: Đại chúng đã đến đông đủ, thỉnh sư nói pháp”. ● 開 示 悟 入. Khai là khai phát, tức phá trừ vô minh, khai mở Như Lai tạng, thấy lý Thật tướng. Thị là hiện bày; hoặc chướng đã trừ thì Thể tri kiến hiện, pháp giới vạn đức hiện bày rõ ràng. Ngộ là chứng ngộ, sau khi Chướng trừ Thể hiện thì Sự (hiện tượng) Lý (bản thể) dung thông mà có chỗ ngộ. Nhập là chứng nhập, nghĩa là sự lý đã dung thông thì có thể tự tại vô ngại, chứng nhập biển trí tuệ. Phẩm Cơ Duyên trong Kinh Pháp Bảo Đàn (Đại 48, 355 hạ) ghi: “汝 愼 勿 錯 解 經 意、見 他 道 開 示 悟 入、自 是 佛 之 知 見、我 輩 無 分。若 作 此 解、乃 是 謗 經 毀 佛 也。 – Ngươi nên cẩn thận, chớ hiểu lầm ý Kinh, nghe nói: Khai thị ngộ nhập bèn cho là tri kiến của Phật, còn mình thì chẳng có phần; nếu hiểu như thế là phỉ báng kinh Phật vậy”. ● 開 善 寺. Thuộc núi Chung Sơn, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Niên hiệu Thiên Giám thứ 13 (514) đời Lương, Bảo Chí thị tịch, vua Võ Đế ra lệnh an táng tại nơi này và xây tháp 5 tầng. Vua đích thân tiến cúng, bỗng thấy vị Đại sĩ trên mây bèn xây cất chùa, sai đệ tử của Bảo Chí là Trí Tạng trụ trì, ban tên là “Khai Thiện Tự”. Thời Trần Nam triều, Trí Viễn cũng từng ở đây. Khoảng niên hiệu Càn Phù (874-879) đời Đường phụng sắc đổi tên là “Bảo Công Viện”. Khoảng niên hiệu Khai Bảo (968-975) đời Tống lại gọi “Khai Thiện Đạo Tràng”. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) cùng với các chùa ở Chung Sơn gọi chung là “Thái Bình Hưng Quốc Tự”, chùa này là một viện trong số đó nên tên chùa bị xóa bỏ. ● 開 先 寺. Chùa nằm ở chân núi phía nam Lô Sơn tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, do Nam Đường Trung Chủ xây dựng. Sau núi có những ngọn núi lạ liền lạc như: Quy Bối (mu rùa), Hạc Minh (Hạc kêu), Song Kiếm (hai cây gươm). Đời Tống có Thiền Sư Thanh Diệu của tông Vân Môn ở đây. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 (977), Vua hạ chiếu đổi tên chùa “Khai Tiên Hoa Tạng Tự”. Triều vua Nhân Tông, Thiền Sư Thiện Xiêm mở pháp hội ở đây, đệ tử là Phật ấn Liễu Nguyên là người kế thừa. Về sau các Thiền Sư của tông Vân Môn như: Trí Tuần, Hành Anh cùng nhau kế tiếp trụ trì. Niên hiệu Thiên Thuận thứ 1 (1457-1464) đời Minh, chùa dùng lại tên cũ. Niên hiệu Khang Hy thứ 16 (1707), Vua ban cho bảng hiệu “Tú Phong Tự”. ● 概 古 錄. Còn gọi: Trạm Nhiên Thiền Sư Khái Cổ Lục. Lục, 1 quyển, do Trạm Nhiên Viên Trừng soạn vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 725. Viên Trừng cảm khái về quy củ tùng lâm thời ấy sao mà lỏng lẻo và dần dần tiến tới chỗ hỗn loạn, sa đọa. Để ngăn ngừa sự suy sụp nhanh chóng của các tùng lâm dẫn đến sự hủy diệt Phật pháp mà trên lịch sử sẽ xảy ra lần nữa, nên sư đưa ra những ví dụ có thực, các cơ duyên hoạt bát sinh động từ Lục Tổ cho đến thời đại Đường Tống và khẩn thiết kêu gọi đạo tâm, chấn chỉnh lại Tông phong. Sách này cho ta thấy được tình hình các tùng lâm vào cuối đời Minh. ● 啟 請. Phạn ngữ: adhyesanā, adhyesita. 1. Trước khi tụng kinh phải phụng thỉnh chư Phật. Trước khi tụng 5 hội của Kinh Lăng Nghiêm, phải xướng danh hiệu “Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật, Bồ Tát”. Người đứng đầu hội Lăng Nghiêm cử xướng “Nam mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát” và xướng văn gọi là Khải xướng. “Vọng hối lược Bố tát” của Thiền Tông là mỗi tháng ngày mùng một, ngày rằm cử hành lễ Bố tát với nghi thức giản lược, sau bài văn sám hối phải xướng lên: “Nam mô quá khứ thất Phật, Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Văn Thù Bồ Tát, Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Di Lặc tôn Phật, Nam mô Lịch đại Tổ sư Bồ Tát”, đây là Khải thỉnh, sau đó mới xướng Tứ hoằng thệ nguyện. Nhưng trong nghi thức an táng, lúc tụng chú Lăng Nghiêm không cử hành nghi thức khải thỉnh. ● 2. Thưa thỉnh. Lăng Nghiêm Kinh Tông Thông q.1 (Vạn Tục 117, 6 thượng) ghi: ““阿 難 見 佛、頂 禮 悲 泣、恨 無 始 來 一 向 多 聞、未 全 道 力。殷 勤 啟 請 十 方 如 來 得 成 菩 提、奢 摩 他 三 摩 提、禪 那 最 初 方 便。 – Gặp Phật, A Nan đảnh lễ rồi buồn thảm rơi lệ, hận rằng từ trước đến nay chỉ chuyên đa văn nên chưa tu hành để đầy đủ đạo lực, mới khẩn thiết nhiều lần thưa thỉnh về các phương tiện đầu tiên như: Xa Ma Tha, Tam Ma Đề, Thiền Na mà mười phương Như Lai nhờ đó được thành Chính giác”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 勘. Còn gọi: Khám Biện, Khám Nghiệm. Kiểm tra sự lãnh ngộ sâu cạn giữa các thiền gia. Vô Môn Quan ghi: “待 我 去 與 爾 勘 過 這 婆 子。 – Chờ ta đi kiểm tra bà già này cho ông.” ● 勘 辨. 1. Thiền nhân thăm dò chỗ lãnh ngộ sâu cạn của đối phương. Tông Môn Võ Khố ghi: “(福 嚴 置 和 尚)首 造 洞 山 室 中 相 契。眞 淨 舉 領 眾 立 僧。久 之 又 至 四 祖 宣 和 尚 會 中。時 時 到 五 祖 相 見。祖 勘 辨 果 有 過 人 處。 – (Hoà thượng Phúc Nghiêm Trí) ban đầu đến Động Sơn, cơ duyên khế hợp. Ngài Chân Tịnh bảo sư làm người đại diện chúng ra thưa hỏi. Ít lâu sau, sư lại đến pháp hội của Tứ Tổ Tuyên, cũng thường đến gặp Ngũ Tổ. Tổ thăm dò trình độ lãnh ngộ sâu cạn của sư quả có chỗ hơn người”. ● 2. Một thứ phân loại trong Ngữ Lục Thiền Tông, chuyên môn ghi chép những lời thăm dò chỗ lãnh ngộ sâu cạn của thiền nhân. Như trong Lâm Tế Lục có loại Khám biện. Chữ Biện cũng viết 辯. ● 勘 破. Nhìn thấu suốt tâm tư đối phương rồi so sánh, thí nghiệm và chất vấn họ, cũng tức là khám định xem đúng hay sai. Tắc 48, Vô Môn Quan (Đại 48, 297 thượng) ghi: “撿 點 將 來、二 俱 有 過。且 道、那 裡 是 趙 州 勘 破 婆 子 處。 – Kiểm điểm lại, cả hai đều có lỗi. Thử nói xem, đâu là chỗ Triệu Châu khám phá lão bà?”. ● 勘 過. Tức là dùng cách xem xét, thử nghiệm, khiến cho chân tướng hiện rõ. Tắc 20, Bích Nham Lục (Đại 48, 160 thượng) ghi: “龍 牙 問 翠 微。如 何 是 祖 師 西 來 意 (諸 方 舊 話 也要勘過) – Long Nha hỏi Thúy Vi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? (Lời nói cũ của các nơi cũng cần xem xét thử nghiệm)”. ● 看. 1. Chuyên tâm xem xét, nghiên cứu tới lui một cơ ngữ nào đó của cổ nhân. Tiết Chân Như Phương Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “眞如 方 禪 師 眞 州 眞 如 院 方 禪 師、參 琅 邪、唯 看 柏 樹 子 話。 – Thiền Sư Phương ở viện Chân Như thuộc Chân Châu đến tham học nơi ngài Lang Da, chỉ khán công án ›Cây bách‹”. ● 2. Ra mắt, thăm hỏi. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “師 在 明 州、看 曾 學 士、坐 次、士 問:曾 與 清 長 老 商 量 趙 州 勘 婆 子 話、端 的 有 勘 破 處 麼? – Sư ở Minh Châu, có lần ra mắt Học sĩ. Đang ngồi, Học sĩ hỏi: Ông thương lượng cùng Trưởng lão Thanh về công án ›Triệu Châu khám phá bà già‹, quả thật có chỗ khám phá không?” Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.6 ghi: “僧 問:不 病 者 還 看 和 尚 不?師 曰:某 甲 看 他 則 有 分、他 誰 彩 某 甲? – Tăng hỏi: Người chẳng bệnh có hỏi thăm Hòa Thượng không? Sư đáp: Ta hỏi thăm hắn thì có phần đúng hơn. Hắn nào có ngó ngàng gì đến ta?”. ● 3. Tiếp đãi, khoản đãi. Tiết Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q.4 ghi: “至 落 京 參 忠 國 師、初 見 侍 者 便 問:和 尚 還 在 也 無?對 曰:在、只 是 不 看 客。 – Sư đến Lạc Kinh để tham vấn Quốc sư Huệ Trung. Vừa gặp thị giả, sư liền hỏi: Hòa Thượng có ở nhà không? Thị giả đáp: Có, nhưng chẳng tiếp khách”. Vân Môn Quảng Lục q.hạ ghi: “客 來 須 看、賊 來 須 打。 – Khách đến cần phải tiếp đãi, trộm đến cần phải đuổi đi”. ● 4. Coi sóc, lo liệu. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.6 ghi: “因 兩 箇 僧 造 同 行、一 人 不 安、在 涅 槃 堂 裏 將 息、一 人 看 他。有 一 日、不 安 底 上 座 喚 同 行 云:某 甲 欲 得 去、一 時 相 共 去。 – Nhân có 2 vị tăng cùng đi đến Động Sơn. Một người bị bệnh nằm nghỉ ở Niết Bàn đường, người còn lại coi sóc y ta. Một hôm, người bệnh gọi bạn đồng hành, bảo: Tôi muốn đi. Khi ấy cả hai cùng ra đi”. ● 5. Coi chừng, đề phòng, hàm ngữ khí dặn dò, cảnh tỉnh. Tiết Trung Thừa Lô Hàng Cư si trong NĐHN q.18 ghi: “中 丞 盧 航 居 士、與 圓 通 擁 爐 次、公 問:諸 家 因 緣、不 勞 拈 出。直 截 一 句、請 師 指 示。通 厲 聲 揖 曰:看 火! 公 急 撥 衣、忽 大 悟。 – Cư sĩ Trung Thừa Lô Hàng đang ngồi quanh lò sưởi với ngài Viên Thông. Cư sĩ bảo: Nhân duyên của các nhà chẳng nhọc đưa ra. Một câu thẳng tắt, thỉnh sư chỉ dạy? Thông vái chào và nghiêm giọng bảo: Coi chừng lửa! Cư sĩ vội vén áo, chợt đại ngộ”. Tiết Khâm Sơn Văn Thúy Thiền Sư trong LĐHY q.22 ghi: “同 安 不 是 好 心、亦 須 看 始 得。 – Đồng An không có tâm tốt, cần phải đề phòng mới được”. ● 看 待. Lo liệu, coi sóc. Tiết Nhất Túc Giác Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “Tạc giả mẫu thân hạ thế, chỉ hữu tỉ, độc tự vô nhân khán đãi, tranh phao đắc? – Trước kia mẫu thân tạ thế, chỉ còn người chị một mình không ai coi sóc, làm sao bỏ được?” ● 看 好 精 彩. Chú ý. Chương Báo Ân Khế Tùng Thiền Sư trong CĐTĐL q.24 ghi: “初 開 堂 升 座 欲 坐 乃 曰。。。烈 士 鋒 前 少 人 陪。雲 雷 擊 鼓 劍 輪 開。誰 是 大 雄 獅 子 種、滿 身 鋒 刃 但 出 來。時 有 僧 始 出。師 曰。看 好 精 彩。僧 擬 申 問。師 曰。什 麼。處 去 也。 – Ban đầu khai đường, lên tòa sắp ngồi sư bèn nói: …Trước tài năng của liệt sĩ ít có người bồi tiếp, đánh trống như sấm dậy vầng kiếm loang ra, ai là loại sư tử dũng mãnh mũi nhọn đầy mình hãy bước ra đi! Khi ấy có vị tăng bước ra, sư nói: Hãy chú ý! Tăng định hỏi, sư nói: Muốn gì đây?” ● 看 看. Ngay tức thì, sắp sửa. Tiết Tiến Phúc Hưu Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “此 土 與 西 天、一 隊 黑 漆 桶。誑 惑 世 間 人、看 看 滅 胡 種。 – Trung Quốc với Tây Thiên là một lũ ngu si, mê hoặc kẻ thế gian sắp diệt mất pháp mạch Phật giáo.” ● 看 話 禪. Đối lại: Mặc Chiếu Thiền. Thiền tham cứu công án, là Tông phong của ngài Đại Huệ Tông Cảo, tông Lâm Tế. Khán là tham cứu, thoại là công án. Tức là ở nơi một tắc thoại đầu của người xưa chân thật tham cứu dài lâu cho đến khi được khai ngộ. Thiền phong này trước huệ sau định, cùng Mặc chiếu thiền trước định sau huệ khác xa về chỉ thú. Nguồn gốc của Khán thoại thiền có thể nói bắt đầu từ công án “Con chó không Phật tính” của Triệu Châu Tùng Thẩm đời Đường. Đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại, việc sử dụng các tắc công án để phá trừ thói quen tình thức phân biệt rất là hưng thịnh. Đến đời Tống, Đại Huệ Tông Cảo cực lực chủ trương chuyên môn tham khán một tắc thoại đầu, về sau tông Lâm Tế tôn sùng làm khuôn phép. Càng về sau tông phong càng thịnh, như đời Minh, ngài Trung Phong Minh Bản đặc biệt đề xướng những công án xưa như: Ba cân gai, cây tùng trước sân, núi Tu Di, tâm bình thường là đạo, chữ “Cố” của Vân Môn, chữ “Vô” của Triệu Châu… Thiền phong ảnh hưởng lớn một thời. Từ đời Minh, Thanh cho đến nay, thiền phong này vẫn chưa dứt. Ngoài ra, từ đời Tống về sau, tư trào Thiền Tịnh hiệp tập rất thịnh, lấy 4 chữ “A Di Đà Phật” làm công án, đây cũng là một thứ Khán thoại thiền. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 抗 行. Đối lập nhau. Tiết Mông Sơn Quang Bảo Thiền Sư trong NĐHN q.2 ghi: “師 曰:眼 耳 緣 聲 色 時、爲 復 抗 行、爲 有 回 互?澤 曰:抗 互 且 置、汝 指 何 法 爲 聲 色 之 體 乎?師 曰:如 師 所 說、即 無 有 聲 色 可 得。澤 曰:汝 若 了 聲 色 體 空、亦 信 眼 耳 諸 根、及 與 凡 與 聖、平 等 如 幻、抗 行 回 互、其 理 昭 然。 – Sư nói: Khi mắt tai duyên theo thanh sắc là đối lập nhau hay là dung hợp nhau? Thiền Sư Hà Trạch Thần Hội nói: Đối lập hay dung hợp tạm gác lại, ngươi hãy chỉ xem pháp nào là thể của thanh sắc? Sư nói: Theo như thầy nói thì không thật có thanh sắc. Hà Trạch nói: Nếu như ngươi biết rõ thể thanh sắc vốn không, cũng như các căn mắt tai, cho đến phàm thánh đều bình đẳng như huyễn thì đối lập nhau hay dung hợp nhau lý ấy quá rõ ràng.” ● 慶 諸 (807-888). Thiền tăng đời Đường, họ Trần, người xứ Tân Cam, Lô Lăng (nay là huyện Tân Can tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Năm 13 tuổi, sư nương Thiền Sư Hồng Tỉnh Tây Sơn Thiệu Giám cạo tóc xuất gia, năm 23 tuổi đến Tung Sơn thụ giới cụ túc, học giới luật. Về sau sư chuyên chí ở Thiền, làm Mễ đầu ở dưới hội của ngài Quy Sơn Linh Hựu, siêng năng phục vụ đại chúng. Sư còn đến Vân Nham Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam) yết kiến Đạo Ngô Tông Trí, ngay nơi lời nói khế cơ, từ đây đại ngộ. ở Trường Sa, sư sống lẫn lộn cùng thế tục, mọi người đều chẳng biết. Động Sơn Lương Giới sai tăng đi tìm hỏi, sư mới lộ diện, đến núi Thạch Sương xiển dương Thiền Tông, chư tăng tụ hội đến trên 500 vị. Sư ở Thạch Sơn 20 năm, sớm chiều cùng người học luận bàn vấn đáp. Thụy hiệu “Phổ Hội Đại Sư”. ● 慶 喜 (1066-1142). Thiền tăng đời Lý, dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 14. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, Long Biên, miền Bắc Việt Nam. Khoảng niên hiệu Thiên Chương BảoTự (1133-1138), Vua Lý Thần Tông mời sư vào kinh. Sư ứng đối xứng hợp ý chỉ, vua bái phong chức Tăng Lục, lại thăng chức Tăng Thống. Một hôm, đệ tử Pháp Dung hỏi: -Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh? Sư ứng thinh đáp bài kệ: 勞 生 休 問 色 兼 空 學 道 無 如 訪 祖 宗 天 外 覓 心 難 定 體 人 間 植 桂 豈 成 松 乾 坤 盡 是 毛 頭 上 日 月 包 含 芥 子 中 大 用 現 前 拳 在 手 誰 知 凡 聖 與 西 東 “Lao sinh hưu vấn sắc kiêm không Học đạo vô như phỏng Tổ tông Thiên ngoại mích tâm nan định thể Nhân gian thực quế khởi thành tùng Càn khôn tận thị mao đầu thượng Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ Thùy tri phàm thánh dữ tây đông?” “Uổng công thôi hỏi sắc cùng không Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy Thế gian trồng quế đâu thành tòng Đầu lông trùm cả càn khôn thảy, Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong. Đại dụng hiện tiền tay nắm vững Ai phân phàm thánh với tây đông”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 慶 快. Vui mừng, thích thú. Phần nhiều miêu tả tâm tình vui vẻ khoan khoái sau khi ngộ thiền. Vô Môn Quan ghi: “透 得 過 者、非 但 親 見 趙 州、便 可 與 歷 代 祖 師、把 手 共 行、眉 毛 廝 結、同 一 眼 見、同 一 耳 聞、豈 不 慶 快。 – Ai lọt qua cửa này, chẳng những chính mắt thấy Triệu Châu mà còn thấy hết thảy Tổ sư nắm tay chung bước, thâm sâu giao kết, cùng một mắt thấy, cùng một tai nghe, há chẳng thú sao?” ● 慶 快 平 生. Cả đời thư thái, hình dung tâm thái vui vẻ thoải mái của người ngộ thiền. Đây là tập ngữ của nhà thiền. Tiết Thượng Phong Bản Tài Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “或 有 一 箇 半 箇、不 求 諸 聖、不 重 已 靈、疋 馬 單 鎗、投 虛 置 刃、不 妨 慶 快 平 生。 –Hoặc có một người ưu tú, chẳng cầu chư thánh, chẳng trọng tính linh, đơn độc lao vào chốn hiểm nguy, thật là thư thái cả đời”. ● 慶 隆. Thiền tăng Việt Nam, chưa rõ quê quán, tông phái và hành trạng; chỉ biết sư lập chùa Khánh Long ở gò Quít huyện Phúc Chính, trấn Biên Hòa. Cảnh chùa Khánh Long được du khách đặt bài thơ ca ngợi như sau: “Tiêu sơ lãnh thọ quảy tà dương Bộ nhập khê nham phỏng đạo trường Chử dánh vô yên sào hạc tĩnh Khả liên thiền vị chính khê lương”. “Tiêu sơ cây núi bóng tà dương Khe suối đi qua viếng đạo trường Không khói đun trà hạc trong ổ Mến thay thiền vị thật thanh lương”. Sau đó, Thiền Sư Khánh Long đến núi Châu Thới, nơi gò cao, thuộc thôn Long Tuy, huyện Long Thành, trấn Biên Hòa lập chùa Hội Sơn. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 慶 璁. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư La Hán Hạnh Lâm thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Đại Đình Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây). Một hôm có vị tăng hỏi: Ngài Thừa Cổ có nói núi Đông non Tây xanh, chưa biết ý chỉ gì? Sư đáp: Núi Đông non Tây xanh, trời mưa rồi lại tạnh, còn hỏi ý trong đó, chim gáy sinh chim nhạn. Sư giỏi giảng thuyết, chẳng câu nệ giáo môn hay tông môn, duy chẳng thích nghe nói về tông Thiên Thai. ● 慶 肅. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Công Thần ở Hàng Châu. Sư có bài kệ: “Công Thần gia phong Minh ám sắc không Pháp pháp phi dị Tâm tâm tự thông Nhậm ma hội đắc Chư Phật chân tông”. “Thói nhà Công Thần ta Sáng tối sắc không mà Pháp pháp chẳng phân biệt Tâm tâm tự thông ra Làm sao mà hiểu được Chư Phật chân tông a!”. ● 慶 祥. 1. Thiền tăng đời Tống, người xứ Dư Hàng (nay ở phía tây Hàng Châu) Trung Quốc; nối pháp Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư biện tài xuất chúng, nghe nhiều nhớ giỏi, là người kiệt xuất trong hàng đệ tử của Đức Thiều. Sư trụ viện Quán Âm ở Cửu Khúc, Hàng Châu. Có vị tăng hỏi: Lặng lặng tròn sáng, thỉnh sư nói chắc cho một câu‹. Sư đáp: Mặt hồ mười dặm, một vầng trăng sáng. Thụy hiệu “Cửu Khúc Thiền Sư”. ● 2. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Vĩnh Minh Đạo Tiềm, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Sùng Phúc Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba, Chiết Giang). Có vị tăng hỏi: Cái gì là người xưa nay? Đáp rằng: Đường đường sáu thước thật rõ ràng. ● 慶 雲 寺. Nằm ở sườn nam núi Đỉnh Hồ, thành phố Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 6 (1633) đời Minh xây cất, ban đầu gọi là “Liên Hoa Am”, sau đổi thành tên ngày nay. Vào khoảng niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) đời Thanh quy mô dần dần lớn. Vào khoảng niên hiệu Quang Tự (1875-1908) tăng chúng hơn 800 người. Trong chùa điện vũ trùng trùng, đường thất âm u, trang nghiêm điển nhã, diện tích kiến trúc là 1,2 ha. Sau giải phóng sửa sang lại điện vũ trong chùa, đại hùng bảo điện còn giữ Tam Thánh Phật Tượng, xây cất thêm Trà hoa các, Quan cảnh đài. Trong chùa có Thiên nhân hoạch, Đại đồng chung, còn có Trà hoa thọ, Xá Lợi tử, Đại tạng kinh, được khen ngợi là “Trấn Sơn Tam Bảo”. Xá Lợi tử do Thiền Sư Hám Sơn lấy được từ dưới tháp Kim Luân Phong ở Lô Sơn. ● 靠. Thừa thế ứng đối tiếp theo lời nói của kẻ khác, là một cách đọ sức bằng cơ ngữ trong nhà thiền. (Hỏi) vặn lại. Tiết Thanh Nguyên Hành Tư Thiền S trong LĐHY q.19 ghi: “玄 沙 云:大 小 石 頭 被 大 慧 靠 倒、至 今 起 不 得。 – Huyền Sa nói: Đường đường như Thạch Đầu mà bị Đại Huệ vặn lại, đến nay đứng dậy chẳng nổi”. ● 瞌 睡 漢. Kẻ ngu si, lờ mờ. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “看 他 作 者 吐 露 箇 消 息。宛 爾 不 同。若 是 瞌 睡 漢。遞 相 鈍 致。 – Hãy xem bậc tu hành nói về chỗ kiến tính, rõ ràng ngươi chẳng được như vậy. Nếu ngươi là kẻ ngu si, ta sẽ giúp ngươi hết đần độn”. ● 渴 鹿 之 想. Cái tưởng tượng của con nai khát nước, là cách tưởng hư vọng. Bài “Lục Tổ Năng Thiền Sư bi minh” của Vương Duy trong Toàn Đường Văn q. 327 ghi: “猶 懷 渴 鹿 之 想、尚 求 飛 鳥 之 迹。 – Còn ôm cái tưởng tượng của con nai khát nước, còn tìm kiếm dấu vết chim bay”. ● 渴 鹿 趁 陽 焰. Nai khát đuổi theo sóng nắng (vì ngỡ là nước). Bài “Mê Ngộ Bất Nhị” trong 14 khoa tụng của Hòa Thượng Chí Công ghi: 暘 焰 本 非其 水、渴 鹿 狂 趁 匆 匆 自 身 虛 妄 不 實、將 空 更 欲 覓 空 “Dương diệm bản phi kỳ thủy Khát lộc cuồng sấn thông thông Tự thân hư vọng bất thật Tương không cánh dục mịch không”. “Sóng nắng vốn chẳng phải nước. Nai khát lầm đuổi vội vàng Tự thân hư dối chẳng thật Đem không lại muốn tìm không”. ● 克 勤 (1063-1135). Thiền tăng đời Tống, họ Lạc, tự Vô Trước, hiệu Phật Quả, người xứ Sùng Ninh Bành Châu (nay thuộc phía tây huyện Bành tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Ngũ Tổ Pháp Diễn, thuộc tông Lâm Tế. Dòng dõi nhà Nho, thuở bé thông minh vượt bậc, cả nhà đều kỳ vọng vào sư. Một hôm ngẫu nhiên đến chùa Diệu Tịch thấy được kinh Phật như thấy được vật mình từng quen biết, sư liền vào chùa cạo tóc, nương ở với Thiền Sư Tự Tỉnh. Kế đó, sư từng tham học với các vị: Văn Chiếu, Mẫn Hành, Giác Thắng, Kim Loan Tín, Đại Quy Triết, Hoàng Long Tâm. Cuối cùng đến tham vấn Thiền Sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ, sư mới triệt ngộ và nối pháp ngài.Kệ ngộ đạo: 金 鴨 香 鎖 錦 繡 幃 笙 歌 叢 裏 醉 扶 歸 少 年 一 段 風 流 事 只 許 佳 人 獨 自 知 “Kim áp hương tiêu cẩm tú vi Sinh ca tòng lý túy phù quy Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự Chỉ hứa giai nhân độc tự tri”. “Lò hương bên trướng khói vừa tan Say khước dìu về nhạc vấn vương Một đoạn phong lưu thời trai trẻ Chỉ có giai nhân mới hiểu chàng”. Sư ra hoằng pháp trụ chùa Chiêu Giác, xiển dương tông chỉ Lâm Tế. Khi triều Nam Tống đã lập, sư trụ chùa Kim Sơn, được Tống Cao Tông ban hiệu là Viên Ngộ Thiền Sư, kế đó sư trụ trì Thiền viện Chân Như trên núi Vân Cư. Thụy hiệu “Chân Giác Thiền Sư”. Tác phẩm: Bích Nham Lục 10 quyển, Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục 20 quyển. ● 克 由 叵 耐. Thật khó nhẫn chịu, thật là đáng ghét! Tiết Quốc Thanh Hành Cơ Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “五 日 一 參、三 八 普 說、自 揚 家 醜。更 若 問 理 問 事、問 心 問 性、克 由 叵 耐。 – Năm ngày tham vấn 1 lần, 24 ngày mới phổ thuyết, tự nêu cái xấu nhà mình. Lại còn hỏi sự hỏi lý, hỏi tâm hỏi tính thì thật là đáng ghét?” ● 刻 的. Chuẩn xác và trong sáng. Tiết Nghệ Ngôn trong NĐHN q.29 ghi: “少 室 心 印、豈 落 文 彩?古 人 聊 爲 接 引 之 計、始 掛 唇 吻、然 皆 渾 朴 簡 直、刻 的 示 人。 – Tâm ấn Thiếu Thất há câu nệ vào việc trau chuốt lời nói câu văn? Người xưa tạm vì kế tiếp dẫn mà mượn lời nói, nhưng đều hồn hậu, chất phác, ngắn gọn, chuẩn xác và trong sáng để dạy người”. ● 剋 期 取 證. Khắc kỳ tức là hạn định ngày giờ. Nguyên câu nghĩa là hạn định thời gian tu hành biện đạo để mong được Phật quả. Như Kinh Viên Giác ghi: Nếu kiến lập đạo tràng, phải lập kỳ hạn, nếu là kỳ hạn dài thì 120 ngày, nếu là kỳ hạn vừa thì 100 ngày, an trí tịnh cư. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 克 符. Thiền tăng đời Đường; nối pháp Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền thuộc tông Lâm Tế. Về sau sư trụ Trác Châu (nay thuộc Hà Bắc), thường mặc áo giấy, người đời gọi là Chỉ Y Hòa Thượng. Sư làm rất nhiều kệ tụng được người đời ưa thích và truyền bá. Sư thị tịch vào khoảng Đường Chiêu Tông và Đường Ai Đế (889-907). ● 克 文 (1025-1102). Thiền tăng đời Tống, họ Trịnh, hiệu Vân Am, người xứ Thiểm Phủ (nay là Thiểm Huyện tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Năm 25 tuổi theo Bắc Tháp Quảng Công xuất gia, thông nội ngoại điển. Ban đầu sư tham học nơi Hoàng Long Huệ Nam chẳng khế hợp nên đến Hương Thành (nay là Triêu ấp Thiểm Tây) gặp Hòa Thượng Thuận. Ngài hỏi ngược lại những lời lẽ của Hoàng Long, Khắc Văn nghe qua và có tỉnh, mới biết dụng ý của Hoàng Long liền trở về Hoàng Long và nối pháp Huệ Nam. Sư ban đầu trụ Động Sơn, sau dời đến Bảo Phong ở Hưng Long. Sư khai đường thuyết pháp rất siêng năng và dẫn dắt thiền tăng các nơi, được Vua ban hiệu Chân Tịnh. Tác phẩm: Tuyết Am Ngữ Lục. ● 肯. Ca ngợi, tin tưởng người nào đó đã tỉnh ngộ, hoặc tán đồng ngôn hạnh thiền cơ nào đó. Tông Môn Võ Khố ghi: “老 南 下 尊 宿、五 祖 只 肯 晦 堂、眞 凈 二 老 而 已、自 余 皆 不 肯 他 也。 – Các bậc Tôn túc dưới trướng lão Nam, Ngũ Tổ chỉ ca ngợi hai vị Hối Đường và Chân Tịnh mà thôi, ngoài ra đều không tin tưởng ai khác”. ● 肯 重. Sùng tín, tôn sùng, xem trọng. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.6 ghi: “僧 問:和 尚 出 世、一一幾 人 肯 重 佛 法?師 曰:實 無 一 人 肯 重。僧 曰:爲 什 麼 不 肯 重?師 曰:他 各 各 气 宇 如 王 相 似。 – Tăng hỏi: Hòa Thượng ra giáo hóa, có mấy người xem trọng Phật pháp? Sư đáp: Thật không có người nào xem trọng. Tăng hỏi: Vì sao họ chẳng xem trọng? Sư đáp: Mỗi người trong bọn họ khí chất và thái độ giống như Vua”. ● 緊 帩 草 鞋. Buộc chặt dây giày. Lời Thiền Sư khuyên dạy thiền sinh nên tiếp tục hành cước tham học để cầu ngộ đạo. Tiết Khai Nguyên Trí Tư Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “若 也 道 得、觀 音、勢 至、文 殊、普 賢 祇 在 目 前。若 道 不 得、直 須 撩 起 布 裙、緊 峭 草 鞋。參! – Nếu nói được thì Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền ở ngay trước mặt. Nếu nói không được thì cần phải vén quần, cột chặt giây giầy, tham!”. ● 扣. Còn gọi: Khấu địch, khấu kỷ, khấu kích. 1. Thưa hỏi, luận bàn. Tiết Tín Tương Tôn Hiển Thiền Sư trong NĐHN q.10 ghi: “時 圓 悟 爲 侍 者、師 以 白 雲 關 意 扣 之。悟 曰:你 但 直 下 會 取。 – Khi ấy Viên Ngộ làm thị giả, sư đem ý chính của Bạch Vân ra hỏi. Ngộ nói: Ngươi nên lập tức lãnh hội đi!”. Tiết Lâm An Trí Tài Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “頗 稱 衲 僧、缽 囊 高 挂。獨 步 遐 方、似 猛 虎 出 荒 郊、臨 機 須 扣 敵、今 日 還 有 麼? – Lạm xưng nạp tăng, treo cao túi bát, một mình đi đến phương xa, giống như mãnh hổ ra khỏi đồng hoang, gặp cơ hội nên bàn luận, hôm nay có ai chăng?”. ● 2. Yêu cầu. Lời Bạt phụ sau quyển cuối trong CĐTĐL q.30 ghi: “福 州 大 中 寺 知 藏 僧 正 自 以 寇 亂 而 來 文 籍 道 厄 募 緣。再 刊 此 書 以 便 道 俗。齎 覽 扣 余 爲 序。因 書 其 後。 – Theo lời vị Tri tạng Tăng Chính ở chùa Đại Trung, Phúc Châu thì từ khi giặc loạn đến nay, kinh sách cũng bị nạn binh lửa nên sư đi quyên góp in lại sách này để cho 2 giới tại gia và xuất gia cùng xem. Sư yêu cầu tôi làm tựa, nhân đó tôi viết sau sách này”. ● 扣 敵. Hỏi han, biện luận. Tiết Lâm An Trí Tài Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “頗 稱 衲 僧、鉢 囊 高 挂。獨 步 遐 方、似 猛 虎 出 荒 郊、臨 機 須 扣 敵、今 日 還 有 麼? – Rất xứng là thiền tăng treo cao đãi bát, một mình đi phương xa giống như hổ dữ ra khỏi đồng hoang, đúng thời cần phải biện luận, hôm nay có hay chăng?” ● 叩 激. Thưa hỏi, hỏi vặn. Chương Trần Tôn Túc trong CĐTĐL q.12 ghi: “時 有 學 人 叩 激。隨 問 遽 答。詞 語 峻 嶮 既 非 循 轍。 – Khi có người học đến thưa hỏi, sư đáp ngay theo sau câu hỏi, lời lẽ cao vút, không noi theo dấu cũ”. ● 扣 己. Vặn hỏi chính mình. Tiết Từ Vân Ngạn Long Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “諸 禪 德、這 箇 公 案、喚 作 嚼 飯 餧 小 兒、把 手 更 與 杖。還 會 麼?若 未 會、須 是 扣 己 而 參、直 要 眞 實、不 得 信 口 掠 虛。 – Này các thiền đức, công án này gọi là nhai cơm bón cho trẻ con, nắm tay còn cho thêm gậy. Có hiểu không? Nếu chưa hiểu thì cần vặn hỏi chính mình mà tham cứu. Cần phải chân thật không được nói bậy lung tung.” ● 叩 發. Hỏi vặn, thưa hỏi. Tiết Phần Dương Thiện Chiêu Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “剃 髮 受 具、杖 策 遊 方。所 至 少 留、隨 機 叩 發、歷 參 知 識 七 十 一 員。 – Sư được cạo tóc, thụ giới cụ túc, chống gậy du phương, ít dừng lại nơi nào lâu, tùy cơ thưa hỏi, tham vấn trải qua 71 vị tri thức”. ● 扣 關 擊 節. Gõ cửa đánh xênh. Có nghĩa nhắc nhở người tham thiền vượt qua chỗ hiểm yếu khó khăn để chứng ngộ. Thiền Lâm Bảo Huấn q.2 (Đại 48, 1027 hạ) ghi: “楊 無 爲 之 於 白 雲 端。張 無 盡 之 於 兜 率 悅。皆 扣 關 擊 節 徹 證 源 底。 – Như Dương Vô Vi đến tham thiền nơi Bạch Vân Đoan, Trương Vô Tận đến ngài Đâu Suất Duyệt. Cả hai đều được nhắc nhở thông qua chỗ hiểm yếu khó khăn để chứng ngộ triệt để”. ● 扣 參. Đến chào để xin chỉ giáo. Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “每 閱 經 、心 融 神 會、能 折 節 扣 參 老 宿。 – Mỗi khi xem kinh, tâm thông thần hội, hay trích ra từng đoạn đến chào các bậc lão túc để xin chỉ giáo”. ● 口 吧 吧. Còn gọi: Khẩu Tử Ba Ba. Ăn nói huênh hoang, hàm ý châm biếm. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục ghi: “尋 常 口 吧 吧 地、道 我 能 縱 能 奪、能 殺 能 活、及 問 他 遠 法 師 因 甚 不 過 虎 溪、便 道 不 得。且 道:病 在 那 裏? – Bình thường ăn nói huênh hoang, nói ta hay buông hay bắt, hay cứu hay giết. Đến khi bị người khác hỏi ›Pháp sư Viễn do đâu mà không bước qua Hổ Khê‹, lại nói chẳng được. Thử hỏi bệnh tại chỗ nào?”. ● 口 辯 舌 端. Biện luận khéo léo. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung: “風 和 日 暖 古 佛 家 風、柳 綠 桃 紅 祖 師 巴 鼻。眼 親 手 辦 未 是 惺 惺、口 辯 舌 端 與 道 轉 遠、從 門 入 者 不 是 家 珍。且 道:畢 竟 如 何 相 見? – Gió hòa nắng ấm là gia phong của cổ Phật, đào đỏ liễu xanh là cơ phong của Tổ sư. Nhanh tay lẹ mắt chưa phải là thông minh, biện luận khéo léo cách đạo càng xa. Từ cửa mà vào chẳng phải vật báu trong nhà. Thử hỏi rốt cuộc làm sao gặp nhau?”. ● 口 頭 禪. Còn gọi: Khẩu Đầu Tam Muội. Thiền ngoài miệng, tức là chỉ góp nhặt những lời Thiền gia thường dùng để trợ giúp việc đàm luận, mà không chịu hạ thủ công phu tu trì. Trong Thái Căn Đàm có câu: Giảng dạy học trò mà đích thân không thực hành là Khẩu đầu thiền. ● 口 若 懸 河. Còn gọi: Huyền Hà Vô Trệ. Nói năng lưu loát. Đời Tấn có học giả Quách Tượng chuyên nghiên cứu về học thuyết Lão Trang. Quách Tượng giỏi diễn đạt, ngôn ngữ hình tượng sinh động, nói thao thao bất tuyệt. Một học giả khác tên Vương Diễn rất khâm phục Quách Tượng, nói: “Nghe Quách Tượng nói như sông treo đổ nước xuống (Khẩu nhược huyền hà), không bao giờ khô cạn”. Cốc Tuyền Ba Tỵ trong Thiền Uyển Mông Cầu (Vạn Tục 148, 132 hạ) ghi: 座 主 巴 鼻、懸 河 無 滯 地 湧 金 蓮、手 擎 如 意 “Tọa chủ Ba Tỵ Huyền Hà Vô Trệ Địa dũng kim liên Thủ kình như ý”.”Giảng sư là Ba Tỵ Nói năng thật lưu loát Dưới đất mọc hoa sen Trên tay cầm ›Như ý‹.”. ● 口 似 匾 檐. Còn gọi: Khẩu Tự Tảng Bàn 口 似 磉 盤. Miệng giống tấm bảng, dụ cho bị bí lối không nói được. NĐHN q.7 ghi: “大 小 德 山 被 汝 一 問、口 似 匾 擔。 – Đường đường như Đức Sơn vậy mà bị ông hỏi một câu đành bí lối không nói được”. ● 口 似 紡 車. Miệng như máy dệt, dụ cho nói liên tục không ngừng. NĐHN q.16 ghi: “問 者 口 似 紡 車、荅 者 舌 如 霹 靂。 – Người hỏi miệng dường như máy dệt (hỏi tới tấp), kẻ đáp lưỡi như sấm sét (đáp có dũng khí)”. ● 口 似 磉 盤. Miệng như tảng đá, ý nói ngậm miệng không nói được. Tảng bàn: Đá kê chân cột (viên tán). Đại Huệ Ngữ Lục q.7 ghi: “雲 門 山 頭 種 田 博 飯 吃、問 著 佛 道 禪 法、口 似 磉 盤 – Trên núi Vân Môn làm ruộng để có cơm ăn, khi được hỏi về thiền đạo Phật pháp thì miệng như tảng đá (viên tán)”. ● 契 本 (930-1001). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Hồ, tự Đạt Chính, người Nhũ Nguyên, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Tử Tường, thuộc tông Vân Môn đời thứ 3, trụ trì thiền viện Diên Thọ, núi Bạch Vân. Hiệu: Cảm Ngộ Đại Sư. ● 契 斌 (1380-1450). Thiền tăng đời Minh, họ Vương, tự Câu Không, người xứ Thản Khúc (nay thuộc Sơn Tây) Trung Quốc. Thuở nhỏ thông sách Nho, lúc trưởng thành thấu suốt kinh luận. Theo ngài Vô Tướng ở viện Trùng Hưng cạo tóc xuất gia, tính thích thiền tịch, khắc khổ tham cứu. Năm 1416, sư đến Thiếu Lâm ra mắt Thiền Sư Ngưng Nhiên Liễu Cải cầu chỉ dạy tâm yếu, lâu ngày chẳng khế ngộ. Một hôm chợt nhìn thấy tấm biển Cổ Hoè Thọ do Tần Thủy Hoàng phong liền có tỉnh, nhờ Thiền Sư ấn chứng, nối pháp tông Tào Động. Năm 1448, sư ra hoằng pháp trụ trì viện Tung Sơn, môn đình cao vút, trong nước ít có nơi nào sánh bằng. ● 契 機. Sự dạy bảo khai thị của Tông sư khế hợp với căn cơ, trình độ của người học. ● 契 瑰. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Vân Cư Đạo Tế, thuộc tông Pháp Nhãn. Đạo Tế trước khi thị tịch, tập hợp đồ chúng bảo rằng: “Sau khi ta đi, sơn môn được giao cho Khế Khôi khai đường trụ trì,” nên sư kế thừa pháp hội của Ngài. Có vị tăng hỏi: Phật là gì? Sư đáp: Khen ngợi không đủ. Tăng hỏi tiếp: Đâu riêng cái này mới phải sao? Sư đáp: Không khiến người khen ngợi. ● 契 如. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Phúc Châu, sư thích ở một mình để tịnh dưỡng, chí ưa tìm tòi đạo pháp của Phật Tổ, vào thất Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị, đốn ngộ ý chỉ sâu kín. Sư chẳng chịu tụ tập đồ chúng, chẳng nuôi tiểu đồng hầu hạ, ở ẩn trong núi Tiểu Giới, moi ruột gốc đại thụ để làm một am nhỏ vừa đủ dung thân mà thôi. Hễ có vị tăng du phương nào đến, sư tùy theo chỗ thưa hỏi mà đáp, những lúc khai thị không nhất định phải theo lệ thường. Hai vị trưởng lão là Thanh Khoát và Sung Húc lập am ở núi Đại Chương, thỉnh sư dời về ở đấy. ● 契 念. Thiền tăng đời Tống. Sư từng đến núi Đại Dương thờ Thiền Sư Huệ Kiên và nối pháp Ngài, thuộc tông Tào Động. Sư ở viện Bắc Thiền Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, Hồ Nam). Có vị tăng hỏi: Thế nào là nguồn của Đại đạo? Sư đáp: Các dòng sông chảy lẫn lộn chẳng được. ● 契 訥. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng; ra hoằng pháp trụ Đông Thiền viện ở Phúc Châu. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Đông Thiền? Sư đáp: Một người truyền dối, muôn người truyền thật. ● 契 穏. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển, ra hoằng pháp trụ Khang Sơn, Phúc Châu. Mân Vương ban hiệu “Pháp Bảo Thiền Sư”. ● 契 璠. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, ra hoằng pháp trụ Nam thiền viện ở Phúc Châu. ● 契 符. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị, ra hoằng pháp trụ viện Tiên Tông, Phúc Châu. Có vị tăng hỏi: Thế nào là cảnh giới chư Phật trong xứ Mân? Sư đáp: Tạo hóa trọn khó lường, gió Xuân luống tự nhẹ. Mân chủ ban hiệu cho sư là “Thanh Pháp Thiền Sư”. ● 契 崇. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Cốc ẩn Trí Nghiễm, thuộc tông Tào Động. Sư kế thừa pháp hội của thầy, lãnh đạo chư tăng tu hành thanh tịnh, xiển dương Thiền Tông. Có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Người Phiên cởi áo (lông cừu), người Hồ mặc áo. ● 契 詮. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Thạch Môn Thiệu Viễn, thuộc tông Tào Động. Sư ở núi Đạo Ngô Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam). Có vị tăng hỏi: Thế nào là cảnh Đạo Ngô? Đáp rằng: Hoa suối ngậm sương tợ ngọc, trái trong sân rụng đài như vàng. Tăng còn hỏi: Thế nào là người trong cảnh? Sư đáp: Ôm lão Thiền Sư Lô Pha phơi lưng ra nắng gối đầu lên gốc mũi. ● 契 稠 (?-992). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Cơ người xứ Tuyền Châu; nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư ở viện Sùng Thọ, Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Có vị tăng hỏi: Một câu vì người của Hòa Thượng là gì? Sư đáp: Quán Âm nêu ra, Thượng Lam nêu ra. Niên hiệu Thuần Hóa thứ 3 (992), sư truyền pháp cho Tư Quốc Viên Tiến rồi thị tịch. ● 契 從. Thiền tăng đời Tống. Ban đầu sư tham học nơi Thiền Sư Hoàng Long Hối Cơ đã lâu mà không khế hội. Về sau sư nối pháp Thiền Sư Minh Chiêu Đức Khiêm. Sư trụ viện Báo Ân ở Xử Châu (nay là huyện Lệ Thủy tỉnh Chiết Giang). ● 契 聞 (1302-1380). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Bất Văn Khế Văn, vào niên hiệu Thái Định thứ 3 (1326) sư sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Kính Sơn Đại Tông, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, đời thứ 7 tông Lâm Tế. Trụ trì chùa Viên Giác. ● 棄 有 著 空. Trải qua thời gian tu tập, sau khi bỏ được ý tưởng cho rằng muôn vật là “Hữu” (có), nhưng lại chấp trước muôn vật đều “Không”. Nếu chấp cái “Không” này, tức là trong tâm vẫn còn cái “Có” đối lập, chưa phải hoàn toàn giải thoát. Chương Chứng Đạo Ca của Huyền Giác trong CĐTĐL q.30 ghi: 棄 有 著 空 病 亦 然 還 如 避 溺 而 投 火 “Khí hữu trước không bệnh diệc nhiên Hoàn như tị nịch nhi đầu hỏa”. “Bỏ có níu không, bệnh vẫn nguyên, Khác nào trốn nước sa vào lửa”. ● 器 樸. Khí: Cây cong, cây làm thành vật dụng. Phác: Cây ngay thẳng, cây gỗ còn nguyên. Khí Phác dùng để chỉ cho căn cơ của chúng sinh. ● 怯. Xấu, sai lầm. Tiết Ma Cốc Bảo Triệt Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “師 又 問:上 岸 稻 得 與 麼 好、下 岸 稻 得 與 麼 怯。婆 曰:總 被 螃 蟹 喫 卻 也。 – Sư lại hỏi: Lúa bờ trên sao tốt thế, còn lúa bờ dưới sao xấu thế? Bà già nói: Tất cả đều bị cua ăn hết”. ● 獦 獠. Tên gọi dân tộc thiểu số ở phương nam vào đời Đường, có quan hệ sâu xa đến dân tộc thiểu số phương nam ngày nay là dân tộc Ngật Lão (tỉnh Quý Châu, Trung Quốc). Đàn Kinh (bản Đôn Hoàng) ghi: “祖 言:汝是 嶺 南 人、又 是 獦 獠、若 爲 堪 作 佛! – Đại sư liền trách Huệ Năng rằng: Ngươi là người Lãnh Nam, lại là Khiết Liêu, sao làm giống như Phật được!”. ● 窠 道. Khuôn mẫu và con đường. Chỉ cho sự ràng buộc của hình thức, khuôn mẫu. Tiết Vân Phong Văn Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “語 不 離 窠 道、焉 能 出 蓋 纏?片 雲 橫 谷 口、迷 卻 幾 人 源。” “Ngữ bất ly khòa đạo Yên năng xuất cái triền? Phiến vân hoành cốc khẩu Mê khước kỷ nhân nguyên” “Nói chẳng lìa khuôn mẫu Phiền não thoát được ư? Áng mây chắn cửa động Lầm nguồn biết bao người”. ● 課 虛 錄. Lục, 2 quyển, do vị vua Việt Nam đời Trần là Trần Thái Tông, vị vua có tâm đắc về Thiền, biên soạn. Khóa: Sự hành trì tu tập, Hư: Thái độ không chấp trước vào hình thức giáo điều, Lục: Ghi chép thành sách. Nội dung bao gồm: Tựa dẫn, Tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam và quyển thượng, hạ. 1. Quyển thượng: Kệ bốn núi, Phổ thuyết và sắc thân, Văn khuyên phát tâm, Văn ngũ giới, Luận về Giới Định Huệ, Luận về thụ giới, Luận về niệm Phật, Luận về ngồi thiền, Luận về tấm gương Huệ, Tựa kinh Kim Cang Tam Muội, Phổ thuyết về một con đường hướng thượng, Vấn đáp giữa Thầy trò, Kệ niệm tụng. 2. Quyển hạ: ― Tựa của nghi thức lạy sám hối trong sáu thời. ― Tựa của văn “Bình đẳng sám hối”. ― Kệ cảnh sách đại chúng vào buổi sáng. ― Sám hối sáu căn. Mỗi mục này chia ra 4 phân mục: ― Bài dâng hương ― Khải bạch ― Văn sám hối ― Kệ vô thường ― Kệ khuyên đại chúng. ― Lời bạt sau cùng. Xét về nội dung, Khóa Hư Lục vừa có giá trị thiền học, vừa có giá trị văn học, bởi qua các bài văn, luận, Trần Thái Tông đã dùng thể biền ngẫu và kệ, thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn… đều rất giàu hình tượng, đầy ngữ khí thiền và giàu chất trữ tình để biểu đạt tư tưởng, cảm xúc siêu thoát của mình. Sách này có bản in vào năm 1943 của Tổng Hội Phật Giáo Bắc Kỳ và các bản dịch sau đây: ― Khóa Hư Lục do Thiều Chửu dịch. ― Khóa Hư Lục do Nguyễn Đăng Thục dịch 1972. ― Bản dịch của nhóm KHXH nằm trong Thơ văn Lý Trần tập I, 1989. ― Khóa Hư Lục do HT. Thanh Kiểm dịch, 1992. ― Khóa Hư Lục Giảng Giải do HT. Thích Thanh Từ, 1996. ● 裹 足. Làm vòng vo, vòng vèo. Tông Môn Võ Khố ghi: “被 罪 在 此。不 曾 爲 人 作 文 字。今 有 一 問 問 公。若 道 得 即 做 塔 銘。道 不 得 即 與 錢 五 貫。裹 足 卻 歸 兜 率 參 禪 去。 – Bị tội ở đây, chẳng từng dạy chữ nghĩa cho người. Nay có một câu hỏi hỏi ông, nếu nói được thì làm tháp minh, còn nói chẳng được thì tôi cho ông 5 quan tiền để đi vòng vo rồi trở về Đâu Suất tham thiền”. ● 快 鷂 赶 不 及. Diêu: Chim cắt nhỏ bay liệng cực nhanh. Khoái Diêu Cản Bất Cập nghĩa là chim cắt dù bay cực nhanh cũng không thể truy đuổi kịp. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho Thiền cơ nhanh như chớp. Tắc 12, Bích Nham Lục (Đại 48, 153 thượng) ghi: “金 烏 急 (左 眼 半 斤。快 鷂 趕 不 及。火 焰 裹 橫 身) 玉 兔 速 (右 眼 八 兩。姮 娥 宮 裹 作 窠 窟) 善 應 何 曾 有 輕 觸。 – Ngày qua mau (mắt trái nửa cân, thiền cơ nhanh nhạy, nằm ngửa trong ngọn lửa), tháng qua mau (mắt phải tám lạng, trong cung Hằng Nga làm hang ổ), nếu khéo ứng phó đâu từng bị khinh dễ xúc phạm?”. ● 快 馬. Ngựa hay, tức là ngựa chạy rất nhanh. Những con ngựa giỏi chỉ cần đánh một roi là chạy ngay, gọi là “Khoái mã nhất tiên”. Thiền Tông dùng từ này chỉ cho người học đạo ưu tú chỉ nghe một lời của vị thầy liền có thể đại ngộ triệt để. Cho nên từ “khoái mã” còn ám chỉ căn cơ lanh lợi. Tắc 38, Bích Nham Lục (Đại 48, 175 hạ) ghi: “快 人 一 言 快 馬 一 鞭 – Người ưu tú chỉ cần nghe một lời, ngựa hay chỉ cần đánh một roi”. Hơn nữa, ngựa hay một khi thấy bóng roi liền có thể xét biết mà chạy ngay, gọi là “Khoái mã kiến tiên ảnh”, trong tùng lâm dụ cho người học đạo không chờ vị thầy mở miệng khai thị, liền có thể ngầm xét ý thầy mà triệt ngộ. ● 快 便 難 逢. Nghĩa là cơ hội tốt ngàn năm khó gặp. Tắc 54, Bích Nham Lục (Đại 48, 188 trung) ghi: “雲 門 問 僧 近 離 甚 處 ?僧 云:西 禪。門 云:西 禪 近 日 有 何 言 句?僧 展 兩 手。門 打 一 掌 (據 令 而 行。好 打。快 便 難 逢) – Vân Môn hỏi tăng: Vừa rời chỗ nào đến đây? Tăng đáp: Tây Thiền. Vân Môn hỏi: Gần đây Tây Thiền nói lời gì? Tăng dang 2 tay, Vân Môn tát 1 cái. (Cứ theo lệnh mà làm, đánh hay quá, cơ hội tốt khó gặp)”. ● 枯 木 龍 吟. Nghĩa là người tham thiền dứt sạch vọng niệm, giống như cây khô, thấy rõ chân tính dụ như rồng ngâm. Tiết Tào Sơn Bản Tịch Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “枯 木 龍 吟 眞 見 道、髑 髏 無 識 眼 初 明。 – Rồng ngâm cây khô thật thấy đạo, đầu lâu không thức mắt mới sáng.” ● 枯 崖 漫 錄. Còn gọi: Khô Nhai Hòa Thượng Mạn Lục. Bút Ký, 3 quyển, do Khô Nhai Viên Ngộ soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 143. Mục đích cùng ý chính của sách này nhằm bổ sung phần hành trạng bị thất lạc của các bậc Tôn túc trong các loại Truyền Đăng Lục như: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Gia Thái Phổ Đăng Lục. Bên cạnh đó ghi chép về cơ duyên nhập đạo, pháp ngữ thị chúng, hoặc là Kỷ truyện, hoặc là Niêm tán, hoặc là Cảnh ngữ; tùy theo chỗ thấy nghe mà sư ghi chép tản mạn nên không thống nhất và không theo thứ tự. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Hàm Thuần thứ 8 (1272). ● 枯 龜 喪 命. Nghĩa là có chút ít tài năng mà ưa khoe khoang đến nỗi tan thân mất mạng. Khô quy tức là con rùa già. Lúc vua Đại Vũ cai trị Hoàng Hà, từ sông Lạc Thủy nổi lên một con rùa thần, do trên lưng rùa có văn tự nên bị giết chết. Thiền lâm bèn căn cứ điển tích này để chế giễu kẻ thích khoe khoang mà phải gặp nguy hiểm có khi mất mạng. Tắc 10, Thung Dung Lục (Đại 48, 233 trung) ghi: “枯 龜 喪 命 因 圖 象、良 駟 追 風 累 纏 牽。 – Rùa già mất mạng do tranh tượng, ngựa hiền chạy mệt bởi dây cương”. ● 枯 鬼 死 底. Nghĩa là trạng thái mọi ý thức dứt sạch; hoặc dụ cho Vô tưởng định, Diệt tận định, cả hai gọi là Nhị vô tâm định. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 枯 禪. 1. Còn gọi: Khô Cảo Tọa Thiền. Nghĩa là khi tọa thiền buông bỏ tất cả, không tác vi, không đối đãi. ● 2. Theo lập trường của Khán thoại thiền thì Mặc chiếu thiền bị quở trách là tọa thiền lặng lẽ giống như cây khô. ● 庫 主. Tên gọi chung chức quản lý trong Thiền lâm, cũng là gọi chung ba chức: Đô tự, Giám tự, Phó tự, là Khố chủ. X. Khố đầu, Giám tự. ● 庫 頭. Còn gọi: Tri Khố. Người trông coi việc thu xuất trong Thiền viện. Vốn là 1 trong 6 vị Tri sự bên ban Đông, về sau gọi là Phó tự (Còn gọi: Quỹ đầu Tài bạch), địa vị dưới Đô tự, có nhiệm vụ trông coi mọi việc trong chùa, tức quản lý việc xuất nhập thực phẩm, lúa gạo, tiền bạc, vải lụa… hàng ngày. Tuy chức vụ thấp mà nhiệm vụ nặng. Theo Bách Trượng Thanh Quy Cáo Hương Đồ: “Thuở xưa, dưới chức Đô tự có 3 vị Phó tự, 1 người địa vị trên Duy Na, 2 người địa vị dưới Duy Na, người trên Duy Na gọi là Thượng phó tự, người dưới Duy Na gọi là Hạ phó tự. Dưới chức Phó tự có lập riêng chức Tri Khố, về sau Phó tự cũng kiêm chức này, trông coi việc thu chi xuất nạp tài chính trong Sơn môn”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 苦 瓠 連 根 苦. Trái khổ qua từ rễ đến ngọn toàn là đắng. Thiền Tông chỉ cho sự vật từ đầu đến đuôi không biến đổi tính chất. Tiết Vô Trước Văn Hỷ trong NĐHN q.9 (Vạn Tục 138, 166 hạ) ghi: “殊 乃 說 偈 曰:苦 瓠 連 根 苦、甜 瓜 徹 蔕 甜。修 行 三 大 劫、卻 被 老 僧 嫌。 – Văn Thù bèn nói kệ rằng: Dưa đắng cả rễ đắng, dưa ngọt ngọt cả dây. Tu hành ba đại kiếp, lại bị lão tăng rầy”. ● 灰 頭. Còn gọi: Lô Đầu. Người coi sóc việc sưởi ấm cho đại chúng, có nhiệm vụ cung cấp than, củi, nạo vét khói, làm thông lò sưởi. ● 灰 頭 土 面. Còn gọi: Hòa Quang Đồng Trần, Phù Thổ Đồ Khôi. Nguyên chỉ cho đầu mặt dính tro bụi. Thiền Tông mượn từ này để hình dung người tu hành sau khi ngộ đạo, vì tế độ chúng sinh mà cam chịu chung đụng với quần chúng không kể đến những điều ô trược của trần thế. Phần giải tụng của tắc 43, Bích Nham Lục q.5 (Đại 48, 180 hạ) ghi: “若 不 出 世 目 視 雲 霄。若 出 世 便 灰 頭 土 面。 – Nếu chẳng xuất thế thì mắt thấy trời cao. Nếu vào cuộc đời để giáo hóa chúng sinh thì cam chịu những điều ô trược của trần thế”. Bài tụng thứ 10 trong Thập Mục Ngưu Đồ ghi: 露 胸 跣 足 入 纏 來 抹 土 塗 灰 笑 滿 荫 不 用 神 仙 眞 祕 訣 直 教 枯 木 放 花 開 “Lộ hung tiển túc nhập triền lai Phù thổ đồ khôi tiếu mãn tai Bất dụng thần tiên chân bí quyết Trực giao khô mộc phóng hoa khai”. “Chân trần bày ngực chốn chợ đời Dù phải trần lao vẫn cứ vui Bí quyết thần tiên đâu cần đến Cây khô cũng khiến nở hoa tươi”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 瑰 省 (906-972). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trịnh, người xứ Ôn Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia chuyên nghiên cứu luật bộ, nghe giáo pháp Thiên Thai, gởi lòng nơi Chỉ quán viên đốn. Sau đó xem kinh Lăng Nghiêm nhưng chưa thể thấu suốt. Một hôm tụng kinh đã lâu, ngồi tựa bàn nghỉ ngơi, trong mộng thấy mặt trời từ trên không rơi xuống, sư há miệng nuốt lấy. Từ đó sư phát ngộ, đối với nghĩa môn sai biệt sư không còn nghi ngờ mảy may. Sư tham học theo tông Pháp Nhãn; nối pháp Thiền Sư Vĩnh Minh Đạo Tiềm, được Ngô Việt Trung Hiến Vương tặng nạp y. Ban đầu sư trụ viện Nghiêm Tịnh ở Hồ Tây, tiếng tăm vang dậy bốn phương. Về sau sư dời về chùa Quang Vương ở Hàng Châu. ● 空 隠. Biệt hiệu của Thiền tăng Đạo Độc đời Thanh. X. Đạo Độc. ● 空 照 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Sư Ngạn, đời Ngũ Đại. X. Sư Ngạn. ● 空 谷. 1. Hiệu của Thiền tăng Cảnh Long, đời Minh. X. Cảnh Long. 2. Hiệu của Thiền tăng Đạo Trừng, đời Thanh. X. Đạo Trừng. ● 空 谷 集. Gọi đủ: Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập. Lục, 6 quyển. Đây là tập sách được hoàn thành bởi 3 người và trải qua 2 triều đại, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 117, trang 531. Ban đầu vào đời Tống, Đầu Tử Nghĩa Thanh thu thập 100 tắc cơ duyên của các Thiền Sư nhiều đời, rồi dưới mỗi tắc sư đều có làm 1 bài tụng. Sau đó, Đan Hà Tử Thuần phụ thêm phần thị chúng và trước ngữ. Đến đời Nguyên, Lâm Tuyền Tùng Luân còn làm thêm bình xướng rồi họp chung tất cả để ấn hành. Sách này giống như Thung Dung Lục, Bích Nham Lục, đều là sách nói về các công án. ● 空 名. Muôn sự muôn vật đều hư huyễn chẳng thật thì tên gọi của nó cũng không có thực thể, nên gọi là “Không danh”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “問 如 何 是 眞 佛 眞 法 眞 道。乞 垂 開 示。師 云 。佛 者 心 清 淨 是。法 者 心 光 明 是。道 者 處 處 無 礙 淨 光 是。三 即 一 皆 是 空 名。而 無 寔 有。 – Hỏi: Thế nào là chân Phật, chân Pháp, chân Đạo, xin thầy chỉ dạy? Sư nói: Phật là tâm thanh tịnh, Pháp là tâm quang minh, Đạo là nơi nào cũng sáng sạch vô ngại. Ba tức là một, đều là không danh mà chẳng thực có”. ● 空 藥. Thuốc KHÔNG, dụ chỉ Phật giáo đề cập đến lý luận “muôn vật đều không tịnh” không phải là pháp căn bản, nhưng vì chúng sinh chấp trước nơi “hữu” (có), nên mới tùy bệnh cho thuốc mà thôi. Tử Bá Lão Nhân Tập q.1 ghi: “眾 生 胶 固 於 根 塵 之 習、久 積 成 堅、卒 不 易 破、故 諸 佛 菩 薩 先 以 空 藥 治 其 堅 有 之 病。 – Chúng sinh quen dính chặt vào căn trần, lâu ngày tích lũy thành kiên cố, đến chết cũng chẳng buông được, nên chư Phật, Bồ Tát trước tiên dùng thuốc không để trị bệnh chấp có này”. ● 空 花. Còn gọi: Không lý hoa. Hoa đốm trong hư không. Hư không vốn không có hoa, vì mắt bệnh nên lầm thấy có hoa. Nhà Phật dùng để dụ muôn vật trên thế giới vốn không thật tồn tại, chỉ do vọng tâm tục niệm tạo thành. Điệu Ngũ Tổ Diễn Hòa Thượng trong Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: 此 病 彼 圓 寂、吾 門 何 得 失 生 死 若 空 花、去 來 如 鳥 跡 “Bệnh này khiến cho kia viên tịch Trong cửa ta nào có được mất Sinh tử cũng giống như không hoa Đến đi tợ vết nhạn lưng trời”. ● 空 花 影 落. Hoa trong hư không chỉ là bóng huyễn do mắt bệnh mới trông thấy mà thôi, khi mắt lành bệnh thì bóng hoa cũng tiêu mất, ý nói vọng tâm tục niệm bị tiêu trừ. Thư Đáp Trịnh Côn Nham Trung Thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “如 此 著 力、自 然 得 見 好 消 息。若 一 念 拶 得 破、則 一 切 妄 念、一 時 脫 謝。如 空 華 影 落、暘 焰 波 澄。過 此 一 番、便 得 無 量 輕 安、無 量 自 在。 – Dụng công như thế, tự nhiên được thấy tin tức tốt. Nếu một niệm bức bách bị phá vỡ thì tất cả vọng niệm đồng thời rơi xuống, như không hoa ảnh lạc, như dương diệm ba trừng. Một phen thấu qua chỗ này mới được vô lượng khinh an, vô lượng tự tại”. ● 空 花 陽 焰. Hoa đốm trong hư không (trọn không phải là hoa thật). Sóng nắng do mặt trời mùa Xuân rọi vào bụi trần (trọn chẳng phải là sóng nước). Hai thí dụ trên dùng để chỉ sự vật hư huyễn đều do vọng tâm tục niệm sinh ra. Bài Minh chân tụng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q.10 ghi: “譬 如 一 點 明 燈、能 破 千 年 暗 室、決 了 貪 瞋 體 性、空 花 暘 焰 非 實。 – Ví như một khi đốt đèn thì ánh sáng phá tan bóng tối ngàn năm trong ngôi nhà; thấu rõ thể tính của tham sân như không hoa dương diệm chẳng phải thật”. ● 硿 磕. Cạch cạch, âm thanh phát ra do đục đá. Tiết Thạch Đầu Tự Hồi Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “師 手 不 釋 鎚 鑿、而 誦 經 不 輟 口。隨 見 而 語 曰:今 日 硿 磕、明 日 硿 磕、死 生 到 來、作 甚 折 合?師 愕 然、釋 其 器。設 禮、願 聞 究 竟 法、因 隨 至 方 丈。 – Sư tay cầm dùi đục mà miệng vẫn tụng kinh không ngớt. Hòa Thượng Đại Tùy thấy thế liền nói rằng: Hôm nay cạch cạch, ngày mai cạch cạch, khi sinh tử đến làm sao đối phó? Sư sửng sốt, buông dụng cụ, làm lễ, nguyện nghe pháp cứu cánh rồi theo ngài Đại Tuỳ về phương trượng”. ● 空 豁 豁. Trống hoang hoác. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “打 破 黑 漆 桶、十 方 空 豁 豁。 – Đập bể thùng sơn đen, mười phương trống hoang hoác”. ● 空 見 外 道. Kiến giải chấp trước vào không. nhà thiền cho rằng đây là một loại bệnh chấp trước, là tà kiến. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q.2 ghi: “執 有 即 屬 常 見 外 道、執 無 即 屬 斷 見 外 道。執 亦 有 亦 無 即 屬 邊 見 外 道、執 非 有 非 無 即 屬 空 見 外 道。 – Chấp hữu tức thuộc về Thường kiến ngoại đạo, chấp vô tức thuộc về Đoạn kiến ngoại đạo, chấp cũng hữu cũng vô là thuộc về Biên kiến ngoại đạo, chấp phi hữu phi vô là thuộc về Không kiến ngoại đạo”. ● 空 劫 已 前. Còn gọi: Phụ mẫu vi sinh dĩ tiền, Không vương dĩ tiền, Không vương na bạn, Trẩm triệu vị manh dĩ tiền, Bản lai diện mục. Chỉ thời đại không không tịch tịch trước khi thành lập thế giới. Trước khi trời đất chưa sinh, trọn không có sự đối đãi sai biệt như thiện ác, mê ngộ, phàm thánh, hữu vô… , cũng chính là cảnh giới tồn tại tuyệt đối trước khi sinh khởi sum la vạn tượng. Trong Thiền gia, phần nhiều dùng câu “如 何 是 空 劫 已 前 自 己? – Thế nào là tự kỷ của không kiếp về trước?” làm thoại đầu để tham thiền. ● 空 劫 已 前 父 母. Cha mẹ từ kiếp không trở về trước, chỉ cho bản lai diện mục, Phật tự tâm. Tiết Trung Nham Uẩn Không Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “室 中 問 崇 眞 氈 頭:如 何 是 你 空 劫 已 前 父 母?眞 領 悟 曰:和 尚 且 底 聲。 – Trong thất sư hỏi Sùng Chân Chiên Đầu: Thế nào là cha mẹ từ kiếp không trở về trước? Chân lãnh ngộ nói: Hòa Thượng nói nhỏ nhỏ”. ● 空 劫 已 前 事. Việc từ kiếp không trở về trước, chỉ cho việc minh tâm ngộ tính, siêu việt sinh tử là việc bản phận nhà Thiền. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong Duy Tắc Ngữ Lục q.9 ghi: “覿 面 相 呈 一 著 子 即 是 空 劫 已 前 事、空 劫 已 前 事 即 是 沒 量 大 人、沒 量 大 人 即 是 你。 – Một phen tận mặt trình nhau lại là việc minh tâm ngộ tính, việc minh tâm ngộ tính tức là việc của người siêu việt, người siêu việt tức là ngươi vậy”. ● 空 路 (?-1119). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 9. Sư họ Dương, quê ở làng Hải Thanh, miền Bắc Việt Nam. Phong cách sư thoát tục, chỉ tinh chuyên thiền định, trải bao năm tu tập, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình. Sau khi đắc đạo, sư có thể bay trên không hoặc đi trên mặt nước, cọp thấy phải cúi đầu, rồng gặp cũng nép phục. Tác phẩm gồm 2 bài kệ: 1. Ngôn hoài 擇 得 龍 蛇 地 可 居 野 情 終 日 樂 無 餘 有 時 直 上 孤 峰 頂 長 嘯 一 聲 寒 太 虛 “Trạch đắc long xà địa khả cư Dã tình chung nhật lạc vô dư Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”. “Chọn nơi ẩn dật ở suốt đời Cả buổi tình quê những mảng vui Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm Thét dài một tiếng, lạnh bầu trời”. Ngô Tất Tố dịch. ● 2. Ngư nhàn: 萬 里 青 江 萬 里 天 一 村 桑 柘 一 村 煙 漁 翁 睡 著 無 人 喚 過 午 醒 來 雪 滿 船 “Vạn lý thanh giang vạn lý thiên Nhất thôn tang chá nhất thôn yên Ngư ông thùy trước vô nhân hoán Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền”. “Muôn dặm sông dài muôn dặm trời Một làng dâu chá, một làn hơi Ông chài mê ngủ không người gọi phủ đầy thuyền, tỉnh giấc trưa”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 空 里 采 花. Trong hư không vốn không có hoa mà lại muốn tìm hoa, dụ cho việc nhận giả làm thật, luống công vô ích. Chương Thụy Long viện ấu Chương Thiền Sư trong CĐTĐL q.20 ghi: “若 是 學 語 之 輩、不 自 省 己 知 非、直 欲 向 空 裏 采 花、波 中 取 月、還 著 得 心 力 麼? – Nếu là bọn học ngữ, chẳng tự tỉnh ngộ biết lỗi mình, còn muốn tìm hoa trong hư không, mò trăng trong nước, có phải là hao phí tâm lực hay không?”. ● 空 明. Không lặng, sáng sạch. Chương Đáp Hoàng Thái tử vấn tâm yếu của Đại sư Trừng Quán ở chùa Trấn Quốc, núi Ngũ Đài trong CĐTĐL q.30 ghi: “迷 現 量 則 惑 苦 紛 然。悟 眞 性 則 空 明 廓 徹。 – Mê hiện lượng thì hoặc khổ lăng xăng, ngộ chân tính thì không minh rỗng suốt”. ● 空 如 來 藏. Chỉ Phật tính thanh tịnh giống như hư không, không nhiễm trước, không phân biệt. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “從 前 所 有 一 切 解 處、盡 須 併 却、令 空 更 無 分 別、即 是 空 如 來 藏。 – Tất cả những chỗ hiểu của mình từ trước cần phải quét sạch hết, khiến cho rỗng không, không còn phân biệt, tức là Không Như Lai Tạng”. ● 空 拳 誑 小 兒. Nắm tay không mà giả bộ như cầm một vật gì, để dỗ con nít, dụ chỉ giáo thuyết quyền nghi phương tiện đều thuộc về hư huyễn không thật. Huệ Tịch Ngữ Lục ghi: “我 若 說 禪 宗、身 邊 要 一 人 相 伴 亦 無、豈 况 有 五 百 七 百 眾 邪?我 若 東 說 西 說、則 爭 頭 向 前 采 拾。如 將 空 拳 誑 小 兒、都 無 實 處。 – Nếu ta nói Thiền Tông thì lúc cần không có lấy một người bên cạnh, huống là có đến 500, 700 chúng ư? Nếu ta nói đông nói tây, họ tranh nhau chạy tới lượm lặt, như đem nắm tay không mà giả bộ như cầm một vật gì để dỗ con nít, đều không có chỗ thật”. ● 空 拳 黄 葉. Nắm tay rỗng không (giống như có nắm lấy vật gì ở trong) và lá vàng (giống như tiền vàng), đều được dùng để dỗ dành con nít, dụ chỉ lời dạy quyền nghi, pháp môn phương tiện đều là hư huyễn không thật. Tiết Nam Tuyền Hòa Thượng trong TĐT q.16 ghi: “江 西 和 尚 說 即 心 即 佛、且 是 一 時 間 語、是 止 向 外 馳 求 病、空 拳 黃 葉、止 啼 之 詞。 – Hòa Thượng Giang Tây nói tức tâm tức Phật, nhưng là lời nói tạm thời, là lời nói ngăn dứt bệnh tìm cầu bên ngoài, là nắm tay không và lá vàng để dỗ con nít khóc”. ● 空 索 索. Sạch sành sanh. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 一 葉 落、空 索 索 天 下 秋、干 剝 剝 “Nhất diệp lạc, không sách sách Thiên hạ thu, can bác bác”. “Một chiếc lá rơi, sạch sành sanh Khắp nơi thu, vắng vẻ khô khao”. ● 空 生. Tức ngài Tu Bồ Đề, một trong 10 vị đại đệ tử của Phật. Tiết Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: 蝦 蟆 蚯 蚓 一 時 鳴 、妙 德 空 生 都 不 會。 – Giun đất, cóc nhái đồng thời kêu. Diệu Đức, Không Sinh đều chẳng hội”. ● 空 叟. Hiệu của Thiền tăng Hân Ngộ, cuối đời Nguyên đầu đời Minh. X. Hân Ngộ. ● 空 聲. Sự vật được phản ánh qua ngôn từ đều hư huyễn chẳng thật thì ngữ âm của ngôn từ cũng chẳng biểu đạt sự vật một cách chân thật được, nên gọi là “Không thanh”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 言 三 十 二 相 八 十 種 好 是 佛。轉 輪 聖 王 應 是 如 來。明 知 是 幻 化 。古 人 云。如 來 擧 身 相 爲 順 世 間 情 恐 人 生 斷 見。權 且 立 虚 名。假 言 三 十 二。八 十 也 空 聲。有 身 非 覺 體。無 相 乃 眞 形。 – Nếu ngươi nói 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp là Phật, vậy Chuyển Luân Thánh Vương cũng phải là Phật, vì ông ta cũng có 32 tướng tốt, nên biết tất cả chỉ là huyễn hóa. Người xưa có bài kệ rằng: Đức Phật hiện thân tướng Vì thuận tình thế gian E người sinh đoạn kiến Phương tiện lập giả danh Giả nói có băm hai Tám mươi cũng không thanh Có thân phi giác thể Không tướng là hình chân”. ● 空 室. Hiệu của Thiền tăng Vô Uấn, đời Nguyên. X. Vô Uấn. ● 空 寂. Cảnh giới không có bất cứ tướng trạng nào, không có sinh ra và mất đi, không có sai biệt đối lập, vượt thoát thời gian không gian. Đây là nhận thức hoặc thể nghiệm về chân tướng sự vật của người ngộ thiền. Tiết Thị Tính Không Đạt Thiền Sư trong DTNL q.3 ghi: “妙 圓 覺 性、本 自 空 寂、平 等 清 淨、廓 若 太 虛。 – Diệu viên giác tính vốn tự không tịch, bình đẳng thanh tịnh, lớn như thái hư”. ● 空 宗. Chỉ cửa Phật, Thiền Tông. Tiết Thạch Đầu Tự Hồi Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “石 頭 自 回 禪 師 合 州 釣 魚 臺 石 頭 自 回 禪 師、本 郡 人 也。世 爲 石 工、雖 不 識 字、志 慕 空 宗、每 求 人 口 授 法 華、能 誦 之。 – Thiền Sư Tự Hồi ở Thạch Đầu Điếu ngư đài thuộc Hợp Châu, người bản quận, làm thợ đục đá, tuy chẳng biết chữ nhưng chí mộ Không tông, thường nhờ người khác truyền miệng kinh “Pháp Hoa” và sư đọc thuộc kinh này”. ● 空 相. Muôn sự muôn vật đều hư huyễn chẳng thật nên nhà Phật gọi là “Không tướng”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “處 處 游 履 國 土。入 華 藏 世 界。盡 見 諸 法 空 相。皆 無 實 法。 – Dạo qua các quốc độ nơi nơi, vào thế giới Hoa Tạng, thấy hết các pháp Không tướng, đều không có thật pháp”. ● 空 王. Chỉ cho đức Phật. Chương Đồng An Sát Thiền Sư trong CĐTĐL q.29 ghi: “勿 於 中 路 事 空 王。策 杖 還 須 達 本 鄉。 – Chớ nên thờ Không vương ở giữa đường, chống gậy cần về đến quê hương”. ● 空 王 佛. Tên Đức Phật đời quá khứ. Tiết Tuyết Phong Huệ Không Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “敢 問 諸 人 做 底 是 甚 麼 佛?空 王 佛 耶?然 燈 佛 耶?釋 迦 佛 耶?彌 勒 佛 耶? – Dám hỏi các vị định làm Phật nào? Không Vương Phật chăng? Nhiên Đăng Phật chăng? Thích Ca Phật chăng? Di Lặc Phật chăng?”. ● 起 動. Làm phiền, làm giật mình. Tiết Đâu Suất Huệ Chiếu Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “五 日 一 度 陞 堂、起 動 許 多 龍 象。 – Năm ngày thăng đường một lần làm giật mình rất nhiều thiền tăng kiệt xuất.” ● 起 單. Còn gọi: Trừu Đơn, Tạm Hạ. Đứng dậy rời khỏi chỗ tọa thiền của mình, nghĩa rộng là Thiền tăng lìa chùa mà đi. Thiền tăng sau khi giải hạ, luôn luôn khởi đơn để đến Tăng đường nơi khác. Ngoài ra, cũng có khi do tính hạnh bất thường của mình hoặc vị thầy không đủ tài đức nên khởi đơn mà đi. Đời sau có người cho khởi đơn là Thỉnh giá (xin phép nghỉ), đó là giải thích sai. Trong Thiền lâm, nếu có việc tạm xin phép ra ngoài, trong thời hạn 15 ngày rồi trở về thì gọi là Thỉnh giá, nếu đi quá 15 ngày thì gọi là Khởi đơn, cần phải cử hành lại nghi thức Quải tháp mới có thể quy sơn. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 驅 耕 夫 之 牛 奪 飢 人 之 食. Cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho Thiền Sư triệt để quét sạch mọi vọng tình tri giải, không còn mảy may chấp trước, không còn có chỗ để nương tựa. BNL q.1 ghi: “到 這 裏 見 得 透、方 知 古 人 有 驅 耕 夫 之 牛。奪 飢 人 之 食 底 手 段。 – Nếu thấu được chỗ này mới biết người xưa có thủ đoạn cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói”. ● 區 區. 1. Vất vả chạy ngược chạy xuôi. Tiết Hoài Hải, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q.1 ghi: “雲 巖 問:和 尚 每 日 區 區 爲 阿 誰? 師 曰:有 一 人 要。巖 曰:因 甚 麼 不 教 伊 自 作?師 曰:他 無 家 活 – Vân Nham hỏi: Mỗi ngày Hòa Thượng vất vả ngược xuôi là vì ai? Sư nói: Có một người cần. Nham hỏi: Sao không dạy y tự làm? Sư đáp: Hắn không có gia nghiệp”. ● 2. Bận rộn. Tiết Vân Nham Hoà thượng trong TĐT q.5 ghi: “師 掃 地 次、叫 寺 主 問:師 何 得 自 區 區? – Sư đang quét đất, kêu vị chủ chùa, hỏi: Thầy đâu được tự bận rộn”. ● 區 區 役 役. Vất vả chạy ngược chạy xuôi. Hành cước ca trong Phần Dương Ngữ Lục q. hạ ghi: “道 難 行、塵 易 漫、頭 頭 物 物 須 明 見。區 區 役 役 走 東 西、今 古 看 來 忙 無 限。 – Đạo khó thực hành, việc thế gian dễ buông lung, mọi sự mọi việc cần thấy rõ, vất vả chạy ngược chạy xuôi, xưa nay xem ra đều bận rộn vô hạn”. ● 摳 衣. Vốn có nghĩa là sửa soạn quần áo để lên đường, biểu thị niềm cung kính ái mộ, không dám sơ suất. Nghĩa mở rộng là thờ thầy, hầu hạ thầy. Chương Long Nha Sơn Cư Độn Thiền Sư trong CĐTĐL q.17 ghi: “遂 止 于 洞 山 隨 眾 參 請。一 日 問。如 何 是 祖 師 意。洞 山 曰。待 洞 水 逆 流。即 向 汝 道。師 從 此 始 悟 厥 旨。復 摳 衣 八 稔。 – Sư dừng bước ở Động Sơn, theo chúng thưa hỏi. Một hôm Sư hỏi: Thế nào là ý Tổ sư? Động Sơn đáp: Đợi nước trong động chảy ngược dòng rồi sẽ nói cho ngươi nghe. Sư từ đó mới ngộ được ý chỉ ấy, và ở lại hầu hạ Thầy 8 năm”. ● 屈. Mời thỉnh. Tiết Túc Giác Hòa Thượng trong TĐT q.3 ghi: “有 一 日、廓 下 見 一 禪 師、號 曰 神 策、年 近 六 十 有 余。弟 姊 兩 人 隔 簾 見 其 老 宿 姊 却 向 弟 曰:屈 老 宿 歸 房 裏 吃 茶、還 得 也 無?弟 便 出 來 屈 其 老 宿。 – Một hôm, dưới mái hiên có một vị Thiền Sư tên là Thần Sách, tuổi hơn 60. Hai chị em cách song cửa thấy lão túc ấy, cô chị quay lại bảo em rằng: Mời lão túc vào phòng uống trà, có được không? Đứa em liền bước ra mời lão túc ấy”. ● 淈 腯???. Lờ mờ, không rõ ràng. Bài thơ “Phong phan” trong GTPĐL q.28 ghi: 不 是 風 旛 動、亦 非 人 者 心 自 從 胡 亂 後、淈 腯 到 如 今 “Bất thị phong phan động Diệc phi nhân giả tâm Tự tòng Hồ loạn hậu Khuất tuần đáo như kim”. “Chẳng phải gió phướn động Chẳng phải tâm các ngài Từ buổi sau loạn Hồ Lờ mờ đến hôm nay”. ● 曲 彔 木 牀. Giường mây khúc lục. 1. Kiểu ghế dựa dài của nhà chùa, vì ghế chạm khắc có dáng hình cong queo nên gọi là Khúc lục. ● 2. Loại giường tre mây, chỗ tựa được uốn cong. Tiết Hộ Quốc Thủ Trừng Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “諸 方 老 宿、盡 在 曲 彔 木 床 上 爲 人、及 有 人 問 著 祖 師 西 來 意、未 曾 有 一 人 當 頭 道 著。 – Sư thượng đường nói: Bậc Trưởng lão ở các nơi đều vì mọi người mà ngồi trên ghế dựa. Chỉ thấy mọi người hỏi ý Tổ sư từ ấn Độ sang, mà chưa từng thấy vị nào dám đối diện đáp câu hỏi ấy”. ● 曲 木 舉 位. Còn gọi: Khúc mộc thiền sàng. Nguyên chỉ cho việc ngồi yên trên chiếc ghế các vị tăng thường dùng, sau chỉ cho nghĩa ngồi chức Trụ trì để chỉ đạo, giáo hóa đại chúng. Tổ Đình Sự Uyển q.3, Tuyết Đậu Tổ Anh Tập q. thượng (Vạn Tục 113, 33 hạ) ghi: “韶 陽 雲 門 大 師 云:諸 方 老 禿 奴、曲 木 禪 床 上 坐、求 名 求 利、問 佛 答 佛、問 祖 答 祖、痾 屎 送 尿 也、三 家 村 裏 老 婆 傳 口 令 相 似 、識 甚 麼 好 惡? – Đại sư Vân Môn ở Thiều Dương nói: Các lão trọc ở các nơi làm Trụ trì giáo hóa mọi người, cầu danh cầu lợi, hỏi Phật đáp Phật, hỏi Tổ đáp Tổ, đi ỉa đi đái, giống nhưbà già dốt lại nhiều chuyện, biết cái gì tốt xấu?”. ● 曲 順 來 機. Còn gọi: Khúc thuận nhân tình. Ý nói tạm thời tùy thuận người đến hỏi pháp (mà giảng nói thiền pháp cho họ nghe). Thuận theo nhân tình. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “府 主 王 常 侍。與 諸 官 請 師 升 座。師 上 堂 云。山 僧 今 日 事 不 獲 已。曲 順 人 情 方 登 此 座。若 約 祖 宗 門 下。稱 揚 大 事。直 是 開 口 不 得。無 爾 措 足 處。 – Tri phủ Vương Thường Thị cùng các quan trong phủ thỉnh sư thăng tòa. Sư thượng đường bảo: Hôm nay, do sự bất đắc dĩ, Sơn tăng thuận theo nhân tình mới lên tòa này. Nếu theo chiếu theo đệ tử Thiền Tông hoằng dương đại sự thực là mở miệng chẳng được, chẳng có chỗ để đặt chân”. ● 曲 爲 中 下. Ý nói (giảng thuyết đạo pháp) chỉ là phương tiện tiếp dẫn hạng căn khí trung hạ. Thung Dung Am Lục q.1 ghi: “閉 門 打 睡、接 上 上 機。頋 鑒 頻 申、曲 爲 中 下。 – Đóng cửa ngủ say là tiếp cơ thượng thượng; sử dụng ngữ cú để chỉ bày (như cố giám) là phương tiện tiếp dẫn hạng căn khí trung hạ”. ● 圭 峰 溫 (818-928). Thiền tăng đời Đường, họ Hàn, tên Ôn, người Đại Danh, Hà Bắc, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Tông Mật, thuộc tông Hà Trạch đời thứ 6, trụ trì chùa Huệ Nhân ở Khuê Phong. ● 匡 逸. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Ban đầu sư ở viện Từ Vân ở Nhuận Châu (nay thuộc huyện Trấn Giang, tỉnh Giang Tô). Nam Đường Chủ thỉnh sư trụ chùa Báo Ân ở Kim Lăng và ban hiệu là Ngưng Mật Thiền Sư. Có vị tăng hỏi: Nối pháp Tổ Đạt Ma, làm sao tuyên bày? Sư đáp: Chẳng trái với lời mời. ● 匡 徒 領 眾. Dẫn đầu, giáo hóa đồ chúng. Huệ Tịch Ngữ Lục: “黃 檗 示 眾 云:汝 等 諸 人 盡 是 噇 酒 糟 漢、與 麼 行 腳、何 處 有 今 日?還 知 大 唐 國 裏 無 禪 師 麼?時 有 僧 云:只 如 諸 方 匡 徒 領 眾、又 作 麼 生? – Hoàng Bá dạy chúng rằng: Các ngươi đều là bọn ăn hèm, hành cước thế ấy, chỗ nào có ngày nay? Có biết trong nước Đại Đường không có Thiền Sư chăng? Khi đó có vị tăng thưa: Các nơi ngoài việc dẫn đầu giáo hóa đồ chúng, còn làm gì?”. ● 匡 化. Giáo hóa. Tiết Lâm Tế Hòa Thượng trong NĐHN q. 19 ghi: “Tự hậu sư vu trấn phủ khuông hóa, tuy thừa Hoàng Bá, thường tán Đại Ngu. – Từ đây về sau sư giáo hóa nơi trấn phủ, mặc dù kế thừa Hoàng Bá song thường khen ngợi Đại Ngu.” ● 匡 仁. Còn gọi: Quang Nhân. Thiền tăng đời Ngũ Đại, ban đầu tham học nơi Hương Nghiêm Trí Nhàn, sau yết kiến Thiền Sư Lương Giới và nối pháp Ngài, thuộc tông Tào Động. Sư trụ chùa Kiến Sơ ở Sơ Sơn Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây), cử dương tông phong Tào Động. Do vì thân thể sư thấp bé nên bị gọi là Sư thúc lùn, Xà Lê lùn, nhưng nhờ biện tài vô ngại thường khiến người khác không có cơ hội mở miệng nên sư còn có tên “Sơ Sơn nghiết thốc” (Sơ Sơn giỏi tranh luận). ● 匡 越 (833-1011). Thiền tăng đời cuối Đinh, đầu Lê, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 4, nối pháp Thiền Sư Vân Phong. Sư họ Ngô tên Chân Lưu, quê ở làng Cát Lợi, quận Thường Lạc, miền Bắc Việt Nam. ● 圈 繢. Chỉ cho vòng vây, cách thức định sẵn, mưu thuật và tính toán, cái bẫy. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho bậc Thầy dùng lời nói, động tác để trắc nghiệm, dẫn dắt người học Thiền. Tắc 5, Bích Nham Lục (Đại 48, 145 trung) ghi: “得 失 是 非 一 時 放 下。洒 洒 落 落。自 然 透 得 他 圈 繢。方 見 他 用 處。 – Được thua phải trái đồng thời buông xả triệt để, tự nhiên thoát khỏi bẫy, mới thấy được thủ đoạn của sư”. ● 圈 攣. Khuyên: Cái chuồng để nuôi cầm thú. Luyến: Dây trói, hoặc nhợ câu. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho bậc Thầy tiếp dẫn thiền sinh căn cơ bén nhạy, nên ông phải dùng phương pháp đặc biệt khéo léo để câu dắt và bắt giữ y ta, giống như người ta thả câu nhử mồi ngon để bắt cá lớn hoặc dùng chuồng chắc chắn để nhốt mãnh thú. Cơ pháp mà bậc Thầy thường dùng là dùng tay, phất tử, gậy để vẽ. Tắc 33, Thung Dung Lục (Đại 48, 172 hạ) ghi: “釣 鼇 時 下 一 圈 攣。 – Khi câu con ba ba phải dùng một cái tròng”. Tắc 25, Thung Dung Lục (Đại 48, 243 hạ) ghi: “扇 子 破、索 犀 牛、圈 攣 中 自 有 來 由。 – Cây quạt rách, nếu muốn tìm con tê giác thì trong chuồng vốn có vật mà ông tìm”. ● 缺 齒 老 胡. Lão già Hồ sún răng, chỉ cho Bồ Đề Đạt Ma, Sơ tổ Thiền Tông Trung Quốc. Hàm ngữ khí mắng Phật mạ Tổ. Vô Môn Quan ghi: “缺 齒 老 胡、十 萬 里 航 海、特 特 而 來。可 謂 是 無 風 起 浪。 – Lão già Hồ sún răng mười vạn dặm dong thuyền vượt biển mà đến, thiệt quả là không gió mà nổi sóng”. ● 去 (k. ng). 1. Trợ từ cuối câu, biểu thị hành vi động tác sẽ xảy ra. Tiết Hương Nghiêm Trí Nhàn Thiền Sư trong NĐHN q.9 ghi: “我 若 說 似 汝、汝 已 後 罵 我 去。 – Nếu tôi nói cho ông nghe, sau này ông sẽ mắng tôi”. ● 2. Trợ từ đặt ở cuối phân câu trước của câu phức, thông thường là câu phức giả thiết. Tiết Động Sơn Biện Thiền Sư trong NĐHN q.9 ghi: “直 饒 會 得 十 分 去、笑 倒 西 來 碧 眼 胡。– Giả sử có ngộ được hoàn toàn thì vẫn bị Tổ Đạt Ma cười cho đó”. ● 3. Trợ từ đặt ở cuối câu chủ của câu phức, thông thường là câu phức giả thiết, biểu thị hành vi động tác đã xảy ra. NĐHN q.30 ghi: “若 透 不 得、即 被 祖 佛 謾 去。 – Nếu thấu chẳng được thì ông bị Tổ Phật lừa rồi”. ● 4. Trợ từ đặt ở giữa câu hoặc cuối câu, biểu thị ý dặn dò. NĐHN q.10 ghi: “應 須 徹 底 會 去 始 得。 – Cần phải ngộ triệt để mới được”. NĐHN q.3 ghi: “已 後 莫 錯 打 人 去。 – Về sau chớ có đánh lầm người, nghen!”. ● 去 也 (k. ng). Trợ từ đặt ở cuối câu và dùng cặp với (Bất khả) ở đầu câu, biểu thị ý khuyên răn: Không nên. NĐHN q.17 ghi: “不 可 更 開 眼 說 夢 去 也。 – Không nên mở mắt mà nói mớ”. ● 去 來 他 國 塵 境. Nghĩa là lìa bỏ cố hương của mình mà lưu lạc tha phương. Thiền Tông dùng cụm từ này để dụ cho việc bỏ lìa tự tâm mà hướng ngoại cầu Phật. ● 去 在 (k. ng). Trợ từ cuối câu, biểu thị hành động tất sẽ phát sinh, mang tính báo trước sự việc sắp xảy ra. NĐHN q.11 ghi: “這 漢 向 後 亂 作 去 在。 – Gã này về sau ắt sẽ làm loạn”. Thông thường “khứ tại” được đặt ở cuối câu và dùng cặp với trợ từ biểu thị thời gian như: dĩ hậu (về sau), tha thời hậu nhật (mai kia mốt nọ), tam thập niên hậu (30 năm sau), hướng hậu (về sau)… ● 去 就. 1. Hành vi cử chỉ, ý tưởng tình niệm, hàm nghĩa chê bai. Vân Môn Quảng Lục q. thượng ghi: “更 有 一 般 底。如 等 閑 相 似 聚 頭。舉 得 箇 古 人 話。識 性 記 持 妄 想 卜 度 道。我 會 佛 法 了 也。祇 管 說 葛 藤 取 性 過 日。更 嫌 不 稱 意。千 鄉 萬 里 拋 卻 父 母 師 資。作 這 去 就。這 箇 打 野 榸 漢。有 什 麼 死 急 行 腳 去。 – Có một bọn giống như kẻ rảnh rang, dụm đầu lặp lại lời người xưa, dùng ý thức ghi nhớ, vọng tưởng đoán mò, nói ta đã hội Phật pháp rồi; cứ nói dây dưa, tùy thích qua ngày. Có kẻ cho rằng chưa phải, nên đi ngàn muôn dặm bỏ cả cha mẹ sư trưởng để thực hiện ý tưởng này. Cái gã du phương này, sao mà nôn nóng hành cước đến thế!”. ● 2. Quy củ, lễ độ. Văn Ích Ngữ Lục ghi: “有 一 行 者 隨 法 師 入 佛 殿。行 者 向 佛 而 唾、法 師 云:行 者 少 去 就、何 以 唾 佛?行 者 云:將 無 佛 處 來 與 某 甲 唾。法 師 無 對。 – Có một hành giả theo Pháp sư vào điện Phật. Hành giả nhổ nước bọt vào tượng Phật. Pháp sư quở: Hành giả thiếu lễ độ, sao nhổ nhằm Phật. Hành giả đáp: Chỗ nào không có Phật hãy đem lại đây cho tôi nhổ. Pháp sư không đáp được”. ● 去 黏 解 縛. Gở niêm mở trói. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho việc dẹp trừ phiền não chấp trước nhằm đạt đến cảnh giới tự tại vô ngại. Bài tựa Tam Giáo Lão Nhân trong BNL (Đại 48, 139 hạ) ghi: “若 見 水 即 海、認 指 作 月、不 特 大 慧 憂 之、而 圓 悟 又 將 爲 之 去 粘 解 縛 矣! – Nếu thấy nước bảo là biển, cho ngón tay là mặt trăng, thì chẳng riêng Đại Huệ âu lo, mà Viên Ngộ lại muốn gở niêm mở trói cho họ!” ● 卻 活. Sống lại. Tiết Đầu Tử Đại Đồng Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “州 問:大 死 底 人、卻 活 時 如 何?師 曰:不 許 夜 行、投 明 須 到。 – Châu (chỉ Hòa Thượng Triệu Châu) hỏi: Người đã chết đi, lúc sống lại thì sao? Sư đáp: Chẳng cho đi đêm, sáng mai phải đến”. ● 却 歸. Còn gọi: Khước hồi, khước hành, khước lai. Trở về. Tiết Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q.14 ghi: “有 西 川 黃 三 郎、教 兩 箇 兒 子、投 馬 祖 出 家。有 一 年、却 歸 屋 裏、大 人 纔 見 兩 僧、生 佛 一 般 禮 拜。 – Có Hoàng Tam Lang ở Tây Xuyên bảo hai đứa con trai theo Mã Tổ xuất gia. Đến một năm kia, hai ông tăng trở về thăm nhà. Người lớn vừa nhìn thấy hai ông tăng giống in Phật sống liền lễ bái.” ● 却 問. Hỏi lại. Tiết Đạo Nhất, đời thứ 2 dưới Đại Giám trong CTTNL q.1 ghi: “有 講 僧 來 問 曰:未 審 禪 僧 傳 持 何 法?師 卻 問 曰:座 主 傳 持 何 法? – Có vị giảng sư đến hỏi rằng: Chẳng hay Thiền Sư truyền trì pháp gì? Sư hỏi lại rằng: Giảng sư truyền trì pháp gì?”. ● 康 僧 會 (thế kỷ III). Thiền tăng người Giao Châu gốc Khương Cư (Sogdiane). Sư mồ côi cha mẹ từ lúc mười tuổi. Sau thời kỳ cư tang, sư xuất gia chăm học kinh điển, trở thành một tăng sĩ nổi danh thời ấy. Sư tính tình chân thật, hòa nhã và rất thông minh nên thông hiểu tam tạng, lục kinh, toán số, thiên văn, văn chương và chính trị. Sư sang Đông Ngô tuyên dương Phật pháp trong thời Ngô Tôn Quyền (229-252 TL). Ngô Tôn Quyền thấy sư thi thố nhiều phép lạ lấy làm tín phục, xây dựng chùa Kiến Sơ thỉnh sư ở. Từ đấy Phật giáo thạnh hành miền Giang Tả. Sư phiên dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán như: Lục Độ Kinh Tập… , viết bài tựa trong kinh An Ban Thủ Ý và biên tập chú sớ các kinh khác. Sư tịch vào khoảng niên hiệu Thiên Kỷ thứ 4 (280) nhà Ngô. ● 激 揚. Kích phát thiền cơ, xiển dương tông chỉ. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q.27 ghi: “年 十 七、於 東 禪 去 發、首 依 水 南 遂 禪 師、染 指 法 味。因 遍 曆 江 湖、與 諸 老 激 揚、無 不 契 者。 – Năm 17 tuổi, sư xuất gia ở Đông Thiền, ban đầu nương Thiền Sư Thủy Nam Toại, nếm được chút ít pháp vị. Sư dạo khắp các nơi, cùng chư lão túc kích dương, không ai chẳng khế hợp”. ● 激 揚 詶 唱. Kích dương: Kích phát thiền cơ và xiển dương tông chỉ. Thù xướng: Dùng cơ ngữ đối đáp qua lại. Tiết Biện nịnh của Hòa Thượng Quy Vân Bản trong TLBH q.2 ghi: “如 楊 大 年 侍 郎 李 和 文 都 尉。見 廣 慧 璉 石 門 聰 并 慈 明 諸 大 老 激 揚 酬 唱。班 班 見 諸 禪 書。 – Như Thị lang Dương Đại Niên, Đô úy Lý Hòa Văn được thấy các vị Thiền Sư như: Quảng Huệ Liễn, Thạch Môn Thông và Từ Minh. Việc khích lệ thiền cơ, xiển dương tông chỉ và dùng cơ ngữ đối đáp qua lại. Các việc này còn thấy chép trong các sách thiền”. ● 擊 訓. Khải phát, giáo dục. “Hoằng Nhẫn truyện” trong TCTT q. 8 ghi: “(Đạo Tín Thiền Sư) cụ cáo sở thân, dụ chi xuất gia. Phụ mẫu hân nhiên, nãi viết: Thiền Sư Phật pháp đại long, quang bị viễn nhĩ, truy môn tuấn tú, quy giả như vân. Khởi y (chỉ thiếu niên Hoằng Nhẫn) tiểu ngốc, na kham kích huấn? Nhược thùy hư thọ, cố vô lưu lận. – Thiền Sư Đạo Tín bày tỏ với cha mẹ sư (chỉ Hoằng Nhẫn lúc thiếu niên) xin cho xuất gia. Cha mẹ sư vui mừng nói: Thiền Sư Phật pháp cao thâm, tiếng tăm khắp gần xa, là bậc tuấn tú trong cửa thiền, người quy y nhiều vô số. Con tôi còn nhỏ dại ngu si chắc khó giáo dục? Nếu ngài xót thương thu nhận thì cố nhiên chúng tôi không tiếc rẻ giữ lại.” ● 激 昂. Kích phát thiền cơ, xiển dương tông chỉ. Tiết Pháp Luân ứng Đoan Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “至 雲 居、會 靈 源 分 座、爲 眾 激 昂。 – Sư đến Vân Cư, gặp lúc Linh Nguyên phân tòa, vì chúng kích phát thiền cơ, xiển dương tông chỉ”. ● 擊 石 火. Lửa nháng. Lửa này do đập 2 viên đá vào nhau chỉ lóe lên rồi mất rất nhanh. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho trong khoảng thời gian rất ngắn (sát na) diệt được tư lự phân biệt, tức chỉ cho người căn cơ rất lanh lợi. Tắc 5, Bích Nham Lục (Đại 48, 145 trung) ghi: “牛 頭 沒(閃 電 相 似、蹉 過 了 也)。馬 頭 回(如 擊 石 火)。曹 溪 鏡 裏 絕 塵 埃 。 – Đầu trâu mất (Dường như điện chớp, trượt qua mất rồi). Đầu ngựa về (Như lửa nháng), gương Tào Khê trong suốt chẳng nhơ”. ● 擊 節 錄. Còn gọi: Phật Quả Kích Tiết Lục, Viên Ngộ Kích Tiết Lục. Lục, 2 quyển, do Tuyết Đậu Trọng Hiển niêm cổ vào đời Tống, Viên Ngộ Khắc Cần kích tiết, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 117, trang 449. Nội dung chính là Viên Ngộ bình xướng về 100 cổ tắc đã được Tuyết Đậu Trọng Hiển niêm đề trước đó, hình thức của nó giống như Bích Nham Lục. Chỗ gọi rằng Kích Tiết, tức nói đối lại với Niêm Cổ, nghĩa là trong lúc kích tiết (gõ nhịp) thì khiến cho người ta bất giác múa tay huơ chân. ● 今 音 (1614-1661). Thiền tăng đời Minh, họ Tằng, tự Phạm Âm, em họ của Hàm Thị, người xứ Nam Hùng, Quảng Đông. Do Hàm Thị truyền trao tâm pháp, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Hải Vân ở Phiên Ngu. ● 金 不 博 金. Không cần đem vàng để đổi vàng, dụ chỉ chẳng làm việc vô nghĩa, uổng công. Hoằng Trí Quảng Lục q.4 ghi: “上 堂:水 不 洗 水、金 不 博 金、眼 不 見 眼、心 不 用 心。能 恁 麼 去、不 墮 根 境 識、那 涉 去 來 今?迷 裏 忽 然 逢 達 磨、何 曾 特 地 作 叢 林。 – Sư thượng đường: Nước chẳng rửa nước, vàng chẳng đổi vàng, mắt chẳng thể thấy mắt, tâm chẳng thể dụng tâm. Người có khả năng như thế, chẳng rơi vào căn, cảnh, thức; đâu dính đến quá khứ, hiện tại, vị lai. Trong mê chợt gặp Tổ Đạt Ma, đâu từng chỉ cất ngôi chùa”. ● 今 璧 (1612-1671). Thiền tăng đời Minh, họ Ôn, tự Nhẫn Kim, người xứ Bảo An, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hàm Thị chùa Hải Tràng, Quảng Châu, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Hải Vân. ● 今 辯 (?-1697). Thiền tăng đời Thanh, họ Mạch, tự Lạc Thuyết, người xứ Phiên Ngung (nay là Quảng Châu), Trung Quốc. Từng học khoa cử theo Lương Chi Bội, rất nổi tiếng về văn chương. Sau khi Bội vào đạo, thường đem thiền lý sách Phật để dẫn dắt khiến sư có tỉnh. Nhân theo tăng hành cước đến Lô Sơn, tham vấn Thiền Sư Thiên Nhiên Thị. Năm 1660 thụ giới Cụ túc ở Lôi Phong. Sư huynh của sư là Kim Thích mở thiền viện Đan Hà đón Thiền Sư Thị về khai sáng pháp tịch, Kim Biện đi theo giúp sức và nối pháp Ngài, thuộc tông Tào Động. Tác phẩm: Tứ Hội Ngữ Lục, Phạm Võng Kinh Chú Sớ. ● 金 剛. 1. Vốn có nghĩa là 1 loại đá quý, thường dùng để hình dung một vật cứng rắn đặc biệt. Thư Đáp Trịnh Côn Nham Trung Thừa trong HSLNMDT q.1 ghi: “執 金 剛 寶 杵、摧 碎 一 切 物。 – Cầm chày báu Kim cang, đập tan tất cả vật”. ● 2. Hộ pháp thiện thần trong thần thoại Phật giáo. Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “那 吒 頂 上 吃 蒺 藜、金 剛 脚 下 流 出 血。 – Trên đảnh Na Tra nuốt chùy sắt, dưới chân Hộ pháp máu chảy ra”. ● 金 剛 定. Còn gọi: Kim cang Tam Muội. Thiền định thuộc giai đoạn cuối cùng trong lộ trình tu tập của Bồ tát, đoạn trừ phiền não cực kỳ vi tế. Sau định này là tiến vào quả vị Phật. Đàm Thối truyện trong TCTT q.8 ghi: “迺 晦 迹 鐘 山、斷 其 漏 習、養 金 剛 定、趣 大 能 位。 – Sư ở ẩn trong Chung Nam Sơn, đoạn trừ các lậu tập, nuôi dưỡng Kim Cang Định, tiến vào quả vị Phật”. ● 金 剛 慧. Trí huệ giải trừ chấp trước, liễu ngộ thật tướng. Bài Đốn ngộ Vô sinh Bát Nhã tụng trong Thần Hội Di Tập q.4 ghi: “妙 中 之 妙、即 妙 法 身; 天 中 之 天、乃 金 剛 慧。 – Diệu trong diệu tức diệu pháp thân, trời trong trời là Kim cang huệ”. ● 金 剛 劍. Gọi đủ: Kim Cang Vương Bảo Kiếm. Kiếm báu rất bén, dụ chỉ khi tham thiền được triệt ngộ thì vận dụng thiền cơ một cách tự tại, không chướng ngại. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “上 堂 示 眾:鐵 餕 豏、金 剛 劍、吞 了 斬 了、以 活 爲 驗。作 家 恁 麼 共 提 持、超 過 佛 祖 增 光 焰。 – Sư thượng đường, dạy chúng: Bánh nhân sắt, kiếm Kim Cang. Nuốt xong, chém xong, đem mạng sống để nghiệm. Bậc tác gia cùng đưa ra như thế, vượt qua Phật Tổ càng rực rỡ”. ● 金 剛 經. Gọi đủ: Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh. Kinh, 1 quyển, do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 8, trang 748. Toàn kinh có trên 5.200 chữ, trước sau có 6 bản dịch từ Phạn sang Hán và bản của Cưu Ma La Thập là thông dụng hơn cả. Nội dung tuyên thuyết tất cả sự vật trong thế giới đều hư huyễn chẳng thật. Cái gọi là thực tướng tức là chẳng phải tướng, cho rằng nên lìa tất cả tướng và “vô sở trụ” (không dính mắc vào đâu cả) tức đối với thế giới hiện thực chẳng nên chấp trước hoặc lưu luyến. Tổ Huệ Năng Đại biểu của Thiền đốn ngộ phương Nam Tôn thờ Kinh Kim Cang làm tông, nên tư tưởng chủ yếu của Huệ Năng được biểu hiện trong Đàn Kinh chính là pháp Ma Ha Bát Nhã. Vô Tướng Giới được Tổ nói, có xuất xứ từ “Vô ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng” trong Kinh Kim Cang. Thiền pháp của Huệ Năng lấy định huệ làm gốc, chính là từ câu “Vô sở trụ sinh kỳ tâm” của Kinh Kim Cang mà Ngài ngộ được rồi phát huy thành ý chỉ của Định huệ đẳng học. Có thể nói rằng “Kim Cang Kinh” trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng Thiền Tông ● 金 剛 眼 睛. Con mắt trí huệ của người đã ngộ. Pháp nhãn. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “上 堂: 雨 打 虛 空 於 剝 剝、日 明 大 地 黑 漫 漫。 箇 中 開 得 金 剛 眼、生 死 何 嘗 有 異 端。” “Sư thượng đường: Trời mưa hư không khô không khốc Ban ngày mặt đất tối như bưng Trong đây mở được con mắt huệ Sinh tử đâu từng có mối manh (nào khác)?”. ● 金 剛 圈. Còn gọi: Kim quyển. Vòng kim cang. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cơ ngữ nhà thiền. Tiết Dục Vương Đức Quang Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “上 堂:聞 聲 悟 道、落 二 落 三。見 色 明 心、錯 七 錯 八。生 機 一 路、猶 在 半 途。且 道 透 金 剛 圈、吞 栗 棘 蓬 底 是 甚 麼 人? – Sư thượng đường nói: Nghe tiếng ngộ đạo, chẳng phải thiền pháp, thấy sắc minh tâm, thật là lầm lẫn, một con đường sống, còn ở giữa đường. Hãy nói kẻ thấu suốt cơ ngữ nhà thiền, công án của người xưa là người nào?” X. Lật Cức Bồng. ● 今 沼 (1620-1696). Thiền tăng đời Minh, họ Tằng, tên Vĩ, tự Tử Chiêu, người xứ Nam hùng, Quảng Đông, Trung Quốc. Được người bác là ngài Hàm Thị truyền pháp, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Hải Vân. ● 今 帾 (1620-1690). Thiền tăng đời Minh, họ Phan, tự Ký Nhữ, người xứ Tân Hội, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hàm Thị, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên, sư thiết đàn hoằng pháp tại núi Tây Triều. ● 今 覞 (1615-1678). Thiền tăng đời Minh, họ Dương, tự Thạch Giám, người xứ Tân Hội, Quảng Đông. Nối pháp Thiền Sư Hàm Thị, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Thê Hiền. Tác phẩm: Tích Phong thi cảo. ● 金 地. Cõi Phật, chùa Phật. Tiết Tây Thiền Thủ Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “爭 奈 定 光 金 地 遙 招 手、智 者 江 陵 暗 點 頭。 – Tiếc rằng, vẫy tay từ giã cõi Phật Định Quang, ngài Trí Giả ở Giang Lăng thầm gật đầu”. ● 金 華 天 寧 寺. Bờ bắc sông Vụ Giang, thành phố Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Tên cũ là “Đại Tạng Viện”, sáng lập vào khoảng niên hiệu Đại Trung Tường Phù (1008-1016) đời Tống, khoảng niên hiệu Chính Hòa (1111-1117) ban cho tên “Thiên Nin Vạn Thọ Thiền Tự”. Niên hiệu Diên Hựu thứ 5 (1318) đời Nguyên xây cất lại. Khoảng niên hiệu Chính Thống (1436-1449) đời Minh từng tu sửa. Năm 1979 lại tu sửa toàn diện. Hiện còn một tòa đại điện mái đơn đỉnh yết sơn, rộng lớn ba gian, kết cấu súc tích, tỉ lệ cân xứng. Trong chùa có một cái chuông đồng lớn đúc vào niên hiệu Kiến Viêm thứ 2 (1128) đời Tống. ● 金 經 秘 藏. Chỉ cho kinh điển quý báu của Phật giáo. Đàm Thối truyện trong TCTT q. 8 ghi: “勉 節 出 塵、栖 心 物 表、金 經 秘 藏、一 日 萬 言、不 逾 歲 叙、而 大 經 淹 通。 – Sư tiết tháo xuất trần, làm mẫu mực cho mọi người, đọc tụng kinh điển quý báu của Phật giáo mỗi ngày cả vạn lời, không kể năm tháng nên thông suốt kinh điển”. ● 金 襴. Gọi đủ: Ca Sa Kim Lan. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “阿 難 問 迦 葉:世 尊 傳 金 襴 外、別 傳 何 物? – A Nan hỏi ngài Ca Diếp: Đức Thế Tôn ngoài việc truyền ca sa kim lan, còn truyền vật gì khác không?”. ● 金 陵 梵 剎 志. Chí, 53 quyển, do Cát Dần Lượng soạn vào đời Minh, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Sách này ghi lại 172 ngôi chùa lớn, trung, nhỏ và 15 ngôi chùa bị hư hoại, phỏng theo Lạc Dương Già Lam Ký nhưng thể lệ có chỗ chẳng đồng, chẳng những kể về tự viện mà còn kể cả đền miếu. Quyển đầu có: Ngự Chế Tập, Khâm Lục Tập, từ quyển 3 bắt đầu kể về các chùa. Quyển thứ 49 là Nam Tạng Mục Lục. Từ quyển 50, bắt đầu ghi chép mọi phí tổn về việc công, tài sản của chùa. Phần sau phụ lục về thơ văn. Sách này được sưu tập đầy đủ, thể lệ nghiêm cẩn, là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về tự viện Phật giáo ở Nam Kinh thời cổ đại. Có bản ấn hành của Tăng Lục Ty ở Nam Kinh vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 35 (1607) đời Minh. Vào niên hiệu Thiên Khải thứ 7 (1627), còn in thêm lời tựa. ● 金 蓮 寂 傳 (1745-1816). Thiền tăng đời Nguyễn Tây Sơn, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 41. Sư quê ở thôn Trình Viên huyện Thượng Phúc, Việt Nam. Đến năm Bính Tý niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), sư gọi đệ tử lớn là Tường Quang đến phó chúc kệ rằng: 心 爲 天 地 先、身 爲 天 地 後 身 心 天 地 內、循 環 無 窮 已 “Tâm vi thiên địa tiên Thân vi thiên địa hậu Thân tâm thiên địa nội Tuần hoàn vô cùng dĩ”. “Tâm là trước đất trời Thân là sau trời đất Thân tâm trong đất trời Tuần hoàn không cùng tận”. Nói xong sư ngồi yên mà tịch, thọ 70 tuổi. Môn đệ hỏa táng, xây tháp tôn thờ. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 金 蓮 寺. Chùa nằm trên một doi đất bằng phẳng trong làng Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Bao quanh đất chùa là gương nước Hồ Tây trong xanh. Thời Lý, nơi đây là trại Tàm Tang (trồng dâu, nuôi tằm) của vua Lý Thần Tông lập ra cho Công chúa Từ Hoa. Sau khi Công chúa qua đời, trên nền cũ của cung điện dựng lên một ngôi chùa. Sang đời Trần, chùa mang tên là Đống Long. Đến đời Hậu Lê chùa có tên là Đại Bi. Vào năm 1771 chùa được trùng tu và mang tên chữ là Kim Liên Tự. Ngôi chùa hiện nay là di sản nghệ thuật kiến trúc thời Tây Sơn (1792). Chùa được bố cục đối xứng theo một trục từ Tam quan đến nhà Tổ, mặt bằng gọn đẹp. Từ Tam quan đi qua một khoảng sân dẫn vào ba nếp chùa xếp song song theo hình chữ tam (三). Nếp ngoài là chùa Hạ, nếp giữa là chùa Trung, hai nếp nhà này quay mặt về hướng tây. Riêng chùa Thượng quay mặt về hướng đông. Mái chùa lợp ngói, cấu trúc hai tầng theo kiểu chồng diêm. Mỗi nếp tám mái, có tám tàu đao hình rồng uốn cong. Chân cột kê trên đá tảng chạm hình hoa sen cách điệu. Trong chùa có nhiều tượng đẹp như: Văn Thù, Xá Lợi, Tôn Ngộ Không, Chúa Trịnh… Theo: VHVNTH 1989-1995. ● 金 縷 = Kim Thằng 金 繩 Sợi tơ vàng = Sợi dây vàng. Hình ảnh tượng trưng cho đạo Phật. Lý Bạch trong bài Xuân nhật quy sơn có câu: “金 繩 開 覺 路 – Đạo Phật mở ra con đường giác ngộ”. ● 今 摩 (1629-1702). Thiền tăng đời Minh, họ Tằng, tên Tông, tự Ha Diễn, con của Hàm Thị, người xứ Nam Hùng, Quảng Đông, Trung Quốc. Đắc pháp nơi cha mình, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Hải Vân ở Lôi Phong. Tác phẩm: Hạc Minh Ha Diễn Tạp Lục. ● 金 毛. Gọi đủ: Kim Mao Sư Tử. Sư tử lông vàng, chỉ cho đức Phật. Tiết Tri phủ Cát Đàm Cư sĩ trong NĐHN q.20 ghi: “豁 然 頓 明、頌 曰:非 心 非 佛 亦 非 物、五 鳳 樓 前 山 突 兀、豔 陽 影 裡 倒 翻 身、野 狐 跳 入 金 毛 窟。 – Ông bỗng nhiên đốn ngộ, làm tụng rằng:Phi tâm phi Phật cũng phi vật, trước lầu Ngũ Phụng núi cao ngất. Trong nắng mùa xuân tươi chợt lộn nhào, chồn hoang nhảy vào hang Sư tử”. ● 今 冉 (1618-1688). Thiền ni đời Minh, họ Tằng, tự Lai Cơ, em gái của Hàm Thị, người xứ Nam Hùng, Quảng Đông, Trung Quốc. Cô được anh truyền pháp, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì am Vô Trước. Tác phẩm: Lai Cơ Pháp Ngữ, Vô Trước Tập. ● 今 攝 (1619-1686). Thiền tăng đời Minh, họ Thôi, tự Quảng Từ, hiệu Sào Vân, người xứ Phiên Ngu, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hàm Thị, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Tác phẩm: Sào Vân Di Cảo. ● 今 盌 (1612-1690). Thiền tăng đời Minh, họ Tằng, tên Khởi Vân, em trai của Hàm Thị, người xứ Nam Hùng, Quảng Đông, Trung Quốc. Được anh truyền pháp, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Quang Hiếu. Có Ngữ Lục và thi tập truyền lại đời. ● 金 沙 墮 眼 中. Mạt vàng rơi trong mắt. Dụ chỉ lý thuyết về Phật pháp đối với thiền ngộ phần lớn là dư, thậm chí nó còn có chỗ chướng ngại. Tiết Hòa Bích thư ký trong MANL ghi: 擲 劍 揮 空 不 住 空 空 輪 無 跡 劍 無 鋒 無 鋒 無 跡 憑 誰 會 會 得 金 沙 墮 眼 中 “Trịch kiếm huy không bất trụ không Không luân vô tích kiếm vô phong Vô phong vô tích bằng thùy hội? Hội đắc kim sa đọa nhãn trung”. “Múa kiếm trong không chẳng trụ không Vốn không bén nhọn, không vết rồi Không nhọn không vết làm sao hội? Hội được cũng là chướng ngại thôi!”. ● 金 翅. Tức Kim sí điểu, loài chim đại bàng cánh vàng rất lớn trong thần thoại Phật giáo, lông cánh màu vàng, hai cánh giương ra dài hàng trăm vạn dặm, bắt rồng làm thức ăn. Đàm Thối truyện trong TCTT q.8 ghi: “金 翅 不 食 異 類、帝 釋 無 共 鬼 居。 – Kim sí chẳng ăn các loài khác, Đế Thích không ở chung với quỷ”. ● 金 翅 鳥 主. Tức Kim sí điểu vương, con mạnh nhất, to nhất trong loài đại bàng cánh vàng. Tiết Thái Bình Phật Giám Cần Thiền Sư trong GTPĐL q.25 ghi: “欲 知 此 事、覿 面 相 呈、未 語 已 前、早 是 蹉 過。如 金 翅 鳥 主 入 阿 盧 大 海、擊 開 雪 浪、直 取 龍 吞。眼 睛 定 動 之 間、早 已 喪 身 失 命。 – Muốn biết việc ấy, tận mặt trình nhau, trước khi chưa nói cũng đã vượt qua rồi. Như Kim sí điểu chúa vào biển lớn A Lư, quạt cánh rẽ nước biển, bắt rồng để ăn thịt. Trong khoảng nháy mắt đã vùi thân mất mạng”. ● 金 山 志 略. Còn gọi: Kim Sơn Long Du Thiền Tự Chí Lược. Chí, 4 quyển, do Hạnh Hải biên soạn vào đời Thanh, được xếp vào “Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San” tập 1. Vào khoảng niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) đời Thanh, Hạnh Hải nhậm chức Trụ trì chùa Kim Sơn và ở đấy hơn 30 năm. Trong những lúc rỗi rãnh, sư biên tập chí lược, đem pháp mạch Thiền Tông nhiều đời và phong cách thanh cao siêu thoát của các danh hiền đạt sĩ biên chép lại thành sách. Nội dung gồm có hơn 10 loại: Sơn đồ, Hình thắng, Kiến trí, Tổ đường pháp hệ, Ký, Kỷ du, Bi, Phú, Sắc thư, Cao tăng, Thi… Sách này có bản ảnh ấn vào năm 1936. Người đời gọi là “Hạnh Hải Kim Sơn Chí” để phân biệt với các quyển chí khác. ● 金 山 寺. Chùa nằm trên đỉnh núi Kim Sơn (do núi mà có tên), ở phía tây bắc thành phố Trấn Giang tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Kim Sơn vốn tên là Phù Ngọc Sơn, tương truyền vào đời Đường có Hòa Thượng Pháp Hải khai núi lập chùa gặp được vàng nên đặt tên núi là Kim Sơn. Chùa được bắt đầu xây dựng vào đời Đông Tấn, vốn có tên “Trạch Tâm Tự”, vào niên hiệu Thiên Giám thứ 4 (505) thời Lương thuộc Nam Triều, ở chùa này có thiết lập Thủy Lục Đạo Tràng. Đời Đường đổi tên là Kim Sơn Tự. Đời Tống, khoảng năm 1008-1016, Tống Chân Tông nằm mộng thấy đến chùa Kim Sơn nên đổi tên là Long Du Tự. Năm 1114, vua xuống chiếu đổi làm Đạo quán, nhưng ít lâu sau phục hồi làm chùa Phật. Đời Đường, Tống là thời kỳ cực thịnh của chùa này, chư tăng nội trú trong chùa có trên 3. 000 vị; các vị cao tăng trụ trì như: Đàm Dĩnh, Hoài Hiền, Phật ấn Liễu Nguyên, Nghĩa Thiên, Viên Ngộ Khắc Cần, Thiện Ninh Liễu Tâm. Thi nhân đời Đường có rất nhiều người đề vịnh chùa này, như bài Đề Kim Sơn Tự của Trương Hựu như sau: “Một tối lên chùa núi Kim Sơn sóng nước vây Sư về thuyền sáng nguyệt Rồng hiện cổng vờn mây Sóng chảy cây nhòa trắng Bờ xa chuông vọng dài Lợi danh buồn thế thái Mê mệt trọn ngày say”. (Cao Tự Thanh dịch.) Năm 1687, vua Khang Hy tuần du phương Nam, đổi tên chùa là Giang Thiên Thiền Tự, nhưng người đời vẫn gọi là Kim Sơn Tự. Vào đời Thanh, chùa này và chùa Cao Mân, chùa Thiên Ninh được gọi là 3 ngôi đại tòng lâm của tông Lâm Tế, riêng Kim Sơn Tự là danh thắng bậc nhất Giang Nam. Chùa có bố cục tinh xảo: Trên lầu có lầu, ngoài lầu có gác, trong gác có đình. Mỗi tổ kiến trúc đã tự thành hệ thống lại liền lạc lẫn nhau, rất là đặc sắc. Trong chùa còn cất giữ ngọc đái của Tô Đông Pha lưu tặng Thiền Sư Phật ấn, trên mặt có kết 20 viên bạch ngọc hình trạng khác nhau, vật này được xem là quốc bảo. ● 金 師. Thợ kim hoàn. Tiết “Tín Tướng Tông Hiển Thiền Sư” trong NĐHN q.18 ghi: “仰 山 將 一 坱 金 來、使 金 師 酬 价。 – Ngưỡng Sơn mang một thoi vàng ra để trả tiền công cho người thợ kim hoàn”. ● 今 釋 (1614-1680). Thiền tăng đời Thanh, họ Kim, tên Tính Nhân, còn gọi Điềm Nhân, tự Đạm Qui, hiệu Cam Giá Sinh, Mao Bình nạp tăng, Tá Sơn dã nạp, đỗ tiến sĩ khoảng niên hiệu Sùng Trinh (1628-1643) đời Minh. Sau khi nhà Minh mất, liền xuất gia làm tăng, tham vấn Thiền Sư Thiên Nhiên Thị và nối pháp ngài thuộc tông Tào Động. Sư mặc áo thô, ăn rau cỏ, chân chính thoát tục. Đầu tiên sư ở thiền viện Đan Hà. Niên hiệu Khang Hy thứ 17 (1678) sư cất am ở Bình Hồ (nay thuộc Chiết Giang). Mùa thu năm 1680, sư ngồi ngay ngắn nói kệ rồi thị tịch. Đệ tử xây tháp thờ Xá Lợi sư ở Lô Sơn. Tác phẩm: Biến Hành Đường Chính Tục Tập. ● 金 屑 眼 中 翳. Gọi đủ: Kim Tiết Tuy Quý, Lạc Nhãn Thành Ế. Mạt vàng tuy quý, rơi vào mắt cũng thành bệnh. Tiết Long Tuyền Mạn Thiền Sư trong NĐHN q.17 ghi: “上 堂 眾 集、師 乃 曰:祇 恁 麼 便 散 去、不 妨 要 妙。雖 然 如 是、早 是 無 風 起 浪、釘 橛 空 中。豈 況 牽 枝 引 蔓、說 妙 譚 玄。正 是 金 屑 眼 中 翳、衣 珠 法 上 塵。且 道 拂 塵 出 屑、是 甚 麼人? – Sư thượng đường, chúng tụ hội, sư liền nói: Chỉ thế ấy nên giải tán đi, mới thật là yếu diệu. Mặc dù như thế, sớm đã không gió mà nổi sóng rồi, đã đóng đinh trong hư không rồi, huống là dây dưa bàn thiền nói diệu? Đúng là mạt vàng tuy quý, song rơi vào mắt cũng thành bệnh, hạt châu trong chéo áo dính bụi. Thử hỏi phủi bụi, lấy mạt ra được là người nào?”. ● 金 屑 虽 貴 眼 里 著 不 得. Mạt vàng tuy quý nhưng con mắt không dung chứa được. Tiết Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q.11 ghi: “金 屑 銀 屑 雖 貴、肉 眼 裏 著 不 得、豈 况 法 眼 乎! – Mạt vàng mạt bạc tuy quý, nhưng con mắt thịt không dung chứa được, huống là con mắt pháp!”. ● 金 粟 如 來. Theo truyền thuyết, tiền thân của cư sĩ Duy Ma Cật là Kim Túc Như Lai. Chương Chiêu Hóa Thiền Sư trong CĐTĐL q.20 ghi: “問:維 摩 豈 不 是 金 粟 如 來?師 曰:是。曰:爲 什 麼 却 預 釋 迦 會 下 听 法?師 曰:他 不 爭 人 我。 – Hỏi: Duy Ma đâu chẳng phải là Kim Túc Như Lai? Sư đáp: Phải. Tăng nói: Vì sao lại dự pháp hội của đức Thích Ca để nghe pháp? Sư đáp: Bởi ông ta chẳng tranh nhân ngã”. ● 金 紫 行. Giới quan lại. Tiết Tả Thừa Phạm Sung Cư sĩ trong NĐHN q.18 ghi: “過 圓 通 謁 旻 禪 師、茶 罷 曰:某 行 將 老 矣。隨 在 全 紫 行 中、去 此 事 稍 遠。 – Ông qua chùa Viên Thông, yết kiến Thiền Sư Mân, khi mãn tiệc trà, ông nói: Tôi sắp già rồi lại còn mắt kẹt trong giới quan lại nên cách việc này hơi xa”. ● 今 湛 (1613-1677). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, tự Hải Vân, người xứ Tam Thủy, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hàm Thị, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Hải Vân. ● 今 無 (1633-1681). Thiền tăng đời Minh, họ Vạn, tự Trùng Mộc, hiệu A Tự, người xứ Phiên Ngu, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hàm Thị, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Hải Tràng. Tác phẩm: Quang Tuyên Đài tập. ● 荊 棘. Gai góc. Thiền Tông dùng từ này để tượng trưng cho sự gian khổ mà người tu hành phải trải qua trong quá trình cầu đạo. Tham thiền kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、何 有 顧 惜 放 下 渾 身、透 過 荊 棘 “Tham thiền đệ nhất Hà hữu cố tích Phóng hạ hồn thân Thấu quá kinh cức”. “Pháp tham thiền bậc nhất Có gì để nuối tiếc Buông quách cả toàn thân Thấu qua rừng gai góc”. ● 經 堂. Ngôi nhà dùng để gởi kinh sách Phật giáo nằm trong khuôn viên tự viện. Tiết Hoàng Long Đạo Chấn Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “師 自 以 爲 礙、棄 依 草 堂、一 見 契 合。日 取 藏 經 讀 之。一 夕、聞 晚 參 鼓、步 出 經 堂、舉 頭 見 月、遂 大 悟。 – Sư tự thấy chướng ngại nên bỏ đi mà nương ngài Thảo Đường, vừa gặp liền khế hợp. Hàng ngày sư giữ Tàng Kinh và đọc qua. Một buổi chiều kia, sư nghe tiếng trống tham vấn buổi chiều, vừa bước ra khỏi Kinh đường, ngẩng đầu thấy mặt trăng, sư liền đại ngộ”. ● 經 論. Chỉ chung sách vở Phật giáo, hoặc chỉ cho tạng Kinh và tạng Luận trong sách vở Phật giáo. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “如 山 僧。往 日 曾 向 毘 尼 中 留 心。亦 曾 於 經 論 尋 討。後 方 知 是 濟 世 藥 表 顯 之 説。 – Ngay như Sơn tăng ngày trước từng lưu tâm vào Luật tạng, cũng từng tìm tòi trong Kinh Luận. Về sau mới biết là lời nói biểu hiển, là phương thuốc cứu đời”. ● 經 論 家. (Từ mà nhà thiền gọi) những vị tăng tin nhận, thực hành, nghiên cứu tu tập theo Kinh luận Phật giáo. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “據 經 論 家。取 三 種 身 爲 極 則。約 山 僧 見 處 不 然。此 三 種 身 是 名 言。亦 是 三 種 依。 – Theo các Kinh Luận gia thì lấy ba thứ thân làm lý cùng tột, đại khái theo chỗ thấy của sơn tăng thì không như thế, ba loại thân này là danh tự, cũng như ba loại”. ● 經 業. Dùng kinh Phật làm nội dung của học nghiệp. Sùng Khuê truyện trong TCTT ghi: “至 年 十 八、經 業 蔚 通 得 度。 – Đến năm 18 tuổi, kinh nghiệp của sư phát triển trôi chảy rồi được độ”. ● 經 師. Vị tăng tinh thông tạng kinh, sở trường về tụng giảng kinhvăn. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.4 ghi: “經 師 自 有 經 師 在、論 師 自 有 論 師 在、律 師 自 有 律 師 在。 – Kinh sư tự có Kinh sư, Luận sư tự có Luận sư, Luật sư tự có Luật sư”. ● 經 藏 堂 主. Tên gọi chức vụ của người trông coi Kinh tạng trong Thiền viện. Trên chức Đường chủ có chức Tạng chủ, nhưng Tạng chủ không ở nơi Tạng điện mà do Đường chủ giữ kinh. Ngoài việc quản lý Kinh sách, Kinh tạng Đường chủ còn có nhiệm vụ cho Tăng chúng mượn kinh sách, cho nên ông có mặt thường trực tại Tạng điện. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 經 世 法. Đạo lý dùng để sắp đặt, sửa đổi những việc ở thế gian. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q.29 ghi: “即 使 佛 處 震 旦 國、說 經 世 法、又 豈 過 於 周 公、孔 子 哉! – Dù cho Phật ở Trung Quốc, nói đạo lý dùng để sắp đặt, sửa đổi những việc ở thế gian cũng đâu hơn được Chu Công và Khổng Tử”. ● 敬 堂. Hiệu của Thiền tăng Pháp Trung sống vào đời Minh. X. Pháp Trung. ● 徑 門. Pháp môn Thiền Tông, đề xướng chỉ thẳng tâm người, ngộ nhập thẳng tắt, nên có tên gọi này. Kỉnh = Trực (thẳng tắt). Thần Hội Truyện trong TCTT q.8 ghi: “梁 武 帝 問 以 有 爲 之 事、達 磨 貴 傳 徑 門 心 要、機 教 相 乖、若 水 投 石。 – Lương Võ Đế đem việc hữu vi để hỏi, Tổ Đạt Ma quý trọng việc truyền Kính môn tâm yếu, nên cơ giáo trái nhau như nước đổ đầu vịt”. ● 徑 山. Núi thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, nằm cách thành phố Dư Hàng khoảng 29km về phía tây bắc. Cao chừng 960 mét, chu vi độ 29km, nhân có đường tắt thông qua núi Thiên Mục nên có tên như thế. Bốn mặt có các ngọn núi: Lăng Tiêu, Ngự Thọ, Thiên Hiển, Đôi Châu cao vút như những ngón tay chỉ thẳng lên trời. Dưới chân núi có Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự, là ngôi chùa lớn của tông Lâm Tế. Đầu niên hiệu Thiên Bảo (742) đời Đường, có Thiền Sư Đạo Khâm thuộc tông Ngưu Đầu vào núi này cất am để ở, khiến người học bốn phương tụ hội. Niên hiệu Đại Lịch thứ 4 (769), vua Đại Tông kính mộ tính tình của sư nên ban cho hiệu “Quốc Nhất Thiền Sư”, xuống chiếu cho dựng chùa Kính Sơn trên nền am của sư. Về sau các vị Giám Tông, Hồng Yên đều trụ ở đây. Đến đời Tống, các bậc cao tăng như: Viên Ngộ Khắc Cần, Duy Lâm, Liễu Nhất cũng ở núi này. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 7 (1137), Thiền Sư Đại Huệ trụ chùa Kính Sơn, số đệ tử vân tập hơn 1. 700 vị. Sau đó, có các vị cao tăng tông Lâm Tế như: Vô Chuẩn Sư Phạm, Hư Đường Trí Ngu cũng ở đây, có thể bảo rằng trải qua bao đời núi này đều có các vị danh tăng đến ở, đứng đầu các tùng lâm trong nước. ● 徑 山 志. Chí, 14 quyển, do Tống Khuê Quang soạn vào đời Minh, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Kính Sơn nằm ở mé đông bắc núi Thiên Mục, do có con đường tắt qua núi Thiên Mục nên mới gọi là Kính Sơn. Vào niên hiệu Thiên Bảo thứ 1 (742) đời Đường, Thiền Sư Quốc Nhất ngụ ở núi này. Về sau do các bậc cao tăng quản lý nơi đây trải qua các triều đại Tống, Nguyên, Minh nên chùa chiền được dựng lên rất nhiều, có hơn 10 ngôi nổi tiếng hơn cả: Tiếp Đải Tự, Đại An Thiền Tự, Vạn Thọ Thiền Tự, Kính Sơn Tự, An Lạc Tự, Pháp Hoa Tự, Vạn Thọ Chính Tục Tự, Quảng Hóa Thiền Tự, Thuận Khánh Thiền Tự, Diệu Tế Thiền Tự. Vào khoảng niên hiệu Thiên Khải (1621-1627) đời Minh, Tống Khuê Quang biên Kính Sơn Chí, chia làm 18 loại: Liệt Tổ, Pháp lữ, Chế sắc, Tự văn, Tháp minh, Bi ký, Du ký, Thư khải, Kệ vịnh, Danh thập, Ngoại hộ, Điện vũ, Tịnh thất, Danh thắng, Hạ viện, Cổ tích, Tự sản, Kỷ sự. Sách này được biên tập mạch lạc rõ ràng, sưu tập đầy đủ những di tích lịch sử của Phật giáo kể từ niên hiệu Thiên Khải đời Minh trở về trước, có bản ấn hành vào đời Minh. ● 敬 叟. Hiệu của Thiền tăng Cư Giản sống vào đời Tống. X. Cư Giản. ● 徑 石 滴 乳 集. Sách, 5 quyển, do Sơn Phong Chân Tại biên tập vào đời Thanh, Thạch Nguyên Cơ Vân tục biên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 117, trang 902. Sách này là tập truyện chung về đạo mạch truyền thống của Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm thuộc tông Lâm Tế. Từ Vô Chuẩn Sư Phạm và Đoạn Kiệu Diệu Luân đệ tử nối pháp đời thứ nhất của sư ở chùa Tịnh Từ Kính Sơn đến đời thứ 17, tổng cộng gồm 238 vị, thuật lại hành trạng và Ngữ Yếu của họ. Sau khi Chân Tại thị tịch, đệ tử của sư là Cơ Vân tiếp tục biên tập thành sách. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 21 (1682). ● 敬 璡. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Xưng Tâm ở Việt Châu (nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang). Về sau sư dời về viện Bảo An ở Hàng Châu rồi thị tịch. ● 勁 節. Kiên trì không lơi lỏng. Hương Dục truyện trong TCTT q. 8 ghi: “入 富 水 大 佛 山、勁 節 安 禪、卯 前 一 食 – Sư vào núi Đại Phật ở Phú Thủy, an thiền kiên trì không lơi lỏng, chỉ ăn buổi sáng”. ● 敬 中 和 尚 語 錄. X. Ngốc Am Thiền Sư Ngữ Lục. ● 敬 遵. Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư ở chùa Bát Nhã Đài Châu (nay là huyện Lâm Hải, thuộc Chiết Giang). Có vị tăng hỏi: Hoa Ưu Đàm Bát nở mọi người đều thấy, xin ban cho một lời về gia phong Bát Nhã. Đáp rằng: Không nhờ Thượng tọa hỏi thì đâu từng chỉ dạy cho người. Thụy hiệu: Thông Huệ Thiền Sư. ● 徑 要. Chỗ thẳng tắt quan trọng. Chỉ cho tâm tính. ● 擎 拳 擧 指. Đưa nắm tay, giơ ngón tay lên. Đây là động tác thường thấy trong nhà thiền khi thị cơ, ứng cơ. Chỉ chung cho sự lập bày thiền cơ. Tiết Đáp Phán Lưu Kinh Thần cư sĩ trong NĐHN q.16 ghi: “六 葉 既 敷、千 花 競 秀。分 宗 列 派、各 有 門 庭。故 或 瞬 目 揚 眉、擎 拳 舉 指。或 行 棒 行 喝、豎 拂 拈 槌。或 持 義 張 弓、輥 毬 舞 笏。或 拽 石 般 土、打 鼓 吹 毛。或 一 默 一 言、一 吁 一 笑。乃 至 種 種 方 便、皆 是 親 切 爲 人。 – Sáu cánh đã xòe, ngàn hoa thêm đẹp, phân chia tông phái, riêng có môn đình. Vì vậy, hoặc nhướng mày chớp mắt, đưa nắm tay giơ ngón tay lên, hoặc đánh hét, giơ chùy dựng phất hoặc trì nghĩa giương cung, ném banh múa hốt, hoặc khuân đá gánh đất, đánh trống thổi lông, hoặc lúc nói lúc nín, lúc than lúc cười, cho đến các thứ phương tiện, đều là thân thiết vì người”. ● 鉗 鎚. Kiềm: Cái kềm để nhổ đinh. Chùy: Cái búa để tháo chốt. Kiềm chùy là công cụ để tháo nhổ những dính mắc của sự vật, Thiền Tông dùng kiềm chùy để chỉ cho những phương tiện chỉ dạy dẫn dắt của Thiền Sư. Bích Nham Lục q.1 ghi: “雲 門 尋 常 接 人、多 用 睦 州 手 段、只 是 難 爲 湊 泊、有 抽 釘 拔 楔 底 鉗 錘。 – Lúc bình thường Vân Môn tiếp người phần nhiều dùng thủ đoạn của Mục Châu, nhưng rất khó khế hợp. Cả đời, sư dùng kiềm chùy để nhổ đinh tháo chốt cho người”. ● 鈐 鍵. Chiếc chìa khóa, hàm ý nghĩa khải phát, khải ngộ. Tiết Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “聞 楊 歧 移 雲 蓋、能 鈐 鍵 學 者、直 造 其 室、一 語 未 及、頓 明 心 印。 – Nghe Dương Kỳ dời qua Vân Cái để có thể khải phát người học, liền cất thất, một lời chưa kịp nói lập tức sáng tỏ tâm ấn.” ● 黔 南 會 燈 錄. Đăng Lục, 8 quyển, do vị tăng Thiện Nhất Như Thuần soạn vào niên hiệu Khang Hy thứ 41 đời Thanh (1702), được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 145 trang 739. Sách này thuộc về Đăng Lục địa phương, gom chép các sách vở của tỉnh Quý Châu hoặc các quan hệ về truyền thừa, tóm lược về cuộc đời, cơ duyên ngữ cú và các trứ tác linh tinh. Thiền Tông vùng Quý Châu hưng thịnh vào cuối đời Minh, năm tông lúc ấy chỉ còn Lâm Tế và Tào Động, đất Kiềm (Quý Châu) lấy tông Lâm Tế làm chính nên sách này đa số thu thập lược sử của các vị tăng tông Lâm Tế và vài vị thuộc tông Tào Động mà thôi. ● 檢 舉. Kiểm sát, vạch trần. Chương “Thiền Môn Quy Thức” trong CĐTĐL q.6 ghi: “或 有 假 號 竊 形 混 于 清 眾。并 別 致 喧 撓 之 事。即 堂 維 那 檢 舉 抽 下 本 住 掛 塔。擯 令 出 院 者。貴 安 清 眾 也。 – Hoặc có kẻ trộm hình giả hiệu trà trộn vào thanh chúng, lại còn gây ồn ào náo loạn liền bị Duy na vạch trần, không cho tạm trú, đuổi ra khỏi thiền viện khiến thanh chúng được an ổn.” ● 檢 點. X. Điểm kiểm. ● 檢 責. Kiểm sát, trách móc. Tiết Đại Đồng Tế Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “鬻 飯 底 僧 一 任 檢 責。 – Tăng cháo cơm mặc cho trách móc.” ● 肩 筇 峭 履. Dùng đòn gánh quải hành lý và treo giày, rồi gánh trên vai; chỉ tăng nhân du phương hành cước. Tiết Thắng Nhân Hoặc Tĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “肩 筇 峭 履、乘 興 而 行。掣 釣 沉 絲、任 性 而 住。 – Tăng nhân hành cước theo sở thích mà đi, thăm dò bậc thiện tri thức hễ khế hợp thì ở”. ● 堅 有. Chúng sinh thâm căn cố đế cho rằng vạn vật ở thế gian là có thật, Phật gia gọi đó là “kiên hữu”, nghĩa là chấp trước vào “hữu” một cách ngoan cố. Tử Bách Lão Nhân Tập q. 1 ghi: “Chúng sinh giao cố vu căn trần chi tập, cửu tích thành kiên, tốt bất dị phá, cố chư Phật Bồ tát tiên dĩ không dược trị kỳ kiên hữu chi bệnh. – Chúng sinh dính chặt vào thói quen của căn trần, tích chứa lâu ngày thành cứng chắc, cuối cùng không dễ gì phá vỡ, cho nên chư Phật Bồ tát trước tiên lấy thuốc không để trị bệnh chấp có.” ● 見 蓋. Chỉ cho tà kiến vọng thức, vì nó hay che đậy chân tính. X. Kiến triền. ● 見 待. Tiếp đãi, chiêu đãi. Tiết Quán Âm Viện Tùng Hiển Thiền Sư trong CĐTĐL q. 25 ghi: Tăng hỏi: “僧 問。如 何 是 觀 音 家 風。師 曰。眼 前 看 取。曰 忽 遇 作 者 來 作 麼 生 見 待。師 曰。貧 家 只 如 此 未 必 便 言 歸。 – Thế nào là gia phong của Quán Âm? Sư đáp: Hãy xem trước mắt. Hỏi: Chợt gặp bậc Thầy tài giỏi đến làm sao tiếp đãi? Sư đáp: Nhà nghèo chỉ có thế, chưa chắc ăn nói hoạt bát mà họ quy phục.” ● 見 地. Còn gọi: Kiến xứ. Quan niệm, nhận thức về thiền pháp. Khai thị Duy Na Như trong DTNL q.3 ghi: “總 而 言 之、只 是 見 地 未 徹、劄 腳 未 隱、道 念 輕 爲 故 爾。 – Nói tóm lại, chỉ vì kiến giải chưa thấu suốt, lập trường chưa vững đạo niệm ít ỏi nên mới như thế.” Phần “Tục Nghệ Ngôn” trong NHQL q.30 ghi: “投 子 芙 蓉 之 後 能 振 洞 上 一 宗 者、天 童 覺 眞 歇 了 也。二 師 見 處 親 切、而 高 行 碩 德 俱 能 不 愧 古 人。 – Sau ngài Đầu Tử và Phù Dung, người có khả năng làm hưng thạnh tông Tào Động là hai vị Thiên Đồng Giác và Chân Hiết Liễu. Nhận thức của hai vị rất phù hợp, tương ưng với thiền pháp, và có đức hạnh cao thượng không hổ với người xưa.” ● 建 化 門. Pháp môn giáo hóa của Phật Tổ gây dựng. Nhà thiền cho rằng Kiến hóa môn chẳng phải là diệu pháp đốn ngộ, mà chỉ là pháp môn phương tiện nhằm thích nghi với số đông căn cơ trung hạ. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “况 第 一 義 本 來 清 凈、不 受 諸 塵、如 何 說 得?同 道 方 知。今 日 放 過 一 著、向 建 化 門 中、別 作 箇 解 話 會。 – Huống là đệ nhất nghĩa xưa nay thanh tịnh, chẳng dính các trần, làm sao nói được? Chỉ có kẻ đồng đạo mới biết. Hôm nay cởi mở một phen, ở trong Kiến hóa môn thông qua lời giải thích để lãnh hội”. ● 見 喜. Vui mừng. Tông Môn Võ Khố ghi: “師(指 宗 杲)在 寶 峰 時、元 首 座 極 見 喜。 – Sư (chỉ Tông Cảo) khi ở Bảo Phong, Nguyên Thủ tọa rất vui mừng.” ● 見 孽. Chỉ cho tà kiến vọng thức, vì nó làm tổn hại việc tỏ ngộ chân tính. X. Kiến triền. ● 佛 祖 如 生 冤 家. Thấy Phật Tổ như gặp kẻ thù. Nhà thiền cho rằng, đối với sự mê tín chấp trước Phật Tổ cần phải phá trừ, vì thế mới có các phương tiện như: không lễ Phật, Tổ, quở Phật mắng Tổ. Phần “Năm vị Tỳ kheo Hành Cái trong pháp hội Phật Hải chùa Linh ẩn cầu pháp ngữ” trong MANL ghi: “見 佛 祖 如 生 冤 家、聞 禪 道 如 風 過 樹。 – Thấy Phật Tổ như gặp kẻ thù, nghe Thiền đạo như gió thổi qua cây.” ● 建 初 寺. Chùa ở làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội, Việt Nam. Chùa nằm bên phải đền Xung Thiên Thần Vương, tục gọi là đền đức Thánh Gióng. Chùa nguyên là gia trạch của một người hào phú họ Nguyễn ở làng Phù Đổng đem dâng cúng làm chùa và rước Thiền Sư Cảm Thành đến trụ trì; không bao lâu Thiền Sư Vô Ngôn Thông đến đây và chùa trở thành Tổ đình của thiền phái Vô Ngôn Thông. ● 見 神 見 鬼. Cố làm ra vẻ huyền bí, làm điều giả dối, xằng bậy. Tiết Kính Sơn Trí Sách Thiền Sư trong Tục Truyền Đăng Lục q.30 ghi: “往 豫 章 謁 典 牛。。。及 造 門、典 牛 獨 指 師 曰:甚 處 見 神 見 鬼 來? – (Sư) đến Dự Chương ra mắt Điển Ngưu…. Vừa mới đến cửa, Điển Ngư chỉ ngay sư, hỏi: Làm điều giả dối xằng bậy ở đâu rồi đến đây?” ● 見 兔 放 鷹. 1. Lúc đi săn thấy dấu vết con thỏ liền thả chim ưng ra đuổi bắt. Thiền Tông dùng cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ cho sự khêu gợi chuẩn xác và nhanh chóng của Thiền Sư trong lúc tiếp hóa người học. Tắc 27, Bích Nham Lục (Đại 48, 167 trung) ghi: “垂 示 云:問 一 答 十。舉 一 明 三 見 兔 放 鷹。因 風 吹 火。 – Dạy rằng: Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả ưng, nhân gió thổi lửa”. ● 2. Chỉ cho sự mắc kẹt vào ngôn từ. NĐHN q.12 ghi: “老 僧 恁 麼 舉 了、祇 恐 你 諸 人 見 兔 放 鷹、刻 舟 求 劍。 – Lão tăng đã nêu như thế, chỉ sợ các ông mắc kẹt vào ngôn từ, tốn công vô ích”. ● 見 性. Tham thiền đến chỗ cùng tột, “ồ” lên một tiếng, trong sát na tự tính bỗng hiện, liễu chứng các pháp vô sinh, gọi là Kiến tính thành Phật, cũng gọi là Ngộ pháp vô sinh, chẳng phải có năng kiến, sở kiến. Vô Môn Quan ghi: “兜 率 悅 和 尚、設 三 關 問 學 者、撥 草 參 玄、只 圖 見 性。 – Hòa Thượng Đâu Suất Duyệt lập ra ba cửa hỏi người học, khiến họ đoạn trừ vọng tưởng, tham cứu chỗ huyền diệu để mong họ được kiến tính”. ● 見 性 成 佛. Thấy suốt Phật tính của tự tâm, tỏ ngộ tự mình cùng với Phật xem ngang nhau. Đây là tư tưởng nồng cốt của Thiền Tông, thể hiện cao độ tinh thần xem trọng tự ngã, xem trọng đời sống thực tiễn của Thiền Tông. Kiến tính thành Phật cho đến các thuật ngữ có liên hệ mật thiết như: Nhân nhân cụ túc, Tâm tâm tương ấn, Đốn ngộ, Bình thường tâm …. Do nhà thiền chủ trương để tín đồ Phật giáo tu tập rất đỗi giản dị dễ thực hành, bởi vì nó hấp dẫn đông đảo quần chúng trong mọi tầng lớp xã hội, cũng ảnh hưởng rộng rãi, sâu đậm, dài lâu đối với văn hóa Trung Quốc. Bích Nham Lục q.1 ghi: “祖 師 西 來、單 傳 心 印、直 指 人 心、見 性 成 佛。 – Tổ sư từ ấn Độ đến, truyền riêng tâm ấn, chỉ thẳng tâm người, kiến tính thành Phật.” ● 見 知. Còn gọi: Tri Kiến. Sự hiểu biết, kiến thức trở thành chướng ngại cho việc ngộ thiền. Tiết Đại Dương Cảnh Huyền Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “我 昔 初 機 學 道 迷、萬 水 千 山 覓 見 知。明 今 辨 古 終 難 會、直 說 無 心 轉 更 迷。 – Ngày trước, lúc tôi còn sơ cơ đi học đạo thật sai lầm khi vượt ngàn núi muôn sông để tìm kiến tri, phân biệt giải thích việc xưa nay, rốt cuộc khó lãnh hội được thiền pháp. Nói thẳng vô tâm để chuyển đổi cái mê khi xưa.” ● 見 纏. Còn gọi: Kiến Cái, Kiến Nghiệt. Chỉ cho tà kiến vọng thức (cái biết hư dối, thiên lệch), bởi vì nó hay ràng rịt chân tính. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q.2 ghi: “若 作 佛 見 法 見、但 是 一 切 有 無 等 見、名 眼 翳、見 所 見 故、亦 名 見 纏、亦 名 見 盖、亦 名 見 孽。 – Nếu khởi kiến giải về Phật, kiến giải về pháp, phàm tất cả những kiến giải như kiến giải về hữu vô v.v… gọi là nhãn ế (tối mắt) vì còn năng kiến sở kiến, cũng bị gọi là kiến triền, kiến cái, kiến nghiệt.” ● 建 中 靖 國 續 燈 錄. Đăng Lục 30 quyển, có riêng 3 quyển mục lục, do vị tăng tên Phật Quốc Duy Bạch biên soạn vào đời Tống, hoàn thành vào niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc thứ 1 (1101), nhằm tiếp tục bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Thiên Thánh Quảng Đăng Lục, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 136, trang 38. Sách này dựa vào thứ bậc tiếp nối pháp mạch trong nhà thiền rồi ghi ra vắn tắt lai lịch của thầy trò, cơ duyên ngữ cú, cổ tắc công án, kệ tụng. Toàn sách chia làm 5 loại: Chính tông, Đối cơ, Niêm cổ, Tụng cổ, Kệ tụng. Gom chép Ngữ Yếu của các Thiền Sư thuộc 2 tông Lâm Tế, Vân Môn tỉ mỉ và đầy đủ hơn các tông khác. ● 見 聞 覺 知. Chỉ chung những cảm giác, nhận thức khi sáu thức của con người (thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác, nhận thức) tiếp xúc với thế giới vạn vật sinh ra. Phật giáo cho rằng những cảm giác, nhận thức nay đều là hư huyễn không thật. Mật Am Ngữ Lục ghi: “既 無 心、又 無 法、山 河 大 地 甚 處 得 來?見 聞 覺 知 復 是 何 物?又:坐 斷 情 塵 意 想、不 落 見 聞 覺 知。 – Đã vô tâm, lại vô pháp thì núi sông đất đai chỗ nào thành? Kiến văn giác tri lại là vật gì? Lại: Quét sạch tình trần ý tưởng, chẳng rơi vào Kiến Văn giác tri.” ● 楗 槌. Khí cụ khi gõ phát ra tiếng, dùng để thông báo cho đại chúng biết, trong tự viện. Phạm Kỳ Ngữ Lục ghi: “露 柱 每 日 搊 箏 楗 槌拍 手 笑 他。 – Cột cái mỗi ngày khảy đàn tranh, kiền chùy vỗ tay cười nó”. ● 件 目. Khoản hạng các sự việc và tên gọi của nó. Bài tựa của Trí Chiêu trong Nhân Thiên Nhãn Mục ghi: “予 游 方 時、所 至 精 誠 咨 扣 尊 宿 五 宗 綱 要、其 間 件 目、往 往 亦 有 所 未 知 者。 – Lúc tôi còn du phương, đến nơi nào cũng đều tinh thành thưa hỏi các bậc Tôn túc về cương yếu của 5 tông, khoản hạng các sự việc và tên gọi của nó, luôn luôn có những điều mà mình chưa biết đến”. ● 吉 㗚 瑟 拏 穆 耳 底 (1895-1986). Krishnamurti Ziddu. Thiền Sư cư sĩ của thế kỷ XX, người đời tôn xưng là đấng đạo sư, tên là Ziddu, dòng tộc Bà La Môn, ấn Độ. Năm 15 tuổi, ông được bà chủ tịch Thông thiên hội là Annie Besant nhận làm con nuôi, bảo trợ cho ông ăn học. Từ năm 1912 đến 1920, ông sống ở vương quốc Anh, được các tín đồ của Hội Thần Trí Anh đón tiếp và mời trú ngụ. Tháng 8 năm 1922 ông bắt đầu nhập định tại California, trải nghiệm sự thông cảm phổ biến, như là sự kết nối tuyệt đối với trần thế. Năm 1929, ông công bố sự giải thể của dòng Ngôi sao Phương Đông, từ chức ở Hội Thần Trí, tuyên bố: “Ngay lúc bạn đi theo một người nào là bạn thôi đi theo chân lý”. Sau đó, ông sống nhiều ở ấn Độ, ảnh hưởng của ông ngày càng lan rộng, nhất là trong các trường sư phạm. Trong gần 60 năm, ông đã đến nhiều nước, nhiều châu lục để tổ chức những cuộc nói chuyện và những cuộc đối thoại, hội thảo. Ông có mặt ở Anh, Pháp, Hà Lan, Italia, Nauy, Tân Tây Lan, Hoa Kỳ, Xri Lan ca, Úc … có nước ông đến hai ba lần, có cuộc diễn thuyết kéo dài 17 buổi. Tất nhiên nơi ông nói chuyện nhiều nhất là ấn Độ, tổ quốc của ông. Tất cả những cuộc nói chuyện hoặc đối thoại của ông đều được in thành sách. Ngoài ra ông còn viết văn, làm thơ. Tác phẩm: Văn xuôi: Dưới chân của Đạo Sư (At the feet of the Master), Giáo dục như là một sự phục vụ (Education as service), Tự dọn mình (Self reparation), Chiến tranh hòa bình (Peace War), Con đường (The Path), Vương quốc của Hạnh phúc (The kingdom of Happiness), Cuộc gặp gỡ của Đông Tây (The meeting of the East and the West), Cuộc sống trong tự do (Life in Freedom), Giá trị của cá tính (The Value of Individuality), Mục đích của Giáo dục (The purpose of Education), Truyền thống đã đánh mất linh hồn (Tradition which has lost its soul), Giáo dục và ý nghĩa của cuộc đời (Education and the Significance of life), Sự tự do đầu tiên và cuối cùng (The first and last Freedom), Bàn luận về sự sống các loạt 1, 2 và 3 (Commentaries on Living 1st 2nd and 3rd series), Về học tập (On Learning). Thơ: Tìm kiếm (The search), Những người bạn bất diệt (The Immortal Friends), Tiếng hát cuộc đời (The Song of life), Đi xa (Come Away). Mặc dù mang hình thức cư sĩ và từ bỏ mọi nhãn hiệu, song vì những lời nói “tùy phương cởi mở” và phong cách sống ung dung tự tại của ông nên ông vẫn được mọi người xưng tụng là đấng Đạo sư của thế gian. ● 吉 雲 禪 寺 塔. Trong khuôn viên chùa Long Phúc, thị trấn Cổ Thanh Long, huyện Thanh Phố, thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, nên còn gọi ›Thanh Long Tháp”. Khi vua Khang Hy đi Nam tuần, ban cho chùa Long Phúc tên “Kiết Vân Thiền Tự”, nên tháp này cũng gọi là “Kiết Vân Thiền Tự Tháp”. X. “Thanh Long Tháp”. ● 碣 斗. Bia đá đặt trên dốc đứng, dụ chỉ người linh lợi. Tiết Đầu Tử Thanh Thiền Sư trong NGCTT ghi: “岳 降 英 靈、天 生 碣 斗 – Núi giáng sinh kẻ xuất chúng, trời sinh ra bậc linh lợi”. ● 橋 流 水 不 流. Còn gọi: Đông Sơn Thủy Thượng Hành (2), Thanh Sơn Vận Bộ (3). Nghĩa đen: Cầu trôi nước chẳng trôi (1) Ngọn Đông Sơn trôi trên nước (2) Ngọn Thanh Sơn đi trên đất (3) Thiền Tông dùng những câu nói này để hình dung cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, được chuyển đổi từ nhận thức thông thường sang sự hiểu biết vượt khỏi ý thức. CĐTĐL q.27 (Đại 51, 430 trung) ghi: “空 手 把 鋤 頭、步 行 騎 水 牛、人 從 橋 上 過、橋 流 水 不 流。 – Tay không mà cầm cây cuốc, đi bộ mà cưỡi trâu, người đi trên cầu thấy cầu trôi mà nước chẳng trôi”. ● 洎. Còn gọi: Kịp Hồ, Kịp Hiệp. Nghĩa là cơ hồ. Tiết Tuyết Phong Hòa Thượng trong TĐT q.7 ghi: “溈 山 云:若 不 是 吾、洎 被 汝 惑。 – Nếu không phải là ta thì cơ hồ bị ngươi mê hoặc.” ● 既. Đến, tận. Tiết Bác Sơn Hòa Thượng truyện trong NHQL q.35 ghi: “朔 既 燕 都、南 盡 交 趾、望 風 而 至 者、歲 以 千 計。 – Bắc đến Yên Đô, Nam tận Giao Chỉ, số người tưởng nhớ tiếng tăm của sư mà đến trong năm tính tới số ngàn”. ● 記. Còn gọi: Ký biệt. Lời dự đoán của Phật Đà, Tổ sư đối với đệ tử thành Phật, ngộ đạo giáo hóa. Tiết Vĩnh An Thiện Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.6 ghi: “(洛 浦 禪 師)上 堂 謂 眾 曰:莫 輕 園 頭(指 善 淨)、他 日 座 下 有 五 百人 在 。後(善 淨)住 永 安、眾 餘 五 百、果 符 洛 浦 之 記。 – Thiền Sư Lạc Phố thượng đường nói với chúng rằng: Đừng coi thường Viên đầu (chỉ Thiện Tịnh) ngày sau dưới pháp tòa có năm trăm người. Về sau khi Thiện Tịnh trụ Vĩnh An, tăng chúng hơn năm trăm người, quả nhiên đúng như lời dự đoán của Lạc Phố.” ● 既 若. Đã. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “既 若 如 此、佛 在 世 製 二 百 五 十 條 戒 又 奚 爲? – Đã như thế, lúc Phật tại thế còn chế ra 250 giới để làm chi?”. ● 幾 幾. Mấy cái, mấy người (ngầm chỉ số lượng rất ít). Tiết Phúc ứng Văn Thiền Sư trong NĐHN q.14 ghi: “龜 毛 拂 逼 塞 虛 空、兔 角 杖 撑 天 拄 地。日 射 珊 瑚 林、知 心 能 幾 幾? – Chổi lông rùa quét bít hư không, gậy sừng thỏ chống đỡ môn đình. Mặt trời chiếu xuống rừng san hô, kẻ biết tâm có được mấy người?”. ● 騎 驢 覓 驢. Còn gọi: Kỵ Ngưu Mịch Ngưu (cưỡi trâu tìm trâu). Cưỡi lừa tìm lừa, dụ cho phàm phu không thấy Phật tính của chính mình mà hướng ngoại tìm cầu, cũng như cưỡi lừa mà tìm lừa, chẳng biết dưới chỗ mình ngồi là con lừa mà mình đang tìm. Thanh Viễn Ngữ Lục trong CTTNL q.31 ghi: “龍 門(系 清 遠 禪 師 之 法 號)道 只 有 兩 種 病:一 是 騎 驢 覓 驢、二 是 騎 却 驢 了 不 肯 下。 – Long Môn (là pháp hiệu của Thiền Sư Thanh Viễn) nói chỉ có hai thứ bệnh: một là cưỡi lừa tìm lừa, hai là lỡ cưỡi lừa rồi mà chẳng chịu xuống”. Tiết Phúc Châu Đại An Thiền Sư trong CĐTĐL q.9 ghi: “師 即 造 于 百 丈。禮 而 問 曰。學 人 欲 心 識 佛。何 者 即 是。百 丈 曰。大 似 騎 牛 覓 牛。 – Sư liền đến chỗ Bách Trượng, lễ bái rồi hỏi rằng: Học nhân muốn biết Phật, làm sao mới phải? Bách Trượng nói: Rất giống cưỡi trâu tìm trâu!”. ● 羅 睺 寺.Chùa nằm phía đông Hiển Thông Tự, thị trấn Đài Hoài, Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, là một trong năm đại thiền tự của Ngũ Đài Sơn. Được xây cất vào đời Đường, niên hiệu Hoằng Trị thứ 5 (1492) đời Minh xây cất lại. Đời Thanh trở thành miếu Lạt Ma. Kiến trúc chủ yếu hiện còn Thiên vương điện, Văn Thù điện, Đại Phật điện, Tàng kinh các, sương phòng phối điện, lang ốc, thiền viện. ● 羅 湖 野 錄.Bút Ký, 2 quyển, do Hiểu Oánh soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 142, trang 961 và cũng được xếp vào Tứ Khố Toàn Thư. Tác giả là đệ tử của Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo, thời trai trẻ từng đi khắp các tùng lâm, tuổi già trở về nghỉ ở La Hồ, Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây). Sư thu thập những điều thấy nghe trong tùng lâm, những lời đề xướng của chư Tôn túc các nơi, những lời bàn bạc nghị luận của bạn bè. Cũng từ những văn bản rất xưa như bia còn sót lại và thẻ tre bị mọt, sư gom chép những tư liệu có liên quan rồi biên tập lại thành sách, khoảng gần trăm thiên. Đây là quyển sách ghi chép tỉ mỉ về công án Thiền môn đương thời, cơ phong ngữ cú, những sự thật về chư tăng có ý nghĩa lịch sử đã qua, có đủ giá trị sử liệu, được xem là 1 trong 7 bộ sách của Thiền môn, trong tùng lâm cần phải đọc, có thể nói là chỉ nam tu đạo của thiền tăng. Khi Lệ Ngạc soạn “Tống Thi Kỷ Sự”, phần lớn trích tư liệu từ sách này. ● 囉 囉 哩.Lời cảm thán dùng trong thi ca ngâm vịnh để điều chỉnh tiết tấu hoặc bổ túc âm tiết, mang sắc thái khẩu ngữ. Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “薄 福 住 楊 歧、年 來 氣 力 衰。寒 風 凋 敗 葉、猶 喜 故 人 歸。囉 囉 哩、拈 上 死 柴 頭、且 向 無 煙 火。 – Sư thượng đường: Phúc mỏng trụ Dương Kỳ.Mấy năm nay sức suy. Gió Đông tỉa trụi lá. Vui thấy bạn cũ về. La la lý! Giơ lên khúc củi khô, rốt cuộc không lửa khói”. ● 羅 龍 打 鳳.Bủa lưới đón rồng bắt phụng, ý nói khống chế người khác. Tiết Tuyết Phong Huệ Thiền Sư trong NGCTT q.4 ghi: “羅 龍 打 鳳、藕 絲 网 密 布 縵 天。獵 兔 射 麞、蒿 枝 箭 硬 教 中 的。 – Bủa lưới đón rồng bắt phụng, lưới tơ sen giăng dày đặc bầu trời. Săn thỏ bắn hoẵng, bẫy nhạy phải đặt đúng cách, tên nhọn phải bắn cho trúng đích”. ● 羅 籠.Bao phủ, trói buộc, khống chế. Mật Am Ngữ Lục ghi: “不 被 世 間 出 世 間 法 羅 籠 得 住。 – Chẳng bị pháp thế gian, xuất thế gian trói buộc”. Hoặc: “千 人 萬 人 羅 籠 不 住。 – Ngàn người muôn người khống chế chẳng nổi”. ● 羅 浮.Vốn chỉ cho La Sơn và Phù Sơn ở Quảng Đông. Là núi tiên trong truyền thuyết thần thoại, về sau chỉ chung cho thắng cảnh núi tiên. “Huệ Trung truyện” trong TCTT q. 9 ghi: “Diệc khả La Phù bất qui, phương danh yến toạ; Song Phong trường vãng, thỉ khế vô sinh giả tai. – La Phù cũng không trở về mới gọi là ngồi an nhàn; Song Phong thường tới lui mới khế hợp vô sinh.” ● 羅 浮 山.Còn gọi: Đông Tiêu Sơn, cùng với Tây Tiêu Sơn ở huyện Nam Hải danh tiếng ngang nhau. Núi ở phía tây bắc huyện Bắc La tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Núi có 432 ngọn, nổi tiếng đẹp đẽ lạ thường. Thời Lương Nam Triều, Trí Ước sáng lập chùa Bảo Tích. Ngoài ra còn có các chùa Diên Tường, Nam Lâu, Long Hoa, Tư Phúc, Hoa Thủ, Hoa Nghiêm, Đại Từ, Diên Khánh, các bậc danh tăng Thiền Tông nhiều đời như Hy Thiên, Duy Nghiễm, Đại Điên, Hạnh Minh từng trụ tích nơi này. Đạo giáo gọi núi này là “Đệ Thất Động Thiên”, “Đệ Tam Thập Nhị Nguyên Phúc Địa”. ● 羅 貴 (852-936). Thiền tăng thời Bắc thuộc, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Thông Biện. Sư họ Đinh, quê ở An Chân (tức làng Phù Ninh, huyện Từ Sơn, tỉnh Hà Bắc ngày nay) miền Bắc Việt Nam. Sư trụ trì chùa Song Lâm, làng Phù Ninh, phủ Thiên Đức. Sư là người thấu suốt thuật phong thủy và sấm vĩ học, lúc trồng cây Miên (để trấn chỗ Cao Biền đào đứt long mạch), sư có làm bài kệ: “Đại sơn đầu rồng dấy, đuôi to ẩn Chu Minh Thập bát tử định thành, cây gạo hiện hình rồng Thỏ gà trong tháng chuột, quyết thấy mặt trời lên”. ● 羅 齋.Còn gọi: Thác bát, Hành khất, Khất thực. Có 2 nghĩa: ― Đi bốn phương khất thực, tiếp nhận thức ăn của thí chủ cúng dường. ― Đạo sĩ tăng nhân lập hội chúng, đợi người mời gọi để thiết trai. ● 落 半 途.Còn gọi: Lạc đồ trung. Bị kẹt ở nửa đường. Thiền pháp cần phải lập tức lãnh ngộ, không có trình tự thứ lớp, bị kẹt ở nửa đường chẳng phải thật ngộ.Tiết Nghệ ngôn trong NHQL q.29 ghi: “參 禪 須 是 參 無 義 句、不 可 參 有 義 句。從 有 義 句 入 者、多 落 半 途。從 無 義 句 入 者、始 可 到 家。 – Tham thiền cần phải tham câu vô nghĩa, không nên tham câu có nghĩa lý.Vì người tham câu có nghĩa lý phần lớn bị kẹt ở nửa đường, còn người tham câu vô nghĩa mới đến được nhà”. ● 落 根 塵.Rơi vào tình thức tục trần. Tiết Nghệ ngôn trong NHQL q.29 ghi: “參 禪 不 管 有 義 句、無 義 句、貴 在 我 不 在 義 路 上 著 倒 而 已。如 「靈 光 獨 露、迴 脫 根 塵」 此 百 丈 有 義 句 也。汝 能 識 得 這 獨 靈 的 否?汝 才 要 識 得、早 落 根 塵 了 也。 – Tham thiền chẳng quản đến câu có nghĩa, câu vô nghĩa, quý ở chỗ mình không chấp trước nghĩa lý mà thôi. Như câu “Linh quang riêng chiếu, vượt khỏi căn trần” của ngài Bách Trượng là câu có nghĩa. Ngươi biết được cái linh quang này chăng? Ngươi vừa muốn biết, đã sớm rơi vào tình thức tục trần rồi vậy”. ● 落 虛.Giả dối, giả mạo. Tiết Phật Quả Viên Ngộ Cần Thiền Sư trong GTPĐL q.25 ghi: “五 祖 老 師 平 生 孤 峻 少 許 可、干 嚗 嚗 地 壁 立、只 靠 此 一 著。常 自 云 如 倚 一 座 須 彌 山、豈 可 落 虛 弄 滑 頭 瞞 人? – Suốt đời Ngũ Tổ lão sư nghiêm ngặt ít hứa khả cho ai, lạnh lùng như bức vách, chỉ dựa vào thủ đoạn này. Thường tự bảo như tựa vào tòa núi Tu Di, đâu dám giả dối khua môi múa mép để gạt người?”. ● 落 二 落 三.Rơi vào thứ hai thứ ba. Nhà Thiền cho rằng Thiền pháp là pháp thứ nhất, chỉ có một pháp, rơi vào thứ hai thứ ba chẳng phải thiền pháp. Phương Hội Ngữ Lục trong CTTNL q.19 ghi: “淨 行 大 師 白 槌 云:法 筵 龍 象 眾、當 觀 第 一 義。師 云:大 眾、早 是 落 二 落 三 了 也、諸 人 何 不 負 丈 夫 之 气?若 不 然 者、有 疑 請 問。 – Tịnh Hành Đại sư bạch chùy rằng: Pháp hội chúng long tượng nên quán nghĩa thứ nhất. Sư nói: Đại chúng, sớm đã rơi vào nghĩa thứ hai, thứ ba rồi, các vị sao không mang lấy chí trượng phu? Nếu không phải thế, có nghi xin hỏi”. ● 落 三 落 四.Rơi vào thứ ba thứ tư. Thiền pháp là nghĩa thứ nhất, chỉ có một pháp, rơi vào thứ ba thứ tư đã chẳng phải là thiền pháp và cách thiền pháp càng xa. Thung Dung Am Lục q.1: “諸 人 未 到 法 堂、萬 松 未 出 方 丈、向 那 時 薦 得、已 是 落 三 落 四 了 也。 – Các vị chưa đến pháp đường, Vạn Tùng chưa ra khỏi phương trượng, nếu khi ấy lãnh hội được, đã là rơi vào thứ ba thứ tư rồi”. ● 落 盡 眉 毛.Nếu thiền gia hạ ngữ mà chưa hợp tông chỉ, chẳng khế với cơ phong thì được gọi là Lạc tận my mao (Rụng hết lông mày). Đây là lời phê bình. Mật Am Ngữ Lục ghi: “進 云:應 庵 道:兩 箇 漆 桶。失 卻 鼻 孔。。。。進 云:應 菴 只 知 他 人 失 卻 鼻 孔。不 知 自 家 落 盡 眉 毛。師 云:那 裹 是 他 落 盡 眉 毛 處。 – Tiến nói: ứng Am bảo: Hai cái thùng sơn, mất quách cái lỗ mũi. Lại làm sao?…… Tiến nói: ứng Am chỉ biết người khác mất đi lỗ mũi, mà chẳng biết nhà mình rụng hết lông mày. Sư nói: Chỗ nào là chỗ ông ta rụng hết lông mày?”. ● 落 草 談.Lời nói quanh co. Lời bàn luận không đạt cứu cánh, thường rơi vào nghĩa thứ hai. Lời này được nói ra bởi tâm từ bi muốn tiếp hóa người học. ● 落 草 漢.Vốn có nghĩa là đồ lục lâm (kẻ cướp ở rừng). Thiền Tông mượn để chỉ cho gã tăng quèn. Tắc 53, Bích Nham Lục (Đại 48, 187 hạ) ghi: “馬 大 師 與 百 丈 行 次、見 野 鴨 子 飛 過。(兩 箇 落 草 漢、草 裏 輥、驀 顧 作 什 麼) – Mã Đại sư cùng Bách Trượng đang đi, thấy bầy vịt trời bay qua. (Hai gã tăng quèn lăn trong cỏ chợt nhìn lại để làm gì?” ● 落 唇 吻.Rơi vào lời nói giảng thuyết. Tiết Long Hoa Hiểu Ngu Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “不 落 唇 吻 一 句、作 麼 生 道? – Chẳng rơi vào một câu giảng thuyết, làm sao nói?”. ● 落 便 宜.Bị tổn thất, chịu thiệt, bất lợi. Tiết Ngũ Tiết sơn Linh Mặc Thiền Sư trong LĐHY q.4 ghi: “臨 濟 雖 是 得 便 宜、卻 是 落 便 宜。 – Lâm Tế tuy là được tiện lợi, nhưng là bất lợi”. ● 落 節.Bị thua, chịu thiệt. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “昨 日 那 裏 落 節、今 日 者 裏 拔 本。 – Hôm qua ở đó bị thua, hôm nay ở đây gỡ lại vốn”. ● 落 著.Rơi vào, thuộc về.Tiết Thị Giác Thiền nhân trong Mật Am Ngữ Lục ghi: “務 要 與 生 死 兩 字 作 頭 底。直 截 荷 負。跳 出 斷 常 窠 臼。識 得 祖 父 田 園 落 著。收 拾 契 券 一 一 分 曉。不 被 他 人 侵 疆 犯 界。 – Việc cần làm là đặt hai chữ sinh tử lên hàng đầu, lập tức gánh vác, nhảy ra khỏi hang ổ đoạn thường. Biết được ruộng vườn của ông cha thuộc về chính mình, thu thập từng tờ bằng khoán cho rõ ràng để không bị người khác giành bờ lấn ranh”. ● 落 文 杉.Câu nệ vào việc trau chuốt lời nói, câu văn. Tiết Nghệ ngôn trong NHQL ghi: “少 室 心 印、豈 落 文 彩?古 人 聊 爲 接 引 之 計、始 掛 唇 吻、然 皆 渾 朴 簡 直、刻 的 示 人。非 夸 會 逞 能、外 飾 觀 美 而 已 也。 – Tâm ấn của Thiếu Thất, há câu nệ vào việc trau chuốt lời nói câu văn. Người xưa tạm vì kế tiếp dẫn mới dùng lời nói, nhưng đều hồn hậu chất phác, ngắn gọn, chuẩn xác và trong sáng để dạy người chứ chẳng phải khoe hay bày khéo, trang sức bề ngoài cho đẹp mà thôi”. ● 落 處.Cứu cánh. Bích Nham Lục q.9 (Đại 48, 212 thượng) ghi: “釋 迦 自 釋 迦。彌 勒 自 彌 勒。未 知 落 處 者。往 往 喚 作 藥 病 相 投 會 去。 – Thích Ca tự Thích Ca, Di Lặc tự Di Lặc, người chưa biết cứu cánh, thường bảo thuốc bệnh hợp nhau”. ● 2.Ý. Bích Nham Lục q.1 (Đại 48, 143 thượng) ghi: “且 道:雪 竇 語 落 在 什 麼 處?須 是 自 家 退 步 看 方 始 得 他 落 處。 – Hãy nói lời của Tuyết Đậu, ý tại chỗ nào? Phải trở về nhà mình mới có thể biết được ý của sư”. ● 落 意.Gọi đủ: Lạc ý tứ.Sa vào khái niệm, ý nghĩa. Tiết Bạch Thủy Bản Nhân Thiền Sư trong NĐHN q.32 ghi: “曰:此 人 意 作 麼 生?師 曰:此 人 不 落 意。 – Hỏi rằng: Ý người này ra sao? Sư đáp: Người này chẳng sa vào khái niệm, ý nghĩa”. ● 來.1. Từ trước đến nay, Tiết Long Đàm Hòa Thượng trong TĐT q.5 ghi: “師(問 尼 僧)曰:汝 作 尼 來 多 小 時? – Sư hỏi ni cô: Ngươi làm ni cô từ trước đến nay bao lâu rồi?” ● 2. Đặt ở cuối câu, biểu thị hành vi động tác đã từng xuất hiện. Mật Am Ngữ Lục ghi: “他 曾 見 保 寧 勇、眞 净 倍 來。 – Ông ta đã từng gặp Bảo Ninh Dũng, Chân Tịnh Bối rồi.” ● 3. Đặt ở cuối câu, biểu thị ngữ khí nghi vấn. Tiết Pháp Xúc Thượng tọa trong NĐHN q.19 ghi: “師 曰:某 祇 將 華 插 香 爐 中、和 尚 自 疑 有 甚 麼 事 來? – Sư nói: Ta chỉ đem hoa cắm vào lò hương, Hòa Thượng nghi ngờ chuyện gì nhỉ?” ● 來 機.Chỉ cho hàng học nhân đến tham học. Những người đến chỗ Thiền Sư tham lễ, căn cơ của họ có thượng, trung, hạ sai khác, vì thế Thiền Sư cũng phải tùy theo căn cơ đó mà chỉ dạy giáo pháp không đồng. Cho nên riêng dùng chữ Lai Cơ để gọi học nhân. Lại nữa, học nhân không đồng căn cơ thì gọi là Lai cơ kính đình. Tắc 2, Thung Dung Lục (Đại 48, 228 hạ) ghi: “廓 然 無 聖、來 機 逕 庭。 – Rỗng rang không Thánh, căn cơ khác nhau”.Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 來 由.Chỉ cho sự thể ngộ đối với thiền pháp. Chương Ngũ Tiết Hòa Thượng trong TĐT q.15 ghi: “大 師 云:此 去 七 百 里、有 一 禪 師 乎 爲 南 嶽 石 頭。汝 若 到 彼 中、必 有 來 由。 – Đại sư nói: Cách đây bảy trăm dặm có một Thiền Sư gọi là Nam Nhạc Thạch Đầu. Nếu ngươi đến đó ắt sẽ thể ngộ thiền pháp.” ● 來 复 (1319-1391).Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Vương, tự Kiến Tâm, hiệu Bồ Am, Trúc Đàm Tẩu, người xứ Phong Thành (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Năm 1342, cạo tóc làm tăng, sư lễ Thiền Sư Nam Sở Sư Duyệt ở Song Kính làm thầy. Ít lâu sau sư được ấn chứng nối pháp Ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư từng trụ các chùa: Thiên Ninh ở huyện Ngân, chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu. Vào khoảng 1368-1398), sư 2 lần đến Nam Kinh, thuyết pháp tại cung đình. Hai vị Vương xứ Thục và xứ Tấn theo sư thưa hỏi tâm yếu, đều có chỗ khế hợp. Hàng công khanh tiếng tăm đều có theo học với sư. Tác phẩm: Bồ Am Tập. ● 來 果 (1881-1953).Thiền tăng hiện đại, họ Lưu, hiệu Tịnh Như, pháp danh Diệu Thọ, người xứ Hoàng Cương, Hồ Bắc, Trung Quốc. Năm 1905, sư đến núi Phổ Đà triều bái, tự mình xuất gia rồi đến núi Bảo Hoa thụ giới cụ túc. Năm 1907, sư đến chùa Kim Sơn tập tham thiền, lấy ngộ làm kỳ hạn, không ngộ thề không ra khỏi thiền đường. Sư tham câu “Người niệm Phật là ai?”. Buổi chiều ngày 26 tháng 9 năm 1907, sau cây hương thứ 6, sư nghe tiếng bảng xả thiền, bỗng tỉnh ngộ. Sau đó, sư trụ trì chùa Cao Mân. Sau thời gian làm Ban thủ, sư ẩn nơi động Tương Tử trong núi Chung Nam. Năm 1915 trở về chùa Cao Mân và được Trưởng lão Nguyệt Tổ truyền pháp, tiếp nối trụ trì. Sư chỉnh trị quy củ và chế định “Cao Mân tự quy ước”. ● 賴.May mà, may phúc. Tiết Thần Đảnh Hồng Yên Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “貪 瞋 痴、太 無 知、賴 我 今 朝 識 得 伊。 – Tham sân si, rất vô tri, may mà sáng nay tôi biết được y”. ● 懶 庵.Hiệu của Thiền tăng Diên Tuấn đời Nguyên. X. Diên Tuấn. ● 懶 安.Hiệu của Thiền tăng Đại An đời Đường. X. Đại An. ● 懶 瓚.Thiền tăng Minh Toản đời Đường không chịu lao động nên người đời gọi là Lại Toản (Toản lười). X. Minh Toản. ● 雲.Hiệu của Thiền tăng Trí An đời Minh. X. Trí An. ● 藍 鑱.Tướng mạo khó coi. Tiết Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư trong NĐHN q.19 ghi: “有 箇 漢、怪 復 醜、眼 直 鼻 藍 鑱、面 南 看 北 斗。 – Có một kẻ quái dị lại xấu xí, tướng mạo khó coi, mặt xoay hướng nam mà nhìn sao bắc đẩu.” ● 攔.Nhằm vào, hướng về. Vô Môn Quan ghi: “路 逢 達 道 人、不 將 語 默 對、攔 腮 劈 面 拳、直 下 會 便 會。 – Trên đường gặp người đạt đạo, chớ đem nói nín đáp. Nhằm vào mặt cho một đấm, tức thì nếu hội liền hội.” ● 爛 柯.Mục cán búa. Sách Thuật Dị chép: Vương Chất đời Tấn vào núi hái củi, thấy hai cậu bé đánh cờ liền đứng xem. Ván cờ xong thì cán búa của Chất đã mục. Nhân đó, người ta đặt tên núi là Lạn Kha, ý chỉ chốn thần tiên ở. Tắc 57, Thung Dung Lục (Vạn Tục 117, 361 thượng) ghi: 不 方 細 行 輸 先 手 自 覺 麤 心 愧 撞 頭 局 破 腰 間 斧 柯 爛 洗 清 凡 骨 共 仙 游 “Bất phương tế hạnh thâu tiên thủ Tự giác thô tâm quý tràng đầu Cục phá yêu gian phủ kha lạn Tẩy thanh phàm cốt cộng tiên du”. “Chẳng ngại tế hạnh kém người xưa Tự biết tâm thô thẹn (với) Thánh hiền Mới nửa ván cờ rìu đã mục Cốt phàm tẩy sạch hóa thành tiên”. ● 郎.Ông chủ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “奴 郎 不 辨 賓 主 不 分。 – Tớ chủ chẳng rõ, khách chủ chẳng phân”. ● 瑯 琊 山 覺 和 尚 語 錄. Gọi đủ: Trừ Châu Lang Da Sơn Giác Hòa Thượng Ngữ Lục. Còn gọi: Lang Da Giác Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Lang Da Huệ Giác soạn vào đời Tống, đệ tử là Nguyên Tụ biên tập, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục quyển 46 và Tục Tạng Kinh tập 118, trang 774. Nội dung gồm có những lời thị chúng, Thượng đường, Tiểu tham, Niêm cổ của ngài Huệ Giác. ● 郎 當.Nói năng lôi thôi, lải nhải. Vô Môn Quan ghi: “達 磨 西 來、不 執 文 字、直 指 人 心、見 性 成 佛、說 箇 直 指、已 是 迂 曲、更 言 成 佛、郎 當 不 少。 – Đạt Ma từ phương Tây đến, chẳng chấp văn tự, chỉ thẳng tâm người, kiến tính thành Phật. Nói chỉ thẳng đã là quanh co rồi còn nói thành Phật thật là lải nhải chẳng ít”. ● 郎 幕.Chức phó quan phụ trách về hành chính có liên quan đến việc quân sự. Tiết Bách Nham Minh Triết Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “洞 山 與 密 師 伯 到 參、師 問:二 上 座 甚 處 來?山 曰:湖 南。師 曰:觀 察 使 姓 甚 麼?曰:不 得 姓。師 曰:名 甚 麼?曰:不 得 名。師 曰:還 治 事 也 無?曰:自 有 郎 幕 在。 – Động Sơn cùng Mật Sư Bá trở lại tham vấn Thiền Sư Minh Triết. Sư hỏi: Hai thượng tọa từ đâu đến? Sơn đáp: Hồ Nam. Sư bảo: Quan sát sứ họ gì? Đáp: Không có họ. Sư hỏi: Tên là gì? Đáp: Không có tên. Sư hỏi: Có giải quyết công việc được không? Đáp: Tự có phó quan rồi”. ● 郎 忙.Vội lấy. Vô Môn Quan ghi: “龍 潭 大 似 憐 兒 不 覺 醜、見 他 有 些 子 火 種、郎 忙 將 惡 水 驀 頭 一 澆 澆 殺 。 – Long Đàm thực như người thương con không sợ dơ xấu, thấy kẻ kia có đôi chút lửa, vội lấy nước dơ dập tắt liền”. ● 榔 票.Chỉ cho chiếc gậy thiền tăng hay dùng. Lang tiêu là tên một loại gỗ có thể làm thành chiếc gậy. Tiết Tuyết Phong Đạo Viên Thiền Sư trong NĐHN q.17 ghi: “一 條 榔 票 任 縱 橫。 – Một chiếc gậy mặc tình tung hoành.” ● 榔 票 橫 擔.Chỉ cho tăng nhân đi hành cước. Tiết Tây Thiền Thủ Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “問:古 佛 堂 前、甚 麼 人 先 到?師 曰:無 眼 村 翁。曰:未 審 如 何 趣 向? 師 曰:楖 栗 橫 擔。 – Hỏi: Trước cổ Phật đường người nào đến trước? Sư nói: Già làng không có con mắt. Hỏi: Chẳng biết làm sao tiến tới? Sư nói: Hãy vác gậy hành cước đi!” ● 榔 票 未 擔.Chỉ cho trước khi đi hành cước. Tiết Thiên Đồng Phổ Giao Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “師 凡 見 僧 來、必 叱 曰:楖 栗 未 擔 時、爲 汝 說 了 也。 – Hễ sư thấy tăng đến, ắt mắng rằng: Trước khi đi hành cước ta đã nói với ngươi rồi!” ● 浪.Rỗng, uổng phí. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “忽 爾 三 寸 氣 斷、眼 光 落 地、百 骸 既 散、萬 事 俱 休、一 箇 游 魂、隨 業 受 報、豈 不 是 虛 生 浪 死、甘 受 輪 回 者 哉? – Chợt ba tấc hơi dứt, ánh mắt rơi xuống đất, xương cốt rã rời, mọi việc đều ngưng, một cái du hồn theo nghiệp thọ báo, há chẳng phải là sống rỗng chết uổng cam chịu luân hồi sao?” ● 閬 〖⿱艹碭〗 拾 花 針.Lãng đãng là một loại thuốc độc, kẻ nào uống phải thì mắt nhìn thấy những ảo ảnh của kim và hoa, từ này dụ cho nhận giả làm thật, làm chuyện uổng công. Tiết Tịnh Từ Ngạn Sung Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “三 世 諸 佛、無 中 說 有、閬 〖⿱艹碭〗 拾 花 針。六 代 祖 師、有 裡 尋 無、猿 猴 探 水 月。 – Chư Phật ba đời trong không nói có, như uống thuốc độc nhặt hoa châm. Tổ sư sáu đời trong có tìm không, như khỉ mò trăng đáy nước.” ● 朗 輝 事 (1845-1910).Thiền tăng đời Thanh, họ Xử, tên Sự, tự Lãng Huy, người xứ Vĩnh Gia (Ôn Châu, Chiết Giang). Nối pháp Thiền Sư Đức Từ Diễn, đời thứ 47 hệ Nam Nhạc.Trụ trì chùa Thiên Mân, Giang Đô. Có Ngữ Lục truyền lại đời. 1. Thống lãnh, chủ trì.Tiết Khai Thiện Đạo Khiêm Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “後 隨 妙 喜 庵 居 泉 南、及 喜 領 徑 山、師 亦 侍 行。 – Về sau, sư theo ngài Diệu Hỷ ở am tại Tuyền Nam, và khi Hỷ chủ trì Kính Sơn, sư cũng đi theo”. ● 2. Đảm nhận, tiếp thu. Tiết Thượng Phong Bản Tài Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “師 因 疑 之、遂 發 心 領 淨 頭 職。 – Do sư nghi ngờ việc ấy liền phát tâm đảm nhận chức Tịnh đầu”. ● 冷 噤 噤.Run lẩy bẩy, dáng điệu sợ hãi phát run, chẳng dám mở miệng. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “瞎 屡 生。爾 一 生 只 作 這 箇 見 解。辜 負 這 一 雙 眼。冷 噤 噤 地。如 凍 凌 上 驢 駒 相 似。 – Đồ ngu si! Cả đời ngươi nếu có kiến giải này thì cô phụ đôi mắt của ngươi, run lẩy bẩy như ngựa lừa đi trên băng mỏng”. ● 領 旨.Lãnh ngộ thiền chỉ. Tiết Linh Nham Trọng An Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “後 謁 圓 悟 於 蔣 山、時 佛 性 爲 座 元、師 扣 之、即 領 旨。 – Về sau, sư yết kiến Viên Ngộ ở Tưởng Sơn; khi ấy Phật Tính đang làm Tọa nguyên, sư thưa hỏi ông ta, liền lãnh ngộ thiền chỉ”. ● 領 眾.Dẫn đầu chư tăng, thống lãnh tăng chúng. Tông Môn Võ Khố ghi: “(福 巖 賓 和 尚)首 造 洞 山、室 中 相 契、眞 淨 舉 領 眾 立 僧。 – (Phúc Nham Tân Hòa Thượng) ban đầu đến Động Sơn, khế hợp nhau trong thất, ngài Chân Tịnh cử sư làm Thủ tọa dẫn đầu chư tăng”. ● 冷 地 里 學 客 舂.Bắt chước theo người làm công quả. Lãnh địa: Nơi vắng vẻ. Khách thung: Chỉ cho Lục tổ Huệ Năng giã gạo 8 tháng nơi Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở núi Hoàng Mai. Cả câu có nghĩa: ở nơi vắng vẻ bắt chước Lục Tổ làm công quả. Tiết Sở Thạch Kỳ Thiền Sư thị chúng trong ThQST ghi: “反 之、禪 者 若 不 知 依 義 理 而 修 行、不 去 理 會 本 分 事、究 明 本 來 面 目、冷 地 里 學 客 舂、而 一 心 指 望 求 得 福 慧、消 除 業 障、則 離 眞 正 之 佛 道 尚 遠。 – Trái lại, nếu thiền giả không biết ý theo nghĩa lý mà tu hành, không để ý đến bản phận sự, không tham cứu cho rõ bản lai diện mục, mà chỉ bắt chước theo người làm công quả và một lòng mong cầu phúc huệ, tiêu trừ nghiệp chướng thì vẫn còn xa lìa Phật đạo chân chính”. ● 冷 齋 夜 話.Sách, 10 quyển, do Huệ Hồng soạn vào đời Tống. Sách này tạp ghi về những điều thấy nghe, phần lớn là bàn luận về thơ. Tác giả ghi lại mối quan hệ giữa Thiền cùng thơ ca, thể hiện sự tương quan mật thiết giữa Phật giáo và văn học. Sách này văn chương trong sáng, đậm đà thiền vị, có bản in của Trung Hoa Thư Cục. ● 牢 强.Kiên cường, kiên định.Uyển Lăng Lục ghi: “問 、何 者 是 精 進。師 云、身 心 不 起、是 名 第 一 牢 強 精 進。 – Hỏi: Thế nào là tinh tấn? Sư nói: Không để ý tới thân tâm, đây là tinh tấn kiên cường hạng nhất.” ● 牢 落.Khó khăn, chán nản. Tông Môn Võ Khố ghi: “大 丞 相 呂 公 蒙 正。洛 陽 人。微 時 生 緒 牢 落。大 雪 彌 月。遍 干 豪 右 少 有 周 急 者。 – Đại Thừa tướng Lữ Mông Chính, quê ở Lạc Dương, thuở hàn vi cuộc sống khó khăn. Suốt cả tháng tuyết rơi nhiều, ông đến khắp nhà bạn bè giàu có nhưng ít có ai chu cấp.” ● 勞 勞.Bận rộn, vất vả. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “勞 勞 世 務 逐 浮 沉。一 性 澄 明 亙 古 今。 – Vất vả việc đời theo chìm nổi, một tính sáng ngời từ xưa nay.” ● 勞 侶.Chỉ cho người tùng sự tạp dịch trong tự viện. Tiết Tướng quốc Bùi Hưu cư sĩ trong NĐHN q.4 ghi: “運(指 希 運)禪 師 初 於 嶺 南 黃 檗 山 捨 眾 入 大 安 精 舍、混 跡 勞 侶、掃 灑 殿 堂。 – Thiền Sư Hy Vận ban đầu ở núi Hoàng Bá thuộc Lĩnh Nam bỏ chúng mà vào tinh xá Đại An, che giấu tông tích làm lao lữ quét dọn điện đường.” ● 勞 生.1. Cuộc sống vất vả. Tiết Khô Mộc Thành Thiền Sư trong GTPĐL q.26 ghi: “Trần thế lao sinh tảo vãn hưu? Tùy ba trục lãng mạn du du.Như kim lâm hạ an thiền khách, kỷ cá vô tâm đắc đáo đầu? – Trần thế lao sinh khi nào ngừng? Theo mòi đuổi sóng mãi lênh đênh. Hôm nay dưới cội làm thiền khách, mấy kẻ vô tâm được như vầy?” ● 2. Chúng sinh lao khổ. Tiết Vân Cư Liễu Nguyên Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “十 方 諸 佛 各 坐 其 前、常 爲 勞 生、演 說 大 法。 – Mười phương chư Phật đều ngồi trước mặt thường vì chúng sinh lao khổ diễn nói đại pháp.” ● 牢 辭.Kiên quyết từ chối. Tiết Thạch Sương Khánh Chư Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “唐 僖 宗 聞 師 道 譽、賜 紫 衣、師 牢 辭 不 受。 – Vua Đường Hy Tông nghe đạo hạnh của sư bèn ban cho tử y, sư kiên quyết từ chối không nhận.” ● 老 安 國 師.X. Huệ An. ● 老 婆 心.Tấm lòng từ bi của bà già, chỉ cho sự tận tình khuyên bảo, hướng dẫn người học để giúp họ lãnh ngộ. Việc làm này không hợp với nguyên tắc mà nhà thiền cung cấp như: Chẳng lập văn tự, đốn ngộ tự tâm… CĐTĐL q.21 ghi: “問:學 人 根 思 遲 回、乞 師 曲 運 慈 悲、開 一 綫 道! 師 曰:這 箇 是 老 婆 心。 – Vị tăng hỏi: Học nhân căn tính chậm chạp, xin Sư từ bi phương tiện mở ra một con đường! Sư nói: Cái này là lão bà tâm.” ● 老 婆 心 切.Nghĩa là lòng từ bi tha thiết của Thiền Sư, thường dùng ngôn cú để khải phát người học tỉnh ngộ. Vô Môn Quan ghi: “達 磨 西 來、不 執 文 字、直 指 人 心、見 性 成 佛、說 箇 直 指、已 是 迂 曲、更 言 成 佛、郎 當 不 少。既 是 無 門、因 甚 有 關、老 婆 心 切、惡 聲 流 布。 – Đạt Ma từ ấn Độ sang không chấp vào văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật. Nói chỉ thẳng đã là quanh co rồi; còn nói thành Phật thì càng thêm lải nhải. Đã là vô môn thì nhân đâu có cửa vào, lòng từ bi tha thiết tiếng xấu lưu truyền.” ● 老 婆 禪.Loại Thiền có cách thức dạy người rất thân thiết, dặn dò người học nhiều lần. Từ ngữ này hàm ý chê bai. Phần Khám Biện trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 503 trung) ghi: “普 化 以 手 指 云:河 陽 新 婦 子。木 塔 老 婆 禪。臨 濟 小 厮 兒。却 具 一 隻 眼。 – Phổ Hóa lấy tay chỉ và nói: Hà Dương là cô dâu, Mộc Tháp lão bà thiền, Lâm Tế đứa ở đợ có đủ 1 con mắt”. Ngoài ra, trong Nguyên Khúc, có câu nói trong mộng của Đông Pha: “Cát đằng cắt đứt lão bà thiền”. ● 老 婆 說 話.Lòng dạ từ bi nói lắm điều.Vân Môn Quảng Lục q. thượng: “上 堂 云。我 共 汝 平 展 遇 人 識 人。與 麼 老 婆 說 話。尚 自 不 會。每 日 飽 飯 喫 了。上 來 下 去 覓 什 麼 碗。這 野 狐 隊。仗 向 這 裡 作 什 麼。以 拄 杖 一 時 趁 下。 – Sư thượng đường nói: Ta với ngươi bình đẳng, gặp người biết người. Tại sao ta vì lòng từ bi nói lắm điều mà ngươi tự mình không hiểu, mỗi ngày ăn no đi ra lại đi vào tìm kiếm cái bát gì! Một lũ chồn tinh này nương tựa nơi đây để làm gì! Sư lấy gậy cùng một lúc đuổi hết ra ngoài.” ● 老 古 鎚.Còn gọi: Cổ Chuỳ Thiền. Cái dùi được trui già, chỉ Thiền Sư Già có cơ phong sắc bén. Tiết Vân Am Văn Thiền Sư trong GTPĐL q.26 ghi: “舉:三 聖 道:我 逢 人 即 出、出 則 不 爲 人。興 化 道:我 逢 人 即 不 出、出 則 便 爲 人。師 曰:看 者 兩 箇 老 古 鎚、窃 得 臨 濟 些 子 活 計、各 自 分 疆 列 界、氣 冲 宇 宙。 – Nêu công án, Tam Thánh nói: Ta gặp người thì đưa ra, đưa ra tức là không vì người. Hưng Hóa nói: Ta gặp người thì chẳng đưa ra, đưa ra tức là vì người. Sư nói: Nhìn xem hai lão Thiền Sư cơ phong sắc bén này trộm được chút ít gia sản của Lâm Tế rồi tự chia cương giới, khí thế xông khắp vũ trụ.” ● 老 機 緣.Từ để gọi các Thiền Sư già tinh tường về cơ phong. Tiết Phù Sơn Pháp Viễn Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “文 中(即 歐 陽 修)加 嘆、從 容 謂 同 寮 曰:修 初 疑 禪 語 爲 虛 誕、今 日 見 此 老 機 緣、所 得 所 造、非 悟 明 於 心 地、安 能 有 此 妙 旨 哉! – Văn Trung (tức Âu Dương Tu) càng xuýt xoa, thong thả bảo người bạn đồng liêu rằng: Tôi ban đầu còn nghi việc ngộ thiền là lời nói dối. Hôm nay xem thấy sở đắc của lão cơ duyên này (chỉ Thiền Sư Pháp Viễn), nếu chẳng ngộ minh tâm địa, đâu thể có được diệu chỉ này”. ● 老 野 狐.Con cáo già. Lời mắng đối với lão Thiền Sư. Tiết Đại Điên Bảo Thông Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “一 日、將 痒 和 子 廊 下 行、逢 一 僧 問 訊 次、師 以 痒 和 子 驀 口 打 曰:會 麼?曰:不 會。師 曰:大 顛 老 野 狐、不 曾 孤 負 人。 – Một hôm sư đang cầm đồ gãi ngứa đi dưới hành lang, gặp một ông tăng chào hỏi, sư lấy đồ gãi ngứa đánh vào miệng ông tăng, hỏi: Hiểu chăng? Tăng thưa: Không hiểu. Sư nói: Con cáo già Đại Điên này chưa từng cô phụ người.” ● 大 蟲.Con cọp già.Dụ cho lão Thiền Sư tinh thông về cơ phong. Tông Môn Võ Khố ghi: “圓 悟 謂 二 老 曰。他(指 法 演 和 尚)大 段 會 說。我 輩 說 時 費 多 少 工 夫。他 秖 一 兩 句。便 了 分 明。是 箇 老 大 蟲。 – Viên Ngộ nói với Nhị Lão rằng: Ông ta (chỉ Hòa Thượng Pháp Diễn) quả thực biết ăn nói, còn bọn ta khi nói phí biết bao công phu! Ông ta chỉ cần một hai câu là xong, đúng là con cọp già.” ● 老 倒.Già yếu. Tiết Phong Huyệt Diên Chiểu Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “少 年 曾 決 龍 蛇 陣、老 倒 還 聽 稚 子 歌。 – Thiếu niên từng quyết định trận long xà, khi già yếu còn nghe bài ca trẻ con.” ● 老 凍 齈.Lão già mũi dãi lòng thòng, hiểu rộng ra là Lão già trẻ nít, Lão già ngây ngô.Lời mắng yêu các vị Thiền Sư Già. Tiết Liên Châu Bảo Hoa Hòa Thượng trong NĐHN q.15 ghi: “因 有 僧 問 大 容 曰:天 賜 六 銖 披 掛 後、將 何 報 荅 我 皇 恩。容 曰:來 披 三 事 衲、歸 掛 六 銖 衣。師 聞 之、乃 曰:這 老 凍 齈 作 恁 麼 語 話。 – Nhân có vị tăng hỏi ngài Đại Dung rằng: Sau khi vua ban cho cái áo 6 thù, sư lấy gì để báo đáp Hoàng ân? Dung đáp: Khi đến mặc áo 3 sự thanh tịnh, lúc về treo áo 6 thù. Sư nghe nói, liền bảo: Lão già mũi dãi lòng thòng này nói cái gì thế?”. ● 老 劉.Thiền tăng Chi Thiện đời Tống về già không bao giờ xuống núi, ngày đêm đóng cửa ngồi thiền. Bởi sư họ Lưu nên tùng lâm tôn xưng sư là Lão Lưu. X. Chi Thiện. ● 老 魔 王.Lời mắng các vị Thiền Sư già. Tiết Tịnh Từ Ngạn Sung Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: 南 山 有 箇 老 魔 王 炯 炯 雙 眸 放 電 光 口 似 血 盆 呵 佛 祖 牙 如 劍 樹 罵 諸 方 “Nam Sơn hữu cá lão ma vương Quýnh quýnh song mâu phóng điện quang Khẩu tợ huyết bồn ha Phật Tổ Nha như kiếm thọ mạ chư phương”. “Nam Sơn có một lão ma vương Đôi mắt sáng lòe ánh chớp buông Miệng dường chậu máu quở Phật Tổ Răng như kiếm bén mắng chư phương”. ● 老 禿 奴.Lão trọc. Lời mắng các vị Hòa Thượng già. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “Bất thức hảo ố lão ngốc nô!”. “不 識 好 惡 老 禿 奴。 – Lão trọc chẳng biết tốt xấu”. ● 老 觀 和 尚.Thiền tăng Linh Quán đời Đường, người đời gọi là “Lão Quán Hòa Thượng”.X. Linh Quán. ● 老 師.Lão Thiền Sư. Huệ Tịch Ngữ Lục ghi: “巖 頭 云:這 箇 老 師(指 慧 寂 禪 師)我 將 謂 被 故 紙 埋 却、元 來 猶 在。 – Nham Đầu nói: Cái lão Thiền Sư này (Thiền Sư Huệ Tịch) ta tưởng đâu bị giấy nát chôn vùi rồi, thì ra vẫn còn.” ● 老 臊 胡.Lão Hồ tanh hôi. Lời chê người Hồ lớn tuổi, phần lớn chỉ Sơ tổ Thiền Tông là Bồ Đề Đạt Ma. Tiết Long Tường Nam Nhã Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “二 祖 禮 三 拜、依 位 而 立、已 是 周 遮。達 磨 老 臊 胡、分 盡 髓 皮、一 場 狼 籍。 – Nhị Tổ lạy 3 lạy rồi trở về chỗ cũ mà đứng, đã là ổn đáng mọi bề. Lão Hồ tanh hôi Đạt Ma còn phân chia da tủy khiến cho một phen rộn ràng”. ● 1. Lão Thiền Sư. Lời bổ sung của cư sĩ An Vãn trong phần cuối quyển Vô Môn Quan ghi: “無 門 老 禪、作 四 十 八 則 語、判 斷 古 德 公 案。大 似 賣 油 餅 人、令 買 家 開口 接 了、更 吞 吐 不 得。 – Lão Thiền Sư Vô Môn sáng tác 48 tắc ngữ phán đoán công án cổ đức, giống như người bán bánh dầu khiến kẻ nào mua ăn thì nuốt vào hay ói ra cũng không được.” ● 2. Hiệu của Thiền tăng Sĩ Khuê đời Tống. X. Sĩ Khuê. ● 老 禪 魔.Lời mắng các vị Thiền Sư già. Bài thơ Tống Ngang Duy Na xuất lãnh trong MANL ghi: 雲 黃 山 下 老 禪 魔 凌 篦 宗 風 罪 過 多 君 若 到 門 深 問 訊 看 渠 伎 倆 復 如 何 “Vân Hoàng sơn hạ lão thiền ma Lăng bể tông phong tội quá đa Quân nhược đáo môn thâm vấn tấn Khán cừ kỹ lưỡng phục như hà?” “Dưới núi Vân Hoàng lão thiền ma Xúc phạm tông phong tội lỗi nhiều Nếu anh đến cửa siêng thưa hỏi Coi y tử tế được bao nhiêu?” Nhà Thiền thường dùng những lời quở Phật mắng Tổ, cũng là một thứ cơ phong được lập bày; phần lớn những lời mắng giống nhau, đôi khi chẳng phải thật mắng, đôi khi hàm ngữ khí khen ngợi, thường là lời gọi đùa hàm ý xưng tụng thân mật. Từ đó, người ta thấy được ngôn ngữ đặc sắc trong nhà thiền. ● 老 宿.Thiền Sư Già. Phần Công án của tắc 88, Bích Nham Lục q. 9 (Đại 48, 212 hạ) ghi: “玄 沙 示 眾 云:諸 方 老 宿。盡 道 接 物 利 生。忽 遇 三 種 病 人 來。作 麼 生 接 – Huyền Sa dạy chúng: Các Thiền Sư già ở khắp nơi đều nói tiếp vật lợi sinh, chợt gặp ba loại người bệnh đến, làm sao mà tiếp?”. ● 臘.Lượng từ dùng để tính tuổi của người xuất gia theo đạo Phật. Tùy cách tính theo năm xuất gia, thụ giới, nhập hạ an cư mà có các tên gọi khác nhau: ― Tăng lạp: Số tuổi của người xuất gia được tính kể từ lúc cạo tóc vào chùa. ― Giới lạp = Huệ mạng: Số tuổi của người xuất gia được tính kể từ lúc được thụ giới cụ túc. ― Pháp lạp = Hạ lạp: Số tuổi của người xuất gia được tính sau khi thụ giới và mỗi năm phải có nhập hạ an cư. Truyện Chân Khả Đại Sư trong Vân Cư Sơn Chí ghi: “生 於 明 嘉 靖 二 十 二 年(公 元 1543 年)寂 於 明 萬 歷 三 十 一 年(公 元 1603 年)世 壽 六 十 一 歲、僧 臘 四 十 四 年、戒 臘 四 十 一 年、法 臘 三 十 年。 – Sư sinh vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 22 (năm 1543) đời Minh, tịch vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 31 (năm 1603) đời Minh, hưởng thọ 61 tuổi, Tăng lạp 44, Giới lạp 41, Pháp lạp 30”. ● 臘 月 扇 子.Lạp nguyệt là tháng chạp âm lịch, thời gian này không cần đến chiếc quạt, dụ cho ngôn cú tri giải vô dụng, thừa thải. Tiết Tiên Thiên Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “僧 參、纔 展 坐 具、師 曰:不 用 通 時 暄、還 我 文 彩 未 生 時 道 理 來! 曰:某 甲 有 口、啞 卻 即 閑、若 死 覓 箇 臘 月 扇 子 作 麼? – Tăng tham vấn, vừa mới trải tọa cụ, sư nói: Chẳng cần trò chuyện cùng nhau, hãy trả lại cho ta đạo lý lúc vẻ đẹp chưa sinh. Tăng nói: Con có miệng, nếu câm đi thì thật nhàn rỗi, chết khổ sở mà tìm ngôn cú tri giải để làm gì?” ● 臘 月 三 十 夜.Đêm ba mươi tháng chạp tức ngày cuối cùng của một năm, nhà Thiền dùng để chỉ đời người sắp hết, giờ chết gần kề. Uyển Lăng Lục ghi: “預 前 若 打 不 徹。獵 月 三 十 夜 到 來。管 取 爾 熱 亂。 – Từ trước nếu chẳng lo tu cho triệt ngộ, thì đêm ba mươi tháng chạp đến, tha hồ cho ngươi rối loạn.” ● 陵 奪.Xâm nhập, thay thế. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “明 暗 之 境 自 相 陵 奪、虛 空 之 性 廓 然 不 變。 – Cảnh sáng tối tự thay thế nhau, còn tính hư không bao la, không thay đổi”. ● 楞 伽 經.Gọi đủ: Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh. Kinh, 4 quyển, do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết tại núi Lăng Già, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 16, trang 480, 514, 587. Lăng Già: Tên núi.A Bạt Đa La : dịch âm tiếng Phạn, có nghĩa là tiến vào. Toàn câu có nghĩa là Kinh báu do Đức Phật vào núi Lăng Già để thuyết. Kinh này tuyên thuyết thế giới vạn vật đều do tâm tạo, đối tượng nhận thức của chúng ta chẳng phải ở ngoại giới mà ở nội tâm. Đây là kinh điển đại biểu tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Có 3 bản dịch kinh này từ Phạn sang Hán như sau: 1. Bản thời Lưu Tống do Cầu Na Bạt Đà La dịch, còn gọi Tống dịch Lăng Già Kinh, Tứ quyển Lăng Già Kinh. 2. Nhập Lăng Già Kinh do Bồ Đề Lưu Chi dịch vào thời Bắc Ngụy, còn gọi: Thập quyển Lăng Già Kinh, Ngụy dịch Lăng Già Kinh. 3. Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh do Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường, còn gọi: Thất quyển Lăng Già Kinh, Đường dịch Lăng Già Kinh. Tứ quyển Lăng Già Kinh được Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma phó chúc cho Huệ Khả là bộ sách được Thiền Tông đặc biệt xem trọng. Vào thời Nam Bắc Triều kinh này chưa được phổ cập. Đến đời Đường theo đà phát triển của Thiền Tông, Kinh Lăng Già mới được chú ý. Thời ấy cũng thấy xuất hiện các từ Lăng Già Tông, Lăng Già sư.Từ sự ghi chép các sách “Lăng Già Nhân Pháp Chí”, “Lăng Già Sư Tư Ký”, người ta có thể thấy rằng trong thời gian ấy các sư dùng kinh này làm tín vật y cứ để truyền thừa, phân chia Thiền ra làm 4 loại: Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phan duyên như thiền, Như Lai thiền. Kinh này là văn hiến đáng được giới nghiên cứu Thiền Tông xem trọng. ● 楞 伽 師 資 記.Còn gọi: Lăng Già Sư Tư Huyết Mạch Ký. Ký, 1 quyển, do Tịnh Giác biên tập vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 85, trang 1283. Sách này ghi chép lại quá trình truyền thừa Kinh Lăng Già trải qua 8 đời. Tác giả đứng trên lập trường Thiền Tông Bắc Tông để soạn thuật lịch sử truyền thừa Thiền Tông vào thời kỳ đầu. Do vì thuở sơ kỳ, các bậc Tông sư truyền pháp đặc biệt xem trọng Kinh Lăng Già, nên đặt tên sách này là “Lăng Già Sư Tư Ký”. Nội dung theo thứ tự gồm: 1. Cầu Na Bạt Đà La, dịch giả Kinh Lăng Già. 2. Bồ Đề Đạt Ma. 3. Huệ Khả 4. Tăng Xán 5. Đạo Tín. 6. Hoằng Nhẫn 7. Thần Tú, Huyền Trách, Lão An. 8. Phổ Tịch, Kính Hiền, Nghĩa Phúc, Huệ Phúc. Tám đời truyền thừa này đều thuộc hệ thống Thiền Tông Bắc Tông. Nội dung sách này chẳng những là truyện ký mà còn là tư liệu bao quát các tư tưởng Thiền Tông như: ― Thuyết “Tứ chủng an tâm” trong truyện Cầu Na Bạt Đà La. ― Tư tưởng Hoa Nghiêm “Nhất tức nhất thiết” trong truyện Tăng Xán. ― Thuyết “Tức tâm tức Phật”, “Nhất hạnh tam muội”, “Thủ nhất bất di” trong truyện Đạo Tín. Ngoài ra còn nói đến công phu tọa thiền, việc Hoằng Nhẫn phó pháp cùng với chỗ thuật của Đàn Kinh thấy có điểm bất đồng. Sách này là văn hiến quan trọng để nghiên cứu lịch sử Thiền Tông vào thời kỳ đầu. Nguyên bản sách này hiện còn ở Viện Bảo Tàng Đại Anh tại London, Thư viện quốc gia tại Paris. ● 楞 嚴 寺.Chùa cách thành phố Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc 20km về phía tây nam. Chùa này nguyên là đền thờ Linh Huệ Hầu. Khoảng niên hiệu Tĩnh Khang (1126-1127) đời Tống tăng nhân Tôn Tổâng đổi nó thành thiền am. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 3 (1129) Lý Cương bị giáng chức và đày đến Lôi Châu, giao du với Tôn Tổng. Tôn Tổng đem ba chữ “Hồ Quang Nham” do Lý Cương viết khắc vào đá nơi đỉnh chùa. Về sau đổi tên là “Lăng Nghiêm Tự”, còn gọi là “Lăng Nham Tự”. Lưng chùa tựa Sư Lĩnh, mặt chùa đối diện Hồ Thủy, Phật điện xây dựng dưới mỏm núi, kiến trúc tinh xảo khác thường. ● 稜 層.Có cạnh có góc, khí thế oai nghiêm. Tiết Huệ Lâm Tông Bản Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “頭 圓 像 天、足 方 似 地。古 貌 稜 層、丈 夫 意 氣。趯 倒 須 彌、踏 翻 海 水、帝 釋 與 龍 王 無 著 身 處。 – Thượng đường: Đầu tròn giống trời, chân vuông tợ đất, dáng dấp oai nghiêm, chí khí trượng phu. Xô ngã núi Tu Di, đá đổ Hương Thủy, Đế Thích cùng Long vương không có chỗ dung thân”. ● 楞 層.Cao vút một mình. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng: “石 塔 楞 層 當 宇 宙、金 鈴 搖 拽 動 人 天。 – Tháp đá cao vút cùng vũ trụ, linh vàng rung lắc động trời người”. ● 臨 機.Gặp cơ duyên, đối mặt thiền cơ.Bích Nham Lục q.1 ghi: “趙 州 臨 機。一 似 金 剛 王 寶 劍。擬 議 即 截 卻 爾 頭。往 往 更 當 面 換 卻 爾 眼 睛。 – Triệu Châu lâm cơ giống như bảo kiếm Kim Cang Vương, ông do dự lập tức lấy đầu ông, luôn luôn ở trước mặt móc mắt ông.” Thuộc khu núi Bắc Phong, cách trung tâm thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc 19km. Là một trong năm đại thiền lâm của Phúc Châu. Theo “Tam Sơn Chí” ghi thì chùa xây cất vào niên hiệu Trường Hưng thứ 2 (931) đời Hậu Đường, ban đầu gọi là “Lâm Dương Viện”. Theo “Mân Đô Ký” thì chùa lập vào niên hiệu Thiên Phúc thứ 1 (936) đời Hậu Tấn. Đầu đời Minh chùa bị phá hủy. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 40 (1612) xây dựng lại, đổi viện thành chùa, sau lại bị phá hủy. Tự vũ hiện còn là do Cổ Nguyệt, Viên Lãng trụ trì chùa Dũng Tuyền, Cổ Sơn quyên góp vật tư xây cất lại vào khoảng niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh, đổi tên là “Lâm Dương Tự”. Quần thể kiến trúc đại khái mô phỏng chùa Dũng Tuyền, Cổ Sơn, lấy Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Pháp đường làm kiến trúc chủ thể trục giữa, hai bên đứng sừng sững lầu chuông lầu trống, thiền đường bên cạnh, tăng thất, khách sảnh, quy mô hùng vĩ. Phía tây chùa có tháp cất giữ xương cốt của Thiền Sư Ẩn Sơn xây vào niên hiệu Vĩnh Định thứ 4 (560) đời Trần Nam Triều. ● 林 間 錄.Bút Ký, 2 quyển, do Huệ Hồng soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 585. Nội dung gồm có những lời ứng đối, bàn luận đạo lý của Huệ Hồng với các bậc thắng sĩ trong nhà thiền về: Những phẩm hạnh thanh cao của chư Tôn túc, các loại di huấn trong tùng lâm, ý chỉ vi diệu của chư Phật Bồ Tát và sự tích tham thiền của các hiền sĩ đại phu. Tổng cộng hơn 100 thiên, thường được lưu truyền rộng rãi trong tùng lâm.Huệ Hồng còn trứ tác “Lâm Gian Hậu Lục” 1 quyển, chính là các phần tán, minh, tự trong “Thạch Môn Văn Tự Thiền” từ quyển thứ 17 đến quyển 20 cũng do sư soạn ra, và sách này cũng được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 648. ● 林 下.Còn gọi: Lâm Tuyền. Trong rừng núi, chỉ cho chỗ tu hành của tăng nhân xa lìa trần tục. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “林 下 臣 僧、如 何 舉 唱? – Kẻ hạ thần làm tăng trong rừng núi cử xướng như thế nào?” ● 臨 濟 錄.Gọi đủ: Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục. Còn gọi: Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Lâm Tế Nghĩa Huyền soạn vào đời Đường, Tam Thánh Huệ Nhiên biên tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 495. Nội dung thu thập pháp ngữ của Thiền Sư Nghĩa Huyền, Tổ tông Lâm Tế.Nội dung phân ra 3 phần: Ngữ Lục, Khám biện, Hành lục. ● 臨 濟 宗.Một trong ngũ gia (5 nhà) của Thiền Tông Trung Quốc, thuộc hệ Nam Nhạc. Tổ sáng lập là Thiền Sư Nghĩa Huyền (?-867) sống vào đời Đường, do vì Tổ trụ trì thiền viện Lâm Tế thuộc Hà Bắc nên gọi là tông Lâm Tế. Môn phong tông này cao vút, tiếp dẫn người học bằng phương pháp đánh và hét rất mạnh mẽ thẳng thắn, chiếu dụng đều thực hành. Con cháu tông Lâm Tế rất đông đúc, đến đời Bắc Tống lại phân ra 2 phái là Hoàng Long và Dương Kỳ, pháp mạch kéo dài mãi đến ngày nay. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “僧 問:如 何 是 臨 濟 下 事?師 云:五 逆 聞 雷。 – Tăng hỏi: Thế nào là tông Lâm Tế? Sư đáp: Kẻ ngũ nghịch nghe tiếng sấm”. Duy Tắc Ngữ Lục q.9 ghi: “臨 濟 宗 棒 喝 交 馳、雷 奔 電 激、奪 人 奪 境、照 用 并 行。 – Tông Lâm Tế đánh và hét xen nhau như sấm nổ điện chớp, đoạt nhân đoạt cảnh, chiếu dụng đồng thời”. ● 臨 濟 宗 旨.Sách, 1 quyển, do Huệ Hồng soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 171. Tác giả dẫn ra các phần đề xướng của chư Tôn túc, Cổ đức, luận rõ về các pháp yếu: Thập trí đồng chân, Tứ tân chủ, Tam huyền tam yếu để hướng dẫn người học ngộ được tông chỉ đặc thù của tông Lâm Tế. ● 臨 濟 寺.1. Còn gọi: Lâm Tế Viện. Chùa ở huyện Chính Định tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, được sáng lập vào niên hiệu Hưng Hòa thứ 2 (540), đời Đông Ngụy. Khoảng niên hiệu Đại Trung (847-859) đời Đường, Nghĩa Huyền trụ chùa này, hoằng dương Thiền Tông, lập ra tông Lâm Tế, người học bốn phương tụ về. Chùa vốn ở ngoài thành Chính Định, thôn Lâm Tế, năm 867 Nghĩa Huyền thị tịch, đệ tử ở trong thành Chính Định xây tháp lưu giữ y bát, gọi là “Lâm Tế Tự Trừng Linh tháp”, chùa cũng dời vào trong thành.Đời Kim, đời Nguyên chùa được trùng tu nhiều lần. Niên hiệu Thiên Thuận (1457-1464) đời Minh, trong chùa có đúc thêm chuông Phạm. Sau đó chùa bị phá hủy, hiện đã được sửa lại mới. ● 2. Chùa ở Viên Sơn thành phố Đài Bắc, tỉnh Đài Loan, được sáng lập vào niên hiệu Tuyên Thống thứ 1 (1909) đời Thanh, vốn là đạo tràng quan trọng của tông Lâm Tế Nhật Bản. Năm 1945, chùa được tiếp quản do Pháp sư Bản Viên ở Quán Âm sơn, trải qua nhiều đời trụ trì giỏi giang của các vị Pháp sư như: Thạch Mãn, Tâm Ngộ, Bạch Thánh, chùa mới có quy mô như ngày nay. ● 臨 濟 寺 澄 靈 塔.Tháp nằm trong thành huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc Trung Quốc.Do xây bằng gạch màu xanh lam nên gọi là “Thanh Chuyên Tháp” (Tháp gạch xanh). Chùa Lâm Tế nguyên ở trong thôn Lâm Tế cách thành Chính Định 1km về phía đông nam, được xây cất vào niên hiệu Hưng Hòa thứ 2 (510) đời Đông Ngụy, vào cuối đời Đường, ngài Nghĩa Huyền sáng lập tông Lâm Tế ở đây. Đời Nam Tống tông này truyền vào Nhật Bản tín đồ rất đông. Hiện nay ở Nhật Bản không ít tín đồ Phật giáo vẫn xem chùa Lâm Tế ở Chính Định là cái nôi của tông phái này, tức là Tổ đình. Niên hiệu Hàm Thông thứ 8 (867) đời Đường, Nghĩa Huyền tịch, đệ tử ngài xây tháp lưu giữ y bát ở gác đông nam thành Chính Định, chùa Lâm Tế cũng dời vào trong thành. Chùa sớm hư hủy, còn tháp được xây dựng lại vào khoảng niên hiệu Đại Định (1161-1189) đời Kim. Tháp cao 33 mét, hình bát giác chín tầng mái kín. Tháp đứng trên bệ đá hình vuông, dưới bệ có nền đá hình bát giác, trên bệ là tòa Tu Di chạm trổ rất đẹp, trên tòa Tu Di có bình tòa và lan can, trên nữa là tòa hoa sen. Trên tòa hoa sen là tầng thứ nhất của tháp. Tầng thứ nhất rất cao, bốn bên có dùng gạch khắc làm cửa sổ, cột trụ; trên củng môn chính diện đặt tấm biển “Lâm Tế Tự Trừng Linh Tháp”. Thân tháp gồm 9 tầng mái kín, có đấu củng nâng đỡ mái. Tháp này từ toàn thể đến cục bộ độ tỉ lệ xích rất nhỏ, do đó biểu lộ vẻ xinh xắn tinh tế. Đặc biệt là trên dưới không có phần rườm rà nên càng thấy thanh tú khả ái. Tháp tạo hình rất đẹp, kết cấu tinh xảo, điêu khắc tinh mỹ, hình dáng trong sáng, đúng là một kiệt tác trong các tháp mái liền kề. ● 臨 濟 相 軍.Trong lúc hỏi đáp khám nghiệm nhau, Thầy trò của tông Lâm Tế thường dùng cơ phong đắp đổi cho nhau, đổi chủ làm khách, nhậm vận tự như, hoạt bát mà nghiêm khắc, phát huy cơ “Sinh, sát, dữ, đoạt” (Cứu sống, giết chết, cho, lấy) giống như sự quát nạt binh sĩ của vị Tướng quân. Đây là thí dụ để chỉ cho phong cách của tông Lâm Tế. ● 臨 時.Căn cứ thời cơ, khế hợp thời cơ. Tiết Thiên Đồng Hàm Kiệt Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: 如 王 秉 劍、殺 活 臨 時。 – Như vua cầm gươm giết tha đúng thời.” ● 立 地.Đứng.Tiết Trúc Nguyên Tông Nguyên Am chủ trong NĐHN q.20 ghi: “若v 是 釋 迦 老 子、達 磨 大 師 出 來、也 教 伊 叉 手、向 我 背 後 立 地、直 得 寒 毛 卓 豎、亦 未 爲 分 外。 – Nếu như ông già Thích Ca, đại sư Đạt Ma xuất hiện cũng khiến các vị ấy khoanh tay đứng sau lưng ta, cho dù dựng lông gáy cũng chưa phải đặc biệt.” ● 立 地 瞌 睡.Tuy đang đứng mà giống như ngủ gật, dụ cho sự mơ hồ. Tiết Quy Phong Huệ Quang Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “你 諸 人 休 向 這 裡 立 地 瞌 睡。殊 不 知 家 中 飯 籮 鍋 子一 時 失 卻 了 也。你 若 不 信、但 歸 家 檢 點 看! – Các ngươi đến chỗ này chớ nên mơ hồ, đâu biết rằng nồi cơm trong nhà nhất thời bị mất rồi, nếu các ngươi không tin thì trở về nhà kiểm tra xem!” ● 立 地 成 佛.Chúng sinh đều có Phật tính, một niệm tỉnh ngộ liền lập tức thành Phật. Đây là phản ánh tư tưởng đốn ngộ của Thiền Tông. Mật Am Ngữ Lục ghi: “悟 之 者、立 地 成 佛。迷 之 者、永 劫 輪 迴。 – Ngộ thì lập tức thành Phật; mê thì mãi mãi luân hồi.” ● 立 地 死 漢.Tuy đứng mà như người chết, dụ cho kẻ ngu si chậm lụt. Tiết Phần Dương Thiện Chiêu trong NĐHN q.11 ghi: “若 見 汾 陽 人 者、堪 與 祖 佛 爲 師。不 見 汾 陽 人、盡 是 立 地 死 漢。 – Nếu thấy con người Phần Dương thì có thể làm thầy cùng Tổ Phật.Còn như không thấy con người Phần Dương thì đều là những kẻ ngu si chậm lụt.” ● 立 義.Khi biện luận đạo pháp, đọ cơ phong, nếu nói ra trước tiên gọi là lập nghĩa. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q.3 ghi: “師 與 紫 璘 法 師 共 論 義 次、各 登 坐 了、法 師 曰:請 師 立 義、某 甲 則 破。 – Sư đang cùng luận nghĩa với Pháp sư Tử Lân, khi mỗi vị lên ngồi xong, Pháp sư nói: Mời thầy lập nghĩa, tôi phá cho.” ● 立 僧.1. Thay thế tăng trụ trì tụ tập chúng tăng để diễn nói đạo pháp, gọi là lập tăng. Người lập tăng phải có địa vị nhất định trong tự viện (như Thủ tọa) hoặc người có trình độ khá cao về đạo pháp, phần nhiều do tăng trụ trì đề cử. Mật Am Ngữ Lục ghi: “請 前 堂 首 座 鶴 林 印 和 尚 立 僧。 – Mời Hòa Thượng Hạc Lâm ấn, Thủ tọa Tiền đường lập tăng.” ● 2. Thành lập đoàn thể tăng chúng. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q.30 ghi: “有 一 僧、早 歲 脫 白、留 心 參 究、超 然 弗 與 俗 伍。山 居 寂 寞 二 十 余 年、人 多 稱 之。及 其 晚 年、偶 得 幾 箇 俗 漢 歸 依、便 欲 出 世、乃 建 寺 立 僧、開 堂 付 法、一 切 勉 強 爲 之、率 之 身 名 俱 喪、爲 天 下 笑。 – Có một vị tăng xuất gia từ nhỏ, hết lòng tham cứu, vượt trên những kẻ thế tục. Sư hơn 20 năm ở trong núi rừng tịch mịch, được người khen ngợi. Đến khi cuối đời, chợt được vài người thế tục quy y liền muốn xuất thế, bèn cất chùa lập tăng, khai đường phó pháp, vì là miễn cưỡng mà làm, cho nên thân danh đều mất còn bị thiên hạ cười.” ● 栗 棘 逢.Còn gọi: Lật Cức. Hạt có gai. Thiền Tông dùng từ này để chỉ công án của người xưa. Tiết Khai thị Thiền nhân Lâm trong MANL ghi: “正 好 入 大 爐 鞴 中 鍛 煉、直 教 聖 凡 情 量。徹 底 淨 盡。透 得 金 剛 圈。吞 得 栗 棘 蓬。逗 到 大 休 大 歇 之 場。身 心 若 枯 木 寒 陸。大 棒 打 不 回 頭。千 人 萬 人。羅 籠 不 住。 – Đúng lúc vào trong lò rèn luyện, bảo thẳng rằng tình phàm lượng thánh cần phải quét sạch triệt để. Thấu suốt được cơ ngữ nhà thiền, công án của người xưa, đến được chỗ hoàn toàn thôi nghỉ, thân tâm như cây khô tro lạnh, dù bị đánh chết cũng chẳng quày đầu, ngàn muôn người lôi kéo cũng chẳng được”. X. Kim Cang Quyển. ● 漏 逗.Bày vẽ. Văn “Hướng Thượng Nhất Lộ” trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông ghi: “縱 靈 山 付 囑 都 來 漏 逗 之 場、少 室 單 傳 也 是 葛 藤 之 窟。 – Giả sử Linh Sơn phó chúc chỉ là một phen bày vẽ, Thiếu Thất đơn truyền cũng là lời nói lòng vòng”. Tắc 29, Vô Môn Quan ghi: “若 向 者 裡 見 得 親 切、方 知 二 僧 買 鐵 得 金。祖 師 忍 俊 不 禁、一 場 漏 逗。 – Nếu thấy chỗ này cho được xác thiết, mới biết hai ông tăng đổi sắt được vàng. Lục Tổ nhịn không được, phải bày vẽ một phen”. ● 貍 奴 白 牯.Mèo nhà trâu trắng. Lê nô còn gọi là Ly nô, là con mèo nhà; Bạch cổ là trâu trắng, đều là loài động vật đã được thuần hóa; Thiền Tông thường dùng để dụ cho những kẻ căn cơ thuần thục, thông hiểu Phật pháp.Chương Hành giả Cam Chí ở Trì Châu trong CĐTĐL q. 10 (Đại 51, 279 trung) ghi: “又 於 南 泉 設 粥 云。請 和 尚 念 誦。南 泉 云。甘 贄 行 者 設 粥。請 大 眾 爲 狸 奴 白 牯 念 摩 訶 般 若 波 羅 蜜。甘 乃 禮 拜 便 出 去。 – Ông dọn cháo cho ngài Nam Tuyền, thưa rằng: Mời Hòa Thượng niệm tụng. Nam Tuyền bảo: Hành giả Cam Chí đã dọn cháo, mời đại chúng hãy vì mèo nhà, trâu trắng mà niệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Cam Chí liền lễ bái rồi lui ra”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 例 皆.Toàn bộ, tất cả. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “趨 者 不 敢 入 此 法、恐 落 空 無 栖 泊 處、望 崖 而 退、例 皆 廣 求 知 見。所 以 求 知 見 者 如 毛、悟 道 者 如 角。 – Người xu hướng chẳng dám vào cửa này, sợ rơi vào không, không có chỗ nương tựa, trông bờ mà thối lui, tất cả là bọn cầu nhiều tri kiến. Thế nên, người cầu tri kiến như lông, người ngộ đạo như sừng”. ● 歷 劫.1. Trải qua nhiều kiếp số, chỉ thời gian rất dài lâu. Phần “Tuyết Phong Hòa Thượng tháp minh tinh tự” trong MGNL q.1 ghi: “夫 從 緣 有 者、始 終 而 成 壞。非 從 緣 得 者、歷 劫 而 常 堅。 – Vật gì từ duyên mà có thì trước thành rồi sau hoại, vật gì chẳng từ duyên mà được thì trải qua thời gian dài lâu vẫn thường bền vững.” ● 2. Chỉ thời gian rất dài lâu trước kia. Tiết Vạn Thọ Niệm Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “元 正 一、古 佛 家 風 從 此 出。不 勞 向 上 用 工 夫、歷 劫 何 曾 異 今 日。 – Nguyên chính đồng nhất, gia phong cổ Phật từ đây lưu xuất, không cần vất vả dụng công phu, lịch kiếp đâu từng khác biệt hôm nay.” ● 歷 落.Còn gọi: Lịch lịch. Rõ ràng phân minh. Tiết Đầu Tử Đại Đồng Thiền Sư trong NĐHN q.5 ghi: “問:歷 落 一 句 請 師 道 – Tăng hỏi: Thỉnh sư nói một câu thật rõ ràng? “. Chứng Đạo Ca của Đại sư Huyền Giác ở Vĩnh Gia có ghi: “降 龍 缽 解 虎 錫。兩 鈷 金 環 鳴 歷 歷。 – Gậy giải cọp, bát hàng rồng, hai hàng khoen sắt rõ ràng kêu vang”. ● 歷 歷 孤 明.Một mình sáng rỡ, chỉ Phật tính sẵn có của mỗi người. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。爾 欲 得 如 法。但 莫 生 疑。展 則 彌 綸 法 界。收 則 絲 髮 不 立。歴 歴 孤 明 未 曾 欠 少。眼 不 見 耳 不 聞。喚 作 什 麼 物。古 人 云:說 似 一 物 即 不 中。 – Đạo lưu! Ông muốn được như pháp thì chớ sinh nghi.Trải ra thì bao trùm pháp giới, thâu lại thì sợi tơ chẳng lập. Một mình sáng rỡ chưa từng thiếu sót, mắt chẳng thấy, tai chẳng nghe. Gọi đó là vật gì? Cổ nhân nói: Nói giống như một vật thì chẳng đúng”. ● 歷 然.Sáng sủa, rõ ràng. Tiết Tây Lâm Sùng Áo Thiền Sư trong NĐHN q.12 ghi: “一 問 一 答、賓 主 歷 然。不 問 不 答、如 何 辨 别? – Một bên hỏi, một bên đáp, chủ khách rõ ràng. Chẳng hỏi chẳng đáp làm sao phân biệt?” ● 廉 縴.Vướng mắc, làm phiền. Tiết Siêu Hóa TịnhThiền Sư trong NĐHN q.17 ghi: “聲 前 認 得、已 涉 廉 縴。句 下 承 當、猶 爲 鈍 漢。電 光 石 火 、尚 在 遲 疑。點 著 不 來、橫 屍 萬 里。 – Trước tiếng dù nhận được đã là vướng mắc. Dưới câu thừa đương còn là kẻ chậm lụt. Đá nháng điện chớp còn là chần chừ. Chạm vào chẳng được thì phơi thây muôn dặm”. ● 廉 縴 搭 滯.Dính mắc. Tiết Khai thị cho 3 vị Giảng sư ở Vân Nam: Phúc, Nguyên, Thông trong Trung Phong Quảng Lục phần thượng q.4 ghi: “做 工夫、非 一 切 有 作 思 惟 之 所 能、是 離 一 切 分 別 之 大 小 境 界。古 人 到 此、皆 是 一 踏 到 底、更 不 涉 一 些 子 廉 縴 搭 滯。今 人 做 盡 伎 倆 不 奈 何 者、盖 做 不 力、志 不 大、心 不 死、念 不 切 耳。 – Thực hiện công phu chẳng phải là làm tất cả những điều mà mình nghĩ ra, mà là xa lìa tất cả cảnh giới phân biệt dù lớn hay nhỏ. Người xưa đến chỗ này, đều là một đạp thấu đến đáy nên chẳng còn một chút dính mắc.Người nay dù trổ hết tài năng mà chẳng ra chi, là do: Làm chẳng hết sức, chí không to tát, tâm không quyết tử, niệm không tha thiết mà thôi”. ● 聯 燈 會 要.Còn gọi: Thiền Tông Liên Đăng Lục. Đăng Lục, 30 quyển, do Hối Ông Ngộ Minh soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 136, trang 515. Toàn sách nêu ra pháp hệ truyền đăng của Thiền Tông ngũ gia từ 7 vị Phật quá khứ đến các vị nối pháp Thiên Đồng Chính Giác. Dựa theo thứ tự gom chép cơ duyên vấn đáp quan trọng và ghi vắn tắt về hành trạng, cuộc đời các Thiền Sư.Sách này được soạn vào niên hiệu Thuần Hy thứ 10 (1183). ● 蓮 月.Hiệu của Thiền tăng ấn Chính đời Thanh. X. ấn Chính. ● 蓮 派 寺.Còn gọi: Chùa Liên Tông.Chùa ở hẻm Liên Phái phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Chùa do Thiền Sư Như Trừng Lân Giác sáng lập. Sự tích vị Tổ này như sau: Trịnh Thập là con trai Tần Quang Vương (người này là cháu nội chúa Trịnh Căn). Thập lấy con gái thứ tư của vua Lê Hy Tông (1676-1705) được lập phủ đệ riêng ở phường Bạch Mai. Một hôm Thập cho quân gia đào đất ở gò cao sau nhà để xây bể cạn thì thấy trong lòng đất có một cái ngó sen. Phò mã cho đó là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo này. Chàng bèn biến phủ đệ của mình thành chùa, gọi là chùa Liên Tông. Đồng thời chàng cạo tóc đi tu, trở thành Tổ thứ nhất của chùa này. Thiền Sư Như Trừng Lân Giác (tức Trịnh Thập) mất vào năm 37 tuổi. Hài cốt được táng trong ngôi tháp giữa gò tức tháp Cứu Sinh. Hai bên cổng chùa là hai hồ rộng. Ngay ở cổng chùa là ngôi tháp Diệu Quang 10 tầng hình lục lăng. Tiếp đến là nhà bia, có tấm bia kể lại sự tích chùa. Qua sân rộng tới nhà Bái đường. Sau đó là Tam Bảo (nơi thờ Phật). Một khoảng sân trồng hoa ngăn cách Tam Bảo với nhà Tổ. Điều khiến cho chùa Liên Phái có giá trị là khu vườn tháp sau chùa. Tại đó trên 1 gò đất cao có 9 ngôi tháp thành 3 hàng: hàng thứ nhất có 2 ngôi, hàng giữa có 5 ngôi và hàng sau có 2 ngôi. Hàng giữa choán phần cao nhất là ngôi tháp Cứu Sinh xây bằng đá. Chùa được xây năm 1726. Đến thế kỷ XIX đổi tên là Liên Phái. ● 蓮 峰.Hiệu của Thiền tăng Tông Chiếu đời Nguyên. X. Tông Chiếu. ● 蓮 池 (1535-1615).Tăng nhân đời Minh, họ Thẩm, tên Châu Hoằng, tự Phật Huệ, người xứ Nhân Hòa (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Thuở bé, sư theo nghiệp Nho, 17 tuổi làm Chư sinh, 32 tuổi xuất gia. Tham thiền với các ngài: Biến Dung, Tiếu Nham đều có sở đắc. Năm 1571, sư thuyết pháp ở chùa Vân Thê, Hàng Châu nên có hiệu là “Vân Thê Châu Hoằng”, “Vân Thê Đại Sư”. Sư vốn thuộc Thiền Tông nhưng khi giải thích giáo lý phần lớn lại dùng tông Hoa Nghiêm. Sư đề xướng “Thiền Tịnh song tu” và chủ trương Nho, Thích, Đạo nhất trí.Tác phẩm: Thiền Quan Sách Tiến, Vân Thê Pháp Vựng 34 quyển. ● 列 祖 提 綱 錄.Lục, 42 quyển, do Ngốc Ông Hạnh Duyệt biên soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 112, trang 169. Trong 20 năm vân du khắp nơi, Hạnh Duyệt thu thập nhiều ngôn hạnh đặc biệt của các bậc kỳ túc Tổ sư, hoặc từ nơi việc làm, hoặc từ nơi lời nói của họ mà viết thành. Sách này giống như loại tùy bút nên không chia ra xưa nay, cao thấp, tông phái. Hạnh Duyệt gom chép pháp ngữ của hơn 400 vị vừa là chính truyền vừa là chi nhánh xuất hiện trước Ngũ gia tông phái (Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn). Nội dung gồm có: Chúc hy, Nguyên đán, Pháp khí đều căn cứ vào các việc gìn giữ hàng ngày trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, mỗi việc đều chia ra khoa điều, thêm phần giải thích tỉ mỉ, tính ra có trên 300 sự việc của tùng lâm và hơn 3000 tắc đề cương Tông Tổ. Sách này giúp cho người học thấu rõ chỗ nêu lên của Tổ sư, nắm được đường lối tu hành. ● 寮 主.Còn gọi: Trực Liêu. Chức vụ phụ tá vị Liêu nguyên để sắp đặt công việc giữ gìn y bát của chúng tăng. Chức này do mọi người trong liêu luân phiên làm theo thứ tự (lớn trước nhỏ sau). Thời hạn của mỗi vị: 10 ngày, 15 ngày, 30 ngày tùy theo mỗi chùa. ● 撩 起 便 行.Miêu tả tiếp cơ mẫn tiệp, lập tức lãnh hội. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “作 者 相 見、一 拶 一 捺、撩 起 便 行。若 佇 思 停 機、卒 摸 索 不 著。 – Thiền tăng tài giỏi gặp nhau, một khi bức bách lập tức lãnh hội. Nếu đứng chần chừ, rốt cuộc mò bắt chẳng được”. ● 寮 元.Còn gọi: Tọa Nguyên, Tòa Nguyên, Liêu Thủ Tọa, Đệ Nhất Tọa. Chức vụ trông coi các sự việc của chúng liêu. Là 1 trong 6 vị Đầu thủ thuộc ban Tây của Thiền viện. Nhiệm vụ: Coi sóc, cung cấp các học cụ về kinh điển, nước trà, than củi, nước tắm cho đại chúng.Bên dưới có: Liêu trưởng, Liêu chủ, Phó liêu, Vọng liêu để phụ tá. ● 遼 天.Còn gọi: Liêu Không. Chọc trời, bay vào không trung. Tiết Đề Hình Quách Tường Chính Cư Sĩ trong NĐHN q.19 ghi: “金 烏 半 夜 遼 天、玉 兔 趕 他 不 著。 – Mặt trời mọc giữa ban đêm, mặt trăng đuổi theo không được.” ● 遼 天 俊 骨.1. Còn gọi: Ma tiêu tuấn cốt. Dụ cho thiền tăng lanh lợi. Tiết Dục Vương Phổ Sùng Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “非 風 非 幡 無 處 著、是 幡 是 風 無 著 處。遼 天 俊 鶻悉 迷 蹤、踞 地 金 毛 還 失 措。呵 呵 呵、悟 不 悟。 – Chẳng phải gió chẳng phải phướn không có chỗ để chấp trước, là phướn là gió cũng không thể chấp trước. Thiền tăng lanh lợi đều lạc dấu, sư tử ngồi xổm còn lúng túng. Ha ha ha! Có ngộ không?” ● 2. Dụ cho cơ phong mau lẹ. Tiết Động Sơn Biện Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂:不 是 心、不 是 佛、不 是 物、鑽 天 鷂 子 遼 天 鶻。不 度 火、不 度 水、不 度 爐、離 弦 箭 發 沒 回 途。直 饒 會 得 十 分 去、笑 倒 西 來 碧 眼 胡。 – Thượng đường: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, cơ phong mau lẹ như chim ưng bay qua bầu trời. Không độ được lửa, không độ được nước, không độ được lò nấu, tên lìa dây cung không quay về. Cho dù lãnh hội được hoàn toàn cũng bị Tổ Đạt Ma chê cười.” ● 寮 舍.Nhà ở của chư tăng trong tự viện. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “復 召 大 眾:雪 竇(系 明 覺 禪 師 之 法 號)今 日 換 爾 諸 人 眼 睛 了 也。爾 若 不 信、各 歸 寮 舍、自 摸 索 看。 – Lại gọi đại chúng: Tuyết Đậu (pháp hiệu của Thiền Sư Minh Giác) hôm nay đổi được con mắt của các ông rồi. Nếu chẳng tin, các ông hãy trở về liêu xá, tự sờ sẫm xem”. ● 了.Tỉnh ngộ, hiểu biết. Minh Châu Tụng trong PKNL q.18 ghi: “覺 道 無 過 自 悟、參 禪 不 要 他 求。。。要 了 卽 今 便 了、未 休 何 日 當 休? – Cách giác ngộ không gì hơn tự ngộ, Tham thiền chớ tìm ở người khác….. Muốn tỉnh hôm nay tỉnh đi, chưa ngộ ngày nào mới ngộ?” Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “佛 從 無 依 生。若 悟 無 依。佛 亦 無 得。若 如 是 見 得 者。是 眞 正 見 解。學 人 不 了 爲 執 名 句。被 他 凡 聖 名 礙。所 以 障 其 道 眼 不 得 分 明。 – Phật từ Vô y (không nương gá) sinh ra. Nếu ngộ được Vô y thì Phật cũng Vô đắc (không được). Nếu ai thấy được như thế là kiến giải chân chính. Người học chẳng biết vì chấp vào chữ nghĩa, bị danh từ phàm thánh làm chướng ngại. Thế nên che chướng đạo nhãn của ông khiến cho chẳng thấy rõ ràng.” ● 了 庵 (1425-1514).Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Liễu Am Quế Ngô, nối pháp Thiền Sư Long Thất Đạo Uyên, đời thứ 30 hệ Nam Nhạc, đời thứ 13 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Đông Phúc. ● 了 本.Nhận rõ tự tâm là gốc. Chương Đại Thừa Tấn của Lương Bảo Chí Hòa Thượng trong CĐTĐL q.29 ghi: “悟 解 即 是 菩 提。了 本 無 有 階 梯。 – Ngộ giải tức là Bồ Đề, nhận rõ tự tâm là gốc thì không còn giai cấp.” ● 了 辦.Hoàn thành, kết thúc. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “我 輩 在 任 途 中、爲 國 宜 勞、爲 民 牧 守、十 二 時 中、無 一 晌 靜 定、而 欲 了 辦 此 事、其 可 得 哉? – Bọn ta ở trong đường làm quan, bận rộn việc nước, chăn giữ muôn dân, cả ngày lẫn đêm không được một chút lặng yên (nơi tâm trí) mà muốn hoàn thành việc này (ngộ đạo thành Phật).Điều ấy có thể được sao?” ● 了 辨.Rõ ràng, tỏ ngộ. Khai thị Thiền nhân Ý trong MBTL q. trung ghi: “你 若 未 親 到 此 箇 正 悟 底 時 節、只 要 將 心 意 識 向 相 似 語 言 上 和 會 知 解、任 你 解 得 一 擔 禪 道 佛 法、是 名 咂 噉 野 狐 延 唾、萬 劫 無 你 了 辨 處。 – Nếu ngươi tự chưa đến thời tiết chính ngộ này, chỉ cần đem tâm ý thức nhằm vào lời nói gần giống (như chính ngộ) mà khéo hiểu biết. Dù cho ngươi có hiểu được một gánh thiền đạo Phật pháp, ấy gọi là hớp lấy đàm dãi của con chồn rừng, muôn kiếp không có chỗ cho ngươi tỏ ngộ.” ● 了 改 (1335-1421).Thiền tăng đời Minh, họ Nhậm, tự Ngưng Nhiên, người xứ Tung Dương (nay là huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia ở chùa Thiếu Lâm, 20 tuổi mới mặc tăng phục. Ban đầu yết kiến Nguyệt ấn ở Hương Sơn, lại tham vấn Tùng Đình Tử Nghiêm ở chùa Thiên Khánh và nối pháp Ngài. Năm 1390, sư trụ trì chùa Thiếu Lâm. Phẩm hạnh đoan trang, tứ chúng quý kính. Chu Vương, Y Vương, Thục Vương, Tần Vương đều lên núi cúng dường sư, chẳng dám sai sứ mời thỉnh. ● 了 睿 (1540-1624).Thiền tăng đời Minh, họ Trương, người xứ Nội Khâu (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. Thuở bé nương ngài La Hán Giác Công xuất gia, thưa hỏi nhiều bậc Cao tăng, đều được thăng đường nhập thất, đạt đến chỗ tinh vi sâu kín. Sư còn đến Thiếu Lâm yết kiến ấu Hưu Nhuận Hòa Thượng và nối pháp Ngài. Sư trụ chùa Quảng Từ, nổi tiếng thấu Trường An. Về sau trở về Nội Khâu, sư cất am để ở, hơn 20 năm không bước chân ra khỏi cửa. ● 了 達.Biết rõ, thấu rõ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “親 悟 親 證、了 達 三 祇 劫 空、不 被 諸 塵 所 轉。 – Tự mình ngộ lấy, tự mình chứng lấy, thấu rõ ba tăng kỳ kiếp rỗng không, chẳng bị trần cảnh khuấy động.” ● 了 達 實 成 (?-1823).Còn gọi: Liên Hoa Hòa Thượng. Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35, nối pháp Thiền Sư Minh Vật Nhất Tri ở chùa Kim Cang (Bình Thảo, Đồng Nai). Trong thời gian Hòa Thượng Phật Ý Linh Nhạc (cũng thuộc phái Thiền Lâm Tế, đời 35) hoằng hóa ở chùa Từ Ân (Gia Định) từ năm 1744 đến năm 1821, Thiền Sư Liễu Đạt Thiệt Thành được cử làm Thủ tọa ở chùa này. Niên hiệu Gia Long thứ 16 (1817), vua xuống sắc triệu Thiền Sư Liễu Đạt ra kinh đô Huế, cử làm Tăng cang chùa Thiên Mụ (1817-1823), trong thời gian này sư còn được cử làm Pháp sư để thuyết giảng Phật pháp trong nội cung của vua Gia Long, mỗi tháng 8 ngày. Sau đó, vua phong cho sư danh hiệu là Liên Hoa Hòa Thượng. Trong thời gian Thiền Sư Liễu Đạt hoằng hóa ở kinh đô Huế (vào khoảng năm 1821), Hòa Thượng Phật Ý Linh Nhạc ở chùa Từ Ân (Sài Gòn) nói với đệ tử là Thiền Sư Viên Quang Tổ Tông trụ trì chùa Giác Lâm là Hòa Thượng lo cho sư Liễu Đạt không tránh khỏi mối dây ràng buộc của nghiệp trần duyên vì Thiền Sư Liễu Đạt có tướng hảo, có tài thuyết giảng và khoa ăn nói, lại giảng giải trong nội cung, gần nhiều với nữ sắc quyền quý.Quả nhiên, khi Thiền Sư Liễu Đạt về trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định thì Hoàng Cô (Cô của vua Minh Mạng) vốn là đệ tử của sư từ Huế vào để cúng dường chùa Sắc Tứ Từ Ân và chùa Quốc Ân Khải Tường. Thiền Sư biết rõ Hoàng Cô có tình cảm luyến ái sâu đậm với mình nên dùng lửa tự thiêu và để lại bài kệ như sau: Thiệt đức rèn kinh vẹn kiếp trần. Thành không vẩn đục vẫn trong ngần. Liễu tri mộng huyễn chân như huyễn. Đạt đạo mình vui đạo mấy lần. Hay tin Hòa Thượng Liễu Đạt Hoàng thượng của Hoàng gia, bản sư của Hoàng Cô và một số người trong hoàng cung nhà Nguyễn đã viên tịch, các quan tỉnh Biên Hòa và các quan thuộc dinh Tổng Trấn ở Gia Định phải báo tin về triều và hợp nhau tổ chức tang lễ, Long vị của Thiền Sư được thờ ở chùa Sắc Tứ Từ Ân. Các vị đệ tử nổi danh của Thiền Sư gồm có: Thiền Sư Tế Chính Bản Giác: Sau là Tăng cang chùa Thiên Mụ (1823-1825), Tăng cang chùa Giác Hoàng đứng ra lo trùng tu chùa Quốc Ân và chùa Từ Ân. ― Thiền Sư Tế Bản Viên Thường (1769-1848) trụ trì chùa Long Quang và chùa Pháp Vân ở Thừa Thiên (Huế), và Tăng cang chùa Thiên Mụ. ― Thiền Sư Tế Tín Chính Trực trụ trì và trùng tu chùa Sắc Tứ Từ Ân và chùa Quốc Ân Khải Tường. ● 了 當.1. Thành công. Tông Môn Võ Khố ghi: “張 無 盡 丞 相。十 九 歲 應 舉 入 京。經 由 向 家。向 家 夜 夢 人 報 曰。明 日 接 相 公。凌 晨 淨 室 以 待。至 晚 見 一 窮 揩 大 著 黃 道 服。乃 無 盡 也。向 禮 延 之。問 秀 才 何 往。無 盡 以 實 告。向 曰。秀 才 未 娶。當 以 女 奉 灑 掃。無 盡 謙 辭 再 三。向 曰。此 行 若 不 了 當。吾 亦 不 爽 前 約。 – Thừa tướng Trương Vô Tận lúc 19 tuổi vào kinh ứng thí. Nói qua nhà họ Hướng. Họ Hướng đêm nằm mộng thấy thần nhân báo rằng: Ngày mai tiếp rước Tướng công. Sáng sớm họ Hướng quét dọn nhà cửa sạch sẽ để đợi. Đến chiều mới thấy một anh học trò nghèo kiết, mặc đạo phục màu vàng, chính là Trương Vô Tận đến. Họ Hướng chào mời rồi hỏi: Tú tài đi đâu? Vô Tận kể rõ việc mình. Họ Hướng nói: Tú Tài chưa có gia đình, nay tôi cho con gái tôi theo hầu hạ. Vô Tận khiêm nhường từ chối đôi ba phen. Họ Hướng nói: Nếu việc thi cử chẳng thành công, tôi cũng không sai lời hẹn ước.” ● 2.Nhà thiền gọi việc tham thiền thành công, minh ngộ tâm địa là Liễu đương. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “法 演 遊 方 十 有 餘 年。海 上 參 尋 見 數 員 尊 宿。自 謂 了 當。及 到 色 山 圓 鑑 會 下。直 是 開 口 不 得。 – Pháp Diễn tôi du phương hơn 10 năm, tham vấn nhiều nơi gặp được vài vị tôn túc, tự cho là tham thiền thành công. Kịp đến khi vào Phù Sơn pháp hội của ngài Viên Giám, mới biết là mở miệng chẳng được.” ● 了 覺 禪 師.Hiệu của thiền tăng Trí Nghiêm, sống vào đời Ngũ Đại, do Nam Đường Trung chủ ban cho. X. Trí Nghiêm. ● 了 慧 (1198-1262).Thiền tăng đời Tống, họ La, hiệu Tây Nham, người xứ Phùng Châu (nay là phía nam huyện Nghi Lũng, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Xuất gia từ nhỏ, 19 tuổi cạo tóc; nối pháp Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm, thuộc tông Lâm Tế, làm Tri Tạng tòa thứ 2. Lúc ra hoằng pháp, sư trụ chùa Định Huệ ở Tô Châu và trải qua các chùa: Năng Nhân, Đông Lâm, Thiên Đồng. Về già lui về ẩn ở am Huyễn Trí. Tác phẩm: Ngữ Lục 2 quyển. ● 了 幻.Hiệu của thiền tăng Pháp Lâm, sống vào đời Nguyên. X. Pháp Lâm. ● 了 朗.Sáng rỡ. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “雲 綻 青 天 月、了 朗 甚 分 明。 – Mây xẹt thấy vầng trăng giữa bầu trời xanh, sáng rỡ rất rõ ràng.” ● 了 了.Rõ ràng, biết rõ. Bài “Lộng Châu ngâm” của Hòa Thượng Đan Hà trong TĐT q.4 ghi: “此 珠 無 狀 非 大 小、盡 夜 圓 明 悉 能 照、用 時 無 處 复 無 蹤、行 住 相 隨 常 了 了。 – Châu này không hình dáng chẳng lớn nhỏ. Ngày đêm tròn sáng biết chiếu soi. Khi sử dụng thì dùng nơi nào cũng được và không để lại dấu vết. Thường rõ ràng trong khi đi đứng.” ● 了 明 (?-1165).Thiền tăng đời Tống, họ Lục, ban đầu tên Cận Lễ, thân cao 2.3m, bụng to đến vài ôm, người đời gọi sư là “Đại Thiền”, người xứ Tú Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Nương ngài Đại Huệ Tông Cảo mà tham cứu. Sư tính tình thành thực, cương nghị, được sự khâm phục và kính trọng của tăng chúng. Gặp lúc Tông Cảo bị đày đi Mai Dương, Liễu Minh cũng theo chân Ngài để bảo hộ, suốt 17 năm không hề nản chí. Về sau ra hoằng pháp sư trụ các nơi: Đầu Tử, Trường Lô, Kính Sơn, bạn thiền khắp nơi vân tập, pháp duyên hưng thạnh. Tương truyền sư là hậu thân của Bố Đại Hòa Thượng và có hiệu là “Đại Thiền Phật”. ● 了 義 (1263-1334).Thiền tăng đời Nguyên, họ Dương, ban đầu tên Tùng Nhất, hiệu Đoạn Nhai, người xứ Đức Thanh, Hồ Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 17 tuổi, sư đến núi Thiên Mục yết kiến Thiền Sư Nguyên Diệu, được Ngài cho theo hầu tả hữu. Một hôm thấy tuyết rơi trên cây tùng sư có tỉnh ngộ liền làm tụng trình lên Thầy. Nguyên Diệu đập cho sư một gậy, sư hoát nhiên ngộ nhập, được Diệu khen là mẫn tiệp. Sau đó sư vào núi Thượng Bách ẩn cư nuôi mẹ. Ít lâu sau, Nguyên Diệu gọi sư ra để cạo tóc. Năm 1326, sư ra hoằng pháp trụ chùa Chính Tông, núi Thiên Mục. Thụy hiệu: Phật Huệ Viên Minh Chính Giác Phổ Độ Đại Sư. ● 了 義 教.Giáo pháp liễu nghĩa. Chỉ cho giáo thuyết có quan hệ đến pháp cứu cánh (pháp căn bản) trong kinh Phật, phần lớn chỉ giáp pháp Đại thừa. Chương Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q.4 ghi: “師 問 僧:近 離 什 麼 處?對 曰:近 離 百 丈。師 曰:海(指 百 丈 懷 海)師 兄 一 日 十 二 時 中、爲 師 僧 說 什 麼 法?對 曰:或 曰 三 句 外 省 去、或 曰 六 句 外 會 取、或 曰 未 得 玄 鑒、且 依 了 義 教、猶 有 相 親 分。師 曰:三 千 里 外、且 喜 得 勿 交 涉! – Sư hỏi tăng: Ngươi vừa rời chỗ nào? Tăng đáp: Vừa rời Bách Trượng. Sư bảo: Hải (chỉ Bách Trượng Hoài Hải) sư huynh trong suốt một ngày dạy pháp gì cho đại chúng? Tăng đáp: Có khi dạy ngoài ba câu hãy tỉnh ngộ, có khi dạy ngoài sáu câu hãy lãnh hội, có khi nói nếu chưa được tông chỉ thiền hãy nương vào Liễu nghĩa giáo sẽ có phần gần gũi.Sư nói: Ngoài 3.000 dặm, may thay được không dính dáng.” 2.Nhà thiền đem thiền giáo chẳng lập ngôn gữ văn tự gọi là Liễu nghĩa giáo. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q.2 ghi: “但 有 語 句、盡 屬 不 了 義 教。但 有 語 句、盡 不 許 也。了 義 教 俱 非 者、更 討 什 麼 密 語? – Hễ có lời nói đều thuộc về giáo pháp không liễu nghĩa. Hễ có lời nói đều chẳng chấp nhận. Giáo pháp liễu nghĩa còn chẳng phải, còn tìm mật ngữ gì!” ● 了 悟.Thiền tăng đời Tống, hiệu là Tiếu Am, người xứ Tô Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Mật Am Hàm Kiệt, thuộc tông Lâm Tế. Sư trụ chùa Linh Ẩn, Hàng Châu. Tác phẩm: Tiếu Am Ngộ Thiền Sư Ngữ Yếu 1 quyển. ● 了 悟.Hiệu của thiền tăng Thanh Tủng sống vào đời Ngũ Đại. X. Thanh Tủng. ● 了 元 (1032-1098).Thiền tăng đời Tống, họ Lâm, tự Giác Lão, hiệu Phật ấn nên còn gọi là “Phật ấn Liễu Nguyên”, người xứ Phù Lương (nay là trấn Cảnh Đức tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Thuở bé học sách Nho. Sau xuất gia ở chùa Bảo Tích, thụ giới cụ túc rồi đi tham vấn các nơi, nối pháp Thiền Sư Thiện Xiêm, thuộc tông Vân Môn. Năm 28 tuổi trụ chùa Thừa Thiên, Giang Châu. Năm 46 tuổi trụ Kim Sơn, Trấn Giang. Sau đó sư trụ núi Vân Cư ở quận Nam Khang. Sư trụ trì 9 ngôi đạo tràng, nổi tiếng khắp trong triều ngoài nội. Tư chất thông minh khác thường, biết nhiều sách vở trong đạo ngoài đời, sở trường về thư pháp, giỏi văn thơ, khéo biện luận. Vua Thần Tông khâm phục đạo phong của sư, ban riêng cho sư Cao Ly ma nạp, bình bát bằng vàng và hiệu “Phật ấn Thiền Sư”. Có Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 了 月 (1731-1812).Thiền tăng đời Thanh, họ Triệu, tự Tịnh Đức, hiệu Hư Kỳ, người xứ Dương Hồ (Vũ Tiến, Giang Tô) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Nạp Xuyên Tế Hải, đời thứ 42 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Thiên Ninh ở Thường Châu vào niên hiệu Càn Long thứ 51, chùa Trúc Lâm ở Trấn Giang vào niên hiệu Gia Khánh thứ 4. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 了 一 (1081-1155).Thiền tăng đời Tống, họ Từ, hiệu Chiêu Đường, Chiếu Đường, người Phụng Hóa, Chiết Giang, Trung Quốc.Sư nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Tư Huệ thuộc tông Vân Môn đời thứ 9, trụ các tự viện: Thạch Tuyền (Thiểm Tây), Hoàng Bá (Giang Tây), Vân Môn (Thiệu Hưng), Kính Sơn (Hàng Châu). Có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 了 然.1. Hiểu rõ. Cô Tịch Ngâm của Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q.4 ghi: “時 人 未 解 將 爲 錯、余 則 了 然 似 不 迷。 – Người đời không biết nên bị lầm, ta thì hiểu rõ tự chẳng mê.” ● 2. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Đại Ngu, ở Cao An, Quân Châu (nay thuộc Chiết Giang) thuộc hệ Nam Nhạc đời thứ 5, trụ núi Mạt Sơn hoằng pháp. ● 了 觀 (1673-1753).Thiền tăng đời Lê trung hưng. Sư là Sơ tổ của phái Liễu Quán, tên Lê Thiệt Diệu, quê làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (Sông Cầu, miền Trung Việt Nam bây giờ); nối pháp Thiền Sư Tử Dung Minh Hoằng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 35. Năm 1695, sư ra Thuận Hóa thụ giới Sa Di với Hòa Thượng Thạch Liêm. Năm 1697, sư thụ giới cụ túc với Lão Hòa Thượng Từ Lâm (người Trung Hoa) ở chùa Từ Lâm. Năm 1699, sư đi tham lễ khắp thiền lâm trải qua biết bao sự khó khăn khổ nhọc. Đến năm 1702, sư lại Long Sơn tham yết Hòa Thượng Tử Dung cầu dạy pháp tham thiền. Hòa Thượng dạy sư tham câu: Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ (Muôn pháp về một, một về chỗ nào?) Sư ngày đêm tham cứu đến bảy tám năm mà chưa lãnh hội, trong lòng tự lấy làm hổ thẹn. Một hôm nhân đọc Truyền Đăng Lục đến câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”, thoạt nhiên sư được tỏ ngộ. Nhưng vì núi sông cách trở, sư không thể đến ngài Tử Dung để trình sở ngộ được. Đến mùa xuân năm 1708, sư trở ra Long Sơn cầu Hòa Thượng ấn chứng, được Ngài hứa khả. Thời ấy, chúa Nguyễn Ninh Vương rất quý mến đạo đức của sư, thường mời vào cung đàm đạo, nhưng sư vẫn từ chối không vào. Cuối tháng 2 năm 1743, trước mấy ngày tịch, sư ngồi dậy vững vàng, tự cầm bút viết bài kệ từ biệt rằng: 七 十 餘 年 世 界 中 空 空 色 色 亦 融 通 今 朝 願 滿 還 家 裏 何 必 奔 縵 問 祖 宗 “Thất thập dư niên thế giới trung Không không sắc sắc diệc dung thông Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý Hà tất bôn man vấn tổ tông”. “Hơn bảy mươi năm ở cõi này Không không sắc sắc thảy dung thông Hôm nay nguyện mãn về quê cũ Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông”. Sư là Tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thiền Tông ở Huế. Sư có 2 bài kệ pháp phái: 1. Thật tế đại đạo Tính hải thanh trừng Tâm nguyên quảng nhuận Đức bản từ phong Giới định phúc huệ Thể dụng viên thông. 2. Vĩnh siêu trí quả Mật khế thành công Truyền trì diệu lý Diễn sướng chính tông Hạnh giải tương ưng Đạt ngộ chân không. Theo Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 了 拳 (813-861).Thiền tăng đời Đường, họ Phan, người Bình Sa Phúc Kiến, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận, thuộc hệ Nam Nhạc đời thứ 5, trụ chùa Kích Quyết. Người đời gọi sư là Tàm Quý Tổ Sư. ● 了 事.Hiểu biết sự lý. Tông Môn Võ Khố ghi: “侍 者 不 了 事。 – Thị giả chẳng hiểu biết sự lý.” ● 了 事 漢.Người biết rõ sự lý, người tỏ ngộ thiền pháp. Duy Tắc Ngữ Lục q.2 ghi: “忽 然 覷 破 話 頭、眼 空 天 下、肯 復 讓 范 冲、于 頔 輩 爲 了 事 漢 哉? – Chợt phá vỡ thoại đầu, mắt nhìn thông suốt thế giới, lại chịu nhường cho bọn Phạm Xung, Vu Địch làm người tỏ ngộ thiền pháp sao?” ● 了 禪 (1830-1894).Thiền tăng đời Thanh, họ Lôi, tự Nguyệt Huy, người xứ Bảo ứng, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Mặc Khê Hải Âm, đời thứ 45 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Định Huệ ở Tiêu Sơn. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 了 脫.Tỏ ngộ siêu thoát. Thư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q.1 ghi: “發 心 趣 向、志 愿 了 脫 生 死、要 把 無 量 劫 來 生 死 根 株、一 時 頓 拔、起 是 細 事。 – Phát tâm hướng về đạo, có nguyện vọng tỏ ngộ siêu thoát sinh tử, thì cần phải đem gốc rễ sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay nhổ sạch một loạt, há là việc nhỏ sao!” ● 了 取.Rõ ràng, thấu rõ. Thủ (取) là hậu chuyết từ. Chương “Tông thừa yếu nghĩa” trong DTNL q.9 ghi: “即 今 有 箇 覿 面 相 呈 一 著 子、要 汝 諸 人 直 下 了 取。 – Hôm nay có một việc trình ra trước mặt, muốn các vị lập tức thấu rõ.” ● 了 性 (1271-1321).Thiền tăng đời Nguyên, họ Vũ, tự Đại Lâm. Xuất gia từ thiếu niên. Tính cương nghị, thanh cao, thông minh hiếu học, giới hạnh nghiêm minh, được tăng chúng khâm phục. Ban đầu theo Nam Dương Tùng Công tu giáo pháp Hiền Thủ, kế đó yết kiến Thiền Sư Lũng Để Chân Giác cầu thiền pháp viên đốn và được nối pháp ngài. Vào khoảng niên hiệu Chí Đại (1308-1311), Hoàng Thái Hậu lập chùa Phổ Ninh ở núi Ngũ Đài, xuống chiếu vời sư làm Trụ trì. Sư đem thân làm mẫu mực khiến cho kỷ cương của chùa này được chấn chỉnh. ● 了 宗 大 師.Hiệu của Thiền tăng Trí Nhạc, sống vào đời Ngũ Đại. X. Trí Nhạc. ● 了 知.Đã biết rõ. Chương Nhất Túc Giác Hòa Thượng trong TĐT q.3 ghi: “自 從 一 見 曹 溪 後、了 知 生 死 不 相 干。 – Từ khi gặp được Tào Khê (tức Lục Tổ Huệ Năng) về sau, biết rõ là việc sinh tử chẳng đáng gì để tâm dính dáng.” ● 了 貞 (1728-1785).Thiền tăng đời Thanh, họ Dư, tự Chiêu Nguyệt, người huyện Bái, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Tế Thánh, đời thứ 41 hệ Nam Nhạc.Trụ trì chùa Thiên Mân. Tac phẩm: Chiêu Nguyệt Tập, Chính Nguyên Lược Tập, Liễu Trinh Ngữ Lục. ● 了 萬 (1241-1312).Thiền tăng đời Nguyên, họ Toàn (một thuyết khác cho là họ Kim), tự Vô Ý, hiệu Nhất Sơn, người xứ Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Tuổi trẻ theo nghiệp Nho, 16 tuổi xuất gia nơi Tư Nhân Tôn giả tại viện Thường Lạc, du phương tham yết Thiền Sư Tịnh Từ Trọng Dĩnh và đắc pháp. Sư trụ chùa Hàn Nham ở Thiên Thai rồi dời sang núi Tử Trạch ở Tiên Cư. Sau trụ chùa Giang Tâm ở Vĩnh Gia. Về già sư trở về Đông Khê. Tính tình ngay thẳng, thích dìu dắt đàn hậu học. Có Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 料 簡.Phân biệt rõ. Phân biệt đoán định. Thần Hội Di Tập q.3 ghi: “普 寂 禪 師 與 南 宗 有 別、我 自 料 簡 是 非、定 其 宗 旨。 – Thiền Sư Phổ Tịch cùng với Nam Tông có khác. Tôi tự phân biệt rõ phải trái, giữ vững tông chỉ của mình”. ● 靈 隠 寺.Chùa nằm bên Tây Hồ, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, là chùa đứng đầu trong 4 chùa lớn ở Tây Hồ, là chùa bậc nhất trong 5 ngôi Thiền Tự lớn ở Giang Nam, là 1 trong 10 ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Trung Quốc.Vào niên hiệu Hàm Hòa thứ nhất (326) đời Đông Tấn, vị cao tăng ấn Độ là Huệ Lý đến nơi này, lên ngọn Phi Lai khen rằng: “Đây là một ngọn núi nhỏ của ngọn Linh Thứu ở ấn Độ, chẳng biết bay đến đây vào đời nào? Lúc Phật còn tại thế, phần lớn là nơi tiên linh ở ẩn”. Sư liền lập chùa ở trước núi, lấy tên là Linh Ẩn. Đời Đường Túc Tông, tự viện đã gần quy mô. Vào niên hiệu Hội Xương thứ 5 (845) đời Đường, lúc Vũ Tông diệt Phật pháp, chùa này bị phá hủy, chư tăng tứ tán. Niên hiệu Kiến Long thứ 1 (960) đời Tống, Ngô Việt Vương mời Thiền Sư Diên Thọ đứng ra tổ chức xây cất lại chùa Linh Ẩn. Theo những tài liệu liên quan chép lại thì đương thời xây dựng chùa này có 9 lầu, 18 gác, 72 điện đường, trên 1. 300 gian phòng, cộng thêm hành lang 4 phía từ cổng chùa chạy dài đến phương trượng. Tăng chúng có trên 3.000 vị. Niên hiệu Cảnh Đức thứ 4 (1007) đời Tống, chùa được trùng tu, đổi tên là “Cảnh Đức Linh Ẩn Thiền Tự”. Khoảng niên hiệu Kiến Viêm (1127-1130) chùa bị phá hủy bởi loạn quân.Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) chùa mới được trùng tu. Khoảng niên hiệu Càn Đạo (1165-1173), Thiền Sư Huệ Viễn trụ trì chùa này, giáo hóa rất thạnh. Về sau, chùa đã bao phen bị hủy và được xây dựng. Niên hiệu Thuận Trị thứ 6 (1649) đời Thanh, bắt đầu xây dựng lại toàn diện, đến niên hiệu Khang Hy thứ 1 (1662) thì tiến hành mở rộng thêm. Trải qua 18 năm quản lý khó nhọc của Thiền Sư Cụ Đức Hoằng Lễ, chùa Linh Ẩn mới hoàn thành các kiến trúc: 7 điện, 12 đường, 4 gác, 3 mái hiên, 3 lầu. Tự viện hiện còn là ngôi chùa được xây dựng lại vào thế kỷ XIX. Vào năm 1956, năm 1970 đã được đại tu 2 lần. Chính giữa chùa là Thiên vương điện, bên trên có treo bảng “Vân Lâm Thiền Tự”, là thủ bút của vua Khang Hy đời Thanh. Trong Đại hùng bảo điện có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni được trang sức bằng vàng, cao 9,1m, nếu cộng thêm tòa hoa sen và hào quang trên đảnh thì cao đến 19,6m. Hai bên đại điện xếp mỗi bên 12 tượng chư thiên, 12 tượng Bồ tát, thần thái như sống và mỗi tượng đều khác nhau. Trước chùa có các ngôi đình như: Lãnh Tuyền, Thanh Tông, Hách Lôi nằm xen lẫn trong những tàng cây cổ thụ. Chùa Linh Ẩn là nơi quan trọng để các tín đồ Phật giáo trong các tỉnh: Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến hoạt động Phật sự. Vào thời điểm hưng thịnh, mỗi ngày khách hành hương có hơn 180. 000 người. ● 靈 隱 寺 石 塔.Tháp nằm trong đình viện ở hai bên Đại điện Nguyệt Đài trong chùa Linh Ẩn, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Kiến Long thứ 1 (960) đời Tống, Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thúc vì kỷ niệm Đại sư Vĩnh Minh mà xây song tháp này. Tháp bằng đá theo kiểu lâu các, mặt bằng hình bát giác, 9 tầng, cao hơn 10m. Trên thân tháp điêu khắc cửa cái, cửa sổ, cột cái và các tượng Phật, Bồ Tát và các hoa văn trang sức. Dưới mái mỗi tầng khắc ra trùng trùng đấu củng chống đỡ mái tháp vênh ra xa, xa trông như kiến trúc bằng gỗ. ● 靈 照 (870-947).Thiền tăng đời Ngũ Đại, người nước Cao Ly, đi đến Mân Việt, yết kiến Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, thầm khế hợp huyền chỉ. Tính điềm đạm, tự kềm chế nên chúng rất kính sợ. Ban đầu sư trụ núi Tể Vân, Vụ Châu (nay là Kim Hoa, Chiết Giang), sau dời về viện Cảnh Thanh, Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang), thiền chúng vân tập. Sư vâng lệnh Ngô Việt Trung Hiến Vương trụ trì chùa Long Hoa ở Hàng Châu, nơi thờ linh cốt Phó đại sĩ. Thụy hiệu “Chân Giác Đại Sư”. ● 靈 谷 寺.Còn gọi: Đại Linh Cốc Tự. Chùa nằm cách lăng Trung Sơn,thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc 1,5km về phía đông. Chùa xây vào niên hiệu Thiên Giám thứ 13 (514) đời Lương Nam Triều, ban đầu gọi là “Khai Thiện Tinh Xá”, đời Đường gọi “Bảo Công Viện”, đời Nam Đường đổi tên là “Khai Thiện Đạo Tràng”. Khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-984) đời Tống đổi tên là “Thái Bình Hưng Quốc Tự”,đầu đời Minh đổi tên là “Tưởng Sơn Tự”. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 14 (1381) Minh Thái Tổ vì xây lăng Minh Hiếu đem Tưởng Sơn Tự, Định Lâm Tự, Tống Hy Tự, Trúc Viên Tự, Ngộ Chân Am dời tất cả về đây, gọi chung là “Linh Cốc Tự”và ban cho tấm biển “Đệ Nhất Thiền Lâm”. Khi ấy điện vũ mọc lên như rừng, tăng xá rất nhiều có thể chứa ngàn tăng. Trải qua nhiều đời đều có cao tăng trụ tích, là chùa nổi tiếng ở vùng Đông Nam. Trong chùa vạn tùng cao chọc trời, một con đường nhỏ thâm u, xưa gọi là “Linh Cốc Thâm Tùng”, là một trong 40 cảnh của Kim Lăng. Chùa hiện nay chỉ là một phần Long vương điện của Linh Cốc Tự, khoảng niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) đời Thanh trùng tu, quy mô nhỏ hơn. Nhưng con đường nhỏ bên rặng tùng, sắc núi đẹp đẽ vẫn khiến người người đều hướng về. ● 靈 骨.Còn gọi: Xá Lợi. Phần xương lưu lại của Phật hoặc của các vị tăng đắc đạo. Chương “Tổ Di Giá Ca” trong CĐTĐL q.1 ghi: “師 說 偈 已。入 師 子 奮 迅 三 昧。踊 身 虛 空 高 七 多 羅 樹。卻 復 本 坐 化 火 自 焚。婆 須 蜜 收 靈 骨 貯 七 寶 函。建 浮 圖 窴 于 上 級。 – Sư nói kệ xong, nhập ›Sư tử phấn tấn Tam Muội‹, vọt thân lên hư không cao gấp 7 lần cây Đa La, rồi trở về chỗ ngồi, dùng lửa tam muội để tự thiêu.Bà Tu Mật thu lượm linh cốt cất trong rương bảy báu, xây bảo tháp và thờ ở tầng trên hết”. ● 羚 羊 掛 角.Con linh dương lúc ngủ, treo sừng lên cành cây, chân không chạm đất, hoàn toàn không để lại dấu chân. Thiền Tông mượn hình ảnh này để chỉ cho việc khai con mắt đạo cho người học mà không nhờ vào ngữ ngôn văn tự, tri thức kiến giải v.v… CĐTĐL q.16 (Đại 51, 328) trung) ghi: “我 若 東 道 西 道。汝 則 尋 言 逐 句。我 若 羚 羊 掛 角。汝 向 什 麼 處 捫 摸。 – Nếu ta nói đông nói tây thì ông tìm lời trích cú, nếu ta như con linh dương treo sừng thì ông sờ mó chỗ nào?”. ● 靈 臺.Phật tính thanh tịnh. Chương Nam Nhạc Lại Toản Hoà thượng ca trong CĐTĐL q.30 ghi: 莫 謾 求 眞 佛、眞 佛 不 可 見 妙 性 及 靈 臺、何 曾 受 熏 鍊 心 是 無 事 心、面 是 孃 生 面 劫 石 可 移 動、箇 中 無 改 變 “Mạc mạn cầu chân Phật Chân Phật bất khả kiến Diệu tính cập linh đài Hà tằng thọ huân luyện Tâm thị vô sự tâm Diện thị nương sinh diện Kiếp thạch khả di động Cá trung vô cải biến”. “Chớ dối cầu chân Phật Chân Phật chẳng thấy được Diệu tính cùng linh đài Đâu từng chịu huân tập. Tâm là tâm vô sự Mặt là khuôn mặt mẹ Kiếp thạch có đổi dời Cái này không thay đổi”. ● 靈 覺.Linh tính giác ngộ mà mọi người đều sẵn có, cũng là Phật tính. Chương Chứng Đạo Ca trong CĐTĐL q.30 ghi: “一 切 數 句 非 數 句。與 吾 靈 覺 何 交 涉。 – Tất cả văn tự chẳng văn tự, cùng linh giác ấy nào can dự?”. ● 靈 訓.Thiền tăng đời Đường, người Phúc Châu, nối pháp Thiền Sư Quy Tông Trí Thường. Sau trở về Phúc Châu, người trong làng đón sư vào núi Phù Dung.Thụy hiệu “Hoằng Chiếu Đại Sư”. ● 靈 祐 (771-853).Thiền tăng đời Đường, Tổ tông Quy Ngưỡng, họ Triệu, người xứ Trường Khê, Phúc Châu (nay là Hà Phố, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc.Năm 15 tuổi theo luật sư Pháp Thường ở chùa Kiến Thiện xuất gia. Ba năm sau thụ giới cụ túc ở chùa Long Hưng, Hàng Châu, tu học các kinh luật Đại, Tiểu thừa. Sư từng đến Thiên Thai. Lần lượt gặp 2 ngài Hàn Sơn và Thập Đắc khải phát cho. Năm 23 tuổi đến Giang Tây tham vấn Bách Trượng Hoài Hải, là đệ tử đứng đầu và được nối pháp Ngài.Cuối niên hiệu Nguyên Hòa (820) sư đến Quy Sơn ở một mình suốt 7 năm, về sau được Tướng quốc Bùi Hưu sùng kính, cất chùa Đồng Khánh, chư tăng theo học rất đông, từ đây thiền phong hưng thịnh. Thụy hiệu “Đại Viên Thiền Sư”.Tác phẩm: Đàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục. ● 靈 空.Bản tâm thanh tịnh, không tịch. Bài Minh Chân Tụng trong PKNL ghi: 靈 空 元 自 無 像、不 用 斷 除 妄 想 妄 想 即 是 眞 心、何 須 分 一 作 兩 “Linh không nguyên tự vô tượng Bất dụng đoạn trừ vọng tưởng Vọng tưởng tức thị chân tâm Hà tu phân nhất tác lưỡng”. “Linh không vốn không hình tượng Chẳng cần đoạn trừ vọng tưởng Vọng tưởng tức là chân tâm Đâu nên phân ra hai tướng”. ● 靈 珪.Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Thanh Bình Linh Tuân. Sư ra giáo hóa trụ núi Tam Giác, Kỳ Châu (nay thuộc Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. ● 靈 嶠.Thiền tăng đời Đường, tham học nơi Mã Tổ Đạo Nhất, được ngộ và nối pháp Ngài. Sư ẩn trong hang trước Cổ Sơn. Tương truyền vùng này vốn là cái đầm sâu, dưới có con rồng độc thường nhiễu hại dân chúng nơi đây. Niên hiệu Kiến Trung thứ 4 (783) đời Đường, Quận xử lý bằng cách sai Bùi Trụ thỉnh sư chế phục rồng độc. Linh Kiệu đến bên đầm tụng kinh Hoa Nghiêm, rồng liền bỏ đi. Mọi người cảm mộ ân đức của sư bèn dựng chùa trên nền đầm rồi rước sư về trụ trì, vua có ban bảng hiệu “Hoa Nghiêm” và được gọi là chùa Hoa Nghiêm. Linh Kiệu ở chùa này giáo hóa rộng rãi. Chẳng biết cuối cùng sư thị tịch ra sao. ● 靈 靈 然.Hình dung sự giác ngộ sáng suốt, thần thông vô ngại của bản tâm. Chương Cưu Ma Đa La tổ thứ 19 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “心 本 清 淨 無 生 滅 無 造 作。無 報 應 無 勝 負 。寂 寂 然 靈 靈 然。 – Tâm vốn thanh tịnh, không sinh diệt, không tạo tác, không báo ứng, không hơn thua, lặng lẽ, sáng suốt”. ● 靈 利.Nhanh nhẹn, sắc sảo. Nhà thiền gọi những người căn khí tốt, ngộ nhập dễ dàng là người linh lợi, nạp tăng linh lợi. Tiết Càn Nguyên Tông Dĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “靠 拄 杖 曰:靈 利 人 不 勞 再 舉。而 今 莫 有 靈 利 底 麼? – Sư dựng cây gậy, nói: Người linh lợi chẳng nhọc cử công án lại, mà hôm nay không có người linh lợi sao?”. ● 靈 默 (747-818).Thiền tăng đời Đường, họ Tuyên, người xứ Tỳ Lăng (nay là Thường Châu, tỉnh Giang Tô), Trung Quốc. Ban đầu, sư theo nghiệp nho, chợt gặp Mã Tổ Đạo Nhất, ngay nơi lời nói sư liền khế hợp liền được cạo tóc và thụ giới cụ túc. Sau yết kiến Thạch Đầu Hy Thiên, hoát nhiên tỉnh ngộ, làm thị giả cho Ngài trong 20 năm. Đầu niên hiệu Trinh Nguyên (785), sư trụ đạo tràng Bạch Sa núi Thiên Thai. Hai năm sau trụ Phố Dương. Sư còn ở núi Ngũ Tiết, người học ở khắp nơi tụ về mà sư vẫn thanh bạch giản dị như thường. Sau khi tịch, Chí Nhàn soạn văn bia cho sư. ● 靈 木 大 拙 貞 太 郎 (1870-1966).(J: Suzuki, Daisetz Teitaro). Học giả Phật giáo Nhật Bản, là đệ tử tục gia của tông Lâm Tế. Ông sinh trong một gia đình Hiệp sĩ (Samurai). Khi lên 5 tuổi, cha mất. Năm 21 tuổi, ông đến Tokyo để học tiếng Anh, rồi đến Kamakura để học thiền tại chùa Viên Giác, thọ giáo ngài Kim Bắc Hồng Xuyên và Tông Diễn. Trong thời gian tu học này, ông dịch các sách Phật học sang tiếng Anh. Năm 35 tuổi, ông theo ngài Tông Diễn diễn giảng ở các vùng miền Đông Mỹ. Sau đó, ông du học ở các nước Anh, Đức, Pháp, Thụy Sĩ. v.v…, ông trở về nước lần lượt làm giáo sư Đại học Đế Quốc và Đại học Ōtani ở Tokyo, biên tập tạp chí Thiền Đạo. Năm 63 tuổi, ông đạt được học vị Tiến sĩ văn học qua luận án “Nghiên cứu kinh Lăng Già”. Ông từng thiết lập: “Hiệp hội tín đồ Phật giáo Đông Phương” ở Đại học Ōtani, “ Văn khố Tùng Gia Cương” tại chùa Đông Khánh ở Lâm Thượng. Năm 85 tuổi, ông tổ chức và làm hội trưởng Hội Nghiên cứu Đại Tạng Kinh Tây Tạng. Năm 93 tuổi, ông hoàn thành “Vọng Nguyệt Phật Giáo Đại Từ Điển Bổ Di” 2 quyển. Ông có cống hiến rất lớn đối với tư tưởng Đông phương và sự truyền bá Thiền học vào các nước Âu Mỹ. Tác phẩm (trích): Thiền Luận 1, 2, 3; Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; Thiền Pháp Nhập Môn; Giáo Lý Vô Niệm; Thiền Sinh Hoạt; Thiền và Phân Tâm Học; Cốt Tủy của Đạo Phật; Thiền và Văn Hóa Nhật… Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 靈 源.1. Bản tâm là nguồn gốc của vạn vật. Tham Đồng Khế của Thạch Đầu Hy Thiên trong NĐHN q.5 ghi: “靈 源 明 皎 潔、枝 派 暗 流 注。 – Nguồn linh trong sáng vốn không phải tồn tại đơn độc mà có nhiều chi nhánh như con sông lớn hay cội cây, gọi là “sự lý gồm đủ””. ● 2. Thiền tăng đời Minh, họ Tiết, tự Bất Nhị, người xứ Phong Dương (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc.Ban đầu sư tham học nơi Thiền Sư An Nhạc Liễu Ngộ, không khế hợp nên yết kiến Thiền Sư Vô Tế, được trao cho thoại đầu chữ VÔ. Linh Nguyên khổ tham lâu ngày, bỗng tỉnh ngộ, được thầy ấn chứng. Sư cất am Tuyết Cốt ở Quảng An và trụ ở đấy (nay là huyện Nhạc Trì, tỉnh Tứ Xuyên). ● 靈 巖 寺.1. Thuộc núi Phương Sơn, huyện Trường Thanh, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Vào niên hiệu Chính Quang thứ 1 (520) đời Bắc Ngụy, Thiền Sư Pháp Định sáng lập, từ đây về sau trãi qua nhiều lần hưng phế. Khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường Huệ Sùng xây dựng lại, đời Tống lại trùng tu, hiện còn phần lớn là những kiến trúc đời Tống. Đời Đường là thời kỳ hưng thịnh nhất. Có điện các hơn 40 tòa, thiền phòng hơn 500 gian, tăng chúng hơn 500 người, đứng đầu trong bốn đại danh sát, cùng với Thiên Thai Quốc Thanh Tự, Nam Kinh Thê Hà Tự, Giang Lăng Ngọc Tuyền Tự được gọi là “Tứ tuyệt” của tự viện trong thiên hạ. Chùa Linh Nham được tiếng tăm lớn “Tứ tuyệt đệ nhất”. Trải qua nhiều đời tu sửa xây dựng thêm, bố cục tự viện rộng lớn, văn vật cổ tích phong phú. Hiện còn tấm biển “Ngự Thư Các” viết chữ triện, tương truyền do vua Đường Thái Tông viết. Kiến trúc chủ yếu hiện còn là Thiên Phật điện, Đại hùng bảo điện, Chung cổ lâu, Bích chi tháp. Ngoài ra còn có Tích thúy chứng minh khám, Mộ tháp lâm, Ngũ hoa điện thạch trụ và những bia đá từ đời Đường Tống đến nay như “Linh Nham Tự Tụng Bi” do Lý Ung đời Đường viết, có giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử rất cao. ● 2.Chùa Quảng Hóa vào niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 1 (976) đời Tống trở về trước gọi là “Linh Nham Tự” X. “Quảng Hóa Tự” ● 靈 巖 寺 塔.Nằm bên phải Thiên Phật điện, chếch về phía bắc Linh Nham Thiền Tự, huyện Trường Thanh, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. X. “Bích Chi Tháp”. ● 靈 岩 寺 塔 林.Tháp nằm ở phía tây chùa Linh Nham, huyện Trường Thanh, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, gồm 167 tòa mộ tháp từ đời Đường đến đời Thanh. Bởi số lượng lại nhiều, thời gian lâu xa, hình dáng đa dạng, tạo hình ưu mỹ nên được xem là rừng tháp hiếm có trong nước, chỉ có Thiếu Lâm Tự Tháp Lâm là có thể so sánh. Trong rừng tháp này, mộ tháp của Thiền Sư Huệ Sùng được xây sớm nhất vào khoảng niên hiệu Thiên Bảo (742-755) đời Đường. Tháp của mỗi triều đại đều có điểm đặc sắc riêng. Nói chung tháp tuy nhỏ nhưng hình thức đa dạng, đa số là tháp hình chuông. Trong rừng tháp có 81 bài minh ghi trên bia cổ, trong đó bài minh “Tức Am Thiền Sư Đạo Hạnh Bi” được khắc vào niên hiệu Chí Chính thứ 1 (1341) đời Nguyên là do tăng nhân Nhật Bản là Hòa Thượng Thiệu Nguyên lưu học ở Trung Quốc hơn 20 năm viết. ● 靈 峰 蕅 益.Thiền tăng Trí Húc đời Minh hiệu Ngẫu Ích, Về già trụ chùa Linh Phong, nên người đời gọi là Lonh Phong Ngẫu Ích. X. Trí Húc. ● 靈 府.Tâm. Thần Hội Truyện trong TCTT q.8 ghi: “次 尋 莊、老、靈 府 廓 然。 – Trong lúc sư đang nghiên cứu về Lão Trang, trong tâm bỗng nhiên rỗn lặng”. ● 靈 觀.Thiền tăng đời Đường, sư thờ Hoàng Bá Hy Vận làm thầy. Sau khi đắc pháp, sư trụ Tiết Lão Phong trong dãy núi Điểu Thạch, Phúc Châu, thường đóng cửa ở một mình, người đời ít thấy sư. Chỉ có một vị thí chủ đến giờ mang cơm đến, Linh Quán cũng chỉ mở cửa vào giờ ấy. Người đời gọi là “Lão Quán Hòa Thượng”. Có công án “Lão Quán bế hộ” (Lão Quán đóng cửa), nội dung là cơ duyên đối thoại giữa Lão Quán và Tuyết Phong Nghĩa Tồn. ● 靈 光.Ánh sáng của tự tâm, ánh sáng của Phật tính. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “靈 光 獨 耀、迥 脫 根 塵。體 露 眞 常、不 拘 文 字。心 性 無 染、本 自 圓 成。但 離 妄 緣、即 如 如 佛。 – Linh quang riêng chiếu, vượt khỏi căn trần; thể bày chân thường, chẳng câu nệ văn tự.Tâm tính không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật”. ● 靈 光 寺.Còn gọi: Chùa Bà Đá. Chùa ở số 3 phố Nhà Thờ, Hà Nội, là Tổ đình của phái thiền Lâm Tế, Việt Nam. Đời Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Báo Thiên (tức khu vực quanh Nhà Thờ lớn) có người đào được một pho tượng Phật Bà bằng đá. Người ấy liền dựng một cái miếu con để thờ ngay nơi đào được tượng. Sau đó dân làng thấy linh thiêng mới làm thành ngôi chùa, đón các nhà sư về để cúng bái. Từ đó có tên là chùa Bà Đá. Nhưng pho tượng đá này đã bị mất trong một vụ chùa bị hỏa hoạn vào thời Pháp thuộc. Nay trong chùa có một pho tượng cũng bằng đá nhưng là tượng Phật Thích Ca, mới tạc khoảng đầu thế kỷ XX. Di vật cổ có hai quả chuông đúc vào các năm 1823, 1881 và một cái khánh đúc vào năm 1842.Về tượng có kích thước rất lớn và ở Bái đường không có tượng Hộ pháp. ● 令 岑.Thiền tăng đời Tống, tham học với Thiền Sư Khế Trù và nối pháp Ngài, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ núi Vân Đài ở Tuyền Châu. ● 令 超.Thiền tăng đời Đường, tham học với Thiền Sư Giáp Sơn Thiện Hội và đắc pháp. Sư ra hoằng hóa trụ núi Thượng Lam, Thụy Châu (nay thuộc Cao An, tỉnh Giang Tây), nêu cao đạo pháp của Giáp Sơn, các người học thiền đều hướng về. Về sau, sư sáng lập Thiền Uyển ở Hồng Tỉnh và vẫn lấy tên là Thượng Lam, truyền bá đạo pháp càng thạnh. ● 靈 山.Pāli: Gijjha Kūta.Hán âm: Kỳ Xà Quật. Còn gọi: Linh Thứu Sơn, Thứu Phong, Linh Nhạc. Núi nằm ở phía đông bắc thành Vương Xá nước Ma Kiệt Đà, trung ấn Độ. Hình dáng núi giống như chim đại bàng và do núi này có nhiều giống chim ấy nên được gọi là Linh Thứu.Đức Phật từng giảng kinh Đại thừa tại núi này như Kinh Pháp Hoa, nên núi trở thành thắng địa của Phật giáo. Tham Thiền Kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、超 群 出 格 非 屬 靈 山、豈 傳 少 室 “Tham thiền đệ nhất Siêu quần xuất cách Phi thuộc Linh Sơn Khởi truyền Thiếu Thất”. “Pháp tham thiền bậc nhất Bậc siêu quần xuất cách Chẳng trao tại Linh sơn Há truyền nơi Thiếu Thất”. Hồi thứ 100, Tây Du Ký ghi: “靈 鷲 峰 頭 聚 霞 彩、極 樂 世 界 集 祥 雲。 – Non Linh Thứu đỉnh cao đầy ráng đẹp, cõi nước Cực Lạc rợp mây lành”. ● 靈 山 慧 命.Chỉ Thiền Tông truyền thừa pháp tự. Tiết Tuyết Phong Tư Huệ Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “如 今 每 日 鳴 鼓 陞 堂、忉 忉 怛 怛 地。問 者 口 似 紡 車、荅 者 舌 如 霹 靂。總 似 今 日、靈 山 慧 命。殆 若 懸 絲。少 室 家 風、危 如 累 卵。 – Hiện tại mỗi ngày đánh trống thăng đường để lải nhải, người hỏi miệng tợ máy dệt, người đáp lưỡi như sấm sét. Cứ như hôm nay huệ mạng Phật Tổ nguy như chỉ mành treo chuông; gia phong Thiếu Thất bấp bênh như trứng để đầu đẳng.” ● 靈 山 寺.Chùa nằm trong núi Linh Sơn, làng Đồng Vu, huyện Triều Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Do Thiền Sư Đại Điên sáng lập vào niên hiệu Trinh Nguyên thứ 7 (791) đời Đường, gọi là “Linh Sơn Hộ Quốc Thiền Tự”.Khi Hàn Dũ bị giáng chức và đày đến Triều Châu, từng mời Thiền Sư Đại Điên đàm đạo hơn mười ngày, sau đó vì cầu mưa tế thần biển mà đến Triều Dương, lưu ngụ tại chùa Linh Sơn. Hiện trong chùa có cất giữ một bộ “Linh Sơn Chính Hoằng Tập”, ghi chép câu chuyện đàm luận văn học và biện luận Phật giáo của hai vị. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14 (819) Hàn Vũ phụng mệnh trấn nhậm Thứ sử Viên Châu, khi ly biệt ông để lại chiếc áo tặng cho ngài Đại Điên, người đời sau xây Lưu Y Đình tại chùa này để kỷ niệm. Tự viện dựa vào núi mà cất, liên tiếp ba dãy nhà một tầng. Cửa chùa Kim Thư Thạch khắc tấm hoành “Linh Sơn Hộ Quốc Thiền Viện” do Diệp Cung Xước tự tay viết. Ngoài ra còn có các di tích như Trác tích tuyền và Bạch thạch tào phỏng chế đời Nguyên. ● 令 崇.Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Thư Châu (nay là Tiềm Sơn, tỉnh An Huy) Trung Quốc. Sư thờ Thiền Sư Hoài Nhạc ở Vân Cư và nối pháp Ngài, thuộc tông Tào Động. Sư trụ viện Phong Hóa ở Dương Châu (nay thuộc Giang Tô). ● 靈 濟 塔.Còn gọi: Hồng Sơn Bảo Tháp. Tháp ở sau Bảo Thông Thiền Tự, núi Hồng Sơn, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, được xây vào niên hiệu Đại Đức thứ 11 (1307) đời Nguyên, hoàn thành vào niên hiệu Diên Hựu thứ 2 (1315). Niên hiệu Đồng Trị thứ 4 (1865) đời Thanh trùng tu, trên vách tường ngoài tháp có khảm bia ký tháp khắc vào niên hiệu Đại Đức thứ 11 (1307) đời Nguyên. Thân tháp 7 tầng, hình bát giác, cao khoảng 43 m. Nội tầng tường tháp xây đá, ngoại tầng xây gạch, là phỏng theo kết cấu gỗ. Từ dưới lên trên tháp thu nhỏ dần uy vũ cao sừng sững hùng vĩ tráng lệ. Mỗi tầng mỗi mặt đều có Phật khám, trong khám khắc nổi tượng Bồ tát, La hán, Lực sĩ. Trong tháp có bậc thềm vòng vèo lên đỉnh tháp, đứng trên đỉnh nhìn ra xa thấy phong cảnh nước non đẹp không kể xiết. Sau tháp trên mỏm núi có vài chỗ khắc tượng Phật trên vách đá, dưới tháp có động Hoa Nghiêm, suối Bạch Long cùng với tháp làm nổi bật lẫn nhau. ● 令 參.Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ An Cát (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, ra giáo hóa trụ núi Thúy Nham, Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba tỉnh Chiết Giang). Sư mở rộng pháp hội, người học bốn phương tụ về.Sau sư dời về chùa Long Sách ở Hàng Châu và thị tịch ở đấy. Ngô Việt Vương ban cho hiệu Vĩnh Minh Hòa Thượng. ● 令 韜 (671-759).Thiền tăng đời Đường, họ Trương, còn có hiệu là Hành Thao. Tham học với Lục tổ Huệ Năng, gần gũi và hầu hạ Ngài. Sau khi Lục Tổ tịch, sư làm vị tăng giữ tháp. Sư được thụy hiệu là “Đại Hiểu Thiền Sư”. ● 靈 樹 禪 師.Thụy hiệu của thiền tăng Như Mẫn đời Ngũ Đại. X. Như Mẫn. ● 靈 瑞 (910-970).Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trình, tự Dật Thế, người Thủy Hưng, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Hồng Cứu, thuộc tông Quy Ngưỡng đời thứ 5, trụ các chùa: Linh Thứu, Nguyệt Hoa Sơn (ở Thiền Quan, Quảng Đông). Có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 靈 鷲 誠 (1620-1687).Thiền tăng đời Thanh, họ Dương, tên Thành, tự Khởi Kiến, pháp hiệu Liễu Tông, người xứ Bảo Để, Thiên Tân, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Nam Cốc Dĩnh nơi Hoàng Bá sơn tự, đời thứ 38 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Linh Thứu ở Bàn Sơn. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 靈 知.Trí huệ sẵn có nơi lòng người, cũng chính là trí huệ Phật. Chương Pháp Dung Thiền Sư tâm minh trong CĐTĐL q.30 ghi: “菩 提 本 有 不 須 用 守。煩 惱 本 無 不 須 用 除。靈 知 自 照 萬 法 歸 如。 – Bồ đề sẵn có chẳng tốn công giữ, phiền não vốn không chẳng cần diệt trừ. Linh tri tự chiếu, muôn pháp trở về như”. ● 令 遵.1.Thiền tăng đời Ngũ Đại (845-919), người xứ Đông Bình (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Vô Học Thúy Nham. Sư ra hoằng pháp trụ Đại Thông rồi dời về viện An Lạc, núi Thanh Bình, Ngạc Châu (nay thuộc huyện Võ Xương, tỉnh Hồ Bắc). Thụy hiệu “Pháp Hỷ Thiền Sư”. 2. Thiền tăng đời Ngũ Đại (884-969), họ Linh nối pháp Thiền Sư Ba Tiêu Huệ Thanh, thuộc tông Quy Ngưỡng, tiếp nối Thầy để trụ trì. ● 靈 泉 禪 寺.Nằm ở núi Nguyệt My, ngoại ô phía đông thành phố Cơ Long, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc, là một chiếc nôi của Phật giáo Đài Loan. Niên hiệu Quang Tự thứ 24 (1898) đời Thanh, ba vị sư Thiện Trí, Diệu Mật, Thiện Huệ ở Dũng Tuyền Thiền Tự, Cổ Sơn, Phúc Châu nối tiếp nhau xây dựng nên chùa. Những kiến trúc như Phật điện, Thiền đường, Thiên vương điện, Khai sơn đường, Linh tháp lần lượt hoàn thành, đầy đủ quy mô một tùng lâm Phật tự. Phật điện thờ các tượng thánh Thích Ca, 18 La hán, 4 đại thiên vương do thợ danh tiếng trong nước là Lâm Khởi Phụng nặn đắp. Trong chùa có Xá Lợi Phật mang từ ấn Độ về và nhiều tượng Phật cẩm thạch của Mianma. Mục đích chính của chùa là an tăng hoằng pháp, thành lập Thiền lâm Phật học, Học viện Phật giáo để đào tạo nhân tài Phật giáo. Pháp mạch và phân chi tự viện của chùa này được trải khắp Đài Loan. ● 靈 雲.Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Chí Cần; nối pháp Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu, trụ núi Linh Vân, Phúc Châu. X. Chí Cần. ● 螺 筋.Gân guốc nổi chằng chịt như xoắn ốc. Bài tán Thâm Sa Thần trong Phần Dương Ngữ Lục q. hạ ghi: “黤 䫡 兩 睛 懸 金 鏡。磔 索 雙 眉 鍤 鐵 叉。有 螺 筋、有 蜂 結、皴 皴 皵 皵 身 爆 烈。 – Cặp mắt tròn xoe như hai tròng kính vàng, đôi mày xếch lên như hình cái xiên. Gân guốc nổi chằng chịt như xoắn ốc, da dẻ toàn thân đều nứt nẻ”. ● 亂 與.Hành động tùy tiện. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “問 聽 道 者。久 參 事 作 麼 生。道 者 云。青 天 白 日。師 云。亂 走 作 什 麼。者 便 喝。師 云。喫 棒。者 擬 舉 手。師 打 一 坐 具 云。爾 看 者 瞎 漢 亂 與。 – Sư hỏi Thính đạo giả: Việc cửu tham như thế nào? Đạo giả nói: Ban ngày ban mặt. Sư bảo: Đi lung tung làm gì? Đạo giả liền hét. Sư bảo: Đáng ăn gậy! Đạo giả định giơ tay, sư đánh cho một tọa cụ, nói: Các ngươi hãy xem, gã mù này hành động tùy tiện!” ● 龍 坪 瓦 厰 寺.Chùa nằm cách thành phố Tuân Nghĩa, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc 20km về phía đông nam, nguyên tên là “Phục Hưng Thiền Viện”.Được xây cất vào khoảng niên hiệu Chính Đức (1506-1521) đời Minh. Đời Thanh lại tu sửa thêm, kiến trúc hiện còn gồm sơn môn, tiền viện, tiền điện, lưỡng lang phối điện, trung viện, đại hùng bảo điện, hậu hoa viên, quần thể tăng mộ. Đại hùng bảo điện bày trí nhiều trân phẩm điêu khắc gỗ, lấy nhân vật tạo hình làm chủ, có các loại phù điêu, thấu điêu, viên điêu (đều là khắc nổi nhưng mức độ sâu cạn khác nhau), có nội dung tôn giáo như Thích Ca thuyết pháp, Ngư ông độ Phật, thầy trò Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh. Trong đó những hình tượng núi sông, động vật, hoa cỏ, yêu ma, thần Phật, được điêu khắc tinh xảo, sinh động. ● 龍 潭 和 尚.Thiền tăng Sùng Tín đời Đường trụ Thiền viện Long Đàm ở Lễ Châu, nên người đời gọi là Long Đàm Hòa Thượng.X.Sùng Tín. ● 隆 興 寺.Chùa ở ấp 4, xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé, Việt Nam. Chùa do Thiền Sư Thiện Hiếu (Tổ Đỉa) dựng lập. ● 隆 琦 (1592-1673).Thiền tăng đời Thanh, Tổ tông Hoàng Bá Nhật Bản. Sư họ Lâm, hiệu Ẩn Nguyên, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Năm 1620, cạo tóc ở núi Hoàng Bá, học Pháp Hoa ở chùa Hưng Thiện, Gia Hưng; học kinh Lăng Nghiêm ở chùa Bích Vân. Năm 1624, được Thiền Sư Mật Vân Viên Ngộ truyền tâm ấn. Năm 1633, nhận chức Tây đường tại Hoàng Bá Sơn. Năm 1637, nhận lời mời của hội Hoàng Bá, sư sửa sang điện vũ, đại chấn tông phong, phục hưng Cổ đạo. Năm 1654, nhận lời mời của tăng Dật Nhiên, sư sang Nhật Bản trụ chùa Hưng Phúc ở Trường Kỳ. Năm 1661, sư xây dựng chùa Vạn Phúc ở núi Hoàng Bá, cử dương thiền phong Hoàng Bá. Nhật Hoàng ban hiệu “Đại Giác Phổ Chiếu Quốc Sư”. Tác phẩm: Phổ Chiếu Quốc Sư Ngữ Lục 2 quyển, Tùng Đường Tập 2 quyển, Thái Hòa Tập 2 quyển. ● 龍 源.Hiệu của thiền tăng Giới Thanh đời Nguyên. X. Giới Thanh. ● 龍 泉 劍.Tên một thanh gươm báu đời cổ ở Trung Quốc. Tương truyền vào đời Tấn Huệ Đế, Lôi Hoán làm chức Huyện lệnh ở Phong Thành, Dự Chương, thường thấy luồng khí màu tía khoảng giữa sao Đẩu và sao Ngưu. Ông cho đó là khí tinh hoa của gươm báu bốc lên, nên cho đào ở nền ngục thất được một cái hòm đá, bên trong có hai thanh gươm, đều có khắc tên, một đề Long Tuyền, một đề Thái A, lấp lánh mờ mắt. “Thanh gươm Long Tuyền” về sau trở thành một văn liệu phổ biến trong văn chương chữ Hán để ví với tài năng, phong thái của người anh hùng. Thiền Tông dùng để dụ cho cơ phong bén nhạy của thiền tăng. Minh Giác Ngữ Lục q.2 ghi: “龍 泉 與 刀 斧。同 鐵 利 鈍 懸 殊。。。酌 然。酌 然。一 出 一 入。半 合 半 開。平 展 之 流。試 辯 緇 素。 – Gươm Long Tuyền và dao búa đều bằng sắt, bén lụt khác nhau xa (…) Liệu đấy! Liệu đấy! Một xuất một nhập, nửa úp nửa mở cùng một phẩm loại, thử phân biệt xem đâu là đạo, tục”. X. Thái A Kiếm. ● 龍 泉 禪 寺.Thuộc khu Cổ Sơn, thành phố Cao Hùng, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc.Năm 1923 chùa được xây cất, trụ trì đầu tiên là tăng nhân Nhật Bản Đông Hải Nghi Thành. Năm 1944 Pháp sư Long Đạo tiếp nhậm trụ trì. Trong chùa có xây tháp Từ Thọ cao 5 tầng có thể đặt thờ hơn bốn vạn linh cốt. ● 龍 泉 寺.1. Chùa nằm dưới núi Liên Hoa, làng Sa Hưởng, huyện Trường Lạc, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Chùa được xây cất vào niên hiệu Thừa Thánh thứ 3 (554) đời Lương Nam triều. Vào đời Đường có vị tăng Hoài Hải xuất gia tại chùa này. Tương truyền trụ trì chùa là Hòa Thượng Huệ Chiếu khi sai Hoài Hải giặt khăn, phát hiện trong giếng có hai con rồng vờn bay, vua Đường Hy Tông sau khi nghe chuyện này bèn ban tên “Long Tuyền”. Theo Tự chí ghi, khi Hòa Thượng Huệ Chiếu trụ chùa này từng dùng chú ngữ đặt dưới thạch trụ xây điện. Hiện thạch trụ vẫn còn cao 6m, rộng 2m, rất là hùng vĩ. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 15 (1642) đời Minh, Thiền Sư Ẩn Nguyên trước khi đi sang Nhật Bản đã từng trụ trì chùa này. Trong chùa có cặp đối liễn: “Tự kiến Lương triều, Phật tàng kim túc. Thiền truyền Nhật Bản, tỉnh hiện thanh long.”(Chùa xây vào đời Lương, Phật chứa hạt lúa vàng. Thiền truyền vào Nhật Bản, giếng hiện rồng xanh). 2. Thuộc trung bộ Bắc Câu, núi Thiên Sơn, cách thành phố Yên Sơn, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc 20km về phía đông, là một trong năm đại thiền lâm ở Thiên Sơn. Trong chùa có suối núi thường niên nước chảy róc rách, có rồng phun nước như trong truyền thuyết nên gọi là “Long Tuyền”. Núi non bao quanh chùa, tùng lâm ở giữa khe núi sâu tối, phân nửa tựa vào vách núi, phân nửa cất trên đất bằng. Trong chùa hiện còn 20 tòa điện vũ lớn nhỏ như Đại hùng bảo điện, Thiên vương điện, Vi Đà điện, Tỳ Lô điện, Long vương miếu, Tàng kinh các.Theo bi ký trong chùa, hậu đường của chùa xây vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 37 (1558) đời Minh. Những kiến trúc từ trước niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh còn có Kim Cang điện, Thiền đường. Trong chùa còn có 87 pho Phật tượng lớn nhỏ làm bằng đất, sắt, đồng, gỗ, đá. ● 龍 象.1. Con voi chúa, voi quý. Phần Đối Cơ trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: “師 云:龍 象 蹴 踏、非 驢 所 堪。 – Sư đáp: Cái đạp của voi chúa, chẳng phải lừa chịu nổi”. ● 2. Thiền tăng kiệt xuất. Sở Thạch Hòa Thượng Hành Trạng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục ghi: “徑 山 虛 谷 靈、天 童 雲 外 岫、凈 慈 晦 機 熙、各 有 龍 象 數 百。 – Kính Sơn như hang sâu thẳm, Thiên Đồng như núi chọc trời, Tịnh Từ trong cơ pháp tối có sáng. Mỗi vị đều có vài trăm Thiền tăng kiệt xuất”. ● 爐 鞲.1. Lò lửa (lô) và ống thổi lửa (cấu), dụng cụ của thợ rèn, nghĩa đen là lò rèn. Dụ chỉ pháp đường hay pháp hội là nơi rèn đúc các vị tăng thành pháp khí. Mật Am Ngữ Lục ghi: “入 寺 上 堂。僧 問。華 藏 海 中 張 巨 網。慣 打 鯤 鯨。凌 宵 峰 頂 握 鉗 鎚。陶 鑄 佛 祖。而 今 爐 鞲 既 開。一 鎚 便 就 時 如 何。 – Vào chùa, sư thượng đường. Tăng hỏi: Giăng lưới to trong biển Hoa Tạng để bắt cá côn, cá kình; cầm kềm dùi trên đỉnh Lăng Tiêu để hun đúc người thành Phật Tổ. Hôm nay lò rèn đã mở, khi một dùi liền thành thì thế nào? “ ● 2. Thủ đoạn của Thiền Sư khi ứng cơ tiếp vật, dẫn dắt người học. Tiết Tư Phúc Như Bảo Thiền Sư trong LĐHY q.11 ghi: “大 潙 哲 云:資 福 雖 是 本 分 爐 鞲、爭 奈 陳 操 是 煅 了 精 金。諸 人 要 識 資 福 麼?等 閑 擲 下 釣、惊 動 碧 龍 潭。 – Đại Quy Triết nói: Tư Phúc tuy có thủ đoạn đặc sắc, ngặt vì Trần Tháo là vàng ròng đã luyện. Các ông muốn biết Tư Phúc không? nhàn rỗi buông câu làm kinh động cả đầm Bích Long”. 3. (Hành vi) khải phát tiếp dẫn người học của Thiền Sư. Bài Tháp minh của Phụ Cát Tất trong Mật Am Ngữ Lục q. cuối ghi: “自 非 有 明 眼 宗 師、見 處 分 明、行 處 穩 實、則 何 以 倒 用 橫 拈、得 大 總 持、爐 鞲 後 學 皆 成 法 器 耶? – Nếu tự mình chẳng phải là bậc tông sư mắt sáng, chỗ thấy rõ ràng, chỗ làm ổn thật thì làm sao vận dụng tự tại, được đại tổng trì, khải phát tiếp dẫn người học trở thành pháp khí?”. ● 盧 山.Núi nằm ở phía nam thành phố Cửu Giang tỉnh Giang Tây, Trung Quốc; phía bắc dựa vào Trường Giang, đông giáp hồ Ba Dương. Vào niên hiệu Thái Nguyên thứ 11 (386) đời Đông Tấn, Huệ Viễn đến núi này dựng chùa Đông Lâm. Khoảng niên hiệu Bảo Lịch (825-826) đời Đường, Thiền Sư Trí Thường (nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất) trụ chùa này, số chúng theo sư tham học có đến vài trăm người, Thiền Tông được mở rộng. Thời Ngũ Đại, sư Hành Nhân hoằng pháp ở chùa Thê Hiền. Nam Đường Trung Chủ dựng chùa Khai Tiên ở chân núi phía đông nam; Nam Đường Hậu Chủ còn dựng chùa Viên Thông ở chân núi phía tây. Khoảng niên hiệu Khánh Lịch (1041-1048) đời Tống, Thiền Sư Cư Nột trụ chùa Viên Thông cùng với các vị như Âu Dương Tu chung nhau lập “Thanh Tùng Xã” để hưng long thiền pháp, đệ tử xuất gia có hơn 3.000 người. Niên hiệu Nguyên Phong thứ 2 (1079), Thần Tông ra lệnh đổi tên chùa Đông Lâm thành “Đông Lâm Thái Bình Hưng Quốc Thiền Viện”, sư Thường Tổng (nối pháp Hoàng Long Huệ Nam) vâng lời Vua vào trụ chùa này để hoằng dương giáo pháp… Niên hiệu Vạn Lịch thứ 42 (1614) đời Minh, sư Đức Thanh dựng chùa Pháp Vân ở Ngũ Nhũ Phong và trước thuật ở trong chùa này. Năm 1924, núi này đã từng là nơi triệu tập Đại hội Phật giáo thế giới. ● 露.Bày tỏ ra, dẫn đến biểu thị tướng trạng của toàn thể các pháp hiện trước mặt. Ngoài ra, là lời cử xướng quen dùng trong Thiền Tông, biểu thị sự lý hiển nhiên rõ ràng ngay trước mắt, phần nhiều dùng để chỉ dẫn cách dùng pháp ngữ… ● 露 布.Câu nói, lời nói khế cơ. Tiết Linh Diệu Công Lương Thiền Sư trong NĐHN q.16 ghi: “有 箇 葛 藤 露 布、與 諸 人 共 相 解 摘 看。 – Tôi có một câu nói khế cơ, sẽ cùng chư vị bàn bạc xem!”. ● 路 頭.Nhà thiền gọi con đường ngộ nhập là lộ đầu. Tiết Thạch Đầu Tự Hồi Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “參 禪 學 道、大 似 井 底 叫 渴 相 似、殊 不 知 塞 耳 塞 眼、回 避 不 及。且 如 十 二 時 中、行 住 坐 臥、動 轉 施 爲、是 甚 麼 人 使 作?眼 見 耳 聞、何 處 不 是 路 頭?若 識 得 路 頭、便 是 大 解 脫 路。 – Tham thiền học đạo giống như ở đáy giếng mà kêu khát. Đâu biết rằng bịt tai bịt mắt né tránh không kịp. Chẳng hạn như trong 24 giờ đi đứng ngồi nằm, mọi hành vi là do người nào sai khiến? Mắt thấy tai nghe, chỗ nào không phải là con đường ngộ nhập? Nếu biết được con đường này thì tức là con đường đại giải thoát.” ● 露 地 白 牛.Con trâu trăng sờ sờ. Thiền Tông dùng từ này để chỉ trạng thái chứng ngộ. Bắc Thiền khai thị giữa đại chúng (Vạn Tục 148, 105 hạ): “年 窮 歲 暮、無 可 與 諸 人 分 歲、且 烹 一 頭 露 地 白 牛、炊 黍 米 飯、煮 野 菜 羹、向 榾 柮 火 唱 村 田。 – Năm lụn tháng tàn ta chẳng có gì cho các ông để đón giao thừa. Các ông hãy hầm một con ›trâu trắng sờ sờ‹, thổi nồi cơm nếp, nấu canh rau đồng, hát bài ca đồng quê bên đống lửa”. ● 露 堂 堂.Bình thản, sáng sạch, không che đậy mảy may, không một chút nhiễm trước, là cảnh giới thiền ngộ. 1. Hiện rành rành. Duy Tắc Ngữ Lục q.2: “不 與 萬 法 爲 侶、不 與 諸 塵 作 對。十 方 空 索索、全 體 露 堂 堂。貪 瞋 痴 從 那 裏 得 來?戒 定 慧 向 何 處 安 著? – Chẳng cùng muôn pháp làm bạn, chẳng cùng các trần đối đãi. Mười phương sạch sành sinh, toàn thể hiện rành rành. Tham sân si từ đâu mà có được? Giới định huệ đặt để vào đâu?” ● 2. Sạch làu làu. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. hạ ghi: “上 堂 云:凡 心 聖 意 露 堂 堂。念 念 無 差 即 道 場。向 去 莫 言 今 日 事。觀 音 自 在 放 毫 光。 – Sư thượng đường nói: Ý thánh tâm phàm sạch làu làu, mỗi niệm không lầm tức đạo tràng. Hướng về quá khứ chớ nói chuyện hôm nay. Quán Âm tự tại phóng hào quang”. ● 露 裸 裸 赤 灑 灑 無 可 把.Bình thản, rỗng lặng, thanh tịnh không nhơ, không có tướng trạng, siêu việt không gian, là cảnh giới thiền ngộ. Tiết Quán Khê Chí Nhàn Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “十 方 無 壁 落、四 畔 亦 無 門。露 裸 裸、赤 灑 灑 、無 可 把。 – Mười phương không có vách che, bốn mé cũng không cửa nẻo, bình thản, rỗng lặng, không có tướng trạng”. ● 路 逢 劍 客 須 呈 劍 不 是 詩 人 莫 献 詩.”Gặp trang kiếm khách nên trình kiếm. Chẳng gặp nhà thơ chớ tặng thơ”. Muốn đo lường cơ phong phải chọn tay lão luyện, gặp được rồi còn phải có cơ ngữ xuất sắc. Thiền gia sử dụng từ này thường hàm ý chê trách đối phương chưa khế ngộ thiền cơ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “林 云:任 將 三 寸 輝 天 地。一 句 臨 機 試 道 看。師 云:路 逢 劍 客 須 呈 劍。不 是 詩 人 莫 獻 詩。 – Lâm nói: Mặc đem tấc lưỡi lòe thiên hạ, một lời đúng lúc thử nói xem! Sư nói: Gặp trang kiếm khách nên trình kiếm, chẳng gặp nhà thơ chớ tặng thơ”. ● 露 柱.Cây cột lộ thiên, cây cột. Đây là cây cột bốn mặt trơn tru được trồng ngoài trời trước mặt pháp đường hoặc điện Phật để định hướng cho chư tăng đến đi đều biết rõ. Khi sư trụ trì ra khỏi chùa thì căn cứ vào mặt lộ trụ mà chỉ cho môn đồ biết mình đi về hướng nào. Tiết Hưng Hóa, đời thứ 6 dưới Nam Nhạc trong CTTNL q.5 ghi: “師 入 堂、見 首 座 乃 云:我 見 你 了 也。座 便 喝。師 打 露 柱、便 出 去。 – Sư vào tăng đường thấy Thủ tọa liền nói: Ta thấy ngươi rồi! Thủ tọa liền hét. Sư đánh cây cột một cái rồi đi ra”. ● 鹿 門 寺.ở núi Lộc Môn cách trung tâm huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc 15km về phía đông nam. Khoảng niên hiệu Kiến Vũ (25-56) đời Đông Hán, Tập Úc lập đền thờ thần ở sườn phía bắc núi, khắc hai con nai đá chen giữa cửa thần đạo, nhân đó gọi đền thờ này là “Lộc Môn Tự”. Đời Tây Tấn đổi tên là “Vạn Thọ Tự”. Đời Đường gọi lại “Lộc Môn Tự”, có nhiều cao tăng Thiền Tông như Xử Chân, Đan Hà trụ chùa này, Mạnh Hạo Nhiên, Bàng Uẩn cư sĩ, Bì Nhật Hưu cũng nối tiếp nhau ẩn cư nơi này. Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1111-1118) đời Tống rất là hưng thịnh, đương thời có Phật điện, Tăng liêu, Trai đường, Phương trượng thất tổng cộng hơn 500 gian. Hiện còn đại điện, Phật đường, liêu phòng, trai xá đều xây vào cuối đời Minh. Nai đá vẫn còn một con cũng là tác phẩm cuối đời Minh. Trong chùa còn có Đăng Thiền Sư Tháp Bi niên hiệu Kiến Viêm thứ 1 (1127) đời Tống và vài chục tấm bia khắc đời Minh Thanh ghi chép sự tích cao tăng và sự hưng phế của chùa Lộc Môn. ● 雷 音.Trong kinh cho rằng đức Phật thuyết pháp như tiếng sấm, nhà Thiền cũng dùng từ này để dụ cho Thiền Sư thuyết pháp. Minh Giác Ngữ Lục q.1 ghi: “問 人 天 普 集 佇 聽 雷 音 。學 人 上 來。乞 師 垂 示。 – Hỏi: Trời người tụ hội, đứng lặng hồi lâu lắng nghe lôi âm, chúng con đến đây nãy giờ xin thầy chỉ dạy”. ● 雷 音 寺.ở núi Nga My, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 6 (1527) đời Minh, Thiền Sư Vô Hạ sáng lập. Nguyên tên là “Quán Âm Đường”. Theo truyền thuyết nhập sơn nơi đây thì giải thoát thánh phàm, xuất sơn nơi đây thì giải thoát hiểm trở cho nên còn gọi là “Giải Thoát Am”. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 20 (1592) đời Minh đổi tên “Lôi Âm Tự”. Hiện còn một viện, đồi Kiêu Ngạo, dốc Lâm Nguy, cây rừng xanh um, khung cảnh u tĩnh. Dưới chùa là sườn núi Giải Thoát, dưới sườn núi có cầu Giải Thoát bắc ngang qua sông Du Già. ● 雷 門 誇 布 鼓.Đánh trống qua cửa nhà sấm.Tương truyền có cái trống lớn treo ở cổng thành Cối Kê (Lôi Môn), khi nó được đánh lên, âm thanh vang xa nghìn dặm. Còn trống bằng vải (bố cổ) thì đánh không phát ra tiếng. Tỷ dụ việc trổ tài trước mặt người giỏi hơn mình gấp bội. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “四 面 今 日 且 權 爲 指 使。且 道 是 箇 什 麼? 一 二 三 四 五。雷 門 誇 布 鼓 謾。說 李 將 軍 藍 田 射 石 虎。 – Tứ Diện (pháp hiệu của Thiền Sư Pháp Diễn) tôi hôm nay tạm dùng phương tiện để ví dụ, hãy nói là cái gì? Một, hai, ba, bốn, năm. Đánh trống qua cửa nhà sấm, dối nói Tướng quân Lý Quảng bắn con cọp đá ở Lam Điền”. ● 弄 影.1. Lắc lư cái bóng của mình. Đong đưa bóng hình. Bài thơ Ngũ vị của Thiền Sư Chân Ý Lan trong GTPĐL q.27 ghi: “偏 中 正、曉 月 㧧 雲 花 弄 影。 – Thiên trung chính, trăng tỏ xuyên mây bóng hoa đong đưa”. ● 2. Hành vi giả dối, câu nệ nơi sự vật hư huyễn. Tiết Phật Giám Cần Thiền Sư trong GTPĐL q.25 ghi: “然 則 眞 妄 同 源、妄 因 眞 立、其 奈 少 有 窮 徹 根 源。多 是 緣 枝 逐 葉、返 成 弄 影 底 漢。 – Thế thì chân vọng đồng nguồn, vọng do chân lập, sao ít có người thấu triệt cội nguồn, phần lớn là tìm nhánh lá, trở thành kẻ câu nệ nơi sự vật hư huyễn”. ● 弄 影 戲.Đùa giỡn với bóng. Tỷ dụ đời người như bóng chớp, tất cả lời nói, hành vi đều hư huyễn. Tiết Thắng Nhân Hoặc Tĩnh Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “後 晦 處 漣 漪 之 天 寧、示 微 疾、書 偈 曰:弄 罷 影 戲、七 十 一 載。更 問 如 何、回 來 別 賽。 – Về cuối đời, sư ở chùa Thiên Ninh của Liên Y, thị hiện có chút bệnh, viết kệ rằng: Bảy mươi mốt năm, đùa giỡn với bóng. Còn hỏi thế nào. Khi trở lại sẽ bày keo khác”. ● 弄 捏 怪.Làm những việc giả dối, quái gở; giảo quyệt khoác lác. Tiết Thị Nhật Bản Không Thiền nhân trong Trung Phong Quảng Lục q.4 ghi: “揚 塵 播 土、掣 風 掣 顛、認 精 魂、弄 捏 怪、乃 至 奇 言 妙 語、與 奪 抑 揚、鼓 引 學 人 向 他 一 棒 一 喝 之 下、邪 知 曲 解。 – Thân thể lấm lem bụi đất, điên điên khùng khùng, nhận lấy thức thần làm những việc quái gở, cho đến lời nói kỳ diệu, cho lấy khen chê, tiếp dẫn người học bằng cách bên đánh bên hét cũng đều là những thứ tri giải tà vạy”. ● 弄 光 影 漢.Gã đùa với bóng. Thiền Tông dùng thuật ngữ này chỉ cho kẻ ngu chỉ thấy bên ngoài chứ không thấy được lý thể chân thật. Tắc 93, Bích Nham Lục (Đại 48, 217 thượng) ghi: “僧 問 大 光:『長 慶 道:因 齋 慶 讚、意 旨 如 何?』 大 光 作 舞、僧 禮 拜。光 云:見 箇 什 麼 便 禮 拜?僧 作 舞。(依 樣 畫 貓 兒、果 然 錯 會、弄 光 影 漢)光 云:這 野 狐 精! – Tăng hỏi Đại Quang: Trường Khánh nói: Nhân trai chúc mừng, ý chỉ thế nào? Đại Quang liền múa. Tăng lễ bái. Đại Quang nói: Ông thấy cái gì mà lễ bái? Tăng liền múa. (Bắt chước vẽ con mèo, quả nhiên hiểu sai, đây là gã đùa với bóng). Đại Quang nói: Đồ chồn tinh ranh này”. ● 弄 鬼 眼 睛.Hành vi giả dối, cố tình huyễn hoặc mọi người. Thung Dung Am Lục q.1 ghi: “閉 門 打 睡、接 上 上 機。頋 鑒 頻 申、曲 爲 中 下。那 堪 上 曲 䚄 木 弄 鬼 眼 睛?有 箇 傍 不 肯 底 出 來、也 怪 伊 不 得。 – Đóng cửa ngủ say là tiếp cơ thượng thượng, sử dụng ngữ cú để chỉ bày là phương tiện tiếp dẫn căn khí trung hạ. Đâu kham lên pháp tòa cố tình huyễn hoặc mọi người? Có người bên cạnh chẳng chịu bước ra, trách móc y cũng chẳng được”. ● 弄 精 魂.Hành vi giả dối, cố tình huyễn hoặc người. Vô Môn Quan ghi: “念 起 即 覺、弄 精 魂 漢。兀 然 習 定、鬼 家 活 計。 – Niệm khởi liền giác là gã cố tình huyễn hoặc người; ngây ngây tập định là kế sống trong nhà quỷ”. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng: “上 是 天 下 是 地。南 北 東 西 依 舊 位。釋 迦 老 子 弄 精 魂。達 磨 西 來 多 忌 諱。 – Trên là trời, dưới là đất. Nam Bắc Đông Tây y nguyên vị trí cũ. Lão già Thích Ca cố tình huyễn hoặc người, Đạt Ma từ ấn Độ sang có lắm điều kiêng kị”. ● 弄 物 不 知 名.Ngắm vật mà không biết tên. Hình dung phàm phu ngu muội không biết chính mình xưa nay sẵn có Phật tính. Tắc 82, Bích Nham Lục (Đại 48, 208 trung) ghi: “問 曾 不 知(東 西 不 辨、弄 物 不 知 名、買 帽 相 頭); 答 還 不 會、月 冷 風 高、古 巖 寒 檜。 – Hỏi đã chẳng biết (không phân biệt đông tây, ngắm vật mà không biết tên, mua nón phải xem tướng), đáp còn chẳng hiểu, gió to trăng lạnh, cây lạnh núi xưa”. ● 利 昱.Thiền tăng đời Tống; nối pháp Thiền Sư Lương Sơn Duyên Quán, thuộc tông Tào Động. Sư trụ Dược Sơn, Lễ Châu (nay là huyện Lễ, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. ● 利 踪 (800-880).Thiền tăng đời Đường, họ Chu, người xứ Thiền Châu (nay thuộc phía tây huyện Thanh Phong tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. Sư xuất gia ở chùa Khai Nguyên, U Châu (nay là Bắc Kinh), căn cứ vào tuổi mà thụ giới cụ túc. Sau đó vào thất của Thiền Sư Nam Tuyền Phổ Nguyện và đắc pháp nơi Ngài. Sư đến núi Mã Đề, Hành Châu (nay thuộc Chiết Giang) cất am để ở. Vào niên hiệu Khai Thành thứ hai (837), dân trong ấp cất viện Tử Hồ dưới chân núi để sư trụ trì. Niên hiệu Hàm Thông thứ hai (861), Vua ban bảng hiệu “An Quốc Thiền viện”. Tác phẩm: Tử Hồ Lợi Tung Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. ● 倫 等.Cùng loại, đồng loại. Chương Tổ thứ 27 Bát Nhã Đa La trong CĐTĐL q. 2 ghi: “行 化 至 南 印 度。彼 王 名 香 至。崇 奉 佛 乘 尊 重 供 養 度 越 倫 等。又 施 無 價 寶 珠。 – Sư đi giáo hóa đến Nam ấn Độ, vua nước ấy tên là Hương Chí tôn sùng Phật thừa, tôn trọng cúng dường, độ người xuất gia làm tăng cùng loại, lại còn bố thí châu báu vô giá.” ● 論 量.Nghị luận, thảo luận. Tiết Bắc Viện Thông Thiền Sư trong NĐHN q.13 ghi: “諸 上 座 有 甚 麼 事、出 來 論 量 取。若 上 上 根 機、不 假 如 斯。若 是 中 下 之 流、直 須 鏟 削 門 頭 戶 底、教 索 索 地、莫 教 入 泥 水。 – Các Thượng tọa có việc gì thì hãy bước ra thảo luận. Nếu là căn cơ thượng thượng thì chẳng cần như thế; nếu là hạng trung hạ thì cần phải lột bỏ từ đầu đến cuối một cách dứt khoát gọn gàng, chớ để mắc kẹt vào ngôn từ nghĩa lý.” ● 論 議 (Thiền Tông).Thể văn nghị luận điển hình của văn chương cổ nhằm trình bày tư tưởng và học thuyết của mỗi tông phái. Như Tứ hạnh quán của Bồ Đề Đạt Ma bàn về pháp môn phương tiện để vào đạo là 2 con đường “Lý” và “Hạnh”, như Tối Thượng Thừa Luận của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn bàn về việc tu trì Phật pháp cần phải biết “giữ tâm” làm chính. Cho đến các sách như: Vĩnh Gia Tập của Huyền Giác soạn, Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự của Tông Mật soạn, Tông Môn Thập Thắng Luận do Văn Ích soạn, Tông Cảnh Lục do Diên Thọ soạn, Ngũ Tông Nguyên do Pháp Tạng soạn, Ngũ Tông Tịch do Đạo Mân soạn đều lấy phần nghị luận làm chính. Ngoài các sách chuyên môn kể trên, còn có một số lớn thư tín, Tự bạt và đoản cảo của các Thiền Sư cũng thuộc loại này. ● 論 義.Biện luận đạo pháp, đọ cơ phong.Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q.4 ghi: “師 與 文 遠 論 義 曰:鬥 劣 不 鬥 勝。勝 者 輸 果 子。 – Sư đọ cơ phong với Văn Viễn, bảo rằng: Đấu kém chớ chẳng đấu hơn. Người nào hơn phải thua trái cây.” ● 律 筒 灰.Thái Ung Nguyệt sai người đốn trúc làm ống sáo và gọi đó là luật; xong đặt ống sáo này vào trong nhà kín. Dùng cái mạng mỏng trong ruột của cây lau làm thành bột rồi đem nó để trên miệng của ống sáo; gió xuân thổi đến làm bay chất bột kia vào trong ruột ống sáo phát sinh ra dương khí. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho trong cái chết có cái sống, giống như thuật ngữ Tuyệt Hậu Tái Tô. Tắc 72, Thung Dung Lục (Đại 48, 272 hạ) ghi: 凍 眠 雪 屋 歲 摧 穨 窈 窕 蘿 門 夜 不 開 寒 槁 園 林 看 變 態 春 風 吹 起 律 筒 灰 “Cuối năm nằm co nhà tuyết lạnh. Dù ai lay cửa cứ nằm thôi. Vườn rừng ảm đạm cây khô héo, Gió xuân thổi đến lại đâm chồi”. ● 六 榕 寺 (102).Chùa ở đường Lục Dung, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ban đều gọi là “Bảo Trang Nghiêm Tự”, xây dựng vào niên hiệu Đại Đồng thứ 3 (537) đời Lương Nam Triều. Đầu thời Bắc Tống chùa bị thiêu hủy. Niên hiệu Đoan Củng thứ 2 (989) xây cất lại, đổi tên là “Tịnh Huệ Tự”. Niên hiệu Nguyên Phù thứ 3 (1100) Tô Thức đến chùa du lãm, yêu thích sáu cây đa già trong chùa nên viết hai chữ “Lục Dung”, người sau gọi chùa là “Lục Dung Tự”. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 24 (1391) đời Minh chia chùa ra phân nửa xây kho Vĩnh Dụ. Về sau tăng trong chùa tại cửa đông xây lại sơn môn điện vũ, vẫn gọi là “Tịnh Huệ Thiền Tự”. Kiến trúc chủ yếu có Lục Tổ điện, Quán Âm điện, Thiên Phật bảo tháp, hành lang đặt bia. Trong điện Lục Tổ thờ cúng tượng đồng Huệ Năng nặng nửa tấn, đúc vào niên hiệu Đoan Củng thứ 2 (989) đời Bắc Tống, pháp mạo trang nghiêm mà nhân cách hóa, thần thái sinh động như còn sống, nếp gấp áo, hoa văn tinh tế, là kiệt tác nghệ thuật Phật giáo. Trong điện Quán Âm có tượng đồng Quán Âm đúc vào niên hiệu Khang Hy thứ 2 (1663) đời Thanh cao 4m, nặng khoảng 5 tấn. Trong chùa còn có ba tượng Phật đồng lớn được đúc cùng thời kỳ, mỗi tượng cao 6m, nặng khoảng 10 tấn. Trong hành lang đặt bia bảo tồn hơn 20 tấm bia khắc từ đời Tống đến đời Thanh, có văn, có tranh ghi chép sự phát triển biến đổi lịch sử tự tháp, là sử liệu trọng yếu để nghiên cứu lịch sử chùa Lục Dung. ● 六 頭 首.Ban chức sự trông coi việc tu hành và giáo dục trong Thiền viện, gồm 6 vị Đầu thủ thuộc ban Tây (Tây tự). Đó là: ― Theo Tông Lâm Tế: Thủ tọa, Thư ký, Tạng chủ, Tri khách, Khố đầu, Dục chủ. ― Theo Tông Tào Động: Thủ tọa, Thư ký, Tri tạng, Tri khách, Tri dục, Tri điện. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 六 和 塔.Tháp nằm trên núi Nguyệt Luân bên sông Tiền Đường, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Khai Bảo thứ 3 (970) đời Tống, Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thúc vì trấn áp thủy triều mới thỉnh Thiền Sư Diên Thọ chủ trì xây tháp này. Quy mô rất lớn, thân tháp 9 tầng, cao hơn 50 trượng, trên tháp gắn đên hướng dẫn thuyền bè đi ban đêm.Niên hiệu Tuyên Hòa thứ 3 (1121) đời Tống chùa bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 23 (1153) thi công lại từ đầu, trải qua 11 năm mới hoàn thành. Tháp chỉ cao 7 tầng. Từ đây về sau đều có tu sửa. Hiện còn tháp Lục Hòa hình lục giác, bên ngoài thấy 13 tầng nhưng bên trong vẫn là 7 tầng cao 59,89m. Thân tháp xây gạch, mái hiên bằng gỗ. Trong thân tháp có bậc thềm hình xoắn ốc xuyên vách vòng vèo đi lên đến tầng đỉnh. Bên trong mỗi tầng có tháp thất hình vuông, dùng đấu củng chống đỡ khung trang trí trên trần. Trên vách tháp đều khắc đồ án thần nhân, phi thiên, hoa cỏ, chim muông. Hành lang bao quanh và mái hiên gỗ bên ngoài tháp rộng rãi dể chịu, đứng trên này có thể nhìn thấy cảnh sắc xinh đẹp của sông Tiền Đường. ● 六 門.Còn gọi: Lục Xứ. Chỉ “Lục căn”. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “使 六 賊 從 六 門 走 出、於 六 塵 中 不 離 不 染。 – Giả sử sáu giặc chạy ra từ sáu căn, ở trong sáu trần chẳng xa lìa chẳng nhiễm ô.” ● 六 耳 不 同 謀.Ba người ở một chỗ không tiện bàn việc bí mật. Ý nói: Nơi đông người không thể nói bàn gì được. Là tục ngữ dân gian. Tiết Lặc Đàm Pháp Hội Thiền Sư trong NĐHN q.3 ghi: “問 馬 祖:如 何 是 祖 師 西 來 意?祖 曰:低 聲! 近 前 來、向 汝 道! 師 便 近 前、祖 打 一 摑 曰:六 耳 不 同 謀、且 去 。來 日 來。 – Sư hỏi Mã Tổ: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Mã Tổ bảo: Khẽ chứ! Đến gần đây ta nói cho nghe. Sư bèn đến gần, Mã Tổ tát cho một cái và nói: Nơi đông người không tiện bàn bạc, hãy đi đi, ngày mai trở lại!”. ● 六 時.Nhà Phật thường chia một ngày đêm làm sáu thời đoạn: Sáng sớm, giữa trưa, buổi chiều, đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “孤 峰 獨 宿。一 食 卯 齋。長 坐 不 臥。六 時 行 道。皆 是 造 業 底 人。 – Ngủ một mình trên núi vắng, ăn một bữa sáng, ngồi mãi không nằm, sáu thời hành đạo, đều là kẻ tạo nghiệp.” ● 六 銖.Vốn chỉ tăng y mỏng mà nhẹ, chuyển thành nghĩa tăng y thượng phẩm. Điển tích rút từ phẩm Đao Lợi, kinh Thế Kỷ trong Trường A Hàm Kinh q. 20, trong đó cho rằng y phục của trời Đao Lợi nặng sáu thù. Thù là đơn vị trọng lượng cổ đại, 24 thù bằng 1 lượng.Tiết Liên Châu Bảo Hoa Hòa Thượng trong NĐHN q.15 ghi: “有 僧 問 大 容 曰:天 賜 六 銖 披 掛 後、將 何 報 荅 我 皇 恩。 – Tăng hỏi Đại Dung: Sau khi vua ban cho áo lục thù, lấy gì báo đáp hoàng ân?” ● 六 祖 殿.Nằm trong chùa Quang Hiếu, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, xây dựng để kỷ niệm Lục Tổ Huệ Năng vào khoảng niên hiệu Đại Trung Tường Phù (1008-1016) đời Tống. Niên hiệu Hàm Thuần thứ 5 (1269) đời Tống chùa bị thiêu hủy, vị tăng trụ trì Tổ Trung đi hóa duyên mà xây dựng lại. Niên hiệu Thiên Thuận thứ 3 (1459) đời Minh, niên hiệu Khang Hy thứ 31 (1692) đời Thanh hai lần xây cất lại. Mặt điện rộng 5 gian, vào sâu 4 gian, mái đơn đỉnh yết sơn. Trong điện thờ tượng Lục Tổ ngồi cao 2,5m. Phía đông của điện có hành lang đặt bia khắc nói về Lục Tổ, là văn vật trọng yếu để nghiên cứu Lục Tổ và Thiền Nam tông. ● 六 知 事.Ban chức sự trông coi tạp sự cùng điều động nhân sự trong Thiền viện, gồm có 6 vị Tri sự thuộc ban Đông (Đông tự). Đó là: 1. Đô tự; 2. Giám tự; 3. Phó tự; 4. Duy Na; 5. Điển tọa; 6. Trực tuế. ● 籠.Cái lồng, hoặc cái rương làm bằng tre, Thiền tăng lúc hành cước khoác sau lưng để đựng đồ vật. Thiền Lâm Bảo Huấn q.1 (Đại 48, 1020 hạ) ghi: “黃 龍 南 和 尚 曰:予 昔 同 文 悅 遊 湖 南。見 衲 子 擔 籠 行 腳 者。 – Hòa Thượng Hoàng Long Nam nói: Ta trước kia cùng Văn Duyệt đi đến Hồ Nam, thấy Thiền tăng mang rương đi hành cước”. ● 籠 羅.Khống chế, trói buộc, bao phủ. Tiết Viên Ngộ Cần Thiền Sư trong GTPĐL q.25 ghi: “千 聖 籠 羅 不 住。 – Ngàn thánh khống chế chẳng được”. ● 籠 牢.Trói buộc. Tiết Lạc Phố Hòa Thượng trong TĐT q.9 ghi: “識 鎖 難 開、疑 网 籠 牢。 – Gông xiềng của thức (tình) khó mở, lưới nghi trói buộc”. ● 累 垂.Rủ xuống. Tiết “Đáp Từ Long Đồ Ca” của Thiền Sư Pháp Xương Ngộ trong GTPĐL q.30 ghi: “那 箇 驢、更 奇 異、兩 耳 累 垂、四 腳 著 地。 – Con lừa kia càng lạ kỳ, hai tai rủ xuống, bốn cẳng chấm đất.” ● 攣 攣 拳 拳.Co lại, thu hẹp. Tiết Đạo Ngô Hòa Thượng” trong TĐT q.4 ghi: “攣 攣 拳 拳、羸 羸 垂 垂、百 丑 千 拙、且 與 摩 過 時。 – Thu hẹp lại, mở rộng ra, trăm xấu ngàn vụng mà luống qua thế ấy”. ● 驢 牛 二 乳.Sữa lừa và sữa bò, màu sắc tuy giống nhau, nhưng sữa bò quậy đông lại thì thành bơ, còn sữa lừa quậy đông lại thì thành phân. Thiền Tông dùng từ này để chỉ việc dường như giống nhau nhưng kỳ thật thì lại khác. Như Phật pháp và ngoại đạo tuy cùng có các điều răn (Giới), nhưng vì ngoại đạo chấp trước ngã kiến, cùng tận chỗ trở về là hư dối, nên khác với Phật pháp. ● 驢 年.Năm lừa. Trong 12 địa chi, mỗi địa chi đều được tượng trưng bằng một con vật, trong ấy không có con lừa, tức không có năm con lừa. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho một thời hạn không bao giờ có. Chương Thần Tán trong CĐTĐL (Đại 51, 268 thượng) ghi: “其 師 又 一 日 在 窗 下 看 經。蜂 子 投 窗 紙 心 出。師 睹 之 曰:世 界 如 許 廣 闊 不 肯 出。鑽 他 故 紙 驢 年 去 得。 – Một hôm, Thầy của sư ngồi bên cửa sổ xem kinh. Có một con ong chui đầu vào giấy để tìm đường ra. Sư nhìn thấy liền nói: Thế giới rộng như vầy mà chẳng chịu ra, lại chui đầu vào giấy, đến năm lừa mới ra được”. ● 驢 唇 馬 嘴.Môi lừa mõm ngựa. Lời chê trách các thiền tăng không ngộ tâm mà hay bàn luận khoe khoang.Vân Môn Quảng Lục, q. thượng ghi: “若 是 一 般 掠 虛 漢。食 人 膿 唾。記 得 一 堆 一 擔 搕 〖⿰扌䪞〗。到 處 馳 騁 驢 脣 馬 觜。誇 我 解 問 十 轉 五 轉 話。饒 你 從 朝 問 至 夜 答 到 夜 論 劫。還 夢 見 麼。 – Nếu ngươi giống như đồ giả hiệu, ăn đàm dãi của người, nhớ được một đống một gánh hèm thì đi đến nơi nào cũng bàn luận khoe khoang, khoe ta nói được năm, mười chuyển ngữ.Giả sử ngươi đáp được từ sáng đến tối, đến suốt đời cũng chưa mộng thấy!”. ● 驢 前 馬 後.Nghĩa đen là kẻ đầy tớ (làm thân nô lệ) chạy theo sau đuôi ngựa và chạy trước con lừa để làm bản phận hầu hạ cho chủ. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho kẻ chạy theo lời nói và việc làm của người khác còn chính mình thì không có cơ dụng riêng. Phần Tụng Cổ trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục: “舉:陳 尊 者 問 僧:什 麼 處 來?僧 瞪 目 視 之。師 云:驢 前 馬 後 漢、道 將 一 句 來! – Cử: Trần Tôn Túc hỏi một vị tăng ở đâu đến. Tăng trợn mắt nhìn sư. Sư nói: Cái gã đầy tớ kia, hãy nói một câu xem!”. ● 驢 鞍 橋.Cầu yên lừa. Cầu yên lừa rất giống xương hàm của người ta nên có người quê mùa nhận lầm cầu yên lừa là xương hàm của cha mình. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho người mê muội không phân biệt được sự khác nhau giữa các pháp nghĩa chân, giả. Tiết Cốc Ẩn Uẩn Thông Thiền Sư trong NĐHN q.11 ghi: “莫 認 驢 鞍 橋 作 阿 爺 下 頷。 – Chớ nên nhận cầu yên lừa làm xương hàm dưới của cha!”. ● 旅 泊.Hiệu của Thiền tăng Đạo Bái đời Thanh. X. Đạo Bái. ● 力 金.Thiền tăng Vạn Kim sống vào đời cuối Nguyên đầu Minh, còn được gọi là Lực Kim. X. Vạn Kim. ● 掠 虛.Không có căn cứ, nói năng bậy bạ. Chương Văn Yển Thiền Sư trong CĐTĐL q.19 ghi: “汝 欲 得 識 麼。向 遮 裏 識 取。若 不 見 亦 莫 掠 虛。 – Ngươi muốn biết chăng, hãy đến chỗ này mà biết.Nếu không biết thì chớ nói năng bậy bạ.” ● 掠 虛 頭 漢.Còn gọi: Lược hư hán. Nghĩa là “Đồ giả hiệu”. Lược: Cướp lấy. Hư: Dối trá không thật. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho đồ giả hiệu, chỉ bắt chước ngôn ngữ và hành vi bên ngoài của Thiền Sư, chứ tự mình thì chưa kiến tính.Tắc 10, Bích Nham Lục (Đại 48, 150 thượng) ghi: “州 云:三 喝 四 喝 後 作 麼 生?僧 無 語。州 便 打 云:這 掠 虛 頭 漢! – Triệu Châu nói: Sau khi hét ba bốn lần thì sao? Vị tăng không đáp được. Triệu Châu liền đánh và bảo: Đồ giả hiệu này”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 良 久.Lặng lẽ hoặc thản nhiên một hồi. Nguyên ý là thời gian hơi lâu, trong Thiền Tông thì chỉ trạng thái vô ngôn vô ngữ. Lúc vị thầy tiếp dẫn người học, người học đưa ra nghi vấn, hoặc trình bày kiến giải của mình, hoặc trả lời câu hỏi của thầy, thầy thường dùng thái độ lặng lẽ một hồi để biểu thị sự đồng ý hoặc phản đối. Tắc 65, Bích Nham Lục (Đại 48, 195 hạ) ghi: “這 一 則 公 案、話 會 者 不 少。有 底 喚 作 良 久、有 底 喚 作 據 坐、有 底 喚 作 默 然 不 對。且 喜 沒 交 涉、幾 曾 摸 索 得 著 來? – Một tắc công án này bị nhiều người dựa trên ngôn ngữ mà hiểu.Có người cho là lặng lẽ một hồi, có người cứ ngồi hoài, có người lặng yên không đáp. May thay chẳng dính dáng. Có mấy ai sờ mó đến được?”. ● 良 价 (807-869).Thiền tăng đời Đường, Tổ tông Tào Động. Sư họ Du, người xứ Chư Kị, Cối Kê (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. ấu niên xuất gia, 21 tuổi thụ giới Cụ túc. Yết kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện, thâm lãnh huyền chỉ. Tham phỏng Quy Sơn Linh Hựu, chẳng khế hợp. Yết kiến Vân Nham Đàm Thạnh, hỏi nghĩa công án “Vô tình thuyết pháp”, được ấn tâm rồi trở về. Trên đường về, lội ngang suối chợt thấy bóng mình in dưới nước liền đại ngộ ý chỉ trước. Cuối niên hiệu Đại Trung (859) sư trụ viện Phổ Lợi ở Động Sơn (nay nằm trong địa hạt huyện Nghi Phong, tỉnh Giang Tây). Sư chủ trương: “Người xuất gia tâm chẳng bám víu vào vật mới là chân tu hành”, xướng thuyết “Ngũ Vị Quân Thần”. Thụy hiệu “Ngộ Bản Thiền Sư”. Tác phẩm: Bảo Cảnh Tam Muội Ca, Huyền Trung Minh. ● 良 匡.Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Kiết Châu, Trung Quốc; nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ Hoàng Sơn, Phủ Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây). ● 良 遂.Thiền tăng đời Đường. Sư hai lần đến núi Ma Cốc để tham vấn Thiền Sư Bảo Triệt, Bảo Triệt hoặc là vác cào ra sân cào cỏ, hoặc đóng cửa chẳng nói, khiến Lương Toại hai lần đều chẳng mở miệng được, dẫn đến nhân duyên ngộ đạo của sư. Sau cùng Lương Toại đại triệt đại ngộ. Về sau, sư trụ Thọ Châu (nay là huyện Thọ, tỉnh An Huy). ● 兩 班.Chức vụ tăng sĩ trong thiền viện, dưới vị Trụ trì, chia làm Đông ban và Tây ban, gọi chung lại là “Lưỡng ban”. Tây ban còn gọi là Đầu thủ, gồm có: Thủ tọa, Thư ký, Tri tạng, Tri khách, Tri dục, Tri điện. Đông ban còn gọi là Tri sự, gồm có: Đô tự, Giám tự, Phó tự, Duy Na, Điển tọa, Trực tuế. (Tên gọi chức vụ tùy theo tông phái, thời đại mà có chỗ thay đổi khác nhau). Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “謝 兩 班、上 堂。 – Cảm ơn Lưỡng ban rồi thượng đường”. ● 兩 隻 眼.Ánh mắt trí tuệ quán chiếu chân tướng sự vật. Đối lại với nhất chích nhãn. Chương (Ngữ Chi Dư) đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q.2 ghi: “第 一 須 具 兩 隻 眼、照 破 兩 頭 事、莫 只 帶 一 隻 眼 向 一 邊 行。 – Thứ nhất cần phải đủ hai con mắt soi thấu cả hai bên, chớ nên chỉ đeo một con mắt nhìn về một phía.” ● 兩 脚 捎 空.Nguyên ý là hai chân rời mặt đất mà đứng. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ dùng để trách người học chưa thiết thực quyết tâm tham cứu, chưa dùng định huệ tu hành thì khó mà thông suốt chân lý, và chỗ đắc chỗ ngộ đều là hư vọng không thật. Chương Nam Tuyền Phổ Nguyện trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q.12 (Vạn Tục 118, 150 thượng) ghi: “江 西 老 宿 只 道 不 是 心、不 是 佛、不 是 物、直 須 體 會 詣 實 修 行。(中 略)兩 腳 稍(疑 作 捎)空、莫 將 爲 是、共 道 不 相 應。 – Bậc lão túc ở Giang Tây chỉ nói chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, cần phải ngay đó thể hội rồi thật sự tu hành (…) nếu không thiết thực tu hành thì chớ cho là phải, cùng đạo chẳng tương ưng”. ● 兩 堂.Trong thiền viện, tăng đường chia ra làm tiền đường (nhà trước) và hậu đường (nhà sau), gọi chung lại là lưỡng đường. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “是 日 兩 堂 首 座 相 見。同 時 下 喝。 – Hôm ấy lưỡng đường Thủ tọa gặp nhau, đồng thời hét lên”. ● 兩 兩 三 三.Xúm đôi xúm ba. Tắc 18, Bích Nham Lục (Tục 117,147, thượng) ghi: “也 是 把 不 住。兩 兩 三 三 作 什 麼?半 開 半 合. – Cũng là không thể tự chủ, họ xúm đôi xúm ba để làm gì? Nửa úp nửa mở”. ● 兩 刃 相 偒.Nguyên chỉ cho hai thanh đao bén nhọn khi va chạm thường bị hư hao. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho hai phe đối lập cùng đưa ra một phương hướng chung để tiến hành giải quyết vấn đề cơ phong. Tắc 4, Bích Nham Lục (Đại 48, 144 trung) ghi: “孤 峰 頂 上 草 裹 坐。咄 (會 麼。兩 刃 相 傷。兩 兩 三 三 舊 路 行。唱 拍 相 隨。便 打) – Trên đảnh cô phong, ngồi trong cỏ, ối chao! (Hiểu chăng? Hai mũi nhọn cùng hư hao, xúm đôi xúm ba đi đường cũ, kẻ hát người gõ rồi đánh nhau)”. Trong đó, “xúm đôi xúm ba đi đường cũ”, chỉ cho người học không chịu tinh tấn, chỉ biết cặp bè cặp bạn, bị hạn cuộc vào cảnh giới đã có mà không có cách nào chặt phá gai góc để cầu chứng cảnh giới mới mẻ. Ngoài ra, tông Tào Động lúc bàn về “Thiên trung chí”, “Kiêm trung chí” của thuyết Động Sơn Ngũ Vị, cho rằng trong sát na giao nhau giữa minh (Thiên) và ám (Chính), vẫn chưa khởi tâm động niệm và không có mảy may cảnh giới của tác dụng phân biệt tư lương, gọi là “Lưỡng nhận giao phong”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 兩 片 皮.Còn gọi: Lưỡng phiến, lưỡng bì. Miệng. Tiết Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền Sư trong LĐHY q.8 ghi: “纔 見 伊 道 摩 訶 衍 法 便 云:嗋 取 兩 片 皮。非 唯 只 絕 仰 山 寐 語、亦 免 後 人 夢 中 說 夢。 – Vừa thấy ông ta nói ›pháp Ma ha diễn‹, liền bảo ›câm miệng lại‹.Chẳng những ngăn dứt những lời nói mớ của Ngưỡng Sơn, mà còn tránh cho người đời sau trong mơ nói mớ.” ● 兩 彩 一 賽.Trong một cuộc thi đấu có hai người giành được phần thắng. Thiền Tông mượn từ này để chỉ trong khi pháp chiến, tỷ thí cơ phong thì kết quả bất phân thắng bại, tức chỉ hai vị thiền giả có trình độ ngang nhau, “kỳ phùng địch thủ”.Lâm Tế Hành Lục (Đại 47, 505 trung) ghi: “溈 山 問 仰 山:黃 蘗 入 僧 堂、意 作 麼 生?仰 山 云:兩 彩 一 賽。 – Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: Hoàng Bá vào tăng đường, ý nghĩa thế nào? Ngưỡng Sơn nói: Kỳ phùng địch thủ”. ● 兩 重 公 案.Một công án lặp lại hai lần. Chỉ cho sự giải thích nhiều lần đối với một công án, cũng tức là nêu bày nhiều lần một công án nào đó cho người học đạo. Nhưng cũng có khi là lời chế giễu, chê cười người học Thiền không tự mình sáng tạo, trong lúc tham cứu ý chỉ Thiền chỉ biết bắt chước công án kẻ khác, hoặc niêm hoặc bình, nói cười lườm ngó, làm bộ làm tịch, nhưng đều không ngoài đàm dãi của người xưa. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 141 thượng) ghi: “闔 國 人 追 不 再 來 (兩 重 公 案。用 追 作 麼。) – Người cả nước mời chẳng trở về (Công án được lặp lại hai lần đuổi theo để làm gì?)” ● 流 布.Truyền bá, lưu truyền. Bài hậu tự của Lưu Phỉ trong CĐTĐL ghi: “吾 故 知 是 書 之 流 布。發 明 心 地 者 眾 矣。 – Tôi biết chắc sự truyền bá sách này khiến nhiều người phát minh tâm địa”. ● 留 碍.Đình trệ, trở ngại. Tiết Linh Nham Trọng An Thiền Sư trong NĐHN q.20 ghi: “參 禪 不 究 淵 源、觸 途 盡 爲 留 礙。 – Tham thiền chẳng tra xét đến nguồn gốc, khi gặp việc thường bị trở ngại”. ● 劉 鐵 磨.Ni sư Thiền Tông đời Đường, họ Lưu, do vì cơ phong cao vút nên người đời gọi là “Lưu Thiết Ma”.Cách núi Cự Quy 10 dặm, Ni sư có dựng một cái am nhỏ để ở. Ni sư nối pháp Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu, cũng từng tham yết Thiền Sư Tử Hồ Lợi Tung, nhiều lần bàn luận thiền chỉ với các thiền khách đương thời. Có công án “Thiết Ma lão tự ngưu” (Thiết Ma con trâu cái) lưu truyền ở đời. ● 流 通.Truyền bá, lưu truyền. Tựa của Dương ức trong CĐTĐL ghi: “大 雄 付 囑 之 旨、正 眼 流 通 之 道。 – Ý chỉ của bậc Đại Hùng phó chúc, đạo Chính Nhãn (Thiền Tông) được lưu truyền”. ● 離 言 説 法.Sự biểu đạt và truyền bá thiền pháp vượt lên và xa lìa ngôn ngữ thông thường. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “乘 有 大 小、得 有 淺 深、皆 非 本 法。故 云:唯 有 一 乘 道、余 二 則 非 眞。然 終 未 能 顯 一 心 法、故(釋 迦 牟 尼 佛)召 迦 葉 同 法 座、別 付 一 心、離 言 說 法。此 一 枝 法 令 別 行、若 能 契 悟 者、便 至 佛 地 矣。 – Thừa có đại tiểu, đắc có cạn sâu, đều chẳng phải bản pháp, nên nói: ›Chỉ có đạo Nhất thừa, có hai chẳng phải chân‹.Nhưng cuối cùng chưa hiển được pháp Nhất tâm nên Phật Thích Ca Mâu Ni mới gọi ngài Ca Diếp cùng lên pháp tòa, riêng trao Nhất tâm, là pháp lìa ngôn thuyết. Một nhánh pháp này thực hành theo lối riêng, nếu người nào khế ngộ được liền thẳng đến Phật địa”. ● 離 心 求 佛.Chẳng biết tự tâm xưa nay là Phật, trở lại tìm cầu đạo bên ngoài làm Phật. Đại Châu Ngữ Lục q. hạ: “離 心 求 佛 者 外 道。 – Ly tâm cầu Phật là ngoại đạo”. ● 離 四 句 絕 百 非.Tứ cú là: Có, không, chẳng có chẳng không, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không. Bách phi: trăm thứ sai lầm. Tất cả tư tưởng đều chẳng ra ngoài tứ cú này, nếu trụ thì chướng ngại sự dụng của bản thể tự tính mà sinh ra bách phi, nếu lìa thì hiển bày đại dụng của tự tính mà tuyệt bách phi. ● 離 微.Ly: Thể của pháp tính, do vì lìa các tướng nên không tịch. Vi: Dụng của pháp tính, do vì vi diệu nên không thể nghĩ bàn. Bác Sơn Hòa Thượng truyện trong Nguyên Lai Quảng Lục q.35 ghi: “居 歲 余、忽 見 趙 州 囑 僧 語、恍 然 有 得、走 見 壽 昌、時 壽 昌 已 從 峨 峰 徙 寶 方 矣。語 次、頗 離 微 不 合、遂 居 寶 方、幾 至 委 頓、面 目 黧 黑、肤 僅 支 骨、而 精 進 不 衰。 – Sư ở đó hơn một năm. Một hôm, sư xem Truyền Đăng Lục thấy lời Triệu Châu dặn dò tăng, sư bất giác tỉnh ngộ, chạy đến yết kiến Thọ Xương.Khi ấy Thọ Xương đã từ Nga Phong dời sang Bảo Phương rồi. Đang lúc trình bày, thể dụng chẳng hợp, nên sư ở lại Bảo Phương nỗ lực cầu đạo đến nỗi thân hình khô héo, mặt mũi nám đen, còn da bọc xương mà tinh tấn chẳng lùi”. ● 理 安 寺.Chùa ở Thập Bát Giản, Nam Sơn, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Xưa gọi là “Dũng Tuyền Thiền Tự”, tên cũ là “Pháp Vũ Tự”. Thời Ngũ Đại, Ngô Việt Vương sáng lập, Thiền Sư Phục Hổ Phùng cư trú chùa này. Thời vua Tống Lý Tông vì muốn quốc thái dân an nên đổi tên là “Lý An Tự”. Niên hiệu Hoằng Trị thứ 4 (1491) đời Minh bị hồng thủy phá hủy. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1620) Đại sư Pháp Vũ xây dựng lại. Niên hiệu Khang Hi thứ 51 (1712) đời Thanh do tăng chúng quá đông, sản xuất ít ỏi, không đủ chi xuất nên vua phải xuất tiền trong kho ra xây lại chùa. Trong chùa nguyên có cất giữ những văn vật Phật giáo trân quý như Xá Lợi Phật cổ ấn Độ, bối diệp kinh. Trong viện có Pháp vũ tuyền nước trong như gương. Nguyên có các kiến trúc Tùng Điên các, Thả Trụ các, Phù Kỳ các lâu năm đã hư phế. ● 李 翱 (772-841).Cư sĩ đời Đường, tự là Tập Chi, người đất Lũng Tây, Thành Kỷ (nay ở phía tây Tần An, Cam Túc), một thuyết cho là người đất Triệu Quận (nay là huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. Từ thuở nhỏ học Nho uyên bác, hiếu cổ. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 14 (798) đỗ Tiến sĩ. Lần lượt nhậm chức Hiệu thư lang, Quốc tử Bác sĩ, Sứ quán tu soạn, Gián nghị đại phu, Trung thư Xá nhân, Tiết độ sứ Đông Đạo ở Sơn Nam, cùng với thầy là Hàn Dũ, văn chương được đương thời khen ngợi. Theo Thiền Sư Dược Sơn Duy Nghiễm học hỏi lý thiền có chỗ tỏ ngộ, sáng tác “Phục Tính Thư”. Tiếp nhận quan điểm “Kiến tính thành Phật” của Thiền Tông, đề xuất nhân tính đều thiện, bởi vọng tình mê hoặc nên chia ra phàm thánh khác biệt.Chủ trương “Chính tư” để tâm đạt đến chỗ chí thành dứt sạch tình dục mà trở về chân tính. Học thuyết này có ảnh hưởng rất lớn đối với Lý học đời sau, gióng lên tiếng chuông báo trước cho Lý học đời Tống, Minh; dẫn Thiền vào Nho. ● 李 綱 (1083-1140).Cư sĩ đời Tống, tự Bá Kỷ, người Thiệu Vũ (nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc. Niên hiệu Tuyên Hòa thứ 7 (1125) làm chức Thái thường Thiếu khanh. Khi ấy nhà Kim xua quân Nam Hạ vào Trung Nguyên. Ông chích máu viết sớ xin vua Huy Tông truyền ngôi cho Thái tử để hiệu triệu thiên hạ, Khâm Tông tức vị, ông nhậm chức Binh bộ Thị lang, cương quyết chủ chiến, phản đối việc dời đô. Giao cho Thượng thư Hữu thừa làm Thân chính Hành doanh sứ cung cấp đầy đủ cho cuộc chiến khiến quân Kim phải tháo lui. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 1 (1127) nhậm chức Thượng thư Hữu bộc xạ kiêm Trung thư Thị lang, tại chức có 75 ngày rồi bị giải chức. Ông tin Phật pháp, thông kinh luận, hơn nữa rất thích kinh Hoa Nghiêm.Hằng ngày thường lấy lời Phật dạy làm gốc mà bàn luận sự việc. Thích giao du với các Thiền Sư Phù Dung Đạo Giai, Viên Ngộ Khắc Cần, Đại Huệ Tông Cảo. Một buổi chiều nọ, ông đang ngồi trong phủ chợt nghe tiếng động mạnh liền tỏ ngộ, làm kệ trình Tông Cảo, Tông Cảo ấn khả. Sau khi ông qua đời, mọi người đều thương tiếc khóc than, bán hết đồ trang sức nhà quan để cầu siêu truy tiến cho ông. Tác phẩm: Lương Khê Tập. ● 理 會.1. Lý giải, lãnh hội. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “上 堂 云。擔 水 河 頭 賣。諸 人 盡 笑 怪。滯 貨 沒 人 猜。一 似 欠 他 債。昨 夜 三 更 半。石 人 鬥 禮 拜。這 箇 說 話。莫 道 脅 理 會 不 得。 – Thượng đường nói: Gánh nước đầu sông đem bán, mọi người đều cười trách. Hàng ứ đọng không ai ngờ giống như thiếu nợ người. Canh ba nửa đêm hôm qua, gái đá tranh nhau lễ bái.Những lời này chớ nói ngươi không thể lãnh hội, cả ta cũng không thể lãnh hội.” ● 2. Thảo luận, biện luận. Tông Môn Võ Khố ghi: “秀 圓 通 時 在 會 中 作 維 那。每 見(雲 居 舜 和 尚)訶 罵 不 已。乃 謂 同 列 曰。我 須 與 這 老 漢 理 會 一 上。 Tú Viên Thông thời tại hội trung tác Duy na, mỗi kiến (Vân Cư Thuấn Hòa Thượng) ha mạ bất dĩ, nãi vị đồng liệt viết: Ngã tu dữ giá lão hán lý hội nhất thượng! – Lúc Tú Viên Thông ở trong thiền viện làm Duy na, mỗi khi thấy (Hòa Thượng Vân Cư Thuấn) là quở mắng không ngớt, bèn bảo với đồng đội rằng: Ta cần phải thảo luận cùng lão này một phen!” ● 3. ứng phó, xử trí. Uyển Lăng Lục ghi: “有 一 般 閑 神 野 鬼。纔 見 人 有 些 少 病 便 與 他 人 說。爾 只 放 下 著。及 至 他 有 病。又 卻 理 會 不 下。手 忙 腳 亂。 – Có một loại quỉ thần rảnh rỗi, vừa thấy người khác có chút bệnh liền nói với họ rằng: Ông chỉ cần buông bỏ đi! Đến khi chúng mắc bệnh thì lại ứng phó không được, tay chân lúng túng.” ● 理 事.Chân lý Phật pháp cùng sự vật thế gian. Tiết Hòa Sơn Huệ Phương Thiền Sư trong NĐHN q.18 ghi: “上 堂 舉 拂 子 曰:看! 看! 祇 這 箇、在 臨 濟、則 照 用 齊 行、在 雲 門 則 理 事 俱 備、在 曹 洞 則 偏 正 葉 通、在 溈 山 則 暗 機 圓 合、在 法 眼 則 何 止 唯 心? – Thượng đường, giơ phất tử lên nói: Hãy nhìn đây! Chỉ cái này, ở chỗ Lâm Tế thì chiếu dụng cùng hành, ở chỗ Vân Môn thì lý sự đầy đủ, ở chỗ Tào Động thì thiên chính hiệp thông, ở chỗ Quy Sơn thì ám cơ viên hợp, ở chỗ Pháp Nhãn thì đâu chỉ duy tâm.” ● 理 事 不 二.Chân đế Phật pháp cùng với sự vật thế gian không hề đối lập. Bích Nham Lục q.1 ghi: “大 凡 扶 豎 宗 教。須 是 英 靈 底 漢。有 殺 人 不 眨 眼 底 手 腳。方 可 立 地 成 佛。所 以 照 用 同 時 卷 舒 齊 唱。 理 事 不 二。權 實 並 行。 – Nói chung dựng lập tông giáo phải là bậc anh linh, có thủ đoạn giết người không chớp mắt mới có thể lập tức thành Phật. Cho nên chiếu dụng đồng thời, co duỗi cùng xướng, lý sự không hai, quyền thật đồng hành.” ● 李 瑞 爽 (1931-).Học giả Phật giáo hiện đại, pháp danh Giác Lãng, biệt hiệu Tịch Quang. Người thành phố Cát Lâm, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc. Ông lần lượt tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đài Loan, Đại học Tokyo (Nhật Bản) và đỗ bằng Tiến sĩ Triết học hai đại học Harvard, Cali (Hoa Kỳ). Tuần tự giữ chức giáo sư đại học Michigan, phân hiệu San Francisco thuộc Đại học Cali (Hoa Kỳ). Từ nhỏ ông quy y Phật giáo, sau khi đến Đài Loan ông quy y Pháp sư Đại Tỉnh, song tu Hiển Mật. Thời kỳ ở Nhật Bản chuyên nghiên cứu triết học ấn Độ và tu tập tư tưởng Không quán. Đối với Phạn văn, ông nghiên cứu so sánh các tôn giáo rất sâu, và âm thầm nghiên cứu sự diễn biến hưng suy của Thiền Tông Trung Quốc. Trong khi dạy học ở Hoa Kỳ, ông nhiều lần dùng đề tài “Sinh hoạt Thiền viện và xã hội Trung Quốc” để giới thiệu văn hóa Trung Quốc. Ông là hội viên Học Hội Tư Tưởng Khoa Học Mỹ Quốc. Năm 1971, ông được bầu làm hội viên trác việt của Học Hội Logic Mỹ Quốc. Tác phẩm: Phật Học Chân Tủy, Thiền Viện Sinh Hoạt hòa Trung Quốc Xã Hội, Đối Bách Trượng Thanh Quy đích Nhất Cá Hiện Tượng đích Nghiên Cứu. ● 履 踐.Chỉ các hành vi như: Tham thiền, tu tập, khế cơ, ngộ đạo. Vô Môn Quan ghi: “念 起 即 覺、弄 精 魂 漢 。兀 然 習 定、鬼 家 活 計。進 則 迷 理、退 則 乖 宗。不 進 不 退、有 氣 死 人。且 道、如 何 履 踐。努 力 今 生 須 了 卻、莫 教 永 劫 受 餘 殃。 – Khởi niệm liền giác còn là kẻ cố tình huyễn hoặc người, ngây ngây tập định là kế sống nhà quỷ. Tiến được thì mê lý, thối lui là trái tông; chẳng tiến chẳng thối, có hơi hám của người chết. Thử hỏi phải có hành vi thế nào? Nỗ lực đời này cho liễu ngộ Đừng để vĩnh kiếp chịu tai ương”. ● 理 長 則 就.Còn gọi: Lý trưởng tức tựu. Đạo lý người nào hay hơn thì theo người ấy. Tiết Động Sơn Hiểu Thông Thiền Sư trong NĐHN q.15 ghi: “問:如 何 是 佛?師 曰:理 長 則 就。 – Hỏi: Thế nào là Phật? Sư nói: Đạo lý người nào hay hơn thì theo người ấy.” ● 李 遵 勖 (988-1038).Cư sĩ đời Tống, ban đầu tên Húc, vua Tống Chân Tông đổi tên này, tự là Công Vũ, người xứ Thượng Đảng Lộ Châu (nay là Trường Trị, Sơn Tây), Trung Quốc. Ông lấy em vua Chân Tông là công chúa Vạn Thọ Trường, nhận chức Tả long vũ Tướng quân, phò mã Đô úy. Theo học với Dương ức, tinh thông Phật học. Yết kiến Thiền Sư Cốc Ẩn Uẩn Thông thưa hỏi việc tông môn, Uẩn Thông đem công án “Thôi Triệu Công hỏi Kỉnh Sơn” để đáp lại. Lý Tuân Húc nhờ đó mà đại ngộ, làm bài kệ: “Người sắt mới mong học đạo thâm Đặt tay liền biện rõ đầu tâm Thẳng về đường Giác cao vô thượng Phải quấy màng chi để bận lòng”. Ông thường cùng tăng chúng tụ hội trong phủ đàm luận suốt đêm. Về sau, ông biết trước giờ lâm chung nên thù xướng kệ tụng với Thiền Sư Từ Minh Sở Viên rồi thong dong ra đi. Tác phẩm: Thiên Thánh Quảng Đăng Lục. ● 摩. 1. Như thế. Tiết Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 1 ghi: “近 日 老 邁、且 摩 過 時。 – Gần đây tuổi tác già nua, nên lỗi thời như thế”. ● 2. Trợ từ cuối câu nghi vấn, tức “(chăng? không?)”. Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q. 3 ghi: “皇 帝 見 目 前 虛 空 摩? – Hoàng đế có thấy hư không trước mắt chăng?”. ● 磨 主. Còn gọi: Ma đầu. Chức vụ trông coi việc xay giã các loại ngũ cốc, cây lương thực trong Thiền viện. Tông Môn Võ Khố ghi: “五 祖 演 和 尚、依 舒 州 白 雲 海 會 端 和 尚、咨 決 大 事、深 徹 骨 髓。端 令 山 前 作 磨 頭。 – Hòa Thượng Ngũ Tổ Diễn nương ở nơi Hòa Thượng Đoan tại chùa Hải Hội núi Bạch Vân thuộc Thư Châu, tham cứu việc siêu thoát sinh tử được ngộ rất sâu. Đoan bảo sư ra trước núi làm Ma đầu”. ● 麻 谷 徹. Thiền tăng Bảo Triệt đời Đường ở núi Ma Cốc thuộc Bồ Châu cử xướng thiền phong, nên gọi là Ma Cốc Triệt. X. Bảo Triệt. ● 魔 宮. Cung điện của ma vương Ba Tuần, ở cõi trời thứ 6 thuộc Dục giới. Chương Ưu Ba Cúc Đa Tổ thứ 4 trong CĐTĐL q. 1 ghi: “隨 方 行 化 至 摩 突 羅 國。得 度 者 甚 眾。由 是 魔 宮 震 動。波 旬 愁 怖 遂 竭 其 魔 力 以 害 正 法。 – Sư tùy phương đi giáo hóa, đến nước Ma Đột La, độ được rất nhiều người, do đây mà cung điện của ma vương chấn động, Ba Tuần lo sợ liền dùng hết sức ma để phá hoại chính pháp”. 魔 道. Đường ma, pháp tà. Nhà thiền nhấn mạnh vào điều gọi là “đối lập giữa Phật đạo và ma đạo” cũng là kiến giải hư vọng. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “學 道 人 一 念 計 生 死 即 落 魔 道。 – Người học đạo một niệm nghĩ đến sinh tử liền rơi vào ma đạo”. ● 摩 訶. Thiền tăng đời Tiền Lê, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 10. Sư người gốc Chiêm Thành, sau đổi họ Dương, ở làng Cổ Miệt (nay thuộc huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương), miền Bắc Việt Nam. Năm 24 tuổi, sư trụ trì một ngôi chùa cũ. Một hôm đang lúc sư giảng kinh bỗng thấy Hộ pháp Thiện thần xuất hiện quở rằng: “Đâu cần cái học bên ngoài ấy làm gì? ắt không thể thông lý”. Do đây hai mắt sư bị mù. Sư hết lòng ăn năn hối lỗi, toan gieo mình xuống vực sâu mà chết. Bỗng gặp Đông Lâm Viễn ngăn rằng: “Dừng! dừng!”. Sư nghe lời này liền tỉnh ngộ. Về sau sư đến chùa Cổ Sơn thụ giới với Thiền Sư Đỗ Pháp Thuận. Năm 1015, sư về núi Đại Vân ở Trường An chuyên cần tu tập được “Tổng Trì Tam Muội” và các pháp thuật, người đời không thể lường nổi. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 摩 醯 眼. Mắt Ma Hê. Ma Hê là tên vị thiên thần trong thần thoại Phật giáo. Gọi đủ là Ma Hê Thủ La, còn gọi là Tự Tại Thiên. Vị này có 3 mắt, con mắt ở giữa nằm dọc trên trán (là con mắt thứ ba) có thị lực thần kỳ, dụ chỉ cho pháp nhãn. Bài thơ Tống Như Thủy Đầu trong Mật Am Ngữ Lục ghi: 如 如 方 解 說 此 說 若 爲 通 戳 瞎 摩 醯 眼 掀 翻 宇 宙 空 “Như như mới giải thoát Thuyết này làm sao thông? Chọc mù mắt Ma Hê Vén mở vũ trụ không”. ● 摩 空 俊 鶻. Chim cắt bay cực nhanh, dụ chỉ cho thiền tăng căn cơ linh lợi, cơ phong bén nhạy. Tiết Trường Sinh Sơn Hạo Nhiên Thiền Sư trong Đại Quang Minh Tạng q. hạ ghi: “寶 曇 曰:雪 峰 之 門 得 此 士(指 皓 然)、世 固 有 摩 空 俊 鶻 之 稱 也。 – Bảo Đàm nói: Trong pháp hội của Tuyết Phong có được kẻ này (chỉ Hạo Nhiên). Thế gian có tên gọi “Con chim cắt bay cực nhanh”. ● 摩 竭 陀 令. Mệnh lệnh được ban hành từ Ma Kiệt Đà. Đức Thích Ca sau khi thành đạo, đóng cửa thất ngồi thiền trong 37 ngày ở nước Ma Kiệt Đà; ý chỉ cho thiền cơ được biểu đạt không nhờ vào lời nói. Tiết Vô Thể Quảng Trí Thiền Sư trong TTĐL q. 11 ghi: “師 乃 曰:世 尊 良 久、迦 葉 起 來 白 槌;馬 師 才 升 座、百 丈 出 來 卷 席。可 謂 摩 竭 陀 令 已 行、不 可 更 教 山 僧 重 下 注 腳。 – Sư liền nói: Thế Tôn lặng lẽ hồi lâu, Ca Diếp đứng dậy bạch chùy; Mã đại sư vừa thăng tòa, Bách Trượng liền bước ra cuốn chiếu. Có thể nói mệnh lệnh được ban hành từ Ma Kiệt Đà, chẳng thể bảo Sơn tăng hạ thêm chú cước”. ● 懡 㦬. Nghĩa là sỉ nhục, hỗ thẹn. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 140 thượng) ghi: “達 磨 遂 渡 江 至 魏(這 野 狐 精、不 免 一 場 懡 㦬。從 西 過 東、從 東 過 西。) – Đạt Ma vượt sông đến nước Ngụy (Đồ chồn tinh ranh này, không tránh khỏi một lần hỗ thẹn, từ Tây qua Đông, từ Đông qua Tây)”. Tắc 7, Thung Dung Lục (Đại 48, 231 hạ) ghi: “雲 掃 長 空 巢 月 鶴(樹 下 底 一 場 懡 㦬。) – Mây lướt trên không, hạc làm tổ dưới trăng (Dưới gốc cây một phen hỗ thẹn)”. ● 磨 礱. Mài giũa. Tiết Xiển Đề Chiếu Thiền Sư trong GTPĐL q. 27 ghi: “鐵 剛 刀 自 利、不 用 苦 磨 礱。 – Dao có chất thép tốt tự bén, chẳng cần nhọc công mài giũa”. ● 麻 迷. Mắt lèm nhèm, mắt mù. Ma có nghĩa là không cảm giác; mê là híp mắt, tức là vật lạ như cát bụi… rơi vào mắt, khiến không thể thấy. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để hình dung trạng thái mơ hồ thấy không rõ ràng, hoặc chế giễu người mù mắt. Tiết Đông Lâm Hòa Thượng trong Vân Môn Am Chủ Tụng Cổ (Vạn Tục 118, 399 thượng) ghi: 啞 子 得 夢 與 誰 說 起 來 相 對 眼 麻 迷 “Á tử đắc mộng dữ thùy thuyết? Khởi lai tương đối nhãn ma mê”. “Kẻ câm nằm mộng nói cùng ai? Thức dậy đối diện với kẻ mù”. ● 魔 魅. Mê hoặc, đầu độc. Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong LĐHY q. 20 ghi: “你 被 他 諸 方 老 禿 奴 魔 魅 著、便 道 我 是 修 行 人、打 硬 作 模 作 樣、恰 似 得 道 底 人 面 孔。 – Ngươi bị các lão trọc khắp nơi mê hoặc, nên nói ta là người tu hành, gắng gượng làm bộ làm tịch giống như bộ mặt của người đắc đạo”. ● 摩 尼. Dịch âm tiếng Phạn Mani, có nghĩa là viên ngọc quý. Minh Chân tụng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 18 ghi: 我 有 摩 尼 一 顆、埋 在 五 蘊 身 田 昨 向 泥 中 取 出、光 明 照 燭 無 邊 “Ngã hữu ma ni nhất khỏa Mai tại ngũ uẩn thân điền Tạc hướng nê trung thủ xuất Quang minh chiếu chúc vô biên”. “Ta có một viên ngọc quý Vùi ở ruộng thân ngũ uẩn Hôm qua lấy nó từ bùn Hào quang chiếu sáng vô biên”. ● 魔 外. Thiên ma và ngoại đạo. Tiết Tống Lân Thủ tọa trụ Định Thủy trong MANL ghi: “一 棒 一 條 痕。一 摑 一 掌 血。不 是 向 上 機 關。亦 非 單 傳 妙 訣。佛 祖 見 之 攢 眉。魔 外 聞 之 膽 折。 – Một gậy là hằn một dấu roi, một tát là hằn một bàn tay máu. Chẳng phải là cơ quan hướng thượng, cũng chẳng phải là diệu quyết đơn truyền, Phật Tổ thấy đó liền chau mày, thiên ma ngoại đạo nghe đó liền rớt mật”. ● 磨 牛. Con trâu đang được chăn giữ điều phục. Từ “Ma ngưu” được dùng để chỉ cho hàng Tăng Ni tuy mang hình tướng xuất gia nhưng chưa thật sự kiến tính. 魔 軍. Quân đội của ác ma. Trong các tác phẩm Thiền Tông gọi các nhân tố làm phương hại đến Phật pháp, Thiền đạo là “ma quân”. Uyển Lăng Lục ghi: “祖 師 門 中、只 論 息 機 忘 見。所 以 忘 機 則 佛 道 隆、分 別 則 魔 軍 熾。 – Trong cửa Tổ sư chỉ luận về dừng cơ quên kiến. Thế nên quên cơ thì Phật đạo thạnh, phân biệt thì ma quân lừng”. ● 魔 羂. Sự trói buộc của đường ma, pháp tà. Minh Chân tụng trong PKNL q. 18 ghi: “大 有 世 間 癡 漢、隨 他 聲 色 流 轉。不 知 萬 境 樅 然、總 是 心 靈 所 變。墮 在 塵 勞 海 中、無 由 脫 離 魔 羂 – Thế gian có rất nhiều kẻ ngu si, chạy theo thanh sắc mà chẳng biết muôn cảnh diễn ra tưng bừng đều là do tâm linh biến hiện. Rơi vào trong biển trần lao, không có cách nào thoát khỏi sự trói buộc của đường ma, pháp tà”. ● 魔 事. Việc làm nhiễu hại Phật pháp. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “末 代 弘 法、魔 事 必 多。貪 進 者 必 取 辱、過 侈 者 必 招 非。知 此、即 爲 攝 伏 魔 軍 之 第 一 策。 – Hoằng pháp vào thời mạt, ma sự ắt hẳn là nhiều. Người cầu tiến tất chịu được nhục, kẻ khoác lác tất rước lấy lỗi lầm. Biết được điều này, chính là kế hay nhất để nhiếp phục ma quân”. ● 魔 作. Hành động tà ma, hành vi của ma quỷ. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ ba dưới Đại Giám trong CTTNL q. 2 ghi: “只 如 今 於 一 切 有 無 等 法、有 纖 毫 愛 染 心、縱 然 腳 踏 蓮 華、亦 同 魔 作。 – Nếu như hiện tại đối với tất cả pháp hữu vô còn có mảy may tâm ái nhiễm thì dù cho ngươi có được hoa sen đỡ gót, cũng đồng với hành vi của ma quỷ”. ● 摩 霄 俊 鶻. Chim cắt bay cực nhanh, dụ chỉ thiền tăng căn cơ linh lợi, cơ phong bén nhạy. Tiết Hoàng Long Tổ Tâm Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “上 堂、擊 禪 床 曰:一 塵 纔 舉、大 地 全 收。諸 人 耳 在 一 聲 中、一 聲 遍 在 諸 人 耳。若 是 摩 霄 俊 鶻、便 合 乘 時;止 濼 困 魚、徒 勞 激 浪。 – Sư thượng đường, gõ vào giường thiền, nói: Một hạt bụi vừa dấy lên chứa cả quả đất. Nếu các ngươi nghe được một tiếng, thì tiếng ấy đều đến tai các ngươi. Nếu là con chim cắt bay cực nhanh liền chộp lấy thời cơ, đúng lúc cá bị kẹt trong băng nên quắp lấy nó, khỏi phí công chặn sóng”. ● 魔 子. Ma quỷ, ác ma. Phần lớn thường dùng từ này để mắng người nhiễu hại Phật pháp, thiền pháp. Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “後 聞 南 方 禪 席 頗 盛、師 氣 不 平、乃 曰:出 家 兒 千 劫 學 佛 威 儀、萬 劫 學 佛 細 行、不 得 成 佛。南 方 魔 子 敢 言 直 指 人 心、見 性 成 佛、我 當 摟 其 窟 穴、滅 其 種 類、以 報 佛 恩。 – Sư nghe nói các thiền hội phương na rất thạnh nên bất bình, bảo: Người xuất gia ngàn kiếp học oai nghi Phật, vạn kiếp học tế hạnh Phật còn chưa được thành Phật. Ma quỷ phương nam dám nói trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật! Ta cần phải ruồng tận hang ổ, diệt trừ thứ ấy để báo ân Phật”. ● 馬 〖⿰山耆〗. Thiền tăng Pháp Ninh đời Tống, trụ núi Mã Kỳ thuộc Nghi Châu, nên được gọi là Mã Kỳ. X. Pháp Ninh ● 馬 祖 (709-788). Thiền tăng nổi tiếng đời Đường, họ Mã, tên Đạo Nhất, hoặc được gọi “Mã Tổ Đạo Nhất”, người huyện Thập Phương, Hán Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư xuất gia nơi Hòa Thượng Đường ở Tứ Châu, thụ giới cụ túc nơi luật sư Viên ở Du Châu. Sư tập thiền ở viện truyền pháp tại Hành sơn, thờ Thiền Sư Hoài Nhượng làm thầy, theo hầu suốt 10 năm, được truyền tâm ấn. Sư đến ngọn núi Phật Tích ở Kiến Dương, Lâm Xuyên, núi Cung Công ở Nam Khang để hoằng truyền thiền pháp. Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779), sư ở chùa Khai Nguyên tại Chung Lăng, học giả bốn phương vân tập, là 1 trong những trung tâm truyền bá thiền pháp lớn nhất trong nước thời ấy. Chủ trương: “Ngoài tâm không có Phật nào khác, ngoài Phật không có tâm nào khác”. Thụy hiệu: Đại Tịch Thiền Sư. ● 馬 祖 庵. Chỗ tu hành của Mã Tổ Đạo Nhất nên được gọi là Mã Tổ Am. X. Phật Quang tự. ● 馬 祖 道 一 禪 師 廣 錄. Quảng Lục 1 quyển, được xếp vào Tứ Gia Ngữ Lục q. 1 trong Tục Tạng Kinh. Nội dung gom chép lược truyện Mã Tổ cùng Ngữ Yếu cơ duyên mài ngói của Hoài Nhượng và cơ duyên đối thoại với các vị như Tây Đường Trí Tạng, Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Đại Châu Huệ Hải, cùng với lời dạy môn đồ v. v… nêu lên ý nghĩa: “Bình thường tâm thị đạo”. Riêng có Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư Ngữ Lục, 1 quyển, còn gọi Đại Tịch Thiền Sư Ngữ Lục, Mã Tổ Ngữ Lục, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục 1 quyển trong Tục Tạng Kinh, là từ trong “Quảng Lục” mà viết về hành nghiệp cơ duyên Ngữ Yếu của Mã Tổ. ● 馬 祖 四 家 錄. X. Tứ Gia Ngữ Lục. 鏌 鎁 劍. Thanh gươm nổi tiếng vào thời cổ đại. Vào thời Ngô, bên Trung Quốc có một người thợ chuyên môn rèn gươm nổi tiếng tên là Can Tương, vợ anh ta là Mạc Da. Hai người này phụ giúp vua Ngô Hạp Lư, họ rèn được 2 thanh gươm: một thanh gươm thuộc dương tên là Can Tương, một thanh gươm thuộc âm tên là Mạc Da. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho trí huệ sẵn có của mỗi người, hoặc tri kiến Bát Nhã của Thiền Sư dùng để tiếp hóa người học một cách tự do tự tại. Tắc 9, Bích Nham Lục (Đại 48, 149 thượng) ghi: “明 鏡 當 臺。好 醜 自 辨。鏌 鎁 劍 在 手。殺 活 臨 時。 – Gương sáng trên đài soi thấy rõ ràng tốt xấu. Gươm Mạc Da nơi tay tùy thời cứu sống hoặc giết chết”. ● 莫 妄 想. Chớ vọng tưởng. Đây là lời dùng để ngăn cản sự chấp trước vào ý thức phân biệt. Không khởi vọng tưởng thì có thể đến được quả Bồ Đề. Thuật ngữ này thịnh hành trong các Thiền viện đời Đường. Chương Trường Sa Cảnh Sầm trong CĐTĐL q. 10 (Đại 51, 275 hạ) ghi: “有 僧 問:蚯 蚓 斷 爲 兩 段、兩 頭 俱 動、未 審 佛 性 在 阿 那 頭?師 云:妄 想 作 麼! – Có vị tăng hỏi: Con giun bị chặt làm 2 đoạn, 2 đầu đều cử động, không biết Phật tính ở đầu nào? Sư bảo: Vọng tưởng làm gì?” Liên Đăng Hội Yếu q. 6 cũng có ghi chép như thế và ở sau cùng nói rằng: “莫 妄 想! – Mạc vọng tưởng!” (Chớ vọng tưởng). Theo PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 驀. 1. Vượt qua, xuyên qua. Tiết Mật Am Khâm Thiền Sư trong GTPĐL q. 25 ghi: “蝦 䗫 〖⿰ 孛〗 跳 上 梵 天、蚯 蚓 驀 過 東 海。 – Con ễnh ương nhảy lên trời Phạm Thiên, con giun đất vượt qua biển Đông”. ● 2. Cất bước, di động. Tiết Thiên Bình Khế Ngu Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “石 含 茶 居 士 問:法 無 動 搖 時 如 何?師 曰:你 從 潞 府 來?士 曰:一 步 也 不 曾 驀。師 曰:因 甚 得 到 這 裡? – Cư sĩ Thạch Hàm Trà hỏi: Khi pháp không dao động thì sao? Sư bảo: Ngươi từ Lộ Phủ đến phải không? Sĩ đáp: Một bước cũng chưa từng cất lên. Sư nói: Vì sao đến đây được?”. ● 3. Đang, ngay lúc đó. Tiết Dược Sơn Duy Nghiễm Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “師 與 雲 巖 遊 山、腰 間 刀 響。巖 問:甚 麼 物 作 聲?師 抽 刀 驀 口 作 斫 勢。 – Sư cùng Vân Nham đi dạo núi, dao trên lưng khua vang. Nham nói: Vật gì phát ra tiếng? Sư rút dao, ngay lúc đó miệng làm thế đẽo cây”. ● 驀 刀. Một thứ dao dài được bộ binh đời Đường, Tống sử dụng. Tiết Minh Chiêu Đức Khiêm Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “驀 刀 叢 裡 逞 全 威。 – Dao dài trong đám ưa khoe tất cả uy thế”. ● 驀 直. Thẳng, thẳng tắt, hàm ẩn ý nghĩa dứt khoát lãnh ngộ, lập tức khế nhập. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “指 山 門:截 斷 程 途 驀 直 來、乾 坤 洞 徹 此 門 開。 – Sư chỉ cổng chùa, bảo: Cắt đứt con đường, lập tức khế nhập, đất trời rỗng suốt, cửa này mở ra”. ● 驀 直 悟 解. Dứt khoát minh tâm ngộ đạo, không vướng mắc, không chần chừ, không kẹt ở giữa đường. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 2 ghi: “如 今 欲 得 驀 直 悟 解、但 人 法 俱 泯、人 法 俱 絕、人 法 俱 空。 – Nếu như hôm nay muốn được dứt khoát minh tâm ngộ đạo, chỉ cần nhân pháp đều quên, nhân pháp đều bặt, nhân pháp đều không”. Theo nhà thiền, một từ “Mạch trực” thường dùng trong các Ngữ Lục ẩn hàm nghĩa dứt khoát lãnh ngộ. ● 梅 菴. Am ở Mai Am Cương (đồi Mai Am) thuộc thành phố Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tương truyền Lục tổ Huệ Năng rất thích hoa mai, khi đến nơi nào cũng thường trồng mai để thưởng ngoạn. Trong thời gian trở về cố hương, lúc đi ngang vùng đất này, Ngài tự tay trồng lấy một gốc mai. Đệ tử của Ngài dựng lên một cái am tại cội mai này để kỷ niệm. Am được xây dựng vào niên hiệu Chí Đạo thứ 2 (996) đời Tống, đến cuối đời Nguyên thì bị hư hoại. Khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) đời Minh, am được cất lại. Các kiến trúc chủ yếu gồm có: Sơn môn, Tổ sư điện, Đại hùng bảo điện. Cho đến nay, Tổ sư điện vẫn còn giữ được phong cách nghệ thuật kiến trúc bằng gỗ đời Tống. Trước cổng có “Lục Tổ tỉnh” (giếng Lục Tổ), nước giếng mát lạnh. ● 梅 屋. Hiệu của Thiền tăng Niệm Thường đời Nguyên. X. Niệm Thường. ● 買 帽 相 頭. Mua nón phải xem tướng đầu. Tắc 55, Bích Nham Lục (117,182, thượng) ghi: “龍 吟 霧 起。虎 嘯 風 生。買 帽 相 頭。老 婆 心 切。 – Rồng ngâm mây tụ, cọp gầm gió nổi, mua nón phải xem tướng đầu, tâm lão bà tha thiết”. ● 買 貼 坐 禪 床. Mua thiếp ngồi giường thiền, nghĩa là mua chùa làm Trụ trì hoặc mua cầu sự vinh hoa quyền quý, hoặc mua chuộc người ngồi trên giường thiền để nói chuyện đạo. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 4 (Đại 48, 1039 trung) ghi: 古 無 住 持 事。但 只 傳 法 旨 有 能 悟 色 空。便 可 超 生 死 庸 僧 昧 本 來。豈 識 西 歸 履 買 帖 坐 禪 床。佛 法 將 何 恃 “Cổ vô Trụ trì sự Đản chỉ truyền pháp chỉ Hữu năng ngộ sắc không Tiện khả siêu sinh tử Dong tăng muội bản lai Khởi thức Tây quy lý Mãi thiếp tọa thiền sàng Phật pháp tương hà thị?” “Xưa không chức Trụ trì Truyền thọ bằng pháp chỉ Ai ngộ được sắc không Liền siêu thoát sinh tử Tăng hèn mờ bản lai Sao biết Tây quy lý Mua thiếp ngồi giường Thiền Đạo ta nhờ chi nhỉ?”. ● 賣 扇 老 婆 手 遮 日. Bà già bán quạt dùng tay che nắng mà không biết dùng đến cây quạt của mình. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ người mê, chẳng ngộ ông Phật tự tâm, lại chạy khắp nơi thưa hỏi, tìm kiếm. Tiết Kính Sơn Tông Cảo Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “問:心 佛 俱 忘 時 如 何?師 曰:賣 扇 老 婆 手 遮 日。 – Hỏi: Lúc tâm Phật đều quên thì thế nào? Sư nói: Bà già bán quạt dùng tay che nắng”. ● 賣 生 薑 漢. Gã bán gừng, tức Thiền Sư Tự Bảo, pháp tự của Ngũ Tổ Giới, đời thứ 9 phái Thanh Nguyên. Thiền Sư là người rất nghiêm cẩn, khi ở với Ngũ Tổ đã từng làm chức coi kho. Nhân khi Ngũ Tổ có bệnh, ngài sai thị giả tới kho lấy gừng để sắc thuốc. Tự Bảo liền trách mắng thị giả. Thị giả bạch lại với Ngũ Tổ. Tổ đưa tiền cho thị giả đem tới kho để mua, lúc ấy Tự Bảo mới chịu đưa gừng cho thị giả. Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di (Vạn Tục 148, 151 hạ) ghi: “後 筠 州 洞 山 闕 人、郡 守 以 書 託 戒 舉 所 知 者 主 之。戒 曰:賣 生 薑 漢 住 得、遂 出 世 住 洞 山。 – Về sau ở Động Sơn thuộc Quân Châu thiếu người, quan quận viết thư nhờ Tổ tiến cử một vị Trụ trì. Giới nói: Gã bán gừng trụ được. Tự Bảo liền đi làm Trụ trì Động Sơn”. ● 賣 惺 惺. Bán đi sự thông minh. Tiết Sùng Giác Không Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “灌 溪 老 漢 向 十 字 街 頭、逞 風 流、賣 惺 惺。 – Lão già Quán Khê ở ngã tư đường khoe phong lưu, bán đi sự thông minh của mình”. ● 賣 死 猫 頭. Bán đầu mèo chết. Đầu mèo khi đã chết thì tanh hôi lạ thường, nhưng đây lại cốt để tỷ dụ cho sự việc quý báu hướng thượng. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 4 (Đại 48, 1039 thượng) ghi: 圓 通 不 開 生 藥 鋪 單 單 只 賣 死 貓 頭 不 知 那 箇 無 思 算 喫 著 通 身 冷 汗 流 “Viên Thông bất khai sinh dược phố Đan đan chỉ mại tử miêu đầu Bất tri na cá vô tư toán Khiết trước thông thân lãnh hãn lưu”. “Viên Thông chẳng bán thuốc cứu người, Chuyên bán đầu mèo chết mà thôi. Đâu hay cái đó không toan tính, Nuốt nhằm thân thể xuất mồ hôi”. ● 謾. Uổng phí, phí công vô ích. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “上 堂:假 言 唱 道、落 在 今 時。設 使 無 舌 人 解 語、無 腳 人 能 行、要 且 未 能 與 那 一 人 相 應。還 會 麼?龍 吟 徒 側 耳、虎 嘯 謾 沉 吟。 – Sư thượng đường: Mượn lời lúc này lại mắc kẹt. Dù cho người không lưỡi biết nói, người không chân lại hay đi nhưng vẫn chưa thể cùng người ấy tương ưng. Có biết chăng? Rồng ngâm luống lắng tai, cọp gầm uổng trầm ngâm”. ● 滿 覺 (1052-1096). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 8, nối pháp Thiền Sư Quảng Trí. Sư họ Nguyễn tên Trường, quê ở Lũng Chiền làng An Cách, miền Bắc Việt Nam. Lúc Lý Nhân Tông lên ngôi, vì có lòng mến sư nên ban hiệu là Hoài Tín. Khoảng niên hiệu Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084), sư dâng biểu xuất gia, theo học với Thiền Sư Quảng Trí và được truyền tâm ấn. Sau, sư xem Đại tạng kinh được trí vô sư, là bậc lãnh tụ pháp môn trong một thời vậy. Kệ thị tịch: 春 去 百 花 落 春 到 百 花 開 事 逐 眼 前 過 老 從 頭 上 來 莫 謂 春 殘 花 落 盡 庭 前 昨 夜 一 枝 梅 “Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tùng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”. “Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Trên đầu già đến rồi Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua, sân trước, một cành mai”. Nói kệ xong, sư ngồi kiết già thị tịch, thọ 45 tuổi, được 19 tuổi hạ. Vua ban thụy là Mãn Giác. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 滿 起 (?-1562). Thiền tăng đời Minh, họ Ngưu, người đời gọi là “Bạch Nhân thượng nhân”, người xứ An Châu (nay là huyện Cao Dương, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc; nối pháp Hòa Thượng Tây Tông ở núi Phục Ngưu. Sau đó ở ẩn tại núi này chẳng muốn ra ngoài. Thiền lữ nghe danh kéo đến thưa hỏi. Mãn Khởi không thích tiếp xúc liền bỏ lên núi Ngũ Đài, vào Bắc Kinh ở chùa Thiên Khánh, đồ chúng hơn 500 vị, trong ngoài kinh thành kéo đến cúng dường. Sư giới luật tinh nghiêm, tu trì khổ hạnh, khéo gầy phúc nghiệp, lần lượt in ra 13 bộ “Long Tạng” trưng bày ở các ngôi chùa lớn nổi tiếng. ● 忙 忙. Còn gọi: Mang Nhiên. Mờ mịt, mơ màng không ngộ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。眞 佛 無 形。眞 道 無 體。眞 法 無 相。三 法 混 融 和合 一 處。辨 既 不 得。喚 作 忙 忙 業 識 眾 生。 – Đạo lưu! Phật thật không có hình, đạo thật không có thể, pháp thật không có tướng. Ba pháp trộn lẫn hòa hợp một chỗ. Phân biệt đã không được, gọi là chúng sinh nghiệp thức mờ mịt. ” ● 盲 枷 瞎 棒. Gông mù gậy đui, dụ cho việc trừng phạt cẩu thả. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “師 云:(臨 濟)喝 亦 打、禮 拜 亦 打、還 有 親 疏 也 無?若 無 親 疏、臨 濟 不 可 盲 枷 瞎 棒 去 也。 – Sư nói: (Lâm Tế) hét cũng đánh, lễ bái cũng đánh, vậy có thân sơ hay là không? Nếu không có thân sơ, Lâm Tế không thể trừng phạt cẩu thả như thế”. ● 盲 盲 相 引. Người mù dẫn đường cho kẻ đui, tỷ dụ tự mình chưa ngộ Phật pháp, lại muốn tế độ chúng sinh, hậu quả chính mình mới là kẻ đáng thương. Chép lại phần Duyên khởi Nguyên Bản Tào Khê (Pháp Bảo Đàn Kinh) do Vương Khởi Long ghi: “古 德 錯 下 轉 語 罪 作 野 狐。昭 明 科 分(金 剛)苦 受 地 獄。檀 經 宗 趣、無 欠 無 餘、有 何 有 餘 可 節?有 何 有 足 可 文?此 亦 宗 寶 之 盲 盲 相 引 者。 – Cổ đức hạ lầm một chuyển ngữ bị phạt làm chồn hoang, Chiêu Minh phân khoa kinh Kim Cang nên thọ khổ địa ngục. Tông chỉ của Đàn Kinh không thiếu không dư, đâu có gì dư để đáng rút gọn? Đâu có gì thiếu để đáng vẽ vời? Đây cũng là việc làm của người mù dẫn đường cho kẻ đui của Tông Bảo”. (Tông Bảo: vị tăng đời Nguyên, từng cải biên Đàn Kinh). ● 盲 龜 值 木. Gọi đủ: Manh Quy Trị Phù Mộc Khổng. Rùa mù gặp bộng cây. Tiết Phong Huyệt Diên Chiểu Hòa Thượng trong NĐHN q. 11 ghi: “盲 龜 值 木 雖 優 穩、枯 木 生 華 物 外 春。 – Rùa mù gặp bộng cây dù là việc ít có, song cây khô trổ hoa mới là việc ít có hơn”. ● 猛 火 鐵 牀. Giường sắt rực lửa. Hình phạt tàn khốc ở chốn địa ngục trong thần thoại Phật giáo. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “開 寒 冰 地 獄、口 是 禍 門;發 猛 火 鐵 床、身 爲 苦 具。 – Mở địa ngục hàn băng, miệng là cửa họa; dựng giường sắt rực lửa, thân là đồ khổ”. ● 猛 烈. Ý nói phấn chấn tinh thần, siêng năng tu tập. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 今 朝 九 月 初 一、打 板 普 請 坐 禪 第 一 切 忌 瞎 睡、直 下 猛 烈 爲 先 忽 然 爆 破 漆 桶、豁 如 雲 散 秋 天 “Kim triêu cửu ngoạt sơ nhất Đả bản phổ thỉnh tọa thiền Đệ nhất thiết kỵ hạt thùy Trực hạ mãnh liệt vi tiên Hốt nhiên bộc phá tất dũng Khoát như vân tán thu thiên”. “Sáng nay mồng một tháng chín Đánh bảng phổ thỉnh tọa thiền Rất kỵ ngủ gật mơ màng Lập tức phấn chấn tinh thần Bỗng nhiên đập vỡ thùng sơn Rộng như trời thu quang đãng”. ● 猛 利. Nhà Phật gọi người có niềm tin kiên định chẳng đổi, tu hành siêng năng, tiến nhanh là người “mãnh lợi”. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “德 山 本 是 講 僧。在 西 蜀 講 金 剛 經。因 教 中 道。金 剛 喻 定。後 得 智 中。千 劫 學 佛 威 儀。萬 劫 學 佛 細 行。然 後 成 佛。他 南 方 魔 子。便 說 即 心 是 佛。遂 發 憤。擔 疏 鈔 行 腳。直 往 南 方。破 這 魔 子 輩。看 他 恁 麼 發 憤。也 是 箇 猛 利 底 漢。 – Đức Sơn vốn là một giảng sư, giảng kinh Kim Cang ở Tây Thục. Do trong kinh nói: Bậc đắc Kim Cang Dụ Định, vào Hậu đắc trí còn phải ngàn kiếp học oai nghi Phật, muôn kiếp học tế hạnh Phật, rồi sau mới thành Phật. Ma quỷ ở phương nam lại nói tức tâm tức Phật, nên sư phát phẫn gánh ›sớ sao‹ đi hành cước thẳng đến phương nam để dẹp hết bọn ma quỷ này. Xem ông ta phát phẫn thế ấy cũng là một người mãnh lợi vậy”. ● 孟 八 郎. Mạnh là sóng dữ; bát lang là thứ tự xếp hàng. Mạnh Bát Lang chỉ cho người không theo đạo lý mà hành sự. Thiền Tông thường dùng từ này để hình dung gã đàn ông lỗ mãng. Chương Nam Tuyền Phổ Nguyện trong CĐTĐL q. 8 (Đại 51, 257 hạ) ghi: “孟 八 郎 又 恁 麼 去 也。 – Gã lỗ mãng lại đi như thế!”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 抹. Vượt qua, thấu qua. Tiết Tông thừa Yếu nghĩa trong DTNL q. 9 ghi: “既 到 者 箇 境 界、猶 疑 聖 見 未 忘、未 爲 究 竟、更 須 打 箇 〖⿰ 孛〗 跳、抹 過 上 頭 關、踏 著 佛 祖 行 不 到 處、始 是 究 竟 不 疑 之 地。 – Đã đến cảnh giới này, còn nghi Thánh kiến (kiến giải về Thánh) chưa quên. Thánh kiến chưa quên thì chưa phải cứu cánh, còn cần phải nhảy một cái, vượt qua cửa ải thiền giẫm lên chỗ Phật Tổ đi chẳng đến, mới là chỗ cứu cánh chẳng nghi”. ● 末 代. Còn gọi: Mạt Pháp. Thời đại mạt pháp. Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “末 代 弘 法 魔 事 必 多、參 進 者 則 取 辱、過 侈 者 即 招 非。 – Hoằng pháp trong thời đại mạt pháp ma sự ắt nhiều, kẻ tham tiến ắt bị nhục, người quá lãng phí ắt gây sai lầm. ” ● 末 後 句. Còn gọi: Mạt Hậu Nhất Cú, Mạt Hậu Nhất Ngôn. Một câu nói sau cùng đạt đến chỗ triệt để tỉnh ngộ, cũng là câu nói hết sức quan trọng, có tác dụng quyết định đến toàn bộ công phu tham thiền. Tiết Hoàng Long Pháp Trung Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “吾 有 末 後 句、待 歸 要 汝 遵。 – Ta có một câu rốt sau, chờ trở về muốn ông tuân theo”. ● 末 後 一 句 始 到 牢 關. Câu nói sau cùng hết sức quan trọng, mới đạt đến cửa ải thiền triệt để tỉnh ngộ. Lao quan: Đoạn kết những vọng tâm phân biệt, chẳng chịu bỏ qua. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “末 後 一 句。始 到 牢 關。指 南 之 旨 不 在 言 詮。 – Một câu cuối cùng mới đến lao quan, ý tứ chỉ nam, chẳng ở ngôn ngữ”. Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 2 ghi: “末 後 一 句、始 到 牢 關、把 斷 要 津、不 通 凡 聖。 – Một câu cuối cùng mới đến lao quan, quét sạch địa vị, chẳng thông phàm thánh”. ● 末 上. Ban đầu. Thư đáp Bối Vận Thuộc trong Mật Am Ngữ Lục ghi: “每 見 士 大 夫。著 意 學 此 道 極 多。只 恐 末 上 撞 著 道 眼 不 明 宗 師。胡 說 亂 道。將 古 今 言 句。妄 意 穿 鑿。以 爲 極 則。貴 圖 稱 他 會 禪。此 是 第 一 等 大 病。 – Từng thấy sĩ đại phu trước ý học đạo rất nhiều, chỉ sợ ban đầu gặp phải bậc tông sư đạo nhãn chưa sáng, ăn nói lung tung, đem ngôn cú cổ kim suy nghĩ xằng bậy xuyên tạc, cho là cực tắc, mưu cầu khen ông ta hiểu thiền, đây là bệnh lớn hạng nhất. ” ● 末 上 著 脚 手 處. Chỗ âm thầm sắp đặt trước tiên, chỉ cho người tham thiền trước hết phải có nền tảng tư tưởng, chuẩn bị tinh thần và phương thức vào đạo. Mật Am Ngữ Lục ghi: “古 人 拈 一 機。示 一 境。無 不 精 徹 淵 奧。廓 徹 聖 凡 恰 似 壯 士 架 千 鈞 弩。百 發 百 中。爲 他 末 上 著 腳 手 處 牢 固。外 物 搖 撼 不 動。終 有 成 立 之 節。 – Người xưa đưa ra một cơ, chỉ dạy một cảnh, không có cái nào chẳng tinh tế sâu kín, thấu suốt thánh phàm, giống kẻ tráng sĩ giương cây cung ngàn cân, trăm phát trăm trúng Vì người mà âm thầm sắp đặt chỗ nền tảng ban đầu một cách vững chắc, dù ngoại vật lung lay cũng chẳng động; rốt cuộc có thời tiết thành tựu”. ● 默 照 禪. Thiền phong do Thiền Sư Hoằng Trí Chính Giác của tông Tào Động đời Tống đề xướng. Mặc chỉ cho lặng lẽ chuyên tâm tọa thiền. Chiếu tức là dùng HUệ để chiếu soi tâm tính linh tri bản nguyên thanh tịnh. Chính Giác cho rằng: ― Thật tướng tức là tướng của vô tướng. ― Chân tâm tức là tâm của vô tâm. ― Chân đắc tức là đắc của vô đắc. ― Chân dụng tức là dụng của vô dụng, nên chủ trương rằng “Tọa không trần lự” (ngồi không lo toan) để lặng lẽ tịnh chiếu, ngây ngây ngồi định, không cần mong cầu đại ngộ, chỉ đem thái độ vô sở đắc, vô sở ngộ để tọa thiền. Thiền phong này bị Đại Huệ Tông Cảo, là thiền sư tông Lâm Tế cùng thời, đả kích kịch liệt, chê thiền pháp của sư là: Mặc chiếu tà thiền, Vô sự thiền, Khô mộc tử khôi thiền. Bởi vì thiền phong của Tông Cảo vốn khác xa với thiền phong của Chính Giác, nhấn mạnh đến việc nhờ cổ tắc công án để khế nhập tâm tính, gặp cơ duyên liền triệt ngộ, nên cực lực phê bình phương pháp của các đệ tử của Chính Giác là tọa thiền lặng lẽ xoay mặt vào vách, bỏ mất việc tham ngộ tu chứng. Đối lại, Thiền Sư Chính Giác làm 1 bài văn “Mặc Chiếu minh” (Toàn thiên gồm 72 câu thơ mỗi câu 4 chữ) để phản bác lại, đưa ra tác dụng hoạt bát của HUệ mà Mặc chiếu thiền sử dụng được, tự nhiên có năng lực soi thấu nguồn gốc của tâm tính, là chân thiền chính truyền của Phật Tổ, mỉa mai thiền pháp của Tông Cảo chỉ là câu nệ vào “Khán thoại thiền” của công án mà thôi. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 旻 德. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư từng đến Ngụy phủ (nay là Đại Danh Hà Bắc) để tham vấn Hòa Thượng Đại Giác và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư trụ viện Trừng Lâm, Lô Châu (nay là huyện Hợp Phì, An Huy). Một hôm có vị tăng hỏi: “Thế nào là đạo?” Sư đáp: “Lão tăng ở viện Trừng Lâm đã lâu”. Tăng hỏi thêm: “Thế nào là người trong đạo?” Sư đáp: “Áo rách mặc hoài trải mấy năm”. ● 密. Thiền pháp được truyền riêng một cách cẩn thận nên gọi là “Mật”. Chữ Mật của nhà Thiền được thể hiện ở các phương diện: Truyền riêng tâm ấn, chẳng câu nệ văn tự, tự tâm tự ngộ và lựa chọn người nối pháp một cách nghiêm ngặt. Nhờ vào đặc điểm này mà phân biệt được thiền pháp với pháp khác, đồng thời nó cũng hiển bày sắc thái thần bí về hành vi tôn giáo của Thiền. Huệ Năng truyện trong TCTT q. 8 ghi: “忍 密 已 法 衣 寄 托、曰:古 我 先 師 傳 相 付 授、豈 徒 爾 哉。鳴 呼!後 世 受 吾 衣 者 命 若 懸 絲、小 子 識 之! – Ngũ tổ Hoằng Nhẫn bí mật lấy pháp y trao cho Lục tổ Huệ Năng và nói: Xưa kia, khi Thầy ta sắp thị tịch có đưa cho ta, ta há không đưa cho ngươi sao? Than ôi! Đời sau, người nào nhận y của ta thì mạng sống rất bấp bênh, tiểu tử cần biết đó! “. ● 密 菴 和 尚 語 錄. Còn gọi: Mật Am Hàm Kiệt Thiền Sư Ngữ Lục, Mật Am Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Mật Am Hàm Kiệt soạn vào đời Tống, các vị: Tùng Nguyên Sùng Nhạc, Tiếu Am Liễu Ngộ biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121 trang 417. Nội dung gồm có Ngữ Lục trong 7 hội như: Càn Minh Thiền Viện, Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự, Hoa Tạng Thiền Tự, Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự… cho đến Tiểu tham, Phổ thuyết, Tụng tán, Kệ tụng, Pháp ngữ, Tháp minh. Đầu quyển có lời tựa của Trương Tư. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Thuần Hy thứ 15 (1188). ● 密 印. Hiệu của Thiền tăng Chân Truyền đời Thanh. X. Chân Truyền. ● 密 印 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 12 quyển, do Mật ấn Chân Truyền sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh soạn, nhóm ông Như Vĩ … biên tập. Nội dung gồm: Những lời thượng đường, Tiểu tham, Khai thị, Pháp ngữ, Cơ duyên, Khám biện, Niêm vấn đại tụng, Tụng cổ, Thi, Tụng, Kệ, Tán của Thiền Sư Chân Truyền. ● 密 印 寺. Chùa nằm trên núi Đại Qui,cách Tây thành 90km thuộc huyện Ninh Hương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Chùa được tướng quốc Bùi Hưu xây dựng vào niên hiệu Nguyên Hòa thứ 2 (807) đời Đường, cốt để Thiền Sư Linh Hựu có nơi giáo hóa; là cái nôi của tông Quy Ngưỡng, hưng thạnh một thời. Trải qua nhiều phen bị hủy hoại và được sửa sang, hiện còn các kiến trúc như: Vạn Phật điện, Đông tây phối điện, Pháp đường, Sơn môn (cổng). Trên cổng có bảng đề “Thập Phương Mật ấn Tự”, hai bên khắc hai câu đối, nét chữ già giặn cứng cáp như sau: “Pháp vũ lai Hoành Nhạc, Tông phong khải Ngưỡng Sơn”. “Mưa pháp đến Hoành Nhạc Gió thiền mở Ngưỡng Sơn”. Vạn Phật điện được trùng tu vào năm 1933, mái chồng cao tận đỉnh núi, cao khoảng 27 mét. Tầng mái dưới cùng có treo 8 cái phong linh, khi gặp gió thổi vang lên những tiếng leng keng, mái ngói pha lê sắc vàng sáng rực dưới ánh mặt trời; 38 cây cột bằng đá mài chống đỡ điện vũ, chu vi mỗi cây 2 người ôm không giáp. Mặt trong của 4 bức tường, từ chân tường lên đến đầu vách đều được khảm bằng những viên gạch đúc, mỗi viên vuông vức, mỗi cạnh 30cm, trên có in hình một tượng Phật dáng vẻ sinh động, được trang trí bằng nhũ vàng, tất cả gồm 12. 218 vị khiến cho toàn thể đại điện có màu sắc rực rỡ, không khí đầy vẻ trang nghiêm thần bí, nên mới có tên gọi là Vạn Phật điện. Phía sau điện này là Pháp đường, hai bên có hành lang dài ăn thông với hai mái Đông tây phối điện. ● 密 行 忍 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Hành Châu Khai Phong Mật Hạnh Nhẫn Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, do Mật Hạnh Tịch Nhẫn soạn vào đời Minh, nhóm ông: Minh Quảng… biên tập. ― Quyển 1: Những lời thượng đường. ― Quyển 2: Cơ duyên, Pháp ngữ, Chức sự bảng, An thiền bảng. ― Quyển 3: Tụng cổ, Thi kệ, Tán. Sách này được ấn hành vào khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh. ● 密 語. Lời nói khế cơ của nhà thiền, lời nói đặc biệt khải thị người học lãnh ngộ thiền pháp. ● 密 巖. Hiệu của Thiền tăng Đạt Cương đời Thanh. X. Đạt Cương. ● 密 付. Trao truyền thiền pháp một cách riêng khác và cẩn thận. Uyển Lăng Lục ghi: “十 方 諸 佛 出 世、秖 共 說 一 心 法、所 以 佛 密 付 與 摩 訶 大 迦 葉。此 一 心 法 體、盡 虛 空 、遍 法 界、名 爲 諸 佛。理 論 這 個 法、豈 是 汝 於 言 句 上 解 得 他、亦 不 是 於 一 機 一 境 上 見 得 他。此 意 唯 是 默 契。 – Mười phương chư Phật ra đời, chỉ cùng nói pháp nhất tâm, thế nên Phật mật phó cho Ma ha Đại Ca Diếp. Pháp thể nhất tâm này tột hư không, khắp pháp giới được gọi tên là Chư Phật. Nghị luận về pháp này đâu thể trên lời nói mà ngươi hiểu được ư? Cũng chẳng phải ở trên một cơ một cảnh mà thấy được, ý này chỉ là thầm khế hợp mà thôi”. ● 密 在 汝 邊. Bí mật ở bên ông. Nghĩa là pháp của Phật Tổ truyền dạy chẳng có gì bí mật, nó ở bên cạnh chúng ta mà thôi. Tắc 23, Vô Môn Quan (Đại 48, 296 thượng) ghi: “汝 若 返 照 自 己 面 目、密 卻 在 汝 邊。 – Nếu ông soi lại mặt mũi của chính mình thì bí mật ở bên ông”. ● 密 藏 開 禪 師 遺 稿. Sách, 2 quyển, do Mật Tạng Đạo Khai soạn vào đời Minh. Quyển thượng bao gồm những bản thảo của sư dâng lên Từ Thánh Hoàng Thái Hậu để quyên góp tiền khắc Đại TạngVăn, khắc Đại Tạng Nguyện Văn tổng cộng là 50 thiên. Quyển hạ gồm những bản thảo dâng lên Hòa Thượng Bản sư và cư sĩ Từ Hải Thân, tổng cộng là 64 thiên. ● 密 雲. Hiệu của Thiền tăng Viên Ngộ đời Minh. X. Viên Ngộ. ● 密 雲 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 13 quyển, do Mật Vân Viên Ngộ soạn vào đời Minh, Sơn Ông Đạo Mân biên tập. Nội dung gồm: Những lời thượng đường, Khai thị, Tiểu tham, Cơ duyên vấn đáp, Cơ duyên khám biện, Pháp ngữ, Thư vấn, Cử cổ, Niêm cổ, Đại cổ, Tụng cổ, Tán, Kệ, Tháp minh, Hành trạng, Niên phổ của Thiền Sư Viên Ngộ. Sách này được khắc bản vào đời Minh. ● 密 意. Còn gọi: Mật Mật Ý. Chỉ Thiền pháp truyền riêng tâm ấn, chẳng câu nệ văn tự, tự tâm tự ngộ. Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “尼 問:如 何 是 密 密 意?師 以 手 掐 之。尼 曰:和 尚 猶 有 這 箇 在。師 曰:卻 是 你 有 這 箇 在。 – Ni hỏi: Cái gì là ý mật mật? Sư lấy tay cào vào mình cô ni một cái. Ni nói: Hòa Thượng còn có cái đó. Sư nói: Trái lại ngươi mới còn cái đó”. ● 茂 古 林. Thiền tăng Thanh Mậu đời Nguyên tự Cổ Lâm, người đời gọi là Mậu Cổ Lâm. X. Thanh Mậu. ● 迷 波 討 源. Quên mất cội nguồn tự tâm, ý đồ tìm kiếm cội nguồn bên ngoài. Đây là phương pháp tham thiền sai lầm. Tiết Linh ẩn Thanh Tủng Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “且 如 今 直 下 承 當、頓 豁 本 心、皎 然 無 一 物 可 作 見 聞。若 離 心 別 求 解 脫 者、古 人 喚 作 迷 波 討 源、卒 難 曉 悟。 – Chẳng hạn như hôm nay lập tức thừa đương, đốn ngộ bản tâm, rõ ràng không một vật để thấy nghe. Nếu kẻ nào lìa tâm mà riêng cầu giải thoát, cổ nhân gọi là mê ba thảo nguyên, rốt cuộc khó tỏ ngộ. ” ● 迷 頭 認 影. Quên đầu nhận bóng. Kẻ ngu si quên mất chân tính chính mình, lại cho giả tướng là thật. Tiết Đại Ngu Thủ Chi Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “若 向 言 中 取 則、句 裡 明 機、也 似 迷 頭 認 影。 – Nếu nhằm trong lời chọn phép tắc, trong câu rõ thiền cơ, cũng giống như quên đầu nhận bóng. ” ● 迷 黎 麻 羅. Còn gọi: Mê Lý Ma La, Di Lê Ma La, Mê Lưu Một Loạn. Nghĩa là con mắt mù mờ. Tắc 51, Bích Nham Lục (Đại 48, 186 thượng) ghi: “若 忽 眼 目 迷 黎 麻 羅、到 處 逢 問 便 問、逢 答 便 答、殊 不 知 鼻 孔 在 別 人 手 裏。– Nếu bỗng nhiên con mắt bị mù mờ, gặp người hỏi liền hỏi, gặp người đáp liền đáp, đâu biết rằng lỗ mũi ông ta đã nằm trong tay người khác rồi”. Mơ màng thấy Bồ Đề Đạt Ma, dụ cho lãnh ngộ thiền chỉ. Tiết Đại Hồng Báo Ân Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “上 堂:如 斯 話 會、誰 是 知 音?直 饒 向 一 句 下、千 眼 頓 開、端 的 有 幾 箇 是 迷 逢 達 磨!諸 人 要 識 達 磨 祖 師 麼? – Thượng đường: Thông qua lời nói mà lãnh hội như thế ai là tri âm? Giả sử ngay dưới một câu ngàn mắt chợt mở, thật ra có mấy ai lãnh ngộ được thiền chỉ? Các ông muốn biết Tổ sư Đạt Ma không?” ● 米 和 尚. Thiền tăng đời Đường, còn gọi là “Thất sư”; nối pháp Thiền Sư Linh Hựu, thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư trở về chùa Thọ Nghiệp ở phủ Kinh Triệu (nay là Tây An). Có một vị lão túc hỏi: Đoạn dây thừng trong đêm trăng, người đời gọi là con rắn; chưa biết Thất sư thấy Phật gọi là gì? Sư đáp: Nếu có Phật kiến tức đồng với chúng sinh. Sư giỏi biện tài, nổi tiếng vào thời ấy. ● 寐 語. Nói mớ, nói càn. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “這 箇 老 漢 寐 語 作 什 麼。 – Lão già này nói mớ làm gì?”. ● 〖⿰目面〗 〖⿰目面〗 睍 睍. Mê mẩn, lờ mờ. Tiết Thê Hiền Trí Thiên Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “上堂:是 甚 麼 物、得 恁 頑 頑 嚚 嚚、〖⿰目面〗 〖⿰目面〗 睍 睍? – Thiền Sư Trí Thiên ở chùa Thê Hiền thượng đường, nói: Là vật gì mà ngu ngơ lờ mờ như thế?”. ● 瞥 地. Còn gọi: Nhất miết, miết nhiên. 1. Cấp tốc, qua nhanh. Miết có nghĩa là chớp nhoáng, chớp mắt; địa là trợ từ. Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục q. 25 (Đại 47, 920 trung) ghi: “古 人 公 案、舊 所 茫 然、時 復 瞥 地、此 非 自 昧 者。 – Công án của người xưa, chỗ cũ mờ mịt, thời gian lại qua nhanh, đây không phải tự làm mình mê muội”. ● 2. Lãnh ngộ, triệt ngộ. Tiết Tuyết Phong Khâm Sơn Chủ trong NĐHN q. 15 ghi: “上 堂:昨 日 一、今 日 二、不 用 思 量、快 須 瞥 地。不 瞥 地、蹉 過 平 生 沒 巴 鼻。咄! – Sư thượng đường nói: Hôm qua là một, hôm nay là hai, khỏi cần suy nghĩ mà phải mau mau lãnh ngộ. Nếu chẳng lãnh ngộ thì luống cả một đời không thể nắm bắt. Một tiếng quát”. ● 龞 鼻. Con rắn lớn, dụ chỉ cơ phong bức bách người học của thiền sư hoặc dụ cho cơ ngữ nghiệt ngã, nghiêm khắc. Tiết Thiện Bản Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “上 堂:上 不 見 天、下 不 見 地。偪 塞 虛 空、無 處 回 避。爲 君 明 破 即 不 中、且 向 南 山 看 鱉 鼻。擲 拄 杖 下 座。 – Sư thượng đường nói: Trên chẳng thấy trời, dưới chẳng thấy đất, đầy ắp hư không không có chỗ trốn tránh. Nếu nói công khai cho ngươi thì không trúng. Hay là ngươi đến Nam Sơn xem con rắn lớn đi! Sư ném cây gậy rồi bước xuống tòa. ” ● 懱 猰. Lải nhải rằng mình thấp kém. Tiết Tịnh Đức Trí Quân Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “上 座 莫 恁 麼 懱 猰 地。他 古 人 道、沙 門 眼 把 定 世 界、函 蓋 乾 坤、綿 綿 不 漏 絲 髮。所 以 諸 佛 讚 歎、讚 歎 不 及 比 喻、比 喻 不 及 道。上 座 威 光 赫 奕、亙 古 亙 今、幸 有 如 是 家 風、何 不 紹 續 取、爲 甚 麼 自 生 卑 劣、枉 受 辛 勤、不 能 曉 悟。 – Thượng tọa chớ có lải nhải rằng mình thấp kém như thế. Người xưa nói: Con mắt Sa Môn định đoạt thế giới, bao trùm càn khôn, khít khao chẳng lọt mảy tóc. Thế nên chư Phật tán thán, tán thán chẳng bằng tỷ dụ, tỷ dụ chẳng bằng nói. Thượng tọa oai quang sáng ngời, xưa nay còn mãi; may mắn có được gia phong như thế, sao chẳng tiếp tục kế thừa? Vì sao tự sinh lòng hèn nhát, uổng chịu vất vả, mà không sớm tỉnh?”. ● 㒝 㒝 偰 偰. Lải nhải tự ti (cho rằng mình thấp kém). Tiết La Hán Quế Sâm Hòa Thượng trong CĐTĐL q. 28 ghi: “汝 向 什 麼 處 下 口。試 道 看。還 有 一 法 近 得 法。還 有 一 法 遠 得 汝 麼。同 得 汝 異 得 汝 麼。既 然 如 是 爲 什 麼 卻 特 地 艱 難 去。蓋 爲 不 丈 夫 男 子。㒝 㒝 偰 偰 無 些 子 威 光。慼 慼 地 遮 護 箇 意 根。恐 怕 人 問 著。 – Ngươi nhằm chỗ nào mở miệng? Thử nói xem. Có pháp nào thích hợp với ngươi, hay ít thích hợp với ngươi? Có thể giống hay có thể khác với ngươi không? Đã như thế, vì sao lại quá khó khăn? Bởi vì ngươi chẳng có chí trượng phu, lải nhải rằng mình thấp kém, không có lấy một chút oai phong, nơm nớp che đậy ý căn, sợ người hỏi đến”. ● 描 邈 (506). Miêu tả, thể hiện. Tiết Đề hình Quách Tường Chính cư sĩ trong NĐHN q. 19 ghi: “此 一 瓣 香、爇 向 爐 中、供 養 我 堂 頭 法 兄 禪 師、伏 願 於 方 廣 座 上、擘 開 面 門、放 出 先 師 形 相、與 他 諸 人 描 邈。何 以 如 此? – Một mảnh hương này đốt trong lò cúng dường Thiền Sư Đường đầu pháp huynh của ta, nguyện cho trên tòa rộng lớn từ khuôn mặt phóng ra hình tướng tiên sư để thể hiện cho người xem. ” ● 明 安 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Cảnh Diên đời Tống. X. Cảnh Diên. ● 明 本 (1263-1323). Thiền tăng đời Nguyên, họ Tôn, tự Huyễn Trụ, hiệu Trung Phong, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Năm 15 tuổi xuất gia, 24 tuổi tham học nơi Thiền Sư Cao Phong Nguyên Diệu. Một hôm, sư đọc kinh Kim Cang có tỉnh. Nguyên Diệu trao cho sư câu thoại đầu, khổ tham trong 10 năm mới được siêu thoát và nối pháp Ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư đi khắp nơi, không có chỗ ở nhất định, hoặc ở trong thuyền, hoặc trụ am thất, tự xưng là “Huyễn Trụ Lão nhân”. Hễ có dựng am nào cũng đề tên “Huyễn Trụ”. Sư giỏi làm thơ, từng xướng họa với nhóm ông Triệu Mạnh Phủ. Thụy hiệu: Trí Giác Thiền Sư, Phổ ứng Quốc Sư. Tác phẩm: Huyễn Trụ Am Thanh Quy, Trung Phong Quảng Lục. ● 明 眞 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Hoằng Đạo đời Ngũ Đại. X. Hoằng Đạo. ● 明 州 阿 育 王 山 志. Chí, 10 quyển, do Quách Tử Chương soạn vào đời Minh. Vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh, Quách Tử Chương dựa theo thể lệ của “Phổ Đà Sơn Chí” để biên tập “Minh Châu A Dục Vương Sơn Chí”, xếp thứ tự theo loại, gồm tất cả 10 loại, mỗi loại 1 quyển như sau: 1. Địa dư dung kết. 2. Xá Lợi duyên khởi. 3. Tháp miếu quy chế. 4. Vương thần sùng sự. 5. Thần minh hiệu linh. 6. Thoại ứng nan tư. 7. Phúc điền thường trụ. 8. Cao tăng truyền pháp. 9. Đề xướng tông thừa. 10. Ngọc cơ xã vịnh. Khoảng niên hiệu Càn Long (1736-1795), vị Trụ trì chùa A Dục Vương là Uyển Thuyên sưu tập thêm phần nghệ văn rồi biên thành Tục chí, gồm có 6 quyển. Vào niên hiệu Càn Long thứ 22 (1757), ông đem phối hợp 2 bản: Chính và Tục để khắc bản, gồm 16 quyển, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. ● 明 州 樂 林 寺 志. Chí, 6 quyển, do Đới Minh Tông soạn vào đời Thanh, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Chùa Nhạc Lâm ở Phụng Hóa tỉnh Chiết Giang được khai sáng vào khoảng niên hiệu Đại Trung (847-859) đời Đường. Khi ấy có vị tăng quải một bao bố đi đến chùa này, tự xưng là Trường Đinh Tử, người thời ấy gọi sư là “Bố Đại Hòa Thượng”, hoặc “Hoan Hỷ Hòa Thượng”. Về sau, sư ngồi dưới mái phía đông chùa này thị tịch, chư tăng cho là thần dị và bảo sư là Di Lặc. Từ đó trở đi, chùa Nhạc Lâm nhờ đạo tràng Di Lặc mà nổi tiếng ở đời, là 1 trong 3 thánh địa Phật giáo ở Min Châu. Khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, Hòa Thượng Khải Công xây cất lại chùa này. Đới Minh Tông nhận thấy trước đây chùa không có quyển nào nên ông thu thập tư liệu, biên tập thành sách này. Nội dung gồm có 10 loại: Tự đồ, Phạm vũ, Danh thắng, Cổ tích, Pháp sản, Pháp hệ, Nghệ văn, Thi phú, Danh thích, Tháp minh, do thu thập các văn hiến về chùa Nhạc Lâm kể từ niên hiệu Khang Hy đời Thanh trở về trước thành 1 bộ sưu tập hoàn mỹ. ● 明 頭. 1. Người sáng suốt. Tiết Long Tế Thiệu Tu Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “僧 問:見 色 便 見 心。露 柱 是 色、如 何 是 心?師 曰:幸 然 未 會、且 莫 詐 明 頭。 – Tăng hỏi: Thấy sắc liền thấy tâm. Cây cột là sắc, cái gì là tâm? Sư đáp: May mà ngươi chưa hội, nhưng chớ có lừa người sáng suốt”. ● 2. Chỗ sáng sủa. Tiết Trấn Châu Phổ Hóa Hòa Thượng trong NĐHN q. 4 ghi: “師 振 一 箇 鈴、云:明 頭 來、明 頭 打。暗 頭 來、暗 頭 打。四 方 八 面 來、旋 風 打。虛 空 來、連 架 打。 – Sư lắc một cái linh, nói: Sáng đến thì đánh chỗ sáng, tối đến thì đánh chỗ tối, tám mặt đến thì xoay vần đánh, hư không đến thì cả mình đánh”. ● 明 德 (1290-1372). Thiền tăng đời Nguyên, tên tục là Chu Quốc Xương, hiệu Cô Phong. Năm 15 tuổi xuất gia, ban đầu yết kiến ngài Trúc Tây Thản Công ở chùa Thiên Đồng. Lại tham ngài Hối Cơ Hy Công ở chùa Tịnh Từ Hàng Châu. Sau tham Song Lâm Minh Cực Tuấn Công, được bổ làm Tri tạng, ít lâu sau giữ chức Thủ tọa. Sư trụ chùa Đông Thiền ở Tùng Giang (nay thuộc Thượng Hải), chùa Bảo Ninh ở núi Tập Khánh, chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu. Về già, sư trở về am Trúc Lâm ở Hồ Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). Tác phẩm: Tứ Hội Ngữ Lục. ● 明 覺. Thiền tăng đời Thanh, tên Tính Thông, vua Thanh Thế Tổ ban cho hiệu “Minh Giác”. X. Tính Thông. ● 明 覺 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Trọng Hiển đời Tống. X. Trọng Hiển. ● 明 覺 禪 師 語 錄. Còn gọi: Tuyết Đậu Minh Giác Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 6 quyển, do Tuyết Đậu Trọng Hiển soạn vào đời Tống, nhóm ông Duy Cái Trúc … biên tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 669. ― Quyển 1: Gồm các lời thượng đường ở Thúy Phong Thiền Tự Động Đình Tô Châu, ở Tư Thánh Thiền Tự núi Tuyết Đậu Minh Châu và tiểu tham. ― Quyển 2: Cử cổ, Khám biện, Ca tụng. ― Quyển 3: 100 tắc niêm cổ. ― Quyển 4: Là “Bộc Tuyền tập”, thu thập các bài thượng đường thị chúng, chân tán. ― Quyển 5, 6: Là “Tổ Anh tập”, gom góp các thơ văn của Tuyết Đậu Trọng Hiển. ● 明 行 (1596-1659). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 35. Sư pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Sư theo thầy là Thiền Sư Chuyết Chuyết sang Việt Nam, đến kinh thành Thăng Long năm 1633, là một cánh tay trợ giúp thầy giáo hóa. Năm 1644, khi Thiền Sư Chuyết Chuyết tịch, sư thay thế trụ trì chùa Ninh Phúc. Đến năm 1659, sư tịch, thọ 64 tuổi. Môn đồ xây tháp thờ tại chùa Ninh Phúc, tháp hiệu Tôn Đức. Sư có hai vị đệ tử là Chân Trù và Diệu Tuệ. Chân Trù trụ trì chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, còn Diệu Tuệ trụ trì chùa Phật Tích. Sư có đề bài kệ truyền pháp như sau: 明 眞 如 性 海、今 祥 普 照 通 至 道 成 正 果、覺 悟 證 眞 空 “Minh chân như tính hải Kim tường phổ chiếu thông Chí đạo thành chính quả Giác ngộ chứng chân không”. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 明 顯 (?-1415). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, tự Tuyết Tâm, người xứ Túy Lý (nay là huyện Gia Hưng tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Xuất gia từ thuở bé, 16 tuổi được độ làm tăng. Ít lâu sau, sư đến chùa luật Thiệu Khánh thụ giới cụ túc, nối pháp Hòa Thượng Hy Di ở chùa Vạn Thọ tại Tô Châu. Sư ra hoằng pháp trụ chùa Thiên Ninh. Về già, trở về am Phúc Tế, Trường Châu (nay là Tô Châu) ở ẩn. Mỗi ngày sư lấy thiền tụng tự vui, hàng trí thức và dân dã quy y rất đông. ● 明 懷 (1586-1630). Thiền tăng đời Minh, tự Tu Trạm, hiệu Mạch Lãng, Hắc Lãng. Năm 1601, xuất gia làm tăng, năm kế theo ngài Vân Thê Liên Trì thụ giới cụ túc, nối pháp Thiền Sư Viên Trừng, thuộc tông Lâm Tế. Viên Trừng tuổi già, mỗi khi mở pháp hội đều bảo sư làm Đệ nhất tọa, xem sư là người trợ thủ đắc lực cho mình. Năm 1619, sư trụ chùa Phổ Tế, Đồng Sơn, Minh Nhân. Năm 1624, sư xây cất lại Mai Dã Cổ Di Đà tự. Sư tư chất thông sáng, tâm bình khí hòa, cơ dụng nghiêm mật, lời lẽ chính đáng, việc quản lý thuần hậu khiến đại chúng vui vẻ, thoải mái. Năm 1630, sư khai pháp ở chùa Thiên Y, rồi thị tịch trong lúc nói cười. Tác phẩm: Nghệ Ngôn, Ngữ Lục. ● 明 慧 (1664-1735). Thiền tăng đời Thanh, người xứ Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư giỏi thơ văn, khéo về thư pháp, nối pháp Thiền Sư Hình Sơn Siêu Bảo, thuộc tông Lâm Tế. Sư cất am ẩn ở Tú Thủy. Năm 1723, vâng lệnh Vua về triều, được ban y hồng, và hiệu “Ngộ Tu Thiền Sư”. Vua ra lệnh cất chùa rồi đích thân đề 3 chữ “Giác Hải Tự” xong bảo Minh Huệ ở đấy. Ít lâu sau lại vâng lệnh về chùa Thánh Nhân ở Hàng Châu, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa quần mê, một thời thật hưng thịnh. Tại kinh sư lúc đó, sư từng thuyết pháp cho Vương Công đại thần nghe, trong Ngự Tuyển Ngữ Lục có ghi chép điều này. ● 明 有. Thiền tăng đời Minh, họ Dương, tự Cụ Túc, người xứ Cối Kê (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Tráng niên mới xuất gia làm tăng, theo học với Thiền Sư Vân Môn Viên Trừng. Một hôm sư đang kinh hành, ngẩng đầu lên thấy núi, hoát nhiên đại ngộ, được Viên Trừng ấn khả và nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Năm 1624, sư trụ trì am Hương Tuyết ở Thượng Ngô (nay thuộc Chiết Giang). Môn phong cao vút, dè dặt trong việc ấn chứng cho người. Trong ngày sư thị tịch, vẫn không có người nối pháp, sư đem như ý và pháp y trao cho Thiền Sư Phật Nhật Phương. ● 冥 契. Âm thầm khế hợp. Tiết Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 11 ghi: “雪 峰 云:還 有 摩?師 欲 擬 近 前 雪 峰 以 杖 拄 之、師 頓 契 玄 要、更 無 游 心。凡 有 機 緣、悉 皆 冥 契。 – Tuyết Phong nói: Có chăng? Sư tính lại gần, Tuyết Phong lấy gậy chặn lại. Sư bỗng tỏ được huyền yếu, trong lòng thanh thản, hễ có cơ duyên nào, thảy đều âm thầm khế hợp”. ● 明 謙 弘 恩 (1850-1914). Thiền tăng đời Nguyễn thuộc tông Lâm Tế đời thứ 38, nối pháp Hòa Thượng Tiên Giác Hải Tịnh. Sư pháp danh Hoằng Ân, húy là Minh Khiêm, hiệu Diệu Nghĩa, sinh ngày 15 tháng 7 năm Canh Tuất (1850). Sư quy y thụ giới với Hòa Thượng Hải Tịnh từ nhỏ, ở chùa Giác Lâm, tinh tấn tham học kinh sách, học rộng hiểu nhiều. Sư trụ trì chùa Giác Viên khi mới 20 tuổi. Năm 22 tuổi, sư làm vị Dẫn thỉnh trong Đại giới đàn chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc (tỉnh An Giang). Năm 26 tuổi, sư làm Giáo thọ trong Giới đàn mở tại chùa Từ Ân (Gia Định). Năm Canh Thìn (1880), sư đứng ra khắc in lại tập truyện thơ “Hứa sử truyện vãn” do Thiền Sư Toàn Nhựt Quang Đài san định lại, bản gỗ khắc in tập truyện này còn lưu giữ tại chùa Giác Viên. Năm Quý Tỵ (1893), sư trụ trì cả 2 chùa Giác Lâm và Giác Viên. Năm Quý Tỵ (1893), sư trụ trì cả hai chùa Giác Lâm và Giác Viên, nhưng chùa Giác Lâm là Tổ đình của môn phái nên sư về trụ ở đấy, giao chùa Giác Viên lại cho đệ tử là Như Nhu Chân Không với sự phụ giúp của Thiền Sư Như Phòng Hoằng Nghĩa. Sư có chú giải bộ Tỳ ni Nhật Dụng Yếu Lược bằng chử nôm và được khắc bản in phổ biến vào năm Giáp Ngọ(1894). Việc khắc bản gổ và in bộ sách này được thực hiện ngay tại chùa Giác Viên, thợ khắc và thợ in được nuôi ăn trong chùa. Năm Kỷ Hợi (1899), sư trùng tu chùa Giác Viên hơn 3 năm mới xong. Năm ất Tỵ (1905), sư nhận thấy 2 vị đệ tử của mình là Như Phòng và Như Lợi đủ khả năng hành đạo và gánh vác việc trụ trì hai chùa Giác Lâm và Giác Viên nên sư quyết định vân du hoằng hóa trong vài năm. Các nơi sư đến giáo hóa là: Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên và chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc. Năm Canh Tuất 1910, sư trở về thăm chùa Giác Lâm và Giác Viên rồi tiếp tục vân du. Năm Quý Sửu (1913), sư từ Châu Đốc về Mỹ Tho thăm chùa Bảo Lâm, rồi trụ tại am Viên Giác sắp xếp nhập thất tu thiền lâu dài trước khi thị tịch. Giờ Thìn ngày 29 tháng 1 năm Giáp Dần (1914), sư cho gọi các đệ tử đến đủ mặt rồi chầm chậm đọc 2 câu: “Phật pháp miên trường Chúng sinh dị độ”. Xong, từ từ nhắm mắt an nhiên thị tịch, thọ 65 tuổi. Trên bia tháp của sư có bài kệ: “Bản trọng năng phủ chưởng Thạch nữ giải phanh trà Thiện Tài tham biến xứ Hắc đậu vị sinh nha Vân tán thiên biên nguyệt Xuân lai thọ thượng hoa”. “Gốc nặng tay thường vỗ Gái đá biết nấu trà Thiện Tài tham khắp xứ Đậu đen mầm chưa ra Mây tan trăng vằng vặc Xuân đến cây nở hoa”. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 明 空 (1076-1141). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 13. Sư tên Nguyễn Chí Thành, quê ở tại làng Đàm Xá, Đại Hoàng (tức xã Đàm Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ngày nay), miền Bắc Việt Nam. Sư thường cùng với Giác Hải, Đạo Hạnh làm bạn thân. Năm 29 tuổi, sư cùng hai vị ấy sang Thiên Trúc học đạo với Thầy Sa Môn, được phép Lục Trí Thần. Trở về quê, sư tạo ngôi chùa Diên Phúc, ở đó chuyên trì chú Đại Bi. Bấy giờ, sư muốn tạo Đại Nam Tứ Khí (Bốn món: Tượng Phật, hồng chung, cái đỉnh, cái vạc của nước Đại Nam) không nệ nhà nghèo sức mọn. Một hôm, sư suy nghĩ: ›Nước Tống ắt có nhiều đồng tốt, có thể dùng đúc được‹. Nghĩ xong, sư thẳng đường sang Bắc Triều (Trung Quốc). Sau khi xin được đồng rồi, sư trở về nước đến chùa Quỳnh Lâm huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương đúc một tượng Phật Di Đà thật cao lớn. Tại kinh đô nơi tháp Báo Thiên, sư đúc một cái đỉnh. ở Phổ Loại, sư đúc một quả đại hồng chung. Tại Minh Đảnh, sư đúc một cái vạc. Phần còn dư, sư đem về chùa quê làng đúc một đại hồng chung nặng 3. 300 cân và một cái khác nặng 3. 000 cân để ở chùa Diên Phúc Giao Thủy. Sư có làm bài tán rằng: “Lạp phù việt đại hải Nhất tức vạn lý trình Tống đồng nhất nang tận Phấn tý thiên câu lực”. “Nón nổi vượt biển cả Một hơi muôn dặm đường Một đãy sạch đồng Tống Dang tay sức ngàn ngựa”. Cuộc đời sư có nhiều thần biến lạ thường, như trị bệnh cho vua Lý Thần Tông (mắc bệnh hóa thành cọp) vào năm 1136. Đến năm Đại Định thứ hai (1141) sư quy tịch. Hiện nay tại quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội, trong chùa Lý Quốc Sư vẫn còn tượng sư và có bia ký. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 明 林 (1614-?). Thiền tăng đời Thanh, họ Chu, hiệu Tú Dã, người xứ Thành Đô. Lúc 8 tuổi sư lễ ngài Tinh Thiên chùa Cửu Long làm thầy, 20 tuổi đi tham vấn các nơi, từng tham học với: Hán Nguyệt Pháp Tạng, Tuyết Kiệu Viên Tín, Mật Vân Viên Ngộ, cuối cùng tham yết Kỳ Nhiên Siêu Trí. Năm 1680, sư đến Tương Châu, tiếp nối chủ trì pháp hội chùa Hoàng Long. Có 3 quyển Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 明 良 (?-?). Thiền tăng Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 35. Sư ở núi Phù Lãng, nghe Hòa Thượng Chuyết Công từ Trung Hoa sang, bác thông kinh sử, thấu triệt tâm tông nên sư tìm đến tham vấn. Sư hỏi: Khi sinh tử đến phải làm sao trốn tránh? Chuyết Công đáp: Chọn lấy nơi không sinh tử trốn tránh. Sư hỏi: Thế nào là nơi không sinh tử? Chuyết Công đáp: ở trong sinh tử nhận lấy mới được. Nghe nói thế sư vẫn chưa ngộ. Chuyết Công bảo: Hãy lui đi, đợi chiều sẽ đến. Sư giữ đúng hẹn, chiều lại vào phương trượng. Chuyết Công bảo: Đợi sáng mai, đại chúng sẽ chứng minh cho ngươi. Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, sụp xuống lạy. Chuyết Công hứa khả và truyền tâm ấn cho. Sau khi đắc pháp, sư trở về trụ trì chùa Vĩnh Phúc núi Côn Cương ở Phù Lãng để truyền bá chính pháp. Đến khi sắp tịch, sư truyền pháp cho Thiền Sư Chân Nguyên, nói kệ rằng: 美 玉 藏 頑 石。蓮 花 出 淤 泥 須 知 生 死 處。悟 是 即 菩 提 “Mỹ ngọc tàng ngoan thạch Liên hoa xuất ứ nê Tu tri sinh tử xứ Ngộ thị tức Bồ Đề”. “Ngọc quý ẩn trong đá Hoa sen mọc từ bùn Nên biết chỗ sinh tử Ngộ vốn thiệt Bồ Đề”. Trao kệ xong, sư bảo đệ tử: “Nay ta trở về”. Nói dứt lời, sư thị tịch. Đệ tử xây tháp ở núi Phù Lãng thờ sư. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 冥 朦. Tối tăm, không rõ ràng. Lạc Đạo Ca của Hòa Thượng Lại Toản trong TĐT q. 3 ghi: “將 功 用 功、展 轉 冥 朦、取 則 不 得、不 取 自 通。 – Đem công dụng công, càng thêm tối tăm. (Chấp) Giữ thì chẳng được, chẳng (chấp) giữ tự thông”. ● 明 悟. Thiền tăng đời Minh, họ Mạc, hiệu Vô Tế, người xứ An Nhạc (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Năm 12 tuổi bỏ nhà đi tập thiền định, tham vấn Thiền Sư Lâu Sơn Thanh, có tỉnh. Một hôm đang ngồi, sư thấy ánh sáng chiếu thấu suốt, hoát nhiên đại ngộ. Sư lễ Thiền Sư Cổ Chuyết Tuấn và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Về sau, sư trụ trì Chiêu Minh Thiền Tự ở núi Đông Thiên Mục. ● 明 悟 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Tử Hưng đời Tống. X. Tử Hưng. ● 明 眼 人. Người mắt sáng, chỉ cho Thiền giả có pháp nhãn. Phần Dương Ngữ Lục q. trung: “南 泉 問 僧。甚 處 來。云 神 山 打 羅 來。泉 云。手 打 腳 打。僧 無 語。泉 云。爾 問 我 與 爾 道。僧 云。手 打 腳 打。泉 云。向 後 遇 明 眼 人 舉 似。 – Nam Tuyền hỏi tăng: ở đâu đến? Tăng đáp: Từ Thần Sơn giăng lưới rồi đến. Tuyền hỏi: Dùng tay hay dùng chân giăng? Tăng không đáp được. Tuyền bảo: Ông hỏi đi, ta nói cho ông nghe. Tăng hỏi: Dùng tay hay dùng chân giăng? Tuyền đáp: Về sau gặp người mắt sáng sẽ chỉ dạy cho ông”. ● 明 澓 (1591-1642). Thiền tăng đời Minh, họ Vương, tự Nhĩ Mật, hiệu Tán Y, người Cối Kê (nay là Thiệu Hưng, Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Vân Môn Viên Trừng, làm Truyền nhân tông Tào Động, trụ chùa Quốc Khánh ở Đông Sơn. Tác phẩm: Ngữ Lục 10 quyển. ● 明 方 (1593-1648). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trần, tự Thạch Vũ, người đời gọi là “Thạch Vũ Minh Phương Thiền Sư”, người xứ Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 22 tuổi xuất gia, nối pháp Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng, thuộc tông Tào Động. Ban đầu sư trụ chùa Tượng Điền, sau đó trụ các ngôi: Thiên Hoa, Hiển Thánh, Quang Hiếu, Tuyết Phong, Linh Sơn, Phổ Minh, Linh Phong, Ngộ Không, Quảng Phật, Phật Nhật. Tính sư nhân từ, dung mạo và cử chỉ tao nhã, khi ứng cơ tiếp vật, khéo dẫn dắt từng bước. Đệ tử của sư là Viễn Môn Tịnh Trụ có biên “Thạch Vũ Thiền Sư Pháp Đàn” 20 quyển. ● 明 廣. Thiền tăng đời Thanh, họ Cao, người đời gọi “Viên Thông Minh Quảng Thiền Sư”. Thuở bé đã có chí xuất gia. Năm 16 tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, sư liền cạo tóc, tham học nơi Thiền Sư Hải Hội Minh Ba, được ngài ấn chứng và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư có Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 冥 搜. Suy nghĩ, tìm tòi. Tiết Vĩnh An Thiện Tĩnh Thiền Sư trong NĐHN q. 6 ghi: “有 僧 辭 浦、浦 曰:四 面 是 山、闍 黎 向 甚 麼 處 去 ?僧 無 對。浦 曰:限 汝 十 日、下 語 得 中、即 從 汝 去。其 僧 經 行 冥 搜。 – Một hôm, có vị tăng giã từ Lạc Phố, Phố hỏi: Bốn phía đều là núi, Xà Lê định đi đâu? Tăng không đáp được. Phố bảo: Tôi kỳ hạn cho ông 10 ngày, nếu hạ ngữ trúng được tôi sẽ cho ông đi. Vị tăng ấy vừa tản bộ vừa suy nghĩ tìm tòi”. ● 明 樹 (1682-1744). Thiền tăng đời Thanh, họ Thẩm, tự Văn Huệ, người xứ Giang Đô (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. Năm 10 tuổi xuất gia, 20 tuổi thụ giới cụ túc, sư đến núi Bảo Hoa theo ngài Tùng ẩn học luật, sau đến núi Thiên Mục tham thiền, nối pháp Thiền Sư Hối Thạch Siêu Kỳ, thuộc tông Lâm Tế. Năm 1731, khai pháp ở núi Thiên Mục, trụ tích trong 10 năm, rồi lui về ở ẩn tại am Dịch Đăng. Trước sau khoảng 40 năm sư không ra khỏi núi Thiên Mục. Sau khi sư thị tịch, Ngô Thọ Hư soạn bài tháp minh. Có Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 明 聰 (1480-1543). Một thuyết khác gọi là Chính Thông. Thiền tăng đời Minh, họ Hề, tự Vô Văn, hiệu Tuyệt Học, người xứ Quang Trạch (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 17 tuổi cạo tóc làm tăng; 20 tuổi sư thụ giới cụ túc. Sư tinh thông giới luật kiêm tu Chỉ Quán, nghiên cứu sâu Duy Thức. Về sau sư chuyên mộ thiền pháp, thưa hỏi khắp nơi. Tham cứu 4 câu kệ của Phật Đại Thông Trí Thắng được vài năm. Một hôm, sư chợt nghe tiếng ngựa kêu liền tỉnh ngộ, nối pháp Thiền Sư Thiên Kỳ Bản Thụy, thuộc tông Lâm Tế. Sư ra hoằng pháp trụ chùa Long Tuyền, Tùy Châu (nay thuộc Hồ Bắc), học lữ bốn phương vân tập. ● 明 信 (1512-1574). Thiền tăng đời Minh, tự Vô Cực, người xứ Thuận Đức (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc. Tám tuổi xuất gia, 13 tuổi hành cước đến Ngưu Sơn, tinh cần khắc khổ, ngày đêm rèn luyện. ẩn cư ở Trung Phong, Ngân Sơn, ban ngày lượm hạt dẻ làm thức ăn, chuyên chú thiền quán. Một hôm chợt cảm ngộ, sư nối pháp Hòa Thượng Thúy Phong tại Kinh Sư, thuộc tông Lâm Tế. Sư ở Thiền viện Cát Tường tại Kinh Tây, học giả các nơi ngày càng kéo đến đông, đạo phong hưng thịnh. ● 明 瓚. Thiền tăng đời Đường. Ban đầu tham Tung Sơn Phổ Tịch, thầm chứng tâm khế, nối pháp Ngài. Sư sống an nhàn ở Hành Nham. Trong khi tăng chúng làm lụng, Minh Toản lại rảnh rang nên bị chỉ trích, nhưng sư không có chút gì buồn giận, người đời gọi sư là “Lại Toản” (Ông Toản lười), và vì thích ăn các món thừa của chư tăng nên còn có tên “Lại Tàn”. Những điều sư nói ra đều hợp với Phật lý nên người đời nghi sư là ứng thân của Phật Di Đà. Lý Bật lúc ẩn cư ở Hành Sơn từng đến lễ bái sư. Thụy hiệu “Đại Minh Thiền Sư”. Tác phẩm: Nam Nhạc Lại Toản Hòa Thượng Ca. ● 明 智 (?-1196). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư DDạo Huệ, họ Tô tên Thiền Trí, quê ở làng Phù Cầm (thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), miền Bắc Việt Nam. Tư chất thông minh, đọc khắp sách vở ngoài đời. Lúc trẻ gặp Thiền Sư Đạo Huệ liền xả tục xuất gia. Theo hầu Đạo Huệ, sư thấu đạt lý huyền diệu của Thiền, trực nhận ý chỉ các bộ kinh Viên Giác, Nhân Vương, Pháp Hoa và sách Truyền Đăng. Do chuyên cần đọc tụng quên cả nhọc nhằn, nên nhà vua ban hiệu cho sư là Minh Trí, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sau sư trụ trì chùa Phúc Thánh, tăng chúng theo học đông đảo. Một hôm sư đang bàn luận với một vị tăng, có vị tăng bên cạnh nói: Nói là Văn Thù, nín là Duy Ma. Sư bảo: Không nói, không nín đâu chẳng phải là ông? Vị tăng ấy liền chấp nhận. Sư bảo: Sao chẳng hiện thần thông? Vị tăng thưa: Chẳng từ chối hiện thần thông, chỉ sợ Hòa Thượng thâu vào giáo. Sư bảo: Ngươi chưa phải là người có con mắt giáo ngoại biệt truyền. Sư bèn nói kệ: “Giáo ngoại khả biệt truyền Hy di Tổ Phật uyên Nhược nhân dục biện đích Dương diệm mích cầu yên”. “Ngoài giáo khá riêng truyền Lâu xa Tổ Phật riêng Nếu người cầu phân biệt Ánh nắng tìm khói mây”. Đến niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ 11 (1196) sư sắp thị tịch, nói kệ: 隨 風 水 月 明。無 影 亦 無 形 色 相 這 箇 是。空 空 尋 響 聲 “Tùy phong thủy nguyệt minh Vô ảnh diệc vô hình Sắc tướng giá cá thị Không không tầm hưởng thinh”. “Theo gió trăng nước sáng Không bóng cũng không hình Sắc tướng chỉ thế ấy Trong không tìm tiếng vang”. Nói xong, sư lặng lẽ thị tịch. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 明 哲. Thiền tăng đời Đường; nối pháp Thiền Sư Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư ra hoằng pháp trụ Bách Nham ở Ngạc Châu (nay là Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc), được nổi tiếng một phương. ● 明 徹. 1. Thiền tăng đời Minh, họ ứng, tự Chỉ Nam, người xứ Kim Hoa (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 26 tuổi xuất gia, khổ hạnh tham thiền mà không có chỗ vào nên chặt 2 ngón tay để sách tấn mình, nối pháp Thiền Sư Viên Trừng ở Mai Dã, thuộc tông Tào Động. Ra hoằng pháp sư trụ Thiều Khê rồi tịch. ● 2. Thiền tăng đời Minh (1526-1601), họ Phan, người xứ Đồng Châu (nay là huyện Đại Lệ, tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thiết Sơn, thuộc tông Lâm Tế. Về sau, sư đến núi Nga My cất am Viên Giác, suốt ngày tọa thiền, bạn lứa cùng gấu vượn, láng giềng là khói ráng. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 15 (1587), vua Thần Tông ban cho sư y hồng, tự tay viết bảng hiệu “Hộ Quốc Thảo Am Tự”. ● 明 中 (1696-1776). Thiền tăng đời Thanh, họ Thi, tự Đại Hằng, hiệu Triệm Hư, người xứ Đồng Thành, An Huy, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thượng Chí, đời thứ 39 hệ Nam Nhạc. Lần lượt trụ trì các chùa Tây Hồ, Thiên Trúc, Tịnh Từ. Tác phẩm: Triệm Hư Thi Sao, Ngữ Lục. 明 瑄 (?-1472). Thiền tăng đời Minh, họ Phạm, người đời gọi là “Bảo Phong Minh Tuyên Thiền Sư”, người xứ Ngô Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. Khi vào chùa, sư giữ chức Hỏa đầu. Một hôm trong lúc chăm hẳm tham cứu, chợt bị lửa cháy sém lông mày, mặt như dao cắt, lấy gương soi mặt, hoát nhiên đại ngộ. Về sau, sư trụ chùa Cao Phong ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh). Sư thị tịch vào niên hiệu Thành Hóa thứ 8 (1472). ● 明 雪 (1584-1641). Thiền tăng đời Minh, họ Dương, tự Thụy Bạch, người xứ Đồng Thành (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc. Sư vào am Tụ Long núi Cửu Hoa cạo tóc làm tăng, nối pháp Thiền Sư Vân Môn Trừng. Sau khi Trừng Công mất, sư tiếp nối trụ trì. Ít lâu sau, sư dời đến Tinh Sơn, Hồ Châu rồi Không Động ở Chương Châu. Sư nhận lời mời của Kiến An Vương, trụ trì Bách Trượng Thọ Thánh Thiền tự. ● 明 物 一 知 (?-1786). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 34, nối pháp Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch. Sư trụ trì chùa Kim Cang ở Đồng Nai, miền Nam Việt Nam. Hiện chưa biết rõ về hành trạng của Hòa Thượng Minh Vật Nhất Tri, nhưng có thể đoán biết Hòa Thượng là bậc cao tăng tài đức đúng theo ý nghĩa pháp danh của ngài vì ngài có những vị đệ tử và pháp tôn rất nổi tiếng như sau: 1. Hòa Thượng Liên Hoa, tức Thiền Sư Thiệt Thành Liễu Đạt, là Tăng cang chùa Thiên Mụ (Đô thành Phú Xuân), sau trụ trì chùa Sắc Tứ Từ Ân (ở Gia Định); Hòa Thượng Liên Hoa có các đệ tử cũng là Tăng cang chùa Thiên Mụ là Tế Chính Bản Giác, Tế Bản Viên Thường. 2. Thiền Sư Thiệt Thoại Tính Tường khai sơn chùa Hoa Nghiêm (Thủ Đức, Gia Định) và chùa Long Thọ (xã Phú Cường, Thủ Dầu Một), có đệ tử nổi danh là Tế Giác Quảng Châu trụ trì chùa Giác Lâm (Gia Định), Tế Vĩnh Quảng Nhân và Tế Lý Quảng Đức trụ trì chùa Hoa Nghiêm (Huê Nghiêm) ở Thủ Đức. 3. Thiền Sư Phật Chí Đức Hạnh khai sơn chùa Long Nhiễu (Thủ Đức Gia Định). Đặc biệt, các đệ tử của Hòa Thượng Minh Vật Nhất Tri truyền thừa theo bài kệ truyền pháp khác nhau, trong đó Thiền Sư Thiệt Thoại Tính Tường truyền theo bài kệ “Thiệt Tế Đại Đạo, Tính Hải Thanh Trừng… “ mà nhiều người cho là bài kệ do Thiền Sư Thiệt Diệu Liễu Quán đặt ra (?). ― Thiền Sư Thiệt Thoại Tính Tường khai sơn chùa Huê Nghiêm (Thủ Đức, Gia Định) có truyền thừa theo bài kệ “Thiệt Tế Đại Đạo… “ ở các chùa Đức Lâm (Gia Định), Linh Sơn (Bà Đen), ở chùa Huê Nghiêm lại truyền theo bài kệ của Tổ Vạn Phong “Tổ Đạo Giới… Siêu Minh Thiệt Tế Liễu Đạt Ngộ Chân Không”. ― Thiền Sư Phật Chí Đức Hạnh khai sơn chùa Long Nhiễu (Thủ Đức) truyền theo bài kệ của Tổ Đạo Mân “Đạo Bản Nguyên Thành Phật Tổ Tiên…” Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 明 微 大 師. Hiệu của Thiền tăng Nghĩa Sơ đời Ngũ Đại. X. Nghĩa Sơ. ● 明 微 密 行 (1828-1898). Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 38, nối pháp Thiền Sư Tiên Giác Hải Tịnh ở chùa Giác Lâm miền Nam Việt Nam. Năm Canh Tuất (1850), Hòa Thượng Hải Tịnh cho đổi viện Quan Âm thành chùa Giác Viên. Năm Nhâm Tý (1852) ông Hương đăng trụ trì chùa Giác Viên (chưa rõ pháp danh) quy tịch, Hòa Thượng Hải Tịnh cử Thiền Sư Mật Hạnh thay thế trụ trì chùa Giác Viên. Theo sự tổ chức phân công của Hòa Thượng Hải Tịnh: chùa Giác Lâm chuyên lo phần giáo pháp, dạy kinh điển Phật pháp cho tăng chúng và thuyết pháp cho Phật tử, chùa Giác Viên chuyên lo phần ứng phú (cầu an, cầu siêu, trai tăng…). Với nhiệm vụ ứng phú này khiến cho bản đạo của chùa Giác Viên ngày càng đông, sinh hoạt chùa phát triển mạnh; trong khi đó Phật tử đến chùa Giác Lâm ít hơn, chỉ có những tín đồ thâm hiểu Phật pháp và chí tâm tham học kinh điển mới đến viếng lễ cúng dường và quy y thụ giới, do đó kinh tế chùa Giác Lâm kém sút, không đủ đài thọ cho chư tăng tu học ở đây. Chùa Giác Viên phải trợ duyên. Năm Kỷ Tỵ (1869), Hòa Thượng Hải Tịnh đã quá lớn tuổi (82 tuổi), nên cử đệ tử kế thế trụ trì: ― Thiền Sư Minh Vi Mật Hạnh trụ trì chùa Giác Lâm, phụ giúp có Tri khách Minh Lý Quảng An. ― Thiền Sư Minh Khiêm Hoằng Ân trụ trì chùa Giác Viên. Năm ất Hợi (1875), Hòa Thượng Tiên Giác Hải Tịnh viên tịch tại chùa Giác Lâm, thọ 88 tuổi, Thiền Sư Mật Hạnh mới thật sự chính thức trụ trì chùa Giác Lâm. Sư rất quan tâm đến việc tu học của tăng chúng, thấy sư đệ là Thiền Sư Hoằng Ân trụ trì chùa Giác Viên có đủ tài đức giáo hóa chư tăng nên sư cho tăng chúng chùa Giác Lâm xuống tham học giáo lý với Thiền Sư Hoằng Ân. Năm Quý Tỵ (1893), sư thấy sức khỏe mình quá yếu kém, không thể kham nổi việc chùa, nên trao quyền trụ trì chùa Giác Lâm cho sư đệ Hoằng Ân, và nguyện nhập thất tu thiền cho đến ngày quy tịch (14 tháng 11 năm Mậu Tuất 1898). Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 明 遠. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng. Sau khi từ biệt thầy, sư cất am ở Thứu Lãnh, Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc), tự canh tác để sống. Mọi người cảm đức của sư nên lập tinh xá, tăng chúng ở Kinh Châu và Dĩnh Châu tôn sư làm mẫu mực. ● 明 盂 (1599-1665). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Đinh, tự Ngu Am, hiệu Tam Nghi, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc, 23 tuổi xuất gia ở viện Chân Tịch, nối pháp Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng, thuộc tông Tào Động. Năm 1635, sư trụ Long Môn, sau dời đến Hóa Sơn. Năm 1643, kế tục thầy trụ trì chùa Hiển Khánh. Trong cuộc cách mạng Minh Thanh, sư cũng từng lăn lộn nơi chiến trường cứu giúp chúng sinh. ● 某 甲. 1. Tự xưng, tương đương với “tôi”. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “師 謂 眾 曰:我 要 一 人、傳 語 西 堂、阿 誰 去 得?五 峰 曰:某 甲 去。 – Sư bảo chúng rằng: Ta cần một người truyền lời đến Tây đường, ai đi đây? Ngũ Phong nói: Tôi đi. ” ● 2. Thay thế tên người. Động Sơn Ngữ Lục ghi: “師 問 僧:名 什 麼?僧 云:某 甲。 – Sư hỏi tăng: Ngươi tên gì? Tăng thưa: Mỗ giáp. ” ● 木 槵 子. Vốn là tên một loại cây, cũng gọi là Vô hoạn tử, Bồ Đề Tử v. v… Quả thật của nó có thể dùng làm hạt chuỗi (tràng hạt), nên mộc hoạn tử cũng chỉ cho hạt chuỗi. Tiết kính Sơn Tông Cảo Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “以 木 槵 子 換 天 下 人 眼 睛。 – Đem hạt chuỗi đổi lấy con mắt của thiên hạ. ” ● 木 人 石 女. Chàng người gỗ, cô gái đá. Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông ghi: “波 間 石 女 舞 婆 娑、吹 笛 木 人 歌 款 待。 – Trên sóng gái múa điệu bà sa, người gỗ thổi sáo ca bài khoản đãi”. ● 木 食 草 衣. Lượm trái cây làm thức ăn, đan cỏ làm áo chỉ cho đời sống giản dị, ẩn cư trong núi rừng. Uyển Lăng Lục ghi: “若 不 會 此 意、縱 爾 廣 學 勤 苦 修 行、木 食 草 衣、不 識 自 心、皆 名 邪 行。 – Nếu chẳng hiểu ý này, dù cho ngươi học nhiều, cần cù tu hành, ăn trái cây mặc áo cỏ mà không biết tự tâm đều gọi là tà hạnh. ” ● 門 地. Môn đệ, học trò. Tiết Pháp Khâm truyện trong Tống Cao Tăng Truyện q. 9: “釋 法 欽、俗 姓 朱 氏、吴 郡 崑 山 人 也。門 地 儒 雅、祖 考 皆 達 玄 儒、而 傲 睨 林 藪 不 仕。 – Thích Pháp Khâm, họ Chu, người xứ Côn Sơn, quận Ngô, là môn đệ của nhà Nho, ông cha đều đạt đến chỗ sâu xa của đạo Khổng, nhưng thích ở ẩn chẳng ra làm quan”. ● 門 庭. Tông phái, lưu phái. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “宗 門 中 事、貴 在 心 髓 相 符、不 在 門 庭 相 紹。 – Việc trong Tông môn, quý ở chỗ hợp nhau nơi tâm tủy, chứ chẳng phải ở chỗ tiếp nối của môn đình”. ● 門 庭 施 設. Thủ đoạn tiếp dẫn người học và phương thức truyền thừa thiền pháp theo đặc điểm của mỗi tông phái. Tiết Hòa Sơn Huệ Phương Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “上 堂 舉 拂 子 曰:看! 看! 祇 這 箇、在 臨 濟、則 照 用 齊 行、在 雲 門 則 理 事 俱 備、在 曹 洞 則 偏 正 合 通、在 溈 山 則 暗 機 圓 合、在 法 眼 則 何 止 唯 心?然 五 家 宗 派、門 庭 施 設 則 不 無、直 饒 辨 得 倜 儻 分 明 去、猶 是 光 影 邊 事。 – Sư thượng đường đưa phất tử lên nói: Hãy xem! Chỉ cái này, ở Lâm Tế thì chiếu dụng cùng hành, ở Vân Môn thì lý sự đều đủ, ở Tào Động thì thiên chính hiệp thông, ở Quy Ngưỡng thì ám cơ viên hợp, ở Pháp Nhãn thì đâu chỉ có duy tâm. Nhưng môn đình thi thiết của ngũ gia tông phái thì chẳng phải không, dù cho ông biện được rõ ràng phóng khoáng đi nữa, cũng là sự hư huyễn chẳng thật”. ● 捫 空 追 响. Mưu tính mò mẫm trong hư không để tìm tiếng vang (dội), tỷ dụ cho hành vi giả dối luống công. Tiết Đức Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “咸 通 六 年 乙 酉 歲 十 二 月 三 日、忽 告 諸 徒:捫 空 追 响、勞 你 神 耶!夢 覺 覺 非、覺 有 何 事?言 訖 宴 坐 安 詳、奄 然 順 化。 – Ngày mùng 3 tháng 12 năm ất Dậu, niên hiệu Hàm Thông thứ 6 (866), sư chợt bảo đồ chúng: Mưu tính mò mẫm trong hư không để tìm tiếng vang (dội), lao nhọc tâm thần của ngươi vậy! Mộng tỉnh rồi mới giác biết việc trong mộng là không phải, và giác biết thật ra có việc gì đâu! Nói xong, sư ngồi an tường rồi bỗng nhiên thị tịch”. ● 門 風. Chỉ cho phong cách tư tưởng, giáo học và khuôn phép riêng của mỗi lưu phái. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “達 磨 西 來 事 久 多 變。後 代 兒 孫 門 風 無 限。攪 擾 身 心 一 團 麻 線。白 雲 今 日 都 通 截 斷。 – Việc tổ Đạt Ma từ ấn Độ sang lâu ngày có nhiều thay đổi. Con cháu đời sau môn phong vô hạn, phá rối thân tâm khiến cho hỗn loạn, Bạch Vân tôi (pháp hiệu của Thiền Sư Pháp Diễn) hôm nay đều chặt đứt hết”. ● 門 士. Người giữ cửa. Tiết Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q. 14 ghi: “不 待 天 明、便 去 開 元 寺 捶 門。門 士 云:是 什 麼 人?對 云:太 安 寺 主 來 起 居 大 師。門 士 便 開 門。 – Chẳng đợi trời sáng liền đến gõ cửa chùa Khai Nguyên. Người giữ cửa bảo: Ông là ai? Đáp: Trụ trì chùa Thái An đến thăm Đại sư. Người ấy liền mở cửa”. ● 懞 懂 三 百 擔. Mông Đổng nghĩa là lý sự không phân, phải trái tà chính chẳng hiểu. Tam Bách Đảm nghĩa là gánh vác nặng nhọc. Cả câu dụ cho sự quê kệch si độn. Tắc 25, Bích Nham Lục (Đại 48, 166 trung) ghi: “眼 裏 塵 沙 耳 裏 土(懞 憧 三 百 檐、鶻 鶻 突 突、有 什 麼 限、更 有 恁 麼 漢)。 – Bụi bặm trong mắt, đất trong tai (Quê kệch si độn, ngây ngây ngốc ngốc, biết đến bao giờ mới có được người như thế?)”. ● 蒙 山. Hiệu của Thiền tăng Đức Dị đời Nguyên. X. Đức Dị. ● 蒙 堂. Hiệu của Thiền tăng Đàm Ngạc đời Nguyên. X. Đàm Ngạc. ● 夢 窻 疏 石 (1275-1351). (jap. Musō Soseki) Thiền tăng sống vào cuối thời đại Liêm Thương đầu thời đại Thất đinh, họ Nguyên, tự Mộng Sơn, người xứ Y Thế (Ise), Nhật Bản. Năm 9 tuổi, sư theo ngài Không A ở chùa Bình Diên Sơn học nội ngoại điển, đến năm 1292 cầu ngài Ngưng Nhiên ở viện Giới Đàn xuất gia, thụ giới, đồng thời đi khắp nơi tu học Hiển giáo và Mật giáo. Sau, sư biết được Phật pháp vốn chẳng phải Nghĩa học, nên chuyển qua tham thiền, thờ các vị Nhất Sơn Nhất Ninh, Cao Phong Hiển Nhật làm thầy và được ngài Hiển Nhật ấn khả. Sư từng trụ các chùa: Viên Giác ở Kamakura, Nam Thiền ở Kyōto, Thiên Long (Tenryūji) ở Kyoto một ngôi chùa được xếp vào Ngũ Sơn, và trở thành một trong những tác giả đứng hàng đầu của phong trào Ngũ Sơn văn học (Gosan Bungaku). Lúc sinh tiền, sư được vua ban các hiệu: Mộng Song Quốc Sư, Chính Giác Quốc Sư, Tâm tông Quốc Sư. Đời sau truy tặng các hiệu: Phổ Tế Quốc Sư, Huyền Du Quốc Sư, Phật Thống Quốc Sư, Đại Viên Quốc, cũng có tên gọi Thất Triều Đế Sư. Tác phẩm: Mộng Trung Vấn Đáp Tập 3 quyển, Lâm Xuyên Tự Gia Huấn, Ngữ Lục 3 quyển. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 夢 世 叟. Hiệu của Thiền tăng Huệ Chiếu đời Nguyên. X. Huệ Chiếu. ● 沒 巴 鼻. Còn gọi: Vô Ba Tỵ, Một Khả Bả. Nghĩa là không có tay để gãi, tức là không thể nắm bắt. Ba, như chữ “Bả” trong từ Bả kính (căn cứ). Ba tỵ có nghĩa là buộc mũi trâu, còn gọi là Bả tý. Thiền Tông dùng từ này làm thuật ngữ để chỉ cho nghĩa không có cách gì để nắm bắt. Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Thư (Đại 47, 934 trung) ghi: “看 來 看 去、覺 得 沒 巴 鼻、沒 滋 味、心 頭 悶 時、正 好 著 力。 – Khán tới khán lui, cảm thấy không sao nắm bắt được, không có mùi vị, trong tâm buồn bực, chính khi ấy mới đắc lực”. ● 沒 底 船. Còn gọi: Vô Để Thuyền. Nguyên chỉ cho chiếc thuyền không đáy. Thiền Tông dùng từ này chỉ cho Thiền cảnh xa lìa mọi chấp trước hướng đến chỗ giải thoát. Tắc 63, Thung Dung Lục (Đại 48, 266 trung) ghi: “無 星 秤 上 兩 頭 平、沒 底 舡 中 一 處 渡。 – Trên cân không khía hai đầu (cân) bằng, trong thuyền không đáy (chở) một xứ qua sông”. ● 沒 交 涉. Còn gọi: Vô Giao Thiệp. Không dính dáng. Chỉ cho hai sự việc trái nghịch không tương ứng, cũng như hỏi Đông mà đáp Tây. Trong Thiền Lục phần nhiều sử dụng từ ngữ này, như “Thả hỷ một giao thiệp”. (Thật tức cười không dính dáng). Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập q. 1 ghi: “除 此 之 外、別 扯 玄 妙 知 見 巧 法 來 逗 湊、全 沒 交 涉。 – Ngoài việc này ra, không cần lưu tâm đến tri kiến huyền diệu nào khác, bởi vì hoàn toàn không dính dáng”. ● 沒 絃 琴. Nguyên chỉ cho chiếc đàn cầm không dây không âm. Trong Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho tiếng vang nhiệm mầu vô thinh, hoặc ý chỉ sâu xa ngoài ngôn ngữ. Lại thường dùng để biểu thị tông phong đặc biệt của Thiền gia: “Không lập văn tự, truyền ngoài giáo điển”. Từ ngữ này xuất xứ từ điển tích Đào Uyên Minh dùng chiếc đàn cầm không dây không trục trong tiệc rượu đãi người bạn, chỗ gọi rằng: “Đản thức cầm trung thú, hà lao huyền thượng thinh” (Chỉ cần thưởng thức chiếc đàn, cần gì âm thinh trên dây đàn) Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục q. thượng (vạn tục 120, 28 thượng) ghi: “一 等 沒 絃 缰、惟 禪 師 彈 得 妙。 – Cư sĩ nói: Loại đàn cầm không dây, chỉ có thiền sư đàn mới tuyệt”. ● 夢 興. Rủi ro, xúi quẩy. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “平 生 沒 興、撞 著 這 無 意 智 老 和 尚。 – Cả đời xúi quẩy, gặp phải lão Hòa Thượng vô ý trí này. ” ● 沒 量. Còn gọi: Vật Lượng. Từ hình dung một cái gì to lớn, không thể đo lường. ― Một lượng hán: Nhân vật thực sự có tầm cỡ, mang khí phách siêu việt. ― Một lượng đại nhân: Người đại triệt đại ngộ, vượt khỏi các tình chấp phân biệt của phàm phu như: Đắc thất, hữu vô, mê ngộ, phàm thánh. ― Một lượng đại sự: Việc lớn Phật pháp, siêu việt phàm thánh mê ngộ. Tắc 18, Thung Dung Lục (Đại 48, 238 trung) ghi: “不 可 以 無 心 得、不 可 以 有 心 知、沒 量 大 人、語 脈 裏 轉 卻。 – Không thể do vô tâm mà được, không thể do hữu tâm mà biết, người đại triệt đại ngộ ngay nơi câu hỏi liền đáp được”. Phạm Kỳ Sở Thạch Ngữ Lục q. 7 ghi: “要 做 沒 量 漢、須 眞 參 實 悟 始 得。他 時 後 日、不 被 生 死 拘 絆、去 住 自 由。 – Muốn làm người siêu việt, cần phải chân tham thật ngộ mới được. Mai kia mốt nọ, chẳng bị sinh tử trói buộc, sẽ tự do sống hoặc chết”. ● 沒 量 大 人. Còn gọi: Một Lượng Đại Hán. Chỉ cho tâm ngộ thiền siêu việt số lượng phân biệt, cũng chính là Phật tự tâm. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL q. 9 ghi: “唯 有 沒 量 大 人、一 位 天 眞 自 在、無 思 無 爲、不 識 寰 中 有 天 子、不 治 不 亂、不 聞 塞 外 有 將 軍。 – Duy có Phật tự tâm, một vị thiên chân tự tại, không suy tư không tạo tác, há không biết trong nước có hoàng đế; chẳng trị chẳng loạn, đâu không nghe ngoài biên ải có tướng quân. ” ● 沒 蹤 跡. Còn gọi: Một Trẩm Tích, Đoạn Tiêu Tức. Không để lại dấu vết ngôn ngữ và hành vi. Thiền Tông dùng từ này làm thuật ngữ để chỉ cho người đại ngộ triệt để. Những người triệt ngộ này, không luận là nói nín động tĩnh đều thể hiện được phong cách tự do tự tại, rỗng rang vô ngại. Tắc 74, Thung Dung Lục (Đại 48, 274 thượng) ghi: “沒 蹤 跡、斷 消 息;白 雲 無 痕、清 風 何 色? – Bậc triệt ngộ thật tự tại giống như mây trắng không dấu vết, thật rỗng rang giống như gió mát đâu có màu sắc gì!”. ● 沒 意 智. Một có nghĩa là không (vô), ý trí có nghĩa là tư lương. Chỉ cho trí huệ không còn tác dụng tư lương phân biệt. ― Một ý trí hán: Gã không có phân biệt, chỉ cho tự tính. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải của Thiền Sư Trung Phong Minh Bản ghi: “標 榜 撞 著 箇 沒 意 智 漢。掣 其 㯨 解 其 組、萬 目 要 張 不 張。百 夫 欲 掌 不 掌。 – Đụng nhằm gã không có phân biệt, móc xiềng xích, mở thắt kết, muôn mắt nhìn thẳng, muốn mở mà chẳng mở; trăm người giơ tay muốn tát mà chẳng tát”. Phẩm Hành Do trong Lục Tổ Đàn Kinh (Đại 48, 349 thượng) ghi: “下 下 人 有 上 上 智、上 上 人 有 沒 意 智。 – Bậc hạ hạ có trí thượng thượng, bậc thượng thượn có trí không phân biệt”. ● 牧 庵. Hiệu của Thiền tăng Pháp Trung đời Tống. X. Pháp Trung. ● 睦 州 板. Công án này được thấy nơi tiết Mục Châu Trần Tôn Túc trong NĐHN q. 4 như sau: “師 尋 常 見 衲 僧 來、即 閉 門。或 見 講 僧、乃 召 曰:座 主。主 應 諾。師 曰:擔 板 漢。 – Bình thường khi thấy thiền tăng đến, sư liền đóng cửa. Nhưng nếu gặp giảng tăng đến, sư liền gọi: Tọa chủ! Tọa chủ ứng thinh: Dạ! Sư bảo: Kẻ vác bảng (Đồ cố chấp). ” Câu “kẻ vác bảng” có nghĩa trách cứ người chỉ chấp trước về một mặt nào đó, không thể thông ngộ. ● 睦 州 道 禪 師 語 錄. Còn gọi: Trần Tôn Túc Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Đạo Minh soạn vào đời Đường, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục và Tục Tạng Kinh tập 118, trang 223. Nội dung gồm các mục: Thượng đường đối cơ, khám phá vị tăng xem kinh, khám biện vị tọa chủ giảng kinh luận. Cuối quyển có phụ 1 thiên tựa nhỏ. Qua những câu vấn đáp giữa Mục Châu và đương cơ, chúng ta thấy được cơ phong dữ dội của Ngài. ● 目 機 銖 兩. Mục cơ là dùng con mắt đo lường biết trọng lượng. Thù lượng chỉ cho trọng lượng rất nhỏ, tức là một khi thấy liền biết nặng nhẹ. Thiền Tông mượn từ này để ám chỉ người học thiền cần phải là hạng căn cơ lanh lợi vừa nhìn sơ qua đã đánh giá được sự việc. Phần thùy thị của tắc 1 trong Bích Nham Lục (Đại 48, 140 thượng) ghi: “舉 一 明 三、目 機 銖 兩、是 衲 僧 家 尋 常 茶 飯。 – Hạng căn cơ lanh lợi mắt nhìn qua liền biết phân lượng, đây là việc tầm thường như cơm nước trong nhà thiền”. Đây là 1 trong 3 câu: “Hàm cái càn khôn, Mục cơ thù lượng, Bất thiệp vạn duyên” mà Thiền Sư Vân Môn Văn Yển, Tổ của tông Vân Môn sử dụng khi tiếp hóa người học. ● 目 瞪 口 呿. Trợn trừng, há miệng, dáng vẻ sợ hãi, không biết xử trí ra sao. Viên Ngộ Ngữ Lục q. 12 ghi: “三 世 諸 佛、六 代 祖 師 乃 至 天 下 老 和 尚、只 得 飲 气 吞 聲、目 瞪 口 呿。 – Ba đời chư Phật, sáu đời Tổ sư, cho đến các lão Hòa Thượng trong nước, chỉ được nín hơi nuốt tiếng, trợn mắt há miệng”. ● 悶 悶. Bồn chồn. Tông Môn Võ Khố ghi: “其 賊 兒 在 櫃 中 私 自 語 曰。我 爺 何 故 如 此。正 悶 悶 中。卻 得 一 計。 – Kẻ trộm con ở trong tủ tự nói một mình rằng: Tại sao cha ta làm như thế? Đang khi bồn chồn liền nghĩ ra một kế. ” ● 眉 毛 剔 起. Dùng tay vén lông mày, là động thái ngữ của thiền gia thị cơ, ứng cơ; hàm ý nghĩa phấn chấn tinh thần đốn ngộ thiền chỉ. Tiết Đại Quy Pháp Thái Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “上 堂:寶 劍 拈 來 便 用、豈 有 遲 疑。眉 毛 剔 起 便 行、更 無 回 互。一 切 處 騰 今 煥 古、一 切 處 截 斷 羅 籠。不 犯 鋒 鋩、亦 非 顧 鑑。獨 超 物 外 則 且 置、萬 機 喪 盡 時 如 何?八 月 秋、何 處 熱? – Thượng đường: Gươm báu giơ lên liền sử dụng đâu thể chần chừ? Vén lông mày lên liền thực hành không hề do dự. Tất cả chỗ vượt nay sáng xưa, tất cả chỗ dứt hết trói buộc. Chẳng phạm mũi nhọn cũng không phải sử dụng ngữ cú. Riêng vượt trên người khác hãy tạm gác lại, khi muôn cơ mất sạch thì như thế nào? Trời thu tháng tám làm sao nóng được?” ● 眉 毛 相 結. Còn gọi: My Mao Tư Kết. Giao kết cùng nhau. Vô Môn Quan ghi: “趙 州 和 尚、因 僧 問、狗 子 還 有 佛 性 也 無。州 云、無。無 門 曰。。。只 者 一 箇 無 字、乃 宗 門 一 關 也。遂 目 之 曰 禪 宗 無 門 關。透 得 過 者 、非 但 親 見 趙 州 、便 可 與歷 代 祖 師、把 手 共 行、眉 毛 廝 結、同 一 眼 見、同 一 耳 聞、豈 不 慶 快。 – Có vị tăng hỏi Hòa Thượng Triệu Châu: Con chó có Phật tính không? Triệu Châu đáp: Không. Vô Môn bình: …Chỉ một chữ không này vốn là cửa ải của tông môn, cho nên sách này đề là Vô Môn Quan. Ai đã lọt qua được, chẳng những chính mắt thấy Triệu Châu, mà còn cùng với Tổ sư nắm tay chung bước, thâm sâu giao kết, cùng một mắt thấy, cùng một tai nghe, há chẳng thú sao?” ● 眉 分 八 字. Lông mày hình chữ bát (八) là điều mà ai cũng thừa nhận. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho nghĩa “đương nhiên”. Tắc 30, Bích Nham Lục (Đại 48, 169 hạ) ghi: “僧 問 趙 州:承 聞 和 尚 親 見 南 泉、是 否?(千 聞 不 如 一 見、拶!眉 分 八 字)。 – Tăng hỏi Triệu Châu: Nghe nói Hòa Thượng từng được ngài Nam Tuyền đích thân chỉ giáo phải không? (Ngàn lần nghe chẳng bằng một lần thấy, chậc! Lẽ đương nhiên rồi)”. ● 眉 鬚 墮 落. Râu mày đều bị rơi rụng. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc bị trừng phạt do nói năng, suy xét sai lầm. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “Giá cá thị thập ma? Nhược hoán tác nhất thừa pháp, my tu đọa lạc”. “這 箇 是 什 麼?若 喚 作 一 乘 法、眉 須 墮 落! – Cái này là cái gì? Nếu gọi là pháp Nhất thừa thì sẽ bị trừng phạt do nói năng, suy xét sai lầm”. ● 美 食 不 中 飽 人 喫. Thức ăn dù có ngon đến mức nào đi nữa vẫn không cần thiết đối với người đã no. Thiền Tông mượn thành ngữ này làm thuật ngữ để chỉ cho cảnh giới của người đã tu chứng viên mãn. Tắc 61, Bích Nham Lục (Đại 48, 193 hạ) ghi: “野 老 從 教 不 展 眉(三 千 里 外 有 箇 人、美 食 不 中 飽 人 喫)。 – Để mặc lão quê mày ủ dột (ngoài ba ngàn dặm có một kẻ đối với thức ăn ngon cảm thấy không cần thiết vì đã no bụng)”. ● 那 (k. ng). 1. À? Dùng ở cuối câu. Từ biểu thị ý hỏi thân mật để lựa chọn hoặc thăm dò. Vân Môn Quảng Lục, q. hạ ghi: “師 問 僧:汝 是 湖 南 出 家 那?僧 云:是。 – Sư hỏi tăng: Người xuất gia ở Hồ Nam à? Tăng đáp: Phải”. ● 2. Hả? Dùng ở cuối câu. Từ biểu thị ý hỏi thân mật nhằm xác định thêm điều mình đang nghi vấn. Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư trong NĐHN q. 11 ghi: “師 普 請 鉏 地 次、見 黃 檗 來、拄 钁 而 立。檗 曰:這 漢 困 那!師 曰:钁 也 未 舉、困 箇 甚 麼? – Một hôm sư cùng đại chúng đang cuốc đất, chợt thấy Hoàng Bá đến, sư liền chống cuốc, đứng. Bá hỏi: Gã này mệt hả? Sư thưa: Cuốc còn chưa dở lên, mệt cái gì?” ● 3. Đâu, làm sao? Phó từ nghi vấn. Phần Dương Ngữ Lục q. trung ghi: “人 天 不 測、凡 聖 那 知? – Trời người không lường được, phàm thánh đâu biết nổi?” Cũng đồng sách trên, q. thượng ghi: “況 乎 山 僧 獨 事 荒 唐。 – … Huống hồ Sơn tăng mỗi mỗi việc gì cũng bừa bãi thì làm sao lên được địa vị đó??” ● 4. Nào? Phó từ nghi vấn, tức “哪”. Tiết Gián nghị Bành Nhữ Lâm Cư sĩ trong NĐHN q. 18 ghi: “寫 底 是 字、那 箇 是 經? – Văn thư mới viết là chữ, cái nào là kinh?” ● 那 邊. Bên kia, chỉ cảnh giới thiền ngộ siêu việt trần tục, vượt thoát không gian. Kệ Thị Tịch của Thiền Sư Pháp Loa ghi: 萬 緣 裁 斷 一 身 閒 四 十 餘 年 夢 幻 間 珍 重 諸 人 休 借 問 那 邊 風 月 更 漫 寬 “Vạn duyên tiệt đoạn nhất thân nhàn Tứ thập dư niên mộng huyễn gian Trân trọng chư nhân hưu tá vấn, Na biên phong nguyệt cánh man khoan”. “Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn Hơn bốn mươi năm mộng đã tàn Tạm biệt các ngươi thôi chớ hỏi Bên kia trăng gió rộng thênh thang”. ● 那 邊 句. Câu bên kia. Chỉ cho lời nói vượt thoát trần tục, trừ sạch vọng tưởng phân biệt, cũng là lời nói của người triệt ngộ. Tiết Linh Tuyền Quy Nhân Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “初 問 疏 山:枯 木 生 花、始 與 他 合。是 這 邊 句、是 那 邊 句?山 曰:亦 是 這 邊 句。師 曰:如 何 是 那 邊 句?山 曰:石 牛 吐 出 三 春 霧、靈 雀 不 棲 無 影 林。 – Ban đầu Sư hỏi Sơ Sơn: Cây khô trổ hoa mới hợp với người khác, là câu bên này hay câu bên kia? Sơn đáp: Cũng là câu bên này. Sư hỏi: Thế nào là câu bên kia? Sơn đáp: Trâu đá nhả mây mù tiết ba xuân Chim thần chẳng đậu rừng cây không bóng. “ ● 那 人. Người ấy, chỉ cho bậc triệt để đại ngộ. Tắc 49, Thung Dung Lục (Đại 48, 258 thượng) ghi: “普 化 便 翻 斤 斗、龍 牙 只 露 半 身、畢 竟 那 人 是 何 體 段? – Phổ Hóa thì lộn ngược, Long Nha thì để lộ nửa thân, rốt cuộc người ấy thuộc về loại nào?”. ● 那 一 寶. Còn gọi: Na Nhất Cú, Na Nhất Khúc. Một vật báu kia. Tỷ dụ Phật tính hoặc Tông phong của Phật Tổ. ― Na nhất cú: Ngôn ngữ mà Phật Tổ cử dương. ― Na nhất khúc: Tức là khúc nhạc hài hòa vui tai mà có thể thay đổi phong tục, dụ cho tông phong mà Phật Tổ cử dương. Phổ Tế Thiền Sư Ngữ Lục q. thượng (Đại 82, 502 thượng) ghi: “宗 風 那 一 曲、調 高 徹 大 千。 – Tông phong của Phật Tổ cử dương, làn điệu cao thấu đến thế giới đại thiên”. ● 那 一 橛. Một then chốt kia. Chỉ cho cơ pháp linh hoạt thích hợp được Thiền Sư sử dụng nhằm đánh trúng vào những mối nghi, các chấp trước của người học khiến cho nó vỡ ra như băng tan ngói bể. Quyết, nguyên chỉ cho cái chốt cửa bằng gỗ. Trong Thiền Tông, chỉ cho chỗ then chốt, chỗ quan trọng. Phần giáp chú của tắc 14, Bích Nham Lục (Đại 48, 154 hạ) ghi: “德 山、臨 濟 也 須 退 倒 三 千、那 一 橛 又 作 麼 生? – Đức Sơn, Lâm Tế cũng phải thoái lui 3. 000 dặm. Còn một then chốt kia thì thế nào?”. ● 那 一 手. Còn gọi: Na Nhất Trước. Một thủ đoạn kia. Nghĩa là mưu lược hoặc thủ đoạn, phương pháp đặc biệt. Nhất thủ là người bản lãnh trong cuộc chơi cờ. ● 那 事. Việc ấy. ẩn ngữ của nhà Thiền, chỉ cho việc ngộ đạo thành Phật. Tiết Tuyết Phong Huệ Trung Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “上 堂:終 日 忙 忙、那 事 無 妨。作 麼 生 是 那 事? – Sư thượng đường: Suốt ngày luôn bận rộn, cho rằng việc ấy không sao cả … Cái gì là việc ấy?” ● 拏 雲. Cưỡi mây, vút lên mây xanh. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “今 三 月 三、桃 花 開 時、天 地 所 感、有 魚 透 得 龍 門、頭 上 生 角 昂 鬃 鬣 尾、拏 雲 而 去。 – Mùng ba tháng ba khi hoa đào nở, do sự cảm ứng của trời đất, có một chú cá nhảy qua khỏi long môn, lập tức trên đầu mọc sừng, ở cổ có bờm, nơi đuôi có lông biến thành rồng bay lên mây. “ ● 南 庵. Hiệu của Thiền tăng Đại Y đời Thanh. X. Đại Y. ● 南 屏 隱 叟. Hiệu của Thiền tăng Chính Nham đời Thanh. X. Chính Nham. ● 南 谷 穎 (1616-1673). Thiền tăng đời Minh, họ Lâm, tự Nam Cốc, hiệu Tính Nguyện, người xứ Giang Âm, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thê Vân Hành Nhạc, đời thứ 37 hệ Nam Nhạc. Trụ trì Hoàng Bá sơn tự. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 南 陽 國 師. Thiền tăng Huệ Trung đời Đường trường kỳ ở trong hang Đảng Tử, núi Bạch Nhai thuộc Nam Dương, nên người đời gọi là Nam Dương Quốc Sư. X. Huệ Trung. ● 南 台 寺. Chùa nằm dưới chân núi Trịch Bát trong rặng Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Thiên Giám (502-519) nhà Lương thuộc Nam Triều, Thiền Sư Hải ấn mến cảnh núi non đẹp đẽ nên xây dựng chùa này. Niên hiệu Thiên Bảo thứ 2 (743) đời Đường, Thạch Đầu Hy Thiên thấy cảnh sắc nơi đây rất đẹp, cảnh trí u tịnh nên đổi làm đạo tràng, đặt tên là “Nam Đài Tự”. Niên hiệu Càn Đạo thứ 1 (1165) đời Tống, Hòa Thượng Vô Ngại đến đây lễ Phật và xây dựng thêm. Trong 2 đời Nguyên và Minh, chư tăng trong chùa tự phân chia ra Tự miếu và Tây lang và gọi là “Lão Nam Đài”, “Tân Nam Đài”. Chùa Nam Đài hiện còn chính là chỗ Hòa Thượng Đàm Vân cất am ở, vào niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh, trải qua nhiều năm gầy dựng, tiếp tục mở rộng tự viện. Kiến trúc hiện còn có: Đại hùng bảo điện, Tàng kinh lâu (lầu chứa kinh), Phật đường, Tổ đường, Thiền đường, Vân thủy đường, còn có tấm đá khắc chữ “Thích Ca Chi Phật” do Thạch Man Khanh đời Tống viết và “Kiến Tướng Tháp” tức là mộ tháp của ngài Hy Thiên. Tông Tào Động của Phật giáo Thiền Tông Nhật Bản xem Nam Đài Tự là Tổ đình của họ. ● 南 堂. Hiệu của Thiền tăng Thanh Dục đời Nguyên. X. Thanh Dục. ● 南 堂 元 靜. Thiền tăng Nguyên Tĩnh đời Tống sau khi tham vấn Ngũ Tổ Pháp Diễn đắc pháp, sáng lập Nam Đường tại núi Đại Tùy, Bành Châu nên người đời gọi là Nam Đường Nguyên Tĩnh. X. Nguyên Tĩnh. ● 南 花 寺. Chùa ở huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Chùa nằm trên núi cao, lưng tựa vào núi, trước mặt là sông, cảnh trí rất đẹp, được khen là ngôi chùa đứng nhất ở Đông Việt. Niên hiệu Thiên Giám thứ 1 (501) nhà Lương, Trí Dược đầu tiên xây dựng, có tên là Bảo Lâm Tự. Khoảng niên hiệu Nghi Phong (676-678) đời Đường, Lục tổ Huệ Năng khai pháp tại đây, mở rộng chùa, người học thiền tụ hội, pháp đạo hưng thạnh. Hai vị Hoài Nhượng và Nam Nhạc nối pháp của Tổ ở chùa này. Niên hiệu Thần Long thứ 1 (705), đổi tên chùa là Trung Hưng Tự. Niên hiệu Cảnh Long thứ 2 (708), chùa được xây dựng lại, đổi tên là Pháp Tuyền Tự. Đời Ngũ Đại, chùa dùng tên cũ là Bảo Lâm Tự. Khoảng niên hiệu Khai Bảo (968-975), đời Tống, chùa được đổi tên là Nam Hoa Tự. Đời Minh, đại sư Hám Sơn Đức Thanh nhận lời mời vào núi, hết sức phục hưng. Trong Thiền Tông gọi chùa này là Tổ đình. Trong chùa có Lục tổ điện, trong điện thờ tượng Lục tổ, tương truyền là nhục thân của Huệ Năng. Ngoài ra còn có 500 tượng La Hán bằng gỗ, vẻ linh hoạt như người thật. Chùa lưu trữ di vật văn hóa như: Thánh chỉ của các bậc Đế vương, Ca sa thêu hình ngàn đức Phật, Bát thủy tinh, Đại tạng kinh. Chùa còn có tháp Linh Chiếu của đời Tống xây dựng. ● 南 明 (1576-1620). Thiền tăng đời Minh, họ hàn, người Diêm Quan (nay làHải Ninh, Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Xa Khê, làm truyền nhân tông Lâm Tế. Khi ra hoằng pháp sư làm Thủ tọa Kính Sơn. ● 南 岳 單 傳 記. Ký, 1 quyển, do Hoằng Trữ biên soạn vào đời Thanh, Nam Tiềm bình, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 146, trang 893. Sách này thuộc pháp thống tông Lâm Tế. Nội dung bao gồm lược truyện của các vị được truyền riêng trải qua nhiều triều đại kể từ đức Thích Tôn đến đời thứ 69 là Thiền Sư Tổ Ông Hoằng Trữ, mỗi truyện đều có phụ theo biểu, bình. ● 南 女. Con cái. Tiết Long Tường Sĩ Khuê Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “三 十 年 後、莫 道 能 仁(系 士 珪 禪 師 之 法 號)教 壞 人 家 男 女。 – Ba mươi năm sau chớ nói Năng Nhân (pháp hiệu của Thiền Sư Sĩ Khuê) làm hư con cái nhà người. “ ● 南 普 陀 寺. Nằm dưới ngọn Ngũ Lão, thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, là một trong bốn đại thiền lâm ở Phúc Kiến. Được xây vào đời Đường, ban đầu gọi là “Phổ Chiếu Tự”. Tăng nhân đời Ngũ Đại cải tạo và xây dựng lại thành “Tứ Châu Viện”. Khoảng niên hiệu Trị Bình (1064-1067) đời Tống, sau khi xây cất lại thì gọi lại là “Phổ Chiếu Tự”. Cuối đời Nguyên bị chiến tranh phá hủy. Đầu đời Minh tăng nhân Giác Quang xây dựng lại, sau đó lại bị chiến tranh phá hủy. Khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, Tướng quân Tịnh Hải là Thi Lang xây dựng lại. Bởi trong chùa có thờ Bồ tát Quán Âm và địa điểm ở phía nam núi Phổ Đà cho nên đổi tên là “Nam Phổ Đà Tự”, từ đây trở thành thắng cảnh Phật giáo Mân Nam. Có những kiến trúc như Tiền điện, Đại hùng bảo điện, Đại Bi điện, Tàng kinh các. Đại Bi điện hình bát giác 3 tầng theo kiểu nhảy tường vượt nóc, toàn bộ dùng đấu củng chống đỡ, khung trang trí trên trần rất là mỹ quan. Đại hùng bảo điện, Tàng kinh các tam bảo, Thiên Thủ Quán Âm, tạo tượng trang nghiêm sinh động như sống. Tàng kinh các chứa giữ Phật kinh, chuông đời Tống. Hai bên là lầu chuông trống, Thiền đường, Khách đường. Còn có Phật học viện Mân Nam do Pháp sư Thái Hư lập ra lúc nhậm chức trụ trì chùa này. ● 南 山 打 鼓 北 山 舞. Núi Nam đánh trống, núi Bắc múa. Nghĩa là sự cảm ứng giữa thầy và trò. Vân Môn Lục, q. hạ (Đại 47, 569 trung) ghi: “師 問 僧:不 惹 泥 水 作 麼 生 道。代 云 :南 山 打 鼓 北 山 舞。 – Sư hỏi tăng: Chẳng đụng đến bùn nước, nói thế nào? Đáp thay rằng: Núi Nam đánh trống, núi Bắc múa”. ● 南 山 起 雲 北 山 下 雨. Núi Nam tụ mây, núi Bắc mưa. Núi Nam cùng núi Bắc không phải là nghĩa đối lập; việc tụ mây rồi mưa xuống là quy luật tự nhiên của vũ trụ. Đây là lấy hiện tượng hiện có trước mặt để chỉ bày đương thể cổ Phật. Tắc 31, Thung Dung Lục (Đại 48, 248 thượng) ghi: “雲 門 垂 語 云:古 佛 與 露 柱 相 交、是 第 幾 機?眾 無 語、自 代 云:南 山 起 雲、北 山 下 雨。 – Vân Môn dạy rằng: Cổ Phật cùng cây cột cái tương giao là cơ thứ mấy? Mọi người không đáp được. Sư tự đáp thay: Núi Nam tụ mây, núi Bắc mưa”. ● 南 山 鱉 鼻. Công án nổi tiếng này được thấy nơi tiết Tuyết Phong Nghĩa Tồn thiền sư trong NĐHN q. 7 ghi: “雪 峰 上 堂:南 山 有 一 條 鱉 鼻 蛇、汝 等 諸 人 切 須 好 看。長 慶 出 曰:今 日 堂 中 大 有 人 喪 身 失 命。雲 門 以 拄 杖 攛 向 師 前、作 怕 勢。 – Tuyết Phong thượng đường, nói: Nam Sơn có con rắn to các ngươi cần phải chú ý! Trường Khánh bước ra nói: Trong thiền đường hôm nay có nhiều người bỏ mạng, Vân Môn lấy chiếc gậy ném trước mặt Tuyết Phong rồi làm bộ sợ hãi. “ Miết tỵ gọi đủ là miết tỵ xà (con rắn có mũi con ba ba) ẩn chỉ cơ phong nhanh nhẹn, hiểm ác. ● 南 山 寺. 1. Nằm dưới núi Đan Hà, thành phố Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Được xây dựng vào khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-741) đời Đường. Tương truyền nguyên là phủ đệ của Thái tử Thái phó Trung Thuận Vương Trần Ung. Bởi cung điện quy mô quá lớn nên có kẻ mật cáo rằng ông có hiềm nghi tiếm việt, tai họa sắp đến thân. Trần Ung có con gái tên Kim Hoa khuyên cha nên hiến nhà làm chùa, Kim Hoa cũng cạo tóc làm ni, mới khỏi được tai họa. Ban đầu gọi là “Diên Phúc Thiền Tự”, sau đổi tên là “Nam Sơn Tự”. Trải qua nhiều đời đều có tu sửa. Những kiến trúc hiện còn là được trung tu vào niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh, điện vũ rộng rãi, hùng vĩ tráng lệ, tượng khắc tinh xảo, phong cách đặc biệt, có tên là “Ngũ Bảo”, “Bát Thắng”. “Ngũ Bảo‹ là Đại chung, Huyết thư Hoa Nghiêm kinh, Phương trượng trà hoa thọ, Bối diệp kinh, Tạng kinh. “Bát Thắng” là Đại hùng bảo điện, Ngọc Phật điện, Thạch Phật các, Thái phó từ, Tu chân tịnh thất, Mai hoa viên, Túc viên, Cô nương mộ. Ngoài ra còn có Thiên vương điện, Tàng kinh lâu. Trong Đại hùng bảo điện có treo một đại đồng chung nặng khoảng 700 kg đúc vào khoảng niên hiệu Diên Hựu (1314-1320) đời Nguyên. Trong Ngọc Phật điện thờ một tượng Phật bằng ngọc cao 2m. Trong Thạch Phật các có một tượng Phật Di Đà lớn bằng đá cao 1 trượng 8 xích, điêu khắc tinh xảo tỉ mỉ, hình thái rất giống, là tượng được khắc vào đời Đường. Trong chùa có đền thờ Trần Thái phó, sau đền có Kim Hoa sơ trang các, bởi Kim Hoa đã cạo tóc tu hành nơi đây nên còn gọi “Tu Chân Tịnh Thất”. Bên ngoài tường có Kim Hoa Mộ, người đời gọi là “Cô Nương Mộ”. ● 2. Nằm trong công viên Nam Sơn, huyện Quý, khu tự trị dân tộc Tráng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Xây dựng vào đầu đời Bắc Tống, vua Tống Thái Tông từng ban ngự thư, vua Tống Nhân Tông ban tặng tấm biển “Cảnh Hựu Thiền Tự”. Trước khi vua Nguyên Văn Tông tức vị đã từng hai lần trụ tại chùa, đề “Nam Sơn Tự”, xưng là chính mạch Nam tông. Chùa y núi cứ động mà xây dựng, ngoài cổng có cây Bồ đề, trong chùa đường hẹp quanh co tĩnh mịch. Còn có văn vật lịch sử như những tấm đá khắc đời Tống trở đi và cái chuông sắt lớn đúc vào niên hiệu Thiên Thánh thứ 3 (1025) đời Bắc Tống. ● 南 天 禪 寺. Trên núi Đại Sơn cách thành phố Thạch Sư, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc 16km về phía tây nam. Bởi chùa có ba tượng đá Di Đà, Quán Âm, Thế Chí khắc trên vách núi nên vốn gọi là “Thạch Phật Tự”. Chùa xây dựng vào niên hiệu Gia Định thứ 9 (1216) đời Tống do tăng Thủ Tịnh quyên góp khởi công xây dựng. Niên hiệu Càn Long thứ 38 (1773) đời Thanh xây cất lại, đổi tên là “Nam Thiên Thiền Tự”. Toàn chùa có sơn môn, tiền điện, hậu điện, lang viện chiếm diện tích hơn 1000㎡. Đại điện là kiến trúc chủ thể theo kiểu mái chồng đỉnh yết sơn, hiên ngang hùng vĩ. Ba pho tượng Phật cao lớn tựa vào núi phía sau đại điện đều cao 6m trở lên, thân rộng khoảng 3m, ngồi xếp bằng trên đài sen, đoan trang nghiêm túc, béo tốt đẹp đẽ, màu đá trắng tinh như mới, đáng gọi là kiệt tác. Chính giữa là Phật Di Đà, hai bên là Quán Âm và Thế Chí, người đời gọi là “Tây Phương Tam Thánh”. Hai bên tượng đá còn có một đôi thạch trụ khắc nổi rồng xanh quấn quanh vươn nanh vờn bay, tư thế giống như lao nhanh tới. Trên vách đá bên phải chùa khắc bốn chữ lớn “Tuyền Nam Phật Quốc”, mỗi chữ cao 2m do Thái thú Tuyền Châu là Vương Thập Bằng viết, nét chữ mạnh mẽ mà thanh tú bay bướm. Chùa gần biển phong cảnh u nhã. ● 南 禪 寺. 1. Chùa nằm ở mé tây Lý gia trang, cách huyện Ngũ Đài 22km về phía tây nam, thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Chùa tọa lạc ở phía bắc Hồ Nam, quy mô chẳng lớn, do sơn môn, Long vương điện, Bồ tát điện, Đại Phật điện quanh vây thành một “Tứ hợp viện”, mé đông viện là tăng phòng. Chùa được sáng lập vào niên đại nào chẳng rõ, mé dưới đòn dông của Đại điện còn giữ một quyển sách ghi chép có thể chứng minh được rằng chùa được xây cất lại vào niên hiệu Kiến Trung thứ 3 (782). Do vì chùa Nam Thiền ở nơi hẻo lánh nên vào pháp nạn Hội Xương chùa khỏi bị phá hoại, trở thành kiến trúc bằng gỗ đời Đường rất cổ hiện còn. ● 2. Chùa Thừa Thiên ban đầu có tên là “Nam Thiền Tự”. X. Thừa Thiên Tự. ● 南 宋 元 明 禪 林 僧 寶 傳. Truyện, 15 quyển, do Tự Dung soạn vào đời Thanh, Tính Lỗi biên tập bổ sung, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 137, trang 626. Sách này nhằm tiếp tục bộ “Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện” của Huệ Hồng soạn vào đời Tống, thu thập truyện ký của các thiền tăng nổi tiếng từ niên hiệu Kiến Viêm thứ 1 (1127) đời Tống đến niên hiệu Thuận Trị thứ 4 (1647) đời Thanh, tổng cộng là 94 thiên. Mỗi thiên là hợp truyện của 2 người hoặc 3 người, tất cả là 97 người. Sự sắp đặt của truyện ký chẳng nương theo tông phái pháp hệ mà căn cứ vào niên đại. Bắt đầu từ Thiền Sư Phật Đăng Tuần, kết thúc nơi Thiền Sư Xuy Vạn Chân ở Trung Châu, là sử truyện Thiền Tông từ thời Nam Tống đến cuối đời Minh. Quyển thủ có lời tựa của Lâm Hữu Vương, Tồi Bỉnh Cảnh cho đến bài tựa tự kể lý do làm sách của Tự Dung. Quyển cuối có Hậu tự của Tính Lỗi viết vào năm Khang Hy thứ 3 (1664) đời Thanh cho đến lời ký ghi khắc lại vào năm Khang Hy thứ 24 (1685). ● 南 泉 山. Núi nằm ở huyện Quý Trì, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Vào đời Đường, Thiền tăng Phổ Nguyện tham vấn nơi Mã Tổ Đạo Nhất; sau khi đắc pháp sư trụ núi này, hơn 30 năm chưa từng xuống núi. Về sau, nhận lời mời của Thái thú Tiền Trì Dương là Lục Công Thần, Hộ quân Bành thành là Lưu Công, sư xuống núi xiển dương tông phong, tăng tục tụ hội, số chúng thường theo sư khoảng vài trăm người. ● 南 泉 禪 師. Thiền tăng Phổ Nguyện đời Đường hoằng pháp ở núi Nam Tuyền, Trì Dương, nên người đời gọi là Nam Tuyền Thiền Sư. X. Phổ Nguyện. ● 南 泉 斬 貓. Nam Tuyền chém mèo. Công án nổi tiếng này được thấy nơi tiết Nam Tuyền Phổ Nguyện thiền sư trong NĐHN q. 3 ghi như sau: “師 因 東 西 兩 堂 爭 貓 兒、師 遇 之、白 眾 曰:道 得 即 救 取 貓 兒、道 不 得 即 斬 卻 也。眾 無 對、師 便 斬 之。趙 州 自 外 歸、師 舉 前 語 示 之。州 乃 脫 履 安 頭 上 而 出。師 曰:子 若 在、即 救 得 貓 兒 也。 – Trong pháp hội Nam Tuyền, do nhà đông tranh con mèo với nhà tây, sư bắt gặp cảnh này, liền bảo với chư tăng rằng: Nói được thì cứu con mèo, bằng không nói được thì sư sẽ chém con mèo. Trong chúng không có ai nói được, sư liền chém con mèo. Triệu Châu từ ngoài bước vào, sư kể lại chuyện ấy cho Triệu Châu rõ. Châu bèn cởi chiếc giày đội trên đầu đi ra. Sư bảo: Nếu có ngươi ở đây thì cứu được con mèo rồi. “ Công án này ẩn dụ cần phải cắt đứt vọng niệm phân biệt. ● 南 院. Thiền tăng Huệ Ngung đời Ngũ Đại trụ Nam Viện trong Thiền viện Bảo ứng, nên lấy Nam Viện làm hiệu. X. Huệ Ngung. ● 難 易. Trói buộc, giày vò. Tiết Chương Nghĩa Đạo Khâm Thiền Sư trong CĐTĐL q. 25 ghi: “總 來 遮 裏 立 作 什 麼。善 知 識 如 河 沙 數。常 與 汝 爲 伴。行 住 坐 臥 不 相 捨 離。但 長 連 床 上 穩 坐 地。十 方 善 知 識 自 來 參。上 座 何 不 信 取。作 得 如 許 多 難 易。 – Các ông đến đây đứng để làm gì? Thiện tri thức nhiều như cát thường làm bạn với ông, đi đứng ngồi nằm không hề xa lìa, chỉ cần ngồi yên trên giường thiền thì thiện tri thức ở mười phương tự đến tham vấn. Vì sao Thượng tọa không chịu tin mà để có nhiều trói buộc như vầy?” ● 難 逢 快 便. Cơ duyên ngộ nhập khó được, cơ hội khó gặp. Tiết Thái phó Vương công Diên Bân trong LĐHY q. 26 ghi: “大 溈 哲 云:王 太 傅 大 似 相 如 奪 璧、怒 發 冲 冠;明 招 也 是 忍 俊 不 禁、難 逢 快 便。大 溈 若 作 朗 上 座、當 時 見 問、但 呵 呵 大 笑。何 故?見 之 不 取、千 載 難 忘。 – Đại Quy Triết nói: Vương Thái phó giống như Tương Như chiếm lại viên ngọc, nổi giận tóc dựng lên chạm mũ; Minh Chiêu cũng chẳng nhẫn nhịn nổi. Cơ duyên ngộ nhập khó được. Đại Quy nếu là Thượng tọa Lãng, đương thời bị hỏi, chỉ cười to ha hả. Sao vậy? Thấy mà chẳng nhận lấy, ngàn năm khó quên”. ● 猱. Uốn nắn, kiếm chuyện. Tiết Bách Nham Minh Triết Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “藥 山 看 經 次、師 曰:和 尚 休 猱 人 好! – Dược Sơn đang xem kinh, Sư nói: Hòa Thượng thôi uốn nắn người đi!”. ● 衲. Còn gọi: Nạp Tử, Nạp Tăng. Tiết Đâu Suất Tùng Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “初 首 眾 於 道 吾、領 數 衲 謁 雲 蓋 智 和 尚。 – Ban đầu đứng đầu chúng tăng nơi Đạo Ngô, lãnh đạo vài Thiền tăng yết kiến Hòa Thượng Vân Cái Trí. “ ● 納 敗 缺. Bị thua, làm cho khổ. Tiết Hoa Tạng Trí Thâm Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “兜 率 降 生、雙 林 示 滅。掘 地 討 天、虛 空 釘 橛。四 十 九 年、播 土 揚 塵。三 百 餘 會、納 盡 敗 缺。 – Đâu Suất giáng sinh, Song Lâm thị tịch, đào đất tìm trời, đóng đinh vào hư không. Bốn mươi chín năm vãi đất tung bụi, hơn ba trăm hội bị thua mất rồi”. ● 納 款. Hàng phục. Tiết Thị Dục Tạng Chủ trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 3 ghi: “你 若 有 者 箇 操 略、管 取 諸 佛 諸 祖、向 你 面 前 納 欵 有 分、就 你 手 裏 乞 命 無 由。 – Nếu ngươi có tài thao lược, quản lý chư Phật chư Tổ. Các ngài có phần bị hàng phục trước mặt ngươi, các ngài xin tha mạng trong tay ngươi mà không biết tại sao!”. ● 納 缺. Gọi đủ: Nạp Bại Khuyết. Bị thua. Tiết Thiên Đồng Hàm Kiệt Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “上 堂、舉 婆 子 燒 庵 話、師 曰:這 箇 公 案、叢 林 中 少 有 拈 提 者。傑 上 座 裂 破 面 皮、不 免 納 敗 一 上 、也 要 諸 方 檢 點。 – Thượng đường, cử công án ›Bà già đốt am‹, sư nói: Công án này, trong tùng lâm ít có người niêm đề. Thượng tọa Kiệt xé toạc da mặt, chẳng khỏi bị thua một phen, cũng cần các nơi kiểm điểm”. ● 納 飯 阿 師. Thầy chùa ăn hại, là lời trách mắng các tăng sĩ giống như cái thùng cơm. Vân Môn Quảng Lục q. thượng ghi: “似 這 般 滅 胡 種。長 連 床 上 納 飯 阿 師。堪 什 麼 共 語 處。 – Bọn phá hoại Thiền Tông chính là bọn thầy chùa ăn hại ngồi trên giường thiền, đâu có gì đáng nói với bọn họ”. ● 納 僧 (納 子). Người xuất gia, Tăng hành cước. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “若 云 言 中 有 響 句 裹 呈 機。猶 曲 爲 中 下 之 流。向 本 分 衲 僧。遠 之 遠 矣。 – Nếu nói trong lời có vang, trong câu hiện cơ, còn là phương tiện tiếp dẫn hàng trung hạ, đối với tăng hành cước lão luyện còn cách xa lắm vậy!”. ● 衲 僧 巴 鼻. Chỉ cho đạo pháp, cơ phong nhà thiền. Tiết Kiền Phong Huệ Viên Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “達 磨 正 宗、衲 僧 巴 鼻。堪 嗟 迷 者 成 群、開 眼 瞌 睡。 – Chính tông Đạt Ma, đạo pháp nhà thiền, hởi ôi kẻ mê cả bầy, mắt mở mà ngủ gật!” ● 衲 僧 行 脚 事. Còn gọi: Nạp Y Hạ Sự, Nạp Tăng Bản Phận Sự. Thiền tăng hành cước lấy sự tham vấn làm việc tu học căn bản, và lấy việc giải thoát sinh tử làm mục đích cho cuộc đời tu của mình. Cho nên nạp tăng hành cước sự, tức chỉ cho việc lớn giải thoát sinh tử. ● 衲 僧 們 下. Chỉ cho môn đình thiền tông, nhà thiền. Tiết Bắc viện Thông Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “第 一 速 須 省 事、直 須 無 心 去。學 得 千 般 萬 般、祇 成 知 解、與 衲 僧 門 下 有 甚 麼 交 涉? – Khẩn cấp hơn cả là phải bỏ bớt việc, dứt khoát phải vô tâm đi. Học được ngàn vạn điều cũng là tri giải, cùng với nhà thiền có gì dính dáng!” ● 衲 僧 眼 睛. Con mắt trí huệ của thiền tăng có thể thấy rõ tự tâm bản tính. Tiết Định Sơn Duy Tố sơn chủ trong NĐHN q. 10 ghi: “若 要 省 力 易 會、但 識 取 自 家 桑 梓、便 能 紹 得 家 業、隨 處 解 脫、應 用 現 前、天 地 同 根、萬 物 一 體、喚 作 衲 僧 眼 睛、綿 綿 不 漏 絲 髮。苟 或 於 此 不 明、徒 自 竛 竮 辛 苦。 – Nếu muốn tiết kiệm sức lực để dễ lãnh hội, chỉ cần biết giữ quê cha đất tổ thì có thể nối được nghiệp nhà, giải thoát mọi nơi, ứng dụng hiện tiền, trời đất đồng cội nguồn, vạn vật cùng một thể, gọi là con mắt trí huệ của thiền tăng nối liền không lọt mảy tóc. Giả sử nơi đây không rõ, chỉ tự đắng cay một mình. “ ● 衲 僧 鼻 孔. Còn gọi: Nạp Tăng Đỉnh Môn, Nạp Tăng Nhãn Tình. Lỗ mũi của nạp tăng. Chỉ cho vật rất quan trọng của người tu hành Phật đạo, tức là cơ phong đạo pháp của nhà Thiền. Tiết Càn Phong Huệ Viên Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “達 磨 正 宗、衲 僧 巴 鼻。堪 嗟 迷 者 成 群、開 眼 瞌 睡。 – Chính tông Đạt Ma đạo pháp của nhà Thiền. Than ôi! Kẻ mê thành bầy, mở mắt ngủ gục!”. ● 衲 衣 下 事. Chỉ cho việc lớn trong nhà thiền, minh ngộ tâm địa, siêu thoát sinh tử. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “問 如 何 是 衲 衣 下 事。師 云 赫 赤 窮 漢。 – Hỏi: Thế nào là việc lớn trong nhà thiền? Sư đáp: Gã nghèo rớt mùng tơi. “ ● 能. Như thế, vậy mà như thế, hàm ngữ khí nhấn mạnh. Tiết Quán Khê Hoà Thượng trong NĐHN q. 3 ghi: “有 僧 從 外 來、師 便 喝。僧 曰:好 箇 來 由!師 曰:猶 要 棒 在。僧 珍 重 便 出。師 曰:得 能 自 在。 – Có vị tăng từ ngoài cửa bước vào, sư liền hét. Tăng nói: Lý do hay nhỉ! Sư nói: Cũng còn cần cây gậy. Tăng cáo từ rồi bước ra. Sư nói: Sao mà tự tại như thế!”. ● 能 解. Bản lĩnh. Tiết Nam Tháp Quang Dũng Thiền Sư trong TLTBT q. 8 ghi: “七 歲 通、曉 大 義。十 三 學 經 論、輒 能 講 解。開 元 寺 有 尊 宿、史 忘 其 名、有 異 能 解、見 勇、歎 曰:法 中 俊 人 也! – Năm lên bảy, sư thuộc lòng kinh Thi, Lễ, hiểu được đại ý. Mười ba tuổi, hễ sư học tập kinh luận nhất định là giảng giải được. Chùa Khai Nguyên có 1 vị tôn túc, sử quên mất tên, thấy Dũng có bản lĩnh khác thường, mới khen rằng: Đây là bậc tài giỏi trong đạo pháp!”. ● 能 海 (1886-1967). Thiền tăng hiện đại, họ Cung, tên Học Quang, tự Tập Hy. Người xứ Miên Trúc, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Năm 1924, sư đến chùa Thiên Bảo huyện Bồi Lăng theo ngài Phật Nguyên xuất gia, rồi đến nương Hòa Thượng Quán Nhất thụ giới cụ túc. Năm 1935 nhận chức phương trượng Quảng Tế Mao Phùng ở núi Ngũ Đài. Về sau, sư lập pháp hội ở các nơi: Bắc Kinh, Võ Hán, Thượng Hải, núi Ngũ Đài để giảng kinh hoằng pháp. Năm 1953, sư được chọn làm Phó hội trưởng Hội Phật Giáo Trung Quốc. Về già sư an cư ở cầu Thanh Lương, núi Ngũ Đài, dẫn đầu tăng chúng phát huy truyền thống “Một ngày không làm, một ngày không ăn” của Tổ Bách Trượng. Sư vừa trồng rừng quanh chùa vừa giảng kinh hoằng pháp, giữ gìn nông thiền và chú trọng đến quy củ của Thiền Tông. ● 能 仁 寺. 1. Chùa nằm dưới ngọn Đơn Phương trong hang phía tây cửa núi Nhạn Đãng thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Tương truyền Nặc Cự Na là Tổ khai sơn núi này. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 1 (976) đời Tống, có vị tăng tên Toàn Liễu vào núi cất am để ở, đề tên là “Phù Dung Am”. Niên hiệu Hàm Bình thứ 2 (999) mới bắt đầu xây cất điện vũ, chư tăng trong chùa dâng tháp Bá Bảo, được vua ban hiệu là “Thừa Thiên Tự”. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 12 (1142), Quận thú là Diêm Khâu Hân vâng lệnh vua đổi tên là “Năng Nhân Thiền Viện” và trở thành đại đạo tràng của núi Nhạn Đãng. ● 2. Chùa ở đường Dân Đức thành phố Nam Xương tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, được xây dựng khoảng niên hiệu Thiên Giám (502-519) nhà Lương thuộc Nam Triều, ban đầu chùa có tên là “Thượng Lam Tự”, sau đổi thành “Đại Phật Tự”… Khoảng niên hiệu Khai Nguyên đời Đường (713-741) được đổi tên là “Khai Nguyên Tự”. Bắt đầu vào niên hiệu Đại Lịch thứ 4 (769), vị thiền sư nổi tiếng là Mã Tổ Đạo Nhất đã ở chùa này tiếp hóa người học, thiền tăng tấp nập kéo đến khiến chùa này trở thành đạo tràng nổi tiếng hoằng dương thiền phong của Mã Tổ Đạo Nhất. Khoảng niên hiệu Đại Trung (847-860), chùa đổi tên là “Thượng Lam Viện”. Niên hiệu Hàm Bình (998-1003) đời Tống, chùa lại đổi tên là “Thừa Thiên Tự”. Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1111-1118) lại đổi tên là “Năng Nhân Tự”. Niên hiệu Cảnh Thái (1450-1456) đời Minh, chùa được đổi tên “Hựu Thanh Tự”. Năm 1929, đổi tên là “Hựu Dân Tự”. Kiến trúc hiện còn là do đời Thanh trùng tu. Trong chùa có tượng Phật to bằng đồng, thân cao 5,4m nặng 18 tấn, còn có một Đại đồng chung cao 2,1m nặng độ 5 tấn, được đúc vào niên hiệu Cảnh Đức đời Đường (967), được treo trên lầu 4 của Hoa Nham Thạch Phương, lầu này nằm bên phải chùa. ● 3. X. Thừa Thiên Viện. ● 能 所. Năng chỉ cho pháp tự động, là hướng chủ động. Sở chỉ cho pháp bất động, là hướng bị động. Hai hướng đối đãi này gọi là “Năng sở”. Nhà thiền cho rằng thứ đối đãi này là do vọng tâm phân biệt tạo thành. Đoạn Tế Tâm Yếu: “內 外 身 心、一 切 俱 捨。猶 如 虛 空、無 所 取 著、然 後 隨 方 應 物、能 所 皆 忘、是 爲 大 捨。 – Thân tâm trong ngoài tất cả đều buông bỏ, giống như hư không, không có chỗ để nắm bắt, sau đó tùy phương ứng vật, năng sở đều quên, ấy là đại xả”. ● 能 所 雙 絕. Quét sạch cả hai bên chủ động (năng) lẫn thụ động (sở), cũng chính là dẹp trừ tâm đối đãi phân biệt. Chương Thiên Thai sơn Trấn Quốc Đại sư Trừng Quán “đáp Hoàng thái tử vấn tâm yếu” trong CĐTĐL q. 30 ghi: “無 住 無 著 莫 攝 莫 收。是 非 兩 亡 能 所 雙 絕。斯 絕 亦 寂 則 般 若 現 前。 – Không trụ không trước, chẳng nhiếp chẳng thâu, phải trái cùng mất, năng sở đều hết. Cái hết này cũng vắng lặng thì trí huệ hiện tiền. “ ● 能 宗. Chỉ cho Thiền Tông Nam tông của Lục tổ Huệ Năng sáng lập. Thần Tú truyện trong TCTT q. 8 ghi: “天 下 散 傳 其 道、謂 秀 宗 爲 北、能 宗 爲 南。 – Thiên hạ loan truyền đạo Thiền, cho rằng Tú Tông ở phương bắc, còn Năng Tông là ở phương nam”. ● 泥 多 佛 大. Còn gọi: Thủy Trưởng Thuyền Cao. Nê (bùn đất) dụ cho chúng sinh, người học đạo. Phật, dụ cho cơ lược tác dụng của bậc thầy, thiện tri thức. Tỷ dụ người phụ giúp càng đông thì sự thành tựu càng lớn. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho cơ dụng của bậc thầy ứng với căn cơ chúng sinh, học nhân, mà tự tại tiếp hóa. Tắc 29, Bích Nham Lục (Đại 48, 169 thượng) ghi: “隋 云:隨 他 去 (前 箭 猶 輕。後 箭 深。只 這 箇 多 少 人。摸 索 不 著。水 長 船 高。泥 多 佛 大。) – Đại Tùy nói: Mặc kệ nó! (Mũi tên trước còn cạn, mũi tên sau sâu hơn, chỉ cái ấy mà bao nhiêu kẻ dò tìm chẳng được. Nước dâng thì thuyền lên, đất nhiều thì Phật to)”. ● 泥 團. Nguyên chỉ cho cục đất, nắm đất; Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho tình hình người học Thiền không đủ trí tuệ sáng suốt để phá trừ phiền não vọng chấp. Ngoài ra, nắm nặn cục đất gọi là Lộng nê đoàn; Thiền Tông dùng từ Lộng Nê Đoàn để chỉ tình hình quở trách Thiền tăng vướng mắc phiền não vọng chấp. Tắc 82, Bích Nham Lục (Đại 48, 208 hạ) ghi: “不 擊 碎 增 瑕 類(弄 泥 團 作 什 麼。轉 見 郎 當。過 犯 彌 天)。 – Chẳng đập nát vụn thì càng thêm tỳ vết (Vướng mắc làm gì? Còn lải nhải nữa, tội lỗi đầy trời)”. Lại, kẻ nắm nặn cục đất gọi là Lộng nê đoàn hán; trong Thiền lâm dùng từ này để trách mắng người học Thiền dùng tình thức để phân biệt tư lương, tính toán tư lự: Đồ chậm lụt. Hư Đường Lục, q. 6 (Đại 47, 1026 trung) ghi: “招 云:欲 識 半 人 麼?也 只 是 弄 泥 團 漢。 – Chiêu nói: Muốn biết nửa người chăng? Cũng chỉ là đồ chậm lụt”. ● 泥 牛 入 海. Con trâu đất chìm xuống biển. Dụ cho mất dấu vết, không tin tức; có nghĩa là một đi không trở lại. Nê Ngưu (trâu đất) dụ cho tác dụng suy tư phân biệt. Hải (biển): Pháp tính bình đẳng. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cảnh giới của người khai ngộ: Vọng tình hòa tan vào chân tâm. Chương Long Sơn Hòa Thượng trong CĐTĐL q. 8 ghi: “洞 山 又 問:和 尚 見 箇 什 麼 道 理 便 住 此 山。師 云:我 見 兩 箇 泥 牛 鬥 入 海 直 至 如 今 無 消 息。 – Động Sơn hỏi Hòa Thượng Long Sơn: Ông thấy đạo lý gì mà trụ núi này? Sư đáp: Tôi thấy hai con trâu đất chọi nhau rồi chìm xuống biển, đến nay không có tin tức”. ● 泥 唇 舌. Câu nệ vào ngôn từ. Bài thơ “Tiễn Thủ tọa Lân đi trụ Định Thủy” trong MANL ghi: “建 立 此 綱 宗。當 陽 貴 直 截。璘 侍 吾 十 年。氣 宇 迴 超 絕。信 手 斫 方 圓。初 不 泥 唇 舌。 – Kiến lập cương tông này, trước mặt quý dứt khoát. Lân hầu ta mười năm, phong thái quá siêu tuyệt. Tiện tay đẽo vuông tròn, không mắc kẹt chữ nghĩa. “ ● 泥 中 洗 土. Còn gọi: Nê Lý Tẩy Thổ Khối, Nê Tẩy Nê. Rửa cục đất trong nước bùn, càng rửa càng thêm đục; dụ cho sự vướng mắc vào ngôn từ lý giải, không thể đạt đến mục đích giác ngộ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “行 棒 行 喝。開 眼 尿 床。舉 古 舉 今。泥 中 洗 土。 – Sử dụng việc đánh hét như mở mắt đái dầm, cử xướng các công án xưa nay như rửa cục đất trong nước bùn”. Phật Quả Ngữ Lục q. 2 ghi: “言 句 上 作 解 會、泥 裏 洗 土 塊。 – Trên lời nói mà hiểu biết như rửa cục đất trong nước bùn”. NĐHN q. 16 ghi: “拈 椎 豎 拂 泥 洗 泥。 – Giơ chùy, dựng phất như lấy bùn rửa bùn”. ● 你 儞. Hả. Là ngữ khí từ nghi vấn đặt cuối câu, tức nay là chữ “ni 呢”. Tiết Nam Tuyền Hòa Thượng trong TĐT q. 16 ghi: “師 問 黃 蘗:笠 子 太 小 生?黃 蘗 云:雖 然 小、三 千 大 千 世 界 總 在 裏 許。師 云:王 老 師 你?黃 蘗 無 對。 – Sư hỏi Hoàng Bá: Chiếc nón nhỏ quá? Hoàng Bá nói: Tuy nhỏ nhưng chứa cả tam thiên đại thiên thế giới. Sư nói: Vậy Vương lão sư hả? Hoàng Bá không đáp được. “ ● 你 看 者 瞎 漢. Nễ, là chỉ đại chúng trong pháp hội. Giả, đồng nghĩa với chữ “Giá” (nầy). Hạt hán, chỉ cho kẻ mù. Là thuật ngữ mang ý nghĩa chế giễu, có nghĩa là các ông nhìn xem cái gã không rõ tông chỉ này. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 蛾 眉 山. Núi nằm trong địa phận huyện Nga My tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc; bao gồm Đại Nga Sơn, Nhị Nga Sơn, Tam Nga Sơn. Trong ấy Đại Nga Sơn là núi chính, cách mặt biển 3. 099m, cao lớn hùng vĩ. Chu vi khoảng vài trăm dặm, núi non trùng điệp. Thế núi uốn lượn quanh co như mày ngài nhặt mà dài nên được gọi là Nga My. Tương truyền nơi đây là đạo tràng thuyết pháp linh hiển của Bồ Tát Phổ Hiền. Theo lịch sử ở núi Nga My, những vị được truyền pháp phần lớn là thiền tăng. Các vị như: Triệu Châu Tùng Thẩm, Hoàng Bá Hy Vận, Nam Tuyền Phổ Nguyện đều có đến núi này. Những năm cuối đời Đường, Thiền Sư Huệ Thông trụ núi này, sáng lập chùa Hắc Thủy, còn trùng tu vài ngôi chùa Phật, khiến cho Phật giáo tại núi Nga My hưng thạnh trở lại. Vào triều vua đời Tống rất xem trọng sự phát triển Phật giáo núi Nga My, ra lệnh dựng tượng Bồ Tát Phổ Hiền bằng đồng, hiện còn đặt trong chùa Vạn Niên, vua còn ban cho ca sa, chuông đồng, bình bát. Trong 2 đời Minh và Thanh là thời kỳ Phật giáo Thiền Tông phát triển tột bực. Đời Minh xây cất xong: Hội Tông Đường, Đại Nga Tự, Tiên Phong Tự, Kim đảnh Hoa Tạng Tự. Đầu đời Thanh, Quán Chi và Khả Văn, cùng với Thầy của họ là Phá Sơn Hải Minh sáng lập chùa Phục Hổ. Núi Nga My vốn có hơn 70 ngôi tự viện. Về sau trải qua bao phen hưng phế, hiện còn vài ngôi thiền tự nổi tiếng hơn cả là: Báo Quốc Tự, Vạn Niên Tự, Hồng Xuân Bình. ● 鵝 王 擇 乳. Còn gọi: Nga Vương Cật Nhũ. Ngỗng chúa biết lựa chọn sữa trong hỗn hợp sữa pha nước. Tỷ dụ cho bậc kiến tính biết phân biệt rõ chân giả, thánh phàm. Phần Dương Ngữ Lục, q. thượng ghi: “上 堂 云:鵝 王 擇 乳、素 非 鴨 類。 – Sư thượng đường nói: Ngỗng chúa biết lựa chọn sữa, vốn không phải là loại vịt”. ● 我 壯. Tâm ngã chấp dồi dào. Đại Châu Ngữ Lục q. hạ ghi: “慠 物 高 心 者 我 壯、執 空 執 有 者 皆 愚。 – Tâm cao ngạo khinh người gọi là ngã tráng, chấp không chấp có đều là ngu si. “ ● 我 從 來 疑 著 這 漢. Ta từ trước đến nay đã hoài nghi gã ấy (không phải là nhân vật tầm thường). Không tầm thường có nghĩa là siêu việt thiện ác và không thể lấy giá trị hoặc tiêu chuẩn thông thường để đánh giá cảnh giới phi phàm. Phần Khám Biện trong Lâm Tế Lục ghi: “普 化 托 開 云:來 日 大 悲 院 裏 有 齋。侍 者 回 擧 似 師。師 云:我 從 來 疑 著 這 漢。 – Phổ Hóa nhắc cánh cửa ra, nói: Ngày mai trong viện Đại Bi có trai tăng. Thị giả trở về thuật lại việc ấy với sư. Sư nói: Ta từ lâu đã nghi gã ấy (không phải là nhân vật tầm thường)”. ● 彥 賓. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư thờ Thiền Sư Lạc Phố Nguyên An. Khi Nguyên An tịch, chúng thỉnh sư kế tiếp trụ trì. Sau sư dời đến núi Điểu Nha, Kỳ Châu (nay là huyện Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc), sư truyền pháp cho ngài Đại An Hưng Cổ rồi thị tịch. ● 嗷 嗷 向 人. Hay nhiều lời với người khác. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 37 ghi: “只 宜 屏 息 深 山、甘 同 寒 蟬、何 故 嗷 嗷 向 人、若 孟 軻 之 好 辯、賈 誼 之 痛 哭 哉。 – Chỉ nên nín hơi chốn núi sâu, cam chịu như con ve mùa đông. Vì lẽ gì hay nhiều lời với người khác? Nếu được biện tài của Mạnh Kha thì cũng chịu nỗi đớn đau của Giả Nghị”. ● 聱 訛. Lầm lẫn, sai lầm. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “通 身 無 主 宰、隨 處 有 聱 訛。 – Toàn thân không có chủ tể, tùy chỗ có lầm lẫn”. ● 銀 山 鐵 壁. Còn gọi: Bích Lập Vạn Nhẫn (vách đứng muôn thước), Châm trát bất nhập (kim đâm chẳng thủng). Có 2 nghĩa: 1. Hình dung cái linh tính sẵn có đứng sừng sững như núi bạcvách sắt, không ai leo lên được. Bài tựa của Phổ Chiếu trong Bích Nham Lục (Đại 48, 139 thượng) ghi: “銀 山 鐵 壁、孰 敢 鑽 研? 蚊 咬 鐵 牛、難 爲 下 口;不 逢 大 匠、焉 悉 玄 微? – Núi bạc vách sắt ai dám nghiền dùi? Con muỗi đốt trâu sắt, không có chỗ cắm mỏ; không gặp bậc thầy giỏi đâu thấu được chỗ huyền vi”. ● 2. Tỷ dụ cho hành giả tu Thiền đến cảnh giới tột cùng của ý thức, cảm giác được chỗ cùng đường nhưng không có cách gì để thoát ra, giống như bị nhốt vào núi bạc vách sắt. Bài kệ thứ 17 trong 108 bài kệ Tham Thiền của Thiền Sư Phương Tụ Thành như sau: 參 禪 第 一、萬 鈞 努 力 衝 開 銀 山、撞 倒 鐵 壁 “Tham thiền đệ nhất Vạn quân nỗ lực Xung khai ngân sơn Tràng đảo thiết bích”. “Pháp tham thiền bậc nhất Như sức mạnh ngàn cân Núi bạc đụng vỡ toang Xô ngã phăng vách sắt”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 吃 緊. Nhấn mạnh, xem trọng. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 2 ghi: “詳 中 峰 之 意、亦 非 全 不 許 漸 修、乃 緣 當 時 善 知 識、才 得 入 頭、便 云 徹 證、及 乎 習 氣 不 除、卻 歸 於 漸 修 之 未 到、故 中 峰 吃 緊 而 作 是 說 耳。 – Xem kỹ ý của ngài Trung Phong cũng chẳng phải Ngài hoàn toàn không cho tiệm tu. Khi anh theo học với thiện tri thức, vừa được chỗ vào liền bảo triệt chứng, nhưng đối với tập khí thì chưa trừ, trở về nơi tiệm tu thì chưa đến, nên ngài Trung Phong mới nhấn mạnh lời nói này”. ● 吃 嘹 舌 頭. Lời trách mắng của thiền sư. Vân Môn Quảng Lục q. thượng: “問:生 死 根 源 即 不 問。如 何 是 目 前 三 昧。師 云:吃 嘹 舌 頭 三 千 里。 – Hỏi: Cội nguồn sinh tử thì chẳng hỏi, thế nào Tam Muội trước mắt? Sư đáp: Cái miệng lanh lanh, cách đạo rất xa”. ● 蕅 益. Hiệu của Thiền nhân Trí Húc đời Minh. X. Trí Húc. ● 疑 殺. Nghi là nghi tình, sát là giết chết mạng căn của sinh tử (tức là ý thức), nên phương tiện của chư Tổ dùng để dẫn dắt kẻ hậu học gọi là Nghi sát thiên hạ nhân (Giúp cho mọi người khai ngộ). ● 疑 情. Là trạng thái khi ở trong tâm đề câu thoại đầu hoặc công án, tự hỏi mà tự sinh khởi cái cảm giác không hiểu, muốn hiểu mà không hiểu nổi, cũng chẳng lọt vào tư duy. Phần lời bình của thiên Kính Sơn Đại Huệ Cảo Thiền Sư Đáp Vấn trong TQST ghi: “師 自 云:他 人 先 定 而 後 慧。某 甲 先 慧 而 後 定。蓋 話 頭 疑 情 破、所 未 休 去 歇 去 者。不 期 然 而 然 矣。 – Sư tự nói: Người khác chủ trương trước định sau huệ, còn tôi chủ trương trước huệ sau định, bởi vì nghi tình trên câu thoại đầu vỡ thì chẳng cầu “Thôi nghỉ” mà vẫn tự được “Thôi nghỉ””. ● 儀 宴 (876-990). Thiền tăng đời Tống, họ Hứa, người xứ Ngô Hưng (nay thuộc Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư du phương tham vấn khắp nơi, cuối cùng nối pháp Thiền Sư Cảnh Thanh Đạo Phô. Sư ở chùa Điểu Cự, Hành Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang), được Ngô Việt Trung Ý Vương rất khâm kính ban hiệu “Khai Minh Thiền Sư”. Tống Thái Tông xuống chiếu mời sư vào cung, thưa hỏi về thiền định. Sư đối đáp ngắn gọn, khế hợp với ý Vua. Sau đó sư được rước về núi, xe cộ hộ tống đầy nghẹt cả đường. ● 擬 不 擬. Còn gọi: Nghĩ Nghị, Nghĩ Nghĩ. Do dự, chần chừ. Tiết Thái Bình Huệ Cần Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “師 室 中 以 木 骰 子 六 隻、面 面 皆 書 么 字。僧 纔 入、師 擲 曰:會 麼?僧 擬 不 擬、師 即 打 出。 – ở trong thất, sư dùng con xúc xắc 6 mặt, mỗi mặt đều viết chữ 么. Tăng vừa vào cửa, sư liền ném con xúc xắc ra, hỏi: Hiểu không? Tăng do dự, sư liền đánh rồi đuổi ra”. ● 擬 寒 山 詩. Thi ca biệt tập, 1 quyển, do Trung Phong Minh Bản soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Trung Phong Quảng Lục tập 17. Minh Bản phỏng theo Hàn Sơn Thi làm 100 bài thơ luật, trình bày về chỉ yếu tâm tính tham thiền, khải phát sơ tâm của người học. ● 擬 心 即 差 動 念 即 乖. Vừa khởi suy nghĩ đắn đo là đã trái với thiền pháp. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “大 徳。到 這 裏 學 人 著 力 處 不 通 風。石 火 電 光 即 過 了 也。學 人 若 眼 定 動。即 沒 交 渉。擬 心 即 差。動 念 即 乖。 – Đại đức, đến đây là chỗ người học ra sức mà chẳng lộ tin tức, như đá nháng điện chớp mà còn vuột qua. Nếu người học do dự thì chẳng dính dáng. Vừa khởi suy nghĩ đắn đo là đã trái với thiền pháp”. ● 義 尹 (1220-1275). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Hàn Sơn Nghĩa Doãn, đệ tử của Hy Huyền Đạo Nguyên. Vào niên hiệu Bảo Hựu thứ 1 (1253) sang nhà Tống (Trung Quốc) theo ngài Thiên Đồng Nghĩa Viễn học thiền pháp. Vào niên hiệu Cảnh Định thứ 5 (1264) lại sang Tống, đắc pháp nơi Thiền Sư Tịnh Từ Trí Ngu, đời thứ 19 hệ Thanh Nguyên, đời thứ 3 tông Tào Động Nhật Bản. Niên hiệu Hàm Thuần thứ 3 (1267) trở về nước, khai sáng chùa Đại Từ nỗ lực hoằng dương tông Tào Động. ● 義 介 (1225-1280). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Triệt Thông Nghĩa Giới. Niên hiệu Khai Khánh thứ 1 (1259) sư cùng với Thiệu Minh Đồng Kỳ sang nhà Tống (Trung Quốc) tham yết các thiền lâm nổi tiếng như Kính Sơn, Thiên Đồng, đắc pháp nơi Thiền Sư Hành Tú, đời thứ 20 hệ Thanh Nguyên, đời thứ 3 tông Tào Động Nhật Bản. Niên hiệu Cảnh Định thứ 3 (1262) cùng với Tịnh Chiếu Nhất Đạo trở về nước. Trụ trì chùa Vĩnh Bình. ● 義 海. Thiền tăng đời Tống, người xứ Tráp Xuyên (nay là huyện Ngô Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Đạo Tế, thuộc tông Pháp Nhãn. Ban đầu sư trụ chùa Báo Ân. Về sau, sư dời đến Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang) ở chùa Thụy Nham. Có vị tăng hỏi: “Thế nào là gia phong của Hòa Thượng?”. Sư đáp: “Không giấu giếm”. ● 義 懷 (993-1064). Thiền tăng đời Tống, họ Trần, người xứ Đông Thanh (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư xuất gia ở chùa Cảnh Đức, Kinh Sư. Khoảng đầu sư tham Kim Loan Thiện, còn yết kiến Diệp Huyện Tỉnh đều chẳng khế. Cuối cùng nối pháp Thiền Sư Tuyết Đậu Trọng Hiển, thuộc tông Vân Môn. Sư ra hoằng pháp trụ chùa Thiết Phật, sau dời về chùa Thiên Y ở Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) sư 5 phen dời chỗ, nhưng đến nơi nào cũng làm hưng thạnh tông Vân Môn. Thụy hiệu “Chấn Tông Thiền Sư”. Tác phẩm: Thiên Y Nghĩa Hoài Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. ● 義 玄. 1. Thiền tăng đời Đường (787-867), Tổ tông Lâm Tế, họ Hình, người xứ Nam Hoa, Tào Châu (nay là huyện Đông Minh, tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc. Thuở bé có chí xuất gia, sau khi cạo tóc thụ giới sư nghiên cứu Kinh, Luật, Luận. Ban đầu sư sang núi Hoàng Bá yết kiến Thiền Sư Hy Vận, rồi yết Đại Ngu, tái tham Quy Sơn Linh Hựu, sau đó trở về chỗ Hy Vận núi Hoàng Bá, ngộ được bản nguyên, được ấn khả và nối pháp Hoàng Bá. Năm 854 lập viện Lâm Tế ở Trấn Châu, hoằng dương thiền pháp, hình thành tông Lâm Tế, người đời gọi là Lâm Tế Nghĩa Huyền, thiền phong thẳng tắt, cơ phong cao vút. Sư đưa ra phương pháp chỉ dạy và nguyên tắc nhận thức gồm có: Tứ liệu giản, Tứ tân chủ, Tứ chiếu dụng. Thụy hiệu “Huệ Chiếu Thiền Sư”. Tác phẩm: Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục (người đời gọi là Lâm Tế Ngữ Lục) ● 2. Thiền tăng đời Minh (1526-1605), họ Cổ, hiệu Cổ Cảnh, người xứ Vân Trung (nay thuộc huyện Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc. Xuất gia từ bé, sau đến Bắc Kinh thụ giới cụ túc. Sư ngưỡng mộ thiền pháp, tham yết các thiền sư trong nước, phát minh tâm địa. Sư nghĩ phúc huệ chưa tròn, công hạnh chưa đủ nên trở về quê rộng làm Phật sự. Sư còn sáng lập Thiền viện Phổ Hưng, làm vị Trụ trì khai sơn đời thứ nhất. ● 義 空. Thiền tăng đời Đường. Sư thờ Thiền Sư Tề An ở Diêm Quan làm thầy, thấu suốt áo chỉ thiền Nam Tông, được Ngài cho làm Thượng thủ. Khi ấy (839) Quất Hoàng hậu (Nhật Bản) nghe đồn nước Đại Đường có Phật Tâm Tông nên sai sứ sang Trung Hoa yết kiến ngài Tề An. Sứ giả truyền đạt ý của Hoàng hậu. Tề An sai Nghĩa Không và Đạo Phưởng sang Nhật Bản. Quất Hoàng hậu rất vui, triệu vào cung hỏi thiền. Sư tấu đối nhằm tuyên dương tông chỉ. Hoàng hậu cho xây chùa Đàn Lâm và mời Nghĩa Không khai sơn. Quan chức trong triều tham vấn Sư rất đông. Sau vài năm, đáp lời mời của đàn việt ở Trung Quốc, sư liền trở về nước. Năm sinh năm mất không rõ. ● 義 能. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Đạo sư Báo Từ Hành Ngôn, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ núi Vân Cư quận Nam Khang (nay là huyện Tinh Tử, tỉnh Giang Tây). Có vị tăng hỏi: “Thế nào là Phật?”. Sư đáp: “Tức Tâm tức Phật”. Lại hỏi: “Học nhân chẳng hội, thỉnh Thầy phương tiện chỉ dạy”. Sư đáp: “Phương tiện gọi là Phật, hồi quang phản chiếu xem, thân tâm là vật gì?”. ● 義 柔 (?-993). Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Quy Tông, Lô Sơn. Một hôm có vị tăng đang xem kinh Bảo Tích. Nghĩa Nhu hỏi: Đã là sa môn, vì sao xem kinh Bảo Tích? Tăng không đáp được. Nghĩa Nhu nói: Xưa nay dùng chẳng hết. ● 義 福 (658-736). Thiền tăng đời Đường, họ Khương, người Lộ Châu (nay là Trường Trị, Sơn Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp ngài Thần Tú, thuộc Thiền Tông Bắc tông đời thứ 2, trụ các chùa: Phúc Tiên ở Tây Kinh, Nam Long Hưng, được vua ban hiệu “Đại Trí Thiền Sư” ● 義 初 (895-951). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Giang, người Kiến Châu nối pháp Thiền Sư Nam Tháp Quang Dũng ở Ngưỡng Sơn, thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư ở núi Hoàng Liên, Thiều Châu (nay thuộc huyện Thiền Quan, tỉnh Quảng Đông). Chúa Nam Hán nghe sự giáo hóa của sư nên mời vào trong phủ thuyết pháp và ban cho Sư hiệu “Minh Triệt Đại Sư”. ● 義 青 (1032-1083). Thiền tăng đời Tống, họ Lý, người xứ Thanh Đỗ (nay là huyện Yển Sư tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Năm 7 tuổi, sư xuất gia ở chùa Diệu Tướng, học Luận Bách Pháp, sau chuyển sang học Hoa Nghiêm, thấy câu “Tức tâm tự tính”, bỗng có tỉnh liền bỏ học mà đi, thưa hỏi nơi các thiền sư. Sư nối pháp Thiền Sư Đại Dương Cảnh Huyền, thuộc tông Tào Động. Sư còn yết kiến Viên Thông Pháp Tú, ý khí hợp nhau. Từ đây, tiếng tăm của sư vang xa. Ban đầu sư trụ núi Bạch Vân, Kiến Châu, sau dời về viện Thắng Nhân, núi Đầu Tử ở Thơ Châu, cử dương tông phong của Đại Dương Cảnh Huyền, người đời gọi là Đầu Tử Nghĩa Thanh. Thụy hiệu: “Từ Tế”. Tác phẩm: Đầu Tử Nghĩa Thanh Thiền Sư Ngữ Lục. ● 義 誠. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thạch Môn Huệ Triệt, thuộc tông Tào Động. Sư ở Thanh Phong, Phong Tường (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây). Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Thanh Phong? Sư đáp: Sưởi ấm, ăn dưa ngọt. ● 義 存 (882-908). Thiền tăng đời Đường, họ Tằng, người xứ Nam An, Tuyền Châu (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 12 tuổi xuất gia ở chùa Ngọc Giản, sau đi đến chùa Bảo Sát thụ giới cụ túc, nối pháp Thiền Sư Đức Sơn Tuyên Giám. Năm 865, sư sáng lập viện Quảng Phúc ở núi Tượng Cốt (Tuyết Phong) nên người đời gọi là Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Chư tăng vân tập lên đến 1500 vị. Thiền phong chú trọng chỗ tất cả sẵn sàng, phản đối việc dùng ngôn ngữ, khái niệm để lý giải giáo nghĩa Thiền Tông, nhấn mạnh công phu nội tỉnh thể nghiệm; có ảnh hưởng rất lớn đến 2 tông Vân Môn và Pháp Nhãn. Đường Hy Tông ban cho sư hiệu “Chân Giác Đại Sư”. ● 義 忠. Thiền tăng đời Đường, họ Dương, người xứ Phúc Châu. Ban đầu sư tham vấn Thạch Củng, Củng giương cung để tiếp, hỏi đáp khế hợp, Củng khen sư rằng: “30 năm giương cung tiếp người, đến nay chỉ bắn được nửa người thánh”. Sau sư tham Đại Điên Bảo Thông, ngộ được áo chỉ. Sư ra hoằng pháp trụ núi Tam Bình ở Chương Châu (nay là huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến), hóa duyên rất thạnh, là người xứng đáng làm gương mẫu cho một phương. Thiền tăng đời Nam Tống, họ Du, người xứ Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc. Theo cha sang Nhật Bản và lưu lại Nhật Bản làm cao đồ của Nghĩa Doãn. Vâng lệnh thầy vượt biển sang Tống, đắc pháp nơi Thiền Sư Phúc Dụ, đời thứ 21 hệ Thanh Nguyên, đời thứ 4 tông Tào Động Nhật Bản. Sau sư trở về nước trụ trì chùa Vĩnh Bình núi Kiết Tường. ● 義 圓. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Khai Thiện, Ngư Phố, Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang). Có vị tăng hỏi: “Thế nào là thuở xưa sư tử rống, hôm nay tượng vương mới trở về?” Sư đáp: “May thay không dính dáng”. ● 囓 鏃. Dùng miệng ngậm đầu mũi tên bắn ra, dụ cho cơ phong hỏi đáp mau lẹ của nhà thiền. Chương Quang Nhân Thiền Sư trong CĐTĐL q. 17 ghi: “洞 山 門 下 時 有 齧 鏃 之 機。激 揚 玄 奧。 – Pháp hội Đông Sơn luôn có cơ phong hỏi đáp mau lẹ, kích dương huyền áo”. ● 迎 江 寺. Chùa ở ngoài cửa Tùng Dương, thành phố An Khánh, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Được xây dựng vào niên hiệu Khai Bảo thứ 7 (974) đời Tống tên gọi “Vĩnh Xương Thiền Tự”, “Thập Phương Vĩnh Xương Thiền Tự”, “Cổ Vạn Phật Tự”. Niên hiệu Thái Xương thứ 1 (1620) đời Minh, Quang Tông ban tên “Hộ Quốc Vĩnh Xương Tự”. Niên hiệu Thuận Trị thứ 7 (1650) đời Thanh đổi tên “Sắc Kiến Nghinh Giang Thiền Tự”. Niên hiệu Đồng Trị thứ 1 (1862) đổi tên “Nghinh Giang Tự”. Những kiến trúc hiện còn được thi công vào khoảng niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) đời Thanh, gồm ba dãy nhà một tầng, có Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Chấn phong tháp, Tỳ lô điện, tàng kinh lâu. Phía tây chùa còn có Từ Vân các, Đại sĩ các. ● 臥 龍. Hiệu của Thiền tăng Viên Xuất đời Minh. X. Viên Xuất. ● 臥 龍 寺. ở phố Bách Thọ Lâm, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Được xây cất vào đời Tùy, ban đầu gọi là “Phúc ứng Thiền Tự”. Bởi họa gia đời Đường là Ngô Đạo Tử từng vì tự viện mà vẽ tượng Quán Âm, nên còn gọi “Quán Âm Tự”. Đầu đời Tống cao tăng Huệ Quả vào viện làm trụ trì, suốt ngày nằm dài nên người đời gọi là “Ngọa Long Hòa Thượng”, tự viện cũng được gọi là “Ngọa Long Tự”. Từ đời Tống Nguyên trở đi đã trở thành thập phương thiền lâm. Đời Minh Tần vương Phiên Phủ từng bỏ của cải ra duy tu, cho nên hàng ngàn năm qua hương khói không dứt. Những vị trụ trì nhiều đời đều là đại đức cao tăng, nhất là thích sưu tập trân vật Phật môn. Tự viện cất giữ bối diệp kinh ấn Độ, bia chữ ÁN, tượng Phật đá đời Bắc Ngụy, đều có giá trị lịch sử. Ngoài ra còn có chuông sắt đúc vào khoảng niên hiệu Hàm Bình (998-1003) đời Tống và lư hương bằng đá Đại Lý do Lạt Ma Tây Tạng lưu tặng, đều là những trân phẩm hiếm có. ● 臥 雲. Hiệu của Thiền tăng Viên Hiển đời Minh. X. Viên Hiển. ● 玉 琳 國 師. Thiền tăng Thông Tú đời Thanh tự là Ngọc Lâm, người đời gọi là Ngọc Lâm quốc sư. X. Thông Tú. ● 玉 佛 寺. Nằm trên đường An Viễn, thành phố Thượng Hải, Trung Quốc. Niên hiệu Quang Tự thứ 8 (1882) đời Thanh, tăng nhân Phổ Đà Sơn là Huệ Căn mang từ Mianma về 5 tượng ngọc Phật, để lại 2 tượng tại Giang Loan xây chùa thờ, gọi là “Ngọc Phật Tự”. Sau cách mạng Tân Hợi chùa bị chiến tranh phá hủy. Năm 1918 tăng nhân tông Lâm Tế là Khả Thành xây cất chùa mới trên nền hiện nay, đến năm 1928 hoàn thành, đặt tên là “Ngọc Phật Thiền Tự”. Tự viện phỏng theo kiến trúc đời Tống, trên tuyến trục giữa theo thứ lớp có Bức tường bình phong trước cổng, Sơn môn, Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Ngọc Phật lâu. Hai bên có Ngọa Phật đường, Di Đà đường, Quán Âm đường, Thiền đường. Kết cấu tinh xảo, hùng vĩ tráng lệ. Ngọc Phật lâu thờ tượng ngồi ngọc Phật cao 1,9m dùng cả khối đá cẩm thạch đúc thành, chất liệu thuần tịnh, màu sắc sáng long lanh, thần thái trang nghiêm. Ngọa Phật đường thờ tượng ngọc Thích Ca nhập niết bàn thần thái an tường, dáng vẻ rất thật. ● 玉 峰 塔. Tháp trên đỉnh núi Ngọc Tuyền, trong Di Hòa Viên, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Tương truyền vua Càn Long trong lúc xuống Giang Nam lần thứ nhất bị khắc sâu ấn tượng đối với phong cảnh không núi không chùa, không chùa không tháp. Sau khi trở về kinh, bắt chước xây sơn tháp trong viên lâm Hoàng gia ở phía tây kinh thành là cảnh sắc Giang Nam tô điểm cho phong cảnh miền Bắc, Ngọc Phong Tháp là một trong số đó. Tháp này phỏng theo hình dáng và cấu tạo của tháp Từ Thọ, Kim Sơn Thiền Tự ở Trấn Giang mà kiến tạo, nhưng phong cách kiến trúc lại không giống tháp Từ Thọ lung linh cao vút, còn tháp Ngọc Phong thì sừng sững vững vàng. Tháp Ngọc Phong là tháp xây bằng gạch đá, hình bát giác 7 tầng phỏng theo kết cấu gỗ theo kiểu lâu các, cao 30m. Mỗi tầng tháp tám mặt đều có cửa sổ. Vách tháp rất dày, trong có cầu thang đá vòng vèo đi lên tới đỉnh. Cầu thang đá bằng phẳng rộng rãi, người tham quan lên xuống thuận tiện dễ dàng. Mỗi tầng tháp mở ra động khám thờ tượng Phật đồng, hiện nay không còn. Mỗi động khám đều có đôi liễn khắc đá được làm vào thời kỳ Càn Long, phần lớn vẫn còn. Hình ảnh tháp Ngọc Phong là một cảnh đẹp trong vườn Tĩnh Minh, núi Ngọc Tuyền. ● 玉 泉 寺. Nằm ở phía đông chân núi Ngọc Tuyền, cách thành phố 15km thuộc huyện Đương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Núi Ngọc Tuyền do có suối ngọc châu báu nên mới có tên như thế. Hơn nữa, núi còn có hình dáng giống như chiếc thuyền úp nên còn có tên “Phúc Thuyền Sơn”. Chùa lấy tên núi, bắt đầu được xây dựng vào niên hiệu Kiến An (196-220) đời Đông Hán, Thiền Sư Phổ Tịnh cất am ở đây. Khoảng niên hiệu Tuyên Đế (555-562) nhà Lương, Nam Triều, vua sắc xây dựng “Phúc Thuyền Sơn Tự”. Đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, Tấn vương là Dương Quảng xuống chiếu thỉnh Đại sư Trí Giả vào chùa này giảng pháp, đổi tên là “Ngọc Tuyền Tự”. Chùa này cùng với chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai Chiết Giang, chùa Thê Hà Nam Kinh Giang Tô, chùa Linh Nham Trường Thanh Sơn Đông được gọi chung là “Thiên hạ tùng lâm tứ tuyệt”, “Thiên hạ tứ đại tùng lâm”. Niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường, tăng Pháp Chân còn xây dựng thêm. Sau đó quốc sư Thần Tú trụ chùa này, sáng lập Thiền Tông Bắc Tông. Cuối niên hiệu Thiên Hy (1021) đời Tống, Minh Túc Hoàng hậu cho xây dựng tại núi này trước sau có 9 lầu, 18 điện, 3. 700 gian tăng xá; chư tăng thường trụ gần ngàn người, sửa bảng hiệu là “Cảnh Đức Thiền Tự”, được khen là “Kinh Sở tùng lâm chi quan” (Đứng đầu các tùng lâm vùng Kinh Sở). Các đời Nguyên, Minh, Thanh sau này đều có trùng tu. Chùa hiện còn các kiến trúc: Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Tỳ Lô điện, Đông đường, Tây đường, Tàng kinh lâu, trong đó Đại hùng bảo điện là kiểu mái kép yết sơn, cao 21m, bề mặt rộng 7 gian, trong ngoài gồm 72 cây cột, xà nhà đấu củng dùng toàn vật liệu to lớn, dù trải qua nhiều triều đại sửa sang mà vẫn còn giữ được phong cách đời Nguyên. Những điện đường lầu gác còn lại hình thức giản dị, thủ pháp thuần nhất, được trang trí bởi nhiều sắc thái, thể hiện rõ kiến trúc cổ Tam Sở đặc sắc. Trong chùa có một cái vạc bằng sắt lớn đời Tùy, chuông sắt đời Nguyên, cái nồi sắt… ở mé sân trước của điện Tỳ Lô có dựng một tấm bia tượng Quán Âm được khắc bằng đá, bút lực khỏe khoắn, đường nét mềm mại, tương truyền do Ngô Đạo Tử, một đại họa gia đời Đường vẽ. Phía đông chùa có Như Lai Xá Lợi thiết tháp, được dựng vào niên hiệu Gia Hựu thứ 6 (1061) đời Tống, tháp 3 tầng hình bát giác. Bên cạnh chùa có giếng trân châu, thường nhả ngọc phun châu, suối phun từ trong vách đá, được gọi bằng mỹ danh “Kim Long Trì” (Ao rồng vàng). ● 吳 怡 (1939-). Học giả Phật giáo hiện đại, người Thanh Điền, Chiết Giang Trung Quốc. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đài Loan, Sở nghiên cứu Triết học thuộc Đại học Văn hóa Trung Quốc, đỗ bằng Tiến sĩ quốc gia. Từng giữ chức Chủ nhiệm hệ Triết học Đại học Văn hóa, Giám đốc Sở nghiên cứu Triết học. Sau sang Hoa Kỳ giảng dạy. Tác phẩm: “Công Án Thiền Ngữ”… , dịch phẩm có “Thiền Học đích Hoàng Kim Thời Đại”. ● 吳 經 熊 (1899-1966). Học giả Phật giáo hiện đại, tự Đức Sinh, người huyện Ngân, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông chuyên học về pháp luật, triết học, lại sở trường về nghiên cứu Thiền Tông. Tốt nghiệp khoa Pháp luật Đại học Đông Ngô. Sau đó ông đỗ bằng tiến sĩ Luật khoa tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ), nhận chức giáo sư Luật học tại Đại học New Jersey, chủ nhiệm ban tiến sĩ sở nghiên cứu Triết học thuộc Đại học Văn hóa Trung Quốc. Tác phẩm: ― Triết Học Dữ Văn Hóa. ― Pháp Luật Triết Học Nghiên Cứu. ― The Golden Age of Zen (Thiền Học đích Hoàng Kim Thời Đại), tác phẩm này được Ngô Di dịch sang Trung văn. ● 遇 安. 1. Thiền tăng đời Tống (?-992), họ Thẩm, người xứ Tiền Đường. Xuất gia từ thuở bé, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn. Khoảng năm 963-967, sư trụ viện Khuynh Tâm ở Bắc Quan, rồi dời đến chùa Quang Khánh, Hàng Châu. Năm 978, sư được Tống Thái Tông triệu kiến ở điện Tư Phúc, ban cho y hồng và hiệu “Thiện Trí Thiền Sư”. ● 2. Thiền tăng đời Tống (924-995), người xứ Phúc Châu, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Thụy Lộc ở Ôn Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). Sư thường xem kinh Lăng Nghiêm nên được gọi là An Lăng Nghiêm. ● 遇 印 (1019-1088). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 8. Sư họ Đàm tên Khí, quê ở Tư Lý làng Kim Bài, miền Bắc Việt Nam. Năm sư lên mười, sư được nhà sư Chiêm Thành cho theo học Nho, học vấn ngày càng tiến. Sư thông cả hai thứ chữ Hán và Phạn. Năm 19 tuổi, sư xuất gia thụ giới cụ túc, chuyên học hai bộ kinh Viên Giác và Pháp Hoa, nghĩa lý thông suốt. Sư theo học với Thiền Sư Quảng Trí ở chùa Quán Đảnh và được ngài truyền tâm ấn. Có người đến hỏi: ― Thế nào là Phật, Pháp và Thiền? Sư đáp: ― Đấng Pháp Vương vô thượng, ở thân là Phật, ở miệng là Pháp, ở tâm là Thiền. Tuy có ba thứ, kỳ thật là một. Ví như nước của 3 con sông, tùy chỗ đặt tên tuy chẳng đồng, mà tính nước không khác. Kệ thị tịch: 妙 性 虛 無 不 可 攀 虛 無 心 悟 得 何 難 玉 焚 山 上 色 常 潤 蓮 發 爐 中 濕 未 乾 “Diệu tính hư vô bất khả phan Hư vô tâm ngộ đắc hà nan Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận Liên phát lô trung thấp vị càn”. “Diệu tính rỗng không chẳng thể vin Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy Lò lửa hoa sen nở thật xinh”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 悟 本 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Lương Giới đời Đường. X. Lương giới. ● 悟 眞. Thiền tăng đời Tống. Tham vấn Thạch Sương Sở Viên khai ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Trụ trì chùa Hưng Hóa núi Đạo Ngô thuộc Đàm Châu. Tác phẩm: Đàm Châu Đạo Ngô Chân Thiền Sư Ngữ Yếu, 1 quyển. ● 悟 眞 大 師. Hiệu của Thiền tăng Sư Úc đời Ngũ Đại. X. Sư Úc. ● 遇 緣. Thiền tăng đời Tống, người xứ Chiết Giang. Trung Quốc. Thuở bé xuất gia, sau thờ Thiền Sư Cảnh Thanh Đạo Phô và đắc pháp. Sư hành cước tham vấn chẳng ngại đường xa, người đời gọi sư là “Thiết Cước”. Về sau, sư ở chùa Nam Thiền, Hành Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). ● 遇 賢 (922-1009). Thiền tăng đời Tống, họ Lâm, người xứ Trường Châu (nay là Tô Châu) Trung Quốc. Sư xuất gia nơi ngài Vĩnh An Khả Y, 30 tuổi cạo tóc thụ giới cụ túc, nối pháp Thiền Sư Long Hoa Ngạn Châu ở Tiền Đường. Sư ở viện Minh Giác, thường ca tụng đức uống rượu để cảnh giới đạo tục, người đời gọi sư là “Tửu Tiên”. Khoảng niên hiệu Kiến Long (960-963), sư dựng chùa chiền, nhưng không ai thấy sư quyên góp và không biết được nguồn gốc về tiền của bỏ ra xây cất. Những hành vi lạ lùng loại này của sư rất nhiều. ● 悟 空 大 師. 1. Thụy hiệu của Thiền tăng Tề An đời Đường. X. Tề An. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Trí Tĩnh đời Ngũ Đại. X. Trí Tĩnh. ● 悟 空 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Hưu Phục đời Ngũ Đại. X. Hưu Phục. ● 悟 門. Con đường lãnh ngộ thiền pháp. Bài tựa của Lưu Phi Hậu trong CĐTĐL ghi: “故 靈 雲 見 桃 花 悟 道。玄 沙 謂 語 燕 深 談 實 相。然 則 大 地 皆 是 悟 門。孰 非 此 道。 – Cho nên Linh Vân thấy hoa đào mà ngộ đạo, Huyền Sa dùng bữa tiệc vị ngữ mà bàn luận sâu sắc về thật tướng, nhưng cả đại địa đều là con đường lãnh ngộ thiền pháp thì cái gì chẳng phải là đạo?” ● 悟 元 (1615-1678). Thiền tăng đời Thanh, họ Tào, hiệu Nhất Sơ, người xứ Đương Hồ (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Lúc 10 tuổi sư đã hiểu được nghĩa lý kinh Phật. Lúc sư 18 tuổi, cha mẹ qua đời, sư nương Hòa Thượng Uyên Hồ Diệu Dụng ở am Đồng Nguyệt xin xuất gia. Về sau, theo lời dặn dò của Diệu Dụng, sư đến yết kiến ngài Thạch Vũ Minh Phương ở chùa Bảo Thọ, thỉnh Ngài viết lời tựa cho quyển Ngữ Lục của Diệu Dụng. Sư còn yết kiến ngài Tuyết Kiệu Viên Tín ở Đông Tháp, mời ngài biên khắc quyển Ngữ Lục cho Diệu Dụng. ● 遇 寧. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Linh ẩn Thanh Tủng, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Tây Sơn Bảo Thanh ở Hàng Châu. ● 悟 新 (1043-1115). Thiền tăng đời Tống, họ Hoàng, người Khác Giang, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Hoàng Long Tổ Tâm, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 10, phái Hoàng Long đời thứ 3, kế tiếp trụ trì chùa Sùng Ân trên núi Hoàng Long ở phủ Long Hưng. Tự hiệu: Tử Tâm Tẩu, người đời thường gọi là Hoàng Long Tử Tâm. ● 悟 進 (1612-1673). Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, hiệu Giới Am. Thuở bé sư theo ngài Uyên Hồ Diệu Dụng ở am Đồng Nguyệt xuất gia. Nửa năm sau, sư theo học thiền với ngài Vạn Như Thông Triệt, bỏ ngủ quên ăn, khắc khổ ngồi thiền tham cứu. Một hôm, sư nghe tiếng búa đẽo cây cổ thụ liền có tỉnh, mới đến Kiến Ninh tái tham Diệu Dụng, hoát nhiên đại ngộ và nối pháp Ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sau đó, sư từng trụ điện Quán Âm ở Kính Sơn và chùa Kim Minh ở Gia Hưng xiển dương thiền phong. Tác phẩm: Giới Am Tiến Thiền Sư Ngữ Lục 10 quyển, Giới Am Hòa Thượng Nguyên Lưu Tụng. ● 遇 臻. Thiền tăng đời Tống, họ Dương, người xứ Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ núi Tề Vân, Vụ Châu (nay thuộc huyện Kim Hoa, Chiết Giang). Sư giỏi về thi ca, gặp việc là thành thơ, được hơn 300 bài truyền bá ở đời. Sư thị tịch trong khoảng niên hiệu Chí Đạo (995-997). ● 悟 修 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Minh Huệ đời Thanh. X. Minh Huệ. ● 悟 春 (1835-1895). Thiền tăng đời Thanh, họ Hàn, tự Lưu Trường, người xứ Giang Đô, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thiền Liễu ở Tiêu Sơn, đời thứ 46 hệ Thanh Nguyên. ● 呆 庵. Hiệu của Thiền tăng Phổ Trang đời Minh. X. Phổ Trang. ● 呆 庵 莊 禪 師 語 錄. Còn gọi: Kính Trung Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 8 quyển, do Kính Trung Phổ Trang soạn vào đời Minh, nhóm ông Huệ Khải… biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 3 (1630) đời Minh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 123, trang 965. Kính Trung Phổ Trang là đệ tử nối pháp của Liễu Đường Duy Nhất thuộc tông Lâm Tế, từng trụ trì: chùa Bắc Thiền tại Phủ Châu, Chân Như Thiền Tự núi Vân Cư Nam Khang tại Giang Tây, Vạn Thọ Thiền Tự Kính Sơn tại Hàng Châu để hoằng dương thiền pháp, tiếp hóa người học. Nội dung sách này gồm Ngữ Lục của sư khi ở 3 chùa kể trên, bao gồm các việc thượng đường, Tiểu tham, Niêm cổ, Tụng cổ, Kệ, Thi, Tán, Tháp minh. ● 禿 屢 生. Còn gọi: Ngốc Tử, Ngốc Nô. Này lão trọc. Lời quở mắng đối với tăng nhân. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “禿 屢 生。有 甚 死 急。披 他 師 子 皮。卻 作 野 干 鳴。 – Này lão trọc! Có việc gì mà vội vã thế? Mang hình tướng sư tử mà lại kêu tiếng của dã can. “ ● 言 端 語 端. Nghĩa là ngôn ngữ vẫn đúng, trực tiếp hiển hiện diệu lý chí đạo; đây là lời cảnh tỉnh dùng để chống lại những ai bài xích ngữ ngôn văn tự. Bởi Thiền Tông lấy “Bất lập văn tự, minh tâm kiến tính” làm tông phong, cho rằng giải bày bằng ngữ ngôn văn tự thì không đạt đến diệu lý chí đạo và không thể đến chỗ cứu cánh của bản nghĩa, nên có chủ trương hoàn toàn bài trừ ngôn ngữ văn tự. Nhưng nếu không phải căn cơ bậc thượng thì dễ sinh tà kiến hoặc tệ đoan, cho nên các thiền sư chính thống một mặt nhấn mạnh đến sự hữu hạn và chướng ngại của ngôn ngữ văn tự, một mặt cũng không bỏ ngôn ngữ văn tự, mượn nó để tiến hành tham tập, khai thị, khám nghiệm người học Thiền và khi cần thiết dùng Ngôn Đoan Ngữ Đoan để đánh thức kẻ “Dã hồ thiền” xưa nay chỉ biết bài xích ngữ ngôn văn tự, thực tế ngu tối vô tri, in tuồng phải mà chẳng phải. Tắc 2, Bích Nham Lục (Đại 48, 142 thượng) ghi: 至 道 無 難、言 端 語 端 一 有 多 種、二 無 兩 般 “Chí đạo vô nan Ngôn đoan ngữ đoan Nhất hữu đa chủng Nhị vô lưỡng ban”. “Chí đạo không khó Ngôn ngữ vẫn đúng Một có nhiều thứ Hai không hai loại”. ● 言 上 生 言、句 上 生 句. Xưa nay vốn có ngôn cú (công án cổ tắc) lại còn bình luận giải thích thêm nữa, hàm ý nghĩa vướng mắc trói buộc. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “若 向 言 上 生 言、句 上 生 句、意 上 生 意、作 解 作 會、不 唯 帶 累 老 僧、亦 乃 辜 負 雪 竇。 – Nếu nhằm trên lời sinh lời, trên câu sinh câu, trên ý sinh ý, giải thích tìm hiểu thì không những liên lụy lão tăng mà còn cô phụ cả Tuyết Đậu. “ ● 兀 庵 (1197-1276). Thiền tăng sống vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên, pháp danh Phổ Ninh, người xứ Tây Thục. Trung Quốc. Thuở bé xuất gia ở Tưởng Sơn, ban đầu học Duy Thức, sau du phương tham khắp các bậc lão túc chốn thiền lâm, nối pháp Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm, thuộc tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Sư Phạm viết 2 chữ “Ngột Am” để tặng sư nên sư lấy đó làm hiệu. Về sau, sư dời đến núi Linh ẩn, núi Thiên Đồng làm Đệ nhất tọa. Sau đến chùa Linh Nham ở Mông Sơn để hoằng pháp. Năm 1260, sư nhận lời mời sang Nhật Bản, đến chùa Thánh Phúc (Shōfuku Ji) ở Bác Đa để chỉnh lý thiền quy. Sư còn trụ trì chùa Kiến Trường (Kenchū Ji) ở Liêm Thương. Năm 1265 sư trở về nước theo đường biển, trụ chùa Song Lâm ở Vụ Châu. Thụy hiệu “Tông Giác Thiền Sư”. Tác phẩm: Ngữ Lục 3 quyển. ● 兀 庵 普 寧 禪 師 語 錄. Còn gọi: Tông Giác Thiền Sư Ngữ Lục, Ngột Am Ninh Hòa Thượng Ngữ Lục, Ngột Am Hòa Thượng Ngữ Lục, Ngột Am Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, do Ngột Am Phổ Ninh soạn vào đời Tống, nhóm ông Tịnh Thiều… biên tập, được ấn hành vào khoảng niên hiệu Hàm Thuần (1265-1274) đời Tống và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 123, trang 1. Nội dung thu thập các Ngữ Lục của Phổ Ninh khi ở: Linh Nham Quảng Phúc Thiền Viện tại Tượng Sơn phủ Khánh Nguyên, Kiến Trường Hưng Quốc Thiền Tự tại Cự Phúc Sơn và các pháp ngữ, Phật Tổ tán, Tiểu Phật sự… thu thập các pháp ngữ của sư khi ở: chùa Thánh Phúc, chùa Kiến Trường tại Nhật Bản. Sách này dùng làm tư liệu tham khảo để biết được mối quan hệ giữa thời kỳ Tống Nguyên Minh với Bắc Điều Thời Lại, chính quyền Thời Tông cho đến mối quan hệ giữa Thiền với các võ sĩ thời đại Liêm Thương. ● 愚 庵. Hiệu của thiền tăng Trí Cập đời Nguyên. X. Trí Cập. ● 五 葉. Năm cánh hoa, chỉ cho 5 phái của Thiền Tông: Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. Mật Am Ngữ Lục ghi: “五 葉 開 敷。千 燈 續 焰。 – Năm cánh hoa xòe nở, ngàn ngọn đèn mồi nhau”. ● 五 葉 花. Đóa hoa có 5 cánh, tỷ dụ cho thiền pháp do Bồ Đề Đạt Ma truyền đến cuối đời Đường sang đời Ngũ Đại thì xuất hiện 5 tông phái, khiến Thiền Tông tiến vào thời kỳ hưng thịnh. Đây là một cách nói khác của câu “Nhất hoa khai ngũ diệp” trong bài kệ phó pháp của Tổ Đạt Ma. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. thượng ghi: 共 唱 胡 笳 曲、分 開 五 葉 花 幸 逢 諸 道 友、同 上 白 牛 車 “Cộng xướng Hồ gia khúc Phân khai ngũ diệp hoa Hỷ phùng chư đạo hữu Đồng thượng bạch ngưu xa”. “Cùng thổi ống sáo Hồ Nở tung năm cánh hoa Vui gặp các bạn đạo Đồng cưỡi xe bạch ngưu”. ● 五 葉 千 燈. Ngũ diệp: Năm cánh, chỉ cho năm tông phái Thiền. Thiên đăng: Ngàn ngọn đèn, chỉ cho rất nhiều đệ tử của 5 tông phái. Cả câu có nghĩa là Thiền Tông phát triển, môn phong hưng thịnh. Bài thơ Tống Tôn Thị Giả trong Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: 如 斯 慷 慨 非 希 冀 浩 浩 清 風 無 處 避 天 上 天 下 知 不 知 五 葉 千 燈 復 何 啻 “Như tư khảng khái phi hy kí, Hạo hạo thanh phong vô xứ tỵ Thiên thượng thiên hạ tri bất tri Ngũ diệp thiên đăng phục hà xí?” “Khảng khái như thế, chẳng mong mỏi, Gió mát thênh thang không chỗ tránh, Mọi người trong nước có biết không, Há chỉ Thiền Tông mới phát triển?”. ● 五 臺 山. Núi nằm ở góc đông bắc huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Chu vi 250km do 5 ngọn núi bao vây mà thành. Năm ngọn núi cao vút, trên đỉnh bằng phẳng rộng rãi, giống như cái đài xếp trên đất nên gọi là Ngũ Đài. Năm ngọn của Ngũ Đài, mỗi ngọn đều có tên riêng: ngọn phía đông là Vọng Hải Phong; ngọn phía tây là Quải Nguyệt Phong; ngọn phía nam là Cẩm Tú Phong; ngọn phía bắc là Hiệp Đẩu Phong; ngọn ở giữa là Thúy Nham Phong. Ngọn phía bắc và ở giữa là cao nhất, độ cao 3058m so với mặt biển. Vào tháng nóng nhất mùa hạ, nơi đây khí hậu mát mẻ nên gọi là Thanh Lương Sơn. Trên núi có rất nhiều chùa miếu nằm chen lẫn trong non xanh nước biếc. Thời Bắc Ngụy đã có xây chùa Phật, đến thời Bắc Tề số lượng chùa phát triển có trên 200 ngôi. Từ niên hiệu Khai Nguyên (713-741) đời Đường về sau là thời kỳ Phật giáo phát triển cực thịnh, có trên 300 ngôi tự viện trong núi. Núi Ngũ Đài có các thiền tự như: Hiển Thông Tự, Tháp Viện Tự, Văn Thù Tự, La Hầu Tự. Có rất nhiều bậc cao tăng Thiền Tông đã từng hoạt động Phật sự tại núi này, như vào cuối đời Đường có thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm nổi tiếng đã 9 phen hành cước Ngũ Đài. ● 五 燈 會 元. Đăng Lục, 20 quyển, do Phổ Tế soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 138, trang 1. Ngũ đăng là: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Thiên Thánh Quảng Đăng Lục, Kiến Trung Tịnh Quốc Kế Đăng Lục, Liên Đăng Hội Yếu, Gia Thái Phổ Đăng Lục, mỗi bộ gồm 30 quyển, số lượng bề bộn, nhiều chỗ trùng lặp. Phổ Tế bỏ rườm rà lấy tinh giản, gom 5 bộ lại thành một nên gọi là Ngũ Đăng Hội Nguyên. Nguyên 5 bộ (Ngũ Đăng) gồm 150 quyển, trong khi “Ngũ Đăng Hội Nguyên” chỉ có 20 quyển, số quyển phần lớn được rút ngắn, nội dung thực tế chỉ giảm đi khoảng phân nửa. Ngũ Đăng vốn chỉ phân biệt 2 hệ phái lớn là Nam Nhạc và Thanh Nguyên, từ đó trở xuống không chia tông lập phái nữa. Nhưng thế hệ càng lâu xa thì chi phái càng nhiều thêm, pháp tự rải rác, rất khó nắm được tất cả, nên tác giả cùng với việc rút gọn đã chỉnh lại đầu mối, dưới hệ chia tông, dưới tông chia phái, tương đối tập trung, sắp xếp có thứ tự, mạch lạc lớp lang rất tiện cho người đọc. Hơn nữa sách được trình bày sáng sủa dễ tra cứu. Về chiều rộng thời gian của nội dung sách này gồm thời kỳ phát triển Thiền Tông Trung Quốc từ sơ kỳ đến lúc cực thịnh và cũng phản ánh chỗ dần dần tiến đến suy vi. Lấy việc ghi chép pháp ngữ của thiền sư làm chính, tinh hoa thiền ngữ phần lớn được thu vào sách này. Ngôn ngữ trong sách thông suốt tự nhiên, tươi tắn hoạt bát, đơn giản cô đọng. Công án, Ngữ Lục tràn đầy thú vị khiến cho kẻ tăng người tục đều thích đọc. Thế nên từ đời Nguyên, Minh cho đến nay giới trí thức yêu thích thiền học, không ai không có sách này, cũng là phương tiện thẳng tắt giúp cho tăng chúng tham thiền được ngộ. Do vì bị lược bỏ khá nhiều nên tài liệu được trích dẫn chẳng đầy đủ như sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, đó là khuyết điểm của sách này. Sách được Tô Uyên Lôi hiệu đính, Trung Hoa Thư Cục xuất bản vào năm 1984. ● 五 燈 會 元 續 略. Gọi tắt: Ngũ Đăng Tục Lược. Đăng Lục, 4 quyển, có riêng 1 quyển thủ, do Viễn Môn Phổ Trụ biên soạn vào đời Minh, được biên tập xong vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 17 (1644) đời Minh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 138, trang 833. Sách này thu thập Ngữ Lục của các bậc Đại đức, Cao tăng Thiền Tông kể từ bộ “Ngũ Đăng Hội Nguyên” về sau. Tác giả là người nối pháp của Thạch Vũ Minh Phương, thuộc tông Tào Động. Xem lời tựa và phần phàm lệ chúng ta có thể biết được sách này biên soạn nhằm xác định hệ phổ của tông Tào Động trải qua 3 triều đại Tống, Nguyên, Minh. Nội dung bao gồm lược truyện của hơn 400 vị thiền tăng chia ra như sau: ― Đời thứ 15 đến đời thứ 36 thuộc tông Tào Động hệ Thanh Nguyên. ― Đời thứ 16 đến đời thứ 34 thuộc tông Lâm Tế hệ Nam Nhạc. Trong ấy, thiền tăng thuộc tông Lâm Tế chiếm đa số. Sách này là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về sự phát triển Thiền Tông. ● 五 燈 嚴 統. Đăng Lục, 25 quyển, có riêng 2 quyển mục lục, do Phí ẩn Thông Dung và Bách Si Nguyện Công cùng soạn vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 139, trang 80. Tác giả vì muốn sửa lại những sai lầm của bộ “Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược”, nên hiệu đính kỹ lưỡng khiến cho đạo thống được truyền thừa từ trước không có tạp loạn nên sách này được gọi là “Ngũ Đăng Nghiêm Thống”. Toàn sách thu thập sự truyền thừa của: Bảy đức Phật đời quá khứ, Tổ sư Ma Ha Ca Diếp đến vị Tổ thứ 27 ở ấn Độ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến vị thứ 6 ở Trung Hoa, Pháp hệ truyền đăng dưới ngài Nam Nhạc và Thanh Nguyên, đem Thiên Hoàng Đạo Ngộ xếp vào hệ Thanh Nguyên, lượt bỏ cơ ngữ 18 đời dưới hệ Thanh Nguyên đã được ghi trong “Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược”. ● 五 燈 嚴 統 解 惑 扁. Sách, 1 quyển, do Phí ẩn Thông Dung soạn vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) đời Thanh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 139, trang 1044. Các thiền sư của tông Tào Động viết những bài văn như: Minh Tông Chính Ngụy, Trích khi thuyết, Tịch liêu thuyết cho rằng trong quyển “Ngũ Đăng Nghiêm Thống” của Thông Dung soạn, đem Thiên Vương Đạo Ngộ quy về pháp hệ Nam Nhạc là sai lầm và khuyên nên sửa đổi. Bởi lý do đó, Thông Dung soạn “Giải Hoặc Thiên” để phản bác lại, có kèm phụ lục lời đáp của Thông Dung về những lời phê bình sư hoặc những lời thẳng thắn khuyên sư. ● 五 燈 全 書. Đăng Lục, 120 quyển, có riêng 16 quyển mục lục, do Siêu Vĩnh soạn vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 36 (1697) và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 140, trang 151. Từ trong các bộ Truyền Đăng Lục như: Ngũ Đăng Hội Nguyên v. v.. Siêu Vĩnh trích ra những vị quan trọng và thêm phần sửa chữa lại. Ông còn đích thân đến các địa phương sưu tập tư liệu, trước sau bỏ ra hơn 30 năm mới biên thành sách này. Ngoài bảy đức Phật, các vị Tổ ấn Độ Trung Hoa ra, nội dung sách này gồm các vị Tổ sư, Kỳ túc, Cư sĩ của “Ngũ Đăng Hội Nguyên” trở về sau, không kể là hệ phái chính hay phụ, các Ngữ Lục và truyện ký của họ đều được gom chép, tính ra có trên 7. 000 vị, được khen là một bộ sưu tập Truyền Đăng Lục hoàn mỹ. Quyển thủ có lời tựa, tấu sớ, phàm lệ v. v.. Trong sách có một số ít thiền tăng bị trùng lặp. ● 五 家 辯. Sách, 1 quyển, do Hổ Quan Sư Luyện (vị tăng tông Lâm Tế Nhật Bản) soạn. Nội dung sách này nhằm trình bày hệ thống pháp mạch Ngũ gia của Thiền Tông Trung Quốc, giải thích về lai lịch của Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn và các tông Vân Môn, Pháp Nhãn thuộc hệ Thanh Nguyên đều xuất phát từ cửa của Mã Tổ Đạo Nhất (hệ Nam Nhạc), Thiền Sư Dược Sơn Duy Nghiễm và pháp hệ đời sau của ngài là tông Tào Động cũng thuộc về Mã Tổ Đạo Nhất. Ngũ gia (năm nhà) của Thiền Tông đều thuộc pháp hệ của Mã Tổ Đạo Nhất, đến nỗi các pháp hệ đời sau của Thanh Nguyên Hành Tư chẳng còn ai cả. ● 五 家 辯 正. Sách, 1 quyển, do Đức Nghiêm Dưỡng Tồn (vị tăng Nhật Bản) soạn, là tác phẩm trình bày về hệ thống Thiền Tông Trung Quốc, được ấn hành vào khoảng niên hiệu Nguyên Lộc (1688-1703) triều vua Đông Sơn Nhật Bản, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh 147, trang 691. Do các vị như: Hổ Quan Sư Luyện cho rằng 5 tông phái: Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn đều thuộc một pháp hệ của Mã Tổ Đạo Nhất, thuyết này trải qua vài trăm năm đến nay vẫn còn ảnh hưởng. Dưỡng Tồn rất hoài nghi lập luận này nên chịu khó tìm cho ra lẽ. Đến khi gặp quyển “Pháp Môn Sừ Quỹ” của Bạch Nham Tịnh Phù soạn vào đời Thanh truyền vào Nhật Bản, đủ để sửa lại những ngộ nhận của Hổ Quan Sư Luyện, Dưỡng Tồn liền soạn sách này và phụ lục “Pháp Môn Sừ Quỹ” phía sau. ● 五 家 正 宗 贊. Còn gọi: Chính Tông Tán. Sách, 4 quyển, do Hy Tẩu Thiệu Đàm soạn vào đời Tống, được ấn hành vào niên hiệu Bảo Hựu thứ 2 (1254) đời Tống, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 135, trang 903. Nội dung gồm có lược truyện của chư Tổ từ Bồ Đề Đạt Ma đến Tuyết Phong Nghĩa Tồn cho đến hơn 70 vị kỳ túc của 5 tông phái Thiền (Thiền Tông ngũ gia). Sau mỗi truyện đều có phụ 1 bài tán làm theo thể đối ngẫu tứ lục để miêu tả hình dáng và tác lược của thiền sư. ● 五 家 語 錄. Còn gọi: Ngũ Tông Lục. Ngữ Lục, 5 quyển, do Quách Ngưng Chi soạn vào đời Minh. Nội dung thu thập 7 loại Ngữ Lục của 5 tông phái Thiền (Thiền Tông ngũ gia): 1. Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục, 1 quyển của tông Lâm Tế. 2. Đàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục, 1 quyển của tông Quy Ngưỡng. 3. Viên Châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển của tông Quy Ngưỡng. 4. Thụy Châu Động Sơn Lương Giới Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển của tông Tào Động. 5. Phủ Châu Tào Sơn Bản Tịch Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển của tông Tào Động. 6. Vân Môn Khuông Chân Thiền Sư Quảng Lục 1 quyển của tông Vân Môn. 7. Kim Lăng Thanh Lương Viện Văn Ích Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển của tông Pháp Nhãn. Ngoài 2 quyển Ngữ Lục của tông Lâm Tế và Vân Môn, 5 quyển Ngữ Lục còn lại đều mới được biên tập lần đầu. ● 五 家 參 詳 要 路 門. Sách, 5 quyển, do Đông Linh Viên Từ (vị tăng Nhật Bản) soạn, được ấn hành vào niên hiệu Thiên Minh thứ 8 (1788) Nhật Bản, sau đó được xếp vào Đại Chính Tạng tập 81. Tác giả cho rằng Tông phong của 5 tông phái Thiền (Thiền Tông ngũ gia) tuy khác nhau, nhưng đều lấy việc tham cứu cho thấu suốt lẽ sinh tử làm chính, chỉ sai khác ở nơi yếu môn mà thôi. Nhân đây tác giả thu thập những điểm đặc sắc về môn phong của 5 tông phái để soạn thành sách này. Nội dung bàn về chỗ thân sơ: ― “Cơ phong pháp chiến” của tông Lâm Tế. ― “Chọn lựa lời nói” của tông Vân Môn. ― “Tham cứu tâm địa” của tông Tào Động. ― “Tiên lợi tế” của tông Pháp Nhãn. ― “Minh tác dụng” của tông Quy Ngưỡng và tìm hiểu tỉ mỉ về hành tích cùng Ngữ Lục của mỗi Tổ sư. Phụ lục: Thị chúng vào ngày mồng 8 tháng chạp, Khán kinh bảng. ● 五 家 宗 旨 纂 要. Còn gọi: Tam Sơn Lai Thiền Sư Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu. Sách, 3 quyển, do Tam Sơn Đăng Lai soạn vào đời Thanh, Tính Thống biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 507. Toàn sách trình bày về pháp môn quan trọng và tông phong đặc biệt của 5 tông phái Thiền (Thiền Tông ngũ gia), đặt nặng ở tông Lâm Tế và tông Tào Động. Còn phụ lục thuyết Tam thân tứ trí, niêm bình về Bát thức. Chỗ trình bày về tông phong của các nhà như sau: ― Toàn cơ đại dụng của tông Lâm Tế. ―Chính thiên tương tưcủa tông Tào Động. ― Sư tư xướng họa của tông Quy Ngưỡng. ― Xuất ngữ cao cổ của tông Vân Môn. ― Kiến sắc minh tâm của tông Pháp Nhãn. ― Các pháp môn (Phương pháp tu thiền) của các nhà như sau: ― Tứ tân chủ, Tứ liệu giản, Tam huyền tam yếu của tông Lâm Tế. ― Chính thiên ngũ vị, Tứ tân chủ của tông Tào Động. Dưới mỗi pháp môn, tác giả đều có lược giải và kèm theo bài tụng. Sách này giúp cho người mới học hiểu được pháp yếu của thiền môn, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 42 (1703) đời Thanh. ● 五 派 一 滴 圖. Sách, 1 quyển, do Nhật Am Nhất Đông (vị thiền tăng Nhật Bản) soạn, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 697. Từ đời Tống trở đi có thuyết về nguồn gốc và sự phát triển việc truyền thừa 5 tông phái Thiền (Thiền Tông ngũ gia) của các vị: Đạt Quan Đàm Dĩnh, Giác Phạm Huệ Hồng, Mộng Đường Giác v. v… Nhưng Hổ Quan Sư Luyện là 1 vị thiền tăng Nhật Bản, không đồng với các ý kiến trên, viết 1 quyển “Ngũ Gia Biện”, chủ trương rằng 5 tông đều thuộc về 1 hệ phái của Mã Tổ. Vì thế, Nhất Đông liệt kê Cảnh Đức Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên, “Trùng Hiệu Ngũ Gia Tông Phái Tự” của Mộng Đường, “Ngũ Gia Biện” của Hổ Quan Sư Luyện, rồi so sánh những điểm dị đồng, cuối cùng kết luận rằng thuyết của Hổ Quan là rất chính xác. ● 五 福 寺 塔. Còn gọi: Văn Phong Tháp. Nằm trong khuôn viên Văn Phong Thiền Viện, đường Văn Phong, thành phố Nam Thông, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Xây dựng vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 46 (1618) đời Minh, khoảng niên hiệu Gia Khánh (1796-1820) đời Thanh trùng tu. Tháp kết cấu bằng gạch gỗ, 5 tầng, hình bát giác theo kiểu lâu các. Thân tháp xây gạch, mái tháp, tòa bằng, lan can làm bằng gỗ. Cửa tháp mỗi tầng có 4 cái giả thật đan xen trên dưới. Đỉnh tháp hình bát giác nhọn đầu, tháp sát nhỏ dài, trên chiếc bát úp là tướng luân 7 lớp. Tháp cao 39m, mái vươn ra khá dài, góc mái vểnh ngược lên trời, cổ xưa thuần phác ưu mỹ, đây là một tòa tháp kiểu lâu các bằng gạch gỗ điển hình ở Giang Nam đời Minh. Bởi trên tháp sát trang sức 5 con dơi lớn, nên mọi người quen gọi thiền viện là “Ngũ Phúc Tự”, gọi tháp là “Ngũ Phúc Tự Tháp”. ● 五 山 十 剎. Còn gọi: Ngũ Nhạc Thập Sát. Năm ngôi chùa bậc nhất và 10 ngôi chùa bậc nhì thuộc Thiền Tông trong các ngôi chùa Sắc tứ ở Trung Quốc và Nhật Bản. 1. Trung Quốc: Vua Tống Ninh Tông chế định như sau: Ngũ sơn (Năm chùa đều thuộc tỉnh Chiết Giang): ― Hưng Thánh Vạn Thọ. ― Cảnh Phúc Linh ẩn. ― Tịnh Từ. ― Cảnh Đức. ― Quảng Lợi. Thập sát (Mười chùa): ― Thiên Ninh Vạn Thọ Vĩnh Tộ, Chiết Giang. ― Hộ Thánh Vạn Thọ, Chiết Giang. ― Thái Bình Hưng Quốc, Giang Tô. ― Báo Ân Quang Hiếu, Giang Tô. ― Tư Thánh, Chiết Giang. ― Long Tường, Chiết Giang. ― Sùng Thánh, Phúc Kiến. ― Bảo Lâm, Chiết Giang. ― Vân Nham, Giang Tô. ― Quốc Thanh, Chiết Giang 2. Nhật Bản: Gồm hai loại: Ngũ sơn thập sát ở Kinh đô (Kyōto) và Liêm Thương (Kamakura). a. Kinh đô: Ngũ Sơn: Thiên Long, Tướng Quốc, Kiến Nhân, Đông Phúc, Vạn Thọ. Thập sát (Mười chùa): Đẳng Trì, Lâm Xuyên, Chân Như, An Quốc, Bảo Tràng, Phổ Môn, Quảng Giác, Diện Quang, Đại Đức, Long Tường. b. Liêm Thương: Ngũ sơn: Kiến Trường, Viên Giác, Thọ Phúc, Tịnh Trí, Tịnh Diệu. Thập sát: Thiền Hưng, Thụy Tuyền, Đông Thắng, Vạn Thọ, Đông Tiệm, Vạn Phúc, Thái Khánh, Hưng Thánh, Pháp Tuyền, Trường Lạc. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 五 祖 山. Còn gọi: Phùng Mậu Sơn, Đông Sơn. Núi nằm ở phía đông bắc huyện Huỳnh Mai tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, vì Ngũ tổ Hoằng Nhẫn hoằng dương Thiền Tông ở núi này nên mới có tên như thế. Sau khi Hoằng Nhẫn thị tịch, Thần Tú còn ở núi này mai táng di hài của ngài. Về sau, các vị: Sư Giới, Tú Thiền Sư, Pháp Diễn nối tiếp thuyết pháp ở núi này. Trong số đó, Pháp Diễn đã lập một đại tòng lâm tại núi Ngũ Tổ và phát triển mạnh môn phong Dương Kỳ thuộc tông Lâm Tế, môn đồ rất đông. Lưng chừng núi có chùa Chân Huệ do Ngũ tổ Hoằng Nhẫn sáng lập. ● 五 宗. Còn gọi: Ngũ gia. Năm tông. Chỉ năm tông phái Thiền Tông Trung Quốc, đó là: Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn. Môn phong của năm tông đều có sắc thái đặc biệt, truyền thừa tự thành hệ thống. Việc sáng lập trước sau vào khoảng nửa cuối đời Đường đến đời Ngũ Đại, trong đó ba tông: Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn và Vân Môn đến thời đại Tống – Nguyên thì sự kế thừa dứt mất, hai tông Lâm Tế và Tào Động thì kéo dài mãi đến ngày nay. Phần “Tông Thừa Yếu Nghĩa” trong DTNL q. 9 ghi: “且 達 磨 所 傳 單 單 只 是 以 心 印 心 一 法 耳、後 來 流 布 既 廣、支 爲 五 宗、而 宗 各 有 旨。 – Nhưng điều mà Đạt Ma truyền, vẻn vẹn chỉ là một pháp lấy tâm ấn tâm mà thôi. Sau đó sự truyền bá được rộng rãi mới có chi nhánh là năm tông, và mỗi tông đều có đường lối và mục đích của nó. “ Phần “Tông Thừa Yếu Nghĩa” trong DTNL q. 9 ghi: “如 上 五 家 拈 弄 底、皆 略 舉 其 一 端、用 有 萬 殊、體 無 二 致。恁 麼 見 得、便 見 一 切 異 同 之 法、一 切 死 活 之 機、到 你 透 脫 分 上、事 同 一 家、見 一 絲 毫 差 別、了 不 可 得。 – Đưa ra nhận xét về những điều tóm tắt quan trọng của Năm tông như trên đều là lược nêu một vài phương diện. Nơi dụng thì có muôn vàn sai khác nhưng thể thì không hai mối. Thấy được như thế liền biết tất cả pháp đồng dị, tất cả cơ chết sống, cho đến chỗ các ông thông suốt, đều thờ một nhà, dù tìm mảy may sai biệt cũng không thể có. “ ● 宗 原. Luận nghị, 1 quyển, do Hán Nguyệt Pháp Tạng soạn vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 1(1628) đời Minh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 201. Pháp Tạng phản đối lại tăng nhân tông Tào Động, mạt sát tông chỉ 5 tông phái Thiền, chủ trương chỉ có 1 việc Đức Thích Ca giơ cành hoa truyền riêng thiền pháp cho Ca Diếp, nên phê bình việc thầm trao trong thất là pháp chết (tử pháp). Ông còn nói quá rằng: Từ Phật Oai Âm Vương về sau, không có 1 lời pháp nào mà chẳng phải là dấu ấn của Ngũ gia tông chỉ. Vì để sửa lại những sai lầm của tăng nhân tông Tào Động mà sư làm ra sách này. Sau khi sách này viết xong, pháp đệ của sư là Mộc Trần Đạo Mân viết quyển “Ngũ Tông Tịch” quở trách sư. Đệ tử của sư là Đàm Kiết Hoằng Nhẫn lại soạn “Ngũ Tông Cứu” để chê trách Mộc Trần, hết sức biện hộ cho Thầy mình. Thầy của Hán Nguyệt là Mật Vân Viên Ngộ chê sư là “Đứa học trò theo danh lợi” nên soạn bộ “Tịch Vọng Cứu Lược Thuyết” gồm 10 quyển. Vua Ung Chính đời Thanh cũng soạn “Giản Ma Biện Dị Lục” để bác “Ngũ Tông Cứu” của Đàm Kiết. Thế là, Ngũ Tông Nguyên trở thành quyển sách gây ra việc tranh luận trong chốn thiền môn, do đây chúng ta có thể thấy một mảng nhỏ thiền phong của đời Minh. Nội dung sách này gồm 8 chương: Lâm Tế tông, hai dòng hợp thành một tông đến nay là có căn cứ, Vân Môn tông, Quy Ngưỡng tông, Pháp Nhãn tông, Tào Động tông, Tổng pháp, Truyền y pháp chú và phụ lục phần Tụng ngữ. ● 五 位 君 臣. Thiền pháp được trình bày thành hệ thống và cũng là phương pháp đặc biệt để tiếp dẫn người học của tông Tào Động, do 2 vị Tổ là Lương Giới và Bản Tịch chế ra. Tổ sư phối hợp Quân vị (Chính vị) và Thần vị (Thiên vị) thành 5 vị để giải thích sự nhận thức về thiền pháp và tình huống tham thiền. Theo lời nói đầu của Tào Sơn Bản Tịch trong Ngũ Vị Quân Thần trong sách Nhân Thiên Nhãn Mục q. 3 thì 5 thứ tình huống này là: 1. Quân (vua) là Chính vị, thuộc Không giới, xưa nay không một vật; 2. Thần (tôi) là Thiên vị, thuộc sắc giới, có muôn hình tượng; 3. Thần hướng quân (bầy tôi theo vua) là Thiên trung chính, bỏ sự vào lý; 4. Quân thị thần (vua xem lấy bầy tôi) là Chính trung thiên (còn gọi Chính trung lai), trái lý theo sự; 5. Quân thần đạo hợp (vua tôi hợp nhau), là kiêm đới ngữ, thầm ứng các duyên, không phi nhiễm phi tịnh, phi chính phi thiên, hết sức huyền diệu. Cùng trong quyển sách này còn có Ngũ vị công huân đồ (biểu đồ về năm vị công huân). Thuật ngữ trong ấy sử dụng hơi có chỗ khác nhau. Đó là: 1. Chính trung thiên là địa vị Vua. 2. Thiên trung chính là địa vị bầy tôi. 3. Chính trung lai là Vua xem thấy bầy tôi. 4. Kiêm trung chí là bầy tôi theo Vua. 5. Kiêm trung đáo là Vua tôi hợp nhau. Bộ thuật ngữ này cùng với Ngũ Vị Quân Thần Tụng của Động Sơn Lương Giới ghi trong Ngũ Đăng Hội Nguyên q. 13 hợp nhau, có thay đổi chút ít, ý tứ đại khái giống nhau. Ngũ Vị Quân Thần là công án nổi tiếng, trong thiền lâm thường niêm đề. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “三 玄 三 要、五 位 君 臣、四 種 藏 鋒、八 方 珠 玉、三 十 年 前、爭 頭 竟 實、各 逞 機 鋒。如 今 道 泰 升 平、返 朴 還淳、人 人 自 有。 – Tam huyền tam yếu (Ba huyền ba yếu, Ngũ Vị Quân Thần (Năm vị vua tôi), Tứ chủng tạng phong (Bốn thứ tạng phong), Bát phương châu ngọc (Tám hướng châu ngọc), 30 năm trước mỗi vị tranh nhau thi triển cơ phong mà nay nói thái bình tức là mỗi người trở về nguồn của chính mình vậy”. ● 五 味 禪. Thiền pháp theo thứ bậc từ cạn đến sâu, gồm có 5 loại: Thiền ngoại đạo, Thiền phàm phu, Thiền Tiểu thừa, Thiền Đại thừa, Thiền Tối thượng thừa. Tiết Quy Tông Trí Thường Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “僧 辭、師 問:甚 麼 處 去?曰:諸 方 學 五 味 禪 去。師 曰:諸 方 有 五 味 禪、我 這 裡 秖 有 一 味 禪。 – Tăng từ biệt, Sư hỏi: Đi đâu? Tăng thưa: Đi đến các nơi học ngũ vị thiền. Sư bảo: Các nơi có ngũ vị thiền, ta ở đây chỉ có nhất vị thiền”. ● 元 安 (834-898). Thiền tăng đời Đường, họ Đàm, người xứ Lân Du (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc. Năm 20 tuổi sư xuất gia ở chùa Hoài Ân, thụ giới cụ túc và thông hiểu kinh luận, hỏi đạo ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền và làm thị giả Ngài. Về sau tham Giáp Sơn Thiện Hội, dưới lời nói liền tin phục Ngài, nương ở giáp năm, ngộ được tâm yếu. Sư dời đến núi Lạc Phố, Lễ Châu rồi dời đến Tô Khê (nay thuộc Hà Nam), tiếp hóa tăng chúng bốn phương, thù đáp thỉnh ích. Lời nói hoa mỹ, có rất nhiều câu nói cảnh sách được lưu truyền rộng rãi. Có công án “Lúc lâm chung tiếp hóa Thượng tọa Ngạn Tùng” rất nổi tiếng. ● 元 鏡 (1577-1630). Thiền tăng đời Minh, họ Mã, tự Hối Đài, hiệu Kiến Như, Trạm Linh, người xứ Kiến Dương (nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 1064, sư cạo tóc làm tăng, đọc kinh Lăng Nghiêm có sở đắc nên đến chùa Thọ Xương yết kiến ngài Huệ Kinh, phấn chí tham cứu. Một hôm, sư đọc Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh hoát nhiên đại ngộ, đọc lại Kinh Viên Giác nghi tình hết sạch. Sư từng trụ chùa Đông Uyển núi Vũ Di. Năm 1620, sư khai pháp ở Nhất Chi Am, rồi quay về ẩn nơi hang Thạch Bình, núi Vũ Di. Tác phẩm: Phác Viên Tập, Ngữ Lục, mỗi thứ 1 quyển. ● 元 眞 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Linh Siêu, đờiĐường. X. Linh Siêu. ● 原 妙 (1238-1295). Thiền tăng sống vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên, họ Từ, tự Cao Phong, người xứ Ngô Giang Tô Châu (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. 15 tuổi xuất gia, 17 tuổi thụ giới cụ túc, 18 tuổi học giáo Thiên Thai được ý chỉ. Sư mộ thiền pháp, tham vấn ngài Đoạn Kiều Diệu Luân, sau yết kiến Tuyết Nham Tổ Khâm và được ngài truyền tâm ấn. Năm 1269, khi bạn đồng tham chợt đẩy cái gối rơi xuống đất, sư nghe tiếng động này mà triệt ngộ. Năm 1279, sư dựng một thất nhỏ ở hang Sư Tử núi Thiên Mục đề tên là “Tử Quan”, trong 15 năm không bước ra khỏi cửa, tiếng tăm vang xa, số người tham học và tăng tục đến thụ giới đông đến vạn người. Thụy hiệu “Phổ Minh Quảng Tế Thiền Sư”. Tác phẩm: Cao Phong Diệu Thiền Sư Ngữ Lục, Cao Phong Hòa Thượng Thiền Yếu. ● 元 賢 (1578-1657). Thiền tăng đời Minh, họ Thái, tự Vĩnh Giác, người xứ Kiến Dương, Phúc Kiến, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Huệ Kinh chùa Đổng Nham, đời thứ 32 hệ Thanh Nguyên. Trước trụ chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn, sau trụ chùa Khai Nguyên ở Tuyền Châu. Tác phẩm: Bổ Đăng, Kế Đăng, Thiền Dư, Nguyên Hiền Quảng Lục. ● 元 晦 (1292-1372). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Vô ẩn Nguyên Hối, vào niên hiệu Chí Đại thứ 3 (1310) sư sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Đắc pháp nơi Thiền Sư Minh Bản, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, đời thứ 7 tông Lâm Tế Nhật Bản. Lần lượt trụ các chùa Thánh Phúc, Viên Giác, Kiến Trường. ● 元 珪 (644-716). Thiền tăng Bắc Tông sống vào đời Đường, họ Lý, người xứ Y Khuyết (nay là huyện Y Xuyên, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Xuất gia từ thuở bé, đến năm 683 Sư thụ giới cụ túc, đến chùa Nhàn Cư ở Tung Sơn nghiên cứu giới luật. Sau đó tham yết Quốc sư Huệ An, đốn ngộ huyền chỉ, rồi dời đến Bàng ổ. Cuộc đời giáo hóa của Sư từng gặp phải vài việc lạ như: thần nhân xin quy y thụ giới, giúp sư sửa chùa khiến sư càng thêm nổi tiếng. ● 元 來 (1575-1630). Thiền tăng đời Minh, họ Sa, tự Đại Nghĩ, hiệu Vô Dị, người đời gọi là “Bác Sơn Thiền Sư”, người xứ Thơ Thành (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc. Thuở bé học Nho, giỏi văn chương, đến Nga Hồ yết kiến Thiền Sư Huệ Kinh. Một hôm, sư đi cầu xí thấy người leo cây bèn ngộ chí đạo, đối đáp không trệ ngại, được truyền tâm ấn và nối pháp Huệ Kinh, thuộc tông Tào Động. Năm 1602, sư ra hoằng pháp trụ Bác Sơn, từng trụ các chùa: Đổng Nham, Đại Ngưỡng, Ngọc Cổ Sơn, Thiên Giới. Tác phẩm: Quảng Lục 35 quyển, Tập Yếu 1 quyển, Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ 2 quyển. ● 元 謐 (1579-1649). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Hồ, tự Nhiên, Kiến Như, người xứ Nam Thành (nay thuộc tỉnh Giang Nam) Trung Quốc. Năm 21 tuổi theo cha đến chùa Bảo Phương yết kiến ngài Huệ Kinh, xin xuất gia nhưng cha chẳng cho, liền nương với Thiền Sư Kim Sơn xuất gia. Năm kế trở về yết kiến Huệ Kinh được ngài bảo làm Hỏa đầu. Một hôm đẩy cối xay bị trượt tay, sư có chỗ tỉnh ngộ. Về sau, sư vào ngọn Kim Lâu, nghe ếch kêu liền triệt ngộ. Sau khi Huệ Kinh tịch, sư kế tiếp trụ trì chùa Thọ Xương. Tác phẩm: Chỉ Cứ Tập. ● 元 光 (1290-1367). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Tịch Thất Nguyên Quang, họ Đằng Thị. Vào niên hịệu Diên Hựu thú 7 (1320) sư sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Cổ Mai Chính Hữu, đời thứ 25 hệ Nam Nhạc, đời thứ 8 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Vĩnh Nguyên. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 元 龜. Con rùa lớn. Ngày xưa thường dùng mai rùa để bói việc cát hung. ở đây chỉ cho khuôn phép muôn đời vậy. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 1 (Đại 48, 1021 thượng) ghi: “善 惡 同 類 端 如 貫 珠。興 廢 象 行 明 若 觀 日。斯 歷 代 之 元 龜 也。 – Thiện ác cùng một loại, chính xác như xâu hạt chuỗi. Thịnh suy theo phép tắc tuần hành, tỏ rõ như xem mặt trời vậy. Đó là khuôn phép muôn đời mà người làm Trụ trì cần phải biết”. ● 元 崇 (713-777). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người xứ Lâm Chiết (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc. Sư mồ côi từ bé. Năm 15 tuổi làm đạo sĩ, sau đó trở về với đạo Phật. Năm 741, sư theo Thiền Sư Toàn ở chùa Ngõa Quan thưa hỏi về tâm yếu. Năm 757, du lịch các danh thắng trong nước. Sư kết bạn với Vương Duy, Tiêu Hân, suốt ngày bàn luận cao xa, việc gì khó và sâu kín cũng tìm ra mà chẳng biết mệt mỏi. Về già sư ẩn núi Chung Nam, Kim Lăng (nay là Nam Kinh) hơn 20 năm rồi thị tịch. ● 元 濟 (1620-1707). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, tự Thạch Đào, hiệu Hạt Tôn Giả, Khổ Qua Hòa Thượng, con của Vân Sở Vương hoặc Tịnh Giang Vương đời Minh, người xứ Tịnh Giang, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Bản Nguyệt, đời thứ 37 hệ Nam Nhạc. Trụ trì Đại Địch Đường ở Dương Châu. Tác phẩm: Khổ Qua Hòa Thượng họa Ngữ Lục ● 元 紹 (1631-1721). Thiền tăng đời Minh, họ Tạ, hiệu Hạnh Đoan, người xứ Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thông Hiền, đời thứ 36 hệ Nam Nhạc, Sơ Tổ phái Thiền Nguyên Thiều Việt Nam. Vào niên hiệu Khang Hy thứ 4 sư theo thuyền buôn đến vùng Quy Ninh, tỉnh Bình Định, Trung bộ Việt Nam. Tại đây sư sáng lập Phật Học Viện, xây cất chùa Di Đà Thập Tháp, sau đó lần lượt cất chùa Hà Trung ở Thừa Thiên, chùa Quốc Ân ở Thuận Hóa. Sư trụ trì chùa Hà Trung. Triều Lê Việt Nam ban thụy là Hạnh Đoan Đại Sư. ● 元 聰 (1136-1209). Thiền Tông đời Nam Tống, họ Chu, tự Phật Trí, người xứ Trường Lạc, Phúc Kiến, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Phúc Nham Văn Diễn, đời thứ 17 hệ Nam Nhạc. Trụ trì Mông Am Kính Sơn, Hàng Châu. ● 元 靜 (1065-1135). Thiền tăng đời Tống. Về già đổi tên là Đạo Hưng, họ Triệu, tự Nam Đường, người xứ Lãng Châu (nay là huyện Lang Trung tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư bác thông Kinh truyện, giỏi văn chương. Xuất gia năm 23 tuổi, nối pháp Thiền Sư Ngũ Tổ Pháp Diễn, thuộc tông Lâm Tế, phái Dương Kỳ. Sư khai sáng viện Nam Đường ở núi Đại Tùy, Bành Châu (nay là huyện Bành, tỉnh Tứ Xuyên) nên được người đời gọi là “Nam Đường Nguyên Tĩnh”. Sư từng trụ các chùa Chiếu Giác, Năng Nhân. Bậc thức giả cho rằng Nguyên Tĩnh truyền đạo pháp Đông Sơn sâu sắc và rõ ràng. ● 元 瀞 (1312-1378). Thiền tăng đời cuối Nguyên đầu Minh, họ Nghê, tự là Thiên Cảnh, Thiên Giác, hiệu là Phác ẩn, Cối Kê Sơn Tiêu, người Cối Kê (Thiệu Hưng, Chiết Giang). Thuở nhỏ xuất gia tại chùa Đại Báo Ân, lại đến chùa Tập Khánh ở Hổ Lâm theo Pháp sư Thiên Ngạn Tế tu tập giáo nghĩa Thiên Thai. Niên hiệu Chí Chính thứ 4 (1338) đời Nguyên, đến Kính Sơn tham vấn Nguyên Tẩu Đoan Công, sư vừa vào cửa, Nguyên Tẩu hét một tiếng, Nguyên Tịnh nghe như tiếng sấm nổ hoát nhiên khai ngộ liền cúi đầu làm lễ. Lại hỏi ba bốn chuyển ngữ đều rất hợp ý Nguyên Tẩu liền thâu làm đệ tử, sai giữ chức ký thất. Niên hiệu Chí Chính thứ 16 (1356) sư trụ trì chùa Trường Khánh ở Hội Kê, người hỏi đạo bốn phương nghe tiếng tìm đến. Niên hiệu Hồng Võ thứ 1 (1368) đời Minh theo chiếu vua sư đến Nam Kinh. Năm thứ 9 (1376) sư trụ trì chùa Linh ẩn ở Hàng Châu. Về sau sư tịch tại chùa Ninh Quốc. Tác phẩm: Phác Viên Tập, Tam Hội Ngữ Lục. ● 原 肇. Thiền tăng đời Tống, họ Phan, hiệu Hoài Hải, người Tĩnh Hải, Thông Châu (nay là Nam Thông, Giang Tô) Trung Quốc. Sư nối pháp ngài Chiết Ông Như Diễm, làm truyền nhân tông Lâm Tế, trụ trì các chùa: Báo Ân Quang Hiếu Thiền tự ở Thông Châu, Thanh Nguyên Quảng Huệ Thiền tự, Vạn Niên Báo Ân Quang Hiếu Thiền tự, Vạn Thọ Báo Ân Quang hiếu Thiền tự, Giang Tâm Long Tường Hưng Khánh Thiền tự, A Dục Vương Sơn Quảng Lợi Thiền tự. Tác phẩm: Hoài Hải Ngoại Tập, Hoài Hải Nã Âm, Ngữ Lục. ● 元 長 (1284-1357). Thiền tăng đời Nguyên, họ Đổng, tự Vô Minh, hiệu Thiên Nham người xứ Tiêu Sơn (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia, 19 tuổi thụ giới cụ túc, nối pháp Thiền Sư Trung Phong Minh Bản. Năm 1327, Sư trụ chùa Thánh Thọ núi Phục Long ở Nghĩa Điểu, người học khắp nơi vân tập, sư thuyết pháp chẳng ngừng. Thụy hiệu: Phật Huệ Viên Giám Thiền Sư. ● 愿 昭. Thiền tăng đời Tống, người xứ Tiền Đường, nối pháp Thiền Sư Linh ẩn Thanh Tủng, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện La Hán, Tú Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang). Sau trụ chùa Hương Nghiêm, Hàng Châu. ● 愿 學 (?-1174). Thiền tăng đời Lý, dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Viên Trí. Sư họ Nguyễn, quê ở làng Phù Cẩm, miền Bắc Việt Nam (tức làng Phù Cẩm, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). ● 願 齊. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Tề còn gọi là Tế. Họ Giang, người Tiền Đường (nay là Hàng Châu). Thuở nhỏ xuất gia nơi chùa Thủy Tâm, sau khi thọ giới cụ túc sư tu tập giáo pháp Thiên Thai, chuyên nghiên cứu chỉ quán. Sư đắc pháp nơi Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Vào núi Nhạn Đãng ẩn tu. Ngô Việt Vương xuống chiếu thỉnh trụ trì chùa Tiêm Khánh ở cửa tây Hàng Châu, không bao lâu sư từ chối trở về núi. Thị tịch vào khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-983) đời Tống. ● 月 江 正 印 禪 師 語 錄. Còn gọi: Nguyệt Giang Hòa Thượng Ngữ Lục, Nguyệt Giang Ấn Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, do Nguyệt Giang Chính ấn soạn vào đời Nguyên, nhóm ông Cư Giản… biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 123, trang 217. Nội dung thu thập các lời thượng đường và tiểu tham của Thiền Sư Chính ấn tại chùa Bích Vân, chùa Đạo Tràng cùng với các phần: Niêm cổ, Tụng cổ, Phổ thuyết, Pháp ngữ, Tán… ● 月 霞 (1858-1917). Tăng nhân cận đại, họ Hồ, tên Hiển Châu, người huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Năm 19 tuổi sư xuất gia ở chùa Quán Âm, Nam Kinh, rồi đến chùa Đại Thông Liên Hoa thụ giới cụ túc. Sư cất am tĩnh tu ở núi Chung Nam, vừa khai khẩn vừa tu thiền. Sư đến núi Thái Bạch nương Thiền Sư Liễu Trần học thiền 3 năm xem như một ngày, nghe giảng kinh Duy Ma, sư ngộ nhập pháp môn Bất nhị, rất được Liễu Trần khen ngợi, và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Năm 1914 sư sáng lập Đại học Hoa Nghiêm ở Thượng Hải, còn xây thiền đường, giảng đường ở Viên Trung, hằng ngày tọa thiền và giảng kinh luận Đại Tiểu thừa. Một đời sư tuy lấy việc hoằng dương tông Hoa Nghiêm làm nhiệm vụ, song căn bản của sư vẫn là Thiền Tông, điều đáng nói là không ngày nào sư không tọa hương tham thiền, không năm nào sư không đả thiền thất. ● 月 朗 全 (1855-1915). Thiền tăng đời Thanh, họ Đan, tên Toàn, tự Nguyệt Lãng, người xứ Thái Hưng, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Lãng Huy Sự, đời thứ 48 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Cao Mân (Giang Đô, Giang Tô). Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 月 輪. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại (854-925), họ Hứa, người xứ Phúc Đường (nay là huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Giáp Sơn Thiện Hội, nương thầy 7 năm. Sau chúng thỉnh trụ Hoàng Sơn Hàng Châu (nay thuộc Chiết Giang). ● 2. Thiền tăng đời Thanh, họ Dị, người xứ Mã Long (nay thuộc Vân Nam) Trung Quốc. Năm 18 tuổi xuất gia, thụ giới cụ túc xong, sư tham vấn Thiền Sư Chân Viên Nguyệt Đàm và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư còn tham vấn các bậc danh túc nam bắc, 20 năm ở kinh sư, số người đến thọ giáo xa gần rất nhiều, nổi tiếng ở triều đình, 2 lần được ban cho y hồng, Long tạng. Về già, sư trở về Vân Nam, trụ 2 ngôi chùa lớn nổi tiếng: Hoa Đình và Hoa Nghiêm, chấn chỉnh lại môn phong. Sư có Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 月 日. Tháng. Trong phức từ này, chỉ riêng chữ Nguyệt là có nghĩa, còn chữ Nhật là chữ đệm. Tông Môn Võ Khố ghi: “師 在 寶 峰 時、元 首 座 極 見 喜。一 日 請 假 往 謁 李 商 老、云:一 月 日 便 歸。後 四 十 日 方 歸。元 見、遽 云:噁!野 了 也、無 常 進 速。師 不 覺 汗 下。 – Lúc sư ở Bảo Phong, Thủ tọa Nguyên rất vui. Một hôm,sư xin phép đến yết kiến Lý Thương Lão và nói: Một tháng sẽ trở về! Sau 40 ngày sư mới trở về. Thủ tọa Nguyên gặp lại sư, liền nói: Ôi! Buông lung quá. Vô thường nhanh chóng nghen! Sư bất giác ra mồ hôi đầm đìa”. ● 月 光 寺. Chùa ở phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Việt Nam, do Thiền Sư Như Hiện trụ trì. ● 魚 目 混 珠. Mắt cá lẫn lộn với trân châu. Theo “Ngọc Thanh Kinh” ghi chép: Thời xưa có một người tên là Mãn Nguyện, rất thích trân châu (tức ngọc trai). Một hôm đi chợ, ông phát hiện ra một hạt trân châu rất đẹp, ông bỏ món tiền lớn để mua về. Ông hàng xóm tên là Thọ Lượng cũng là người rất thích trân châu. Một lần trên đường đi nhìn thấy một mắt cá to, tưởng là trân châu, liền nhặt về nhà cất đi. Về sau có người bị ốm, cần có trân châu để chữa bệnh. Mãn Nguyện và Thọ Lượng đều mang trân châu của mình ra, mọi người so sánh, phát hiện ra trân châu của Thọ Lượng là mắt cá. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho việc nhận định, đánh giá sai lầm. Tiết Lang Sơn Huệ Ôn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “佛 意 祖 意、如 將 魚 目 作 明 珠。大 乘 小 乘、似 認 橘 皮 爲 猛 火。 – Nhận lầm Phật ý với Tổ ý như cho mắt cá là minh châu, hiểu sai Tiểu thừa với Đại thừa như cho vỏ quít là lửa đỏ”. ● 語 錄. Sách có nội dung gồm những lời khai thị, thuyết pháp của các bậc Tổ sư trong Thiền Tông. Phần lớn nó gồm những pháp ngữ và do thị giả hoặc các vị theo tham học với các ngài sưu tập, ghi chép lại thành sách. Từ đời sơ Đường bắt đầu có Ngữ Lục như: Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ Huệ Năng. Từ đời Ngũ Đại, Triệu Tống về sau, Thiền Tông thành lập chế độ tùng lâm và phần lớn các vị Trụ trì là các thiền sư nổi tiếng nên ngôn hạnh của các ngài đều được các vị chức sắc bên dưới như Thư ký, Chức ty ghi chép lại. Chẳng hạn: Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư Ngữ Lục, Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư Ngữ Lục. ― Ngữ yếu: Ghi chép những phần quan trọng trong Ngữ Lục, như: Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Ngữ Yếu. ― Biệt tập: Chỉ sưu tập pháp ngữ của một vị thiền sư. ― Thông tập: Sưu tập pháp ngữ của nhiều vị thiền sư. ● 御 制 揀 魔 辯 異 錄. Còn gọi: Giản Ma Biện Dị Lục. Lục, 8 quyển, do Vua Ung Chính soạn vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Ung Chính thứ 11 (1733), sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh Tập 114, trang 379. Vào đời Minh, thiền tăng tông Lâm Tế là Pháp Tạng soạn 1 quyển sách là “Ngũ Tông Nguyên”, và đệ tử của sư là Đàm Kiết Hoằng Nhẫn cũng soạn “Ngũ Tông Cứu” 1 quyển, bài bác chủ trương của tông Tào Động, đưa đến cuộc tranh luận trong thiền lâm thời bấy giờ, ảnh hưởng còn lan rộng đến đời Thanh. Vua Ung Chính đời Thanh soạn sách này cho rằng chủ trương Thiền Tông của Pháp Tạng và Hoằng Nhẫn là tà ma dị thuyết và nêu ra Ngữ Lục của 2 vị làm, rồi bài xích từng cái một. Vua còn bảo học trò của Pháp Tạng ăn thịt uống rượu, phá hoại giới luật, nguy hại đến cửa Phật, cần phải dẹp trừ. ● 御 選 語 錄. Còn gọi: Ung Chính Ngự Tuyển Ngữ Lục. Ngữ Lục, 19 quyển, do Vua Ung Chính biên tập vào đời Thanh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 119, trang 357. Vua Ung Chính bất mãn “Cổ Kim Tiệp Lục” nên biên tuyển lại thành sách này. Nội dung bao gồm thiền ngữ của các thiền tăng, cư sĩ và của cả Vua Ung Chính. Gồm có: 12 quyển Chính Tập, 1 quyển Ngoại Tập, 2 quyển Tiền tập, 3 quyển Hậu Tập, 1 quyển Đương kim pháp hội. Chính Tập gồm những thiên Ngữ Yếu ngắn của 15 vị như: Tăng Triệu, Vĩnh Gia Huyền Giác, Hàn Sơn, Thập Đắc, Quy Sơn Linh Hựu, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Triệu Châu Tùng Thẩm, Vân Môn Văn Yển, Vĩnh Minh Diên Thọ, Tử Dương Chân Nhân Trương Bình Thúc, Tuyết Đậu Trọng Hiển, Viên Ngộ Khắc Cần, Ngọc Lâm Thông Tú, Cùng Khê Hạnh Sâm và Thạc Ung Thân Vương Viên Minh Cư sĩ (tức Vua Ung Chính). Ngoại Tập gồm “Tịnh Độ vấn đáp” của ngài Vân Thê Châu Hoằng. Tiền tập, Hậu Tập đều là Ngữ Lục của nhiều đời thiền sư. Sách này được nhập tạng vào tháng giêng niên hiệu Càn Long thứ 1 (1736) đời Thanh, được Kim Lăng Khắc Kinh Xứ khắc bản vào niên hiệu Quang Tự thứ 4 (1878) đời Thanh. ● 凝 密 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Khuông Dật đời Ngũ Đại. X. Khuông Dật. ● 凝 眸. Vốn có nghĩa là con ngươi của mắt chẳng chuyển động, trong lúc tập trung chú ý. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho thái độ chần chừ, đắn đo suy nghĩ. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “纔 陞 此 座、已 涉 塵 勞。更 乃 凝 眸、自 彰 瑕 玷。 – Vừa bước lên tòa này đã dính vào trần lao, lại còn chần chừ tự bày khuyết điểm”. ● 凝 寂 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Bảo Tích đời Đường. X. Bảo Tích. ● 仰 山 慧 寂 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 1 quyển, do Ngưỡng Sơn Huệ Tịch soạn vào đời Đường, Ngữ Phong Viên Tín và Quách Ngưng Chi cùng biên tập vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 119, trang 860. Nội dung: Đầu tiên kể về hành trạng của Thiền Sư Huệ Tịch, kế đến trình bày về cơ ngữ vấn đáp giữa Huệ Tịch với các vị: Bàng cư sĩ, Tam Thánh, Nhũ Nguyên, Bách Trượng, Hoàng Bá, Nam Tuyền và khoảng 70 điều về pháp ngữ lúc thượng đường, thị chúng. Cuối cùng ghi tóm tắt việc thị tịch của ngài Ngưỡng Sơn. ● 牛 頭 山. Còn gọi: Ngưu Thủ Sơn. Núi thuộc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, nằm ngoài Trung Hoa môn 15km. Cao hơn mặt biển 242,9m, do 2 ngọn núi đứng cạnh nhau, hình dáng như đầu con trâu nên gọi là Ngưu Đầu. Niên hiệu Thiên Giám thứ 2 (503) đời Lương (Nam Triều) trong hang đá Tây Phong của núi này có dựng “Tiên Quật Tự”. Có bài ca dao dân gian như sau: 方 山 頂 上 一 冲 田 小 小 吉 山 五 箇 尖 祖 堂 有 座 無 量 殿 牛 首 山 上 出 神 僊 “Phương sơn đỉnh thượng nhất xung điền Tiểu tiểu kiết sơn ngũ cá tiêm Tổ đường hữu tọa vô lượng điện Ngưu Thủ sơn thượng xuất thần tiên”. Trên đỉnh Phương Sơn mảnh ruộng cao Năm ngọn núi lành bé tẻo teo Tổ đường có đến vô lượng điện, Thần tiên Ngưu Thủ dáng tiêu dao”. (Hạnh Huệ dịch) Trên núi này có rất nhiều tự viện. Pháp Dung, Tổ tông Ngưu Đầu khai thiền tại đây, nên núi này là cái nôi của tông Ngưu Đầu. Phía nam núi có chùa Phổ Giác, động Bích Chi, động Văn Thù. Phía đông nam núi có đền Thanh Đạo Nhân, suối La hán, bia đá trên vách núi. Trong thời gian kháng chiến, rừng cây trên núi bị đốn sạch, rất nhiều chùa miếu bị thiêu rụi. Hiện chỉ còn ngôi tháp chùa Hoằng Giác và phần tượng tạc trên vách đá. Vào tháng 3 mùa xuân, trên núi hoa nở rất đẹp, đặc biệt có “Ngưu Thủ Yên Lam” (khói ngút trên núi Ngưu Đầu) là 1 trong 48 cảnh đẹp của Kim Lăng. ● 惹 泥 水. Gọi đủ: Nhạ Nê Đới Thủy. Lời nói lề mề, chậm chạp. Vân Môn Quảng Lục ghi: “不 惹 泥 水 作 麼 生 道。 – Chẳng phải là lời nói lề mề chậm chạp, làm sao nói đây?”. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “咬 斷 兩 頭、猶 是 惹 泥 帶 水 – Cắt đứt hai đầu, cũng là lời nói lề mề chậm chạp”. ● 岳 林 寺. Chùa ở thành phố Phụng Hóa tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Chùa được bắt đầu xây dựng vào niên hiệu Đại Đồng thứ 2 (536) nhà Lương thuộc Nam Triều. Ban đầu nền chùa ở phía tây suối, gọi là Sùng Phúc Viện, bị phá hủy vào niên hiệu Hội Xương (841-846) đời Đường. Niên hiệu Đại Trung thứ 3 (849), Thiền Sư Nhàn Khoáng xây dựng lại ở phía đông suối, đổi tên là Nhạc Lâm Tự. Cuối đời Đường, cao tăng Thiền Tông là Hòa Thượng Bố Đại ở chùa này. Sau đời Ngũ Đại, niên hiệu Trinh Minh thứ 3 (917) đời Lương, ngài mất ở dưới mái đông của Đại điện và do vì nơi đây là đạo tràng của ngài lưu ngụ nên người thời ấy vẽ bức tượng toàn thân ngài treo ở Đông đường Đại điện. Niên hiệu Đại Trung Tường Phù thứ 8 (1015) nhà Tống, vua ban bảng hiệu “Đại Trung Nhạc Lâm Thiền Tự”. Thiền Sư Văn Nhạc từng ở chùa này, xây gác Sùng Ninh. Hậu điện còn được xây cất lại. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 21 (1423) đời Minh, bị hủy hoại do nạn binh lửa. Khoảng niên hiệu Chính Đức (1506-1521) mới được sửa sang lại. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1615) lại bị phá hủy do nạn binh lửa, rồi đại điện được xây dựng lại. Khoảng niên hiệu Sùng Trinh (1628-1644) cất lại gác Sùng Ninh. Niên hiệu Khang Hy thứ 12 (1673) đời Thanh, Hòa Thượng Khải Am làm hưng thịnh tông phong tại chùa này, xây Thiên Vương điện, Phương trượng, Đông Tây lang, tháp Phổ Đồng quy mô rộng lớn; sau đó bị hoang phế. Niên hiệu Quang Tự thứ 14 (1888), ngài Văn Quả tái thiết, đến nay chỉ còn một tòa Đại điện. ● 街 坊 化 主. Vị tăng có nhiệm vụ đi vào chợ búa để xin tiền và vật thực cho đại chúng. ● 涯 業. Gia tài sản nghiệp. Tiết Tưởng Sơn Phật Huệ Cảo Thiền Sư trong GTPĐL q. 25 ghi: “蔣 山 爲 你 說 箇 譬 喻:一 似 箇 人 家。祖 上 從 來 極 有 涯 業。有 二 兄 弟、各 各 斗 使。大 者 使 五 百、小 者 使 一 貫。日 往 月 來、斗 使 不 已。遂 將 祖 父 涯 業 一 時 落 盡、累 他 子 孫 無 安 身 立 命 處。 – Tưởng Sơn thí dụ cho ngươi biết: giống như gia đình nọ, tổ tiên có gia tài sản nghiệp rất lớn để lại từ trước đến giờ. Trong nhà có 2 anh em, mỗi người đều dùng đấu (dụng cụ đo lường) để đong tiền xài. Người anh dùng đấu 500 điếu tiền, người em dùng đấu 1 quan. Ngày qua tháng lại, tiêu dùng mãi chẳng thôi, nên gia tài sản nghiệp của ông cha hết sạch, làm lụy đến con cháu không có chỗ an thân lập mạng”. ● 岩 俊 (882-966). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Liêm, người xứ Hình Đài (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. Sau khi xuất gia, sư giữ giới rất nghiêm. Từng đi qua các núi: Hành Sơn, Lô Sơn, Dẫn Sơn, nối pháp Thiền Sư Đại Đồng Đầu Tử. Sư ra hoằng pháp trụ viện Quán Âm ở Biện Kinh (nay thuộc huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam), đồ chúng thường vào khoảng vài trăm, tông phong hưng thịnh. Lúc Chu Cao Tổ, và Thế Tông chưa lên ngôi thường lên phương trượng để thi lễ. Đến khi Vua tức vị, có ban cho sư y hồng và hiệu “Tịnh Giới Đại Sư”. ● 閒 言 語. Còn gọi: Nhàn ngôn trường ngữ. Lời nói không có gì quan trọng hoặc là lời nói dư thừa. Tiết Đầu Tử Đại Đồng Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “汝 諸 人 來 這 裡、擬 覓 新 鮮 語 句、攢 華 四 六、圖 口 裡 有 可 道。我 老 兒 氣 力 稍 劣、脣 舌 遲 鈍、亦 無 閑 言 語 與 汝。汝 若 問 我、便 隨 汝 答、也 無 玄 妙 可 及 於 汝。 – Các ông đến đây định tìm lời nói hay đẹp, góp nhặt văn hoa trong miệng ta nói ra. Lão già này khí lực yếu kém, môi lưỡi chậm lụt, cũng không có lời gì quan trọng để cho các ông. Nếu các ông hỏi ta, ta tùy câu hỏi mà đáp, cũng không có huyền diệu để cho các ông”. ● 閑 塵 境. Chỉ cho các điều kiện ở bên ngoài đều không có ý nghĩa, không có giá trị, cũng chỉ cho sự vô dụng của văn tự, ngôn ngữ. Phần Thị Chúng trong LTL (Đại 47, 499 thượng) ghi: “如 今 學 道 人 且 要 自 信、莫 向 外 覓、總 上 他 閑 塵 境、都 不 辨 邪 正、秖 如 有 祖 有 佛、皆 是 教 跡 中 事。 – Hiện nay, người học đạo cần phải tự tin, chớ có tìm bên ngoài. Bởi vì tất cả cái bên ngoài đều vô giá trị, đều chẳng phân biệt được tà chính. Như có Phật có Tổ đều là việc trong giáo tích”. ● 眼. Chỉ cho pháp nhãn, tức là ánh mắt trí huệ của thiền giả quán chiếu sự vật, nhận thức chân lý. Linh Hựu Ngữ Lục ghi: “只 貴 死 眼 正、不 說 子 行 履。 – Chỉ trông mong con mắt ông chân chính, không nói đến hành vi của ông. “ ● 眼 筋. Còn gọi: Nhãn Lý Hữu Cân (Trong mắt có gân). Đối lại: Nhãn lý vô cân. Chỉ cho ánh mắt lanh lợi, dụ cho sắc mặt năng nổ khí khái. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho nghĩa biện biệt rõ phải trái, được mất. Tắc 93, Thung Dung Lục giải thích là biện biệt thị phi, minh liễu đắc thất. Tắc 66, Bích Nham Lục (Đại 48, 196 hạ) ghi: “當 時 若 有 些 子 眼 筋、便 解 瞥 地 去、豈 不 快 哉? – Khi ấy nếu ánh mắt của y có chút linh lợi, lập tức hiểu thấu; há chẳng thích lắm sao?”. ● 眼 橫 鼻 直. Mắt nằm ngang, mũi đứng thẳng, tỷ dụ cho mặt mũi xưa nay bình thường tự nhiên, tức chỉ cho Phật tính, Bản tính. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “佛 法 本 無 玄 妙、只 要 汝 諸 人 各 各 知 道 眼 橫 鼻 直 便 休。 – Phật pháp vốn không có huyền diệu, chỉ cần các ông, mỗi người biết được mắt nằm ngang, mũi đứng thẳng liền thôi”. ● 眼 里 抽 釘 腦 後 拔 箭. Nhổ đinh trong mắt, rút tên sau ót, tỷ dụ dẹp trừ tục tình mê chướng, lắng trong vọng tuởng ngờ vực lo nghĩ. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “指 佛 殿:大 開 此 殿、親 見 一 面。合 作 麼 生?眼 裏 抽 釘、腦 後 拔 箭、本 來 無 像 通 機 變。 – Chỉ Phật điện, nói: ›Mở rộng điện này, đích thân thấy được một mặt phải làm sao?‹ Nhổ đinh trong mắt, nhổ tên sau ót xưa nay không có hình tượng thông cơ biến”. ● 眼 目. 1. Pháp nhãn thiền tăng. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “大 凡 扶 豎 宗 教。須 是 有 本 分 宗 師 眼 目。有 本 分 宗 師 作 用。 – Nói chung, nếu người nào muốn đỡ nâng Thiền và Giáo thì cần phải có pháp nhãn và cử chỉ hành vi ứng cơ tiếp vật của bậc Thiền Sư lão luyện”. ● 2. Ngôn hạnh ứng cơ, lập bày thiền cơ. Tiết Vân Sơn Hòa Thượng trong NĐHN q. 11 ghi: “師 見 僧 來、便 作 起 勢、僧 便 出 去。師 曰:得 恁 麼 靈 利。僧 便 喝 曰:作 這 箇 眼 目、承 嗣 臨 濟、也 太 屈 哉! – Sư thấy tăng đến, liền làm thế đứng dậy; tăng liền bước ra. Sư nói: Được linh lợi như thế! Tăng liền hét, nói rằng: Lập bày Thiền cơ thế ấy mà kế thừa Lâm Tế, thật là oan uổng thay a!”. ● 眼 光 落 地. Chết đi. Tiết Vân Phong Văn Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “莫 待 一 朝 眼 光 落 地、緇 田 無 一 簣 之 功、鐵 圍 陷 百 刑 之 痛。 – Chớ đợi một khi chết đi, mới biết rằng mình tu hành không có một chút công đức gì, và bị chịu khổ nơi địa ngục”. ● 眼 搭 眵. Nguyên chỉ cho cục ghèn đóng trong mắt. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho sự chấp trước ngã kiến, không bỏ kiến chấp hẹp hòi. Gia Thái Phổ Đăng Lục q. 15 (Vạn Tục 137, 119 hạ) ghi: “攪 長 河 爲 酥 酪、蝦 蟹 猶 自 眼 搭 眵。 – Khi khuấy nước sông thành sữa ngọt thì cá tôm bị đóng ghèn”. ● 眼 親 手 辨. Còn gọi: Nhãn Biện Thủ Thân. Nhanh tay lẹ mắt. Tăng Bảo Chính Tục Truyện q. 6 ghi: “正 當 恁 麼 時、四 楞 塌 地 掇 在 諸 人 面 前、眼 辨 手 親 底 一 逴 逴 得 去、便 能 羅 籠 三 界、提 拔 四 生。 – Ngay lúc ấy nó hiển hiện trước mặt các ông. Nếu nhanh tay lẹ mắt lập tức nhận lấy thì các ông mới có khả năng che chở ba cõi, nâng đỡ bốn loài”. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “上 堂 云: 風 和 日 暖 古 佛 家 風 柳 綠 桃 紅 祖 師 巴 鼻 眼 親 手 辦 未 是 惺 惺 口 辯 舌 端 與 道 轉 遠 從 門 入 者 不 是 家 珍 且 道 畢 竟 如 何 相 見 “Sư thượng đường nói: Gió hòa nắng ấm thói nhà Cổ Phật Đào đỏ liễu xanh cơ phong Tổ sư Nhanh tay lẹ mắt chưa phải tỉnh tỉnh Nói năng lưu loát cách đạo càng xa Từ cửa đem vào chẳng phải của báu Thử hỏi cuối cùng làm sao gặp nhau?”. ● 眼 睛 定 動. Còn gọi: Nhãn Mục Định Động. Mắt nhấp nháy. Ý nói do dự, mờ mịt không hiểu. Tiết Tưởng Sơn Pháp Tuyền Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “快 人 一 言、快 馬 一 鞭。若 更 眼 睛 定 動、未 免 紙 裹 麻 纏。 – Người giỏi một lời, ngựa hay một roi; nếu còn do dự thì không tránh khỏi bị vướng mắc chữ nghĩa”. ● 任 眞. Tùy ý tự nhiên, thành thực, thuận chân như. Tiết Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q. 14 ghi: “黃 三 郎 云:若 不 遇 和 尚、虛 過 一 生。見 師 後、如 刀 剗 空。師 曰:若 實 如 此、隨 處 任 眞。 – Hoàng tam lang nói: Nếu không gặp Hòa Thượng, luống qua một đời; sau khi gặp Thầy, con như cầm dao phân định hư không. Sư bảo: Nếu thật như thế, tùy chỗ thuận chân như đi! “. ● 任 継 愈 (1916-?). Học giả Phật giáo hiện đại, người xứ Bình Nguyên, Sơn Đông, Trung Quốc. Năm 1934, ông thi đỗ vào phân khoa Triết học Đại học Bắc Kinh. Năm 1938 sau khi tốt nghiệp khoa Triết, ông lại thi đỗ vào lớp Nghiên cứu sinh, sở nghiên cứu Văn học thuộc Đại học Bắc Kinh, đến năm 1941 thì tốt nghiệp. Ông lần lượt nhậm chức Giáo sư Đại học Bắc Kinh, Giám đốc sở nghiên cứu Tôn giáo Thế giới thuộc viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Hội trưởng hội Tôn giáo Học Trung Quốc, Quản thủ Thư viện Bắc Kinh. Ông trường kỳ theo đuổi việc nghiên cứu lịch sử Triết học Trung Quốc, lịch sử Phật giáo, lịch sử Đạo giáo và trứ thuật rất nhiều. Ông còn chủ trì công tác biên tập xuất bản “Trung Hoa Đại Tạng Kinh” (bộ phận Hán văn). Đối với Thiền Tông, ông nghiên cứu sâu xa, cho rằng sự hình thành và phát triển của Thiền Tông là cao trào thứ hai của sự phát triển văn hóa Trung Quốc, sau thời Xuân Thu Chiến Quốc. Tác phẩm: ― Thiền Học dữ Nho Học. ― Thiền Tông dữ Trung Quốc Văn Hóa. ― Thiền Tông Triết Học Tư Tưởng Lược Luận. Ông còn chủ biên: ― Trung Quốc Phật Giáo Sử. ― Tôn Giáo Từ Điển. ● 恁 摩. 1. Như thế, Như vậy, tức “恁 麼” (nhẫm ma). Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q. 3 ghi: “師 在 黨 子 谷 時、麻 谷 來、繞 師 三 匝、震 錫 一 下。師 曰:既 然 任 摩、何 用 更 見 貧 道? – Lúc sư ở hang Đảng Tử, có Ma Cốc đến viếng, đi nhiễu sư ba vòng, dộng tích trượng một cái. Sư bảo: Đã được như thế, đâu cần phải gặp bần đạo?” ● 2. Làm thế nào? Thế nào là? Chương Pháp Nhãn Văn Ích Thiền Sư trong CĐTĐL q. 28 ghi: “僧 問:恁 摩 即 不 落 因 果 也?師 曰:莫 作 野 干 鳴。 – Tăng hỏi: Làm thế nào để khỏi rơi vào nhân quả? Sư đáp: Đừng làm chồn hoang kêu. “ CĐTĐL q. 20 ghi: “恁 麼 即 一 輪 高 掛、萬 國 同 觀 去 也? – Thế nào là chỉ một vầng trăng treo cao mà muôn nước cùng ngắm?”. ● 任 運. Mặc tình. Bản tính của mọi sự mọi vật vận động tự nhiên, chẳng dính dáng với sự tạo tác của tâm thức. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “若 是 眞 正 道 人。終 不 如 是。但 能 隨 縁 消 舊 業。任 運 著 衣 裳。要 行 即 行。要 坐 即 坐。無 一 念 心 希 求 佛 果。 – Nếu là đạo nhân chân chính thì không bao giờ như thế, chỉ là tùy duyên tiêu nghiệp cũ, cứ mặc tình mặc áo quần, muốn đi thì đi, muốn ngồi thì ngồi, tâm không một niệm mong cầu Phật quả”. ● 人. Vị, cái. Lượng từ dùng biểu thị số người. Mật Am Ngữ Lục ghi: “某 平 生 參 見 數 人 善 知 識、末 後 見 應 庵。 – Cả đời tôi tham kiến vài vị Thiện tri thức, cuối cùng gặp được ngài ứng Am. “ ● 人 境 俱 不 奪. Nhân cảnh đều không đoạt, là một trong “Tứ liệu giản” của Thiền Sư Lâm Tế. Đối với người học nào căn khí thượng đẳng, không còn “Ngã chấp” và “Pháp chấp”, thiền sư sẽ chọn lấy biện pháp tiếp dẫn này. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “僧 問:如 何 是 人 境 俱 不 奪?師 曰:王 登 寶 殿、也 老 謳 歌。 – Tăng hỏi: Thế nào là nhân cảnh đều không đoạt? Sư đáp: Vua bước lên ngai, lão quê ca hát. ● 如 何 是 人 境 兩 俱 奪. Một trong “Tứ liệu giản” của Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Đối với người học nào còn nặng “Ngã chấp” và “Pháp chấp”, thiền sư sẽ chọn lấy biện pháp này để tiếp dẫn. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “僧 云。如 何 是 人 境 兩 俱 奪。師 云。并 汾 絕 信 獨 處 一 方。 – Tăng hỏi: Thế nào là nhân cảnh đều đoạt? Sư đáp: Tịnh Phần (Tịnh Châu và Phần châu: địa danh) bặt tin tức, một mình ở một nơi. “ Các thiền sư tông Lâm Tế về sau thường sử dụng cách dẫn dắt này. ● 人 根. Căn khí, căn tính của con người. Vân Sơn Pháp Hội Lục ghi: “時 當 末 法、人 根 下 劣、學 人 既 無 眞 實 爲 生 死 之 心、又 少 眞 正 師 承、唯 以 彿 子 名 利 居 懷、人 我 斗 爭 爲 事、充 塞 閭 閻、成 風 成 俗。 – Bây giờ đang là thời mạt pháp, căn khí con người kém cỏi, người học đã không có tâm vì sinh tử, lại thiếu bậc Thầy chân chính truyền pháp cho đệ tử. Chỉ lấy việc trụ trì theo danh lợi làm hoài bảo, khoe khoang đấu tranh làm sự nghiệp, tràn ngập xóm làng, trở thành phong tục. “ ● 人 工. Kẻ đầy tớ, người làm thuê trong tự viện. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “人 工 淘 米 著 火、行 者 煮 鬻 蒸 飯。 – Kẻ đầy tớ vo gạo nhóm lửa, hành giả (cư sĩ tập tu) nấu cháo thổi cơm. “ ● 仁 勇. Thiền tăng đời Tống, họ Trúc, người xứ Tứ Minh Trung Quốc. Xuất gia từ bé, dung mạo siêu tuyệt, thông minh hơn người. Ban đầu sư học giáo điển Thiên Thai, thông được ý chỉ của tiền nhân. Sư đến yết kiến Tuyết Đậu Trọng Hiển, Ngài trách sư là “Giảng sư dở dở ương ương”, sư giận nói không nên lời và bỏ đi. Sư đến núi Vân Cái Đàm Châu, nối pháp Thiền Sư Dương Kỳ Phương Hội. Sau khi Dương Kỳ tịch, sư cùng với bạn đồng tham là Bạch Vân Thủ Đoan vân du bốn phương tìm hiểu huyền áo. Về sau, sư trụ chùa Bảo Ninh ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh) tích cực xiển dương thiền học. Tác phẩm: Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. ● 因 緣. 1. Thiền gia cho cơ ngữ hoặc hành vi động tác thị cơ, ứng cơ là nhân duyên, ý nghĩa giống như công án. Tiết Thạch Đầu Tự Hồi Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “(大 隨 和 尚)令 且 罷 誦 經、看 趙 州 勘 婆 因 緣。師 念 念 不 去 心。 –Hòa Thượng Đại Tùy bảo hãy thôi tụng kinh mà khán công án Triệu Châu khám bà lão. Sư niệm niệm không rời bỏ tâm. “ ● 2. Nhà Phật cho rằng những tư tưởng ngôn hạnh có thể dẫn đến quả báo là nhân duyên, tức là nhân trong nhân quả báo ứng. Chương Tổ thứ 1 Ma Ha Ca Diếp trong CĐTĐL q. 1 ghi: “由 是 因 緣 九 十 一 劫 身 皆 金 色。 – Do nhân duyên này mà được thân kim sắc trong 91 kiếp. “ ● 人 客. Khách khứa. Tông Môn Võ Khố ghi: “人 客 及 門、何 故 不 出?按 現 代 吳 地 方 言 仍 稱 客 人 爲 人 客。 – Khách khứa đến cửa, vì sao chẳng ra tiếp rước? Căn cứ theo phương ngôn hiện đại ở đất Ngô (chỉ vùng miền nam tỉnh Giang Tô và miền bắc tỉnh Chiết Giang) vẫn còn gọi khách khứa là nhân khách”. ● 仁 儉. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Quốc sư Huệ An. Sau đó, sư phóng khoáng nơi ruộng đồng ngoại thành, người đời gọi “Đằng Đằng Hòa Thượng”. Sư vào kinh thuyết pháp cho Võ Tắc Thiên nghe và dâng lên 19 bài ca ngắn. Võ Hậu xem qua rất vui, xuống chiếu mời sư trụ chùa Phúc Tiên ở Lạc Dương, và còn ra lệnh các quan chép các bài ca của sư truyền bá trong nước. Những bài ca này phô diễn chân lý, để cảnh giới những thói xấu đương thời. Trong số ấy có bài “Liễu Nguyên Ca” rất được phổ biến trong dân gian. ● 人 力. Kẻ đầy tớ, người làm thuê trong tự viện. Tiết Ngọc Tuyền Thừa Hạo Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “一 夜 雨 雱 烹、打 倒 蒲 萄 棚。知 事 頭 首、行 者 人 力、拄 底 拄、撐 底 掌、撐 撐 拄 拄 到 天 明、依 舊 可 憐 生。 – Một đêm mưa dầm làmđổ giàn nho. Tri sự, Đầu thủ, Hành giả và các người làm thuê trong tự viện, chống lại chống, đỡ lại đỡ, chống chống đỡ đỡ cho tới khi trời hừng sáng mới trở lại y như cũ. Thật đáng thương. “ ● 人 我. 1. Tức “Ngã chấp”, nghĩa là người thế tục chấp trước có cái “Tôi”. Tiết Ngũ Chi Dư đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 2 ghi: “人 我 不 生、諸 惡 不 起。 – Chẳng sinh lòng chấp trước có cái “Tôi” thì các việc ác chẳng nổi lên. “ ● 2. (Do “Ngã chấp” mà dẫn lên) lòng hiếu thắng, khoe khoang, tranh đấu. Chương Hàn Sơn Thi trong Toàn Đường Thi q. 806 ghi: “心 高 如 山 岳、人 我 不 伏 人。 – Tâm cao như non, lòng hiếu thắng khoe khoang chẳng phục người. “ ● 人 法. Tôi (nhân) và ngoại vật (pháp) trong khái niệm của người thế tục, tức là chỗ nhà Phật gọi “Nhân chấp” và “Pháp chấp”. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “到 得 心 路 絕 處、廓 徹 無 依、則 人 法 雙 亡、心 境 俱 捐、謂 還 有 糸 念 得 麼? – Đến được chỗ đường tâm bặt dứt, thênh thang không nương gá, thì nhân pháp đều mất, tâm cảnh không còn thì bảo còn bận lòng được chăng?” ● 因 風 吹 火. Mượn thế gió thổi bừng ngọn lửa, dụ cho Thiền Sư tiếp dẫn người học, tùy theo căn khí hoặc tâm hướng thiện của họ mà khai thị. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “鐘 聲 雀 噪。可 契 眞 源。別 處 馳 心。妄 生 節 目。信 得 因 風 吹 火、不 信 平 地 掘 坑。 – Từ tiếng chuông hay tiếng chim đều có thể khế ngộ chân nguyên. Tìm cầu nơi khác thì vọng sinh tiết mục. Nếu tin thì như mượn thế gió thổi bừng ngọn lửa, còn không tin thì như đất bằng đào xới thành hầm hố. “ ● 人 天. 1. Cõi người và cõi trời. Nhà Phật cho rằng chúng sinh hữu tình đều ở trong quá trình sinh tử luân hồi. Cõi người và cõi trời là hai chỗ chúng sinh luân hồi. ● 2. Người và thiên thần. Vô Môn Quan ghi: “拈 起 花 來、尾 巴 已 露、迦 葉 破 顏、人 天 罔 措。 – Đưa cành hoa ra, cái đuôi đã ló. Ca Diếp mỉm cười, người và thiên thần không ai thi thố. “ ● 3. Nhà thiền thường gọi đại chúng đang nghe pháp nơi pháp đường là Nhân thiên. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “問 人 天 普 集 佇 聽 雷 音。學 人 上 來。乞 師 垂 示。 – Hỏi: Đại chúng tụ hội đứng đợi nghe pháp, tăng nhân tham thiền đến nảy giờ, xin Sư buông lời chỉ dạy. “ ● 人 天 寶 鑒. Bút ký, 2 quyển, do Đàm Tú soạn vào đời Tống, được liệt vào 7 quyển sách quý của thiền môn và xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 97. Soạn giả muốn cung cấp cho người học những tấm gương quý báu thuở xưa nhằm kích phát chí khí tham thiền nên chẳng luận là tăng hay tục, là Nho, Thích, Đạo; hễ ai muốn trình bày và phát huy tông chỉ, lựa chọn truyện xưa tích cũ cốt khai mở pháp nhãn, lời hay việc tốt đều có thể tìm xuất xứ từ sách này. ● 人 天 眼 目. Sách, 6 quyển, do Hối Nham Trí Chiêu đời Nam Tống soạn vào niên hiệu Thuần Hy thứ 15 (1188), được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 113, trang 827. Thông qua sách này, soạn giả làm sáng tỏ tông chỉ của năm nhà (ngũ gia) và môn phong đặc sắc của họ. Toàn sách được sắp xếp như sau: ― Quyển 1: Tông Lâm Tế ― Quyển 2: Tông Lâm Tế, Tông Vân Môn ― Quyển 3: Tông Tào Động ― Quyển 4: Tông Quy Ngưỡng, Tông Pháp Nhãn. ― Quyển 5, 6: Tông Phong Tạp Lục. Nội dung chọn lọc cơ duyên Ngữ Yếu, chỉ quyết kệ tụng của các nhà mang tính đại biểu, phân loại sắp theo thứ tự rồi thêm lời phê bình. ● 因 便. Nhân tiện, thừa cơ. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “後 參 德 山, 初 到 參, 始 擬 展 坐 具 設 禮, 德 山 以 杖 挑 之, 遠 擲 阶 下。師 因 便 下 阶 收 坐 具, 相 看 主 事, 參 堂。德 山 諦 視, 久 而 自 曰:者 阿 欲 似 一 箇 行 腳 人!私 記 在 懷。 – Về sau tham kiến Đức Sơn, ban đầu đến tham vấn sư định trải tọa cụ làm lễ, Đức Sơn dùng gậy khều tọa cụ văng xa xuống thềm. Sư thừa cơ bước xuống thềm lượm tọa cụ mà hỏi thăm chủ sự, tham đường. Đức Sơn nhìn chăm chú, giây lâu tự nói: Ông sư này sao giống một kẻ hành cước! Rồi tự dự đoán Nham Đầu sẽ ngộ đạo. “ ● 仁 智 (1812-1902). Thiền tăng đời Thanh, họ Thái, tên Long Sinh, người xứ Nam Áo, Quảng Đông, Trung Quốc. Đắc pháp nơi Thiền Sư Khai Huệ, đời thứ 43 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Hiển Thân, Nghi Hưng, Giang Tô. ● 仁 郁 (900-736). Thiền tăng đời cuối Đường đầu Ngũ Đại, họ Giang, người quận Thạnh Đường (nay là Tiềm Sơn, An Huy), Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ chùa Hải Hội ở Thư Châu (trong núi giáp ranh giữa Thư Thành với Tiềm Sơn An Huy) hoằng pháp. ● 認 名 認 句. Chỉ cho sự nhận thức tìm cầu thiền pháp trong danh từ ngôn cú. Đây là phương pháp tham học sai lầm. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “云 何 是 法。法 者 是 心 法。心 法 無 形 通 貫 十 方 目 前 現 用。人 信 不 及。便 乃 認 名 認 句。向 文 字 中 求 意 度 佛 法。天 地 懸 殊。 – Thế nào là pháp? Pháp là tâm pháp, tâm pháp vô hình thông suốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Vì người ta tin không nổi bèn tìm cầu nó trong danh từ ngôn cú, nhằm trong văn tự có ý muốn suy lường Phật pháp, xa cách như trời với đất!” ● 認 葉 止 啼 (107). Trẻ con ngộ nhận lá vàng cây dương là tiền đồng, nhờ đó mà nín khóc, tỷ dụ nhận giả làm thật, tư tưởng hành vi tầm thường ngu độn. Tiết Tịnh Nhân Kế Thành Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “虛 空 翻 筋 斗、向 新 羅 國 裡 去 也。是 你 諸 人、切 忌 認 葉 止 啼、刻 舟 尋 劍。 – Lộn nhào trong hư không thẳng đến nước Tân La. Các ông phải tránh những tư tưởng hành vi tầm thường ngu si vô ích. “ ● 認 奴 作 郎. Nhận lầm kẻ đầy tớ là ông chủ. Tỷ dụ đảo ngược gốc ngọn. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “若 言 即 心 即 佛。權 且 認 奴 作 郎。生 死 涅 槃 恰 似 斬 頭 覓 活。若 說 佛 說 祖。佛 意 祖 意 大 似 將 木 槵 子 換 卻 你 眼 睛 相 似。 – Nếu nói tức tâm tức Phật tạm thời nhận lầm kẻ đầy tớ làm ông chủ; sinh tử Niết Bàn giống như chặt đầu tìm sự sống; nếu nói Phật nói Tổ, Phật ý Tổ ý rất giống như việc cho hạt chuổi là con mắt của ngươi”. ● 認 橘 皮 爲 猛 火. Lầm cho vỏ quít là lửa đỏ, tức nhận giả làm chân. Tiết Lang Sơn Huệ Ôn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “佛 意 祖 意、如 將 魚 目 作 明 珠。大 乘 小 乘、似 認 橘 皮 爲 猛 火。諸 人 須 是 豁 開 胸 襟 寶 藏、運 出 自 己 家 珍、向 十 字 街 頭 普 施 貧 乏。 – Nhận lầm Phật ý Tổ ý như cho mắt cá là minh châu, hiểu sai Tiểu thừa Đại thừa như cho vỏ quít là lửa đỏ. Các ngươi phải mở toang kho báu trong lòng, lấy đồ trân quý của mình ra để bố thí cho kẻ nghèo đói ở ngã tư đường”. ● 認 龜 作 龞. Cho rùa là con ba ba. Tỷ dụ pháp nhãn chưa sáng, nhận thức lầm lẫn. Tiết Tây Thiền Hi Tú Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “秋 光 將 半、暑 氣 漸 消。鴻 鴈 橫 空、點 破 碧 天 似 水。猿 猱 挂 樹、撼 翻 玉 露 如 珠。直 饒 對 此 明 機、未 免 認 龜 作 鱉。 – Gần nửa mùa thu thời tiết nóng dần dần tiêu tan. Chim hồng bay ngang hư không làm hiển lộ bầu trời xanh biêng biếc. Khỉ vượn đu cây lay động hạt sương lóng lánh như ngọc. Giả sử ở nơi đây mà rõ thiền cơ cũng chưa tránh khỏi nhận thức lầm lẫn. “ ● 入. Tỉnh ngộ, ngộ nhập. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “寶 壽 作 街 坊 時。見 兩 人 相 諍。一 人 以 手 打 一 拳 云。儞 得 恁 無 面 目。寶 壽 因 而 得 入。 – Lúc Bảo Thọ còn làm Nhai phường, thấy hai người đang tranh cãi. Một người dùng tay tát người kia một cái, nói: Ông như vầy mà không có lòng tự trọng. Bảo Thọ nhân đây tỉnh ngộ. “ ● 入 眾. 1. Bước vào trong hàng của chư tăng đang đứng. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “師 夜 不 點 火、僧 立 次、師 乃 曰:我 有 句 子、待 特 牛 生 兒、即 爲 汝 說。僧 問:特 牛 生 兒 了 也、只 是 和 尚 不 說。師 便 索 火、火 來、僧 便 抽 身 入 眾。 – Một đêm sư chẳng đốt đèn, thấy có vị tăng đang đứng, liền nói: Ta có một câu, đợi khi nào trâu đực sinh con sẽ nói cho ngươi nghe. Vị tăng thưa: Trâu đực sinh con rồi, hiềm vì Hòa Thượng chẳng nói. Sư liền sai mang đèn ra. Đèn đến. Vị tăng liền thối lui, bước vào trong hàng của chư tăng đang đứng. “ ● 2. Vào tùng lâm, cùng tăng chúng tham thiền học đạo. Tiết Vân Phong Văn Duyệt Hòa Thượng trong NĐHN q. 12 ghi: “就 中 今 時 後 生、纔 入 眾 來、便 自 端 然 拱 手、受 他 別 人 供 養。 – Trong đấy, kẻ hậu sinh thời nay, mới vừa nhập chúng, liền tự ngồi yên khoanh tay, nhận sự cúng dường của người khác. “ ● 入 道. 1. Bỏ tục xuất gia, bước vào cửa Phật. Tổ thứ 5 Đề Đa ca trong CĐTĐL q. 1 ghi: “寶 山 者 吾 身 也。泉 涌 者 法 無 盡 也。日 從 屋 出 者 汝 今 入 道 之 相 也。 – Núi báu là thân ta. Suối tuôn là pháp vô tận. Mặt trời từ trong nhà đi ra là tướng nhập đạo của ngươi hôm nay. Soi sáng khắp đất trời là trí huệ siêu việt của ngươi. “ ● 2. Ngộ đạo, lãnh ngộ chân lý. Bồ Đề Đạt Ma lược biện Đại thừa nhập Đạo Tứ Hạnh trong CĐTĐL q. 1 ghi: “夫 入 道 多 途。要 而 言 之 不 出 二 種。一 是 理 入。二 是 行 入。 – Luận về việc nhập đạo có nhiều đường. Nói tóm không ngoài hai thứ: Một là lý nhập, hai là hạnh nhập. “ ● 入 道 安 心 要 方 便 法 門. Sách, do Tứ Tổ Đạo Tín soạn. Nguyên sách này đã lạc mất, căn cứ vào mục “Đạo Tín” được ghi chép trong Lăng Già Sư Tư Ký mà viết lại. Chủ trương của Đạo Tín trong sách này là: Năm thứ thiền yếu lấy Tọa thiền quán tâm làm chính, đó là: 1. Tri tâm thể, 2. Tri tâm dụng, 3. Thường giác chẳng dừng, 4. Thường quán thân vắng lặng, 5. Giữ mãi chẳng dời đổi. ● 入 頭. Tỉnh ngộ, ngộ nhập. Tiết “Nghệ Ngôn” trong NHQL q. 29 ghi: “當 時 善 知 識 纔 得 入 頭、便 云 徹 證、及 乎 習 氣 不 除、却 歸 於 漸 修 之 未 到。 – Khi ấy, các vị Thiện tri thức vừa được ngộ nhập liền nói là triệt để chứng ngộ. Kịp đến khi không trừ được tập khí mới quay về tiệm tu, bởi đi chưa đến. “ ● 入 地 獄 如 箭 射. Vào địa ngục như tên bắn. Lời nói quen thuộc trong nhà Thiền, phần lớn dùng quở trách người chẳng khế ngộ thiền cơ, có nghĩa là sau khi chết nhanh chóng rơi vào địa ngục. Vô Môn Quan ghi: “扶 過 斷 橋 水、伴 歸 無 月 村。若 喚 作 拄 杖、入 地 獄 如 箭。 – Chống qua sông suối khi cầu gãy, cùng trở về thôn xóm lúc tối trời, nếu gọi là cây gậy thì vào địa ngục như tên bắn. “ ● 入 定. 1. Tiến vào thiền định, khiến tâm chuyên chú một cảnh mà không tán loạn. Chương Trí Sách Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “吾 正 入 定 之 時、不 見 有 無 之 心。 – Lúc tôi đang tiến vào thiền định, không thấy có tâm hữu vô. “ ● 2. Tăng nhân tử vong mất. Chương Tổ thứ hai, A Nan trong CĐTĐL q. 1 ghi: “昔 如 來 以 大 法 眼 付 大 迦 葉。迦 葉 入 定 而 付 於 我。我 今 將 滅。用 傳 於 汝。 – Ngày trước Như Lai đem đại pháp nhãn trao cho ngài Đại Ca Diếp, Ca Diếp lúc mất giao lại cho ta. Nay ta sắp mất, truyền nó lại cho ngươi. “ ● 入 海 算 沙. Đếm số lượng cát trong biển cả, dụ cho việc làm uổng công vô ích. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “念 言 念 句、認 光 認 影、猶 如 入 海 算 沙、磨 磚 作 鏡。 – Nhớ lời nhớ câu, nhận hình nhận bóng, giống như vào biển đếm cát, mài gạch làm gương”. ● 入 會. Gia nhập pháp hội. Chương Tổ thứ 10, Hiếp Tôn Giả trong CĐTĐL ghi: “初 至 華 氏 國 憩 一 樹 下。右 手 指 地 而 告 眾 曰。此 地 變 金 色 當 有 聖 人 入 會。言 訖 即 變 金 色。 – Đầu tiên Tổ đến nước Hoa Thị, nghỉ dưới một cột cây, lấy tay phải chỉ xuống đất, nói với chúng rằng: Khi nào đất này đổi thành màu vàng sẽ có thánh nhân gia nhập hội. Tổ vừa dứt lời, đất liền biến thành màu vàng. “ ● 入 路. Bí quyết ngộ nhập, cách ngộ nhập. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “古 德 一 期。爲 汝 諸 人 不 奈 何、所 以 方 便 垂 一 言 半 句、通 汝 入 路。 – Cổ đức một thời vì thấy các ông không biết làm sao (để ngộ nhập) cho nên phương tiện buông ra một lời nửa câu giúp cho các ông có cách ngộ nhập. “ ● 入 門. Chỉ bước vào cửa tỉnh ngộ, lãnh ngộ thiền chỉ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “且 入 門 一 句 作 麼 生 道。一 陽 來 復 後。瑞 氣 自 騰 騰。 – Nhưng một câu nhập môn làm sao nói? Sau khi mặt trời mọc lại, khí lành bốc hừng hực. “ ● 入 泥 入 水. Vào bùn vào nước dụ chỉ thiền sư tận tình khuyên bảo, khơi gợi, dìu dắt người học. Đối với pháp thiền chẳng lập ngôn ngữ văn tự mà nói thì việc làm này phạm vào những điều kiêng kỵ, là phương pháp quyền biến bất đắc dĩ mà làm. Tiết Thanh Bình Lệnh Tuân Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “上 堂、舉 初 見 翠 微 機 緣 謂 眾 曰:先 師 入 泥 入 水 爲 我、自 是 我 不 識 好 惡。 – Sư thượng đường cử nêu lên cơ duyên ban đầu gặp Thúy Vi, rồi bảo chúng rằng: Tiên sư tận tình khuyên bảo, khơi gợi, dìu dắt ta, tất nhiên là ta chẳng biết tốt xấu. “ ● 入 泥 水. Vào bùn nước, dụ chỉ sa vào lời lẽ nghĩa lý rắc rối, vướng mắc. Tiết Bắc Viện Thông Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “上 堂:諸 上 座 有 甚 麼 事、出 來 論 量 取。若 上 上 根 機、不 假 如 斯。若 是 中 下 之 流、直 須 鏟 削 門 頭 戶 底、教 索 索 地、莫 教 入 泥 水。第 一 速 須 省 事、直 須 無 心 去。學 得 千 般 萬 般、祇 成 知 解、與 衲 僧 門 下 有 甚 麼 交 涉? – Chư Thượng tọa nếu có việc gì hãy bước ra bàn bạc. Nếu là bậc căn cơ thượng thượng thì chẳng cần như thế này. Nếu là hàng trung lưu, chỉ cần dọn sạch nhà cửa, khiến cho trống trơn đi, đừng để sa vào lời lẽ nghĩa lý rắc rối, vướng mắc. Nhanh chóng nhất là phải giản tiện, chỉ cần vô tâm đi! Học được ngàn thứ muôn thứ, chỉ thành tri giải, cùng với đệ tử của thiền sư có gì dính dáng!” ● 入 室. 1. Còn gọi: Khai Thất. Vào trong thất của Sư phụ, đích thân nhận lãnh lời dặn và nối pháp sau khi sư phụ truyền tâm ấn. Phẩm Tự Tự, Kinh Pháp Bảo Đàn ghi: “祖 以 杖 擊 對 三 下 而 去、慧 能 即 會 祖 師 意、三 鼓 入 室。 – Tổ lấy gậy gõ vào cối ba cái rồi bỏ đi. Huệ Năng hiểu ý Tổ, nên canh ba vào thất”. ● 2. Thiền tăng vào thất Sư phụ để tham vấn, hỏi đạo. Truyện Thiền Sư Tùng Thẩm trong Vân Cư Sơn Chí ghi: “相 見 交 言 未 多、即 得 普 願 禪 師 賞 識 器 重、許 之 入 室。 – Lúc gặp nhau, thầy trò nói chuyện chưa nhiều, song thiền sư Phổ Nguyện rất hài lòng và xem trọng sư, chấp nhận cho sư vào thất để tham vấn”. Đệ tử ruột, đệ tử thân cận của thiền sư. Tiểu truyện Thiền Sư Khuông Việt trong TUTA ghi: “一 日 入 室 弟 子 多 寶 問 云:如 何 是 學 道 始 終? – Một hôm đệ tử thân cận là Đa Bảo hỏi: Thế nào là học đạo từ đầu chí cuối?” ● 入 院. Thiền Sư đến nhận chức trụ trì một tự viện nào đó. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “師 入 院 日。僧 問。遠 別 雙 泉 來 臨 禪 眾。入 門 一 句 願 師 舉 揚。師 云。也 待 一 一 覷 過。 – Ngày sư nhận chức trụ trì, tăng hỏi: Rời xa Song Tuyền (thiền viện) đi đến nơi tăng chúng tham thiền, ngưỡng mong Sư nói cho một câu nhập môn. Sư nói: Hãy chờ ta xem qua từng người đã. “ ● 入 處. Lối ngộ nhập, cách ngộ nhập. Vô Môn Quan ghi: “某 甲 雖 在 黃 梅 隨 眾、實 未 省 自 己 面 目。今 蒙 指 授 入 處、如 人 飲 水、冷 暖 自 知。今 行 者 即 是 某 甲 師 也。 – Dù tôi ở Hoàng Mai theo chúng thưa hỏi, nhưng thực ra chưa ngộ bản lai diện mục. Nay nhờ hành giả chỉ cho cách ngộ nhập, như người uống nước nóng lạnh tự biết. Nay hành giả chính là Thầy của tôi vậy. “ ● 一 挨 一 拶. Còn gọi: Ai Tạt. Bên xô bên đẩy. Trong Thiền viện, vị Thầy và người học dùng ngôn ngữ hay động tác hoặc nhẹ hoặc mạnh thực hiện tới tấp để khám nghiệm mức độ ngộ đạo sâu cạn của đối phương. Tắc 23, Bích Nham Lục (Đại 48, 164 thượng) ghi: “一 機 一 境、一 出 一 入、一 挨 一 拶、要 見 深 淺、要 見 向 背。 – Một cơ một cảnh, bên ra bên vào, bên xô bên đẩy, cần thấy được chỗ sâu cạn muốn thấy mặt trái mặt phải của y”. ● 一 般. 1. Một loại, một thứ. Tông Môn Võ Khố ghi: “今 時 有 一 般 漢、執 箇 平 常 心 是 道 以 爲 極 則。 – Thời nay có một loại người chấp cái tâm bình thường là đạo làm cứu cánh. “ ● 2. Giống như, như nhau. Phần Dương Ngữ Lục q. trung ghi: “一 般 打 鼓 并 作 舞、與 爾 諸 家 事 不 同。 – Giống như đánh trống và múa may, cùng với việc của các ông chẳng đồng. “ ● 一 般 擔 板 得 人 憎. Bọn ích kỷ bị mọi người ghét. Đam bản hán là người ích kỷ, không tùy thuận theo nhân tình thế gian; vì họ không biết tùy duyên nên không được sự cảm thông và tha thứ của mọi người. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q. 3 (Đại 47, 1004 thượng) ghi: “時 有 僧 問:一 般 擔 板 得 人 憎、十 載 深 雲 獨 掩 扃。 – Lúc ấy có vị tăng hỏi: Bọn ích kỷ sẽ bị mọi nguời ghét, mười năm quanh quẩn một mình một xó!”. ● 一 寶. Một hòn ngọc báu, dụ cho bản tính của chúng sinh hay bản thể của vũ trụ. Tắc 62, Bích Nham Lục (Đại 48, 193 hạ) ghi: “乾 坤 之 內、宇 宙 之 間、中 有 一 寶、祕 在 形 山。拈 燈 籠 向 佛 殿 裏、將 三 門 來 燈 籠 上。 – Trong trời đất, giữa vũ trụ có một hòn ngọc báu ẩn tại thân này. Cầm lồng đèn vào điện Phật, để sơn môn trên lồng đèn”. ● 一 飽 忘 百 飢. Một lần ăn no quên bẵng 100 lần đói khát trước kia. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho một khi triệt ngộ thì hành giả tự đầy đủ tất cả. Triệu Châu Lục q. hạ (Vạn Tục 118, 167 hạ) ghi: “日 昳 未、者 回 不 踐 光 陰 地、曾 聞 一 飽 忘 百 飢、今 日 老 僧 身 便 是。 – Mặt trời chưa xế, người về chẳng dính đến thời gian. Từng nghe: Một lần ăn no quên bẵng 100 lần đói khát trước kia, chính là thân lão tăng hôm nay vậy”. ● 一 撥 便 轉. Ý nói một khi được khải phát (khơi gợi) lập tức lãnh hội. Mật Am Ngữ Lục ghi: “纔 出 頭 來。一 撥 便 轉。本 地 風 光。頓 爾 現 前。 – Vừa mới sinh ra, một khi được khơi gợi lập tức lãnh hội, trong nháy mắt hiện tiền Bản lai diện mục. “ ● 一 辨. X. Hy Biện. ● 一 棒. Đánh một gậy. Cơ pháp của Thiền Sư sử dụng để dạy đệ tử. Đánh bằng gậy có tác dụng răn nhắc người học, gây tỉnh thức cho họ, đồng với ý nghĩa này có từ “Nhất hát” (Hét một tiếng). Triệu Châu Lục, q. hạ (Vạn tục 118, 166 thượng) ghi: “師 從 殿 上 過、見 一 僧 禮 拜、師 打 一 棒。云:禮 拜 也 是 好 事。師 云:好 事 不 如 無。 – Sư đi ngang qua chính điện, gặp một vị tăng đang lễ bái, sư đánh cho một gậy. Vị tăng nói: Lễ bái cũng là việc tốt. Sư nói: Việc tốt chẳng bằng không”. ● 一 棒 打 殺. Đánh một gậy cho chết. Chỉ cho cơ phong nghiêm khắc của Thiền Sư dùng để khai thị cho đệ tử, nhằm quét sạch mọi vọng tưởng, ác kiến của họ. Vân Môn Lục, q. trung (Đại 47, 560 trung) ghi: “舉 世 尊 初 生 下。一 手 指 天 一 手 指 地。周 行 七 步 目 顧 四 方 云:天 上 天 下 唯 我 獨 尊。師 云:我 當 時 若 見。一 棒 打 殺 與 狗 子 喫 卻。貴 圖 天 下 太 平。 – Cử: Khi mới hạ sinh, Đức Thế Tôn một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, bước đi bảy bước, mắt nhìn bốn hướng và nói: Trên trời dưới đất, chỉ có ta là tôn quý. Sư nói: Nếu lúc đó có tôi, tôi sẽ đánh ông ta một gậy cho chết rồi liệng cho chó ăn để thiên hạ được thái bình”. ● 一 筆 勾. Một nét xóa hết. Thiền Tông dùng để chỉ việc phá trừ trần duyên. Đại sư Liên Trì từng sáng tác “Thất bút câu” để khuyên răn người đời. Nội dung gồm 7 bài thơ như: Ngũ sắc kim chương nhất bút câu (Xóa bỏ công danh hiển đạt), Ngư thủy phu thê nhất bút câu (Xóa bỏ tình vợ chồng ân ái)… ● 一 個 半 個. Chỉ cho người hiếm có, người thật ưu tú. Như: “南 泉 云:會 取 佛 未 出 世 時、尚 不 得 一 箇 半 箇。 – Nam Tuyền nói: Còn không có được một người ưu tú để biết được lúc Phật chưa ra đời”. ● 一 箇 渾 身 無 處 著. Toàn thân không chỗ dính. Một người khi khai ngộ thì toàn thân người ấy bao trùm vũ trụ, dù đầy khắp hư không, nhưng không dính mắc một nơi nào. Vô Môn Quan (Đại 48, 295 hạ) ghi: “抬 腳 踏 翻 香 水 海、低 頭 俯 視 四 禪 天、一 箇 渾 身 無 處 著、請 續 一 向。 – Giơ chân đá bật biển Hương Thủy, cúi đầu xem thấy trời Tứ Thiền. Ngộ được toàn thân không chỗ dính, mời ông tiếp tục chuyên tâm ý”. ● 一 箇 棺 材 兩 箇 死 漢. Hai thây cùng liệm bằng quan tài như nhau. Chỉ cho kiến giải tầm thường dùng để dạy người, hóa ra làm hại cả người dạy lẫn người học. Tắc 20, Bích Nham Lục (Đại 48, 161 thượng) ghi: “不 見 僧 問 大 梅: 『如 何 是 祖 師 西 來 意?』 梅 云:『西 來 無 意。』 鹽 官 聞 云:『一 箇 棺 材、兩 箇 死 漢。』 玄 沙 聞 云:鹽 官 是 作 家。 – Chẳng thấy Tăng hỏi Đại Mai: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Mai đáp: Tổ sư không có ý! Diêm Quan nghe được, nói: Hai thây mà liệm bằng quan tài như nhau! Huyền Sa nghe được lời này liền nói: Diêm Quan là bậc tông sư đại cơ đại dụng”. ● 一 擒 一 縱. Một bên nắm lại, một bên buông thả. Đây là cơ pháp linh động, thay đổi tùy vào hoàn cảnh khác nhau mà thiền sư sử dụng để dẫn dắt người học. Tắc 49, Bích Nham Lục (Đại 48, 185 thượng) ghi: “一 擒 一 縱、逢 強 即 弱、遇 賤 即 貴。 – Một bên nắm một bên buông, gặp người mạnh thì mình yếu, gặp người hạ tiện thì mình sang quý”. ● 一 隻 眼. Còn gọi: Chính Nhãn, Hoạt Nhãn, Minh Nhãn, Đảnh Môn Nhãn. Một con mắt, chỉ cho con mắt trí tuệ chân thật, tức chỉ cho người có đủ chính kiến. Tắc 8, Bích Nham Lục (Đại 48, 148 thượng) ghi: “若 也 世 諦 流 布。具 一 隻 眼。可 以 坐 斷 十 方。壁 立 千 仞。 – Nếu dùng thế để dạy cho người thì phải có đủ một con mắt mới có thể quét sạch mười phương, đứng trện núi cao ngàn nhẫn không chút xao động”. ● 一 眾. Mọi người, tất cả người. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “Kim ngã hiện tiền nhất chúng, hữu tỵ giai trực, hữu nhãn giai hoành, diện diện tương đối, na cá bất tri? – Hiện nay mọi người ở trước mặt ta, đều là mắt ngang mũi dọc như nhau, mặt đối mặt, có cái nào chẳng biết. “ ● 一 種. Như nhau, giống nhau. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: Nhữ đẳng hảo trụ, kim cọng nhữ biệt… Ngô khứ dĩ hậu, mạc tác thế tình bi khấp… Như ngô tại nhật nhất chủng, nhất thời đoan tọa, đãn vô động vô tịnh. – Các người ở lại mạnh giỏi, nay ta giã biệt. Sau khi ta đi rồi, chớ có buồn khóc theo tình cảm thếgian… Hãy xem giống như ta còn sống, tạm thời ngồi ngồi ngắn, chỉ là không động không tịnh. “ ● 一 槌. Một dùi. Cái dùi làm bằng gỗ có hình bát giác, là một công cụ dùng thông báo sự việc cho đại chúng biết trong các tự viện Thiền Tông. Thông thường sử dụng vào những lúc thông báo triển bát, chấp tác… Ngoài ra, khi vị Trụ trì thăng tòa thuyết pháp, vị Bạch chùy sư (Vị trông coi việc đánh bảng, chuông) cũng dùng dùi đánh một hồi. Tắc 92, Bích Nham Lục (Đại 48, 216 hạ) ghi: 列 聖 叢 中 作 者 知 法 王 法 令 不 如 斯 會 中 若 有 仙 陀 客 何 必 文 殊 下 一 槌 “Liệt thánh tùng trung tác giả tri Pháp vương pháp lệnh bất như ty (tư) Hội trung nhược hữu Tiên Đà khách Hà tất Văn Thù hạ nhất chùy”. “Trong hàng liệt thánh tác giả hay Pháp lệnh Như Lai chẳng bằng đây Trong hội nếu có người lanh lợi Đâu nhọc Văn Thù đánh một dùi”. ● 一 槌 便 成. Chùy là công cụ được sử dụng để thông báo sự việc cho đại chúng. Nhất Chùy Tiện Thành nghĩa là sau một hồi bảng của thiền sư, người học đại ngộ đến chỗ tột cùng. Cũng có nghĩa là ngộ ngay lập tức. Tắc 48, Bích Nham Lục (Đại 48, 182 trung) ghi: “一 槌 便 成、超 凡 越 聖。 – Một dùi liền ngộ, siêu việt phàm thánh”. ● 一 轉 語. Một chuyển ngữ tức một câu nói làm cho người học chuyển mê khai ngộ. Trong khi Thiền giả tham vấn, đợi lúc ông ta ngơ ngác cùng đường tiến thoái, Thiền Sư lập tức chuyển đổi cơ pháp nói ra một câu khiến cho ông ta tỉnh ngộ. Nếu nói 3 câu thì gọi là Tam chuyển ngữ. Tắc 8, Thung Dung Lục (Đại 48, 232 thượng) ghi: “某 甲 於 過 去 迦 葉 佛 時 曾 住 此 山、有 學 人 問:「大 修 行 底 人 還 落 因 果 也 無?」 對 他 道:「不 落 因 果。」 墮 野 狐 身 五 百 生、今 請 和 尚 代 一 轉 語。丈 云:不 昧 因 果。老 人 於 言 下 大 悟。 – Thuở quá khứ thời Phật Ca Diếp tôi từng trụ núi này. Có người học hỏi tôi: Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả chăng? Tôi đáp: Chẳng rơi vào nhân quả. Do lời nói này mà tôi bị đọa làm thân chồn 500 đời. Nay thỉnh Hòa Thượng đáp thay cho một chuyển ngữ. Trượng nói: Chẳng lầm nhân quả. Ông già ngay nơi lời này liền đại ngộ”. ● 一 機 (1630-1708). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, hiệu Viên Tiệp, người Quảng Châu, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hoằng Tán, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Lần lượt trụ trì các chùa Quang Hiếu, chùa Khánh Vân. Tác phẩm: Đồ Nha Tập. ● 一 機 一 境. Cơ: Tác dụng của tâm, thuộc bên trong. Cảnh: Vật chất có hình thể, thuộc về bên ngoài. Ví dụ: Đức Thích Tôn giơ cành sen là cảnh, ngài Ca Diếp mỉm cười là cơ. Tắc 3, Bích Nham Lục (Đại 48, 142 hạ) ghi: “一 機 一 境、一 言 一 句、且 圖 有 箇 入 處、好 肉 上 剜 瘡、成 窠 成 窟、大 用 現 前、不 存 軌 則。 – Một thiền giả đang ở trong một cơ một cảnh, một lời một câu, vẫn mong có chỗ vào. Chẳng qua y còn có chỗ công phu giống như trên da thịt lành khoét thành thương tích, thành hang thành lỗ. Nếu như được đại dụng hiện tiền thì chẳng còn theo phép tắc”. ● 一 句. 1. Một câu. Kỳ Viên Chính Nghi (Vạn Tục 111, 85 hạ) ghi: “達 摩 不 曾 措 了 一 詞、二 祖 不 曾 問 著 一 句。 – Đạt Ma chưa từng nói một lời, Nhị tổ chưa từng hỏi một câu”. ● 2. Ý chỉ huyền diệu của Thiền (Đệ nhất cú). Triệu Châu Ngữ Lục q. thượng (Vạn Tục 118, 154 thượng): “問:如 何 是 一 句?師 云:若 守 著 一 句、老 却 你。 – Hỏi: Thế nào là Nhất cú? Sư đáp: Nếu chấp lấy Nhất cú thì lão từ chối đáp cho ngươi”. Thiền Tông thường dùng từ “Nhất cú đạo đắc”, “Mạc hậu đích nhất cú”, “Thấu quan đích nhất cú” biểu thị nghĩa Bát Nhã không, hoặc chân lý… ● 一 句 道 斷. Chỉ dùng một câu nói để quét sạch ngôn ngữ. Tắc 63, Bích Nham Lục (Đại 48, 195 thượng) ghi: “兩 堂 俱 是 杜 禪 和 (親 言 出 親 口。一 句 道 斷。據 欵 結 案)。 – Các vị ở nhà Đông, nhà Tây đều là những Thiền sinh xoàng xĩnh (Chính cửa miệng nói ra lời thân thiết, chỉ dùng một câu nói để quét sạch ngôn ngữ, căn cứ theo các dữ kiện mà kết thúc công án)”. ● 一 句 道 盡. Chỉ cần nghe một câu mà thông suốt được cốt tủy của Phật pháp. Tắc 76, Bích Nham Lục (Đại 48, 203 trung) ghi: “福 云:施 者、受 者 二 俱 瞎 漢(據 令 而 行、一 句 道 盡、罕 遇 其 人)。 – Bảo Phúc nói: Người cho và người nhận cả hai đều mù (Theo mệnh lệnh mà thi hành, chỉ cần nghe một câu mà thông suốt cốt tủy của Phật pháp, rất ít gặp được người như thế)”. ● 一 句 合 頭 語. Đối lại: Vạn Kiếp Hệ Lô Quyết (muôn kiếp vướng cọc lừa). Người học đối với một câu của thiền sư mà lãnh hội và thấu rõ được tâm tính của chính mình. Nhưng nếu chấp trước vào chỗ lãnh hội ấy thì sẽ mất tự do, giống như cây cọc buộc con lừa đến muôn kiếp. Chương Thuyền Tử Đức Thành trong CĐTĐL q. 14 ghi: “師 曰:何 處 學 得 來。曰:非 耳 目 之 所 到。師 笑 曰:一 句 合 頭 語 萬 劫 繫 驢 橛。垂 絲 千 尺 意 在 深 潭。離 鉤 三 寸 速 道 速 道。會 擬 開 口。師 便 以 篙 撞 在 水 中。因 而 大 悟。 – Đức Thành hỏi: Học được điều này ở đâu? Thiện Hội đáp: Chẳng phải chỗ lãnh hội của tai và mắt. Sư cuời rồi nói: Một câu lãnh hội được, nhưng nếu chấp vào đó thì giống như cây cọc buộc con lừa đến muôn kiếp. Thả sợi nhợ ngàn thước, ý ở đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau! Thiện Hội định mở miệng, sư liền lấy cây sào đập cho một cái. Thiện Hội ngay nơi đây đại ngộ”. ● 一 句 截 流 萬 機 寢 削. Chỉ dùng 1 câu, 1 lời có tác dụng chặt đứt tất cả tâm phân biệt vọng tưởng, chấm dứt muôn ngàn tính toán, ngay đó phơi bày chân tướng của bản thể. Tắc 56, Bích Nham Lục (Đại 48, 190 trung) ghi: “大 丈 夫 先 天 爲 心 祖(一 句 截 流、萬 機 寢 削)。 – Bẩm tính của Đại trượng phu là tâm tổ (Một câu có tác dụng chặt đứt muôn ngàn tính toán)”. ● 一 句 知 教. Thiền tăng thời Trịnh Nguyễn phân tranh, thuộc tông Tào Động, đời thứ 35. Sư trụ trì tại núi Phụng Hoàng, Hồ Châu, Trung Quốc. Trong lúc đi tham vấn, sư đến tham yết Hòa Thượng Tịnh Chu ở An Kiết. Cơ ngữ qua lại, Tịnh Chu thấy sư lợi căn bèn cho nhập chúng. Sau Tịnh Chu truyền tâm ấn cho sư và cho hiệu là Nhất Cú. Sư bái từ trở về núi Phụng Hoàng. Về đây, sư khai đường dạy chúng, đạo pháp rất tinh nghiêm. Học giả bốn phương nghe danh quy tụ về rất đông. Kệ phó pháp: 春 色 色 草 茸 茸 萬 宇 枝 條 開 切 切 一 莖 楊 發 產 重 重 水 浸 月 圓 澄 海 底 山 頭 日 出 露 巖 峰 Xuân sắc sắc, thảo nhung nhung Vạn vũ chi điều khai thiết thiết Nhất hành dương phát sản trùng trùng Thủy tẩm nguyệt viên trừng hải để Sơn đầu nhật xuất lộ nham phong. “Xuân sặc sở, cỏ mượt mà Khắp chốn ngàn cây bông trổ gấp Một cành dương liễu nẩy trùng trùng Trăng dầm đáy biển nước lóng lặng Trời ra đỉnh núi lộ màu non”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 一 句 子. Còn gọi: Hướng Thượng Để Na Nhất Cú. Tử là trợ từ, không có nghĩa. Nhất cú trong trường hợp này là Nhất ngôn, tức một câu nói. Nhất Cú Tử là một câu vô ngôn mà nói được chỗ cứu cánh của Phật pháp. Phần Thị Chúng trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 500 thượng) ghi: “道 流。如 諸 方 有 學 人 來。主 客 相 見 了。便 有 一 句 子 語。辨 前 頭 善 知 識。 – Này chư huynh đệ! Như có người học ở các nơi đến, sau khi chủ khách gặp nhau, liền có một câu vô ngôn mà nói được chỗ cứu cánh của Phật pháp, phân biệt được vị thiện tri thức thuở trước”. ● 一 窑 燒 就. Một lò nung thành. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho các đệ tử được đào tạo từ một vị Thầy. Tắc 6, Thung Dung Lục (Đại 48, 231 thượng) ghi: “白 頭 黑 頭 兮、克 家 之 子(一 窑 燒 就);有 句 無 句 兮、截 流 之 機。 – Đầu bạc đầu xanh chừ, đều là con một nhà (một lò nung thành). Câu Hữu câu Vô chừ, đều là cơ cắt đứt dòng ý thức”. ● 一 引. Một tổ gồm 3 vị tăng đứng đầu để hướng dẫn chư tăng cử hành các nghi thức trong tự viện. Tạ Quải Đáp trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 5 (Đại 48, 1141 hạ) ghi: “戒 臘 在 上 者、一 人 爲 參 頭、一 人 爲 副 參。參 頭 當 具 小 圖 習 儀、三 人 一 引、每 引 一 人 爲 小 參 頭。 – Ba vị làm một tổ. Một tổ gồm có: Một vị Tham đầu (Người nhiều tuổi hạ nhất), một vị Phó tham và một vị Tiểu tham đầu. Tham đầu phải có một quyển sổ tay hướng dẫn nghi thức”. ● 一 大 藏 教. Toàn bộ lời dạy trong Kinh Phật. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “雲 門 一 日 普 請 般 柴 次。乃 拋 下 一 片 柴 云。一 大 藏 教。只 說 者 箇。 – Một hôm, trong chùa chư tăng đang bổ củi (lao động tập thể), Vân Môn ném xuống một thanh củi, bảo: Toàn bộ lời dạy trong Kinh Phật chỉ nói cái này. “ ● 一 代 時 教. Giáo pháp một đời, Toàn bộ lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “三 世 諸 佛 不 能 自 宣、一 代 時 教 詮 註 不 及。 – Chư Phật ba đời không thể tuyên nói, giáo pháp một đời chú giải chẳng nổi. “ ● 一 擔 禪. Nhất đảm: Một gánh hành lý. Chân ý của Thiền là vô cùng vô tận, còn sự hiểu biết nửa vời thì giống như việc gánh vác hành lý. Do đó, Thiền Tông dùng từ Nhất Đảm Thiền để chỉ cho Thiền nửa vời, in tuồng như thông mà chẳng thông. Tắc 98, Bích Nham Lục (Đại 48, 221 hạ) ghi: “佛 法 不 是 這 箇 道 理。若 論 此 事。豈 有 許 多 般 葛 藤。爾 若 道 我 會 他 不 會。擔 一 檐 禪。遶 天 下 走。被 明 眼 人 勘 破。一 點 也 使 不 著。 – Phật pháp chẳng phải đạo lý này, luận về việc tham thiền biện đạo há có chuyện dài dòng, nếu ông nói tôi hội, người khác chẳng hội là gánh một gánh thiền nửa vời dạo khắp các nơi, bị người sáng mắt khám phá, một điểm cũng sử dụng không được”. ● 一 刀 兩 段 漢. Người có tính dứt khoát, nhanh nhẹn, khéo léo tiếp cơ, mau chóng ngộ nhập. Phần Dương Ngữ Lục, q. thượng ghi: “要 明 斯 事 也。須 是 箇 一 刀 兩 斷 漢 始 得。只 恁 麼 哄 哄 恫 恫 地 爛。冬 瓜 相 似。有 什 麼 成 辨。 – Muốn thấu rõ việc này, phải là người có tính dứt khoát mới được. Nếu như lo sợ cuống cuồng thế ấy, khác gì trái bí đao thối, có làm được việc chi!”. ● 一 道 神 光. Một luồng ánh sáng thần diệu, tức ánh sáng sẵn có của chính mình, là tâm sáng suốt linh diệu không mờ mịt. Tắc 31, Thung Dung Lục (Đại 48, 248 thượng) ghi: “一 道 神 光、初 不 覆 藏。 – Một luồng ánh sáng thần diệu, từ trước đến nay chẳng hề che giấu”. ● 一 得 一 失. Còn gọi: Niêm Đắc Tỵ Khổng Thất Khước Khẩu. Một được một mất, nghĩa là có được (lợi ích) tất có mất (tổn thất). Lúc khẳng định một phương thì phủ định các phương khác. CĐTĐL q. 24 (Đại 51, 399 hạ) ghi: “因 僧 齋 前 上 參。師 以 手 指 簾。時 有 二 僧 同 去 捲 簾。師 曰:一 得 一 失 – Nhân tăng lên tham vấn trước trai đường, sư (Pháp Nhãn) lấy tay chỉ bức rèm. Khi ấy có hai vị tăng bước đến cuốn tấm rèm. Sư bảo: Một được, một mất”. ● 一 等. Như nhau, giống nhau. Tiết Đầu Tử Đại Đồng Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “一 等 是 水、爲 甚 麼 海 鹹 河 淡? – Cùng là nước như nhau, vì sao nước biển thì mặn còn nước sông lại lạt?” ● 一 定 (1783-1874). Thiền tăng đời Nguyễn, pháp danh Tính Thiên, người Quảng Trị, sinh năm 1783. Sư xuất gia từ thuở bé, lớn lên được Thiền Sư Phổ Tịnh chùa Thiên Thọ làm lễ thế độ cho làm Sa Di. Sau sư thụ giới cụ túc với Thiền Sư Mật Hoằng ở chùa Quốc Ân. Vâng mệnh vua Gia Long sư giữ chức vụ trụ trì chùa Thiên Thọ. Năm 1833, vua Minh Mạng thỉnh sư trụ trì chùa Linh Hựu. Năm 1839, vua lại thỉnh sư làm Tăng cang chùa Giác Hoàng. Tính sư ưa vân du nên không thích quản đốc các ngôi quốc tự. Năm 1843, sư xin từ chức Tăng cang chùa Giác Hoàng, được vua Thiệu Trị chấp nhận. Sư rất hài lòng, nói: “Già rồi, may được vua thương Một thân, một bát, rộng đường vân du”. (Hạnh phùng tấu đắc nhưng hồi lão Nhất bát cô thân vạn lý du). Mấy năm sau đó, sư lên núi Dương Xuân Thượng quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, dựng một thảo am để ở, gọi là An Dưỡng Am. Cảnh trí ở đây u nhàn đẹp đẽ. Sư tu ở đây cho đến năm 1874 thì tịch, thọ đúng 64 tuổi. Ba người đệ tử xuất sắc của sư là Lương Duyên, Cương Kỷ và Linh Cơ. Thái giám viện nương vào đức độ của sư, dựng chùa lớn tại địa điểm An Dưỡng Am, đặt tên là chùa Từ Hiếu, kiến trúc tương tợ kiến trúc Lăng Vua Tự Đức. Chùa sở dĩ mang tên Từ Hiếu là để kỷ niệm lúc sinh tiền sư rất có hiếu với cha mẹ. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 一 條 拄 仗 兩 人 扶. Cây gậy của Thiền Sư cầm có thể giúp cho 2 người học nương theo. Nghĩa bóng là: Hễ là đệ tử của Phật cùng hành theo chính pháp thì đều được chứng ngộ như nhau. Tắc 24, Bích Nham Lục (Đại 48, 165 trung) ghi: “麼 消 息 一 條 拄 杖 兩 人 扶。相 招 同 往 又 同 來 – Đây là tin tức gì? Một chiếc gậy mà hai kẻ cầm, vẫy nhau cùng qua cùng lại”. ● 一 段 事. Một việc trọng yếu, chỉ cho tướng của bản thể. Trong Thiền học lại chỉ cho: ― Việc nhãn tiền. ― Việc ngộ đạo. ● 一 隊. Một bọn, một lũ. Tiết Tiến Phúc Thể Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “此 土 與 西 天、一 隊 黑 漆 桶。誑 惑 世 間 人、看 看 滅 胡 種。 – Cõi nầy (Trung Quốc) cùng Tây Thiên, có một bọn vô minh (giống như thùng sơn đen) lừa dối người thế gian, coi chừng họ cắt đứt pháp mạch của Phật giáo. ● 一 家 宴. Còn gọi: Nhất Gia Duyên. Bữa tiệc trong gia đình không mời người ngoài. Thiền Tông dùng từ Nhất Gia Yến để chỉ cho những lễ lộc mà không có các chùa khác dự. Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục (Đại 47, 640 hạ) ghi: “結 夏 無 可 供 養 大 眾 作 一 家 宴 管 顧 諸 人。遂 抬 手 云。囉 邏 招 囉 邏 搖 囉 邏 送。莫 怪 空 疏。伏 惟 珍 重。 – Kiết hạ không thể cúng dường đại chúng, làm một bữa tiệc trong chùa của mình để thết đãi họ. Ngài liền chắp tay nói: Cứ lải nhải mời thỉnh, tiếp đãi, tiễn đưa, có điều chi sơ sót, cúi mong quý vị bỏ qua, kính chào”. ● 一 莖 草. Một cọng cỏ, để hình dung cho một vật rất nhỏ, rất tầm thường. Tuy nhiên, ở đây dùng một cọng cỏ sánh với chùa chiền hoặc thân Phật để nói lên ý nghĩa “Tâm Phật bất nhị, vật ngã nhất như”. Tắc 4, Thung Dung Lục (Đại 48, 230 thượng) ghi: “世 尊 與 眾 行 次、以 手 指 地 云:此 處 宜 建 梵 剎。帝 釋 以 一 莖 草 插 於 地 上 云:建 梵 剎 已 竟。世 尊 微 笑。 – Đang cùng đi với đại chúng, bỗng Đức Phật chỉ tay xuống đất mà nói rằng: Nên lập ngôi chùa ở đây! Đế Thích đem một cọng cỏ cắm trên đất và nói: Con cất chùa xong rồi! Đức Phật mỉm cười”. ● 一 花 開 五 葉. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên q. 1, khi Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền giao y pháp cho Nhị tổ Huệ Khả, từng làm một bài kệ như sau: 吾 本 來 茲 土 傳 法 救 迷 情 一 華 開 五 葉 結 果 自 然 成 Ngô bản lai tư độ. Truyền pháp cứu mê tình. Nhất hoa khai ngũ diệp Kết quả tự nhiên thành. Ta vốn đến cõi này, Truyền pháp cứu mê lầm. Một hoa nở năm cành, Kết quả ắt sẽ thành. Một số người cho rằng “Nhất hoa” chỉ cho thiền pháp do Đạt Ma truyền, “Ngũ diệp” chỉ cho thời kỳ đang thịnh của Thiền Tông lần lượt sinh ra ngũ gia tông phái là: Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. ● 一 火 弄 泥 團 漢. Đồ chậm lụt. Thông thường việc làm của hạng phàm tục được xem như việc các trẻ nít vọc bùn. Thiền Tông gọi họ bằng lời châm biếm vậy. Tắc 36, Bích Nham Lục (Đại 48, 174 trung) ghi: “雪 竇 著 語 云:謝 答 話 (一 火 弄 泥 團 漢。三 箇 一 狀 領 過) – Tuyết Đậu bình rằng: Cảm ơn lời đáp tạ! (Đồ chậm lụt! Ba người cùng lãnh một án)”. ● 一 迴 飲 水 一 迴 著 噎. Mỗi một lần uống nước là mỗi một lần bị mắc nghẹn. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho cơ pháp biến ảo của Thiền Sư, chẳng phải là cái mà người ta có thể sắp đặt trước để đối phó mà được. Tắc ● 2, Thung Dung Lục (Đại 48, 228 hạ) ghi: “廓 然 無 聖、一 迴 飲 水、一 迴 著 噎。 – Rỗng rang không Thánh, cơ pháp biến ảo của thiền sư không thể dự liệu được”. ● 一 回 舉 著 一 回 新. Còn gọi: Nhất Hồi Niêm Xuất Nhất Hồi Tân. Mỗi lần đưa ra một cổ tắc công án là mỗi lần có tác dụng thể ngộ mới. Tắc 30, Bích Nham Lục (Đại 48, 169 hạ) ghi: “鎮 州 出 大 蘿 蔔(天 下 人 知。切 忌 道 著。一 回 舉 著 一 回 新)。 – Trấn Châu sản xuất củ cải to (Mọi người đều biết, rất kỵ nói đến! Mỗi lần đưa ra một công án là mỗi lần có tác dụng thể ngộ mới)”. ● 一 會. Có 3 nghĩa: 1. Thông thường chỉ cho một lần tụ hội có đủ hình thái tôn giáo. 2. Lúc Phật còn tại thế thuyết pháp, thường thường Phật giảng một bộ kinh, chia làm nhiều lần để giảng, mỗi lần gọi là một hội. Như Kinh Đại Bát Niết Bàn gồm 16 hội. 3. Tại các Thiền viện, y theo nội quy đã ấn định để đánh chuông hoặc trống, hễ đánh 1 lần gọi là 1 hội, đánh 2 lần gọi là 2 hội. ● 一 會 一 切 會. Một hội thì tất cả đều hội, nghĩa là hiểu biết thấu suốt một vấn đề lớn là sinh tử thì tất cả sự lý trong Tam tạng Kinh điển đều tự nhiên thông hiểu một cách rõ ràng. Tắc 60, Bích Nham Lục (Đại 48, 192 trung) ghi: “胸 中 若 無 一 物。外 則 了 無 絲 毫。說 什 麼 理 與 智 冥、境 與 神 會!何 故?一 會 一 切 會、一 明 一 切 明。 – Trong lòng nếu không một vật thì bên ngoài hoàn toàn không có gì cả, còn nói gì đến lý cùng trí hiệp, cảnh với thần hội. Vì sao? Vì một hội thì tất cả đều hội, một việc sáng thì tất cả đều sáng”. ● 一 向. 1. (Kiên trì làm một việc gì) không thay đổi. Tiết Đại Dung Nhân Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “師 與 一 老 宿 相 期 他 往、偶 因 事 不 去。宿 曰:佛 無 二 言。師 曰:法 無 一 向。 – Sư hẹn gặp một vị thiền sư già, chợt bận việc nên chẳng đi được. Vị thiền sư già bảo: Phật không hai lời. Sư nói: Pháp hay thay đổi. ● 2. Từ đầu đến cuối, một mực. Đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q. 2 ghi: “凡 做 功 夫、一 向 放 下 身 心、展 絕 見 聞 覺 知。 – Phàm dụng công, một mực xả bỏ thân tâm, tuyệt dứt kiến văn giác tri. ● 一 響. Khoảnh khắc, giây phút. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “我 輩 在 士 途 中、爲 國 宣 勞、爲 民 牧 守、十 二 時 中、無 一 響 靜 定。 – Bọn tôi ở trên con đường làm quan, việc nước bận rộn, chăn giữ muôn dân, suốt ngày không có giây phút nào được yên tịnh (tâm trí). “ ● 一 有 多 種. Đối lại: Nhị Vô Lưỡng Ban. Nhất là nguyên lý tuyệt đối, nhất vị bình đẳng. Đa là các tướng sai biệt, nhiều chủng loại. Nhất Hữu Đa Chủng có nghĩa là “Bình đẳng tức sai biệt”. ● 一 客 煩 兩 主. Một người khách trong cùng một lúc muốn được hai người chủ tiếp đãi. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho người khéo ứng dụng Thiền cơ một cách linh hoạt. Tắc 87, Thung Dung Lục (Đại 48, 283 trung) ghi: “後 到 明 昭 舉 前 話(一 客 煩 兩 主)。 – Sau đó đến Minh Chiêu, sư nêu ra lời nói khi trước (Một vị khách làm phiền đến hai chủ)”. ● 一 坑 埋 却. Chôn vùi xuống một hố. Thiền Tông mượn cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ cho việc chôn vùi mọi suy lý, luận đoán một lần một. Kể từ đó dứt sạch mọi thị phi, không để chúng làm hoặc loạn. Tắc 33, Bích Nham Lục (Đại 48, 172 hạ) ghi: “雪 竇 復 云:天 下 衲 僧 跳 不 出 (兼 身 在 內。一 坑 埋 卻。闍 黎 還 跳 得 出 麼?) – Thiền Sư Tuyết Đậu lại nói: Thiền tăng khắp nơi, không ai nhảy ra được (Toàn thân ở trong đó, một hố chôn hết. Còn Xà Lê có nhảy ra được chăng?)”. ● 一 款 便 招 自 領 出 頭. Nhất khoản: Một tờ cáo trạng. Tự lãnh xuất đầu: Chính mình ra giữa pháp đình nhận lấy tội trạng. Thiền Tông dùng thuật ngữ này để chỉ cho việc tự mình nhận lấy khuyết điểm của mình. Tắc 18, Thung Dung Lục (Đại 48, 238 trung) ghi: “僧 云:既 有、爲 甚 麼 卻 撞 入 這 箇 皮 袋?(一 款 便 招、自 領 出 頭)。 – Vị tăng hỏi: Đã có, vì sao lại chui vào cái đãy da này? (Tự mình nhận lấy khuyết điểm của mình)”. ● 一 空 (1603-1664). Thiền tăng đời Minh, họ Quách, tự Lãng Nhiên, người xứ Phủ Điền, Phúc Kiến, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Duy Tịnh Đạo An, đời thứ 35 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì các chùa Thiên Khổn, Quy Dương, Tiên Khê. ● 一 徑. Dứt khoát, lập tức. Tiết Ngọc Tuyền Thừa Hạo Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “今 時 人 不 能 一 徑 徹 證 根 源、祇 以 語 言 文 字 而 爲 至 道。 – Người thời nay chẳng thể lập tức triệt chứng được nguồn gốc, chỉ vì cho văn tự ngữ ngôn là chí đạo. “ ● 一 期. Tạm thời, trong chốc lát. Tiết Văn Yển Thiền Sư trong LĐHY q. 24 ghi: “雲 門 一 期 慈 悲、却 成 多 事、當 時 便 回 去、免 見 挂 後 人 展 齒。 – Vân Môn tạm thời từ bi trở lại thành lắm việc. Nếu khi ấy liền trở về thì khỏi phải thấy người sau dùng ngôn ngữ để giải bày. “ ● 一 絡 索. Có 2 nghĩa: 1. Dây quấn thành một cục, ý nói cách hành văn rối rắm, không mạch lạc rõ ràng. 2. Một đoạn, một tiết văn chương thường gặp trong sách vở Thiền Tông. Tắc 44, Bích Nham Lục (Đại 48, 181 trung) ghi: “雪 竇 後 面 引 一 落 索。依 雲 門 示 眾。頌 出 此 公 案。 – Tuyết Đậu ở phía sau dẫn một đoạn văn, dựa vào lời dạy chúng của Vân Môn, tụng ra công án này”. ● 一 綟 絲. Một cuộn tơ. Lệ là cỏ lệ, lấy cỏ lệ làm thuốc nhuộm, nhuộm tơ thành màu đen hoặc xanh lá mạ, nên gọi là Lệ ty. Thiền Tông mượn từ này để dụ cho cội nguồn mê vọng của chúng sinh tức là vô thủy vô minh. Tắc 19, Bích Nham Lục (Đại 48, 159 thượng) ghi: “一 塵 舉 大 地 收。一 花 開 世 界 起。只 如 塵 未 舉 花 未 開 時。如 何 著 眼。所 以 道: 如 斬 一 綟 絲。一 斬 一 切 斬。如 染 一 綟 絲。一 染 一 切 染。 – Một hạt bụi dấy có thể chứa cả quả đất. Một đóa hoa nở hiện ra một thế giới. Nếu khi hạt bụi chưa dấy, đóa hoa chưa nở thì làm sao quan sát? Thế nên khai ngộ giống như chặt một cuộn tơ, chặt một nhát thì tất cả đều đứt; như nhuộm một cuộn tơ, nhuộm một chéo thì cả cuộn tơ đều bị nhuộm”. ● 一 路 福 星. Đối lại: Vạn Gia Sinh Phật. Người có vì sao tốt chiếu mạng, đường đời không vấp, hưởng phúc trọn đời. Người có phúc lớn; được người đời ca tụng. Trong Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh có câu: Dầu chẳng “Vạn gia sinh Phật” cũng là “Nhất lộ phúc tinh”. Ý nói: Nếu chẳng làm được một vị quan nhân đức thì cũng làm một người thường dân có phúc lớn, có danh tiếng ở đời. X. Vạn gia sinh Phật. ● 一 盲 引 眾 盲. Người Thầy tà kiến truyền đạt kinh nghiệm sai lạc của mình cho người học. Bài tụng Can Đầu Tiến Bộ của Vô Môn Quan (Đại 48, 298 hạ) ghi: 瞎 卻 頂 門 眼、錯 認 定 盤 星 轉 身 能 捨 命、一 盲 引 眾 盲 “Hạt khước đảnh môn nhân Thố nhận định bàn tinh Chuyển thân năng xả mạng Nhất manh dẫn chúng manh”. “Mù mất mắt trên trán Nhận lầm theo chủ kiến Lộn thân thì bỏ mạng Thầy mù dẫn trò mù”. ● 一 那 箇. Một cái ấy. Danh từ Nhất Na Cá được Thiền Tông dùng để chỉ cho nghi tình. ● 一 衲. Một chiếc áo vá nhiều miếng, tức là áo của tu sĩ. Do đó, Nhất nạp còn chỉ cho một vị Tăng. ● 一 言 駟 馬. Gọi đủ: Nhất ngôn ký phát, tứ mã nan truy “Một lời nói ra, ngựa hay (ngựa tứ) đuổi theo không kịp”. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho: Một khi đã dùng ngôn ngữ văn tự để diễn đạt thì đã cách “Mặt mũi xưa nay” rất xa. Tắc 89, Thung Dung Lục (Đại 48, 285 thượng) ghi: “只 如 萬 里 無 寸 草 處、作 麼 生 去?(一 言 既 發、駟 馬 難 追)。 – Nếu như muôn dặm không có một tấc cỏ, thì thế nào? (Một lời nói ra đã cách chân lý rất xa)”. ● 一 一. Mỗi mỗi (đều là). Thần Hội Di Tập, q. 3 ghi: “我 六 代 大 師、一 一 皆 言 單 刀 直 入、直 了 見 性。 – Các bậc đại sư sáu đời của ta, mỗi mỗi đều nói về vấn đề tâm tính để khai mở trực tiếp tâm nhãn cho họ. “ ● 一 日 不 作、一 日 不 食. Khoảng giữa đời Đường, thiền sư Hoài Hải ở núi Bách Trượng, Giang Tây bắt đầu kết hợp việc tu thiền với việc lao động thực tiễn, thực hành quy chế “Ngày nào không làm, ngày đó không ăn”. Mọi người và chính bản thân ngài đều tham gia lao động, đem quy chế nầy viết vào trong sách Bách Trượng Thanh Quy (hoặc gọi là Thiền Môn Quy Thức), ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng thiền viện, thiền tự đời sau. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “師 凡 作 務 執 勞、必 先 於 眾、主 者 不 忍、密 收 作 具 而 請 息 之。師 曰:吾 無 德、爭 合 勞 於 人?既 遍 求 作 具 不 獲、而 亦 忘 餐。故 有 一 日 不 作、一 日 不 食 之 語 流 播 寰 宇 矣。 – Mỗi khi làm công tác sư là người đi đầu trong chúng. Viện chủ thấy thế không nỡ, liền ngầm giấu dụng cụ và thỉnh sư nghỉ. Sư bảo: Tôi không có đức, sao lại đùn việc nặng nhọc cho người? Rồi đi tìm dụng cụ khắp nơi nhưng không được, hôm đó sư nhịn ăn. Vì thế có câu nói ›Ngày nào không làm, ngày đó không ăn‹ lưu truyền khắp mọi nơi. “ ● 一 如 (1352-1425). Thiền tăng đời Minh, họ Tôn, tự Nhất Am, hiệu Thối Ông, người xứ Thượng Ngô (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 13 tuổi vào chùa Trường Khánh làm tăng rồi đến núi Ngô nương pháp sư Cụ Am Tỵ. Năm 1385, sư trụ trì chùa Sùng Khánh ở Tùng Giang (nay thuộc Thượng Hải) sau dời đến các chùa: Bắc Thiền ở Tô Châu, Đại Báo Ân, Thiên Trúc Linh Sơn, Thiên Trúc lấy việc xiển dương Thiền Tông, tiếp dẫn kẻ hậu học làm nhiệm vụ, số người theo hoc với sư ngày càng đông. Khoảng năm 1403-1424, sư phụng chiếu biên tập Thiền Tông Ngữ Lục. Năm 1414, sư chủ trì việc biên tập Đại Tạng Kinh, được trao cho chức Hữu giác nghĩa, rồi thăng chức Hữu xiển giáo. Năm 1425 sư nhận chức Tả xiển giáo ở Tăng lục ty. Tác phẩm: Pháp Hoa Khoa Chú 4 quyển, Đại Minh Tam Tạng Pháp Số 50 quyển. ● 一 念 不 生 全 體 現. Một niệm không sinh tức là cảnh giới vượt lên trên mọi niệm lự suy tính, chính là cảnh giới Phật, lúc ấy thì toàn thể (đại đạo) tự nhiên hiển hiện. Tắc 76, Thung Dung Lục (Đại 48, 275 trung) ghi: “遇 賤 則 貴、遇 貴 則 賤;得 珠 罔 象 兮、至 道 綿 綿(一 念 不 生 全 體 現)。 – Gặp hèn thì sang, gặp sang thì hèn. Được châu như ý chừ, chí đạo sáng ngời (một niệm chẳng sinh toàn thể hiện)”. ● 一 念 萬 年. Một niệm tức muôn năm, muôn năm tức một niệm. Đây là câu nói về tuyệt đối, vượt ra ngoài những khái niệm như ngắn dài, mau chậm của thời gian. Tín Tâm Minh (Đại 48, 377 thượng) ghi: 宗 非 促 延、一 念 萬 年 無 在 不 在、十 方 目 前 “Tông phi xúc diên, nhất niệm vạn niên Vô tại bất tại, thập phương mục tiền”. “Tông chỉ chẳng có ngắn dài, Một niệm tức muôn năm Chẳng phải có chỗ, chẳng phải không chỗ Mười phương hư không chính là trước mắt”. ● 一 寧 (1274-1317). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hồ, hiệu Nhất Sơn, cũng gọi Nhất Ninh Nhất Sơn, Ninh Nhất Sơn, người xứ Lâm Hải, Đài Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia ở chùa Hồng Phúc, sư thờ ngài Vô Đẳng Dung Công tập theo pháp của tông Lâm Tế. Sau đó vào chùa Phổ Quang trong núi Tứ Minh học kinh Pháp Hoa, lại hấp thụ giáo nghĩa Luật tông, Thiên Thai tông. Sư giỏi thơ văn, khéo về thư pháp kiêm thông Nho đạo. Năm 1299 vua Thành Tông giao cho Sư trông coi tất cả giáo đồ đạo Phật ở vùng Lưỡng Chiết và ban cho hiệu “Diệu Từ Hoằng Tế Đại Sư”, phụng mạng đi sứ Nhật Bản và ở lại bên đó. Sư lần lượt trụ trì các chùa: Kiến Tường, Viên Giác, Nam Thiền, truyền trao thiền pháp, môn đồ rất đông, được suy tôn làm Tông sư của phái “Nhất Ninh Nhất Sơn”. Tác phẩm: Nhất Ninh Nhất Sơn Quốc sư Ngữ Lục. ● 一 片 白 雲 不 露 醜. Mượn hình ảnh mây trắng che khắp không gian, lấp kín những gì xấu xí phía sau nó để chỉ cho chân lý bao dung tất cả, vượt thoát tất cả cặp đối đãi: Thị phi, thiện ác, hữu vô… ● 一 放 一 收. Bên buông ra, bên nắm lại. Chỉ cho cơ phong được Thiền Sư vận dụng một cách tự tại để tiếp hóa người học. Tính chất của nó là thích hợp với từng người (đương cơ). Tắc 99, Bích Nham Lục (Đại 48, 222 trung) ghi: “所 謂 人 人 具 足。箇 箇 圓 成。看 他 一 放 一 收。 – (Pháp thân thanh tịnh) người người đều đầy đủ, mỗi mỗi thảy sẵn sàng, xem sư vận dụng cơ phong để đối địch”. ● 一 色 邊 事. Hình dung cảnh giới thanh tịnh và bình đẳng, siêu việt lên mọi quan niệm tương đối và sai biệt. Tắc 42, Bích Nham Lục (Đại 48, 179 hạ) ghi: “古 人 以 雪 明 一 色 邊 事。 – Người xưa dùng tuyết để minh họa cho cảnh giới thanh tịnh và bình đẳng”. ● 一 色 無 辨 處. Chỉ cảnh giới tuyệt đối, không thể dùng trí suy nghĩ tương đối để hiểu được. Tào Sơn Lục (Đại 47, 533 hạ) ghi: “法 身 法 性 是 尊 貴 邊 事、亦 須 轉 卻、是 尊 貴 墮;祇 如 露 地 白 牛、是 法 身 極 則、亦 須 轉 卻、免 他 坐 一 色 無 辨 處、并 是 稱 斷 供 養 邊 事。 – Pháp thân pháp tính là việc gần bên tôn quý, cũng cần chuyển lại là Tôn quý đọa. Nếu như trâu trắng lộ thiên là pháp thân cứu cánh, cũng cần chuyển lại để nó khỏi ngồi ở cảnh giới tuyệt đối, đều là gọi đoạn việc gần bên cúng dường”. ● 一 超 直 入. Hành giả tham Tổ sư thiền vượt qua những giai vị Bồ Tát của giáo môn, trực tiếp ngộ nhập Phật tính. ● 一 超 直 入 如 來 地. Còn gọi: Lập Địa Thành Phật. Không cần trải qua thứ lớp tu hành mà trực tiếp chứng nhập quả vị Phật. Chỉ cho pháp môn Đốn ngộ của Thiền Tông. Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca (Đại 48, 396 hạ) ghi: 爭 似 無 爲 實 相 門 一 超 直 入 如 來 地 但 得 本、莫 愁 末 如 淨 琉 璃 含 寶 月 既 能 解 此 如 意 珠 自 利 利 他 終 不 竭 “Tranh tợ vô vi Thật tướng môn, Nhất siêu trực nhập Như Lai địa Đản đắc bản, mạc sầu mạt Như tịnh lưu ly hàm bảo nguyệt Ký năng giải thử như ý châu Tự lợi lợi tha chung bất kiệt”. “Đâu giống như pháp môn thật tướng vô vi, Trực tiếp chứng nhập quả vị Phật Chỉ được gốc, lo chi cành, Như ngọc lưu ly ngậm ánh trăng Khéo hay sử dụng châu như ý Tự lợi, lợi tha đến vô cùng”. ● 一 生 參 學 事. Việc tham học trong một đời. Trong một đời này, nếu tham cứu cho đến tột cùng về “Việc lớn sinh tử” thì liền chứng ngộ. Phật Quả Viên Ngộ Chân Giác Thiền Sư Tâm Yếu, q. thượng (Vạn Tục 120, 360 hạ): “長 慶 云:撞 著 道 伴 交 肩 過、一 生 參 學 事 畢! – Trường Khánh nói: Gặp tay lỗi lạc sánh vai vượt qua, việc tham học trong một đời đã xong!”. ● 一 初. Hiệu của thiền tăng Ngộ Nguyên đời Thanh. X. Ngộ Nguyên. ● 一 山. Hiệu của thiền tăng Liễu Vạn đời Nguyên. X. Liễu Vạn. ● 一 山 國 師 妙 慈 弘 濟 大 師 語 錄. Còn gọi: Nhất Sơn Nhất Ninh Quốc Sư Ngữ Lục, Nhất Sơn Ninh Hòa Thượng Ngữ Lục, Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục, Ninh Nhất Sơn Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Nhất Sơn Nhất Ninh Hoằng Tế soạn, nhóm thị giả Liễu Chân… biên tập. Do vì sư khai bảng ở am Đại Vân nên sách này còn gọi là “Đại Vân Lục”, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 80, trang 311. Quyển thượng gồm 7 thứ Ngữ Lục của sư như: Ngữ Lục tại Tổ ấn Thiền Tự núi Ngao Phong ở Tứ Minh do Liễu Chân biên tập, Ngữ Lục tại Bảo Đà Quán Âm Thiền Tự ở phủ Khánh Nguyên do Duy Phong biên tập và các thứ Tiểu tham, Pháp ngữ, Niêm cổ, Tụng cổ. Quyển hạ bao gồm: Kệ tụng, Tán Phật Tụng, Tự Tán, Tiểu Phật sự và Hành ký do Ngạn Tài soạn, lời bạt do Trung Phong Minh Bản soạn. ● 一 拶 翻 身. Thiền Sư tạo ra hoàn cảnh đặc thù khiến học nhân nhanh chóng ngộ nhập, nếu học nhân có thể tỉnh ngộ ngay thì gọi là “Nhất tạt phiên thân”. Duy Tắc Ngữ Lục q. 3 ghi: “豈 不 見、臨 濟 大 師 三 度 問 黃 檗 佛 法 大 意、三 遭 痛 棒、後 被 大 愚 點 著、不 覺 打 破 漆 桶、却 道:元 來 黃 檗 佛 法 無 多 子。者 箇 便 是 一 拶 翻 身 底 樣 子。 – Há chẳng thấy, Đại sư Lâm Tế ba lần hỏi Hoàng Bá về đại ý Phật pháp thì bị ăn gậy ba lần, sau được Đại Ngu chỉ điểm bất giác phá vỡ thùng sơn, bèn nói hóa ra Phật pháp của Hoàng Bá không có gì nhiều. Cái này chính là kiểu nhất tạt phiên thân”. ● 一 拶 拶 倒 了. Đánh cho một tát, đánh ngã cho rồi. Thiền Sư sử dụng cách này để khám phá chỗ ngộ của vị đệ tử. Tắc 35, Bích Nham Lục (Đại 48, 173 hạ) ghi: “當 時 便 與 一 喝、一 拶 拶 倒 了 也。 – Lúc ấy liền hét một tiếng, đánh cho một tát, đánh ngã cho rồi!”. ● 一 心. 1. Tức Nhất thừa. Đoạn Tế Tâm Yếu: “從 佛 至 祖、並 不 論 別 事、惟 論 一 心、亦 云 一 乘。 – Từ Phật đến Tổ đều không luận việc gì khác, chỉ luận về Nhất tâm, cũng gọi là Nhất thừa. “ ● 2. Đặc biệt chỉ thiền pháp “Giáo ngoại biệt truyền”. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “故 召 釋 迦 同 法 座 別 付 一 心、離 言 說 法、此 一 之 法 令 別 行。 – Nên gọi Thích Ca đến ngồi chung trên pháp tòa để riêng truyền trao thiền pháp Giáo ngoại biệt truyền, lìa khỏi lời nói mà thuyết pháp. Đây là một phái dùng cách thức riêng để truyền trao đạo pháp. “ ● 一 心 法. Chỉ thiền pháp giáo ngoại biệt truyền. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “故 云:唯 有 一 乘 道、餘 二 則 非 眞、然 終 未 能 顯 一 心 法。故 召 迦 葉 同 座 別 付 一 心。 – Nên nói: Chỉ có một con đường nhất thừa, từ hai trở lên thì chẳng phải chân. Nhưng cuối cùng chưa hiển bày Nhất tâm pháp nên gọi ngài Ca Diếp đến ngồi chung tòa, riêng trao nhất tâm. “ ● 一 彩 兩 賽. Thái: Thắng lợi. Trại: Thi đấu, tranh đua. Cả câu có nghĩa là trong hai lần tranh tài thì được một lần thắng lợi. ● 一 聲 雷 震 狂 飆 起. Một tiếng sấm nổ vang khiến bão tố nổi lên. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho khi chứng ngộ thì tất cả phiền não liền tiêu trừ. Tắc 49, Bích Nham Lục (Đại 48, 185 thượng) ghi: 千 尺 鯨 噴 洪 浪 飛 一 聲 雷 震 清 飆 起 “Thiên xích kình phún hồng lãng phi Nhất thanh lôi chấn cuồng tiêu khởi”. “Cá kình ngàn thước phun sóng to, Một tiếng sấm vang bão tố nổi”. ● 一 清 天. Thiền tăng đời Minh, họ Âu Dương, hiệu Khiết Tổ, người xứ Lô Lăng (nay là huyện Kiết An, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Từ nhỏ sư đã thông minh hơn người. Năm 1426, sư theo pháp sư Vân Hải xuất gia cạo tóc làm tăng. Sư còn yết kiến Thiền Sư Phổ ứng ở chùa Đại Thiên Giới, vâng lệnh quản lý Tạng Kinh, sau đó được sung chức Thủ tọa. Sư ra hoằng pháp trụ chùa Thủy Nguyệt, Pháp Chí. Khoảng năm 1436-1450 sư đến chân núi Tây Sơn, Bắc Kinh cất chùa, vua Anh Tông ban cho bảng hiệu “Hoằng Khánh Thiền Tự”. Từ đó, đạo phong nổi lên cuồn cuộn, nổi tiếng khắp cả trong triều ngoài nội. Năm 1446, sư trụ trì chùa Kính Sơn ở Dư Hàng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). ● 一 屎. Một phen đi ỉa. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc khai ngộ. Khai thị thiền nhân Anh trong Trung Phong Pháp Ngữ (Vạn Tục 122, 386 hạ) ghi: “Chúng sinh thức tính sai khác rất nhiều, chẳng thể một phen khai ngộ liền thôi”. ● 一 千 七 百 公 案. Một ngàn bảy trăm tắc công án. Chỉ cho công án thiền môn (cơ phong ngữ cú) do “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” gom chép có khoảng 1. 700 tắc. Khai thị ba vị giảng chủ ở Vân Nam là Phúc, Nguyên, Thông trong TPNL q. 4 phần thượng ghi: “當 知 禪 悟 初 不 難 會、凡 一 千 七 百 則 公 案、俾 之 通 會 於 片 響 之 間 亦 不 難。 – Phải biết sự ngộ được ý chỉ Thiền, ban đầu không phải khó đạt đến. Nói chung 1. 700 tắc công án, muốn cho người ta lãnh hội thông suốt trong khoảnh khắc cũng chẳng phải khó. “ ● 一 通. Một hồi. Khi muốn đánh: trống, bảng, khánh; trước tiên đánh chậm, nhịp độ từ thưa đến nhặt dần, sau đó đánh một hồi nhanh. Điều Thượng Đường trong Thiền Uyển Thanh Quy q. 2 (Vạn Tục 111, 443 thượng) ghi: “聞 一 通 鼓、首 座、大 眾 上 法 堂 內。 – Nghe một hồi trống, Thủ tọa và đại chúng đều lên pháp đường”. ● 一 時. Toàn bộ, nhất loạt. Tiết Động Sơn Phạm Ngôn Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “直 饒 是 文 殊 普 賢 再 出、若 到 洞 山 門 下、一 時 分 付 與 直 歲。燒 火 底 燒 火、掃 地 底 掃 地。 – Cho dù Văn Thù, Phổ Hiền có xuất thế lại, nếu đến pháp hội Động Sơn nhất loạt được giao cho chức trực tuế, bảo nhuốm lửa thì phải nhuốm lửa, bảo quét đất thì phải quét đất. “ ● 一 手 擡 一 手 捺. Còn gọi: Nhất thủ thôi, nhất thủ duệ. Một tay nâng lên, một tay đè xuống. Hình dung phương pháp đối cơ tự tại của Thiền Sư khi khai thị cho các thiền tăng. Tắc 35, Thung Dung Lục (Đại 48, 250 trung) ghi: “雞 棲 鳳 巢、非 其 同 類。出 去!(一 手 推、一 手 拽). – Giáp Sơn nói: Gà đậu lầm ổ phượng, chẳng phải cùng loại. Đi ra! (Một tay nâng lên, một tay đè xuống)”. Tắc 22, Thung Dung Lục (Đại 48, 241 trung) ghi: “洞 山 老 漢 不 識 好 惡、我 當 時 一 手 擡、一 手 捺。 – Sư nói: Lão Động Sơn này chẳng biết tốt xấu gì cả, lúc ấy ta một tay nâng lên, một tay đè xuống”. ● 一 乘. 1. Phương pháp căn bản duy nhất của đức Phật nhằm giáo hóa tất cả chúng sinh thành Phật. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “從 佛 至 祖、并 不 論 別 事、唯 論 一 心、亦 云 一 乘、所 以 十 方 諦 求、更 無 餘 乘。 – Từ Phật đến Tổ đều không luận việc gì khác, chỉ luận về nhất tâm, cũng gọi nhất thừa. Thế nên tìm kỹ trong mười phương cũng không có thừa nào khác. “ ● 2. Chỉ cho một thừa nào đó trong ba thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát hoặc Phật). Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “所 以 道:天 魔 外 道 是 辜 恩 德 漢、聲 聞 一 乘 是 自 欺 誑 人。 – Cho nên nói: Thiên ma ngoại đạo là kẻ cô phụ ân đức, còn một thừa Thanh văn là người tự lừa dối. “ ● 一 乘 眞 法. Phương pháp căn bản duy nhất của đức Phật nhằm giáo hóa tất cả chúng sinh thành Phật. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “如 來 現 世、欲 說 一 乘 眞 法、則 眾 生 不 信、興 謗。 – Như Lai xuất hiện ở thế gian muốn nói pháp chân thật Nhất thừa, nhưng chúng sinh chẳng tin, khởi lòng phỉ báng. “ ● 一 乘 理. Còn gọi: Nhất thừa pháp. Nhất thừa đạo. Phương pháp căn bản duy nhất của đức Phật giáo hóa tất cả chúng sinh thành Phật. Đốn ngộ vô sinh Bát Nhã tụng trong Thần Hội Di Tập q. 4 ghi: “入 不 二 門、獲 一 乘 理。 – Vào pháp môn Bất nhị, đạt được lý nhất thừa. “ Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “此 是 法 華 一 乘 法。 – Đây là pháp Nhất thừa trong Kinh Pháp Hoa. “ Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “唯 有 一 乘 道、餘 二 則 非 眞。 – Chỉ có một con đường nhất thừa từ hai trở lên thì chẳng phải chân. “ ● 一 上. Một cuộc, một phen, một trận. Tiết Linh Mặc Thiền Sư trong LĐHY q. 4 ghi: “Tợ giá ban đảm bản hán phóng khứ tiện hưu, hựu hoán hồi, bị y đồ hồ nhất thượng. – Giống như gã cố chấp này bỏ đi thì thôi, còn gọi trở lại, bị y trêu chọc cho một phen. “ ● 一 箭 過 西 天. Một mũi tên bay qua khỏi Tây Thiên (ấn Độ). Cụm từ hình dung cảnh giới cao xa, tuyệt hết các dấu vết. Thiên Hành Lục trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 506 trung) ghi: “師 云:設 有 亦 無 舉 處。峯 云:但 擧 看。師 云:一 箭 過 西 天。 – Sư nói: Giả sử có, cũng không có chỗ để nêu ra. Phong nói: Hãy nêu ra xem!. Sư nói: Một mũi tên bay qua khỏi Tây Thiên”. ● 一 星. Một chút, một tí. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “本 來 無 一 星 事。但 只 遇 茶 喫 茶。遇 飯 喫 飯。 – Vốn là không có một chút việc gì, chỉ cần gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm. “ ● 一 精 明. Cái trong sáng tuyệt diệu, tức chỉ cho Tự tính thanh tịnh sẵn có nơi mỗi người. Truyền Tâm Pháp Yếu (Đại 48, 382 thượng) ghi: “所 言 同 是 一 精 明、分 爲 六 和 合、一 精 明 者 一 心 也、六 和 合 者 六 根 也。 – Nói rằng: Cùng là cái trong sáng tuyệt diệu mà chia ra làm 6 cái hòa hợp. Cái trong sáng tuyệt diệu là Nhất tâm, còn 6 cái hòa hợp là 6 căn vậy”. ● 一 劄. Một lá đơn. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho một câu hỏi thống thiết. Tắc 18, Bích Nham Lục (Đại 48, 157 hạ) ghi: “帝 曰:請 師 塔 樣 (好 與 一 剳) – Vua nói: Thỉnh sư ra kiểu tháp (Khéo hỏi một câu thống thiết)”. ● 一 塵 法 界. Một hạt bụi (Nhất trần) tuy là rất nhỏ, nhưng khi dùng trí nhãn để quán sát thì biết trong một hạt bụi dung chứa cả vũ trụ (Pháp giới). ● 一 知 半 解. Vốn chỉ cho sự hiểu biết chẳng được hoàn toàn. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho kiến giải nông cạn. Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục q. 18 (Đại 47, 887 trung) ghi: “世 間 文 章 技 藝 尚 要 悟 門、然 後 得 其 精 妙、況 出 世 間 法 只 恁 麼 了 得?這 裏 一 千 二 百 衲 子、箇 箇 有 一 知 半 解 、每 來 室 中、道 得 諦 當 者 甚 眾。 – Tài nghệ văn chương của thế gian, trước còn cần phải hiểu rõ rồi sau mới đạt đến chỗ hay khéo; huống là pháp xuất thế gian các ông làm sao thấu rõ? Một ngàn hai trăm Thiền tăng ở đây có kiến giải nông cạn, mỗi người vào trong thất mà nói được thì hay vô cùng”. ● 一 徹. Hiệu của Thiền tăng Chu Lý đời cuối Minh đầu Thanh. X. Chu Lý. ● 一 著. Còn gọi: Nhất Trước Tử. Vốn là dụng ngữ của cờ vây. 1. Nghĩa rộng là một sự kiện, một việc. Dụ cho Thiền tăng tu hành một giáo lý nào đó trong Phật pháp. Tắc 6, Bích Nham Lục ghi: “向 上 一 著、千 聖 不 傳。 – Một việc hướng thượng, ngàn thánh chẳng truyền”. ● 2. Thủ đoạn, nước cờ. Tiết Trí Hải Bản Dật Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “我 有 這 一 著、人 人 口 裡 嚼。嚼 得 破 者、速 須 吐 卻。嚼 不 破 者、翻 成 毒 藥。 – Ta có thủ đoạn này, mỗi người nhai trong miệng. Nếu nhai bể thì mau ói ra. Nếu nhai không bể thì trở thành thuốc độc”. ● 3. Một lần. Tiết Tư Thọ Ni Diệu Tổng Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “山 僧 今 日 人 事 忙 冗、且 放 過 一 著。 – Hôm nay Sơn tăng bận rộn nhiều việc, hãy tha một lần”. ● 一 場 懡 㦬. Ma la, biểu thị ý hổ thẹn, sỉ nhục. Trọn câu có nghĩa là một phen hổ thẹn. Tắc 7, Thung Dung Lục (Đại 48, 231 hạ) ghi: 癡 兒 刻 意 止 啼 錢 良 駟 追 風 顧 影 鞭 雲 掃 長 空 巢 月 鶴 樹下底一場 懡 㦬) 寒清入骨不成眠。 “Si nhi khắc ý chỉ đề tiền Lương tứ truy phong cố ảnh tiên Vân tảo trường không sào nguyệt hạc (Thọ hạ để nhất trường Ma La) Hàn thanh nhập cốt bất thành miên”. “Vòi vĩnh được tiền, bé nín khe Ngựa hay rong ruổi bóng roi đe Trời quang dưới trăng hạc làm tổ (Một phen hổ thẹn dưới cội cây) Sương lạnh thấu xương chẳng ngủ nghê”. ● 一 宿 覺. Tăng nhân đời Đường tên Huyền Giác đến Tào Khê tham vấn Lục Tổ Huệ Năng. Buổi đầu gặp gỡ, ứng đối khế hợp thiền chỉ. Lục Tổ khen rằng: Lành thay! Lành thay! Hãy nán lại một đêm. Huyền Giác lưu lại một đêm rồi sáng ngày từ biệt, người thời ấy gọi sư là Nhất Túc Giác (Ông Giác trọ một đêm). ● 一 字 機 鋒. Cơ phong dùng một chữ duy nhất để biểu hiện tông chỉ, ngay lúc đó chặt đứt các lời nói lằng nhằng, khiến người hỏi dứt hết khả năng xoay sở, không thể suy nghĩ được nữa. Từ trong tình trạng bức ngặt khốn đốn mới có khả năng nhảy vào cảnh giới ngộ. X. Nhất tự thiền ● 一 字 禪. Còn gọi: Nhất Tự Quan, Nhất Tự Cơ Phong. Thiền pháp dùng một chữ duy nhất để biểu hiện tông chỉ. Đây là tông phong đặc biệt của Thiền Sư Vân Môn Văn Yển. Thí dụ như: Tăng hỏi: Thế nào là Chính pháp nhãn tạng? Sư đáp: Phổ (khắp). Thế nào là xuy mao kiếm? Sư đáp: Tổ. Tắc 8, Bích Nham Lục ghi: “雲 門 云:關。不 妨 奇 特。只 是 難 參。雲 門 大 師。多 以 一 字 禪 示 人。雖 一 字 中。須 具 三 句。 – Vân Môn nói: Quan. Quả là kỳ đặc rất khó tham thấu. Đại sư Vân Môn phần nhiều dùng Thiền một chữ để dạy người, tuy là trong một chữ mà gồm đủ ba câu”. ● 一 息 半 步. Nửa bước một hơi thở. Khi thiền hành, các Thiền sinh trong khoảng một hơi thở nhấc chân phải lên, rồi hơi thở kế nhấc chân trái lên, các bước chân đắp đổi nhau từng bước một, bước tới trước một cách chậm rãi. ● 一 即 一 切、一 切 即 一. Một tức tất cả, tất cả tức một. Phật giáo cho rằng muôn vàn sự vật trên thế gian vốn không thật tồn tại, cũng không có sai biệt và đối lập, đây tức là kia, kia tức là đây, toàn thể với từng phần, chung với riêng tự bản chất vốn không có phân biệt. Uyển Lăng Lục ghi: “萬 類 之 中、個 個 是 佛。譬 如 一 團 水 銀、分 散 諸 處、顆 顆 皆 圓。若 不 分 時、秖 是 一 塊。此 一 即 一 切、一 切 即 一。 – Mỗi loài trong muôn loài đều là Phật. Ví như một viên thùy ngân bị phân tán thì mỗi hạt đều tròn. Nếu lúc không phân thì là một viên. Đây là ý nghĩa Một tức tất cả, tất cả tức một. ” ● 一 物 長 年. Nhất vật: Tâm tính linh diệu. Trường niên: Năm tháng dài. Trọn câu nghĩa là tâm tính linh diệu do Phật Tổ tiếp nối truyền trao từ xưa cho đến hôm nay và mai sau. ● 一 味 禪. Còn gọi: Đốn Ngộ Thiền. Thiền pháp tối thượng thừa, thuần nhất không tạp. Thiền Tông Chính Mạch q. 2 (Vạn Tục 146, 27 hạ) ghi: “僧 辭、師 問:甚 麼 處 去?曰:諸 方 學 五 味 禪 去。師 曰:諸 方 有 五 味 禪、我 這 裡 秖 有 一 味 禪。曰:如 何 是 一 味 禪?師 便 打。僧 曰:會 也!會 也!師 曰:道!道!僧 擬 開 口、師 又 打。僧 後 到 黃 檗、舉 前 話。檗 上 堂 曰:馬 大 師 出 八 十 四 人、善 知 識 問 著、箇 箇 屙 漉 漉 地、秖 有 歸 宗 較 些 子。 – Tăng từ giã đi. Sư hỏi: Ông đi đâu? Đáp: Con đi học Ngũ vị thiền ở các nơi. Sư nói: Các nơi có Ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có Nhất vị thiền. Hỏi: Thế nào là Nhất vị thiền? Sư liền đánh. Tăng nói: Hiểu rồi! Hiểu rồi! Sư bảo: Nói đi! Tăng định nói, sư lại đánh. Về sau Tăng đến Hoàng Bá thuật lại việc trước. Hoàng Bá thượng đường nói: Mã Đại sư sản xuất 84 bậc thiện tri thức, hỏi đến các vị đều đối đáp chậm lụt, chỉ có Quy Tông là khá hơn một chút”. ● 一 網 打 就. Khi cất một mẻ lưới lên là xong, không còn sót hoặc sẩy một con cá nào. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho một lời nói của Thiền Sư có thể nói hết cốt tủy của Phật pháp. Tắc 52, Bích Nham Lục (Đại 48, 187 thượng) ghi: “渡 驢 渡 馬(一 網 打 就。直 得 盡 大 地 人 無 出 氣 處。一 死 更 不 再 活。 – Độ lừa độ ngựa (một mẻ lưới là xong, giả sử mọi người trên mặt đất cũng không có chỗ mở miệng, một phen chết rồi chẳng thể sống lại)”. ● 一 逴 逴 得. Còn gọi: Trực Hạ Thừa Đương. Xước nghĩa là vượt xa. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho một phen nhảy vọt liền xa rời vọng tưởng phiền não, lập tức nhận lấy (kiến tính). Tăng Bảo Chính Tục Truyện q. 6 ghi: “正 當 恁 麼 時、四 楞 塌 地 掇 在 諸 人 面 前 眼 辨 手 親 底 一 逴 得 去、便 能 羅 籠 三 界 提 拔 四 生。 – Ngay lúc ấy nó hiển hiện trước mặt các ông. Nếu nhanh tay lẹ mắt lập tức nhận lấy (kiến tính) thì các ông mới có khả năng che chở ba cõi, nâng đỡ bốn loài”. ● 日 給. Cung cấp hằng ngày, nhu cầu hằng ngày. Văn Ích Ngữ Lục ghi: “問。蕩 子 還 鄉 時 如 何。師 云。將 甚 麼 奉 獻。云。無 有 一 物。師 云。日 給 作 麼 生? – Hỏi: Khi kẻ lêu lổng trở về thì thế nào? Sư bảo: Đem cái gì dâng tặng? Tăng thưa: Không có vật gì hết. Sư bảo: Nhu cầu hằng ngày là gì?” ● 一 用. Vận dụng thực tiễn thiền pháp hằng ngày. Bài “Minh chơn tụng” trong PKNL ghi: “我 有 摩 尼 一 顆、埋 在 五 蘊 身 田。昨 向 泥 中 取 出、光 明 照 燭 無 邊。所 爲 莫 不 知 意、日 用 尋 常 現 前。 – Ta có một viên ngọc như ý, chôn ở trong ruộng năm uẩn. Đêm qua lấy nó ra từ trong bùn đất, ánh sáng chiếu rực rỡ vô biên. Những gì nó làm mọi người đều hài lòng, vận dụng thực tiễn hằng ngày bình thường trước mắt. “ ● 日 南 長 至. Ngày đông chí (theo nông lịch). Mật Am Ngữ Lục ghi: “冬 至 上 堂。日 南 長 至。慶 無 不 利。石 笋 暗 抽 條。寒 巖 增 暖 氣。 – Đông chí, sư thượng đường: Ngày đông chí, mừng rằng không có điều bất lợi. Măng đá ngầm nhú lên, đá lạnh thêm hơi ấm”. ● 日 午 打 三 更. Giữa trưa gõ canh ba, ý chỉ một việc nghịch lý không thể làm được, không thể xảy ra được, không đưa đến kết quả nào. Phật Quả Ngữ Lục q. 1 ghi: “直 饒 棒 如 雨 點。喝 似 奔 雷。猶 未 動 著 向 上 關 捩 在。如 何 是 向 上 關 捩。瞎 卻 諸 聖 眼。啞 卻 山 僧 口。日 午 打 三 更。面 南 看 北 斗。 – Dù cho gậy bổ như mưa tuôn, tiếng hét như sấm rền, nhưng cũng chưa đả động tới chỗ vi diệu tột cùng của thiền cơ. Thế nào là chỗ vi diệu tột cùng của thiền cơ? Đó chẳng qua làm đui mắt chư thánh, làm câm họng sơn tăng ta đây. Thật là chuyện giữa trưa gõ canh ba, xoay mặt về Nam để nhìn xem sao Bắc đẩu. “ Tiết Huệ Giác Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “上 堂:擊 水 魚 頭 痛、穿 林 宿 鳥 驚。黃 昏 不 擊 鼓、日 午 打 三 更。諸 禪 德 既 是 日 午、爲 甚 卻 打 三 更?良 久 曰:昨 見 垂 楊 綠、今 逢 落 葉 黃。 – Sư thượng đường nói: Vỗ nước ngại cá nhức đầu. Qua rừng e chim kinh sợ. Hoàng hôn không đánh trống. Giữa trưa gõ canh ba. Này các vị thiền đức, nếu đã là giữa ngọ sao lại đi gõ canh ba? Sư im lặng giây lâu, nói tiếp: Hôm qua thấy dương liễu xanh, hôm nay thấy lá rụng vàng. “ ● 日 日 是 好 日. Mỗi ngày đều là ngày tốt. Công án, là pháp ngữ của thiền sư Vân Môn Văn Yển. Bích Nham Lục q. 1 ghi: Nêu lên công án: Vân Môn dạy chúng: “舉:雲 門 垂 語 云: 十 五 日 已 前 不 問 汝。十 五 日 已 後 道 將 一 句 來。自 代 云:日 日 是 好 日。又(雲 門)垂 語 了、却 自 代 云:日 日 是 好 日。此 語 通 貫 古 今、從 前 至 後、一 時 坐 斷。山 僧 如 此 說 話、也 是 隨 語 生 解。他 殺 不 如 自 殺。纔 作 道 理、墮 坑 落 塹。 – Ngày rằm về trước chẳng hỏi ông, ngày rằm về sau ông nói cho một câu xem. Sư tự đáp thay: ›Mỗi ngày đều là ngày tốt. ‹ Lại (Vân Môn) dạy chúng xong, rồi tự đáp thay: Mỗi ngày đều là ngày tốt. Câu này thông suốt cổ kim, từ trước đến sau đồng thời quét sạch. Sơn tăng giảng như thế cũng là theo lời sinh hiểu, người khác giết không bằng tự mình giết, vừa nói đạo lý liền rơi vào hầm hố của Vân Môn. “ “Mỗi ngày đều là ngày tốt” là lời nói đặc biệt của thiền gia siêu việt nghĩa lý phân biệt, là cảnh giới thiền ngộ nhồi thành một khối, soi thấy toàn thể trình tự thời gian và thế sự, cũng phản ánh, tinh thần lạc quan dáng dấp khoan thai của người ngộ thiền. Tiết Tư Thọ ni Diệu Tổng Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “師 曰:日 日 是 好 日、佛 法 世 法 盡 周 畢。不 須 特 地 覓 幽 玄、祇 管 鉢 盂 兩 度 濕。 – Sư nói: Mỗi ngày đều là ngày tốt, Phật pháp và thế gian pháp đều làm chu đáo. Chẳng cầu phải riêng tìm lẽ u huyền nào khác mà chỉ biết mỗi ngày hai bữa cơm cháo. “ ● 日 夕. Sớm hôm, từ sớm đến chiều. Tiết Thạch Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “思(指 行 思)和 尚 見 師 異 於 常 人、便 安 排 於 西 俠、日 夕 只 在 和 尚 身 邊。 – Tư (chỉ Hành Tư) Hòa Thượng thấy Sư khác với người thường, liền sắp xếp cho ở chái Tây, sớm hôm chỉ ở bên cạnh Hòa Thượng. “ ● 日 銷 萬 量 黃 金. Ngày tiêu muôn lượng vàng ròng. Ý nói nhà sư mỗi ngày hưởng dụng rất nhiều của cải của thí chủ, thường dùng xác nhận quả quyết rằng thiền tăng có ngôn hạnh khế hợp với chỗ lãnh ngộ thì không cô phụ thí chủ cúng dường. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “有 人 跳 得 出。日 銷 萬 兩 黃 金。若 跳 不 出。有 處 著 儞 在 – Có người nhảy ra được, ngày tiêu muôn lượng vàng ròng. Nếu không nhảy ra được thì có chỗ vướng mắc ngươi rồi. “ ● 日 中 逃 影. Đứng ngoài nắng giữa trưa mà muốn trốn tránh bóng của mình, dụ cho tư tưởng và hành vi hư vọng ngu si. NĐHN q. 12 ghi: “若 也 委 悉 去、如 龍 得 水、似 虎 靠 山、出 沒 卷 舒、縱 橫 應 用。如 未 相 委、大 似 日 中 逃 影。 – Nếu hiểu rõ thì như rồng gặp nước, như cọp dựa núi, tuỳ ý tự tại, ứng dụng vô ngại. Bằng như chưa rõ thì giống như đứng giữa trưa mà trốn bóng của mình”. ● 日 中 迷 路. Giữa ban ngày ban mặt mà đi lạc đường, tỷ dụ ngu đần si mê. Tiết Pháp Luân Tế Thiêm Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “乃 曰:此 四 喝、有 一 喝 堪 與 祖 佛 爲 師、明 眼 衲 僧 試 請 揀 看。若 揀 不 出、大 似 日 中 迷 路。 – (Sư) bèn nói: Bốn thứ hét này, có một thứ hét có thể làm thầy cùng với Tổ Phật, xin mời nạp tăng tinh mắt thử chọn xem. Nếu chọn không ra thì giống như giữa ban ngày ban mặt mà đi lạc đường. “ ● 〖⿰口爾〗. Lời nói ngữ khí ở cuối câu. 1. Hả. Biểu thị nghi vấn, tương đương với ni (呢). Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “玄 沙 云:吾 有 正 法 眼 藏。付 囑 摩 訶 大 迦 葉。猶 如 話 月。曹 谿 豎 拂。猶 如 指 月。鼓 山 云:月 〖⿰口爾〗? – Huyền Sa nói: Ta có chính pháp nhãn tạng phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp, giống như nói về trăng; Tào Khê giơ phất tử giống như chỉ mặt trăng. Cổ Sơn nói: Mặt trăng hả?”. ● 2. Nào, này, nhé. Biểu thị liệt cử, tương đương với A (阿). Mật Am Ngữ Lục ghi: “且 喚 什 麼 作 靈 覺。有 般 漢。東 西 不 辨。南 北 不 分。便 道。經 行 及 坐 臥 〖⿰口爾〗。喫 粥 喫 飯 〖⿰口爾〗。正 是 喚 奴 作 郎。認 賊 爲 子。 – Thử gọi cái gì là linh giác? Có một bọn đông tây chẳng biện, nam bắc chẳng phân, liền nói đi đứng ngồi nằm này, ăn cơm ăn cháo này, chính là nhận lầm tớ là chủ, nhận giặc làm con!”. ● 二 隱. Hiệu của Thiền tăng Bản Mật sống đời Thanh. X. Bảo Mật. ● 二 彼. Hai người kia, hai vị ấy. Chương Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 11 ghi: “僧 舉 盤 山 云:「光 鏡 俱 亡、復 是 何 物?洞 山 云:光 鏡 未 亡、復 是 何 物?」(僧 云)據 二 彼 商 量、盡 未 得 剿 絶。師 拈 問 其 僧:作 麼 生 道 得 剿 絶? – Tăng nêu lên công án: Bàn Sơn nói: Ánh sáng và gương đều mất, lại là vật gì? Động Sơn nói: Ánh sáng và gương chưa mất, lại là vật gì? (Tăng nói): Theo hai vị ấy thương lượng, thật chưa sạch hết vọng tâm phân biệt. Sư hỏi lại vị tăng ấy: Nói thế nào là sạch hết vọng tâm phân biệt (sào tuyệt)?” ● 二 機. Cơ thứ hai, ý nói không phải thiền cơ chân chính, mà là nghĩa lý từ Đệ nhất nghĩa trở xuống. Tông thừa yếu nghĩa trong DTNL q. 9 ghi: “聲 色 之 前 領 略、已 落 二 機、語 言 之 後 傅 量、早 遲 八 刻。 – Trước thanh sắc mà am hiểu cũng đã rơi vào cơ thứ hai sau lời nói mà nương theo suy lường đã trễ rồi tám khắc. “ ● 二 主 二 賓. Hai chủ hai khách. Chỉ cho bốn thứ tình hình trong “Tứ tân chủ” mà tông Lâm Tế lập bày: Chủ xem khách, chủ xem chủ, khách xem chủ, khách xem khách. X. Tứ tân chủ. Chương Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL q. 9 ghi: “臨 濟 宗 棒 喝 交 馳、雷 奔 電 激、奪 人 奪 境、照 用 并 行、或 於 一 喝 之 中、自 具 三 玄 三 要、二 主 二 賓、妙 在 打 破 籮 籠、摟 空 窠 窟、被 人 喚 作 白 拈 賊、殺 人 不 貶 眼 者、此 也。 – Tông Lâm Tế đánh hét xen nhau như sấm nổ điện chớp, đoạt nhân đoạt cảnh, chiếu dụng cùng thi hành, hoặc ở trong một tiếng hét tự có ba huyền ba yếu, hai chủ hai khách. Nhiệm mầu ở chỗ phá thủng lưới lồng, quét sạch hang ổ, bị người gọi là kẻ trộm giỏi, kẻ giết người không nháy mắt là đây vậy. “ ● 二 種 語. Hai kiểu nói trước sau mâu thuẫn nhau. Chương Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 11 ghi: “寧 說 何 不 入 海、不 說 如 來 有 二 種 語。寧 說 羅 漢 有 三 毒、不 說 如 來 有 二 種 語。不 說 如 來 有 二 種 語、只 道 如 來 無 二 種 語。 – Thà nói nước sông chẳng chảy vào biển, chứ không nói Như Lai có nhị chủng ngữ. Thà nói La Hán có ba độc, chứ không nói Như Lai có nhị chủng ngữ. Chẳng nói Như Lai không có lời, chỉ nói Như Lai không có nhị chủng ngữ. “ ● 二 頭 三 首. Có 2 nghĩa: 1. Đối với “Đệ nhất nghĩa” mà nói, chỉ cho nghĩa lý tầm thường từ đệ nhất nghĩa trở xuống. CĐTĐL q. 12 ghi: “不 問 二 頭 三 首。請 師 直 指 本 來 面 目。 – Không hỏi nghĩa lý tầm thường, thỉnh sư chỉ thẳng bản lai diện mục”. ● 2. Dư thừa, rắc rối. NĐHN q. 15 ghi: “諸 人 向 這 裡 承 當 得、盡 是 二 頭 三 首、譬 如 金 屑 雖 貴、眼 裡 著 不 得。 – Các ngươi ngay đây nhận lãnh được cũng là dư thừa, ví như mạt vàng tuy quý nhưng chẳng nên để rơi vào mắt”. ● 二 頭 三 手 漢. Người nói năng lôi thôi, lời nói rắc rối, không thể dứt khoát lãnh hội. Đây là lời chê trách. Minh Giác Ngũ Lục q. 1 ghi: “問 如 何 是 向 去 底 人。師 云。伊 蘭 樹 下 坐。進 云。卻 來 時 如 何。師 云。白 日 繞 須 彌。進 云。天 上 天 下 唯 我 獨 尊。師 云。二 頭 三 手 漢。 – Hỏi: Thế nào là một người hướng về quá khứ? Sư đáp: Y ta sẽ ngồi dưới cội cây. Tiến hỏi: Lúc tới lui thì thế nào? Sư nói: Ban ngày đi vòng núi Tu Di. Tiến nói: Trên trời dưới trời mình ta tôn quý. Sư bảo: Đồ nói năng lôi thôi!” ● 二 六 時 中. Trọn ngày đêm, mỗi giờ mỗi khắc. Theo lối tính thời gian cũ ở Trung Quốc, một ngày đêm chia làm 12 giờ, nên nói: Nhị lục (2 x 6). Bích Nham Lục q. 1 ghi: “須 是 自 己 二 六 時 中、打 辦 精 神 似 恁 麼 與 他 承 當。他 日 向 十 字 街 頭、垂 手 爲 人。也 不 爲 難 事。 – Trọn ngày đêm, chính mình cần phải phấn chấn tinh thần cùng nó (câu thoại đầu) thừa đương. Mai kia mốt nọ ở ngã tư đường duỗi tay dìu dắt mọi người, cũng không phải là việc khó. “ ● 二 人 同 心、其 義 斷 金. Ý nói hai người làm việc chung, nếu như hợp sức chung lòng thì rất có ý nghĩa, cũng rất có hiệu quả. Câu này rút từ cổ ngữ “Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim” trong hệ từ thượng của sách Chu Dịch, sửa lại một chữ “lợi” mà thành. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “二 人 同 心 其 義 斷 金。古 今 有 此 吾 道 堪 任。 – Hai vị nếu như họp sức chung lòng thì việc làm rất có hiệu quả, xưa nay có như thế mới có thể gánh vác đạo của ta. “ ● 二 入. Hai con đường tắt để lãnh hội thiền pháp: Lý nhập và hạnh nhập, do Tổ Bồ Đề Đạt Ma luận. Chương “Lược biện Đại thừa nhập Đạo Tứ Hạnh” trong CĐTĐL q. 30 ghi: “夫 入 道 多 途。要 而 言 之 不 出 二 種。一 是 理 入。二 是 行 入。理 入 者。 – Luận về nhập đạo có nhiều đường, nhưng nói tóm thì không ngoài hai thứ: Một là lý nhập, hai là hạnh nhập. “ ● 二 佛 乘. Chỉ giáo pháp khác ngoài “Nhất Phật thừa”. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “法 達、汝 聽 一 佛 乘、莫 求 二 佛 乘。一 佛 乘 以 外 的 教 佛 均 非 成 佛 的 根 本 法。 – Pháp Đạt! Ngươi hãy nghe Nhất Phật thừa, chớ có tìm Nhị Phật thừa. Giáo pháp ngoài Nhất Phật thừa đều chẳng phải pháp căn bản để thành Phật. “ ● 二 際. Hai bờ, hai mé. Phật giáo gọi sinh tử luân hồi và Niết Bàn (siêu thoát sinh tử) là Nhị tế. Chương Nhất bát ca trong CĐTĐL q. 30 ghi: “ – 亦 無 惡 亦 無 好。二 際 坦 然 平 等 道。 – Cũng không xấu, cũng không tốt. Giữ lòng bình thản giữa hai mé, đấy chính là đạo lý bình đẳng. “ Ý nói sinh tử và Niết Bàn bình đẳng như nhau, không có đối lập. ● 二 十 八 祖. 1. Chỉ cho 28 vị Tổ ở Tây Thiên, là 28 vị Tổ sư truyền thừa pháp thiền ở ấn Độ thời cổ. Về danh sách 28 vị Tổ này xin xem Biểu đồ 1 ở phần Phụ lục của sách này. ● 2. Chỉ cho vị Tổ thứ 28 ở Tây Thiên là Bồ Đề Đạt Ma. Vị này đồng thời là Sơ tổ ở Đông độ. ● 二 十 八 傳. Chỉ cho hai mươi tám đời truyền thừa thiền pháp ở ấn Độ thời cổ. X. Nhị thập bát Tổ. Khai thị thiền nhân Đổng Văn Thừa trong HSLNMDT q. 1 ghi: “Đầu đà thân sắc vàng (chỉ ngài Ca Diếp) mỉm cười, cho đến 28 đời truyền thừa lần lượt trao tay. “ ● 二 時 鬻 飯. Còn gọi: Nhị thời trai chúc. Trong các tự viện thời xưa, một ngày hai buổi cơm cháo. Buổi sớm ăn cháo, đúng ngọ ăn cơm, nên gọi “Nhị thời chúc phạn”. Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “老 僧 行 腳 時、除 二 時 粥 飯 是 雜 用 心 處、除 外 更 無 別 用 心 處。若 不 如 是 大 遠 在。 – Khi lão tăng hành cước, trừ hai thời cơm cháo là chỗ dụng tâm tạp. Ngoài ra không có chỗ dụng tâm nào khác nữa, nếu chẳng như thế thì cách đạo rất xa vậy. “ ● 二 祖 庵. Trên ngọn Bát Vu, phía tây nam chùa Thiếu Lâm, núi Thiếu Thất, huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Nhị Tổ Huệ Khả học pháp nơi Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, đứng dưới tuyết chặt cánh tay, sau khi nhận được y bát ngài dưỡng thương nơi này. Đồ chúng lập am nơi đây để kỷ niệm. Trong am có đại điện ba cột, vài tấm bia đá. Ngoài am có ba tháp do Võ Chu xây cất vào niên hiệu Vạn Tuế Đăng Phong thứ 1 (696). Phía nam còn có Mích tâm đài, còn gọi “Luyện ma đài” là chỗ Nhị Tổ đi kinh hành. ● 二 祖 斷 臂. Nhị Tổ chặt tay. Truyện Nhị Tổ Huệ Khả cầu pháp. X. Lập tuyết đoạn tý. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “ – 達 磨 無 端 少 林 面 壁。二 祖 斷 臂。一 生 受 屈。 – Đạt Ma thật là kỳ cục lên chùa Thiếu Lâm ngồi xoay mặt vào vách, Nhị Tổ chặt tay một đời chịu phục. “ ● 二 祖 立 雪. Nhị Tổ đứng ngoài tuyết. Truyện Nhị Tổ Huệ Khả cầu pháp. X. Lập tuyết đoạn tý. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “二 祖 立 雪 時 如 何? – Khi Nhị Tổ đứng ngoài tuyết thì thế nào?” ● 染 指. Đối với Phật pháp có chút thể hội, nếm qua pháp vị. Tiết Viên Thông Đạo Mân Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “依 景 德 寺 德 祥 出 家。試 經 得 度、遍 往 參 激、皆 染 指。 – Nương Đức Tường chùa Cảnh Đức xuất gia, thi kinh được độ. Đi khắp nơi tham vấn đều có chút thể hội. “ ● 染 習. Phật giáo cho rằng vạn sự vạn vật ở thế gian này đều hư vọng không thật, nếu chấp trước vào những ngoại vật hư vọng này, rồi từ đó sinh ra ý niệm hư vọng, quen rồi nên không phát hiện ra, gọi đó là nhiễm tập. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “聞 聲 隨 聲 走、見 色 隨 色 走、既 隨 色 聲 妄 走、便 被 妄 境 纏 縛、從 此 染 念 紛 飛、妄 想 顛 倒。如 是 等 業 識 塵 勞、名 爲 染 習。如 是 染 習、乃 生 死 輪 回 之 根 本 也。 – Nghe tiếng chạy theo tiếng, thấy sắc chạy theo sắc, đã vọng chạy theo sắc tiếng thì bị vọng cảnh trói buộc, từ đây nhiễm niệm tới tấp, vọng tưởng điên đảo. Những nghiệp thức trần lao như thế gọi là nhiễm tập. Như vậy nhiễm tập là cội nguồn của sinh tử luân hồi vậy. “ ● 然. Dù cho. Tiết Nguyên Phong Thanh Mãn Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “拈 拄 杖 曰:來 來、然 是 聖 僧 也 須 喫 棒。擊 香 臺 下 座。 – Thiền Sư giơ cây gậy lên, bảo: Đến đây, đến đây! Dù cho là thánh tăng cũng phải ăn gậy. Sư đập vào đài hương rồi bước xuống tòa”. ● 然 則. Mặc dù. Tiết Khai Tiên Hạnh Anh Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “華 嚴 恁 麼 道、譬 如 良 藥、然 則 苦 口、且 要 治 疾。 – Hoa Nghiêm nói thế ấy ví như thuốc hay, mặc dù đắng miệng nhưng cốt để trị bệnh”. ● 然 且. Nhưng mà, chỉ là, biểu thị ý chuyển chiết. Tiết Hoài Hải, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: “師 曰:子 已 後 莫 承 嗣 馬 祖 去 麼?蘗 曰:不 然、今 日 因 和 尚 舉 得 見 馬 祖 大 機 大 用、然 且 不 識 馬 祖。若 嗣 馬 祖、已 後 喪 我 兒 孫。 – Sư nói: Vậy chớ sau này ngươi có nối pháp Mã Tổ không? Hoàng Bá đáp: Không. Hôm nay nhờ Hòa Thượng kể nên được thấy cái dụng đại cơ của Mã Tổ, nhưng mà không biết Mã Tổ. Nếu nối pháp Mã Tổ thì sau này tôi sẽ mất hết con cháu”. ● 然 雖. Mặc dù. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung: “若 要 天 下 橫 行。見 老 和 尚 打 鼓 升 堂。七 十 三 八 十 四。將 拄 杖 驀 口 便 築 然 雖 如 是。拈 卻 門 前 上 馬 臺。剪 斷 五 色 索。方 始 得 安 樂 小 參。 – Nếu muốn hoành hoành trong thiên hạ, thấy Hòa Thượng già đánh trống thăng đường hãy lấy gậy đánh ngay miệng, dù ông ta 73 hay 83 tuổi. Tuy nhiên như thế, phải nhặt bỏ trước cửa, lên Mã Đài, cắt đứt giây ngũ sắc mới được an lạc”. ● 攝 受. Cửa Phật lấy từ bi làm lòng để tiếp nạp chúng sinh. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “蓋 正 見 未 開、則 阴 境 不 破、則 業 障 難 脫。雖 彌 陀 悲 愿 攝 受、其 如 盲 者 之 不 見 日 何 哉。 – Bởi vì chưa khai mở chính kiến nên chẳng phá được cảnh tối tăm. Không phá được cảnh tối tăm thì khó thoát được nghiệp chướng. Dù cho đức Di Đà có bi nguyện nhiếp thọ mà người ấy giống như kẻ mù chẳng thấy được mặt trời thì làm sao đây!”. ● 熱. Lo lắng, nóng nảy. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “公 曰:捉 得 賊 也。悅 曰:捉 得 賊、贓 在 什 麼 處?公 無 語。悅 曰:未 在、且 去。公 疑 團 愈 熱、在 客 軒 中、行 坐 俱 不 安。 – Công nói: Bắt được trộm rồi. Duyệt nói: Bắt được trộm, vậy tang vật ở đâu? Công không đáp được. Duyệt nói: Chưa được, hãy lui ra! Khối nghi của Công càng nóng lên, nơi hiên nhà đứng ngồi bất an. “ ● 熱 哄. ồn ào, ầm ỉ. Tiết Vân Đỉnh Tông Ấn Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “四 十 九 年、一 場 熱 哄。八 十 七 春、老 漢 獨 弄。誰 少 誰 多?一 般 作 夢。歸 去 來 兮、梅 梢 雪 重。 – Bốn mươi chín năm một phen ồn ào, tám mươi bảy xuân lão hán đùa một mình. Vậy thì ai nhiều ai ít? Giống như giấc mơ. Trở về đi chừ, tuyết trĩu nặng ngọn mai. “ ● 熱 亂. Lo lắng hoảng loạn. Uyển Lăng Lục ghi: “預 前 若 打 不 徹。獵 月 三 十 夜 到 來。管 取 爾 熱 亂。 – Đoán trước nếu không triệt ngộ, khi đêm 30 tháng chạp đến bảo đảm các ông sẽ hoảng loạn. “ ● 熱 謾. Lừa dối. Tiết Hoằng Minh Thiền Sư trong TLTBT q. 2 ghi: “靈 利 底 見、不 靈 利 底 著 我 熱 謾。 – Lanh lợi thì thấy, không lanh lợi thì bị ta lừa dối. “ ● 熱 悶. Lo lắng phiền muộn. Mật Am Ngữ Lục ghi: “東 村 王 大 嫂 家。夜 來 失 卻 一 頭 水 牯 牛。渾 家 大 小。尋 討 不 見 肚 裏 熱 悶。 – Nhà chị Vương ở thôn Đông, đêm qua mất một con trâu đực, cả nhà lớn nhỏ tìm kiếm không thấy, trong lòng phiền muộn. “ ● 熱 發. Nổi nóng. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “後 來 被 中 峰 老 師 折 挫 一 上、又 被 燈 籠 冷 笑 一 上、忽 覺 腦 門 熱 發、滿 面 慚 惶。 – Sau đó bị lão sư Trung Phong chèn ép một phen, lại bị Đăng Lung cười nhạt một phen nữa, chợt cảm thấy đầu óc nổi nóng, mặt mày xấu hổ. “ ● 饒. Giả sử, dù cho. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “饒 你 學 得 三 賢 四 果 十 地 滿 心、也 只 是 在 凡 聖 內 坐。 – Cho dù ngươi học được tam hiền tứ quả thập địa mãn tâm cũng chỉ là ngồi trong phàm thánh. “ ● 揉. Uốn nắn, cố ý gây chuyện, kiếm chuyện. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “今 日 被 長 老 揉 我 一 上。 – Hôm nay tôi bị Trưởng lão uốn nắn một phen”. ● 柔 如 繞 指. Nhu nhược, không chủ kiến. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “今 日 學 者 專 尚 此 習、謂 之 硬 掙、謂 之 孤 峻、及 至 遇 著 一 點 利 害、則 柔 如 繞 指、全 無 主 宰。 – Người học ngày nay chuyên tôn sùng thói quen này, gọi là cứng dai, gọi là cao vút, đến khi gặp phải một chút lợi hại thì nhu nhược, hoàn toàn không làm chủ. “ ● 如 沛 (1615-1664). Thiền tăng đời Thanh, họ Khang, hiệu Huệ Môn. Thuở bé sư khảng khái có chí xuất trần. Năm 17 tuổi sư tham học nơi ngài Hằng Tín Hành Di, còn đến núi Hoàng Bá ở Phúc Kiến để yết kiến ngài ẩn Nguyên Long Kỳ và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. ẩn Nguyên dời đến chùa Long Tuyền ở Quảng Đông, sư cũng xin theo làm Tây đường. Sư ra hoằng pháp ở động Chí Công tại Ôn Lăng. Hai năm sau, sư vâng lệnh thầy đến trụ Sư Tử Nham 8 năm. Đến khi ẩn Nguyên sang Nhật Bản, sư mới vào núi Hoàng Bá. Tác phẩm: Huệ Môn Hòa Thượng Ngữ Lục 4 quyển, Huệ Môn Thiền Sư Hưụ Lục 4 quyển. ● 如 寶 (890-960). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Cổ, người Quang Lăng, Hồ Bắc nối pháp Thiền Sư Quang Mục, tông Quy Ngưỡng. Sư trụ chùa Tư Phúc ở Kiết Châu (nay là Kiết An, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. ● 如 瓶 注 水. Như rót nước từ bình, tủ dụ giải thích nghĩa kinh rất lưu loát thông thạo. CĐTĐL q. 12 ghi: “解 得 三 世 佛 教、如 瓶 注 水。 – Giải thích giáo lý nhà Phật trong ba đời rất lưu loát, thông thạo. “ ● 如 珠 走 盤、不 拔 自 轉. Như viên ngọc lăn trên mâm, chẳng đụng đến mà tự di chuyển, tỷ dụ cảnh giới sau khi ngộ: tự mình làm chủ, vận dụng vô ngại. Tiết Thị Trung thị giả trong Mật Am Ngữ Lục ghi: “得 之 於 心。應 之 於 手。如 珠 走 盤。不 撥 自 轉。二 六 時 中。折 旋 俯 仰。入 魔 宮 探 虎 穴。上 刀 山 攀 劍 樹。乃 是 當 人 著 著 得 力 行 履 處。 – Được ở nơi tâm, ứng dụng ở nơi tay như viên ngọc lăn trên mâm, không đụng đến mà tự di chuyển. Trong 24 giờ tới lui cúi ngước, vào cung ma, dò hang hùm, lên núi đao, vào rừng gươm; nhưng mà mỗi một hành vi của đương nhân đều là chỗ đắc lực”. ● 如 珙 (1222-1289). Còn gọi: Hạnh Hồng. Thiền tăng sống vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên, họ Lâm, tự Tử Phác, hiệu Hoành Xuyên, người xứ Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 15 tuổi xuất gia nơi ông chú là Thiền Sư Chính Tắc rồi thụ giới cụ túc ở viện Quảng Từ, nối pháp Thiền Sư Diệt Ông Văn Lễ. Năm 1268, quan Thừa tướng khâm ngưỡng đạo đức của sư nên thỉnh sư trụ Linh Nham Thiền Tự ở núi Nhạn Đãng. Năm 1272, sư dời đến Năng Nhân Thiền Tự, rồi lui vể ở ẩn trong núi Nhạn Đãng. Năm 1279, phụng sắc trụ chùa Dục Vương. Tác phẩm: Tam Hội Ngữ Lục 3 quyển. ● 如 琰 (1151-1225). Thiền tăng đời Tống, họ Chu, tự Chiết Ông, người xứ Ninh Hải, Thai Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé, sư thông minh xuất chúng. Năm 18 tuổi xuất gia ở viện Tịnh Độ tại xã nhà, rồi thụ giới cụ túc, nối pháp Thiền Sư Chuyết Am Đức Quang, tông Lâm Tế. Sư từng trụ các chùa: Hàm Thanh ở nam Kiếm Châu, Quang Hiếu ở Việt Châu, Tưởng Sơn ở Kiến Khang, Thiên Đồng ở Minh Châu. Năm 1218, vua xuống chiếu vời sư trụ chùa Kính Sơn và ban cho hiệu “Phật Tâm Thiền Sư”. Đệ tử của sư là Phổ Tế nhờ biên tập bộ “Ngũ Đăng Hội Nguyên” mà nổi tiếng. ● 如 皎 (1374-1443). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, tự Tính Thiên, người huyện Ngân (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia ở viện Quán Âm nơi ấp nhà, nối pháp Thiền Sư Cổ Chuyết Tuấn, thuộc tông Lâm Tế. Sư ẩn cư ở hố phía tây am Tầm Trúc hơn 20 năm. Năm 1432, sư trụ trì chùa Hổ Bào. Sư vóc dáng vạm vỡ, phong cách thanh cao. Trong chúng nếu có ai phạm giới, sư chỉ dùng dáng mặt lạnh lùng để chỉ dạy, đợi người ấy tự sửa lỗi. ● 如 現 (?-1765). Thiền tăng đời Lê trung hưng, hiệu Nguyệt Quang, quê ở làng Đường Hào, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam, nối pháp Thiền Sư Chân Nguyên, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 37. Năm 1730, các chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm dưới sự chăm sóc của sư được chúa Trịnh Giang trùng tu. Chư tăng trong chùa cùng dân ba huyện Đông Triều, Thủy Đường và Chí Linh góp sức vào việc xây dựng lại các chùa này. Gần mười ngàn người làm việc suốt một năm mới xây dựng xong hai ngôi chùa lớn này của phái Trúc Lâm. Dân chúng ở ba huyện trên được miễn sưu dịch một năm. Bảy năm sau, Chúa Trịnh Giang lại cho đúc một pho tượng Phật rất lớn để thờ tại chùa Quỳnh Lâm. Năm 1748, sư được vua Lê Hiến Tông ban chức Tăng cang và năm 1757 được sắc phong là Tăng thống Thuần Giác Hòa Thượng. Các bậc cao tăng và đại thần thường đến tham vấn nơi sư. Đồ đệ của sư có hơn 60 vị anh tài, trụ trì các nơi làm rường cột cho Phật pháp. Thiền Sư Tính Tĩnh là vị đệ tử được sư truyền y bát Trúc Lâm và kế thế chăm sóc các chùa Quỳnh Lâm, Long Động và Nguyệt Quang. Đến ngày mồng 6 tháng 9 năm ất Dậu (1765), sư nhóm chúng từ biệt thị tịch. Môn đồ xây tháp nơi chùa Nguyệt Quang để phụng thờ. Hiện nay chùa Nguyệt Quang ở phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 如 學 (1585-1633). Thiền tăng đời Minh, họ Nhâm, hiệu Ngũ Phong, người Lâm Đồng (nay thuộc Thiểm Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp ngài Mật Vân Viên Ngộ, làm tryền nhân tông Lâm Tế, từng trụ các chùa: Hoằng Tế, Đồng Khánh ở Đại Quy sơn. Tác phẩm: Ngũ Tông Phái, Ngũ Phong Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. ● 如 會 (744-823). Thiền tăng đời Đường, họ Hoàng, người xứ Thủy Hưng, Thiều Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia, đến năm 773 làm đệ tử của Thiền Sư Quốc Nhất, sau nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Chư tăng ngưỡng mộ sư, đến tham khấu thỉnh ích đến nổi không đủ chỗ, giường thiền trong tăng đường bị hư gãy nên sư còn có tên “Hội giường gãy”. Về già, sư ở chùa Trường Sa Đông, Hồ Nam, pháp môn rất thịnh, người đời bảo chùa Đông là “hang Thiền”. Tướng quốc Thôi Công Quần là bạn của sư. Thụy hiệu “Truyền Minh Đại Sư”. ● 如 來 禪. Thiền giáo môn, chứng nhập từng bậc như: Thập tín, Thập trụ, cho đến Thập địa, Đẳng giác, còn có thể giải thích. Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di (Vạn Tục 148, 149 thượng) ghi: 師 又 作 一 喝 云:去 年 貧 未 是 貧、今 年 貧 始 是 貧。去 年 貧、猶 有 卓 錐 之 地、今 年 貧、錐 也 無。仰 曰:如 來 禪 許 師 弟 會、祖 師 禪 未 夢 見 在。 – Sư liền hét một tiếng và nói: Năm ngoài nghèo chưa thật nghèo, năm nay nghèo mới thật nghèo. Năm ngoái tuy nghèo nhưng còn có dùi để cắm. Năm nay nghèo đến nỗi dùi cũng không. Ngưỡng Sơn nói: Chấp nhận sư đệ đã ngộ Như Lai Thiền, còn Tổ sư Thiền thì nằm mơ cũng chưa thấy”. ● 洳 霖 (1274-1339). Thiền tăng đời Nguyên, họ Vương, tự Trúc Điền, người xứ Xương Quốc (nay là huyện Định Hải, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư tham học nơi Thiền Sư Chỉ Hoằng Giám, chùa Thiên Đồng có tỉnh, còn yết kiến ngài Duyệt Đường chùa Linh ẩn, được bổ làm thư ký. Sư ở chùa Thượng Lam được cử làm thị giả. Sư đến núi Bách Trượng yết kiến Thiền Sư Hối Cơ, được Ngài phân tòa thuyết pháp. Về sau, sư tiếp nối trụ trì Thượng Lam rồi dời đến Tuyết Đậu, Điện sơn. Về già, sư trụ trì chùa Vạn Thọ ở Tô Châu. ● 如 滿. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất. Ban đầu sư ở chùa Kim Cang, núi Ngũ Đài. Sau đến Lạc Dương, sư nói pháp yếu Thiền Tông cho Đường Thuận Tông nghe, Vua nghe xong rất vui, càng quý trọng Thiền Tông. ● 如 敏 (850-920). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Mân Xuyên. Ban đầu sư yết kiến Hoàng Bá Hy Vận, sau đến Phúc Châu yết kiến Trường Khánh Đại An và nối pháp Ngài. Sư ra hoằng pháp trụ Thiền viện Linh Thọ, Thiều Châu (nay là Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông). Tính tình sư khoan hậu, trung thực, rất giỏi bói quẻ. Các Vương đời Nam Hán thường rước sư vào cung để quyết nghị việc khó, ban hiệu là “Tri Thánh Đại Sư”. Sư giáo hóa ở Lãnh Nam hơn 40 năm có rất nhiều dị tích. Thụy hiệu: Linh Thọ Thiền Sư. ● 如 眼 慈 風 (1864-1938). Thiền tăng đời Nguyễn, húy Như Nhãn, tên là Nguyễn văn Tường, người thôn Đức Hòa Thượng (sông Tra), tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (quận Đức Hòa, tỉnh Long An sau này). Năm 1880, sư bỏ nhà lên chùa Thiền Lâm tại làng Hiệp Ninh quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh quy y thọ giáo với Thiền Sư Minh Đạt. Sau khi tu học ở đây một thời gian, sư xuống chùa Giác Viên (làng Bình Thới, Gia Định) xin thọ giáo với Thiền Sư Minh Khiêm Hoằng Ân, được ban pháp danh là Từ Phong, húy Như Nhãn, lúc đó sư cũng đã thông hiểu kinh pháp nên được Thiền Sư Hoằng Ân cử làm thư ký ở chùa Giác Viên. Năm 1887, sư trụ trì chùa Giác Hải (Phú Lâm). Năm 1909, sư làm pháp sư trường Hương ở chùa Long Quang tại Châu Thành Vĩnh Long. Năm 1919, sư làm pháp sư trường Hương ở chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) và năm 1920 ở chùa Bửu Long (Vĩnh Long). Khoảng thời gian 1920-1925, Sư xây dựng chùa Thiền Lâm ở Gò Kén, thôn Thái Hiệp Thạnh, gần tỉnh lỵ Tây Ninh. Trong thời gian 1911-1930, phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ phát triển nhờ hoạt động tích cực của chư thiền đức nổi danh, trong đó có sư. Tuy học vấn của sư không nổi tiếng uyên bác, nhưng tác phong đạo đức cao, có óc canh tân và nhiệt tâm xiển dương chính pháp, cố hết sức lo chỉnh lý lại tăng đồ và cải cách sinh hoạt Phật giáo để trừ các tệ đoan trong Phật giáo Nam Kỳ. Tiêu biểu là năm 1920, sư hợp tác với Hòa Thượng Khánh Hòa vận động thành lập Hội Lục Hòa để đoàn kết chư tăng trong những ngày giỗ Tổ ở các chùa. Năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học được thành lập. Hội này mở Phật Học Đường Lưỡng Xuyên ở Trà Vinh để đào tạo tăng ni. Trong ban lãnh đạo, Hòa Thượng Huệ Quang (chùa Long Hòa Trà Vinh) làm Chính Tổng Lý, Hòa Thượng An Lạc (chùa Vĩnh Tràng Mỹ Tho) làm Chính hội trưởng, Hòa Thượng Khánh Anh làm Pháp sư, và Hòa Thượng Từ Phong giữ chức Đại đạo sư. Năm 1938, sư thị tịch tại chùa Thiền Lâm (Tây Ninh) thọ 74 tuổi. Đồ chúng lập tháp thờ tại chùa Thiền Lâm và Giác Hải. Theo: L s PG Đ T của Nguyễn Hiền Đức. ● 如 如 (Tổ Quạ). Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc tông Tào Động đời thứ 9. Sư pháp húy là Quang Lư, Thích Đường Đường, hiệu Như Như, thuộc hệ phái chùa Hồng Phúc (Hoè Nhai). Sư lập chùa Thiên Trúc (Mễ Trì, Hà Nội) và trụ trì tại đây. Công hạnh của sư chúng ta không thấy ghi trong sử, chỉ thấy trong bài ca dân gian kể lại công đức của sư. Đại ý như sau: “Vào đời Minh Mạng, sư trụ trì chùa Thiên Trúc, dân chúng trong làng khi bận việc cày cấy thường đem con cái còn nhỏ đến chùa để gởi cho sư trông nom. Sư dùng than vẽ cho mỗi đứa bé một vòng khiến chúng chỉ nô đùa trong vòng ấy mà không khóc la, không xô đẩy nhau, đến giờ sư gọi đệ tử cho các đứa bé ăn. Khi cho ăn có lũ quạ cũng bay lại xin phần, sư cũng chia đều cho. Vì lũ quạ quá đông nên sư chia ra từng tổ và lên danh sách cho có thứ tự lớp lang. Một hôm, bỗng có mật thám đến chùa, thấy bảng danh sách này nghi ngờ sư làm phản nên báo cáo với Vua, vì thế sư bị bắt. Lúc ấy quạ lớn quạ bé rất nhiều bay đến chỗ phân xử kêu la ầm ĩ khiến nhà Vua lấy làm lạ, cho điều tra lại và cuối cùng tha sư. Do việc này sư càng nổi tiếng từ bi và được gọi tên là “Tổ Quạ”. Sư tịch ngày 20 tháng 7, tháp hiệu Quỳnh Trân. Theo: Thiền Sư Việt Nam, của HT. Thanh Từ. ● 如 如. Chân thật tướng của vạn sự vạn vật bình đẳng không hai, gọi là như như. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “無 心 者 無 一 切 心 者。如 如 之 體、內 如 木 石、不 動 不 搖。外 如 虛 空、不 塞 不 礙。無 能 所 無 方 所、無 相 貌 無 得 失。 – Vô tâm là không có tất cả tâm. Thể như như bên trong như gỗ đá không lay không động; bên ngoài như hư không không bít không ngại. Không năng sở, không phương sở, không tướng mạo, không được mất. “ ● 如 如 不 動. Bản thể của tự tính cùng khắp không gian thời gian, chẳng động chẳng tịnh, chẳng biến chẳng dời, chẳng sinh chẳng diệt. ● 如 訥. Thiền tăng đời Ngũ Đại, mắt có 2 con ngươi, tay dài quá gối, nối pháp Thiền Sư Thúy Vi Vô Học. Sau khi thọ pháp, sư trụ núi Đạo Tràng, An Kiết (nay là phía bắc An Kiết, tỉnh Chiết Giang), người học bốn phương tìm đến, sư rộng xiển dương thiền pháp. ● 如 法. 1. Khế hợp thiền pháp, tương ưng với thiền pháp. Lâm Tế Lục ghi: “道 流。爾 若 欲 得 如 法。直 須 是 大 丈 夫 兒 始 得。若 萎 萎 隨 隨 地。則 不 得 也。 – Đạo lưu! Nếu ông muốn được như pháp thì cần phải là bậc đại trượng phu mới được, còn nếu thấp hèn uể oải thì không thể được. “ ● 2. Tuân theo quy cách, như thật, hết lòng. Tiết Thạch Môn Thiệu Viễn Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “(石 門)曰:田 中 事 作 麼 生?師 曰:深 耕 淺 種。曰:如 法 著。師 曰:某 甲 不 曾 取 次。 – (Thạch Môn) hỏi: Việc ruộng nương thế nào? Sư đáp: Cày sâu gieo cạn. Thạch Môn bảo: Hết lòng đi! Sư thưa: Tôi chưa từng cẩu thả. “ ● 如 新. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển. Sư ra hoằng pháp ở Thư Châu (nay là tỉnh An Huy). Có vị tăng hỏi: “Thế nào là ý Tổ Sư?” Sư đáp: “Coi bộ linh lợi vậy mà chẳng hội”. ● 如 迁 (1538-1598). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, hiệu Đại Phương, tự Tùng Cốc, người xứ Phong Tường (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc. Sư tham Hòa Thượng Hỷ ở Duyệt Am có chỗ khai ngộ. Năm 1561, nghe tông sư Đại Chương khai pháp ở chùa Thiếu Lâm liền đến để cầu ấn chứng. Đại Chương vừa gặp sư liền biết là pháp khí nên giữ sư lại. Sớm chiều sư được vào thất nên biết được tông phong Tào Động, được ấn khả rồi sư đi khắp các danh sơn trong nước. Sư đến chùa Từ Vân ở Kinh Sư, dạo khắp các pháp hội, hiểu tột tông chỉ tánh tướng. Sau đó, sư nhận lời mời của Thế tử Trịnh Phiên Vương, trụ trì chùa Long Cương ở Hoài Khánh, người học khắp nơi, nghe đạo phong của sư kéo đến tham học. ● 如 通 (1523-1595). Thiền tăng đời Minh, họ Hàng, hiệu Dị Am, Lô Giang Lão Tẩu, người xứ Cối Kê (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 15 tuổi xuất gia nơi Thiền Sư Đại Hải, chùa Tam Đức, Chư Kỵ, nối pháp Thiền Sư Kính Sơn Vạn Tùng, thuộc tông Lâm Tế. Năm 1563, sư trụ trì chùa Huệ Nhân, Hàng Châu. Năm 1582, dời sang ở chùa Linh ẩn. Sư dạy người một cách bình dị, lời nói chất phác. Khi sư lên đàn diễn giảng, biện tài lưu loát khiến cho mọi tầng lớp già trẻ gái trai đều khen ngợi. Năm 1595, sư thị tịch ở chùa Thiên Thai Quốc Thanh. ● 如 璽 (1602-?). Thiền tăng đời Thanh, họ Nhậm, hiệu Phương Dung, người xứ Kinh Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc. Năm 16 tuổi thụ giới Sa Di nơi Thiền Sư Đại Tài. Từng tham học các nơi: Bác Sơn Nguyên Lai, Mật Vân Viên Ngộ, Vân Thê Châu Hoằng, Tuyết Kiệu Viên Tín. Sau tham yết Chuyên Ngu Quán Hành. Năm 1651, Sư ẩn ở Lô Sơn. Năm 1660 sư xây tháp cho ngài Giác Lãng Đạo Thạnh, rồi ở chùa Thiên Giới tại Kim Lăng. Năm kế, xây dựng đạo tràng Phổ Phúc. Năm 1662 trụ chùa Hoằng Tế ở Kim Lăng, lúc ấy sư đã 61 tuổi. Tác phẩm: Phương Dung Tỉ Thiền Sư Ngữ Lục 3 quyển, Họa Trung Phong Thiền Sư Hoài Tịnh Độ Thi 1 quyển. ● 如 淨 (1163-1228). Thiền tăng đời Tống, họ Du, người xứ Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm sư 19 tuổi xuất gia, nối pháp Thiền Sư Túc Môn Trí Giám, thuộc tông Tào Động. Do vì thân sư cao lớn, tính tình độ lượng nên người đời còn gọi là “Tịnh Trưởng” hoặc “Trưởng Ông”. Sư từng trụ các chùa: Thanh Lương, Tịnh Độ, Tịnh Từ, Thụy Nham. Tác phẩm: Như Tịnh Hòa Thượng Ngữ Lục 2 quyển. ● 如 淨 和 尚 語 錄. Ngữ Lục, 2 quyển, do Như Tịnh soạn vào đời Tống, các vị Văn Sách, Diệu Tông, Duy Kính biên tập”, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 121. Nội dung bao gồm: Pháp ngữ thượng đường của Như Tịnh ở các nơi sau đây: chùa Thanh Lương tại Phủ Kiến Khang, chùa Thụy Nham tại Đài Châu, chùa Tịnh Từ tại phủ Lâm An, chùa Thụy Nham và chùa Thiên Đồng tại Minh Châu. Cùng với các phần: Tiểu tham, Phổ thuyết, Tụng cổ, Tán Phật Tổ, Tự tán, Tiểu Phật sự, Kệ tụng. Như Tịnh là vị thiền sư quan trọng của tông Tào Động, đã phát triển Thiền mặc chiếu của ngài Chính Giác. Đệ tử nối pháp của sư là Tổ Nguyên, cũng chính là Tổ tông Tào Động Nhật Bản. Từ bộ Ngữ Lục này của sư, chúng ta thấy được chỗ NGộ của Như Tịnh và địa vị quan trọng của sư đối với lịch sử truyền thừa của tông Tào Động Nhật bản. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Thiệu Định thứ 2 (1229) Nam Tống, sau đó được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48. Nghĩa Viễn (đệ tử của Như Tịnh) đem 20 bài pháp ngữ thượng đường ở Thiên Đồng chưa được đem vào sách này, biên tập thành 1 quyển, gọi là Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Tự Như Tịnh Thiền Sư tục Ngữ Lục, còn gọi Thiên Đồng Di Lạc Lục. ● 如 澄 鄰 覺 (1696-1733). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 37. Sư tên Trịnh Thập, là con của Phổ Quang Vương, sinh ngày mồng 5 tháng 5 năm Bính Tý nhằm niên hiệu Chính Hòa thứ 17 (1696). Trên trán sư có góc như hình chữ nhật (日). Lớn lên, vua Lê Hy Tông gả Công chúa thứ tư cho sư. Tuy thân sống trong lầu son gác tía mà tâm sư hằng gởi gắm trong của thiền. Sư có tư dinh tại huyện Thọ Xương ở phường Bạch Mai, Hà Nội khu đất vườn ao 6 mẫu. ở sau vườn có gò đất cao chừng bảy tám thước. Một hôm, sư sai quân gia đào gò đất ấy xuống tận duới sâu để làm ao thả cá vàng. Quân gia chợt thấy một cọng sen lớn, đến trình với sư. Sư cho đó là điềm đi xuất gia. Nhân điềm cọng sen này, sư liền cải gia vi tự (đổi nhà làm chùa), đặt tên là Liên Tông, viện tên Ly Cấu. Từ đây, sư quyết chí tham thiền. Một hôm, sư dâng sớ xin xả tục xuất gia, được nhà vua chấp thuận. Ngày ấy, sư đi thẳng đến huyện Đông Triều lên chùa Long Động trên núi Yên Tử đảnh lễ Thiền Sư Chân Nguyên Chính Giác xuất gia. Thiền Sư Chính Giác hiện giờ đã 80 tuổi. Chính Giác bảo: Duyên xưa gặp gỡ, vì sao đến chậm vậy? Sư thưa: Thầy trò hội hiệp thời tiết đến thì gặp. Chính Giác bảo: Trùng hưng Phật Tổ sau này là trông cậy ở ngươi. Từ đây, sư ngày đêm nghiên cứu tam tạng đều được thấu suốt. Một hôm, sư đầy đủ oai nghi lên xin ngài Chính Giáo thụ giới cụ túc. Được chấp thuận, thụ giới xong và được truyền tâm pháp rồi, sư trở về trụ trì tại chùa Liên Tông. Nơi đây, sư hoằng hóa rất thạnh, đồ chúng đến tham học rất đông. Do đó lập thành một phái hiệu là Liên Tông. Năm 37 tuổi, bỗng một hôm, sư bảo đại chúng rằng: Giờ quy tịch ta sắp đến. Ta được pháp nơi Hoà thượng Chân Nguyên, sẽ trao lại cho các ngươi, hãy nghe kệ đây: 本 從 無 本。從 無 爲 來 還 從 無 爲 去。我 本 無 來 去 死 生 何 曾 累 “Bản tùng vô bản Tùng vô vi lai Hoàn tùng vô vi khứ Ngã bản vô lai khứ Tử sinh hà tằng lụy”. “Vốn từ không gốc Từ vô vi mà đến Lại từ không mà đi Ta vốn không đến đi Tử sinh làm gì lụy”. Sư lại bảo: Thân khổ tứ đại này đâu thể giữ lâu. Nói xong, sư ngồi an nhiên thị tịch, thọ 37 tuổi. Năm ấy nhằm niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733). Đồ chúng xây tháp thờ sư ở ba nơi. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 如 玘 (1320-1385). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Trương, tự Thái Phúc, hiệu Cụ Am, người xứ Xa Diêu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 16 tuổi theo ngài Giác Hải ở chùa Phổ An tại Hoành Khê xuất gia, được ngài Ngã Am Vô Công độ làm tăng, ít lâu sau thụ giới cụ túc và đắc pháp nơi Thiền Sư Kế Tông Tuyệt. Năm 1361, sư ra hoằng pháp trụ chùa ủng Hy ở Vân Môn, sau dời đến chùa Vĩnh Thọ, chùa Viễn Phúc, nổi tiếng ở miền Đông nam. Năm 1368 được Vua triệu vào kinh để hỏi về tông chỉ, sư được thăng chức Tăng lục ty Tả giảng kinh, trụ trì chùa Thiên Giới. Năm 1372, Minh Thái Tổ triệu tập các bậc cao tăng ở Chung Sơn, mở hội Quảng Tiến, Như Tỵ giảng diệu chỉ Pháp Hoa, số người nghe giảng rất vui và khâm phục. Sư xem nhiều sách vở, giỏi văn chương khéo ăn nói, thuyết kinh kệ làm cảm động lòng người. Khi sư viên tịch, vua Thái Tổ đích thân làm văn tế. ● 如 意 禪 師. Thiền tăng Tường Mại đời Nguyên tự là Như Ý, người đời gọi là Như Ý Thiền Sư. X. Tường Mại. ● 仍. Và, đồng thời. Tiết Tiến Phúc Hoằng Biện Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “師 是 日 辯 對 七 刻、(唐 宣 宗) 賜 紫 方 袍、號 圓 智 禪 師、仍 敕 修 天 下 祖 塔、各 令 守 護。 – Mỗi ngày sư biện đối bảy khắc (một khắc là 15 phút) vua ban cho tử phương bào, tặng hiệu Thiền Sư Viên Trí, đồng thời ra lệnh tu sửa Thiên Hạ Tổ tháp bảo mọi người giữ gìn. “ ● 仍 前. Y như cũ. Vô Môn Quan ghi: “安 晚 欲 就 渠 熱 爐 熬 上、再 打 一 枚、足 成 大 衍 之 數、卻 仍 前 送 似。 – Chiều tối, An muốn đến trên cái lò đun nóng to lớn, bỏ thêm một cái nữa cho đủ số năm mươi, lại y như cũ bỏ vào. “ ● 箬 庵. Hiệu của Thiền tăng Thông Vấn đời Minh mạt Thanh sơ. X. Thông Vấn. ● 若 凡 若 聖. Không luận phàm nhân hay là thánh nhân. Tiết Chân Tịnh Khắc Văn Thiền Sư trong GTPĐL q. 25 ghi: “盡 十 方 世 界、若 凡 若 聖、若 僧 若 俗、若 草 若 木、盡 向 拂 子 下 成 佛 作 祖、無 前 無 後、一 時 解 脫。 – Tận mười phương thế giới không luận là phàm nhân hay thánh nhân, là tăng hay tục, là cỏ hay cây, tất cả đều ngay dưới cây phất tử thành Phật thành Tổ, không trước không sau, đồng thời giải thoát”. ● 若 爲. Vì sao, thế nào? Đại từ nghi vấn. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q. 3 ghi: “和 尚 佛 性、若 爲 全 不 生 滅? 南 方 佛 性、若 爲 半 生 滅 半 不 生 滅? – Phật tính Hoà thượng vì sao hoàn toàn chẳng sinh chẳng diệt? Phật tính phương Nam vì sao nửa sinh diệt nửa chẳng sinh diệt?”. ● 聻、呢. 1. Là trợ vĩ ngữ, có nghĩa là “hả”, thường gặp trong ngôn từ của thiền sư. Triệu Châu Thiền Sư Ngữ Lục (Vạn Tục 118, 166 thượng) ghi: “一 日 二 人 問 師、什 麼 處 去 來。師 云、禮 拜 五 百 尊 者 來。二 人 云、五 百 頭 水 牯 牛 聻、尊 者。 – Hai người hỏi sư: Từ đâu đến? Sư nói: Lễ bái 500 Tôn giả đến. Hai người nói: Năm trăm con trâu hả, Tôn giả!”. Ni, còn là cảm thán từ khinh thinh, đồng nghĩa với: Tựu thị giá dạng, Chính thị như thử (Đúng như thế). Tông Môn Võ Khố (Đại 47, 946 thượng) ghi: “圓 悟 舉 似 五 祖、祖 曰:也 好 聻。 – Viên Ngộ trình bày với Ngũ Tổ, Tổ nói: Đúng như thế!” ● 2. Tương truyền người chết thành quỷ, quỷ chết thành ni, quỷ rất sợ ni cũng như người sợ quỷ. Tục rằng trên cửa ra vào vẽ đầu cọp hoặc viết chữ “ni” bằng chữ triện thì có thể xua đuổi tà ma dịch bệnh, gọi là Quần tà phù. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 尼. Hả. Là ngữ khí từ nghi vấn đặt cuối câu, tức nay là “ni 呢”. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “師 問 雲 巖:作 什 麼?對 曰:擔 水。師 曰:那 箇 尼?對 曰:在。 – Sư hỏi Vân Nham: Làm gì thế? Nham đáp: Gánh nước. Sư hỏi: Cái ấy hả? Nham đáp: ở đây. “ ● 膩 脂 帽 子 鶻 臭 布 衫. Cái khăn dính dầu mỡ, cái áo hôi hám, dụ cho tri kiến trần tục, vô minh phiền não. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q. ghi: “直 饒 拈 卻 膱 脂 帽 子、脫 卻 鶻 臭 布 衫、向 報 恩 門 下、正 好 喫 棒。何 故?半 夜 起 來 屈 膝 坐、毛 頭 星 現 衲 僧 前。 – Giả sử ông lột được cái mũ dính dầu mỡ, cởi được cái áo hôi hám, đúng là lúc nên ăn gậy của Báo Ân tôi. Vì cớ sao? Nửa đêm thức dậy ngồi co gối, đầu lông sao hiện trước nạp tăng”. ● 拈 八 方 珠 玉 集. Niêm cổ vựng tập, 3 quyển, do Tổ Khánh biên tập vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 119, trang 203. Nội dung thu thập niêm cổ, ngữ cú của 4 vị thiền sư: Phật Giám Huệ Cần, Viên Ngộ Khắc Cần, Chính Giác Tông Hiển và Thạch Khê Tâm Nguyệt. Trước tiên nêu lên công án, sau kể ra lời niêm của 4 vị. ● 拈 槌 舉 拂. Còn gọi: Niêm Chùy Thụ Phất. Tiết Hành Nhạc Đạo Biện Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “僧 問:拈 槌 舉 拂 即 且 置、和 尚 如 何 爲 人?師 曰:客 來 須 接。 – Tăng hỏi: Giơ cây dùi, đưa phất tử lên thì tạm gác lại, Hòa Thượng làm sao độ người? Sư đáp: Khách đến cần phải tiếp”. ● 拈 槌 竪 拂. Giơ cây dùi, đưa phất tử lên, là động tác mà thiền gia thường dùng để thị cơ, ứng cơ, chỉ chung cho tác lược thiền cơ. Tiết Lang Da Huệ Giác Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “拈 椎 豎 拂 即 不 問、瞬 目 揚 眉 事 若 何? – Giơ cây dùi, đưa phất tử lên thì chẳng hỏi, việc nhướng mày chớp mắt là gì?”. ● 拈 古. Nêu ra những tắc công án xưa để bình nghị, là một hình thức thuyết pháp của thiền sư, cũng là một loại hình của Ngữ Lục Thiền Tông. Tông Môn Võ Khố ghi: “杲 上 座!我 這 裏 禪、爾 一 時 理 會 得、教 爾 說 也 說 得、教 爾 做 拈 古、頌 古、小 參、普 說、爾 也 做 得。只 是 有 一 件 事 未 在、爾 還 知 麼? – Thượng tọa Cảo! Đối với thiền pháp của ta, ngươi đều hiểu được, dạy ngươi nói cũng nói được, dạy ngươi làm niêm cổ, tụng cổ, tiểu tham, phổ thuyết ngươi cũng làm được. Nhưng có một việc còn chưa được, ngươi có biết chăng?”. ● 拈 提. Còn gọi: Niêm Cổ, Niêm Tắc. Nghĩa là niêm bình cổ tắc. Thiền Sư thuyết pháp, đưa ra cổ tắc công án để mở mang tâm địa người học đạo. Tông chỉ của Thiền Tông vốn truyền ngoài giáo điển, chẳng lập văn tự, không y theo kinh luận… , nhưng vì muốn cho kẻ học đạo thể ngộ việc lớn sinh tử và chỗ ngôn ngữ không đến được bèn đưa ra cổ tắc công án để trình bày yếu chỉ tông môn. Phần bình xướng của tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 141 thượng) ghi: “大 凡 頌 古、只 是 繞 路 說 禪;拈 古、大 綱 據 欵 結 案 而 已。 – Tụng cổ chỉ giảng về Thiền một cách vòng vo, nêu lên ý chính của vấn đề xưa rồi theo các dữ kiện mà kết thúc công án mà thôi”. ● 拈 弄. Đưa ra nhận xét về những điều tóm tắt quan trọng của Tông môn. ● 拈 頌. Thông thường chỉ cho niêm cổ và tụng cổ, là 2 cách thuyết pháp của thiền sư. Đối trước các đệ tử, thiền sư đưa ra công án, sau đó thêm lời bình nhằm trình bày và giải thích, gọi là Niêm cổ. Sau khi thiền sư đưa ra công án, còn dùng các câu thơ để bình luận, gọi là Tụng cổ. Trong các tác phẩm Ngữ Lục, đôi khi đem niêm cổ và tụng cổ tập trung biên chép sắp xếp, chẳng hạn quyển 1 của Minh Giác Ngữ Lục là dấu hiệu của 1 loại “Niêm cổ”, quyển 10 của Đại Huệ Ngữ Lục ghi rõ là “Tụng cổ”. Bắt đầu từ đời Tống, theo việc phổ biến phong trào khán thoại đầu, tham công án, lần lượt xuất hiện một số tác phẩm niêm tụng chuyên môn. Đại khái, chúng có thể được chia làm 3 loại: 1. Niêm tụng biệt tập: tức là do cùng một vị thiền sư tuyển lấy một số công án rồi dùng văn xuôi hoặc các câu thơ để giải nói, như Vô Môn Quan của Thiền Sư Huệ Khai đời Tống, Chính Pháp Nhãn Tạng do Tông Cảo viết. 2. Niêm tụng vựng tập: tức là đem phần niêm tụng của nhiều vị thiền sư biên tập lại thành sách, như “Tụng Cổ Liên Châu Thông tập”, do Pháp ứng biên vào đời Tống, Phổ Hội biên tiếp vào đời Thanh, ghi lại tụng cổ của nhiều vị thiền sư. 3. Niêm tụng bình xướng hợp tập: Về từ “Bình xướng” nghĩa là trên cơ sở niêm tụng của người trước, thêm vào lời bình xen kẽ trong công án và trong niêm tụng, như Bích Nham Lục, Thung Dung Lục, Thỉnh Ích Lục”… ● 拈 問. Đưa ra công án và nêu lên vấn đề, là một hình thức hỏi về công án trong nhà thiền. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “時 有 人 問:學 人 欲 見 和 尚 本 來 師 時 如 何?師 曰:年 涯 相 似、則 無 阻 碍。。。後 教 上 座 拈 問 長 慶:如 何 是 年 涯 相 似? – Đương thời có người hỏi: Khi người học muốn thấy vị Thầy sẵn có của Hòa Thượng thì ra sao? Sư đáp: Giống như tuổi xế chiều thu không có trở ngại. Về sau dạy Thượng tọa Giáo nêu ra hỏi Trường Khánh: ›Thế nào là giống như tuổi xế chiều?‹”. ● 拈 掇. Gọi tên câu nói thiền cơ. Phần phụ lục quyển cuối Dương ức ký Lý Duy Thư trong CĐTĐL q. 30 ghi: “如 今 假 立 箇 賓 主。動 者 兩 片 皮。豎 起 指 頭。拈 起 拂 子。總 成 顛 倒 知 見。順 汝 狂 意。教 汝 有 箇 申 問 處。若 是 明 眼 人 前 怎 生 拈 掇 得 出。 – Hiện nay giả lập khách chủ mà động đôi môi, giơ ngón tay, đưa phất tử lên, thảy đều trở thành tri kiến điên đảo, thuận theo ý cuồng của ông dạy ông có chỗ thưa hỏi. Nếu ở trước người mắt sáng làm sao ông gọi tên câu nói thiền cơ ra được?”. ● 念 法 華. Thiền tăng Tỉnh Niệm đời Tống lấy việc trì tụng kinh Pháp Hoa làm nhật khóa, người đời gọi là Niệm Pháp Hoa. X. Tỉnh Niệm. ● 念 常 (1282-?). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hoàng, hiệu Mai ốc, người xứ Hoa Đình (nay là huyện Tùng Giang, tỉnh Thượng Hải) Trung Quốc. Sư xuất gia từ nhỏ, thích đọc sách, thông hiểu cả Phật lẫn Nho, còn riêng thích thiền định. Năm 1308, tham vấn Thiền Sư Hối Cơ Tịnh Từ và đắc pháp. Năm 1316, sư trụ trì chùa Tường Phù, Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). Năm 1333, sư soạn xong “Phật Tổ Thông Tải” 22 quyển. (Có thuyết nói 36 quyển). ● 捻 破. Tham cứu minh bạch. Tiết Thụy Lộc Bản Tiên Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “大 凡 參 學 未 必 學、問 話 是 參 學 未 必 學、揀 話 是 參 學 未 必 學、代 語 是 參 學 未 必 學、別 語 是 參 學 未 必 學、捻 破 經 論 中 奇 特 言 語 是 參 學、未 必 捻 破 祖 師 奇 特 言 語 是 參 學。 – Nói chung tham học, chưa chắc học vấn thoại là tham học, chưa chắc học giản thoại là tham học, chưa chắc học đại ngữ là tham học, chưa chắc học biệt ngữ là tham học, chưa chắc học tham cứu ngôn ngữ kì đặc trong kinh luận là tham học, chưa chắc tham cứu ngôn ngữ kì đặc của Tổ sư là tham học. “ ● 涅 槃 妙 心. Tâm giác ngộ siêu việt luân hồi sinh tử, vĩnh hằng bất biến. Tiết Thích Ca Mâu Ni Phật trong NĐHN q. 1 ghi: “吾 有 正 法 眼 藏 涅 槃 妙 心、實 相 無 相、微 妙 法 門、不 立 文 字、教 外 別 傳、付 囑 摩 訶 迦 葉。 – Thế Tôn nói: Ta có Chính pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay trao cho Ma Ha Ca Diếp”. ● 涅 槃 堂. Tên một căn nhà trong khuôn viên chùa, để cho các vị tăng già, bệnh sắp chết ở. Vô Môn Quan ghi: “師 令 維 那 白 槌 告 眾、食 後 送 亡 僧。大 眾 言 議、一 眾 皆 安、涅 槃 堂 又 無 人 病、何 故 如 是。 – Hòa Thượng Bách Trượng sai Duy Na bạch chùy bảo chúng: Sau khi ăn cơm, đưa đám một vị tăng mới mất. Mọi người đều bàn: Toàn chúng đều an lành. Niết Bàn đường không có ai đau ốm, sao lại có chuyện như vậy?”. ● 涅 槃 堂 里 漢. Lời quở trách các vị tăng: Cái gã sắp chết đến nơi! Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q. 10 ghi: “僧 云:不 假 三 寸、還 許 學 人 通 信 也 無?師 云:許、汝 作 麼 生 通 信?僧 云:今 日 東 風 起。師 云:涅 槃 堂 裏 漢。 – Tăng nói: Chẳng nhờ lời nói, có cho học nhân thông tin hay không? Sư bảo: Cho, nhưng ngươi làm sao thông tin? Tăng nói: Hôm nay gió xuân nổi. Sư nói: Cái gã sắp chết đến nơi!” ● 捏 目 生 花. ấn lên con mắt sinh ra cái thấy ảo, tợ hồ như có hoa đốm xuất hiện, dụ cho chế tạo hình tượng hư huyễn để lừa mình lừa người. Chương Huyền Sa Tông Nhất Đại sư trong CĐTĐL q. 18 ghi: “我 今 問 汝 諸 人。且 承 得 箇 什 麼 事。在 何 世 界 安 身 立 命。還 辨 得 麼。若 辨 不 得 恰 似 掜 目 生 華。見 事 便 差。 – Nay ta hỏi các ông rốt cuộc nhận được cái gì? Yên thân gởi phận ở thế giới nào? Có biện được chăng? Nếu không biện được thì giống như ấn lên con mắt thấy hoa đốm, thấy sự việc liền sai. “ ● 捏 怪. Quái dị hoang đường. Tiết Khai Thị Dục Tạng chủ trong DTNL q. 3 ghi: “佛 祖 無 上 妙 道、初 非 強 生 節 目。且 非 異 端 捏 怪、又 非 甚 高 難 行 之 事。 – Đạo mầu vô thượng của Phật Tổ, ban đầu chẳng phải miễn cưỡng sinh tiết mục, cũng chẳng phải dị đoan hoang đường, lại chẳng phải việc cao siêu khó làm. “ ● 尿 牀 鬼 子. Vốn chỉ cho con nít đái dầm, hoặc tiểu tăng đái dầm. Thiền Tông dùng từ này để quở mắng những ông tăng nhỏ tuổi hoặc tiểu Sa Di, hoặc những kẻ có lời nói, hành vi bừa bãi, buồn cười, cũng như ngày nay dùng từ “Tiểu quỷ” (Đồ quỷ), “Xú tiểu tử”, chứ thật ra không có chuyện quỷ đái dầm. Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư Ngữ Lục: “大 愚 住 云:這 尿 床 鬼 子。適 來 道 有 過 無 過。如 今 却 道 黄 蘗 佛 法 無 多 子。 – Đại Ngu nắm Lâm Tế lại và nói: Đồ quỷ! Vừa rồi nói có lỗi không lỗi, bây giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không có gì nhiều!”. ● 寧 一 山. Thiền tăng Nhất Ninh đời Nguyên hiệu Nhất Sơn, nên gọi là Ninh Nhất Sơn. X. Nhất Ninh. ● 寧 福 寺. Còn gọi: Chùa Bút Tháp. Chùa ở xã Bút Tháp, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hà Bắc), Việt Nam. Chùa do Thiền Sư Huyền Quang kiến lập vào đời Trần, với hệ thống không gian phát triển, với nhiều tháp và bia đá đã tự nó nói lên tầm quan trọng của kiến trúc chùa tháp trước xã hội đương thời. Quần thể kiến trúc chùa Bút Tháp như một ốc đảo dài điểm xuyết cây xanh, nổi bật trên một cánh đồng sóng lúa mênh mông, đã được bố cục theo một trật tự nghiêm khắc: khách hành hương sẽ phải lần lượt qua Tam quan, gác chuông, Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, tòa Cửu Phẩm, nhà Trung, Phủ thờ, nhà Tổ. Kiến trúc chùa vẫn dùng khung gỗ chịu lực nhưng nền bệ lan can dùng đá rất phổ biến, trên có những hình động vật được khắc trông thật sinh động. Chùa có tháp Báo Nghiêm thờ Hòa Thượng Chuyết Công, cao 13,05m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng trệt của tòa tháp này có mười ba bức chạm lấy đề tài động vật làm chính. Trong chùa có pho tượng gỗ Quán Âm nghìn mắt nghìn tay của nhà điêu khắc họ Trương hoàn thành vào năm 1656. Hai kiệt tác điêu khắc khác nữa làm thành một bộ ba tác phẩm danh bất hư truyền là tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại Tổ sư và tượng Thị Kính. Theo VNVHT H 89-95. ● 內 道 塲. Đạo tràng được thiết lập ở hoàng cung. Tào Khê Đại sư Biệt truyện ghi: “召 諸 州 名 山 禪 師、集 內 道 塲 供 養。 – Triệu tập các bậc thiền sư nổi tiếng ở các châu về Nội đạo tràng để cúng dường. “ ● 娘 生 面. Còn gọi: Nương Sinh Khóa (cái khố của người mẹ). Khuôn mặt mẹ. Nương sinh có nghĩa là người mẹ. Nương sinh diện cũng như Bản lai diện mục. Thuật ngữ này mượn của Lão giáo dùng để chỉ cho Tự tính. Bài An Định Thời Tiết trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 歲 歲 花 隨 三 月 笑 朝 朝 鷄 向 五 更 鳴 阿 誰 會 得 娘 生 面 始 信 人 天 總 假 名 “Tuế tuế hoa tùy tam nguyệt tiếu Triêu triêu kê hướng ngũ canh minh A thùy hội đắc nương sinh diện Thủy tín nhân thiên tổng giả danh”. “Vào tháng ba hàng năm hoa nở, Khoảng canh năm gà gáy sớm mai Ai là người biết mặt mẹ đây Mới tin tất cả trời người giả danh”. Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: “裕 陵 弗 豫、上 士 以 書 問 疾、開 錄。裕 陵 回 偈 有 云:炎 炎 暑 氣 汗 通 身、未 曾 涴 我 孃 生 袴。上 士 見 偈、嗟 嘆 久 之。 – Dụ Lăng se mình, Thượng sĩ viết thư hỏi thăm bệnh. Dụ Lăng đọc thư, trả lời bằng bài kệ: Hơi nóng hừng hực toát mồ hôi, Chiếc khố mẹ sinh chưa thấm ướt. Thượng sĩ đọc kệ than thở giây lâu”. ● 扭 捏. E dè, đảo qua đảo lại, giày vò. Tiết Thủ Khuếch Thị Giả trong NĐHN q. 11 ghi: “師 行 腳 到 襄 州 華 嚴 和 尚 會 下。一 日、嚴 上 堂、曰:大 眾、今 日 若 是 臨 濟、德 山、高 亭、大 愚、鳥 窠、船 子 兒 孫、不 用 如 何 若 何、便 請 單 刀 直 入、華 嚴 與 汝 證 據。。。嚴 曰:維 那、汝 來 也、叵 耐 守 廓 適 來 把 老 僧 扭 掜 一 上、待 集 眾 打 一 頓 趁 出。 – Sư hành cước đến pháp hội của Hòa Thượng Hoa Nghiêm ở Tương Châu. Một hôm, Nghiêm thượng đường nói: Đại chúng, hôm nay nếu là con cháu của Lâm Tế, Đức Sơn, Cao Đình, Đại Ngu, Điểu Khòa, Thuyền Tử, chẳng cần phải như thế nào hay làm gì, xin mời đơn đao trực nhập. Hoa Nghiêm sẽ chứng minh cho ông… Nghiêm nói: Duy Na, hãy đến đây, ngặt gì Thủ Khuếch vừa đến đây giày vò lão tăng một phen, đợi họp chúng xong, ta đánh cho y một hèo rồi đuổi ra”. ● 威 音 那 畔. 1. Trước Phật Oai Âm Vương, chỉ thời đại cách đây rất lâu xa. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “天 生 豈 受 差 排?誰 肯 輒 從 抑 屈?況 復 威 音 那 畔、空 劫 以 前 早 成 掩 彩、今 日 既 到 這 裏、合 作 麼 生? – Trời sinh (tự nhiên) há chịu cho người sắp đặt? Ai lại chịu cho người khống chế? Huống lại là trước Phật Oai Âm Vương, từ không kiếp về trước sớm bị mất sắc thái. Hôm nay đã đến đây thì nên làm gì?” ● 2. Chỉ cảnh giới thiền ngộ siêu việt thời gian, không gian. Tiết Lương Sơn Sư Viễn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “若 要 會 去、直 須 向 威 音 那 畔、空 劫 已 前、輕 輕 覷 著、提 起 便 行、捺 著 便 轉。 – Nếu muốn lãnh hội cần phải nhè nhẹ quán sát cảnh giới thiền ngộ từ không kiếp về trước, nêu lên liền ngộ, đụng đến liền chuyển. “ ● 輷 輷 磕 磕. 1. Âm thanh vang rền. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “雷 電 霹 靂 輷 輷 磕 磕。 – Sấm sét nổ ấm ầm. “ ● 2. Khí phách rộng lớn. Phần Dương Ngữ Lục q. hạ ghi: “磊 磊 落 落 眞 英 傑。鞫 鞫 鞫 磕 除 妖 孽。 – Quang minh chính đại chân anh kiệt, khí phách rộng lớn trừ yêu nghiệt. “ ● 轟 轟 隨 俗. Đuổi theo trần tục một cách rộn ràng, sôi nổi; chỉ cho người xuất gia tâm địa không thanh tịnh. Tối Thượng Thừa Luận ghi: “不 肯 發 至 誠 心 求 願 成 佛 受 無 量 自 在 快 樂。乃 始 轟 轟 隨 俗 貪 求 名 利。當 來 墮 大 地 獄 中。受 種 種 苦 惱。 – Chẳng chịu phát tâm chí thành, cầu nguyện thành Phật được vô lượng tự tại an vui, nên mới đuổi theo trần tục một cách rộn ràng sôi nổi, tham cầu danh lợi, mai sau sẽ rơi vào trong đại địa ngục, chịu các thứ khổ não”. ● 烏 頭 子. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho thiền giả có cơ phong bén nhạy, 2. Tên khác của Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm. Có 2 lý do: ― Thuở xưa, khi Vô Chuẩn tham yết ngài Mông Am, Sư khéo hiển bày cơ cảnh nên được Mông Am khen tặng là “Ô đầu tử”. ― Lúc Vô Chuẩn hành cước tham học, sư chưa cạo tóc nên người thời bấy giờ gọi sư là Ô đầu tử (gã đầu đen). Sau đó, Vô Chuẩn cũng dùng từ này để tự xưng. ● 烏 雞 雪 上 行. Gà đen đi trên tuyết trắng. Thiền Tông dùng: ― Gà đen để dụ cho lý thể bình đẳng. ― Tuyết trắng để dụ cho hiện tượng sai biệt. Trọn câu có nghĩa là diệu dụng nhậm vận giữa bình đẳng (của lý thể) và sai biệt (của hiện tượng). ● 烏 律 律. Còn gọi: Ô Luật Suất, Ô Luật Tốt, Ô Luật Tất, Hắc Luật Tất. Đen sì lì. Tây Nham Lục (Vạn tục 122, 177 thượng) ghi: “主 丈 子、機 不 密、通 身 烏 律 律。 – Cây gậy cơ chẳng bí mật toàn thân đen sì lì”. ● 烏 龜 向 火. Con rùa là động vật sống ở dưới nước, vốn rất sợ lửa. Nếu như nó bò về phía đống lửa thì có thể do nó sơ ý mà ra. Thiền Tông mượn từ này để tỷ dụ với cử động vô tâm không còn so đo phân biệt của thiền giả, hoặc chỉ cho động tác nhậm vận tại tự chẳng phải chỗ mà thức tình của hạng phàm phu nắm bắt được. Tắc 3, Thung Dung Lục (Đại 48, 229 thượng) ghi: “劫 前 未 兆 之 機、烏 龜 向 火;教 外 別 傳 一 句、碓 嘴 生 花。 – Cơ chưa hiển hiện dấu vết của khoảng thời gian trước không kiếp thì nhậm vận tự tại. Một câu Truyền riêng ngoài giáo chắc chắn là lời nói tốt đẹp”. ● 烏 龜 子. Vốn chỉ cho con rùa được điêu khắc bằng gỗ hoặc đá, đặt ở dưới pháp tòa. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho người tham thiền ngu muội ở trong các pháp hội. Tắc 44, Thung Dung Lục (Đại 48, 255 trung) ghi: “陽 云:須 彌 座 下 烏 龜 子、莫 待 重 遭 點 額 囘。 – Hưng Dương nói: Rùa đen nằm dưới tòa Tu Di, chớ đợi gõ đầu mới thoái lui”. ● 烏 龜 上 樹. Con rùa leo lên cây. Con rùa là động vật sống ở dưới nước, không có khả năng leo lên cây, nên Thiền Tông dùng từ này để làm thí dụ chỉ cho cảnh giới tác dụng siêu việt phân biệt, hoặc chỉ cho cơ dụng tự tại vô ngại của thiền giả. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 烏 焉 成 馬. Gọi đủ: Thư kinh tam tả, ô yên thành mã. Chử Ô (烏), chữ Yên (焉) mà viết lầm thành chữ Mã (馬). Vốn có nghĩa là sai lạc, mất mát, không giữ đúng nguyên bản. Thiền Tông thường dùng từ này để chế giễu những lời nói chữ nghĩa sai lầm mà lại được mọi người truyền dạy cho nhau. Mật Am Ngữ Lục ghi: “二 尊 宿。前 不 至 村。後 不 迭 店。直 至 于 今。翻 成 話 霸。何 故。字 經 三 寫 烏 焉 成 馬。 – Hai vị tôn túc lúc trước chẳng đến xóm làng về sau chẳng ra khỏi cửa, thẳng đến hôm nay trở thành đầu đề câu chuyện. Vì sao? Một chữ mav viết ba lần thì sẽ sai lạc, không đúng nguyên bản. “ ● 惡 發. Nổi giận, phát cáu. Tiết Thừa tướng Trương Thương Anh cư sĩ trong NĐHN q. 18 ghi: “今 之 士 大 夫、受 人 取 奉 慣、恐 其 惡 發、別 生 事 也。 – Sĩ đại phu ngày nay quen được người mê muội hầu hạ, e rằng khi họ nổi giận thì đặc biệt sinh sự. ” ● 破. Tăng gia biện luận, một bên nói trước gọi là “lập nghĩa”, một bên bác bỏ lập luận gọi là “phá”. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q. 3 ghi: “師 與 紫 璘 法 師 共 論 義 次、各 登 坐 了、法 師 曰:請 師 立 義、某 甲 則 破。 – Sư đang cùng với Pháp sư Tử Lân luận nghĩa, mỗi người ngồi yên rồi, Pháp sư nói: Mời thầy lập nghĩa, tôi sẽ phá. ” ● 破 庵 祖 先 禪 師 語 錄. Còn gọi: Phá Am Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Phá AmTổ Tiên soạn vào đời Tống, nhóm các ông Viên Chiếu… biên tập, này được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121. Nội dung gồm những Ngữ Lục của Thiền Sư Tổ Tiên khi trụ các thiền viện: ― Hàm Bình ở núi Ngọa Long. ― Tú Phong ở phủ Bình Giang. ― Huệ Vân ở Quảng Thọ. ― Phúc Trăn ở núi Khung Lung và các phần: Bỉnh phất, Phổ thuyết, Pháp ngữ, Kệ tán, Hành trạng, Bạt… ● 破 夏. Trong kỳ an cư mà thay đổi chỗ an cư gọi là “phá hạ”. Mật Am Ngữ Lục ghi: “傑 上 座 今 夏。蔣 山 結 夏。褒 禪 破 夏。華 藏 終 夏。 – Thượng tọa Kiệt kim hạ, Tưởng Sơn kiết hạ, Bao Thiền phá hạ, Hoa Tạng chung hạ. ” ● 破 山 祖 師. Thiền tăng Hải Minh đời Thanh ở núi Phá Đầu nên người đời gọi là Phá Sơn Hải Minh, Phá Sơn Tổ sư. X. Hải Minh. ● 撲. Đập vỡ, ngã xuống. Tiết Ngạc Châu Thù Du Hòa Thượng trong NĐHN q. 4 ghi: “三 十 年 弄 馬 騎、今 日 被 驢 子 撲。 – Cưỡi ngựa ba mươi năm, hôm nay bị ngã lừa.” ● 樸 隱. Hiệu của Thiền tăng Nguyên Tịnh đời cuối Nguyên đầu Minh. X. Nguyên Tịnh. ● 拍 脊. Đánh thẳng vào sống lưng. Chương Trường Khánh Huệ Lăng Thiền Sư trong CĐTĐL q. 18 ghi: “師 曰:拍 脊 棒 汝 又 作 麼 生。曰:和 尚 若 行 此 棒 不 虛 受 人 天 供 養。 – Sư nói: Lúc tôi dùng gậy đánh thẳng vào sống lưng thì ông làm sao? Tăng nói: Nếu Hòa Thượng sử dụng gậy này thì chẳng uổng công trời người cúng dường”. ● 梵 琦 (1296-1370). Thiền tăng đời Nguyên, họ Chu, tự Sở Thạch, về già hiệu là Tây Trai lão nhân, người xứ Tượng Sơn, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hạnh Đoan, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc. Trụ trì các chùa Phúc Trăng ở Hải Diêm, Thiên Ninh ở Dương Châu, Báo Quốc ở Bắc Kinh, Bản Giác ở Kiết An. Tác phẩm: Sở Thạch Phạm Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục, Tây Trai Tịnh Độ Thi. ● 犯 人 苗 稼. Người chăn trâu nếu buông lơi dây vàm, liền biết ấy là xâm phạm hoa màu của người khác; ý nói người tu hành nếu lười biếng và dao động liền biết ấy là mình phát sinh vọng niệm tục tình. Tiết Trung Phong Hòa Thượng hành lục trong TPQL q. 30 ghi: “汝 若 無 力 處 眾、只 全 身 放 下、向 半 間 草 屋、冷 淡 枯 寂、匄 食 鶉 衣、且 图 自 度、亦 免 犯 人 苗 稼。作 無 慚 人。 – Nếu ông không có năng lực lãnh đạo, chỉ nên toàn thân buông hết, ở trong nửa gian nhà cỏ lạnh lùng với mọi sự, ăn cỏ mặc cây để cầu tự độ, cũng chớ phát sinh vọng niệm tục tình, làm người không biết hổ thẹn”. ● 梵 剎. Còn gọi: Phạm Cung. Chùa Phật. Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh Lược Tự trong Toàn Đường Văn q. 915 ghi: “可 於 此 山 建 一 梵 剎、一 百 七 十 年 後、當 有 無 上 法 寶 於 此 演 化、得 道 者 如 林、宜 號 寶 林。 – ở nơi núi này có thể xây một ngôi chùa Phật, 170 năm sau sẽ có pháp bảo vô thượng diễn hóa nơi đây, người đắc đạo nhiều như rừng, nên có hiệu là Bảo Lâm. “ ● 梵 天 寺. Dưới ngọn Chủ Phong, núi Đại Luân, phía đông bắc huyện Đồng An, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Xây vào đời Tùy, ban đầu gọi “Hưng Quốc Tự”, là thập phương tùng lâm có 72 am sở. Nhiều đời có cao tăng thay nhau trụ trì như Thiền Sư Chân Như Triết v. v… Hoàng Bá Hy Vận cũng từng ngộ đạo nơi này. ● 梵 仙 (1292-1348). Thiền tăng đời Nguyên, họ Từ, tự Trúc Tiên, hiệu Lai Lai Đàn Tử, Tịch Thắng Tràng, Tư Quy Tẩu, người Tượng Sơn (Chiết Giang), Trung Quốc. Năm 8 tuổi vào viện Tư Phúc làm thị giả cho Biệt Nguyên Lưu. 18 tuổi thụ giới cụ túc với Thụy Vân ẩn ở Linh Sơn. Lại còn đi các nơi nổi tiếng lần lượt tham kiến các thiền sư: Hối Cơ Nguyên Hi, Vân Ngoại Vân Tụ, Nguyên Tẩu Hạnh Đoan, Trung Phong Minh Bản. Về sau tham kiến Cổ Lâm Thanh Mậu nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Niên hiệu Thiên Lịch thứ 2 (1329) theo Minh Cực Sở Tuấn sang Nhật Bản, được các ngài Bắc Điền Thời Cao, Túc Lợi Tôn Thức sùng tín. Năm sau đến Liêm Thương nhận chức Đệ nhất tọa chùa Kiến Trường. Sau đó trụ trì chùa Tịnh Diệu, Tịnh Trí. Nhật Bản niên hiệu Kiến Vũ thứ 2 (1335) làm Tổ khai sơn chùa Vô Lượng. Niên hiệu Lịch ứng thứ 4 (1341) trụ trì chùa Nam Thiền ở Kinh Đô, triều đình cách thăng chùa này làm thiên hạ đệ nhất. Lại dời qua trụ viện Lăng Già, chùa Chân Như, chùa Kiến Trường. Tác phẩm gồm có: Trúc Tiên Hòa Thượng Ngữ Lục, Thiên Trụ Tập, Lai Lai Đàn Tử Ca, Lai Lai Đàn Tử Đông Độ Tập, Cổ Lâm Hòa Thượng Hành Thật. Đệ tử nối pháp có Đại Niên Pháp Diên, Thung Đình Mai Thọ v. v… Pháp hệ này gọi là phái Trúc Tiên, là một trong 24 phái Thiền Tông Nhật Bản. ● 笵 宗. Thiền tăng cuối đời Nam Tống, hiệu Suất Am, nối pháp Thiền Sư Phật Chiếu Quang ở núi Linh ẩn. Sư làm thơ hay, viết văn giỏi nên rất nổi tiếng. Vào niên hiệu Hàm Thuần thứ 10 (1274), sư nhậm chức trụ trì Thiền viện Chân Như trên núi Vân Cư. ● 笵 文 瀾 (1893-1969). Học giả Phật giáo hiện đại, nhà sử học Trung Quốc. Tuổi trẻ khi học ở Đại học Bắc Kinh, ông đã nghiên cứu Phật học. Sau khi tốt nghiệp, lần lượt dạy học ở Đại học Nam Khai, Đại học Bắc Kinh, Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Đại học Trung Quốc, Đại học Hà Nam. Và nhậm chức Khoa trưởng phân khoa(Nữ) Lý Luận Văn Học thuộc Đại học Bắc Bình. Tháng 2 năm 1940 đến Diên An, ông lần lượt giữ chức Phó Viện trưởng Trung Anh Nghiên cứu Viện kiêm Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu lịch sử, Hiệu trưởng trường Đại học Bắc Phương, Hiệu phó trường Đại học Hoa Bắc. Sau giải phóng (1-10-1949), ông giữ chức Giám đốc Sở nghiên cứu lịch sử cận đại thuộc Viện Khoa học Trung Quốc. Tác phẩm: Trung Quốc Thông Sử Giản Biên, Thiền Tông Quát Hiệp Trung Quốc Sĩ Đại Phu Khẩu Vị Đích Phật Giáo, được xếp vào Đường Đại Phật Giáo. ● 飯 袋 子. Còn gọi: Phạn Dũng (thùng cơm). Cái túi cơm. Chỉ cho hạng tầm thường chỉ biết ăn hại. Thiền Tông mượn từ này để chỉ các vị tăng chẳng linh lợi, chẳng lãnh ngộ. Vân Môn Quảng Lục, q. hạ ghi: “師 云:飯 袋 子 身 如 椰 兒。大 開 與 麼 大 口。 – Cái túi cơm! Thân lớn bằng cây dừa mà ăn to nói lớn như thế”. ● 烹 佛 鍛 祖. Còn gọi: Sát Phật Sát Tổ, Siêu Phật Việt Tổ. Nấu Phật nướng Tổ. Nấu chảy tượng Phật hoặc tượng Tổ sư trong lò lửa. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho cơ pháp được vận dụng một cách linh hoạt của bậc thầy đã kiến tính. Đôi khi cũng có nghĩa là chẳng bị kẹt nơi hình tượng của Phật và Tổ sư mà thể đắc ý nghĩa chân thật. Bài tựa Phổ Chiếu trong Bích Nham Lục (Đại 48, 139 thượng) ghi: “秉 烹 佛 鍛 祖 鉗 鎚。頌 出 衲 僧 向 上 巴 鼻。 – Cầm kìm búa để nấu Phật nướng Tổ. Tụng ra cơ phong hướng thượng của nạp tăng”. ● 法. 1. Sự vật, hiện tượng. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 一 念 心 疑 處 是 魔。爾 若 達 得 萬 法 無 生。心 如 幻 化。更 無 一 塵 一 法。處 處 清 淨 是 佛。 – Chỗ một niệm tâm nghi là ma; nếu ngươi đạt được muôn pháp vô sinh, tâm như huyễn hóa liền không có một trần một pháp, chốn chốn thanh tịnh là Phật”. ● 2. Đạo lý, kiến giải. Ngụy Phủ Hoa Nghiêm Trưởng Lão thị chúng của phần phụ lục ở cuối quyển trong CĐTĐL q. 30 ghi: “下 依 佛 法 一 切 法 皆 是 邪 法 外 道 見 解。 – Nếu không y theo Phật pháp thì tất cả pháp đều là tà pháp, kiến giải của ngoại đạo”. ● 安. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người Thái Hòa (Thái Hòa, Giang Tây), Trung Quốc. Tham học với Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích đắc pháp, làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Ban đầu ở viện Sùng Thọ, Tào Sơn, thiền lữ các nơi tụ hội chấn động một phương. Sư thượng đường nói: “Nếu hội được chư Phật thường hiện tiền; nếu chưa hội chớ tìmtòi trong Kinh Viên Giác”. Nam Đường Chủ mời sư ở viện Báo Ân, Kim Lăng (Nam Kinh) đặt hiệu “Nhiếp Chúng”. Còn đặt hiệu “Huệ Tế Thiền Sư”. Giữa niên hiệu Khai Bảo (968-975) sư tịch tại viện ấy. ● 法 音. 1. Âm thanh thuyết pháp. Chương Tôn giả Long Thọ, tổ thứ 14 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “尊 者 復 於 座 上 現 自 在 身 如 滿 月 輪。一 切 眾 唯 聞 法 音 不 睹 師 相。 – Tôn giả còn ở trên tòa hiện thân tự tại như vầng trăng tròn, khiến đại chúng chỉ nghe âm thanh thuyết pháp mà chẳng thấy được tướng của sư”. ● 2. Phật pháp. Thơ “Ngũ Canh Chuyển” của Thần Hội có ghi: 莫 作 意、勿 疑 心 住 自 在、離 思 尋 般 若 本 來 無 處 所 作 意 何 時 悟 法 音 “Mạc tác ý, vật nghi tâm Trụ tự tại, ly tư tầm Bát Nhã bản lai vô xứ sở Tác ý hà thời ngộ pháp âm”. “Chớ tác ý, đừng nghi ngờ Trụ tự tại, lìa nghĩ suy Bát Nhã xưa nay không xứ sở Tác ý khi nào ngộ Phật Pháp”. ● 法 報 化 三 身. Chỉ pháp thân, báo thân, hóa thân của Phật. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “貪 恚 愚 痴 是 我 親 莊 嚴 法 報 化 三 身。 – Tham sân si là thân thích của ta, dùng để trang nghiêm ba thân pháp, báo, hóa”. ● 法 寶. Phật giáo gọi Phật, Pháp, Tăng là Tam bảo; Pháp là một trong Tam bảo, chỉ cho giáo nghĩa kinh điển của Phật giáo. Chương Bát Nhã Đa La, Tổ thứ 27 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “此 是 世 寶 未 足 爲 上。於 諸 寶 中 法 寶 爲 上。 – Đây là vật báu của thế gian chưa đủ gọi là tột; trong các thứ bảo vật, Pháp bảo mới là tột”. ● 法 寶 禪 師. 1. Hiệu của Thiền tăng Đạo Nhàn, sống vào đời Ngũ Đại. X. Đạo Nhàn. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Khế ổn, sống vào đời Ngũ Đại. X. Khế ổn ● 法 本. Thiền tăng đời Minh, tự Triệt Không, người Đại Hưng (Bắc Kinh), Trung Quốc. Xuất gia từ thuở nhỏ học thiền với Tùng Công chùa Định Quốc. Dần dà ông được ấn chứng. Năm 25 tuổi đăng tòa giảng pháp tại chùa Thiếu Lâm, hiểu rộng biết nhiều, cơ phong sắc bén, mọi người đều thán phục. Về sau lên chức Đô Cương ở Đô Cương Ty. tịch tại chùa Thiếu Lâm. ● 法 眞 (878-963). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người Tử Châu (Tam Thai, Tứ Xuyên), Trung Quốc. Lúc trẻ xuất gia tại chùa Huệ Nghĩa (Viện Trúc Lâm, chùa Hộ Thánh), sau khi thụ giới cụ túc sư đi du phương phía nam, tham học với các ngài: Đạo Ngô Viên Trí, Vân Nham Đàm Thạnh, Động Sơn Lương Giới, sau cùng nơi thiền hội Quy Sơn Linh Hựu Sư khắc khổ tu luyện cho đến ngộ đạo trở thành truyền nhân tông Quy Ngưỡng. Trở về chùa Long Hoài núi San Khẩu, Thiên Bành (Bành huyện, Tứ Xuyên), rồi dời sang am Mộc Thiền, núi Đại Tùy trụ trì hơn 10 năm, bóng hình không ra khỏi núi mà tiếng tăm vang ngoài xa, kẻ học đạo khắp nơi tụ hội. Vua ban hiệu “Thần Chiếu Đại Sư”. Tác phẩm: “Đại Tùy Khai Sơn Thần Chiếu Đại Sư Ngữ Lục” 1 quyển được xếp vào “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục”. ● 法 眞 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Thủ Nhất, sống vào đời Tống. X. Thủ Nhất. ● 法 戰. Đọ sức bằng thiền ngữ, dùng thiền cơ đấu với nhau. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “克 賓 維 那。法 戰 不 勝。罰 錢 五 貫。充 設 堂 飯。 – Duy Na Khắc Tân đọ sức bằng thiền ngữ bị thua, phạt 5 quan tiền, đày vào phận dọn cơm”, hoặc “克 賓 維 耶。法 戰 不 勝。不 得 喫 飯。抽 單 出 院。 – Duy Na Khắc Tân, dùng thiền cơ đấu nhau bị thua, chẳng được ăn cơm, mang đồ đạc đi khỏi viện”. ● 法 舟. Hiệu của Thiền tăng Đạo Tế, đời Minh. X. Đạo Tế. ● 法 燭. Đuốc nến dùng thắp cúng trong tự viện. Đuốc pháp. Vô Môn Quan ghi: “且 作 麼 生 提 撕。盡 平 生 氣 力 舉 箇 無 字。若 不 間 斷、好 似 法 燭一 點 便 著。 – Thử hỏi làm sao nghiền ngẫm chữ Không? Hãy dốc hết sức bình sinh vào công án đừng để gián đoạn, khác nào ngọn đuốc pháp mới châm nhẹ đã cháy bừng”. ● 法 眾. Tăng chúng. Bài tựa “Đoạn Tế Tâm Yếu” do Bùi Hưu soạn, ghi: “今 恐 入 神 精 義 不 聞 於 未 來、遂 出 之 授 門 下 僧 大 舟 法 建、歸 舊 山 之 廣 唐 寺、問 長 老、法 眾、與 往 日 常 所 親 聞、同 異 如 何 也? – Na e tinh nghĩa nhập thần chẳng nghe được những điều chưa nghe, nên trao nó cho đệ tử là vị tăng tên Đại Chu Pháp Kiến trở về chùa Quảng Đường ở núi cũ, hỏi các bậc Trưỡng lão, pháp chúng về những điều đích thân họ nghe được trước kia rồi so với nó xem giống nhau, khác nhau ở chỗ nào?”. ● 法 鼓. Trống pháp. Khí cụ của chùa Phật, dùng để tấu nhạc hoặc làm tín hiệu tập trung tăng chúng. Minh Giác Ngữ Lục, q. 1 ghi: “吹 大 法 螺 擊 大 法 鼓。朝 宰 臨 筵 如 何 即 是? – Thổi đại pháp loa, đánh đại pháp cổ, các quan chức đến pháp hội như thế nào mới phải? “. ● 法 公. Từ để gọi các vị tăng (bao gồm các vị tăng còn nhỏ). Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “沙 彌 問 老 人 萬 福、老 人 曰:法 公 萬 福! – Sa Di hỏi Lão nhân có được mạnh khỏe không, Lão nhân đáp: Pháp công mạnh khỏe!”. ● 法 名. Còn gọi: Đạo Hiệu. Tên do vị Thầy đặt cho đệ tử khi người này vừa quy y Tam Bảo xong. X. Pháp hiệu. ● 法 延 龍 象 眾 當 觀 第 一 義. Những vị kiệt xuất trong pháp hội nên quán nghĩa thứ nhất. Đây là lời nghi thức do Duy Na hoặc vị tăng có địa vị xướng lên sau khi bạch chùy, trước khi vị “Trụ trì mới” nhậm chức thuyết pháp. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. thượng ghi: “開 堂 日。。。龍 門 和 尚 白 槌 云:法 筵 龍 象 眾。當 觀 第 一 義。 – Một hôm sư khai đường,… Hòa Thượng Long Môn bạch chùy rằng: Những vị kiệt xuất trong pháp hội, nên quán nghĩa thứ nhất”. ● 法 演 (?-1104). Thiền tăng đời Tống, họ Đặng, hiệu Ngũ Tổ, người Ba Tây, Miên Châu (Miên Dương, Tứ Xuyên), Trung Quốc. Năm 35 tuổi xuất gia thụ giới cụ túc, du học Thành Đô, học tập các bộ luận Bách pháp, Duy thức, nghiên cứu nghĩa lý sâu xa của nó. Ngày kia sư phát sinh nghi hoặc đối với giáo môn, muốn thân chứng thể giải, bèn dẹp kinh sách đi xuống Giang Tô, Chiết Giang tham kiến các vị tôn túc, song nỗi nghi vẫn chưa dứt được. Sư lại yết kiến Viên Chiếu Tông Bản thưa hỏi trăm tắc công án xưa nay. Lại tham kiến Phù Sơn Pháp Viễn được chỉ điểm liền đến núi Bạch Vân tham kiến Thiền Sư Thủ Đoan. Sư tham cứu tinh cần nên hoát nhiên triệt ngộ, làm bài kệ trình bày chỗ thấy của mình. “Một mảnh đất hoang trước núi xanh, Chắp tay cẩn thận hỏi cha ông, Bao lượt bán đi rồi mua lại, Vì thương tùng trúc gió trong lành”. Sư được Thủ Đoan ấn khả, nối pháp làm truyền nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế. Vâng lời thầy, sư lên pháp tòa khai thị đại chúng. Ban đầu, sư trụ núi Tứ Diện, rồi dời qua núi Bạch Vân, sau trụ trì chùa Đông Thiền núi Ngũ Tổ, Kỳ Châu (Kỳ Xuân, Hồ Bắc) tùy cơ đáp vấn, nhân sự cử dương, không cần dụng công tự nhiên kỳ đặc, hàng long tượng tụ hội, cực thịnh một thời. Trước tác Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục 3 quyển. Pháp tự có 22 người, nổi tiếng nhất là ba vị đệ tử: Phật Nhãn Thanh Viễn, Phật Quả Khắc Cần, Phật Giám Huệ Cần, được gọi là “Pháp Diễn Hạ Tam Phật”. ● 法 演 禪 師 語 錄. Còn gọi: Ngũ Tổ Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục, Ngũ Tổ Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, do Ngũ Tổ Pháp Diễn soạn vào đời Tống, nhóm các ông Tài Lương… biên tập, được ấn hành vào khoảng niên hiệu Thiệu Thánh (1094-1097) đời Tống, sau đó được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 649. Căn cứ vào lời tựa, chúng ta biết được sách này được biên tập khoảng 10 năm trước khi sư Pháp Diễn thị tịch. Nội dung bao gồm Ngữ Lục của Pháp Diễn khi trụ các nơi: ― Tứ Diện Sơn do Tài Lương biên tập. ― Thái Bình do Thanh Viễn biên tập. ― Hải Hội do Cảnh Thuần biên tập. ― Hoàng Mai ở Đông Sơn do Duy Khánh biên tập. Ngoài ra còn có kệ tụng, tán v. v… ● 法 融. 1. Tăng nhân đời Đường (594-657), Thiền Tổ tông Ngưu Đầu, họ Vi, người Diên Lăng, Nhuận Châu (Tây nam Đơn Dương, Giang Tô), Trung Quốc. Năm 19 tuổi thông suốt kinh sử. Về sau đọc kinh Bát Nhã có ngộ, vào Mao Sơn xuất gia với Pháp sư Quỳnh Tam Luận Tông. Niên hiệu Trinh Quán thứ 17 (643) sư cất riêng một thiền thất bằng tranh dưới hang động phía bắc chùa U Thê, núi Ngưu Đầu, Kim Lăng (Nam Kinh) suốt ngày tọa thiền chuyên tâm tu hành. Niên hiệu Vĩnh Huy thứ 3 (652) được mời đến chùa Kiến Sơ thuyết pháp, thính giả đông đảo. Người đời gọi thiền pháp ấy là “Ngưu Đầu Thiền”. Về sau gọi pháp hệ là “Ngưu Đầu Tông”. Tương truyền Đạo Tín từng vào núi Ngưu Đầu truyền trao pháp môn đốn giáo cho sư rồi trở ra, Ngưu Đầu Thiền chịu ảnh hưởng của Tam Luận tông và Thiền Tông, chú ý vào không tịch. Thiền phong chú trọng ở chỗ vô tâm tuyệt quán, hoặc tuyệt quán vong thủ, rất giống với thiền pháp của Đạo Tín. Người đời sau cũng gọi sư là “Ngưu Đầu Sơn Tăng”, “Dung Đại Sư”, “Huệ Dung”. Tác phẩm: Tâm Minh. ● 2. Thiền tăng Bắc Tông đời Đường (747-835), họ Nghiêm, người Lãng Trung (Tứ Xuyên), Trung Quốc. Năm 13 tuổi xuất gia, là đệ tử của Huệ Hưu chùa Trường Lạc. Sư thông hiểu kinh luận, nghiêm minh giới luật, từng giảng thuyết “Nam Sơn Luật Sao”. Về sau đi du phương thấy đệ tử của Tung Tịch cử dương Thiền đạo liền theo hầu hạ được truyền tâm pháp. Sư ở chùa Phúc Ninh, Dặc Dương (Giang Tây), người tham học rất đông. ● 3. Thiền tăng đời Lý (?-1174), thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 15, nối pháp Thiền Sư Khánh Hỷ. Sư họ Lê quê ở Bối Lý, là dòng dõi Ái Châu Mục Lê Lương, dưới thời Đường. Trải 15 đời làm Châu Mục, gia tộc vinh hiển. Cha là Huyền Ngập hiệu Tăng Phán. Thuở bé sư theo Tăng thống Khánh Hỷ xuất gia. Khánh Hỷ thấy sư khen là kỳ đặc, bèn đem pháp ấn trao cho. Từ đó, sư mặc ý ngao du sơn thủy, tùy duyên hóa đạo. Khi thời thế đến, sư dừng ở chùa Khai Giác trên ngọn Thứu Phong. Hằng ngày môn đồ tìm đến tham vấn đầy thất. Sau, sư về núi Ma Ni ở phủ Thanh Hóa, dựng ngôi chùa Hương Nghiêm rồi trụ trì. Niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ 1 (1174) nhằm năm Giáp Ngọ, ngày mùng 5 tháng 2, sư không bệnh mà tịch. Môn nhân là Đạo Lâm… làm lễ hỏa táng, xây tháp thờ sư tại Bản Sơn. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 法 藥. Thuốc pháp, dụ chỉ Phật pháp. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “不 逢 出 世 明 師、枉 服 大 乘 法 藥。 – Chẳng gặp bậc minh sư ra đời uổng uống thuốc pháp Đại thừa. “ ● 法 達 (668-740). Thiền tăng đời Đường, họ Lý, người Phong Thành, Hồng Châu (Giang Tây), Trung Quốc. Năm 7 tuổi xuất gia, tụng kinh Pháp Hoa. Sau khi thụ giới cụ túc yết kiến Huệ Năng cầu pháp. Huệ Năng vì sư giảng yếu chỉ “Pháp Hoa” giúp cho sư khải phát, Pháp Đạt đốn ngộ lý mầu liền nói kệ tán thán: “Tụng Kinh ba ngàn bộ, một lời Tào Khê tiêu”. Huệ Năng nói: “Từ nay về sau mới đúng là “ông tăng niệm kinh”. ● 法 燈 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Thái Khâm, sống vào đời Ngũ Đại. X. Thái Khâm. ● 法 弟. Sư đệ. Tiết Giác A Thượng Nhân trong NĐHN q. 20 ghi: “屬 商 者 自 中 都 回、言 禪 宗 之 盛、阿 奮 然 拉 法 弟 金 慶 航 海 而 來、袖 香 拜 靈 隱 佛 海 禪 師。 – Những thương gia từ Trung Đô trở về, kể lại sự hưng thạnh của Thiền Tông, Giác A hăm hở dắt pháp đệ Kim Khánh vượt biển mà đến thắp hương lễ bái Thiền Sư Linh ẩn Phật Hải”. ● 法 端. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tham yết Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều được tỏ ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Sư ở chùa Báo Ân Quang Giáo tại Hàng Châu, được ban hiệu “Huệ Nguyệt Thiền Sư”. ● 2. Thiền tăng đời Đường, tham học với Quy Sơn Linh Hựu được nối pháp làm truyền nhân tông Quy Ngưỡng. Sư ở chùa Diên Khánh, Tương Châu (Tương Phàn, Hồ Bắc). Có vị tăng hỏi: Con giun bị chặt làm hai khúc, hai khúc đều cử động, vậy Phật tính ở khúc nào? Pháp Đoan dang hai tay ra. Sau khi tịch được ban thụy Thiệu Chân Thiền Sư. ● 法 堂. Ngôi nhà lớn trong tự viện để chư tăng tụ tập nghe Thiền Sư nói pháp, thông thường ở mé sau điện Phật. Đời Đường, Thiền Sư Hoài Hải sáng chế “Bách Trượng Thanh Quy”, chẳng lập Phật điện, chỉ xây Pháp đường nên Pháp đường có địa vị trọng yếu trong các Thiền tự. Thung Dung Lục q. 1 ghi: “諸 人 未 到 法 堂、萬 松 未 出 方 丈、向 那 時 荐 得、已 是 落 三 落 四 了 也。 – Các ông chưa đến pháp đường, Vạn Tùng chưa ra khỏi phương trượng. Vào lúc ấy các ông lãnh hội được thì cũng còn cách xa thiền pháp vậy”. ● 法 界. 1. Ý thức (một trong sáu thức). Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “入 色 界 不 被 色 惑。入 聲 界 不 被 聲 惑。入 香 界 不 被 香 惑。入 味 界 不 被 味 惑。入 觸 界 不 被 觸 惑。入 法 界 不 被 法 惑。 – Vào sắc giới không bị sắc mê hoặc, vào thinh giới không bị thinh mê hoặc, vào hương giới không bị hương mê hoặc, vào vị giới không bị vị mê hoặc, vào xúc giới không bị xúc mê hoặc, vào pháp giới không bị pháp mê hoặc”. ● 2. Toàn bộ thế giới, tất cả sự vật. Đàn Kinh (bản Đôn Hoàng) ghi: “善 哉!善 哉!普 愿 法 界 眾 生、聞 者 一 時 悟 解。 – Lành thay! Lành thay! Nguyện cho pháp giới chúng sinh nghe đến tức thời giải ngộ”. ● 3. Bản nguyên và bản tính của vạn vật. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “此 人 處 處 不 滯。通 貫 十 方。三 界 自 在。入 一 切 境 差 別 不 能 回 換。一 刹 那 間 透 入 法 界。 – Người này nơi nơi không kẹt, thông suốt mười phương, tự tại ba cõi, vào mọi cảnh sai biệt không thể thay đổi, trong một sát na thấu triệt pháp giới”. ● 法 海 (650-730). Thiền tăng đời Đường, họ Trương, tự Văn Doãn, người xứ Khúc Giang, Quảng Đông, Trung Quốc. Tuổi trẻ vốn là Nho sinh, có tài năng và học vấn, sở trường về Kinh Phật, xuất gia tại chùa Hạc Lâm. Sau đó, sư đến Tào Khê lễ Lục tổ Huệ Năng làm thầy, theo hầu hạ bên cạnh cho đến khi Tổ thị tịch. Tổ đặt tên cho sư là Pháp Hải. Sau khi đắp tượng Tổ để thờ phượng tại chùa Bảo Lâm, sư ra hoằng pháp trụ chùa Bảo Trang Nghiêm ở Quảng Châu (nay là chùa Lục Dung). Sư là người biên tập Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh và viết bài tựa. Đây là nguyên bản Tào Khê, đời đời noi theo để khắc bản lưu truyền. ● 法 賢 (?-626). Thiền tăng đời Tiền Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đời thứ 1. Sư họ Đỗ, quê ở Chu Diên, Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Sư thân hình to lớn cao đến 2,3m. Khi mới xuất gia, sư theo Đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân thụ giới. Đến lúc Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam vào chùa Pháp Vân gặp sư, Tổ nhìn kỹ vào mặt hỏi: ― Ngươi họ gì? Sư đáp: ― Hòa Thượng họ gì? ― Ngươi không có họ sao? ― Họ thì chẳng không, Hòa Thượng làm sao biết được? ― Biết để làm gì? Sư bỗng nhiên tự tỉnh liền sụp xuống lạy. Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi ấn chứng, từ đây về sau sư luôn luôn theo hầu Tổ. Sau khi Tổ tịch, sư vào núi Thiên Phúc tu thiền định, thân như cây gỗ, vật ngã đều quên. Các loài cầm thú thường quấn quít quanh sư. Người đời thấy thế càng thêm kính mộ, đệ tử tìm đến học đạo càng ngày càng đông. Nhân đó, sư mới lập chùa nhận đồ đệ ở tu, số học chúng hằng ngày trên 300 vị. Thiền Tông phương Nam từ đây được thạnh hành. Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương dâng sớ tâu lên vua. Vua Cao Tổ nhà Tùy từ lâu nghe phương Nam này khâm sùng Phật giáo, lại có cả các bậc danh tăng đạo cao đức trọng, bèn sai sứ mang năm hộp Xá Lợi Phật, kèm theo tờ sắc điệp, ban sắc chỉ cho sư xây tháp cúng dường. Sư bèn xây tháp ở chùa Pháp Vân và các chùa danh tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trưởng, Ái… cũng đều dựng tháp cúng dường. Về sau, sư trụ trì tại chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phúc huyện Tiên Du. Niên hiệu Võ Đức thứ 9 (626) đời Đường, sư an tường thị tịch. Thiền Sư Thanh Biện là người kế thừa tâm ấn nơi sư. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 法 顯. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tham Thiền Sư Cốc ẩn Trí Tĩnh, được nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Sư ở viện Phổ Ninh, Tương Châu (Tương Phàn, Hồ Bắc). Có vị tăng hỏi: “Làm sao lội qua trăm sông ngàn núi?” Sư đáp: “Trời trong đường không cách, kẻ đến không lầm cơ”. ● 法 號. Còn gọi: Tự Hiệu, Pháp Húy, Giới Danh. Tên mà vị Thầy đặt cho người học trò của mình lúc người này xuất gia thụ giới. Thí dụ: Ngài Lê Quang Hòa có pháp danh là Thiện Thức, Thanh Kế, pháp hiệu là Huệ Đăng (Tổ Thiên Thai, chi phái Liễu Quán, thuộc phái Thiền Lâm Tế). ● 法 花 題 剛. Biên khảo, 1 quyển, do Thanh Đàm Minh Chính (Thiền Sư Việt Nam) viết tại viện Liêm Khê vào năm 1819. Đây là một tác phẩm biên khảo giá trị, trong văn xuôi có chen lẫn thơ kệ, có thể nói là cẩm nang cho người đọc kinh Pháp Hoa. Thiền Sư Thanh Đàm đã đọc Pháp Hoa với con mắt của nhà Thiền học rồi đề cương lại, giúp cho người đọc nắm được ý chỉ của kinh, giống như có địa bàn trong tay người thủy thủ không còn sợ mất bến mất bờ. Nhận thức của sư về giải thoát được trình bày gọn ghẽ trong lời Bạt nói về năm chữ “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, nhất là 2 chữ Diệu Pháp. Theo sư, Diệu tức là Tâm, là chân tâm sáng suốt tròn đầy. Bài tụng về Diệu của Diệu như sau: “Không hình không trạng cũng không tên Mầu nhiệm trong lòng một điểm linh Thường tịch viên thông soi pháp giới Bản lai thanh tịnh Tạng chân tinh Từ đây phát hiện nên chư Phật Do đấy thành ra có chúng sinh Đứa con nghèo khổ lưu linh mãi Quên mất người cha của tự mình”. Pháp là tất cả mọi vật, là sự ứng dụng của Diệu Tâm. Pháp là Tâm, Tâm là Pháp. Bài kệ về Pháp của Pháp như sau: “Vạn pháp tuy nhiều không đếm xiết Chung quy cũng chỉ Thức Căn Trần Huyễn duyên dư ảnh dù không thực Chân tri chính kiến vẫn bao dung Gặp thầy chỉ dạy đường mê ngộ Thấy Phật tìm ra lẽ sắc không Nếu muốn lên mau bờ bến giác Con đường trước mặt chớ lần khân”. ● 法 化. Dùng Phật pháp để giáo hóa. Chương Phục Đà Nan Đề, tổ thứ 8 trong CĐTĐL. 1 ghi: “伏 馱 蜜 多 承 師 付 囑。以 偈 讚 曰:我 師 禪 祖 中、當 得 爲 第 八 法 化 眾 無 量、悉 獲 阿 羅 漢。 – Phục Đà Mật Đa vâng lời thầy căn dặn, dùng kệ khen rằng: Trong các vị Tổ Thiền Tông, thầy ta hàng thứ tám. Pháp hóa đông vô lượng, thảy đều chứng quả Thánh”. ● 法 會 (1500-1579). Thiền tăng đời Minh, họ Hoài, tự Vân Cốc, người xứ Gia Thiện, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Đạo Tế chùa Thiên Ninh, đời thứ 31 hệ Nam Nhạc. Sư kết am dưới núi Thiên Phật. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 法 慧 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Minh Bản do vua Nguyên Nhân Tông ban cho. X. Minh Bản. ● 法 雄. Cao tăng rất kiệt xuất. “Đại Giám Thiền Sư bi tinh tự” của Lưu Vũ Tích trong Toàn Đường Văn q. 610 ghi: “詔 不 能 致、許 爲 法 雄。 – Lệnh Vua mời mà không đến, nên khen rằng sư là bậc cao tăng rất kiệt xuất”. ● 法 兄. Sư huynh. Tiết Tham Chính Tiền Đoan Lễ Cư Sĩ trong NĐHN q. 20 ghi: “公 笑 曰:法 兄 當 爲 祖 道 自 愛! 遂 歛 目 而 逝。 – Công cười, nói rằng: Pháp huynh đang vì đạo của Tổ mà tự ái! Nói xong liền nhắm mắt mà qua đời”. ● 法 興 (?-1388). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, hiệu Tùng Thạch, người Hoàng Nham (Chiết Giang), Trung Quốc. Năm 15 tuổi xuất gia với Minh Công chùa Thụy Nham ở Đồng ấp, còn làm thị giả cho Bình Thạch ở chùa Thiên Đồng. Lại theo Cổ Đỉnh chùa Kính Sơn được mời làm Tạng ty. Khi ra hoằng pháp, sư trụ trì chùa Thái Bình ở Vĩnh Gia (Ôn Châu, Chiết Giang), dời về chùa Thọ Xương ở Lạc Thanh (Chiết Giang). Niên hiệu Hồng Vũ thứ 20 (1378) sư trụ trì chùa Kính Sơn đạo hạnh lẫy lừng, thiền lữ khắp nơi nghe danh đến tụ hội rất đông. ● 法 興 禪 寺. 1. Nằm ở thị trấn Triều Châu, huyện Bình Đông, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1957 do Pháp sư Hoằng Định sáng lập. Chùa có Thiên kiều, Trai đường, Quán Âm điện, Tam bảo điện, Niệm Phật đường, Phật học đồ thư quán. ● 2. Nằm trong công viên Thọ Sơn, thành phố Cao Hùng, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1966 do Pháp sư Thánh Hùng sáng lập. Chùa dựa thế núi mà cất, Đại hùng bảo điện hình tròn. Ngoài ra còn có Giảng đường, Khách đường, Thiền phòng, Trai đường, Xá Lợi tháp, Tổ sư đường. ● 法 喜. Niềm vui do tham cứu, tu tập đạo pháp mà được. Tông Môn Võ Khố ghi: “聞 者 聞 其 心、見 者 見 其 性、以 至 嗅 嘗 知 覺、盡 獲 法 喜 禪 悅 之 樂。 – Nghe là nghe tâm, thấy là thấy tính, cho đến ngửi, nếm, hay, biết, đều được niềm vui pháp hỷ thiền duyệt”. ● 法 喜 志. Gọi đủ: Danh Công Pháp Hỷ Chí. Chí, 4 quyển, do Hạ Thọ Phương soạn vào đời Minh, Phùng Định hiệu duyệt, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 150, trang 59. Nội dung gồm truyện ký của 208 danh sĩ trải qua các thời đại từ Đông Phương Sóc đời Tây Hán đến Dương Duy Trinh đời Nguyên sơ, thu thập hành trạng của kẻ sĩ tham thiền học đạo, nhưng chẳng giới hạn ở các nhân vật từ đời Đường trở về trước. Quyển thủ có lời tựa và lời tự tự của Trúc Quán Hành, Trâu Địch Quang, Cố Hiến Thành, Ngô Lượng. Từ nơi bài tự tự chúng ta có thể biết Hạ Thọ Phương khi được tập truyện ký “Vật Ngoại Anh Hào Lục” do Ngọc Phàm Chân Nhân trước tác dành cho người tham thiền, cho rằng sách này lầm lẫn rất nhiều, đọc xong không thể chịu được nên có ý viết ra một quyển sách. Họ Hạ sưu tập ngôn hạnh của các danh sĩ từ sách sử, văn tập, tăng sử, truyền Đăng Lục, Ngữ Lục. Mỗi truyện hơi ngắn, khoảng 200 chữ, đều ghi sơ lược về thân thế và phụ l, 2 điều ngôn hạnh về Phật giáo. ● 法 喜 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Linh Tuân, sống vào đời Ngũ Đại. X. Linh Tuân. ● 法 偈. Thơ kệ nói về đạo pháp hoặc truyền trao đạo pháp. Chương Tăng Già Nan Đề Tổ thứ 17 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “尊 者 曰:善 哉 善 哉。繼 吾 道 者 非 子 而 誰。即 付 法 偈 曰:「心 地 本 無 生、因 地 從 緣 起。緣 種 不 相 妨、華 果 亦 復 爾。」 尊 者 付 法 巳。右 手 攀 樹 而 化。 – Tôn giả nói: Lành thay! Lành thay! Kẻ nối pháp ta chẳng phải ngươi (chỉ Tổ Già Da Xá Đa) thì là ai? Tổ liền trao cho pháp kệ: ›Tâm địa vốn không sinh, nhờ đất theo duyên khởi. Duyên giống không ngại nhau, hoa quả cũng như thế. ‹ Tôn giả phó pháp xong, tay phải vịn vào thân cây rồi thị tịch”. ● 法 鎧 (1561-1621). Thiền tăng đời Minh, họ Triệu, tự Nhẫn Chi, hiệu Đạm Cư, người Giang Âm (Giang Tô), Trung Quốc. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 21 (1593) được Thiền Sư Chân Khả truyền giới cụ túc. Sư vào đài Phân Kinh núi Thiên Mục ẩn cư ba năm chuyên tâm tham cứu. Sư thường để lộ cánh tay, mỗi khi có vọng tâm thì lấy nhang đốt vào cánh tay. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 29 (1601) nghe tin Chân Khả có nạn, liền đến xin được ấn chứng. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 36 (1608) sư nhận lời mời của Ngô Quán Ngã trụ trì chùa HoaNghiêm núi Phù Sơn. Về sau sư trở về Song Kính mà tịch. ● 法 欽 (714-792). Còn gọi: Đạo Khâm. Thiền tăng tông Ngưu Đầu đời Đường, họ Chu, người Côn Sơn, Tô Châu (Giang Tô), Trung Quốc. Năm 28 tuổi mới phát tâm vào đạo, bái Thiền Sư Huyền Tố làm thầy, tu tập pháp thiền Ngưu Đầu nơi chùa Hạc Lâm. Về sau đến Kính Sơn kết am ở một mình, đạo hạnh vang xa nên người học đạo tụ hội rất đông. Niên hiệu Đại Lịch thứ 3 (768) Đại Tông triệu sư vào kinh để hỏi pháp yếu, ban hiệu “Quốc Nhất”. Thôi Hoán, Bùi Độ v. v.. đều thờ sư làm thầy. Sau đó sư trở về Kính Sơn thuyết pháp rồi tịch. Sau khi tịch được ban thụy “Đại Giác Thiền Sư”. Đệ tử là Đạo Lâm, Sùng Huệ, Quảng Phu v. v… ● 法 器. Còn gọi: Đại Khí. Những nhân tài trong đạo sẽ được rèn luyện để trở thành người đủ đại cơ đại dụng nhằm tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng dương chính pháp. Quy Sơn Cảnh Sách của Thiền Sư Linh Hựu ghi: “住 止 威 儀、便 是 僧 中 法 器。 – Đến như oai nghi chung sống với đại chúng cũng là pháp khí trong hàng ngũ chư tăng”. Tắc 199, Phần Dương Lục Nhân trong Thiền Uyển Mông Cầu (Vạn Tục 148, 113 thượng) ghi: “師 密 記 以 偈 曰: 胡 僧 金 錫 光 請 法 到 汾 陽 六 人 成 大 器 勸 請 爲 敷 揚 Sư thầm ghi lại việc ấy bằng kệ như sau: Hồ tăng chống tích trượng Thỉnh pháp đến Phần Dương Sáu người (sẽ) thành đại khí Hãy vì họ (mà) tuyên dương”. ● 法 騫. Thiền tăng đời Tống, họ Thi, người Tuyền Châu, Trung Quốc. Sư đến Viện Long Thọ, Chương Châu (Chương Phố, Phúc Kiến) học đạo với Thiền Sư Vô Dật được nối pháp và kế thừa pháp tịch. Có vị tăng hỏi: “Thế nào là cảnh Long Thọ?”. Sư đáp: “Không chỗ cho ông để chân”. Lại hỏi: “Thế nào là người trong cảnh?” Sư đáp: “Ông còn chưa biết cảnh!” ● 法 臘. Còn gọi: Hạ Lạp. Tuổi đạo, số năm sau khi tăng nhân thọ đại giới và mỗi năm phải có nhập hạ an cư. Tiết Thần Hội Truyện trong Tống Cao Tăng truyện q. 9 ghi: “神 會 以 貞 元 十 年 十 一 月 十 二 日 示 疾、儼 然 嘉 趺 坐 滅、春 秋 七 十 五、法 臘 三 十 六。 – Thần Hội bị bệnh ngày 12 tháng 11 năm Trinh Nguyên thứ 10 (795) nghiễm nhiên ngồi kiết già thị tịch, thọ 75 tuổi, pháp lạp 36”. ● 法 林 (1284-1355). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hoàng, tự Trúc Tuyền, hiệu Liễu Huyễn, người Ninh Hải, Đài Châu (Chiết Giang), Trung Quốc. Sư tham kiến Nguyên Tẩu Hạnh Đoan ở chùa Trung Thiên Trúc ngay dưới lời được tỏ ngộ. Sư ở Mông Đường chùa Tịnh Từ 9 năm không bước chân ra khỏi cửa. Hành tỉnh Tả Thừa tướng Thoát Hoan thỉnh sư trụ trì chùa Vạn Thọ, dời sang chùa Trung Thiên Trúc. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 4 (1338) sư trụ trì chùa Linh ẩn, tông phong hưng thịnh. Vua Thuận Đế ban cho Kim lan pháp y. Về sau sư lui về ở am Liễu Huyễn. ● 法 令 别 行. Dùng cách thức riêng để truyền trao đạo pháp, chỉ cho thiền pháp “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “如 來 現 世、欲 說 一 乘 眞 法、則 眾 生 不 信、興 謗 沒 於 苦 海。若 都 不 說、則 墮 慳 貪。不 爲 眾 生 溥 捨 妙 道。遂 設 方 便、說 有 三 乘。。。然 終 未 能 顯 一 心 法、故 召 迦 葉 同 法 座、別 付 一 心 離 言 說 法。此 一 枝 法 令 別 行。若 能 契 悟 者、便 至 佛 地 矣。 – Như Lai xuất hiện ở thế gian muốn nói pháp Nhất thừa mà chúng sinh không tin, phỉ báng rồi chìm trong biển khổ, còn nếu như không nói thì rơi vào lỗi bủn xỉn, không phổ biến diệu đạo cho chúng sinh. Nên lập bày phương tiện nói có 3 thừa… nhưng rốt cuộc cũng chẳng hiển bày được pháp Nhất tâm. Vì thế, Ngài gọi Ca Diếp đến, cho ngồi chung pháp tòa, trao riêng pháp nhất tâm lìa ngôn thuyết. Đây là dùng một cách thức riêng để trao truyền đạo pháp. Nếu ai khế ngộ được, liền đến Phật địa”. ● 法 螺. 1. Khí cụ của chùa Phật, dùng ốc biển chế thành để tấu nhạc. Minh Giác Ngữ Lục, q. 1 ghi: “吹 大 法 螺 擊 大 法 鼓。朝 宰 臨 筵 如 何 即 是? – Thổi đại pháp loa, đánh đại pháp cổ, các quan chức đến pháp hội như thế nào mới phải?”. ● 2. Thiền tăng đời Trần (1284-1330), thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử, tổ thứ 2, nối pháp Điều Ngự Giác Hoàng. Sư tên thực là Đồng Kiên Cương, sinh ngày mùng 7 tháng 5 năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284), quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam. Kệ thị tịch: 萬 緣 裁 斷 一 身 閒 四 十 餘 年 夢 幻 間 珍 重 諸 人 休 借 問 那 邊 風 月 更 邇 寬 “Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn Tứ thập dư niên mộng huyễn gian Trân trọng chư nhân hưu tá vấn Na biên phong nguyệt cánh man khoan” “Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn Hơn bốn mươi năm mộng đã tàn Tạm biệt mọi người thôi chớ hỏi Bên kia trăng gió rộng thênh thang”. Đệ tử theo lời phó chúc của Sư, đem nhục thể lên nhập tháp tại Thanh Mai Sơn. Tác phẩm: ― Đoạn sách lục ― Tham thiền chỉ yếu (Thiền đạo yếu học?) ― Kim Cang đạo tràng Đà La Ni kinh ― Tán Pháp Hoa kinh khoa số ― Bát Nhã tâm kinh khoa và một bài kệ thị tịch… Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 法 輪. Bánh xe pháp dụ chỉ Phật pháp. Tiết Kỉnh Sơn Bảo ấn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “世 尊 初 成 正 覺 於 鹿 野 苑 中、轉 四 諦 法 輪、憍 陳 如 比 丘 最 初 悟 道。 – Đức Thế Tôn vừa thành Chính Giác nơi vườn Lộc Dã chuyển pháp luân tứ đế, tỳ kheo Kiều Trần Như ngộ đạo trước tiên”. ● 法 流. Chỉ chung cho hàng ngũ chư tăng, tăng chúng. Truyện Hoằng Nhẫn trong Tống Cao Tăng truyện q. 8 ghi: “信(指 四 祖 道 信)師 熟 視 之(指 弘 忍)、嘆 曰:此 非 凡 童 也!具 體 占 之、只 闕 七 大 人 之 相、不 及 佛 矣。苟 預 法 流、二 十 年 後 必 大 作 佛 事、胜 任 荷 寄。 – Tứ Tổ Đạo tín nhìn kỹ Hoằng Nhẫn, khen rằng: Đây chẳng phải là đứa bé tầm thường, xem khắp thân thể của nó chỉ thiếu có 7 tướng đại nhân, chẳng bằng Đức Phật mà thôi! Nếu cho gia nhập hàng ngũ chư tăng thì 20 năm sau nó sẽ hoằng dương Phật pháp đại quy mô, còn hơn những gì ta gửi gắm”. ● 法 離 文 字. Thiền pháp siêu việt văn tự tri giải. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “不 見 釋 尊 云:法 離 文 字。不 屬 因 不 在 縁 故。爲 爾 信 不 及。所 以 今 日 葛 藤。 – Không nghe Thích Tôn nói: Pháp ly văn tự, vì không lệ thuộc nhân duyên. Do vì ngươi không tin cho nên ngày nay ta mới nói dài dòng”. ● 法 滿. Thiền tăng đời Ngũ Đại, đến núi Ba Tiêu học đạo với Thiền Sư Huệ Thanh, nối pháp làm truyền nhân tông Quy Ngưỡng. Sư ở núi U Cốc, Hồng Châu (Nam Xương, Giang Tây). Có vị tăng hỏi: “Thế nào là đạo?” Sư đáp: “听 取 一 偈:話 道 語 下 無 聲、舉 揚 奧 旨 丁 寧、禪 要 如 今 會 取、不 須 退 後 消 停。 –Hãy nghe kệ: Nói đạo dưới lời vô thinh, nêu lên áo chỉ đinh ninh. Thiền yếu hôm nay lãnh hội, đâu cần lui bước nghỉ dừng”. ● 法 門. 1. Phật giáo, Phật giáo giới, cũng đồng nghĩa với Phật môn. Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “破 滅 法 門、自 喪 慧 命。 – Phá diệt Phật giáo, tự làm mất huệ mạng”. ● 2. Tông phái Phật giáo, môn loại. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “我 此 法 門、以 定 慧 爲 本。 – Tông phái của ta đây, lấy định huệ làm gốc”. ● 3. Tu tập Phật pháp, phương pháp tu thiền. Tông Môn Võ Khố ghi: “今 夜 且 留 此、待 與 公 理 會 些 細 大 法 門。 – Tối nay hãy ở lại, ta sẽ cùng ông lý giải chút ít phám môn Thiền”. ● 法 門 鋤 軌. Sách, 1 quyển, do Bạch Nham Tịnh Phù (Thiền tăng tông Tào Động) soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 683. Tác giả trình bày về lịch sử tông Vân Môn và tông Pháp Nhãn cùng vấn đề pháp hệ của Thiền Sư Thiên Hoàng Đạo Ngộ. Bởi theo quan điểm của các sách: Tuyết Phong Quảng Lục, Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập, Phật Tổ Thống Kỷ, Huyền Yếu Quảng Tập cho rằng Thiên Hoàng Đạo Ngộ chẳng thuộc pháp hệ Thanh Nguyên Hành Tư. Tác giả khảo chứng sự thật lịch sử, suy cứu tình lý, theo lý lẽ mà trình bày, chỉ ra rằng Thiên Hoàng Đạo Ngộ chẳng những thuộc pháp hệ Thanh Nguyên mà còn chính là Thiên Vương Đạo Ngộ, và từ nơi vị Thiền Sư này mới sinh ra 2 tông Vân Môn và Pháp Nhãn. Quyển cuối phụ lục “Ngũ Gia Biện Chính” do Đức Nghiêm Dưỡng Tồn (vị tăng Nhật Bản) soạn ra, tán đồng thuyết của Tịnh Phù. Hơn nữa còn phụ lục quan điểm đối nghịch nằm trong sách “Ngũ Phái Nhất Trích Đồ” do Nhật Am Nhất Đông soạn, tán đồng thuyết Ngũ gia đều là pháp hệ đời sau của Mã Tổ Đạo Nhất do Hổ Quan Sư Luyện đề xướng. ● 法 眼 藏. Gọi đủ: Chính Pháp Nhãn Tạng. Chỉ cho đạo pháp giáo ngoại biệt truyền của Thiền gia. Chương Hạc Lặc Na Tổ thứ 23 trong CĐTĐL, q. 2 ghi: “年 二 十 二 出 家。三 十 遇 摩 拏 羅 尊 者 付 法 眼 藏。行 化 至 中 印 度。 – Sư 22 tuổi xuất gia, 30 tuổi được Tôn giả Ma Noa La giao phó pháp nhãn tạng, hành hóa đến Trung ấn Độ”. ● 法 眼 宗. Một trong năm phái Thiền Tông Trung Quốc, thuộc hệ Thanh Nguyên. Người sáng lập là Văn Ích đời Ngũ Đại (885-958), sau khi Văn Ích lìa đời, Nam Đường chủ Lý Cảnh ban thụy hiệu “Đại Pháp Nhãn Thiền Sư”, cho nên gọi là Pháp Nhãn Tông. Môn phong tỉ mỉ rõ ràng, coi trọng lý sự viên dung, chú trọng học tập giáo lý người xưa, mục đích là sửa chữa bệnh chấp không của thiền lâm đương thời. Trong năm phái thiền, tông này sáng lập rất muộn song lại sớm suy vi, giữa đời Tống pháp mạch đã dứt tuyệt, lập tông được chừng 100 năm. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. thượng ghi: “師 云:何 不 問 法 眼 下 事?學 云:留 與 和 尚。 – Sư bảo: Sao không hỏi việc trong tông Pháp Nhãn? Học tăng thưa: Để dành cho Hòa Thượng”. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong Duy Tắc Ngữ Lục, q. 9 ghi: “法 眼 宗 聞 聲 悟 道、見 色 明 心、句 裏 藏 峰、言 中 有 响、往 往 隨 順 器 根、調 停 化 法、亦 猶 相 體 裁 衣、對 病 施 藥 也 耳。 – Tông Pháp Nhãn nghe tiếng ngộ đạo, thấy sắc minh tâm, trong câu chứa cơ phong, trong lời có tiếng vang, luôn luôn tùy thuận căn khí, giàn xếp hóa pháp, giống như xem thân thể cắt áo, chẩn bệnh bốc thuốc”. ● 法 眼 文 益 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Kim Lăng Thanh Lương Viện Văn Ích Thiền Sư Ngữ Lục. Còn gọi: Đại Trí Tạng Đại Đạo Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Thanh Lương Văn Ích soạn vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 588. Tổ Thanh Lương Văn Ích của tông Pháp Nhãn lần lượt trụ trì 3 đại đạo tràng là Sùng Thọ Viện, Báo Ân Thiền Viện, Thanh Lương Thiền Viện. Nội dung sách này bao gồm những việc: Khai đường, Thượng đường, Thị chúng, Vấn đáp, Cơ duyên, Cử cổ, Đại cổ, Tụng cổ của Sư Văn Ích tại 3 đạo tràng nói trên. Từ Ngữ Lục này chúng ta thấy được Thanh Lương Văn Ích tiếp dẫn người học khẩn thiết, đưa ra rõ ràng tông phong của sư một cách viên dung, mà chẳng dùng cơ pháp đánh hét như tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Sùng Trinh (1628-1643) đời Minh, khi Ngộ Phong Viên Tín và Quách Ngưng Chí biên tập Ngũ Gia Ngữ Lục, có đem Ngữ Lục này vào. ● 法 因 大 師. Hiệu của Thiền tăng Đạo Khuông, đời Ngũ Đại. X. Đạo Khuông. ● 法 忍. Phẩm chất nhẫn chịu các thứ khổ nạn, khó khăn và đối với Phật pháp tin chắc không nghi. Mật Am Ngữ Lục ghi: “世 尊 在 靈 山 會 上。五 百 比 丘。得 四 禪 定。具 五 神 通。未 得 法 忍。以 宿 命 智 通。各 各 自 見。過 去 殺 害 父 母。及 諸 重 罪。於 自 心 內。各 各 懷 疑。於 甚 深 法。不 能 證 入。 – Khi Thế Tôn ở trên hội Linh Sơn, có 500 vị Tỳ kheo đắc tứ thiền có 5 thứ thần thông, nhưng chưa được pháp nhẫn. Mỗi người trong bọn họ tự thấy kiếp quá khứ giết hại cha mẹ và gây các tội nặng nên trong tự tâm của mỗi vị hoài nghi đối với pháp sâu xa, chẳng chứng nhập được”. ● 法 一 (1858-1931). Tăng nhân cận đại, họ Ôn, tên Cực Như, người Tùy Châu, Hồ Bắc, Trung Quốc. Niên hiệu Quang Tự thứ 13 đời Thanh (1887), sư xuất gia ở chùa Bảo An nơi quê nhà. Năm sau sư thụ giới cụ túc nơi chùa Bồ Đề, gặp Thiền Sư Hà Sơn mới biết tham thiền. Lại đến chùa Kim Sơn ở Trấn Giang tham kiến Hoà thượng Đại Định. Sau đó nơi chùa Hải Huệ ở Hồ Bắc, sư tọa thiền nhiều năm, sớm tối tụng kinh Lăng Nghiêm hơn ngàn bộ, nhờ vậy mà thấu suốt nguồn pháp, không còn nghi trệ. Năm 1914 nhậm chức Thủ tọa chùa Cao Mân. Năm 1919, sư đến núi Sư Tử ở Giang Phố giảng kinh, tọa hương tham thiền, cũng như thế tại chùa Cao Mân, chùa Kim Sơn. Tác phẩm: Tham Thiền Giản Lục, Tham Thiền Đề Yếu, Kim Cang Kinh Giảng Lục, Pháp Ngữ. ● 法 爾. Còn gọi: Tự Nhĩ, Pháp Nhiên. Pháp này. Lẽ ấy. Ý nói vốn tự nhiên như thế, không do dựng lập, đặt ra. Bài Phật Tâm Ca trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 默 默 默、沈 沈 沈 萬 法 之 心 即 佛 心 佛 心 却 與 我 心 合 法 爾 如 然 亙 古 今 “Mặc mặc mặc, trầm trầm trầm Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp Pháp nhĩ như nhiên cắng cổ câm (kim)”. “Lặng lặng lặng, chìm chìm chìm Cái tâm muôn pháp là tâm Phật Tâm Phật lại cùng tâm ta hợp Lẽ ấy như nhiên suốt cổ kim”. ● 法 乳. 1. Trao truyền đạo pháp. Mật Am Ngữ Lục ghi: “供 養 末 後 住 天 童 山 第 十 八 代 應 菴 大 和 尚。用 酬 法 乳 之 恩。 – Cúng dường đại Hòa Thượng ứng Am đời thứ 18 trụ núi Thiên Đồng sau cùng, ngỏ hầu đền đáp công ơn trao truyền đạo pháp”. ● 2. Người kế thừa đạo pháp. Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục q. trung ghi: “至 今 朝 諸 法 乳 爲 臻 公 設 齋。請 白 雲 陞 座。 – Sáng nay các người kế thừa đạo pháp vì Trăn Công thiết trai, thỉnh Bạch Vân thăng tòa”. ● 法 如 (638-689). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người Thượng Đảng, Sơn Tây, Trung Quốc. Sư là đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, hầu ngài trải qua 16 năm. Sau khi Tổ mất, sư trụ chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn. Sư thuộc Thiền Tông Nam tông đời thứ 2, vì sư xem Lục Tổ như Thầy của mình. ● 法 寧 (1081-1156). Thiền tăng đời Tống, họ Lý, người Cử huyện, Mật Châu (Sơn Đông), Trung Quốc. Do ở núi Ô Kỳ, Nghi Châu nên pháp hiệu của sư là “Ô Kỳ”. Ban đầu sư theo Hòa Thượng Diệu Không Minh chùa Thiên Ninh đắc độ, tham học khá lâu trọn được tông chỉ Vân Môn. Về sau trụ chùa Tịnh Cư, hoằng dương đạo của Tuyết Đậu. Niên hiệu NguyênPhú (1098-1100) sư trụ tinh xá Linh Phong núi Xà Sơn ở Hoa Đình (Tùng Giang, Thượng Hải). Sau đó tinh xá đổi thành thiền viện Chiêu Khánh, Hữu thừa tướng Chu Ngạc thỉnh sư làm Tổ khai sơn, đồ chúng đông đảo, thạnh nhất đông nam. ● 法 服. Pháp y, Cà sa. Hoằng Nhẫn truyện trong Tống Cao Tăng truyện q. 8 ghi: “弘 忍 乃 以 法 服 付 慧 能、受 衣 化 於 韶 陽。 – Hoằng Nhẫn liền đem pháp phục giao cho Huệ Năng. Huệ Năng nhận lãnh y giáo hóa ở Thiều Dương”. ● 法 光 (809-869). Thiền tăng đời Đường, họ Lương, người Trường Ninh (nay là Tân Phong, Quảng Đông) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thiện Đạo, thuộc hệ Thanh Nguyên đời thứ 4, trụ viện Đan Thạch. ● 法 廣 (1300-1364) (156 TKTNVC). Thiền tăng đời Nguyên, họ Ngũ, tự Dật Sơ, người xứ Trinh Dương, Lĩnh Nam (Anh Đức, Quảng Đông) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Giáp Sơn, Liễu Mai, đời thứ 23 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Kim Sơn (Trấn Giang, Giang Tô). Tác phẩm: Hội Yếu Tập. ● 法 財. Dụ chỉ cho Phật pháp, bởi vì Phật pháp như của cải quý báu có năng lực khiến tinh thần người ta được phong phú. Chương Trí Nhàn Tụng trong CĐTĐL q. 29 ghi: 達 道 人 唱 祖 意、我 師 宗 古 來 諱 唯 此 人 善 安 置、足 法 財 具 慚 愧 “Đạt đạo nhân xướng Tổ ý Ngã sư tông cổ lai húy Duy thử nhân thiện an trí Túc pháp tài cụ tàm quý”. “Bậc đạt đạo xướng Tổ ý Tông môn ta vốn cấm kỵ Chỉ người này khéo lập bày Đủ pháp tài cả tàm quý”. ● 法 藏. 1. Giáo nghĩa Phật pháp. Chương A Nan Tổ thứ 2 trong CĐTĐL q. 1 ghi: “多 聞 博 達 智 慧 無 礙。世 尊 以 爲 總 持 第 一。嘗 所 讚 歎。加 以 宿 世 有 大 功 德。受 持 法 藏 如 水 傳 器。佛 乃 命 爲 侍 者。 – Tôn giả học rộng hiểu nhiều, trí huệ vô ngại, đức Thế Tôn cho là đệ nhất tổng trì, từng được khen ngợi. Hơn nữa, do đời trước Tôn giả có công đức lớn, thọ trì pháp tạng như vật chứa nước, nên đức Phật bèn sai làm thị giả”. ● 2. Thiền tăng đời Minh (1573-1636), họ Tô, tự Vu Mật, Hán Nguyệt, hiệu Tam Phong, Thiên Sơn, người Vô Tích (Giang Tô), Trung Quốc. Năm 15 tuổi xuất gia, 29 tuổi xem Cao Phong Ngữ Lục quyết chí tham thiền, chuyên tâm tham cứu hơn 10 năm nhưng không thể giải ngộ. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 38, (1610) hành cước đến Ngu Sơn, Thường Thục (Giang Tô) sửa sang lại viện hư phế, lập ra tùng lâm. Thiết lập bách nhật tử quan ngày đêm tham cứu. Một hôm bị hôn mê, ói đàm hơn một đấu, nằm liệt ngủ vùi 5 ngày, chợt nghe tiếng trúc sư liền triệt ngộ nguồn tâm. Niên hiệu Thiên Khải thứ 4 (1624) yết kiến Viên Ngộ nơi chùa Kim Túc được ấn chứng làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sư khai đạo ở chùa Thanh Lương, Tam Phong, Ngu Sơn. Người đời gọi là “Tam Phong Tạng Công”. Sư lần lượt trụ trì chùa Bắc Thiền ở Tô Châu, chùa An ẩn núi Lâm Bình, chùa Trịnh Từ núi Nam Bình, chùa Cẩm Thọ ở Long Sơn, Lương Khê. Thông mẫn tuyệt luân, thông suốt Nho Phật chuyên tâm tu thiền, chỗ thấy kỳ đặc xướng lên thuyết mới. Sư soạn quyển “Ngũ Tông Nguyên” bài bác thuyết của Viên Ngộ. Về già ở nơi Đặng Úy. Tác phẩm: Tam Phong Ngữ Lục, Quảng Lục Hoằng Giới Pháp Nghi, Sơn Cư Tập. Đời Thanh, niên hiệu Khang Hy thứ 40 (1701) truy thụy “Cảnh Thông Thiền Sư”. Vua Thế Tông đời Thanh cho là phản thầy nghịch đạo nên thiêu hủy kinh sách của sư, trục xuất môn đồ khiến cho pháp mạch Tam Phong dứt tuyệt. ● 法 齊 (912-1000). Thiền tăng đời Tống, họ Đinh, người Vụ Châu (Kim Hoa, Chiết Giang), Trung Quốc. Ban đầu sư giảng hai luận Minh môn, Nhân minh, sau đó du phương đến viện Trường Thọ ở Tô Châu tham kiến Thiền Sư Bằng Ngạn, nhận được tâm ấn, nối pháp làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Bằng Ngạn tịch, sư kế tục pháp tịch. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 3 (978) sư lui về ẩn tu. ● 法 濟 大 師. Hiệu của Thiền tăng Hồng Nhân, sống vào đời Đường. X. Hồng Nhân. ● 法 成 (1071-1128). Thiền tăng đời Tống, họ Phan, hiệu Khô Mộc, người Tú Châu (Gia Hưng, Chiết Giang), Trung Quốc. Xuất gia năm 17 tuổi, sư dốc lòng tu thiền, chuyên tâm tham phỏng chẳng ngại đi xa học hỏi. Sư yết kiến Thiền Sư Pháp Chân Thủ Nhất tông Vân Môn và thụ giới cụ túc. Hỏi pháp an tâm, sư tham cứu trong nhiều năm. Từng tham học với các Thiền Sư Tử Anh, Thường Thông, Khắc Văn, Ngộ Tân, Trí Bản… Năm 33 tuổi sư đến núi Đại Hồng ở Tùy Châu (Hồ Bắc) tham kiến Phù Dung Đạo Giai, dưới một lời liền ngộ nhập sáng tỏ nguồn tâm bèn ở lại hầu hạ vài năm, được nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Vì sư thích “Khô mộc thiền” nên người đời gọi sư là “Khô Mộc”. Niên hiệu Đại Quán thứ 1 (1107) sư khai đường tại Hương Sơn, Nhữ Châu (Lâm Nhữ, Hà Nam). Niên hiệu Chính Hoà thứ 2 (1112) phụng chiếu trụ trì thiền viện Tịnh Nhân ở Tả Nhai, rồi dời sang ở chùa Bảo Lâm, Quảng Huệ, Phổ Tế. Sau khi mất, sư được ban thụy “Phổ Chứng Đại Sư”. ● 法 瑫. Thiền tăng đời Ngũ Đại, học đạo với Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng đắc pháp. Sư ở chùa Khuynh Tâm, Hàng Châu, về sau dời sang chùa Long Sách rồi tịch. Ngô Việt Vương ban hiệu “Tông Nhất Thiền Sư”. ● 法 身. Bản thể của tự tính cùng khắp không gian và thời gian, nó vô hình vô thanh mà hay hiện hình hiện thanh, như như bất động mà biến hóa vô cùng. Phần Pháp Thân trong Thiền Lâm Loại Tụ (Vạn Tục 117, 13 thượng) ghi: “問:如 何 是 透 法 身 句。師 云:北 斗 裡 藏 身。 – Tăng hỏi Thiền Sư Vân Môn Yển: Thế nào là câu nói thấu pháp thân? Sư đáp: Giấu thân trong sao Bắc đẩu”. Tắc 92, Thiền Uyển Mông Cầu (Vạn tục 148, 104 thượng) ghi: “道 吾 後 到 京 口、遇 夾 山 上 堂。僧 問:如 何 是 法 身?山 曰:法 身 無 相。 – Về sau, Đạo Ngô đến Kinh Khẩu gặp lúc Giáp Sơn đang thượng đường, có vị tăng hỏi: Thế nào là pháp thân? Sơn đáp: Pháp thân không có tướng”. ● 法 施 禪師. Hiệu của Thiền tăng Sách Chân, sống vào đời Ngũ Đại. X. Sách Chân. ● 法 通 善 喜. Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc phái thiền Tào Động thế hệ thứ 36, là tổ khai sơn chùa Long ẩn. Chùa này được xây dựng trên núi Long ẩn thuộc thôn Tân Lại, huyện Phúc Long, dinh Trấn Biên, miền Nam Việt Nam (nay là xã Tân Bửu, thành phố Biên Hòa), nằm bên mặt đường liên tỉnh từ Biên Hòa lên thác Trị An (cách Biên Hòa 4km). Sau khi Tổ Pháp Thông Thiện Hỷ thị tịch, đồ chúng lập tháp ở phía trước sân chùa, nằm về phía bên phải. Tháp xây theo hình khối lục giác, tầng cuối cùng mỗi cạnh 2m. Tháp cao 4 tầng với đỉnh là một hồ lô, tính chung cao khoảng 6m. Phía trong tháp có một bia đá lớn (có thể kể về sự tích của Tổ Pháp Thông), phía ngoài có cửa vào (Nhưng năm 1972, Giáo thọ Thiện Hỷ đã xây kín cửa vào bên trong tháp nên hiện chưa rõ được nội dung của tấm bia này). Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 法 順 (914-990). Thiền tăng đời Đinh Lê, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 10. Sư họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, xuất gia từ thuở bé, thụ giới với Thiền Sư Long Thọ Phù Trì. Sau khi đắc pháp, sư nói lời nào cũng phù hợp sấm ngữ. Lúc nhà Tiền Lê mới dựng nghiệp, thường mời sư vào triều luận bàn việc chính trị và ngoại giao. Khi quốc thái dân an, sư không nhận sự phong thưởng. Vì thế, Vua Lê Đại Hành rất kính trọng, không dám gọi tên, chỉ gọi là Đỗ Pháp sư. Nhà vua nhờ sư trông coi việc soạn thảo văn kiện, thư từ ngoại giao. Năm Thiên Phúc thứ 7 (986) nhà Tống sai sứ là Lý Giác sang phong tước hiệu cho vua Đại Hành. Vua nhờ sư cải trang làm lái đò để đón Sứ. Trên sông, bất chợt Lý Giác thấy hai con ngỗng bơi, cảm hứng liền ngâm: 鵝 鵝 兩 鵝 鵝。仰 面 向 天 涯 “Nga nga lưỡng nga nga Ngưỡng diện hướng thiên nha”. “Song song ngỗng một đôi Ngửa mặt ngó ven trời”. Sư đang chèo, ứng khẩu ngâm tiếp: 白 毛 鋪 綠 水。紅 掉 擺 青 波 “Bạch mao phô lục thủy Hồng trạo bãi thanh ba”. “Lông trắng phơi dòng biếc Sóng xanh chân hồng bơi”. Lý Giác rất thán phục. Vua Đại Hành hỏi vận nước dài ngắn thế nào, Sư đáp bằng bài kệ: 國 祚 如 藤 絡。南 天 裏 太 平 無 爲 居 殿 閣。處 處 息 刀 兵 “Quốc tộ như đằng lạc Nam thiên lý thái bình Vô vi cư điện các Xứ xứ tức đao binh”. “Vận nước như dây quấn Trời Nam sống thái bình Phật tử trên trên điện các Chốn chốn dứt đao binh”. Về sau, sư trụ trì chùa Cổ Sơn làng Thừ, kinh đô Thanh ải. Niên hiệu Hưng Thống thứ 2 (990), sư không bệnh mà tịch, thọ 76 tuổi. Tác phẩm: ― Bồ Tát hiệu sám hối văn ― Thơ tiếp Lý Giác ― Một bài kệ. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 法 屬. Còn gọi: Pháp Quyến. Tăng nhân có quan hệ thân thuộc trong sự truyền thừa Phật pháp. Tiết Long Tường Sĩ Khuê Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “丙 寅 七 月 十 八 日、召 法 屬、長 老、宗 範 付 後 事。次 日 沐 浴、聲 鐘 集 眾。就 座、泊 然 而 逝。 – Ngày 18 tháng 7 năm Bính Dần, Sĩ Khuê triệu tập pháp thuộc, trưởng lão, tông phạm giao phó hậu sự. Ngày hôm sau sư tắm gội, đánh chuông tụ hội đại chúng rồi lên tòa ngồi an nhiên thị tịch”. ● 法 食 常 飽. Dụ cho lãnh ngộ Phật pháp nên tinh thần no đủ. Bài thơ Đại Thừa Tán trong CĐTĐL, q. 29 ghi: “但 能 不 起 吾 我。涅 槃 法 食 常 飽。 – Chỉ cần không khởi ngã chấp, Niết Bàn pháp thực thường bão”. ● 法 常 (752-839). Thiền tăng đời Đường, họ Trịnh, hiệu Đại Mai, người Tương Dương (Tương Phàn, Hồ Bắc), Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Châu (Giang Lăng, Hồ Bắc). Năm 20 tuổi thụ giới cụ túc tại chùa Long Hưng. Sư để tâm vào thiền nên đến tham kiến Mã Tổ Đạo Nhất, hỏi: “Thế nào là Phật?” Tổ đáp: “Tức tâm tức Phật”. Sư liền đại ngộ, kế thừa pháp Mã Tổ. Về sau sư ẩn cư tĩnh tu nơi núi Đại Mai, huyện Ngân (Chiết Giang). Có vị tăng theo lệnh Mã Tổ đến núi Đại Mai nói với sư: “Gần đây Mã Tổ lại nói phi tâm phi Phật”. Pháp Thường nói: “Ta chỉ biết tức tâm tức Phật”. Mã Tổ nghe được bèn nói: “Trái mai đã chín!” Từ đó tiếng tăm của sư lẫy lừng, học giả khắp nơi tụ hội. ● 法 席. 1. Chỗ ngồi thuyết pháp của vị tăng trụ trì tự viện, dụ chỉ cho chức vị Trụ trì. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “恐 山 僧 進 發 之 後、法 席 空 虛、今 命 素 公 開 士 接 續 住 持。 – Chỉ e sau khi sơn tăng ra đi thì pháp tịch trống vắng, nên nay khiến Tố công là người tỏ ngộ, tiếp tục trụ trì”. ● 2. Tự viện, đạo tràng, nơi mà đoàn thể chư tăng nghe thiền sư tuyên nói Phật giáo. Truyện Huệ Minh trong TCTT q. 8 ghi: “高 宗 之 世、依 忍(止 弘 忍)禪 師 法 席、極 意 研 尋。 – Cuộc đời của Cao Tông nương nơi tự viện của Thiền Sư Hoằng Nhẫn, hết lòng nghiên cứu tìm tòi”. ● 法 信. Bằng cớ của sự truyền pháp. Tiết Huệ Khả Thiền Sư trong TĐT q. 2 ghi: “我 今 將 此 法 眼 付 囑 於 汝、并 賜 袈 裟 以 爲 法 信。 – Nay ta đem Chính pháp nhãn tạng này giao phó cho ngươi và trao ca sa để làm bằng cớ của sự truyền pháp”. ● 法 性. Bản tính của vạn sự vạn vật trong vũ trụ. Chương Bát Nhã Đa La Tổ thứ 27 trong CĐTĐL q. 3 ghi: “於 諸 物 中 法 性 最 大。 – Trong các vật pháp tính rất lớn”. ● 法 性 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Vô Ân, sống vào đời Ngũ Đại. X. Vô Ân. ● 法 座. Chỗ ngồi trong pháp đường để thiền sư nói pháp. Minh Giác Ngữ Lục ghi: “師 開 堂 日。於 法 座 前 顧 謂 大 眾 云:若 論 本 分 相 見。不 必 高 陞 寶 座。 – Một hôm sư khai đường, ở trước pháp tòa sư nhìn đại chúng nói: Nếu bàn về việc bản phận thì chẳng cần phải lên bảo tòa”. ● 法 宗 (1001-1069). Thiền tăng đời Tống, họ Trần, người Khúc Giang, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thường Bảo, thuộc tông Vân Môn đời thứ 4. Trụ viện La Hán. ● 法 幢. 1. Cờ pháp, dụ chỉ cho diệu pháp. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. trung ghi: “大 敝 禪 關 巨 延 儔 侶。扶 立 宗 旨 高 建 法 幢。上 答 君 親 下 資 含 識。 – Rộng mở cửa thiền, giao du bạn đạo, phò lập tông chỉ, dựng cao pháp tràng, trên đáp đền ân vua, dưới giúp đỡ chúng sinh”. ● 2. Thiền tăng đời Thanh, còn có tên Hành Sí, tục danh Lâm Tăng Chí. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 3 (1630) đỗ Tiến sĩ làm quan đến Chiêm sự. Nhà Minh mất, sư cạo tóc làm tăng. Sư lần lượt trụ trì chùa Bảo Phúc, núi Đại Mai, Minh Châu (Ninh Ba, Chiết Giang); chùa Mật ấn, núi Đầu Đà, Ôn Châu (Chiết Giang); chùa Tịnh Giác, núi Đông Bảo, Xử Châu (Lệ Thủy, Chiết Giang). Môn nhân Siêu Ngụ, Siêu Vô biên tập ngôn hạnh của sư thành quyển Pháp Tràng Đại sư Ngữ Lục. ● 法 持 (635-702). Tăng nhân đời Đường, Tứ Tổ tông Ngưu Đầu, họ Trương, người Giang Ninh, Nhuận Châu (Nam Kinh), Trung Quốc. Sư xuất gia từ nhỏ, 30 tuổi mới đi du phương, nghe danh Đại sư Hoằng Nhẫn liền đến yết kiến mong được pháp yếu. Về sau tham kiến Thiền Sư Huệ Phương tông Ngưu Đầu được tâm ấn, được trao ấn ký, kế thừa pháp tịch. Sư hoằng dương tông phong trong vài năm tứ chúng đều ngưỡng mộ y chỉ. Lúc Hoằng Nhẫn thị tịch, ngài nói với đệ tử Huyền Trách: “Sau này Kim Lăng Pháp Trì là một trong mười người truyền pháp của ta”. Pháp Trì trụ chùa Diên Tộ ở Kim Lăng (Nam Kinh) cử dương Ngưu Đầu Thiền, truyền pháp cho Trí Oai rồi tịch. ● 法 智. Thiền Tông đời Tống, họ Bách, người Thiểm Châu (Tam Môn Giáp, Hà Nam). Tráng niên xuất gia nơi chùa Thánh Quả, Tây Kinh (Lạc Dương, Hà Nam), Trung Quốc. Ban đầu tập Hoa Nghiêm, sau mộ Thiền tịch; trước sau tham kiến các thiền sư: Nam Dương Cẩn, Đại Hồng Trí hơn 10 năm mà không khế ngộ. Niên hiệu Tuyên Hòa thứ 3 (1121) khi Hoằng Trí Chính Giác nhậm chức Thủ tọa chùa Đại Hồng, Pháp Trí đến tham yết ngay dưới lời nói liền triệt ngộ, được nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Về sau trụ trì chùa Thiện Quyền, Thường Châu (Giang Tô), chùa Kim Túc Tú Châu (Gia Hưng, Chiết Giang). Trước tác “Thiện Quyền Tri Thiền Sư Ngữ Yếu” 1 quyển được xếp vào “Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu”. ● 法 忠. 1. Thiền tăng đời Tống (1084-1149), họ Diêu, hiệu Mục Am, người Tứ Minh, Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 19 tuổi xuất gia, siêng năng tu tập Thiên Thai giáo chỉ, ngộ được lý Nhất tâm tam quán. Tự biết mình chưa tỏ ngộ triệt để nên đi tham học các bậc danh đức tìm kiếm pháp thiền. Đến Long Môn thấy nước xoáy liền đại ngộ làm bài kệ trình lên Thiền Sư Phật Nhãn Thanh Viễn, được ấn khả làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sau sư đến Lô Sơn ở tại Đồng An trong cây khô nhịn ăn tĩnh tọa, mọi người đều kinh ngạc. Niên hiệu Tuyên Hòa (1119-1125) dời sang ở Nam Nhạc, theo truyền thuyết sư thường cưỡi cọp đi chơi, mọi người hướng theo lễ bái, bốn chúng gọi sư là “Phục Hổ”. Về già, sư trụ núi Hoàng Long, Long Hưng (Nam Xương, Giang Tây). ● 2. Thiền tăng đời Minh (1541-1620), họ Tào, hiệu Kính Đương, người Thiệp huyện (An Huy), Trung Quốc. Năm 19 tuổi đi đến chùa Linh ẩn ở Hàng Châu xuất gia với Hòa Thượng Vân Thủy Đại Cơ. Đến 21 tuổi đăng đàn thụ giới cụ túc, hành cước đến Thiếu Lâm tham kiến Thiền Sư Đại Thiên Nhuận. Lại đến Trường An yết kiến hai đại lão Biến Dung và Nguyệt Tâm chỉ bày tâm yếu có chút khai ngộ. Chẳng bao lâu, sư trở về lễ Thiền Sư Diệu Phong tại Ngũ Đài, vừa gặp là tâm ấn tương khế. Sau đến Thiên Bình ở Lô Sơn, do thích thắng cảnh này nên ẩn cư tại đây. Vài năm sau thiền lữ tụ hội dần dần thành tùng lâm. Pháp Trung là người thẳng thắn, không bày vẽ, quản lý chúng không cần quy củ, cam khổ đồng chịu, ngoài một chiếc áo nạp không có gì nữa. ● 法 聚 (1492-1563). Thiền tăng đời Minh, họ Phú, tự Ngọc Chi, hiệu Nguyệt Tuyền, người Gia Hưng (Chiết Giang), Trung Quốc. Năm 14 tuổi xuất gia tại chùa Tư Thánh, sau khi thụ giới cụ túc yết kiến các ngài Kiết Am, Pháp Chu v. v… nhưng không khế hợp. Sư đến Cối Kê (Thiệu Hưng, Chiết Giang) khấu bái Vương Dương Minh, Vương Dương Minh dùng kệ đáp sư khiến nghi tình phát khởi. Lại đến Nam Kinh tham kiến Thiền Sư Mộng Cư, Mộng Cư đánh cho một tát, nói: “Rơi hay không rơi?” Sư hoát nhiên đại ngộ. Vào núi Thiên Trì, Vũ Khang (phía Tây Đức Thanh, Chiết Giang) sư cất tịnh xá Ngọc Chi và am Đường Nhất. Các bậc tôn túc suối Ngọc Long qua lại trong núi phát minh tâm địa, chứng hội lý mầu Nho Phật đại đồng. Thiền lữ ngưỡng mộ thanh danh tìm đến dần dần thành tùng lâm. Tác phẩm: Ngọc Chi Nội Ngoại Tập. ● 法 嗣. 1. Đệ tử kế thừa đạo pháp, người nối pháp. Chương Di Giá Ca Tổ thứ 6 trong CĐTĐL q. 1 ghi: “既 傳 法 已 遊 化 至 北 天 竺 國。見 雉 堞 之 上 有 金 色 祥 雲。歎 曰:斯 道 人 氣 也。必 有 大 士 爲 吾 法 嗣 乃 入 城。 – Đã truyền pháp xong, Tổ du hóa đến Bắc Thiên Trúc, thấy trên mặt thành có mây lành kim sắc bèn khen rằng: Đây là sắc khí của đạo nhân, ắt có kẻ nối pháp ta. Tổ bèn vào thành”. ● 2. Kế thừa, tiếp tục. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT, q. 7 ghi: “羅 山 云:和 尚 豈 不 是 法 嗣 德 山 又 不 肯 德 山?師 云:是 也! – La Sơn hỏi: Hòa Thượng há không phải kế thừa Đức Sơn mà chẳng chấp nhận Đức Sơn? Sư đáp: Đúng vậy”. ● 法 嗣 書. Bức thư do thiền sư viết gởi cho Thầy của mình, khi sư đã nhận chức Trụ trì. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “資 福 專 使。持 法 嗣 書 至。師 於 法 堂 上 受 書。 – Vị chuyên sứ của chùa Tư Phúc cầm Pháp tự thư đến, sư ở trên pháp đường nhận thư”. ● 法 相. Hiệu của Thiền tăng Sư Hội, do vua Cao Tổ đời Hậu Tấn ban cho. X. Sư Hội ● 法 苑 干 城. Người không mang hình thức xuất gia nhưng dùng quyền thế địa vị để bảo hộ Phật pháp, nhà chùa khen họ là “Pháp uyển can thành”. Can thành: Lá chắn và tường thành, đây có nghĩa là hộ vệ. Truyện Bác Sơn Hòa Thượng trong Nguyên Lai Quảng Lục q. 35 ghi: “劉 太 史 若 宰、時 方 爲 諸 生、偕 其 兄 弟 禮 和 尚 爲 師、求 度、和 尚 曰:公 神 氣 凝 靜、當 得 上 第、爲 法 苑 干 城、出 家 須 異 日 耳。 – Thái tử Lưu Nhược Tể lúc còn là học trò cùng các huynh đệ lễ Hoà thượng làm thầy, cầu xuất gia. Hoà thượng bảo: Ông thần khí ngưng lặng, sẽ được thi đỗ, làm người bảo hộ Phật pháp. Còn việc xuất gia hãy để khi khác”. ● 法 文 (1730-1810) (229 TKTNVC). Thiền tăng đời Thanh, họ Tiêu, tự Đạm Nhiên, người xứ Sa ấp (Đại Danh, Hà Bắc) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Viên Ngọc Hưng Ngũ, đời thứ 38 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Cổ Sơn. Tác phẩm: Đạm Nhiên Tập, Pháp Văn Ngữ Lục. ● 法 味. Vị ngon của thiền pháp, nghĩa là chỗ tinh diệu của pháp như là món ăn ngon làm hài lòng người. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “首 依 水 南 遂 禪 師、染 指 法 味。 – Buổi đầu sư nương Thiền Sư Thủy Nam Toại, được nếm qua vị ngon của thiền pháp”. ● 法 遠 (991-1067). Thiền tăng đời Tống, họ Vương, hiệu Sài Thạch Dã Nhân, người Trịnh Châu (Hà Nam), Trung Quốc. Ban đầu tập làm Sứ sự, dần dà giữ chức Sai sứ. Sư bỗng chán ghét rồi theo Tam Giao Trí Trung xuất gia, nỗ lực tham cứu tỏ ngộ nguồn tâm được Thiền Sư Quy Tỉnh viện Quảng Giáo ấn chứng và nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Âu Dương Tu từng tham học với môn hạ của sư. Lúc tuổi già sư ở Phù Sơn, đồ chúng rất đông xiển dương Tông phong; cơ pháp của sư thật đặc biệt nên người đời gọi là “Phù Sơn Cửu Đới”. Sau khi mất được ban thụy “Viên Giám Thiền Sư”. ● 法 雨 老 人. Hiệu của Thiền tăng Phật Thạch, sống vào đời Minh. X. Phật Thạch. ● 法 雨 寺. 1. Còn gọi: Chùa Đậu, chùa Thành Đạo. Chùa ở làng Đậu, nay thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình, Việt Nam. Tòa chính điện kiểu chữ công (I), ngói trên mái rất to và dầy. Vách điện cũng làm theo kỹ thuật ván nong, đổ dầy dặn và trang hoàng rất hoa mỹ. Chính giữa vách trổ những ô cửa chạm rồng, phụng, tứ linh, rất giống ở thượng điện chùa Thầy cùng những hình đồng tử hai tay dâng từng chữ “Thánh thọ vô cương”. Ngoài ra cột có chạm những ổ rồng theo chiều cao và trên những trương cửa có chạm hình tiên. Hình chạm rất linh hoạt, tinh xảo, vì vậy trước đây chùa Đậu được xem là nơi có những tác phẩm điêu khắc trên mặt gỗ đẹp và khéo vào bậc nhất Việt Nam. Trong hậu Tổ của chùa này hiện nay có thờ nhục thân của 2 vị thiền sư: ― Đạo Chân, tục danh Vũ Khắc Minh. ― Đạo Tâm, tục danh Vũ Khắc Trường. Theo: VNVHTH 1989-1995. ● 2. Còn gọi: Hậu Tự. Nằm dưới ngọn Quang Hy, phía trái đỉnh Bạch Hoa, núi Phổ Đà, huyện Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, là một trong ba đại tự ở Phổ Đà Sơn. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 8 (1580) đời Minh tăng nhân Chân Dung từ Tây Thục đến lễ Ngũ Đài Sơn, thích phong cảnh đẹp núi Quang Hy bèn kết am ở, để giữ lấy ý nghĩa “pháp hải triều âm tùy cơ phổ ứng” mà đặt tên là “Hải Triều Am”. Năm thứ 22 (1594) Quận thủ đổi tên là “Hải Triều Tự”. Năm thứ 34 (1606) ban tấm biển “Hộ Quốc Trấn Hải Thiền Tự”. Niên hiệu Khang Hy thứ 38 (1699) đời Thanh sắc tứ tấm biển “Thiên Hoa Pháp Vũ”, “Pháp Vũ Thiền Tự”. Niên hiệu Ung Chính thứ 9 (1731) lại ban tiền bạc trùng tu. Vào niên hiệu Đồng Trị, Quang Tự (1862-1908) lại lần lượt kiến tạo điện vũ, hiện còn phòng ốc gần 300 gian. Điện vũ dựa theo thế núi mà cất, theo hướng nam bắc dần dần lên cao. Trên tuyến trục giữa theo thứ lớp là Thiên Vương Điện, Ngọc Phật Điện, Cửu Long Quán Âm Điện, Ngự Bi Điện, Đại Hùng Bảo Điện, Phương Trượng Điện, Ấn Quang Pháp Sư Kỷ Niệm Đường. Cửu long Quán Âm điện còn gọi “Viên Thông Bảo Điện”, nguyên là Cửu long điện của cố cung Nam Kinh đời Minh. Vị trụ trì chùa là Tính Thống tấu thỉnh vua Khang Hy dời về xây dựng nơi đây. Trong điện có 8 cây cột trụ khắc rồng tinh xảo. Khung trang trí trên trần nhà điêu khắc 9 con rồng ôm lấy trái châu theo phong cách thuần phác cổ xưa điển nhã, chính giữa điện treo một chiếc đèn lưu ly giốâng như một hạt minh châu. Xung quanh bệ đá trước điện có 24 khối đá xanh, trên có khắc câu chuyện lịch sử của 24 người con hiếu thảo. Chùa ở trong hang núi bóng cây rậm rạp, trước chùa có khe thanh ngọc nước chảy vòng quanh. Cổ sát rợp bóng cây trang nghiêm kính cẩn. ● 法 王. Từ dùng để gọi đức Phật một cách tôn kính. Minh Châu Tụng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q 18 ghi: 法 王 出 現 世 間、方 便 談 空 破 有 “Pháp Vương xuất hiện thế gian Phương tiện đàm không phá hữu”. “Đấng Pháp vương xuất hiện ở đời Phương tiện nói KHÔNG, phá chấp CÓ”. ● 法 王 之 印. Chiếc ấn của Pháp vương. Chỉ cho chân đế Phật pháp, thiền nghĩa vi diệu. Lục Tổ Năng Thiền Sư Bi Minh của Vương Duy trong Toàn Đường Văn q. 327 ghi: “謂 得 黃 帝 之 珠、堪 受 法 王 之 印。 – Gọi là được hạt châu của Hoàng đế, kham nhận chiếc ấn của pháp vương”. ● 法 王 無 上 珍 寶. Chỉ cho Phật pháp chân đế, thiền nghĩa nhiệm mầu. Tiết Đạo Nhất đời thứ 2 dưới Đại Giám trong CTTNL, q. 1 ghi: “但 無 一 念 即 除 生 死 根 本、即 得 法 王 無 上 珍 寶。 – Chỉ cần không một niệm liền dẹp trừ cội gốc sinh tử, liền được pháp vương vô thượng trân bảo” ● 法 訲 (?-665). Tăng nhân đời Đường, họ Lý, tự Hiếu Đôn, người Thành Kỷ, Thiểm Tây (Thiêm Thủy, Cam Túc), Trung Quốc. Năm 24 tuổi làm quan Bái Ưng Dương Tướng Quân. Mẹ mất, đọc kinh Niết Bàn mà phát tâm xuất gia. Sư theo Huệ Cảo học tập Đại Phẩm, Tam Luận, Lăng Già. Sau vào núi Vũ Đô tu nghiệp. Đầu năm Trinh Quán (627-649) triều đình hạ lệnh nghiêm cấm độ riêng tăng ni, sư liền quyết tử cắt tóc xuất gia, rồi trốn vào núi Dịch Dương tu thiền, giảng kinh Lăng Già. Linh Nhuận chùa Hoằng Phúc gọi sư là “Đại Tâm Khai Sĩ”. ● 法 要. Nghĩa tinh yếu của thiền pháp, Phật pháp. Tiết Hoài Nhượng, đời thứ 1 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: “汝 學 心 地 法 門、如 下 種 子、我 說 法 要 譬 彼 天 澤。 – Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo hạt giống; Ta nói nghĩa tinh yếu của thiền pháp ví như trời mưa thấm ướt hạt giống ấy”. ● 發 機. Mở bày thiền cơ. Tiết Động Sơn Ngộ Bản Thiền Sư trong NGCTT q. 3 ghi: “水 鳥 樹 林 何 曾 說 法、徒 自 嘆 奇;墻 壁 瓦 礫 爲 汝 發 機、灼 然 不 會。 – Nước, chim, rừng cây đâu từng thuyết pháp, luống tự than là việc lạ; tường vách ngói gạch vì ông mà mở bày thiền cơ rõ ràng mà tại ông chẳng biết”. ● 發 眞 歸 元. Phát hiện, nhận thức chân tính sẵn có của chính mình; trở về cội nguồn thanh tịnh tâm. Nói khác đi, đây là đạt đến cảnh giới Niết Bàn, sạch hết phiền não, siêu thoát sinh tử. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. thượng ghi: “古 人 道:若 有 一 人 發 眞 歸 源。十 方 虛 空 悉 皆 消 匆。 – Người xưa nói: Nếu có người nào đạt đến cảnh giới Niết Bàn thì mười phương hư không thảy đều tiêu mất”. ● 發 揚. Nêu ra để giải thích. Mật Am Ngữ Lục ghi: “陞 座 拈 香 祝 聖 罷。歛 衣 就 座。僧 問:丹 書 來 鳳 闕。瑞 氣 藹 禪 坊。少 室 無 私 句。當 機 願 發 揚。 – Sư thăng tòa niêm hương chúc thánh xong, vén áo lên tòa ngồi. Có một vị tăng hỏi: Kinh sách đến cửa vua, khí lành viếng cửa Thiền. Câu vô tư của Thiếu Thất, đương cơ nguyện phát dương”. ● 發 起. Nổi nóng, phát cáu. Mật Am Ngữ Lục ghi: “婆 云。我 二 十 年。只 供 養 得 個 俗 漢。遂 發 起 燒 卻 菴。 – Bà già nói: Hai mươi năm ta chỉ cúng dường một kẻ phàm tục! Bèn phát cáu đốt quách cái am. “ ● 發 去. Bỏ đi. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “其 僧 不 會、恨 而 發 去。 – Vị tăng kia không hiểu, hờn giận mà bỏ đi. “ ● 發 露. Mở ra, bộc lộ. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “坐 斷 維 摩 方 丈、發 露 閻 羅 地 獄。 – Quét sạch phương trượng Duy Ma, mở ra địa ngục Diêm La, không ai thấy gì?” ● 發 明. 1. Nêu lên, giải thích. Vân Sơn Pháp Hội Lục ghi: “雖 五 宗 接 人 機 用 不 同、無 非 發 明 世 尊 拈 花 一 著 子、直 指 人 心、見 性 成 佛 而 已。 – Dù năm tông phái có cơ dụng khác nhau trong khi tiếp dẫn người học, chẳng qua là nêu lên một sự kiện Thế Tôn giơ cành hoa để chỉ thẳng tâm người, giúp họ kiến tính thành Phật mà thôi”. ● 2. Tỉnh ngộ, phát hiện. Tiết Vong Danh Đạo Bà trong NĐHN q. 6 ghi: “溫 州 陳 道 婆、嘗 遍 扣 諸 方 名 宿、後 於 長 老 山 淨 和 尚 語 下 發 明。 – Trần đạo bà ở Ôn Châu, từng gõ cửa các bậc Thiền Sư nổi tiếng. Về sau, bà ngay nơi lời nói của Trưởng lão Hòa Thượng Sơn Tịnh mà có tỉnh ngộ”. CĐTĐL q. 30 ghi: “吾 故 知 是 書 之 流 布。發 明 心 地 者 眾 矣。 – Nên ta biết sự truyền bá của sách này giúp cho nhiều người phát hiện tự tính”. ● 發 業. Phiền não, nổi nóng. Tiết Vong Danh Cổ Túc trong NĐHN q. 6 ghi: “和 尚 幾 年 喚 他 即 得、某 甲 纔 喚 便 發 業。 – Hòa Thượng gọi ông ta bao năm cũng được, còn tôi mới gọi là nổi nóng. “ ● 發 人 業. Khiến người phiền não. Tiết Trường Sinh Giảo Nhiên Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “曰:如 何 是 煩 惱 不 須 除?師 以 手 拏 頭 曰:這 師 僧 得 恁 麼 發 人 業。 – Có vị tăng hỏi: Thế nào là phiền não chẳng cần trừ? Sư lấy tay ôm đầu rồi nói: Ông tăng này làm gì mà khiến người ta phiền não như thế?”. ● 發 惡. Còn gọi: ố phát. Nổi nóng, phát cáu. Mật Am Ngữ Lục ghi: “昨 夜 春 風 偶 發 惡。掀 倒 飛 來 峰 倒 卓。 – Đêm qua gió xuân khiến pho tượng phát cáu, tung ngược bay lên núi cao vút. “ ● 發 光. Thiền tăng đời Đường, họ Dương, người Nhữ Dương (Nhũ Nam, Hà Nam), Trung Quốc. Tổ tiên đều là hoạn quan, sư mỗi khi thấy tội nhân liền than thở: “Người vốn không có tội mà chịu bởi vô minh che lấp; địa ngục vốn không song do túc nghiệp cảm ứng”. Liền phát nguyện đến chùa Thiếu Lâm xuất gia, chuyên nghiên cứu giới luật và giáo thừa. Về sau sư du phương đến núi Kê Túc xây cất chùa Thạch Chung, hoằng dương đạo pháp, người đời gọi là “Thạch Chung Phát Quang Thiền Sư”. ● 發 足. Bắt đầu khởi hành, cất bước ra đi. Tiết Thị Chân Ngộ Thiền nhân trong HSLNMDT ghi: “何 因 而 汨 沒 愛 纏?何 因 而 愿 出 沈 淪?何 因 而 發 足 超 方?何 因 而 參 訪 知 識? – Do đâu mà chết chìm trong lưới ái? Do đâu mong muốn ra khỏi trầm luân? Do đâu mà cất bước du phương? Do đâu mà tham phỏng bậc tri thức?”. ● 分 當. Nên, cần, phải. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “世 上 有 一 種 誼 論、謂 一 飲 一 啄、莫 非 前 定、全 不 由 人 力 趨 避 者。若 然、則 爲 善 者 分 當 爲 善、爲 惡 者 分 當 爲 惡、聖 賢 無 教 化 之 功、下 民 無 趨 避 之 术。 – Thế gian có một loại nghị luận: Mỗi một miếng ăn, miếng uống hẳn là đã được định trước, hoàn toàn không do sức người giải quyết. Nếu như thế, thì người thiện phải nên thiện hoài, người ác phải ác hoài; thành ra thánh hiền không có công giáo hóa, dân đen không có cách giải quyết”. ● 分 拿. Còn gọi: Phân Sơ. Phân biệt, giải bày. Phần Dương Ngữ Lục, q. trung ghi: 兩 堂 上 座 總 作 家 其 中 道 理 有 分 拏 賓 主 歷 然 明 似 鏡 宗 師 爲 點 眼 中 花 “Lưỡng đường Thượng tọa tổng tác gia, Kỳ trung đạo lý hữu phân nã Tân chủ lịch nhiên minh tợ cảnh Tông sư vị điểm nhãn trung hoa”. “Các Thượng tọa ở nhà Đông, nhà Tây đều là những bậc tu hành tài giỏi có cơ dụng vượt hơn mọi người, Đạo lý của họ có phân biệt chủ khách rõ ràng, sáng tỏ như gương Các pháp sư Thiền Tông vì họ mà điểm hoa trong mắt”. Mật Am Ngữ Lục ghi: “帶 累 釋 迦 老 子。通 身 是 口 也 分 疏 不 下。 – Làm liên lụy đến ông già Thích Ca, dù cho toàn thân là miệng cũng giải bày chẳng được”. ● 分 付. Giao phó, truyền cho. Tiết Lạc Phố Nguyên An Thiền Sư trong NĐHN q. 6 ghi: “且 道 那 句 是 賓、那 句 是 主?若 擇 得 出、分 付 缽 袋 子。 – Hãy nói câu nào là khách, câu nào là chủ? Nếu phân biệt được thì ta sẽ truyền y bát cho”. ● 分 疏. Phân biện, biện giải. Mật Am Ngữ Lục ghi: “帶 累 釋 迦 老 子。通 身 是 口 也 分 疏 不 下。 – Làm liên lụy ông già Thích Ca, toàn thân là miệng cũng không thể biện giải. “ ● 分 張. Phân biệt. Tông Môn Võ Khố ghi: “指 點 是 非 分 張 好 醜。 – Xoi mói thị phi, phân biệt tốt xấu. “ ● 糞 掃. Rác rưởi. Tiết Vân Nham Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “師 云:汝 還 歡 喜 不?(洞 山)對 曰:歡 喜 即 不 敢、如 糞 掃 堆 上 拾 得 一 顆 明 珠。 – Sư hỏi: Ngươi có vui mừng không? (Động Sơn) đáp rằng: Con chẳng dám vui mừng, nhưng tâm trạng giống như khi lượm được một viên ngọc sáng trên đống rác rưởi”. ● 糞 掃 堆 頭 重 添 搕 〖⿰扌䪞〗. Trên đống rác còn bỏ thêm rác rưởi, tỷ dụ vốn có lời nói tri giải còn thêm lời nói tri giải nữa. Mật Am Ngữ Lục: “窮 諸 玄 辨。竭 世 樞 機。糞 掃 堆 頭。重 添 搕 〖⿰扌䪞〗。明 投 暗 合。水 到 渠 成。作 賊 人 心 虛。抱 贓 叫 屈。 – Tột các lời bàn huyền diệu, tận hết cơ xảo. Trên đống rác còn bỏ thêm rác rưởi, tối sáng hợp nhau, nước chảy thành ngòi, có tật thì giật mình, tay ôm tang vật mà miệng kêu oan”. ● 汾 陽 無 德 禪 師 語 錄. Còn gọi: Phần Dương Thiện Chiêu Thiền Sư Ngữ Lục, Vô Đức Hòa Thượng Ngữ Lục, Phần Dương Lục Ngữ Lục, 3 quyển, do Phần Dương Thiện Chiêu soạn vào đời Tống, Sở Viên biên tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47. Đây là những lời thượng đường tiểu tham, Niêm cổ đại biệt, Ca tụng của Thiền Sư Phần Dương Thiện Chiêu sống vào đời Tống, do đệ tử của sư là Sở Viên biên tập. Quyển trung cử 100 tắc cơ ngữ của tiên hiền, trước kể đến 100 tắc tụng cổ của Tuyết Đậu Trọng Hiển cùng với những lời vấn đáp và biệt tụng của “Động Thượng Ngũ Vị Tụng” nơi quyển thượng đều là những tụng cổ có niên đại rất xa xưa trong tùng lâm. ● 拂 柄 在 手. Ý nói trụ trì tự viện, vì chúng thuyết pháp. Tiết Tùng Nguyên Sùng Nhạc Thiền Sư trong TTĐL q. 35 ghi: “其 如 未 在、他 日 拂 柄 在 手、爲 人 不 得、驗 人 不 得。 – Nếu như chưa khế hợp thiền pháp, mai sau làm trụ trì vì người chẳng được, khám nghiệm người khác chẳng được”. ● 弗 遇. X. Phúc Ngộ. ● 弗 知 人 事. Chỉ cho chữ Phật. Theo thuật chiết tự, chữ Phật (佛) gồm có chữ Nhân (亻) là người, chữ Phất (弗) là chẳng. Thế nên gọi chữ Phật là Phất tri nhân sự (chẳng biết việc người). Đây là quan niệm của nhà Nho Việt Nam (Nguyễn Cư Trinh) trong tác phẩm Sãi Vãi, câu 135: Suy chữ nọ cho chân, chữ Phật là “Phất tri nhân sự”. ● 佛 印. Hiệu của Thiền tăng Liễu Nguyên, sống vào đời Tống. X. Liễu Nguyên. ● 佛 照 光 和 尚 語 要. Ngữ Lục, 1 quyển, do Chuyết Am Đức Quang soạn vào đời Tống, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục quyển 5, Tục Tạng Kinh tập 119. Đức Quang là thiền tăng tông Lâm Tế. Sách này trích lục những lời thượng đường, Tiểu tham, Niêm cổ, Tán, Kệ tụng, Tự tán của Đức Quang, nhưng chưa giải thích là trích ra từ loại Ngữ Lục nào. ● 佛 照 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Đức Quang, do vua Tống Hiếu Tông ban cho. X. Đức Quang. ● 佛 頂 光 明 之 塔. ở trong chùa A Dục Vương, thị trấn Bảo Tràng, huyện Ngân, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết giang, Trung Quốc. Chùa có một tòa Xá Lợi điện cao hơn 15m, mái chồng đỉnh ngói lưu ly để che chở tháp này. Trong Xá Lợi điện có một tòa Xá Lợi tháp bằng đá, trong tháp đá lại có một tòa tháp gỗ khảm bảy báu, trong tháp gỗ mới là tháp Phật Đỉnh Quang Minh. Đây là một tòa tháp gỗ nhỏ cao vài chục cm, hình dáng và cấu tạo hơi khác với các loại tháp Phật, thể tích nhỏ hơn, chủ yếu dùng để đựng Xá Lợi. Thân tháp điêu khắc theo phong cách ấn Độ rất giống tháp ấn kinh của Ngô Việt Vương tạo dựng. ● 佛 鍳. Hiệu của Thiền tăng Sư Trách, sống vào đời Minh. X. Sư Trách. ● 佛 鍳 禪 師. 1. Hiệu của Thiền tăng Huệ Cần, sống vào đời Tống. X. Huệ Cần. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Sư Phạm do vua Tống Lý Tông ban cho. X. Sư Phạm. ● 佛 鍳 禪 師 語 錄. X. Vô Chuẩn Sư Phạm Thiền Sư Ngữ Lục. ● 佛 行 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Đạo Xương, sống vào đời Tống. X. Đạo Xương. ● 佛 慧. 1. Trí huệ Phật hay liễu ngộ được chân đế. Chương Hạc Lặc Na Tổ thứ 23 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “尊 者 曰:汝 欲 心 道 無 所 用 心。曰:既 無 用 心 誰 作 佛 事。尊 者 曰:汝 若 有 用 即 非 功 德。汝 若 無 作 即 是 佛 事。經 云:我 所 作 功 德 而 無 我 所 故。師 子 聞 是 言 已 即 入 佛 慧。 – Tôn giả (chỉ Hạc Lặc Na ) nói: Ngươi muốn được tâm đạo thì phải dửng dưng với tất cả. Hỏi: Nếu dửng dưng với tất cả thì ai làm Phật sự? Tôn giả nói: Ngươi nếu có dụng thì chẳng phải công đức. Nếu ngươi vô tác (không làm) mới là Phật sự. Cho nên kinh nói: Ta ra làm công đức mà không có cái ta làm. Sư Tử (tức Tổ thứ 24) nghe nói liền phát sinh trí huệ Phật”. ● 2. Thiền tăng đời Minh (1538-1628), họ Sử, tự Huyễn Dã, người Cối Kê (Thiệu Hưng, Chiết Giang), Trung Quốc. Năm 14 tuổi lễ Thiên Thai Tùng Cốc xuất gia rồi theo học với ngài. Một hôm trong thời khóa tu sáng sớm chợt cảm thấy thân tâm thoát lạc, vạn vật rỗng không, liền đến Yến Đô (Bắc Kinh) yết kiến Thiền Sư Đức Bảo. Nhờ thân cận lâu ngày nên sư được ấn khả, về sau trụ trì chùa Thiên Ninh, ở Yến Sơn. Về già sư trở về Nam, trụ trị chùa Thiên Ninh, Gia Hưng (Chiết Giang). Tính tình sư tiết kiệm chưa hề xin xỏ ai, nhiệt tình với việc hoằng dương Phật pháp. Tác phẩm: Lãn Thạch Ngữ Lục. ● 3. Thiền tăng đời Minh, họ Thẩm, người Nhân Hòa (Hàng Châu), Trung Quốc. Ban đầu là đệ tử của nhà Nho, nhân xem Huệ Đăng Tập lỡ tay làm bể bình trà, sư có tỉnh bèn bỏ Nho theo Phật, theo Thục Sư xuất gia thụ giới cụ túc. Sư trở về núi Ngũ Đài tại nền cũ chùa Cổ Vân Thê kết am tranh tĩnh tọa. Ngày chỉ ăn một bữa, ngực đeo miếng sắt ghi rằng: “Sắt nếu ra hoa thì mới nói chuyện với người”. Đệ tử ngày càng đông dần dần thành tùng lâm. Thái hậu Hiếu Định ban cho Cà sa thêu hình con rồng, sư không dám mặc, bỏ vào túi mang bên mình. Tuổi già trước tác Thiền Quan Sách Tiến. ● 佛 慧 圓 鍳 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Nguyên Trường, sống vào đời Nguyên. X. Nguyên Trường. ● 佛 幻. Hiệu của Thiền tăng Tâm Thái, sống vào đời Minh. X. Tâm Thái. ● 佛 朗 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Tự Tính, sống vào đời Minh. X. Tự Tính. ● 佛 源 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Chính Niệm, sống vào đời Nguyên. X. Chính Niệm. ● 佛 眼 清 遠 禪 師 語 錄. Còn gọi: Thư Châu Phật Nhãn Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 8 quyển, do Thanh Viễn soạn vào đời Tống, Cao Am Thiện Ngộ biên tập, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục từ quyển 27 đến quyển 34, Tục Tạng Kinh tập 118, trang 499. Nội dung bao gồm các lời khai đường ở chùa Thiên Ninh, Thư Châu cho đến những Ngữ Yếu khi sư trụ chùa Bao Thiền núi Long Sơn. Bên cạnh đó là: Kệ tụng, Chân tán, Tiểu tham, Phổ thuyết, Tụng cổ, Dạy bảo trong thất, Thùy đại, chỉ dạy tâm yếu cho thiền nhân, Tam tự tỉnh sát, Giới vấn thoại. Quyển cuối phụ lục 1 thiên “Tống cố Hòa Châu Bao Sơn Phật Nhãn Thiền Sư Tháp minh” của Lý Di Tốn. ● 佛 眼 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Huệ Khai do vua Tống Lý Tông ban cho. X. Huệ Khai. ● 佛 眼 禪 師 語 錄. X. Vô Môn Huệ Khai Thiền Sư Ngữ Lục. ● 佛 日 大 師. Hiệu của Thiền tăng Tông Cảo, sống vào đời Tống. X. Tông Cảo. ● 佛 日 圓 明 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng ấn Giản, sống vào khoảng đời Kim, đời Nguyên. X. Ấn Giản. ● 佛 冤 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 12 quyển, do Phật Oan Triệt Cương soạn vào đời Thanh, các vị Tính Thuần… biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 36 (1697). Nội dung bao gồm Ngữ Lục của thiền sư Phật Oan khi trụ trì các thiền viện: ― Chư Cổ, núi Cổ Tự, Nội Giang. ― Chiêu Giác, núi Oai Phong, phủ Thành Đô. ― Triều Âm, núi Lạc Già, Song Lưu. ― Bát Nhã, núi Thiên Trì, Nội Giang và những pháp ngữ lúc ở liêu Thủ tọa chùa Chiêu Giác như: Bỉnh phất, Cơ duyên, Niêm cổ. Ngoài ra còn có: Đông độ lịch truyền Tổ sư tượng tán, Nguyên lưu niêm tụng, Tụng cổ, Phân đăng, Hành do, Tạp trước, Phật sự, Thư tín vấn đáp, Thi kệ, Ca… ● 佛 法 大 龍. Rồng lớn Phật pháp dụ chỉ bậc có oai đức lớn và nhiều thần lực trong cửa Phật. Hoằng Nhẫn truyện trong TCTT q. 8 ghi: “四 祖 道 信 乃 遣 人 隨 其(指 童 年 時 代 的 五 祖 弘 忍)歸 舍、具 告 所 親、喻 之 出 家。父 母 忻 然、乃 曰:禪 師 佛 法 大 龍、光 被 遠 邇、緇 門 俊 秀、歸 者 如 雲。豈 但 小 騃、那 堪 擊 訓?若 垂 虛 受、固 無 留 吝。 – Tứ Tổ Đạo Tín bèn sai người đi theo sư (Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn lúc còn bé) về đến nhà, thưa lại với thân mẫu để cho sư xuất gia. Mẹ sư rất vui, nói rằng: Thiền Sư là bậc có oai đức lớn và nhiều thần lực trong cửa Phật, tỏa sáng khắp gần xa; là bậc tài giỏi trong nhà thiền, số người hướng về rất đông. Con tôi tuổi nhỏ ngờ nghệch đâu kham nổi lời giáo huấn. Nếu Ngài thương tình nhận chú, cố nhiên tôi không hối tiếc”. ● 佛 法 大 明 錄. Lục, 20 quyển, do cư sĩ Khuê Đường soạn vào đời Tống. Nội dung bao gồm hơn 10 mục: Minh tâm, Tịnh hạnh, Phá mê, Nhập lý, Công phu, Nhập cơ, Kiến sư, Đại ngộ, Đích ý, Đại dụng, Chân không, Độ nhân, Nhập tịch, Hóa thân, Thiên ngoại tạp ký… đều là những điều tâm đắc của tác giả khi tu hành thiền pháp. Sách này dẫn ra hơn 80 loại sách thiền để làm căn cứ và giải thích “Tam giáo hợp nhất” từ góc độ của Thiền Tông. ● 佛 法 大 意. Đại ý của phật pháp, Ý chính của Phật pháp. Đây là vấn đề vô thượng thậm thâm, bất khả tư nghì, không thể dùng ngôn ngữ, văn tự mà biểu đạt, cũng không thể cố gắng dùng phàm tình mà mong nắm bắt được. Vì vậy đối với các thiền sư đắc đạo thì kẻ nào chưa ngộ mà hỏi bàn đến Phật pháp đại ý là đã làm một hành động vô lý ngược đời. Các ngài trả lời bằng cách: Hoặc nín thinh một chập rồi hỏi lại “hiểu không”, hoặc trả lời bâng quơ dường như vô nghĩa, hoặc chỉ những vật, nói những điều thật bình thường giản dị hợp tự nhiên, hoặc đối đáp bằng cử chỉ hay lời nói vô lý ngược đời, hoặc dùng cách mạnh bạo là hét hay đánh. Chương Hành Tư Thiền Sư trong TĐT q. 3 ghi: “僧 問:如 何 是 佛 法 大 意?師 曰:盧 陵 米 作 麼 價? – Vị tăng hỏi: Thế nào là đại ý của Phật pháp? Sư đáp: Giá gạo ở Lô Lăng bao nhiêu nhỉ?” Tiết Đại Thiện Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “僧 問:如 何 是 佛 法 大 意?師 曰:春 日 雞 鳴。 – Vị tăng hỏi: Thế nào là đại ý của Phật pháp? Sư đáp: Ngày Xuân gà gáy. “ Chương Thần Đỉnh Thiền Sư trong CĐTĐL q. 17 ghi: “問:如 何 是 佛 法 大 意?虛 空 駕 鐵 船、岳 頂 浪 滔 天。 – Có người hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Sư đáp: Đáp thuyền sắt trên chốn hư không, trên đầu non sóng dậy ngất trời. “ ● 佛 果 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Khắc Cần, sống vào đời Tống. X. Khắc Cần. ● 佛 光 國 師 語 錄. Gọi đủ: Sắc Thụy Phật Quang Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư Tam Hội Ngữ Lục. Còn gọi: Phật Quang Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư Ngữ Lục, Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư Ngữ Lục, Phật Quang Hòa Thượng Ngữ Lục, Phật Quang Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 10 quyển, do Vô Học Tổ Nguyên soạn vào đời Tống, các vị Nhất Chân, Nhất Nguyên biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Hưởng Bảo thứ 11 (1726) tại Nhật Bản, sau đó được xếp vào Đại Chính Tạng tập 80. Vào niên hiệu Chí Nguyên thứ 17 (1280) đời Nguyên Thế Tổ, Thiền Sư Tổ Nguyên sang Nhật Bản hoằng pháp nên Ngữ Lục của sư bao gồm những lời dạy ở chùa Chân Như Đài Châu nước Đại Tống và ở chùa Kiến Trường, chùa Hưng Thánh tại Nhật Bản. Bên cạnh đó là các phần: Phổ thuyết, Tiểu Phật sự, Thỉnh ích vấn đáp tâm yếu, Kệ tụng, Thập di tạp lục, Niên biểu tạp lục. ● 佛 光 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Tổ Nguyên, sống vào đời Tống. X. Tổ Nguyên. ● 佛 光 寺. Chùa ở phía tây bắc núi Thiên Trụ, huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Còn được gọi là Mã Tổ Am vì đây là chỗ tu hành của Mã Tổ Đạo Nhất, vị thiền sư nổi tiếng đời Đường. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1620), vua Minh Thần Tông ban cho hiệu “Phật Quang Thiền Tự”, đến niên hiệu Hàm Phong (1851-1861) đời Thanh chùa bị hủy hoại, đến niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) chùa được trùng tu. Chung quanh chùa có núi bao bọc, trúc biếc lấp lánh, dưới cầu đá nước chảy róc rách. Gần đó có động Mã Tổ, là chỗ tĩnh tu của Mã Tổ. ● 佛 窟 寺. ở núi Ngưu Thủ, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, trong núi có hang đá, người đời gọi là “Bích Chi Phật Quật”. Khoảng niên hiệu Thiên Giám (502-519) đời Lương thuộc Nam Triều, Tư Không Từ Độ dựa theo hang đá mà lập chùa, tên là “Phật Quật Tự”. Lại còn đem của cải ra viết phỏng theo Phật kinh, cất giữ nơi chùa, kẻ tu thiền bốn phương tụ hội. Đầu đời Đường Đại sư Pháp Dung trụ chùa này là nơi để ngài duyệt tạng và khai giáo. Niên hiệu Trinh Quán thứ 19 (645) bị thiêu hủy bởi lửa rừng, sau đó được xây dựng lại. Về sau nhiều lần thay đổi tên gọi, đời Đường gọi là “Trường Lạc Tự”, “Tư Thiện Viện”, “Phúc Xương Viện”. Đời Nam Đường Hậu Chúa đổi tên là “Hoằng Giác Tự”. Khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-984) đời Tống đổi tên là “Sùng Kính Tự”. Đầu niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh, gọi trở lại là “Phật Quật Tự”. Khoảng niên hiệu Chính Thống (1436-1449) lại đổi tên “Hoằng Giác Tự”. Đời Thanh lại gọi “Phổ Giác Tự”, niên hiệu Hàm Phong (1851-1861) chùa bị chiến tranh phá hủy. Hiện chỉ còn một tháp. X. “Hoằng Giác Tự Tháp”. ● 佛 心 本 才. Thiền tăng Bản Tài có hiệu là Phật Tâm, người đời gọi là Phật Tâm Bản Tài, sống vào đời Tống. X. Bản Tài. ● 佛 心 宗. Thiền Tông. Tông Cảnh Lục q. 3 ghi: “明 佛 心 宗。寸 無 差 悟。行 解 相 應。名 之 曰 祖。 – Thấu rõ Phật Tâm Tông trọn không lầm lẫn, hiểu và hành hợp nhau, gọi đó là Tổ”. ● 佛 石. Thiền tăng đời Minh, họ Đái, hiệu Pháp Vũ Lão Nhân, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Năm 14 tuổi, sư nương Thiền Sư Tịnh Minh xuất gia; đến 18 tuổi sư theo ngài Châu Hoằng thụ giới cụ túc. Trải qua các pháp hội, sư tu tập giáo quán Thiên Thai. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 22 (1594), đến Nam Kinh yết kiến Thiền Sư Tử Bách, được ngài thọ ký, sư trở về Hàng Châu, ở ẩn nơi vắng vẻ thế mà hàng danh sĩ tăng lữ tới lui không ngớt. Một hôm sư đào đất gặp một tấm bia còn sót lại, mới biết đây là nền cũ của chùa cổ Lý An, nên quyên góp của cải để xây dựng lại. Tính sư thích sống cô tịch, về già không tiếp khách, lánh mặt ở trên đỉnh núi. ● 佛 手 岩 和 尚. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tên Hành Nhân ở trong hang đá Phật Thủ Nham, nên có hiệu “Phật Thủ Nham Hòa Thượng”. X. Hành Nhân. ● 佛 祖 正 法 直 傳. Đăng Lục, 1 quyển, do Phong Ông Tổ Nhất biên, được ấn hành vào niên hiệu Khang Lịch thứ 3 (1381) Nhật Bản. Quốc tịch cùng thời đại của tác giả không được rõ. Nội dung gom chép lược truyện của Bảy Đức Phật, Tổ sư ấn Độ, Tổ sư Trung Hoa. Tổ sư Trung Hoa từ Bồ Đề Đạt Ma đến Mật Am Hàm Kiệt gồm 53 vị và tính chung với các Tổ sư ấn Độ thì được 87 vị. Liệt truyện lấy cơ duyên ngữ cú làm chính và có sự tích sử truyện truyền Đăng Lục. ● 佛 祖 正 宗 道 影. Sách, 4 quyển, do Thủ Nhất Không Thành biên tập lại, được ấn hành vào niên hiệu Quang Tự thứ 6 (1880) đời Thanh. Vào khoảng niên hiệu Hồng Võ (1368-1398) đời Minh có vẽ khoảng hơn 100 bức tranh của chư Tổ, được cất giữ ở núi Ngưu Đầu. Đến niên hiệu Vạn Lịch thứ 17 (1589), nhờ Tử Bá Lão Nhân viết tựa để ấn hành. Vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 11 (1638), Nguyên Hiền ở Viện Chân Tịch vẽ thêm 130 bức rồi ấn hành. Niên hiệu Khang Hy thứ 15 (1676) đời Thanh, Tĩnh Hy Khải Công thu thập 166 bức, biên thành “Tông Môn Chính Mạch Đạo ảnh”. Thủ Nhất Không Thành còn biên tập thêm, gồm 240 bức, chia làm 4 quyển. ― Quyển 1 là Phật Tổ Chính Tông gồm 39 vị, và phụ lục các chi phái phụ, chi Ngưu Đầu. ― Quyển 2 là Nam Nhạc Chính Tông gồm 68 vị, nêu ra pháp mạch Lâm Tế và Quy Ngưỡng. ― Quyển 3 là Thanh Nguyên Chính Tông gồm 85 vị, nêu ra pháp mạch Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn. ― Quyển 4 là Giáo Luật Liên Tông gồm 48 vị. ● 佛 祖 正 傳 古 今 捷 錄. Còn gọi: Cổ Kim Tiệp Lục. Lục, 1 quyển, do Tuyết Triệu Quả Tính soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 146, trang 871. Tác giả đọc nhiều kinh sách Phật giáo, biên tập về cơ duyên Ngữ Yếu của các thiền tăng đời Tống như Mật Am Hàm Kiệt trở về sau mà các quyển Truyền Đăng Lục của 2 đời Nguyên Minh chưa thu thập. Nội dung sách này gồm có: Sự tích, triều đại, Pháp lạp, Thụy hiệu, Pháp tự của các Tổ sư được truyền thừa đời thứ 17, 18 thuộc tông Lâm tế và lược thuật cơ duyên Ngữ Yếu của chư sư từ Bồ Đề Đạt Ma đến Mật Am Hàm Kiệt để làm rõ pháp hệ của họ. Sau mỗi truyện đều có phụ 1 bài niêm tụng. Quyển cuối phụ lục: Giản yếu về sự truyền thừa của Tứ gia (4 tông phái) là: Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn cho đến “Nhữ Châu Phong Huyệt Diên Chiểu Thiền Sư Tháp minh”. ● 佛 祖 綱 目. Sách, 41 quyển, do Chu Thời Ân soạn vào đời Minh. Tác giả bắt đầu biên soạn vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 38 (1610), đến 21 năm sau mới hoàn thành, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 7 (1634) đời Minh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 146, trang 365. Nội dung lấy các sự tích về hóa đạo, hành nghi của Chư Phật và các Tổ sư Thiền Tông trải qua các thời đại làm cương mục. Căn cứ vào thời đại trước sau ghi chép lịch sử phát triển của nó, mỗi thứ sự kiện Phật giáo cùng niên đại đều có thể nhìn qua liền thấy ngay. ● 佛 祖 歷 代 通 載. Gọi tắt: Phật Tổ Thông Tải. Sách, 22 quyển (có thuyết nói 36 quyển), do Niệm Thường biên soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 49, trang 477. Tác giả lấy “Phật Tổ Thống Kỷ Pháp Vận Thông Tắc Chí” làm lam bản, lấy Thiền Tông làm Phật giáo chính thống, bắt đầu từ Bảy Đức Phật đến niên hiệu Nguyên Thống thứ 1 (1333) đời Nguyên Thuận Đế. Tác giả sưu tập rộng rãi lịch sử Phật giáo, trình bày tình hình hoạt động Phật giáo theo niên kỷ, đem can chi, kỷ niên để phụ chú niên hiệu đế kỷ. Sách ghi ghép về sự tích các vị Hoàng đế, quan lại trải qua nhiều triều đại chấn hưng hoặc tiêu diệt Phật giáo và những văn thư về Phật giáo giáo: Nho, Phật, Đạo; những hoạt động của giới tăng lữ Phật giáo như: hoằng pháp, dịch kinh, trước thuật. Nội dung 28 vị Tổ của vài quyển trước lấy tài liệu từ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Hơn 10 quyển ghi chép từ Hán Minh Đế đến đời Ngũ Đại lấy tài liệu từ Long Hưng Phật Giáo Biên Niên Thông luận của Tổ Tú soạn vào đời Tống. Tác giả chủ yếu ghi chép hai đời Tống và Nguyên. Sách này nội dung đôi chỗ hơi bề bộn, về niên đại lịch sử cũng có lầm lẫn. ● 佛 祖 門. Chỉ cho Phật giáo cùng Thiền Tông. Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập q. 1 ghi: “是 故 佛 祖 門 中、教 有 性 相、宗 有 照 用。 – Thế nên trong Phật Tổ Môn, giáo có tính tướng, tông có chiếu dụng”. ● 佛 祖 三 經 指 南. Kinh sớ, 3 quyển, do Vi Lâm Đạo Bái soạn vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 59, trang 339. Từ trước đến nay, Thiền Tông xem trọng Tứ Thập Nhị Chương Kinh, Phật Di Giáo Kinh, Quy Sơn Cảnh Sách, gọi chung là Phật Tổ Tam Kinh. Trong ấy 2 quyển kinh đầu là sách nhập môn vở lòng cho người học Phật, là kinh sách cơ bản mà thiền tăng cần phải học tập. Quy Sơn Cảnh Sách là những lời dạy quý báu mà thiền tăng cần phải ghi nhớ và tuân giữ. Xưa nay những bản chú sớ về kinh này rất nhiều, nhưng đều không đủ để thỏa mãn nhu cầu của thiền tăng, nên Vi Lâm Đạo Bái mới viết ra sách này để làm chỉ nam cho thiền tăng tu Phật tập thiền. ● 佛 祖 宗 派 世 譜. Sách, 8 quyển, do Giới Am Ngộ Tiến biên soạn vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 667. Tác giả là con cháu đời thứ 15 của Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm. Sách này là bản đồ pháp hệ Thiền Tông do Giới Am biên soạn, nêu ra thế phổ truyền đăng của ấn Độ, 5 tông dưới pháp hệ chư Tổ Trung Hoa là: Lâm Tế, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn, Tào Động và các chi phái để giải thích sơ luợc về sự phát triển Thiền Tông. ● 佛 慈 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Kế Thành do Vua Tống Huy Tông ban cho. X. Kế Thành. ● 佛 意 靈 岳 (1725-1821). Thiền tăng đời cuối Lê đầu Nguyễn, quê ở dinh Trấn Biên (tỉnh Biên Hòa hiện nay), miền Nam Việt Nam. Sư quy y thọ giáo với Hòa Thượng Thành Đẳng Minh Lượng chùa Đại Giác tại Đại Phố, Đồng Nai, dinh Trấn Biên (cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, Tp Biên Hòa ngày nay). Sư vâng lời Thầy theo lớp dân từ Đồng Nai di cư xuống huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn của phủ Gia Định tức vùng đất Sài Gòn Gia Định sau này để cất am tranh ở. Đến năm 1752 với sự hộ giúp của bản đạo, sư xây dựng chùa Từ Ân (ở vị trí chợ Đũi, quận 3, Tp. Hồ chí Minh hiện nay). Sau khi lên ngôi, vua Gia Long sắc tứ và trùng tu chùa Từ Ân đồng thời ban y bát, sắc phong cho Thượng tọa Phật Ý Linh Nhạc làm Hòa Thượng. Ngày 20 tháng 11 năm Tân Tỵ (1821), Minh Mạng nguyên niên, sư thị tịch tại chùa Từ Ân, thọ 97 tuổi. Đồ chúng và quan chức Gia Định làm lễ an táng sư hết sức long trọng, lập tháp trong khuôn viên chùa Từ Ân (trong khuôn viên vườn Tao Đàn ở Tp. HCM hiện nay). Đến năm 1923, Thiền Sư Hồng Hưng tổ chức lễ thỉnh hài cốt của sư về chùa Giác Lâm và lập tháp mới bên cạnh tháp của Hòa Thượng Tổ Tông Viên Quang trong khuôn viên chùa Giác Lâm. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 剖 露. Biểu lộ tâm đắc của mình khi tham thiền với hy vọng được thiền sư ấn chứng cho. Tiết Thế Kỳ Thủ tọa trong NĐHN q. 20 ghi: “世 奇 首 座 者、成 都 人 也。遍 依 師 席、晚 造 龍 門。一 日 燕 坐、瞌 睡 間 群 蛙 忽 鳴、誤 聽 爲 淨 髮 版 響。亟 趨 往、有 曉 之 者 曰:蛙 鳴 非 版 也。師 恍 然、詣 方 丈 剖 露。 – Thủ tọa Thế Kỳ là người Thành Đô, luôn nương theo Thầy, tuổi già mới tạo lập Long môn. Một hôm sư đang ngồi yên, trong lúc mơ màng, chợt nghe bầy ếch kêu ran sư tưởng lầm là tiếng bảng đánh báo cạo tóc nên toan bước xuống đi. Có người biết được nói: Tiếng ếch kêu chứ không phải tiếng bảng đánh. Sư bừng tỉnh, đi đến phương trượng để biểu lộ tâm đắc của mình”. ● 剖 決. Phán định rõ ràng. Tiết Tuyết Đậu Tự Tông Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “上 堂:翠 巖 不 是 不 說、祇 爲 無 箇 時 節。今 朝 快 便 難 逢、一 句 爲 君 剖 決。露 柱 本 是 木 頭、秤 鎚 祇 是 生 鐵。諸 人 若 到 諸 方、莫 道 山 僧 饒 舌。 – Sư thượng đường nói: Thúy Nham (pháp hiệu của Thiền Sư Tự Tông) chẳng phải là chẳng nói, chỉ vì chưa phải lúc. Sáng nay gặp cơ hội ít có, phán định rõ ràng cho ông một lời. Cột cái vốn là khúc cây, trái cân vốn là cục sắt. Các ông nếu đến các thiền viện khác, chớ nói sơn tăng lắm lời”. ● 批 排. Còn gọi: Bài Phê. Sắp xếp, chuẩn bị. Tiết Đạo Ngô Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “師 曰:如 法 批 排 茶 飯、明 日 我 與 儞 勘。到 明 日、批 排 茶 飯 屈 喫 次、師 指 教 童 子 便 來 其 僧 身 邊 立。 – Sư bảo: Hãy theo quy củ chuẩn bị cơm nước, ngày mai ta sẽ khám cho ngươi. Đến ngày mai, chuẩn bị cơm nước để ăn, sư bảo đồng tử đến đứng bên cạnh ông tăng. “ ● 飛 白 寺. X. Vân Cư Tự ● 飛 鉢 禪 師. Thiền tăng Tri Huyễn đời Minh, đời gọi là Phi Bát Thiền Sư. X. Tri Huyễn ● 飛 來 寺. Còn gọi: Hiệp Sơn Cổ Tự. ở sau khe Phi Lai, cách huyện Thanh Viễn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc 23km về phía bắc. Thời Nam Triều Lương Võ Đế (502-549) do tăng nhân Trinh Tuấn, Thụy Ai xây cất. Ban đầu tên “Chính Đức Tự”, đời Đường gọi “Thiền Cư Tự”, “Quảng Lăng Tự”. Tống Lý Tông ban tên “Quảng Khánh Thiền Tự”, “Hiệp Sơn Phi Lai Quảng Khánh Thiền Tự”. Qua nhiều đời đều có tu sửa, nền chùa nhiều lần bị di dời. Chùa hùng cứ bên bờ bắc Hiệp Sơn, tựa lưng vào núi trước mặt là sông, sơn môn đối diện Hiệp Giang. Vào cửa chùa đi qua thiên giới nhìn lên là Đại hùng bảo điện uy nghi sừng sững. Bên trái là Đế tử trì, Trai đường, Tinh xá; bên phải là Phương trượng thất, Bảo cảnh phòng, Thiền đường; hậu diện là Lục Tổ đường. Tương truyền vào thời Nam Bắc triều có Thiền Sư Lý Phi đến đây cất chùa. Khi chùa cất xong Lý Phi làm kệ rằng: “Ta tên Phi, đến Nam Lai, chùa lạc thành, hiệu Phi Lai. “ Bèn gọi là “Phi Lai Tự”. “Viên thị truyện” trong truyền kỳ đời Đường chính là lấy chùa này làm bối cảnh. Sau chùa có các thắng tích như Phi tuyền đình, Quán Âm các. Từng được “Pháp Uyển Châu Lâm” liệt vào phúc địa thứ 19. ● 非 論. 1. Vô luận, bất luận. Tiết Đan Hà Hòa Thượng: “Li Long Châu Ngâm” trong TĐT q. 4 ghi: “驪 龍 珠、驪 龍 珠、光 明 燦 爛 與 人 殊、十 方 世 界 無 求 處、縱 然 求 得 亦 非 珠。。。深 知 不 是 人 間 得、非 論 六 類 及 生 靈。 – Ngọc rồng đen, ngọc rồng đen, ánh sáng chói lọi khác người, mười phương thế giới không chỗ tìm, cho dù tìm được cũng không phải nó… Biết rõ chẳng phải thế gian có được, bất luận sáu loài và sinh linh. “ ● 2. Không những. Thần Hội Ngữ Lục ghi: “遠 法 師 既 得 此 語、結 結 舌 無 對、非 論 一 己 屈 詞、抑 亦 諸 徒 失 志。勝 負 既 分、道 俗 嗟 散。 – Pháp sư Viễn đã nghe lời này, líu lưỡi không nói được, không những một mình ông khuất phục mà còn khiến cho những đồ đệ của ông thất chí. Thắng thua đã rõ, đạo tục than thở rồi giải tán. “ ● 披 毛 戴 角 牽 犁 負 重. Mang lông đội sừng, kéo cày chở nặng, tức là làm trâu làm ngựa, chỉ cho việc bị đọa vào loài súc sinh. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 2 ghi: “只 如 今 照 一 切 有 無 等 法、於 六 根 門 頭 刮 削 并 當 貪 愛、有 纖 毫 治 不 去、乃 至 乞 施 主 一 粒 米、一 縷 綫、箇 箇 披 毛 戴 角、牽 犁 負 重 一 一 湏 償 他 始 得。 – Hiện nay chiếu theo tất cả pháp có không v. v… , nếu ở nơi cửa sáu căn mà một mảy tham ái không trừ sạch, cho đến ăn một hạt cơm, mặc một sợi vải của thí chủ, đều phải mang lông đội sừng kéo cày chở nặng để đền trả ân thí chủ mới được”. ● 非 人. Người không thích hợp, người không thể đảm nhiệm. Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “愚 按、博 山 之 言 若 此、可 謂 眞 實 爲 大 法 者 也。今 其 嗣 雖 少、而 世 猶 仰 之 如 麟 如 鳳、視 近 日 之 妄 授 非 人、反 辱 先 宗 者、又 奚 啻 霄 壤 哉! – Lời nói của Ngu Án, Bác Sơn như thế này, có thể gọi là người chân thật vì đại pháp. Ngày nay dù kẻ kế thừa ít nhưng người đời vẫn ngưỡng mộ ông như lân như phụng, xem thấy gần đây lầm trao cho kẻ không thích hợp, trở lại làm nhục tổ tông, há chỉ cách nhau như trời với đất ư!” ● 披 剃. Mặc áo nhuộm, cạo tóc, ý chỉ cho việc xuất gia. Chương Di Dá Ca Tổ thứ 6 trong CĐTĐL q. 1 ghi: “師 即 與 披 剃 復 圓 戒 相。 – Sư cùng các bạn tiên xuất gia, lại thọ đủ các giới tướng”. ● 非 直. Không những là. Thần Hội Di Tập q. 3 ghi: “有 人 入 房 內、申 手 取 袈 裟。。。非 直 今 日、此 袈 裟 在 忍(指 五 祖 弘 忍)大 師 處 三 度 被 偷。忍 大 師 云:其 袈 裟 在 信(指 四 祖 道 信)大 師(處)一 度 被 偷。所 偷 者 皆 不 得。 – Có kẻ vào trong phòng đưa tay lấy cà sa… Không những là hôm nay cà sa này ở chỗ đại sư Hoằng Nhẫn bị trộm ba lần. Đại sư Hoằng Nhẫn nói: Chiếc cà sa này ở chỗ đại sư Đạo Tín bị trộm một lần. Kẻ trộm đều lấy không được. “ ● 披 削. Mặc áo nhuộm, cạo tóc, ý chỉ cho việc xuất gia. Tiết Từ Thị Thụy Tiên Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “年 二 十 去 家、以 試 經 披 削、習 毗 尼。 – Năm 20 tuổi, sư xa rời gia đình, dự khoa thi kinh điển để xuất gia học tập giới luật”. ● 飛 猿 嶺. Vách núi cheo leo, hiểm trở. Thiền Tông dùng từ nay để chỉ cho cửa ải Thiền. Tiết Bắc Viện Thông Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “後 辭 洞 山 擬 入 嶺、山 曰:善 爲!飛 猿 嶺 峻 好 看!師 良 久、山 召:通 闍 黎!師 應 諾。山 曰:何 不 入 嶺 去?師 因 有 省、更 不 入 嶺。 – Sau đó, sư từ giã Động Sơn để tính vào núi. Sơn nói: Hãy bảo trọng! Nên cẩn thận vì vách núi cheo leo! Sư im lặng hồi lâu. Sơn gọi: Xà Lê Thông! Sư: dạ! Sơn nói: Sao chẳng vào núi đi! Sư nhân đó có tỉnh, nên chẳng vào núi”. ● 費 隱 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 14 quyển, do Phí ẩn Thông Dung soạn vào đời Minh, ẩn Nguyên Long Kỳ biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 16 (1643) đời Minh. Nội dung bao gồm: Thượng đường, Tiểu tham, Nhập thất, Pháp ngữ, Kệ, Thư vấn, Cơ duyên vấn đáp, Niêm cổ, Tụng cổ, Phán cổ, Tán, Tạp trước, Tiểu Phật sự. Quyển cuối phụ Kỷ niên lục. ● 泛 舟 禪 師 塔. Nằm trên di chỉ chùa Báo Quốc, cách thành phố Vận Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc 5km về phía tây bắc. Chùa đã bị phế hủy từ lâu, chỉ còn cổ tháp. Tháp này do Tiết độ sứ Khúc Hoàn xây cất vào niên hiệu Trường Khánh thứ 2 (822) đời Đường, sau khi Thiền Sư Phiếm Chu viên tịch. Tháp hình hộp tròn theo kiểu đình các, thu nhỏ dần theo chiều cao, phần thắt lưng của tòa Tu Di chính là thân tháp, đây là chỗ đặc biệt của hình trạng tháp này. Trên tòa Tu Di có đài môn khắc gạch và cách nhau bởi hàng cột. Thân tháp rỗng, mặt nam mở cửa, ngưỡng cửa, má cửa, ngạch cửa đều làm bằng đá. Trong tháp là hình lục giác, trên có khung trang trí trần nhà. Thân tháp có khảm tháp minh, ghi chép sự tích của Thiền Sư Phiếm Chu cùng quá trình dựng tháp. Mái tháp từng tầng chồng khít làm thành, đỉnh tháp hình lọng, đỉnh có tháp sát. Phần dưới tháp sát là hai tầng hoa lá núi rừng to lớn, trên đỡ chiếc bát úp hình bán nguyệt, trên cùng là bảo châu. Tạo dáng cổ phác điển nhã, điêu khắc thô tế xen nhau, trong sáng mà có lực, nó vượt hơn cả trong các tháp cổ hình tròn đời Đường, loại tháp này hiện rất ít thấy. Hồi tưởng, nhớ lại. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “昨 日 錦 上 鋪 花。今 日 腳 蹋 實 地。但 看 今 日 明 朝 說 甚 祖 師 來 意。翻 思 黃 面 老 人。謾 道 靈 山 授 記。直 饒 大 地 山 河。借 我 鼻 孔 出 氣。 – Hôm qua trên gấm thêm hoa, bữa nay chân đạp thật địa. Hãy xem sáng nay nói cái gì là ý Tổ sư từ ấn Độ sang. Nhớ lại ông già mặt vàng, dối nói Linh Sơn thọ ký, dù cho đất đai sông núi đều mượn lỗ mũi của ta để thở”. ● 付 法. Truyền trao thiền pháp. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “建 寺 立 僧、開 堂 付 法。 – Xây chùa độ tăng, mở cửa pháp đường tuyên nói đại pháp để truyền trao thiền pháp”. Căn cứ vào thời kỳ sớm nhất của Thiền Tông (trước Lục tổ Huệ Năng), y và pháp đều truyền trao song song, mỗi đời chỉ truyền cho một người, do đó từ “phó pháp” này cũng chính là chỉ cho việc truyền trao y và pháp, cùng với ý nghĩa dựng lập vững chắc người thừa kế trong một đời. ● 付 拂. Giao cho cây phất tử, ý nói thiền sư truyền pháp cho đệ tử, đệ tử từ đây có thể vì chúng thuyết pháp. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “近 日 禪 人 却 以 先 輩 之 語 爲 不 然、惟 相 與 學 頌 古、學 機 鋒 過 日。學 得 文 字 稍 通、口 頭 稍 滑 者、則 以 拂 子 付 之、師 資 互 相 欺 誑、而 達 摩 之 旨 又 安 在 哉!不 特 此 也、曾 見 有 付 拂 之 輩、有 顛 狂 而 死 者、有 罷 道 還 俗 者、有 嘯 聚 山 林 劫 掠 爲 事 者。他 如 縱 恣 險 惡、爲 世 俗 所 不 齒 者、在 在 有 之。 – Gần đây có người tu thiền lại cho rằng lời nói của các bậc tiền bối là chẳng đúng, nên cùng nhau học tụng cổ, học cơ phong qua ngày. Ai học được chữ nghĩa khá thông, lời nói khá trơn tru thì được đem phất tử giao cho, thầy trò dối gạt nhau thế ấy mà tông chỉ Đạt Ma tồn tại được sao! Chẳng những như thế, tôi cũng từng thấy trong bọn được giao cho cây phất tử: có người điên cuồng mà chết, có người bỏ tu hoàn tục, có người tụ tập ở chốn núi rừng để cướp bóc. Những việc buông lung hiểm ác của bọn họ bị người thế tục khinh khi, khắp nơi đều có”. ● 副 寺. Chức vụ coi việc chi thu, xuất nhập trong thiền viện. Như ngài Hoa Điệt làm Phó tự dưới hội của Thiền Sư Cao Am ở chùa Vân Cư. Chương Lưỡng Tự trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, q. hạ ghi: “唐 代 以 後、禪 林 諸 大 寺 掌 管 僧 眾 雜 事、庶 務 之 主 要 職 務 有 六 種、即 都 寺、監 寺、副 寺、維 那、典 座、直 歲 等。 – Từ đời Đường về sau, trong các tự viện Thiền Tông lớn có 6 chức vụ quan trọng để trông coi mọi việc của tăng chúng. Đó là: Đô tự, Giám tự, Phó tự, Duy Na, Điển tọa, Trực tuế”. ● 封 皮. Dụ chỉ thân thể. Tiết Đãi chế Phan Lương Quý cư sĩ trong NĐHN q. 20 ghi: “後 依 佛 燈、久 之 不 契。因 訴 曰:某 祇 欲 死 去 時 如 何? 燈 曰:好 箇 封 皮、且 留 著 使 用、而 今 不 了 不 當、後 去 忽 被 他 換 卻 封 皮、卒 無 整 理 處。 – Về sau nương nơi Phật Đăng, ở lâu nhưng không khế ngộ. Nhân nói rằng: Khi tôi chỉ muốn chết đi thì thế nào? Phật Đăng nói: Cái thân thể này hãy để lại sử dụng, nhưng nay không liễu ngộ không gánh vác, về sau bị người thay mất thân thể, rốt cuộc không có chỗ thu xếp. “ ● 封 干. Thiền tăng đời Đường, ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai. Nếu ai có hỏi, sư chỉ đáp 2 chữ “tùy thời”, chứ không chữ nào khác. Ngày giã gạo, đêm ca ngâm, ngôn ngữ không chừng. Niên hiệu Tiên Thiên (712-713), sư hành hóa Kinh Triệu (Tây An) từng trị bệnh cho Thái Thú Lư Khâu Dận. Sư có vài bài thơ được ghi trong Hàn Sơn Tử Thi Tập. ● 風 狂 子. Gã điên. Chương Thiên Thai Phong Can Thiền Sư trong CĐTĐL q. 27 ghi: “本 寺 廚 中 有 二 苦 行、曰 寒 山 紫、拾 得。二 人 執 爨 終 日 晤 語。潛 聽 者 都 不 體 解。時 謂 風 狂 子。獨 與 師 相 親。 – Trong nhà bếp của chùa này có hai vị khổ hạnh là Hàn Sơn và Thập Đắc. Hai vị làm bếp, gặp nhau trò chuyện cả ngày, mọi người rình nghe đều không hiểu nổi, nên gọi họ là 2 gã điên. Họ rất thân với sư (Phong Can)”. ● 風 穴 寺. Còn gọi: Thiên Phong Tự, Bạch Vân Tự, Hương Tích Tự. Chùa nằm trong núi Phong Huyệt, phía nam chân núi Thiếu Thất, cách huyện Lâm Nhữ, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc 9km về hướng đông bắc. Đầu tiên được xây vào thời Bắc Ngụy (385-475), đến các đời Tùy, Đường đều có sửa sang. Vào niên hiệu Trường Hưng thứ 2 (931), triều Hậu Đường thời Ngũ Đại, Thiền Sư Diên Chiểu trụ trì chùa này. Lúc bấy giờ chùa đã hư mục sẵn, ngài Diên Chiểu ở đó 7 năm, hết lòng gầy dựng khiến trở thành 1 ngôi tòng lâm. Kiến trúc chủ yếu hiện còn: Thiên vương điện, Trung Phật điện, Tỳ lô điện, Huyền chung các, Tàng kinh các. Trung Phật điện là kiến trúc đời Kim, vào sâu có ba gian đình. Huyền chung các theo kiểu Yết Sơn, ba mái cao vút nguy nga, bên trong gác treo 1 chuông sắt lớn được đúc vào niên hiệu Tuyên Hòa thứ 7 (1125) đời Tống, hình dạng đơn sơ chất phác, âm thanh hùng hậu. Chung quanh chùa phong cảnh hữu tình, vốn là thắng cảnh du lịch. Các vị: Sầm Tham, Lưu Vũ Tích, Nguyên Kết đều từng đến chùa này làm thơ lưu niệm. ● 風 穴 寺 七 祖 塔. Tháp nằm trong khuôn viên chùa Phong Huyệt cách thành phố huyện Lâm Nhữ, tỉnh Hà Nam Trung Quốc 10km về phía đông bắc. Xây vào niên hiệu Khai Nguyên thứ 26 (738) đời Đường, là bia ghi công đức Thiền Sư Trinh, một cao tăng nổi tiếng, vua Đường Huyền Tông sắc tứ “Thất Tổ Tháp”. Đây là tháp gạch hình vuông chín tầng có vành mái cao khoảng 27 mét. Các bộ phận tỉ lệ cân xứng, tạo dáng ưu mỹ, mái kiểu chồng diêm, dưới mái có đường cong ngược hình cung do bát úp, tướng luân, bảo cái và ngọn lửa làm thành, đây là phong cách tháp có mái kín đời Đường. Tháp này là một ngôi tháp được giữ gìn hoàn hảo nhất trong các tháp thời kỳ đầu đời Đường. Như tòa tháp nhỏ của Tiểu Nhạn Tháp ở Tây An, Pháp Vương Tự Tháp ở Đăng Phong đều hư hủy, cho nên càng thấy được vẻ đẹp hoàn bích của tháp này. ● 風 幡 堂. Nằm trong chùa Quang Hiếu, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Niên hiệu Nghi Phụng thứ 1 (676) đời Đường, Huệ Năng đến chùa Pháp Tính nghe Pháp sư ấn Tông giảng kinh Niết Bàn, đúng lúc gặp gió thổi lá phướn động, thấy hai ông tăng tranh luận, một ông nói gió động, một ông nói phướn động, Huệ Năng bèn nói là tại tâm các ông động. Lời nói làm kinh ngạc tăng chúng, qua những lời hỏi han của Pháp sư ấn Tông mới biết ngài là pháp tự của Tổ Hoằng Nhẫn. Do đây Huệ Năng công khai truyền bá Thiền Nam tông. Người đời sau xây cất Phong Phan Đường để kỷ niệm việc này. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 21 (1593) đời Minh bị chiếm làm quán xá, lâu năm bị sụp lở, những vị tăng trụ trì như Thông Húc, Siêu Kỳ, Siêu Trân bỏ của cải ra chuộc lại rồi trùng tu, đem Phong Phan Đường cùng Thùy Phật Lâu họp làm một. ● 風 過 樹. Gió thổi qua cây, tỷ dụ cho sau khi nghe người khác nói gì về mình, mình hoàn toàn chẳng để nơi lòng, chẳng câu nệ ngôn từ văn cú, khái niệm ý nghĩa. Mật Am Ngữ Lục ghi: “行 腳 高 士。跳 出 荊 棘 林。踏 翻 獅 子 窟。周 行 無 轍 跡。四 顧 絕 遮 攔。見 佛 祖 如 生 冤 家。聞 禪 道 如 風 過 樹。 – Bậc cao sĩ hành cước, nhảy ra khỏi rừng gai góc, đá bật hang sư tử, đi khắp nơi mà không để lại dấu vết, nhìn bốn bên đều thông suốt, thấy Phật Tổ như gặp kẻ thù, nghe thiền đạo như gió qua cây”. ● 放. 1. Tha thứ, miễn cho. Vân Môn Quảng Lục q. hạ ghi: “和 尚 放 某 甲 過 即 道。 – Hòa Thượng tha lỗi cho con, con mới nói”. ● 2. Bài tiết (đại tiểu tiện). Tiết Đông Pha Như Hội Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “鳥 雀 於 佛 頭 上 放 糞 – Chim sẻ ỉa trên đầu tượng Phật”. ● 放 藞 苴. Thô lỗ và chẳng giữ quy củ. Bài thơ “Tự tán” Xiển Đề Chiếu Thiền Sư trong GTPĐL q. 29 ghi: 自 小 來 打 硬、佛 祖 不 奈 何 放 藞 苴 住 院、殃 害 殺 禪 和 “Tự tiểu lai đả ngạnh Phật Tổ bất nại hà Phóng chư thư trụ viện Ương hại sát thiền hòa”. “Từ nhỏ vốn bướng bỉnh Phật Tổ cũng đầu hàng Thô lỗ chẳng quy củ Gây họa cho thiền tăng”. ● 放 倒. Lười biếng. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ: “晝 夜 豎 起 脊 梁、勇 猛 切 莫 放 倒。 – Ngày đêm phấn chấn tinh thần, dũng mãnh chứ đừng lười biếng”. ● 放 憨. Làm bộ ngu dốt. Tiết Cổ Sơn An Vĩnh Thiền Sư trong NĐHN q. 27 ghi: “上 堂、拈 拄 杖 曰:臨 濟 小 廝 兒、未 曾 當 頭 道 著。今 日 全 身 放 憨、也 要 諸 人 知 有。 – Sư thượng đường giơ cây gậy lên nói: Lâm Tế đứa tớ nhỏ, chưa từng nói công khai. Hôm nay làm bộ ngu dốt hết mình, cũng cần các ông biết cho”. ● 放 頑. Vờ ngớ ngẩn, giả bộ đần độn. Mật Am Ngữ Lục ghi: “玄 沙 問 鏡 清:不 見 一 法。是 大 過 患。汝 道 不 見 是 什 麼 法。清 指 露 柱 云:莫 是 不 見 遮 箇 法 麼。沙 云:淛 中 清 水 白 米 從 汝 喫 佛 法 未 夢 見 在。先 應 菴 拈 云:鏡 清 放 頑。佛 也 不 奈 伊 何。 – Huyền Sa hỏi Cảnh Thanh: Chẳng thấy một pháp là lỗi lầm lớn. Ngươi nói chẳng thấy là pháp gì? Thanh chỉ cây cột, nói: Không phải chẳng thấy pháp này ư? Sa nói: Cơm trắng nước trong của Chiết Giang mặc tình ông ăn uống, còn Phật pháp thì nằm mơ cũng chưa thấy. Ngài Tiên ứng Am bình rằng: Cảnh Thanh vờ ngớ ngẩn, Phật cũng chẳng làm gì nổi y”. ● 放 一 線 道. Mở ra một con đường, chỉ cho pháp môn phương tiện của thiền sư lập bày khi tiếp dẫn người học. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “諸 上 座。翠 峰 若 也 全 提。盡 大 地 人。普 須 結 舌。放 一 線 道。轉 見 不 堪。 – Các Thượng tọa, nếu Thúy Phong (pháp hiệu của thiền sư Minh Giác) nêu ra triệt để thì mọi người trên quả đất đều phải ngậm miệng; nếu như mở ra một con đường thì càng kham không nổi”. ● 放 過 一 著. Ý nói nhường người một bước, cởi mở một phen, chỉ cho thiền sư lúc tiếp dẫn người học căn khí trung hạ chọn dùng pháp môn phương tiện. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “第 一 義 本 來 清 淨 不 受 諸 塵。如 何 說 得。同 道 方 知。今 日 放 過 一 著。向 建 化 門 中。別 作 箇 解 話 會。 – Đệ nhất nghĩa xưa nay thanh tịnh, chẳng dính các trần, làm sao nói được? Kẻ đồng đạo mới biết. Hôm nay cởi mở một phen. ở trong cửa dựng lập tiếp hóa thông qua lời giải thích để lãnh hội”. ● 放 光 寺. ở núi Kê Túc thuộc Đại Lý, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Cuối niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh, Mộc Công vì Thiền Sư Bản Vô mà cất chùa. Điện vũ nguy nga, kết cấu đặc biệt, là chùa mà hàng tín đồ Phật tử phải viếng. Trong thời kỳ kháng chiến Đại sư Thái Hư từng trụ tích nơi này. ● 放 痴 憨. Làm ra vẻ vừa ngu si vừa ngớ ngẩn. Mật Am Ngữ Lục ghi: 大 龍 老 倒 放 癡 憨 澗 水 山 花 錯 指南。 “Đại Long lão đão phóng si hám Giản thủy sơn hoa thố chỉ nam”. “Lão Đại Long giả vờ ngớ ngẩn Hoa núi nước khe lầm mất hướng”. ● 放 無 端. Giả bộ ngu dốt cốt không cho người khác cậy dựa. Bài thơ khen Hòa Thượng Đại Huệ trong MANL ghi: 捉 瞎 頂 門 三 隻 眼 是 非 佛 法 一 齊 剷 竹 篦 頭 上 放 無 端 正 是 徐 六 擔 片 板 “Tróc hạt đỉnh môn tam chích nhãn Thị phi Phật pháp nhất tề sản Trúc bề đầu thượng phóng vô đoan Chính thị Từ Lục đảm phiến bản”. “Chọc mù ba mắt nằm trên trán Thị phi Phật pháp đồng loạt trừ Trên đầu trúc bề giả ngu ngơ ● 放 意. Tự tại tùy thích. Tông Môn Võ Khố ghi: “太 瘤 禪 師 後 至 都 下、放 意 市 肆 中、有 官 人 請 歸 家 供 養、太 屢 告 辭、官 人 确 留 之。 – (Thiền Sư Thái Lựu) về sau đến kinh đô, tự tại tùy thích ở chốn chợ búa, có một vị quan mời sư về nhà cúng dường. Thái nhiều lần cáo từ mà vị quan nọ nhất định mời sư cho bằng được”. ● 房 丈. Phòng của vị Trụ trì tự viện ở, tức phương trượng. Tiết Đạo Ngô Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “師 見 新 到 參、便 打 鼓 歸 房 丈。 – Sư thấy người mới đến tham vấn, liền đánh trống trở về phòng trượng”. ● 普 庵 (1115-1160). Thiền tăng đời Tống, họ Trần, tự ấn Túc, người Viên Châu (Nghi Xuân, Giang Tây), Trung Quốc. Năm 20 tuổi lễ Hiền Công ở viện Thọ Long làm thầy, 28 tuổi thụ giới cụ túc. Sư bẩm tính thông minh, Hiền Công rất nể trọng khuyến khích sư tụng kinh Pháp Hoa. Sư cho rằng việc nghiên cứu kinh văn vô ích, liễu ngộ Phật chỉ ở tại nhất tâm, bèn ra đi hành cước, yết kiến Mục Am Pháp Trung có chỗ tỉnh ngộ rồi trở về viện Thọ Long. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 23 (1153) Sư trụ trì chùa Từ Hóa. Ngoài tu thiền định, sư còn đọc kinh Hoa Nghiêm; một hôm đại ngộ thân chứng cảnh giới Hoa Nghiêm. Từ đấy kẻ mộ danh đến tham học rất đông. Sư tùy nghi nói pháp, hoặc viết kệ, hoặc hái cỏ trị bệnh, hoặc chặt bỏ cây cối quái lạ v. v… Có tác phẩm: Phổ Am ấn Túc Thiền Sư Ngữ Lục, 3 quyển còn lưu hành. ● 普 庵 (1115-1160). Chính là Từ Lục vác bảng rồi”. ● 普 恩. Thiền tăng đời Minh, họ Kim, người xứ Sơn Âm (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở lên mười, sư xuất gia và theo học với ngài Diên Phúc Giám Hồ. Năm 19 tuổi, sư chợt nhớ đến việc lớn sinh tử, nhen nhúm ý định tham thiền. Ban đầu, sư đến tham vấn ngài Vô Tế ở chùa Đại Từ, có sở đắc và trình kệ như sau: 返 本 還 源 便 到 家 亦 無 玄 妙 可 稱 誇 湛 然 一 片 眞 如 性 迷 失 皆 因 一 念 差 “Trở về nguồn cội liền đến nhà Cũng không huyền diệu để phô khoe, Một khối chân như thật trong suốt Quên mất cũng vì một niệm sai”. Sư còn tham vấn ngài Pháp Chu ở chùa Thiên Ninh, ngài Vạn Tùng ở núi Điểu Thạch. Sau đó, sư tham ngài Pháp Tụ, ngay nơi lời nói, bỗng nhiên đại ngộ, những mê lầm từ trước đồng thời tiêu tan. Sư được ấn khả, nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. ● 普 照 國 師 語 錄. Còn gọi: Ấn Nguyên Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, do ẩn Nguyên Long Kỳ soạn vào đời Thanh, Tính Đạo biên tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 82, trang 739. Vào niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) đời Thanh, ẩn Nguyên đến Nhật Bản hoằng pháp, sáng lập ra tông Hoàng Bá. Thế nên những Ngữ Lục của sư được thu thập lúc ở Nhật Bản là tại các chùa: Hưng Phúc, Sùng Phúc, Phổ Môn, Vạn Phúc. ● 普 證 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Pháp Thành, sống vào đời Tống. X. Pháp Thành. ● 普 融. Hiệu của Thiền tăng Đạo Bình, đời Tống. X. Đạo Bình. ● 普 陀 洛 迦 新 志. Chí, 20 quyển, do Vương Ngạn Hanh soạn vào thời cận đại, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Từ đời Minh, Chu ứng Tân sửa lại “Phổ Đà Sơn Chí” đến nay đã có 4 thứ “Phổ Đà Sơn Chí” được soạn xong vào đời Thanh, 1. Bản 15 quyển, do Cầu Liên soạn vào niên hiệu Khang Hy thứ 37 (1698). 2. Bản 15 quyển, do Chu Cẩn, Trần Toàn tăng tu vào niên hiệu Khang Hy thứ 44 (1705). 3. Bản 20 quyển, do Hứa Diễm trùng tu vào niên hiệu Càn Long thứ 4 (1739). 4. Bản 20 quyển do Tần Diệu tăng tu vào niên hiệu Đạo Quang thứ 12 (1832). Bản của họ Hứa được chùa Pháp Vũ yêu cầu sửa giúp. Bản của họ Tần được chùa Phổ Tế nhờ sửa. Hai quyển chí này đều thuộc loại viết theo lời yêu cầu, mỗi quyển đều có thiên lệch, luôn luôn viết về chùa mình tỉ mỉ hơn các chùa khác. Vào năm 1923, Vương Ngạn Hanh trùng tu một quyển Sơn chí mới, bỏ hết những cái dở trong các quyển chí cũ, hễ có việc gì về núi Phổ Đà đều sưu tập thêm, không có thành kiến riêng tư. Quyển chí này đặt nặng về lịch sử Phật giáo, biểu hiện sự lý pháp thân và ứng hóa thân của Bồ tát Quán Âm, cho đến nhân duyên cảm ứng của Ngài với phương này. Nội dung sách này chia làm 12 loại: Bản tích, Hình thắng, Linh dị, Đàn thí, Phạm sát, Thiền đức, Doanh kiến, Quy chế, Lưu ngụ, Nghệ văn, Chí dư, Tự lục, có thể bổ sung cho chỗ thiếu sót của những quyển chí trước. ● 普 陀 列 祖 錄. Lục, 1 quyển, do vị tăng tên Triều Âm Thông Húc soạn vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 35 (1696) đời Thanh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 1110. Nội dung gồm cơ duyên lược truyện của các vị trụ trì hoằng pháp ở núi Phổ Đà trải qua các thời đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, từ Chân Hiết Thanh Liễu, Tự Đắc Huệ Huy đến Triều Âm Thông Húc. Cổ Tâm Minh Cô tính chung được 43 vị, có 1 số ít thiền sư chỉ được nêu danh hiệu mà không có truyện. Cuối quyển phụ lục lược truyện của 5 vị như: Thiên Nhạc Trú từ các núi khác đến núi Phổ Đà hoằng pháp. v. v… ● 普 陀 山. Núi ở huyện Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, là một đảo nhỏ trong quần đảo Chu sơn, là 1 trong 4 ngọn núi nổi tiếng của Phật giáo Trung Quốc. Vốn được gọi là “Phổ Đà Lạc Già Sơn”, do 2 đảo nhỏ Phổ Đà Sơn và Lạc Già Sơn hợp lại thành. Thuở xưa gọi là “Bổ Đà Lặc Già”, “Bổ Hằng Lạc Già” đều do dịch âm tiếng Phạn, có nghĩa “Đóa hoa trắng nhỏ đẹp đẽ”, nên núi này còn có tên Bạch Hoa Sơn. Diện tích toàn đảo là 12,76㎢, gồm có các núi: Bạch Hoa, Phật Đảnh, Cẩm Bình, Đại Tiểu Tuyết Lãng, Quang Hy, Tượng Vương, Mai Sầm, Đạt Ma, Chính Thú. Ngọn cao nhất là Phật Đảnh Sơn, cách mặt biển 291,3m. Khoảng niên hiệu Đại Trung (847-860) đời Đường, có một vị tăng ấn Độ đến núi này tự đốt 10 ngón tay, “Đích thân thấy Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân thuyết pháp, được Bồ Tát trao cho đá quý 7 màu” rồi loan truyền đất này là nơi Quán Âm hiển thánh. Theo thống kê năm 1936, Phổ Đà Sơn gồm có: 3 ngôi chùa lớn, 88 am, 148 ngôi nhà tranh, trên 2. 000 tăng ni, trở thành thắng cảnh Phật giáo rất nổi tiếng phía đông nam. Đầu năm 1979, lần lượt tiến hành khôi phục sửa sang các chùa am quan trọng. Sau đó, hàng năm nhiều lượt khách hành hương lên đến hàng triệu người. ● 普 覺 禪 師. 1. Hiệu của Thiền tăng Chí Phùng, sống vào đời Ngũ Đại. X. Chí Phùng. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Tông Cảo, sống vào đời Tống. X. Tông Cảo. ● 溥 洽 (1346-1426). Thiền tăng đời Minh, họ Lục, tự Nam Châu, hiệu Tẩu, Nhất Vũ Ông, người xứ Sơn Âm (nay là huyện Thiệu Hưng, Chiết Giang) Trung Quốc. Tác phẩm: Vũ Hiên Ngữ Lục, Vũ Hiên Tập. ● 普 會 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Khánh Chư, sống vào đời Đường. X. Khánh Chư. ● 普 明. Thiền tăng đời Nguyên, họ Tào, hiệu Tuyết Song, người Tùng Giang (Thượng Hải) Trung Quốc. Sư tham kiến Hối Cơ Nguyên Chiếu đắc pháp, đồng môn với Tiếu ẩn Đại Hy. Niên hiệu Chí Trị thứ 2 (1322) những vị Tăng lẫn Nho sĩ giỏi thư pháp đều tụ hội về Bắc Kinh, vua Anh Tông sai Phổ Minh viết kinh bằng chữ vàng. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 4 (1338) sư trụ trì chùa Vân Nham ở Tô Châu. Niên hiệu Chí Chính thứ 4 (1344) xây dựng lại chùa Thừa Thiên sau khi bị hỏa tai và nhận chức trụ trì. Sau trụ chùa Bồ Đề Gia Định (Thượng Hải). Sư giỏi châm cứu lại khéo vẽ hoa lan, cùng đạo sĩ Bách Tử Đình đều nổi tiếng. Niên hiệu Nguyên Thống thứ 1 (1333) sư sáng tác “Sơn Thủy Đồ”. Niên hiệu Chí Thánh thứ 8 (1348) sáng tác “Lan Thạch Đồ”. ● 普 明 塔. Tháp ở trong khuôn viên chùa Phổ Minh (chùa Tháp), nay thuộc xã Lộc Vượng, thị xã Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh, Việt Nam, cách Nam Định 5km phía bắc. Tháp gồm 14 tầng, cao 19m, mặt bằng hình vuông, mọc từ một khoảng sân vuông, mỗi chiều 8,6m, sâu chừng 0,5m, xung quanh có lan can, mở cửa bốn phía, thềm bậc trang trí rồng đá, sóc đá. Tầng đế tháp xây bằng đá xanh, mang hình bông sen nở xòe trên mặt nước cao 2,2m, rộng 5,2m, bốn góc có trụ giả đỡ đầu rồng, cửa giữa cuốn cao 1,1m, rộng 0,8m. Các tầng trên xây gạch trần, bốn góc nẹp đá, bốn mặt có cửa cuốn tò vò thu nhỏ dần theo chiều cao, kết thúc bằng chỏm nhọn hình bầu rượu. Gạch đá xây tháp được gia công kỹ trước khi xây, tùy theo vị trí mà có những hình dạng thích hợp như của vòm đá, chốt đá góc tháp, gạch chèn cửa vòm, gạch chèn góc, gạch xây… Năm 1987, Nhà nước trùng tu lại ngôi tháp này để giữ gìn vẻ đẹp lâu dài. Theo: VNVHTH 1989-1995. ● 普 明 寺. Còn gọi: Chùa Tức Mặc, Chùa Tháp. Chùa ở thôn Tức Mặc xã Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc, thị xã Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh, Việt Nam, cách Nam Định 5km về phía bắc. Chùa được xây dựng vào năm 1262. Kiến trúc chùa được bố cục theo kiểu “Nội công ngoại quốc”. Các công trình xây dựng theo một trục cân xướng từ tam quan, nhà Bia, tháp đến tòa Tam Bảo. Chùa nổi danh nhờ các vạc bằng đồng do Thiền Sư Minh Không đúc, thờ tại đây. Trong chùa có nhiều pho tượng đẹp, tạo dáng sinh động như pho Phật nhập Niết Bàn, Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền. Hơn 700 năm chống chọi với khí hậu khắc nghiệt, hầu hết các cấu trúc gỗ đã bị hư hại. Ngày nay chỉ còn lại bốn cánh cửa gỗ lim chạm rồng là di sản từ đời Trần, qua đó có thể nhận biết được hình ảnh ngôi chùa thuở ban đầu có quy mô rộng lớn, chạm trổ tinh xảo, lộng lẫy hơn ngôi chùa được thời sau dựng lại cho đến ngày nay. Trong chùa có thờ tượng Trúc Lâm Tam Tổ: Điều ngự Giác hoàng ở giữa, bên trái là Tổ Pháp Loa, bên phải là Tổ Huyền Quang. Theo: VN VHTH 1989-1995. ● 普 門 (1215-1265). 1. Hiệu của Thiền tăng Duy An đời Minh. X. Duy An. ● 2. Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Vô Quan Phổ Môn, đệ tử của Viên Nhĩ Biện Viên. Vâng lời thầy sư sang nhà Nam Tống (Trung Quốc) vào niên hiệu Thuần Hựu thứ 11 (1251) đắc pháp nơi Thiền Sư Diệu Luân chùa Tịnh Từ, đời thứ 22 hệ Nam Nhạc, đời thứ 4 tông Lâm Tế Nhật Bản. Niên hiệu Cảnh Định thứ 3 (1262) sư trở về nước khai sáng chùa Nam Thiền, là đạo tràng thứ 3 của tông Lâm Tế Nhật Bản. ● 普 岸 (770-843). Thiền tăng đời Đường, họ Thái, người xứ Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở bé, tham vấn ngài Bách Trượng Hoài Hải. Ban ngày theo chúng làm công tác, tối đến một mình cầm đuốc tụng kinh, chẳng từ lao khổ. Về sau, sư đến Thiên Thai ở nơi rừng núi tu khổ hạnh. Mọi người ngưỡng mộ đạo đức của sư xây dựng viện Bình Điền để sư an trụ ● 普 愚 (1301-1382). Sa môn Cao Ly (tên nước Triều Tiên thời xưa), họ Phác. Vào niên hiệu Chí Chính thứ 6 (1346) sư vào nhà Nguyên (Trung Quốc) ở chùa Đại Quán nơi Yên Kinh hỏi han tìm kiếm bậc tri thức. Năm sau đến núi Hà Vụ thuộc Hồ Châu (Chiết Gaing) tham yết Thiền Sư Thanh Củng được truyền tâm ấn, nối pháp đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, là một trong những người sáng lập tông Tào Khê ở Triều Tiên. Sư được thỉnh khai đường thuyết pháp tại chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Dương. Niên hiệu Chí Chính thứ 8 sư trở về Triều Tiên hoằng pháp. ● 普 願 (748-834). Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người Tân Trịnh (Hà Nam) Trung Quốc. Niên hiệu Chí Đức thứ 2 (757) sư đến núi Đại Ôi, huyện Mật (Hà Nam) thọ nghiệp với Thiền Sư Đại Huệ, siêng năng khổ hạnh. Niên hiệu Đại Lịch thứ 7 (772) sư đến chùa Hội Thiện ở Tung Sơn thụ giới cụ túc với Luật sư Hạo. Theo Luật sư Pháp Lệ nghiên cứu Tướng bộ luật tông. Sư còn đi đến các nơi nghe giảng Lăng Già, Hoa Nghiêm v. v… Còn thông đạt huyền nghĩa các luận: Trung luận, Bách luận, Thập Nhị Môn luận. Sau đến Giang Tây yết kiến Mã Tổ Đạo Nhất có chỗ tỉnh ngộ, được Du hí Tam muội. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 11 (795) sư ẩn cư núi Nam Tuyền, Trì Dương, tự cất thiền thất, hơn 30 năm không xuống núi, tự trồng trọt để sống. Niên hiệu Thái Hòa thứ 1 (827) theo lời chúng thỉnh sư xuống núi, từ đây đồ chúng tụ hội đạo pháp hưng thạnh. Một hôm, nhà đông nhà tây giành nhau con mèo, Phổ Nguyện cầm con mèo nói với đại chúng: “Nói được thì cứu được con mèo, nói không được thì ta chặt con mèo”. Trong chúng không ai nói được. Phổ Nguyện liền chặt con mèo để quét sạch vọng tưởng kẻ học đạo. Vì vậy có câu mọi người đều ưa thích là “Nam Tuyền chặt mèo”. Người đời gọi là “Nam Tuyền Thiền Sư”. Có Ngữ Lục 1 quyển. Đệ tử nối pháp có 17 vị như Tùng Thẩm, Đàm Chiếu, Sư Tổ v. v… ● 普 寧 (1214-1276). Thiền tăng đời Nam Tống, họ tên là Phổ Ninh, tự Ngột Am, người xứ Bồi Lăng, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Đắc pháp nơi Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm chùa Dục Vương, đời thứ 21 hệ Nam Nhạc, đời thứ 3 tông Lâm Tế. Trụ trì Kiến Trường Hưng Quốc Thiền Tự. ● 普 廣 大 師. Hiệu của Thiền tăng Huệ Thâm, sống vào đời Ngũ Đại. X. Huệ Thâm. ● 普 濟 (1179-1253). Thiền tăng đời Tống, họ Trương, tự Đại Xuyên, người Phụng Hóa (Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 19 tuổi sư cạo tóc thụ giới với Văn Hiến ở viện Hương Lâm, học giáo lý Thiên Thai, cảm thấy đây không phải con đường tắt siêu thoát sinh tử nên để tâm đến Thiền. Đến tham kiến Dục Vương Như Diễm, ngay dưới lời khế hợp bèn xin y chỉ, nối pháp làm truyền nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế. Về sau theo Như Diễm dời sang núi Thiên Đồng chủ quản kinh tạng. Khi ra hoằng pháp sư trụ trì chùa Báo Quốc ở Đại Từ, chùa Quang Hiếu ở Tịnh Từ, chùa Linh ẩn ở Cảnh Đức. Về già biên soạn Ngũ Đăng Hội Nguyên 20 quyển. Đặc biệt có “Đại Xuyên Phổ Tế Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển lưu truyền đời sau. Đệ tử hơn 70 người. ● 普 濟 禪 寺. ở làng Tây, thành phố Đài Trung, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1941 do Hòa Thượng Đạt Thiện khai sơn sáng lập. Về sau bởi nhiều năm không tu sửa tường nền sụp lở cơ hồ thành phế tự. Đạt Thiện sai đệ tử là Pháp sư Chân Đắc tiếp quản chùa này. Trải qua bao khổ nhọc xây cất chùa chiền mới khôi phục như cũ. Năm 1980 được sự trợ giúp của tín đồ khắp nơi khởi công xây dựng lại lần nữa chùa y như mới. ● 普 請. 1. Tập trung chư tăng trong thiền viện để tham gia lao động. Chương Môn Quy Thức trong CĐTĐL q. 6 ghi: “行 普 請 法 上 下 均 力 也。 – Thực hiện cách thức tập trung chư tăng để tham gia lao động, mọi người từ trên xuống dưới đều phải gắng sức”. ● 2. Mời đại chúng. Như Tịnh Ngữ Lục, q. hạ ghi: 異 種 靈 苗 火 裏 栽 鐵 花 無 影 樹 頭 開 驀 然 結 箇 團 圞 果 舉 似 時 人 收 得 來 於 是 轉 作 龍 眼、 荔 枝、甘 蔗、浦 桃、元 屬 自 己 家 園、 普 請 自 家 咬 嚼。 “Dị chủng linh miêu hỏa lý tài. Thiết hoa vô ảnh thọ đầu khai Mạch nhiên kết cá đoàn loan quả Cử tợ thời nhân thu đắc lai. U thị chuyển tác long nhãn, lệ chi, cam giá, bồ đào, nguyên thuộc tự kỷ gia viên, phổ thỉnh tự gia giảo tước”. “Gieo hạt giống linh trong lửa đỏ Cây sắt không bóng lại nở hoa Bỗng nhiên kết quả sao tròn trặn, Chỉ dạy người đời thu hoạch ngay. Khi ấy biến thành long nhãn, trái vải, mía, nho, vốn là thuộc cây nhà lá vườn. Mời đại chúng, mỗi người hãy thưởng thức”. ● 普 通 禪 寺. Chùa Dương Kỳ vào đời Tống được gọi là “Phổ Thông Thiền Tự”. X. Dương Kỳ Tự. ● 普 説. Thiền Sư vào pháp đường, lên pháp tòa thuyết pháp cho đại chúng nghe. Tông Môn Võ Khố ghi: “湛 堂 和 尚 一 日 問 曰:、杲 上 座、我 這 裏 禪、爾 一 時 理 會 得、教 爾 說 也 說 得、教 爾 做 拈 古、頌 古、小 參、普 說、爾 也 做 得、只 是 有 一 件 事 未 在、爾 還 知 麼? – Hòa Thượng Trạm Đường một hôm hỏi rằng: Thượng tọa Cảo! Thiền của ta ở đây tất cả ngươi đều hiểu được. Bảo ngươi nói cũng nói được, bảo ngươi niêm cổ tụng cổ, tiểu tham, phổ thuyết ngươi cũng làm được, chỉ có một việc còn chưa được, ngươi biết chăng?”. ● 普 淨. Thiền tăng đời Nguyễn, quê ở Võ Lăng, Thượng Phúc, miền Bắc Việt Nam. Thuở nhỏ đã theo Hòa Thượng Phúc Điền xuất gia tu học. Một hôm, sư đến chùa Vân Trai đảnh lễ Đại sư Tường Quang xin thụ giới cụ túc. Sau khi thụ giới, sư thành tâm trì giới hành đạo. Từ bé chí trưởng, sư chuyên tâm nghiên cứu kinh luật, không dám một phút lơi lỏng. Quá ngọ tuyệt đối không ăn gì cả. Sư về trụ trì chùa Tường Quang trên núi Đại Hùng ở Hà Nội, do Hòa Thượng Phúc Điền khuyến hóa xây cất. Nơi đây, sư độ tăng tục khá đông, vì thế ngôi chùa càng trang nghiêm đẹp đẽ. Một hôm, sư gọi chúng lại bảo: “Nay ta cáo biệt, phó chúc các ngươi kệ truyền pháp đây: 經 年 靜 坐 大 雄 峯 實 是 身 窮 道 不 窮 六 字 專 持 身 授 記 流 傳 後 世 顯 宗 風 “Kinh niên tịnh tọa Đại Hùng phong Thật thị thân cùng đạo bất cùng Lục tự chuyên trì thân thọ ký Lưu truyền hậu thế hiển tông phong”. “Nhiều năm ngồi tịnh núi Đại Hùng Quả thật thân cùng đạo chẳng cùng Sáu chữ chuyên trì thân thọ ký Truyền mãi đời sau sáng Tổ tông”. Nói kệ xong, Sư ngồi yên mà tịch. Đồ đệ xây tháp tôn thờ. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 普 莊 (1347-1403). Thiền tăng đời Minh, họ Viên, tự Kính Trung, hiệu Ngốc Am, người Tiên Cư (Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 12 tuổi sư xuất gia với Thiền Sư Cổ Am Lương chùa Thiên Đồng, phục dịch hầu hạ rất lâu mà không khế hội. Từ tạ trở lại Tiên Cư, sư tham kiến Hòa Thượng Thiên Ninh Liễu Đường ngôn ngữ hợp nhau hoát nhiên có tỉnh. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 10 (1377) đến chùa Kim Sơn ở Trấn Giang (Giang Tô) giảng dạy Tâm kinh, kinh Lăng Già, kinh Kim Cang; giải thích nghĩa kinh rất khế hợp đạo lý được thính chúng khâm phục. Năm thứ 12 (1379) sư trụ trì chùa Bắc Thiền ở Phủ Châu (Giang Tây), dời sang chùa Vân Cư. Mùa xuân năm thứ 26 (1393) vâng lệnh vua vào cung đối đáp vừa ý vua, sư vâng lệnh đến Lô Sơn trụ trì tế tự, đến nơi sư vun trồng giáo cơ, mở mang gốc đạo. Về sau dời sang trụ trì Kính Sơn. Tác phẩm: Ngốc Am Thiền Sư Ngữ Lục 8 quyển. ● 普 持 (1310-1387). Thiền tăng đời Minh, họ Vạn tự Bảo Tạng người xứ Đại Y Sơn. Sư tham vấn Thiền Sư Thời Úy và đắc pháp, thuộc tông Lâm Tế. Niên hiệu Hồng Võ thứ 14 (1381), sư kế vị trụ trì chùa Thánh Ân, núi Thời Úy tại Tô Châu, người đời gọi sư là “Thánh Trì Tổ”. ● 普 慈 (1355-1450). Thiền tăng đời Minh, họ Tiễn, hiệu Hải Chu, người Thường Thục (Giang Tô) Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở nhỏ tại chùa Phá Sơn núi Ngu Sơn, sớm tối xem kinh tìm tòi thật nghĩa. Đến chùa Thánh Ân, Đặng Úy, Tô Châu tham kiến Thiền Sư Thời Úy được ấn khả. Rồi đến núi Động Đình, Thái Hồ ẩn cư 29 năm. Nghe Huệ Nhật nói pháp nơi chùa Đông Minh sư liền đến yết kiến, chợt gặp lúc đèn lưu ly rớt xuống hoát nhiên đại ngộ, được ấn chứng làm truyền nhân tông Lâm Tế. Huệ Nhật tịch, sư kế tục trụ trì chùa Đông Minh. Tác phẩm: Tụng Cổ Thi. ● 普 就 (1238-1314). Thiền tăng đời Nguyên, họ Lưu, hiệu Cổ Nham, người Chân Định (nay thuộc Hà Bắc) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Túc Am, trụ trì chùa Linh Nham ở Thái An (nay thuộc Sơn Đông). Năm 1312 dời về ở Tổ đình Thiếu Lâm, được triều đình ban hiệu “Diệu Nghiêm Hoằng Pháp Đại Thiền Sư”. ● 普 應 國 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Minh Bản, sống vào đời Nguyên. X. Minh Bản. ● 富 弻 (1004-1083). Cư sĩ đời Tống, tự là Nham Quốc, người Lạc Dương (nay thuộc Hà Nam) Trung Quốc. Niên hiệu Thiên Thánh thứ 8 (1030) đỗ khoa Mậu tài loại đặc biệt được cất nhấc làm Tri giám viện. Niên hiệu Khánh Lịch thứ 3 (1043) giữ chức Khu mật Phó sứ, cùng Phạm Trọng Yêm phát triển “Khánh Lịch Tâm Chính”. Niên hiệu Chí Hòa thứ 2 (1055) nhậm chức Đồng trung thư hạ Bình chương sự chủ trương không gây chiến chỉ lo giữ thành, thời ấy gọi là Hiền tướng. Khi vua Anh Tông tức vị, ông giữ chức Khu mật sứ, phong Trịnh Quốc Công. Sau vì bất đồng chính kiến với Vương An Thạch xin lui về làm Phán quan ở Hào Châu. Nghe Thiền Sư Tụ Ngung giáo hóa ở núi Đầu Tử liền đến tham kiến, dưới lời nói ông liền tỉnh ngộ. Ông còn thỉnh Thiền Sư Tụ Ngung đến phủ để ngày đêm tham vấn. Lúc tuổi già, ông ăn chay lễ Phật tụng kinh Lăng Nghiêm mỗi ngày. Tác phẩm: Phú Trịnh Công Thi Tập. ● 浮 漚. Bong bóng nước, bọt nước. Nhà Phật thường dùng để chỉ cho đời người vô thường huyễn hóa. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “自 覺 一 生 如 幻 夢。始 知 百 歲 類 浮 漚。 – Từ khi giác ngộ cuộc đời như huyễn mộng, mới biết trăm năm như bọt nước”. ● 浮 起 門. Còn gọi: Kiến lập môn. Phương pháp kiến lập nâng đỡ, khẳng định tất cả pháp nghĩa phân biệt như: mê ngộ, chúng sinh Phật, thiện ác, dài ngắn… Đây thuộc về cơ pháp “phóng hành” (buông thả) của bậc thầy đã kiến tính dùng để tiếp hóa người học. ● 浮 石. Hiệu của Thiền tăng Thông Hiền đời Thanh. X. Thông Hiền. ● 撫 州 曹 山 本 寂 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 2 quyển, do Tào Sơn Bản Tịch soạn vào đời Đường, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 119, trang 922. Quyển thượng do Quách Ngưng Chi biên tập vào đời Minh, nội dung là Tào Sơn Bản Tịch Thiền Sư Ngữ Lục rút ra từ Ngũ Gia Ngữ Lục. Quyển hạ do Nghi Mặc Huyền Khế (Tăng nhân Nhật Bản) biên tập, thu thập Ngữ Lục của Tào Sơn còn sót lại. ● 撫 州 曹 山 元 證 禪 師 語 錄. Còn gọi: Tào Sơn Đại Sư Ngữ Lục, Tào Sơn Bản Tịch Thiền Sư Ngữ Lục, Tào Sơn Nguyên Chứng Thiền Sư Ngữ Lục, Tào Sơn Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Tào Sơn Bản Tịch soạn vào đời Đường, Chỉ Nguyệt Huệ ấn (Tăng nhân Nhật Bản) hiệu đính, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 526. Nội dung bao gồm: Hạnh nghiệp, Vấn đáp, Thị chúng Ngữ Yếu, và phần giải thích của Hạt Đạo Bản Nguyên (Đệ tử của Huệ ấn) về: ― Động Sơn Ngũ vị hiển quyết, tụng từng vị một và phân biệt lựa chọn rồi chú thích. ― Ngũ vị chỉ quyết. ― Tứ chủng dị loại ― Tam nhiên đăng v. v.. ● 輔 良 (1317-1371). Thiền tăng đời Nguyên, họ Phạm, tự Dụng Chân, Dụng Trinh, hiệu Giới Am, người huyện Ngô (nay là Tô Châu) Trung Quốc. Năm 15 tuổi, sư theo ngài Thọ Di ở viện Đồng Lý Ngưỡng Phúc xuất gia, thụ giới Cụ túc. Sau đó theo Trạch Pháp sư ở chùa Bắc Thiền tu tập Thiên Thai Giáo Quán, nghiên cứu tinh hoa của pháp môn này sư được chỗ giống như khế ngộ. Sư đến chùa Long Tường ở Nam Kinh tham vấn Thiền Sư Đại Tố. Ngài vừa gặp sư liền biết là pháp khí nên sai làm Thị giả. Một thời gian lâu, sư khế ngộ tâm pháp, nối pháp ngài thuộc tông Lâm Tế. Niên hiệu Chí Thánh thứ 2 (1342), khi ra hoằng pháp sư trụ chùa Tư Thánh ở Gia Hưng (nay thuộc Chiết Giang). Sư từng trụ trì chùa Thiên Đồng và Linh ẩn. Gặp lúc loạn lạc cuối đời Nguyên, chùa Linh ẩn cũng bị họa lây, sư bèn chặt phá gai góc, lùm bụi, kết cỏ làm nhà để người học khắp nơi có chỗ nương tựa. Mặc dù gặp buổi điêu linh nhưng sư vẫn khai thị đồ chúng, cử dương Phật pháp, dùng pháp môn Tịnh Độ làm thuyền bè đưa người qua biển khổ. ● 負 石 舂 穅. Còn gọi: Yêu Thạch Thung Mễ. Mang đá giã gạo. Câu chuyện hết lòng phục vụ chư tăng của ngài Huệ Năng trong pháp hội của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tại Huỳnh Mai. Phần Dương Ngữ Lục, q. thượng ghi: “遂 有 立 雪 斷 臂、負 石 舂 糠、遇 其 志 人、方 堪 受 旨。 – Cho nên có người đứng trên tuyết chặt tay, mang đá giã gạo. Gặp hạng người có chí khí như thế mới kham nhận yếu chỉ”. ● 負 死 尸 行. Vai mang tử thi mà tới lui. Đây là lời chê trách các vị tăng hành cước chẳng rõ tự tâm là Phật, uổng công tìm kiếm bên ngoài. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “年 登 半 百。祇 管 傍 家 負 死 屍 行。檐 却 檐 子 天 下 走。索 草 鞋 錢 有 日 在。 – Tuổi gần năm mươi, chỉ lo vác tử thi của kẻ láng giềng mà đi tới đi lui. Hết vác cái này rồi tới cái khác, chạy đi khắp nơi, có ngày bị đòi tiền giày cỏ đấy!”. ● 福 報. Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Phương, tự Hạ Nguyên, người xứ Lâm Hải (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Sư vâng lời cha mẹ đến chùa Lương Trữ Sùng Phúc ở Hàng Châu xuất gia. Khi ấy Thạch Hồ Mỹ Công trụ trì chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu vừa gặp sư liền biết là pháp khí và cạo tóc cho sư. Sau đó, sư tham Nguyên Tẩu Thụy Công, được sắp ở liêu Thị giả rồi coi sóc Tạng Kinh. Trải một thời gian lâu sư mới được ấn chứng. Sư từng trụ các chùa: Lô Sơn ở Từ Khê (nay thuộc Chiết Giang), Đông Sơn ở Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang), Trí Môn ở Tứ Minh. Đầu niên hiệu HồngVõ (1368), nhiều lần sư được triệu vào cung, đối trước vua tuyên dương thiền chỉ, được vua lưu lại kinh đô 3 năm mới cho trở về chùa Trí Môn. Sau đó sư dời đến trụ Kính Sơn. Sư mất vào năm 84 tuổi. ● 福 州 東 禪 寺. ở núi Bạch Mã, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Niên hiệu Đại Đồng thứ 5 (539) đời Lương sáng lập. Từ niên hiệu Nguyên Phong thứ 3 đến niên hiệu Chính Hòa thứ 2 (1080-1112) vua Thần Tông ra lệnh khắc in Đại tạng kinh tại chùa này, đây là mở đầu cho sự in lậu Đại tạng kinh. Trong thời gian đó, năm vị Xung Chân, Liễu Vô, Trí Hiền, Phổ Minh, Đạt Cảo lần lượt trụ trì chùa này. ● 福 州 開 元 寺. ở ngõ Kinh Viện, cửa Tỉnh Lâu, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Được xây dựng vào niên hiệu Thái Thanh thứ 2 (548) đời Lương Nam Triều, nguyên tên “Linh Sơn Tự”, từng đổi tên “Đại Vân Tự”, “Long Hưng Tự”, niên hiệu Khai Nguyên thứ 23 (735) đời Đường đổi tên là “Khai Nguyên Thiền Tự”. Vào khoảng niên hiệu Chính Hòa (1111-1117) đời Tống từng đổi làm Đạo quán, sau đó trở lại thành chùa Phật. Hiện chỉ còn Thiết Phật tháp, Linh Sơn đường, Phật hóa xã. Trong chùa có một tượng Phật A Di Đà đúc bằng sắt, nên tục gọi “Thiết Phật Tự”. Thiết Phật cao 5,3m, nặng chừng 15 tấn được đúc vào niên hiệu Nguyên Phong thứ 6 (1083) đời Bắc Tống. Con người chỉ đứng tới vai, tay không thể sờ tới đỉnh. Ngồi chắp tay xếp bằng trên tòa sen, bên ngoài phủ bùn thếp vàng, pháp tướng đoan trang nghiêm túc. Phía trước Phật có cặp đối liễn do Tằng Dị soạn: “Cổ Phật do lai giai thiết hán, phàm phu đản thuyết thị kim thân” (Cổ Phật xưa nay đều người thép, phàm phu chỉ nói là thân vàng). Ngoài ra còn có một tảng đá lớn trên khắc bài minh 62 chữ được tạo dựng vào niên hiệu Đại Quan thứ 2 (1108) đời Bắc Tống. Chùa ở tại ngõ Kinh Viện chính là nền cũ của tự viện khắc in kinh, từng khắc in Phạm bản “Tỳ Lô Đại Tạng” hơn 6000 quyển. ● 福 裕 (1203-1275). Thiền tăng đời Nguyên, họ Trương, tự Hiếu Vấn, hiệu Tuyết Đình, người xứ Văn Thủy (nay thuộc tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc. Lúc lên năm sư đã giải ngộ, mỗi ngày đọc thuộc ngàn chữ. Khi được 9 tuổi, sư nhập học đọc sách rất nhanh, người trong làng gọi sư là “Thánh Tiểu Nhi” (Thần đồng). Năm 12 tuổi, gặp lúc hoàn cảnh gia đình tan tác, sư đến tham vấn ngài Tiên Nham Hưu Lâm, chính thức cạo tóc thụ giới cụ túc, hầu hạ ngài 7 năm. Sư còn đến chùa Báo Ân ở Yên Kinh tham vấn ngài Vạn Tùng Hành Tú, được ấn khả, nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Trong 10 năm tu tập theo nơi ngài Hành Tú, nhờ học đức sâu dầy nên sư rất nổi tiếng, số người đến học với sư càng lúc càng tăng, sư sách tấn kẻ hậu học, hiển dương tông phong. Sau đó sư nhận lời mời hoằng pháp ở chùa Thiếu Lâm tại Tây Kinh, và vâng theo lời của Hoàng thái tử (tức Nguyên Thế Tổ sau này) quản lý hội Đại Tư Giới. Vào niên hiệu Định Tông thứ 3 (1248), sư vâng chiếu trụ trì thêm chùa Hòa Lâm Hưng Quốc, rất được nhà Vua tín nhiệm. Khi ấy, Đạo giáo phát triển rất nhanh ở phương Bắc, Phật giáo bị đè bẹp. Vào năm Hiến Tông nguyên niên (1251), Lý Chí Thường cho in các sách như: “Lão Tử Hóa Hồ Kinh”. Từ năm 1255 đến 1257, nhiều lần sư đã biện luận với Lý Chí Thường, Chí Thường bị thua và các ngụy kinh trong Đạo Tạng bị thiêu hủy, 237 ngôi Đạo quán được trao trả cho Phật giáo. Sư được vua ban cho hiệu “Quang Tông Chính Biện”. Sư trở về quê cũ, vâng lệnh xây dựng chùa Báo Ân, rồi liên tiếp xây cất các ngôi chùa: Hòa Lâm, Yên Kinh, Trường An, Thái Nguyên, Lạc Dương để truyền bá chính pháp. Về già, sư trở về ẩn nơi chùa Tung Sơn. ● 福 地. Nơi phát sinh phúc đức, phần lớn chỉ các tự viện. Tiết Thị Chân Ngộ Thiền nhân trong HSLNMDT q. 2 ghi: “何 因 而 發 足 超 方?何 因 而 參 訪 知 識?何 因 而 履 名 山、登 福 地、穿 叢 林、入 保 社? – Nhân đâu mà cất bước du phương? Nhân đâu mà tham phỏng bậc thiện tri thức? Nhân đâu mà bước đến danh sơn, lên phúc địa, vào tùng lâm, nhập bảo xã?”. ● 福 田 (thế kỷ XIX). X. An Thiền. ● 覆 護. Che chở. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “大 權 菩 薩 覆 護 眾 生。 – Đại quyền Bồ Tát che chở chúng sinh”. ● 福 慧 (1869-1945). Danh tăng cận đại, tên Nguyễn Tấn Giao, người làng Phú Thành, phủ An Nhân (nay là ấp Phú Thành, xã Nhân Thành, huyện An Nhân, tỉnh Bình Định), miền Trung Việt Nam. Năm 12 tuổi, sư được cha mẹ cho phép xuất gia tại chùa Thập Tháp, thụ giới với Hòa Thượng Chí Tịnh (Minh Lý), được ban pháp hiệu là Phúc Huệ. Ít lâu sau, sư theo học với Hòa Thượng Từ Mẫn. Năm 19 tuổi trở về giữ chức Thủ khố của chùa Thập Tháp. Năm 20 tuổi sư theo học với Hòa Thượng Luật Truyền ở Phú Yên. Sư thọ đại giới năm 1889 và đắc pháp năm 1892 với Hòa Thượng Luật Truyền. Khi bản sư viên tịch, sư trở về Tổ đình Thập Tháp thọ tang rồi ở lại học với sư huynh là Tăng cang Vạn Thành vừa mới được suy cử làm tân trụ trì Tổ đình này. Sau 10 năm chuyên tâm tu học, phát huy đạo tâm và trí huệ sẵn có, sư đã bác thông kinh điển, Bách gia chư tử và có khả năng giáo hóa nhuần nhuyễn, đạo vị vào bậc nhất thời bấy giờ, nên người đời trân tặng mỹ hiệu “Phật pháp thiên lý câu” (Con ngựa tinh thông Phật pháp chạy được ngàn dặm). Năm 1894, sư trụ trì chùa Phổ Quang ở huyện Tuy Phúc (nay ở xã Phướng Thuận). Năm 1901, sư được triều đình ban cho giới đao và độ điệp làm Tăng cang chùa Thập Tháp. Năm 1908, sư được mời ra Hoàng cung thuyết pháp, đồng thời cũng để khai giảng một khóa giảng kinh tại chùa Trúc Lâm. Các vua Thành Thái, Duy Tân và Khải Định đều mời sư vào cung thuyết pháp nên được triều đình, sơn môn đồ chúng tôn xưng Quốc sư. Năm 1920, Quốc sư mở các lớp nội điển tại chùa Thập Tháp và Long Khánh. Năm 1929 làm chủ giảng tại chùa Trúc Lâm ở Huế. Năm 1932, Quốc sư cùng các bậc Tôn túc ở đất Thần kinh thành lập hội An Nam Phật Học và xuất bản tờ báo Viên Âm, cổ xúy phong trào chấn hưng Phật giáo. Nhiều Phật học đường từ Tiểu học đến Đại học được mở ở các chùa Trúc Lâm, Tây Thiên, Kim Sơn, Báo Quốc, Diệu Đức v. v… Năm 1937, Quốc sư kế tục trụ trì chùa Thập Tháp. Từ đó, Quốc sư ở hẳn tại Bình Định làm Đốc giáo cho lớp Trung đẳng mở tại chùa Long Khánh. Quốc sư là cây đại thụ của nền Phật giáo không chỉ ở Trung kỳ, mà còn tỏa bóng xuống phần đất Nam kỳ nữa. Sau khi Quốc sư thị tịch, Hòa Thượng Trí Hải trụ trì chùa Bích Liên Bình Định đề 4 câu thơ tại tháp của Quốc sư như sau: “Nguy nhiên nhất cao tháp Độc tọa Đồ Bàn đông Ngoại thị hữu vi tướng Trung tàng Vô tướng Ông”. “Cao thay một ngọn tháp Độc chiếm đông Đồ Bàn Ngoài bày hữu vi tướng Trong ẩn vô tướng Ông”. ● 福 毅 (1710-1795). Thiền tăng đời Thanh, họ Lý,tự Mẫn Tu, người xứ Vũ Xương, Hồ Bắc, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thạc Am Hạnh Tải, đời thứ 39 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Tiêu Sơn. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 福 業. Hành vi, lời nói và ý niệm tốt lành khả dĩ mang đến phúc báo. Nhà thiền chẳng tán thành lý luận nhân quả báo ứng này, mà cho rằng cần phải minh ngộ bản tính mới có thể siêu thoát sinh tử. Chương Long Thọ Tôn Giả trong CĐTĐL q. 1 ghi: “後 至 南 印 度。彼 國 之 人 多 信 福 業。聞 尊 者 爲 說 妙 法 遞 相 謂 曰:人 有 福 業 世 間 第 一。徒 言 佛 性 誰 能 睹 之。尊 者 曰:汝 欲 見 佛 性 先 須 除 我 慢。彼 人 曰:佛 性 大 小。尊 者 曰:非 大 非 小 非 廣 非 狹。無 福 無 報 不 死 不 生。彼 聞 理 勝 悉 迴 初 心。 – Về sau sư đến nam ấn Độ, người dân nước đó phần đông tin phúc nghiệp, nghe tôn giả nói về diệu pháp, họ thưa với ngài rằng: Người tạo phúc nghiệp là đứng nhất thế gian, Thầy nhọc công nói Phật tính, ai có thể thấy được? Tôn giả nói: Ngươi muốn thấy Phật tính, trước cần trừ ngã mạn. Họ liền hỏi: Phật tính lớn hay nhỏ? Tôn giả đáp: Không lớn không nhỏ, không rộng không hẹp, không phúc không báo, chẳng tử chẳng sinh. Họ được nghe lý thù thắng, thảy đều hồi tâm”. ● 福 嚴 寺. Nằm dưới đỉnh Trịch Bát, núi Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Vào niên hiệu Quang Đại thứ 1 (567) đời Trần Nam Triều, Huệ Tư sáng lập chùa này, ban đầu gọi là “Bát Nhã Tự”, còn gọi “Bát Nhã Đài”. Niên hiệu Khai Nguyên thứ 1 (713) đời Đường, Nam Nhạc Hoài Nhượng mở rộng chùa thành đạo tràng, tuyên dương học thuyết đốn ngộ của Lục Tổ Huệ Năng, nên còn gọi là “Thiên Hạ Pháp Viện”. Khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-983) đời Tống đổi tên là “Phúc Nghiêm Tự”, sau đó bị phá hủy. Niên hiệu Đồng Trị thứ 9 (1870) đời Thanh xây cất lại, đứng đầu trong sáu Đại tùng lâm ở Nam Nhạc. Tấm biển ở sơn môn là “Thiên Hạ Pháp Viện”, hai bên có cặp đối liễn: “Lục triều cổ sát, thất Tổ đạo tràng” (chùa cổ của sáu Triều, đạo tràng của bảy Tổ). Trên trụ đá trước nhà Tri khách có cặp đối liễn: “Phúc Nghiêm vi Nam Sơn đệ nhất cổ sát, Bát Nhã thị Lão Tổ bất nhị pháp môn” (Phúc Nghiêm là chùa cổ hạng nhất ở Nam Sơn, Bát Nhã là pháp môn bất nhị của Lão Tổ). Trong chùa có Nhạc thần điện, Phương trượng thất, Tổ đường, Liên trì đường, Hữu thiền đường, Tả trai đường, Vân thủy đường, Tàng kinh các, Pháp đường, kiến trúc mộc mạc thanh nhã mang đậm màu sắc hương vị cổ xưa. ● 福 遇 (1245-1313). Còn gọi: Phất Ngộ. Thiền tăng đời Nguyên, họ Vương, tự Hoàn Nguyên, người đời gọi là Hoàn Nguyên Phúc Ngộ Thiền Sư, người xứ Linh Thạch, Hoắc Châu (nay thuộc Sơn Tây) Trung Quốc. Sư cạo tóc ở chùa Đâu Suất tại ấp nhà, rồi dạo khắp các pháp hội, hùng biện như thác đổ. Sau đó sư đến Thiếu Thất tham vấn Thiền Sư Văn Thái, được ấn khả, nối pháp ngài thuộc tông Tào Động. Đầu tiên sư hoằng pháp ở chùa Thiên Khánh. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 26 (1289) sư dời đến chùa Bảo ứng ở Tây Kinh. Niên hiệu Nguyên Trinh thứ 1 (1295), sư kế vị trụ trì Thiếu Thất. Niên hiệu Chí Đại thứ 4 (1311) sư lui về ở ẩn tại chùa Bạch Mã, Lạc Dương. ● 福 勝 塔. Nằm trong khuôn viên Phúc Thắng thiền viện thuộc Nguyên Khai Bảo Tự, thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Là tháp gỗ hình bát giác 13 tầng cao 360 thước Tàu, quy mô cao lớn, được gọi là “Từ khi Phật pháp truyền vào Trung Quốc chưa hề có”. Tương truyền đỉnh tháp phóng quang, nên niên hiệu Đại Trung Tường Phù thứ 6 (1013) đổi tên là “Linh Cảm Tháp”. Niên hiệu Khánh Lịch thứ 4 (1044) tháp bị hủy bởi sấm sét. Niên hiệu Hoàng Hựu thứ 1 (1049) xây dựng lại tức là tháp sắt ngày nay. ● 復. Là phó từ nghi vấn, tương đương với “cứu cánh, rốt cuộc”. Tiết Cửu Phong Đạo Kiền Thiền Sư trong NĐHN q. 6 ghi: “問:祖 祖 相 傳、復 傳 何 事?師 曰:釋 迦 慳、迦 葉 富。 – Hỏi: Tổ Tổ truyền nhau, rốt cuộc truyền cái gì? Sư đáp: Thích Ca keo kiệt, Ca Diếp giàu có. “ ● 復 仁 (1889-1973). Tăng nhân hiện đại, họ Vương, người Đại Bộ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tuổi trẻ đi kinh doanh ở Thái Lan. Đến năm 33 tuổi, sư theo Hòa Thượng Lô Quảng ở chùa Cam Lộ tại Bangkok xuất gia. Sau khi về nước, sư thụ giới Cụ túc tại chùa Thiên Đồng ở Ninh Ba, rồi đi hành hương các núi: Phổ Đà, Ngũ Đài. Sư từng tham học tại các đại tùng lâm như: Ngũ Đài Sơn, Cao Mân tự, Trường Sinh Tự, Kim Sơn Tự, Tiêu Sơn, Dũng Tuyền Tự và thọ giáo các vị như: Giới Thừa, Huệ Minh, Lai Quả, ấn Quang. Năm 1931, sư đến chùa Dũng Tuyền ở Phúc Châu nương Hư Vân Lão hòa thượng. Năm kế, vâng lời ngài đến Quảng Đông quyên góp lương thực, rồi sang Bangkok quyên góp, được tín chúng nơi đây ủng hộ, mời sư trụ trì chùa Long Hoa. ở đấy vài năm sư làm hưng thịnh Thiền Tông. Năm 1938, sư về nước nối pháp Hòa Thượng Hư Vân, thuộc tông Tào Động đời thứ 48. Năm 1948, sư sang HongKong, xây dựng thiền viện Pháp Lâm ở núi Đại Dư, mỗi năm đều mở thiền thất đạo tràng. Năm 1965, sư trụ trì nhiệm kỳ đầu của “Hư Vân Hòa Thượng Kỷ Niệm Đường” tại núi Phù Dung. Năm 1973, sư thị tịch tại HongKong. ● 逢 掖. Còn gọi: Phùng y. Nho sĩ. Tức chiếc áo rộng nách mà các nho sĩ thời xưa hay mặc, sau biến thành thuật ngữ chỉ cho nho sĩ. Tiểu truyện Thiền Sư Thuần Chân trong TUTA ghi: “少 明 經 史。所 至 之 處 逢 掖 輩 爭 先 從 之。 – Sư thuở nhỏ thông thạo kinh sử, đi đến đâu bọn nho sĩ cũng tranh nhau theo về. “ ● 逢 佛 剎 佛. Gặp Phật giết Phật. Thiền Sư dùng từ này để phá trừ kiến giải chấp thật của đương cơ, chẳng cho họ trụ vào khái niệm, hình tướng của Phật. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “逢 佛 殺 佛。逢 祖 殺 祖。逢 羅 漢 殺 羅 漢。逢 父 母 殺 父 母。逢 親 眷 殺 親 眷。始 得 解 脱。 – Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán giết La Hán, gặp cha mẹ giết cha mẹ, gặp bà con họ hàng giết bà con họ hàng thì mới được giải thoát”. ● 逢 場 作 戲. Gặp sân khấu liền đóng trò. CĐTĐL q. 6 ghi: “竿 木 隨 身 逢 場 作 戲。 – Cây gậy đem theo bên mình, gặp sân khấu liền đóng trò”. ● 奉 馬. Dâng ngựa. Thiền Tông mượn từ này để chỉ việc âm thầm khế hợp, tương ưng. X. Tiên Đà Khách. Thung Dung Am Lục q. 1 ghi: “不 見 雪 竇 道:眾 中 若 有 仙 陀 客、何 必 文 殊 不 下 槌?點 檢 將 來、雪 竇 不 合 索 鹽、萬 松(系 從 容 庵 錄 作 者 之 法 號)那 堪 奉 馬? – Chẳng thấy Tuyết Đậu nói: Trong chúng nếu có Tiên Đà Khách, đâu nhọc Văn Thù đánh một dùi! Xét kỹ lại, Tuyết Đậu chẳng nên tìm muối, Vạn Tùng (pháp hiệu của tác giả Thung Dung Am Lục) đâu kham dâng ngựa?”. ● 福. Tất cả những mục từ bắt đầu bằng chữ 福 xin xem dưới vần Phúc. ● 方 辯. Thiền tăng đời Đường, họ Phương tên Biện, pháp hiệu Thất Tra, người Tây Thục (Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng khi Tổ về già, thuộc Thiền Tông Nam tông đời thứ 2. Sau khi Lục Tổ thị tịch, sư trở về Tứ Xuyên hoằng pháp. ● 方 融. Hiệu của Thiền tăng Như Tỉ, đời Thanh. X. Như Tỉ. ● 方 會 (992-1049). Thiền tăng đời Tống, là Tổ phái Dương Kỳ tông Lâm Tế, họ Lãnh, người Nghi Xuân, Viên Châu (Giang Tây), Trung Quốc. Thuở niên thiếu sư thông minh lanh lợi, lớn lên không thích theo nghề viết lách. Sau vì nguời khác nắm chức thu thuế, bị mất chức còn mang tội, lén trốn qua núi Cửu Phong, Quân Châu (Cao An, Giang Tây) cạo tóc làm tăng. Sư đến Đàm Châu (Trường Sa, Hồ Nam) tham kiến Thạch Sương Sở Viên giữ chức Giám viện, sau khi đắc pháp sư giả từ trở về núi Cửu Phong, lại đến núi Dương Kỳ trụ trì Thiền viện Phổ Thông mở mang thiền phong, người đời gọi là Dương Kỳ Phương Hội. Niên hiệu Khánh Lịch thứ 6 (1046) sư ở chùa Hải Hội, núi Vân Cái, Đàm Châu. Chủ trương đạo xuất phát từ thường tình, xem tất cả hoạt động thế tục là diệu đạo cầu giải thoát, xiển dương lý mầu “Chư Phật ba đời ở nơi ông, chuyển đại pháp luân dưới gót chân mỗi người”. Ngôn hạnh của sư được biên tập làm Dương Kỳ Phương Hội Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển, “Hậu Lục” 1 quyển. Pháp hệ này gọi là “Phái Dương Kỳ”. Đệ tử nối pháp có 13 người: Thủ Đoan, Nhân Dũng v. v… ● 方 木 逗 圓 孔. Dùng cây vuông tra vào lỗ tròn, dụ cho phương pháp sai lầm, không cách nào đạt đến mục đích. Phật Quả Ngữ Lục q. 2 ghi: “言 句 上 作 解 會、泥 理 洗 土 块;不 向 言 句 上 會、方 木 逗 圓 孔。 – Nhờ lời nói mà hiểu biết thì như rửa đất trong bùn, không nhờ lời nói mà hiểu biết thì như cây vuông tra vào lỗ tròn”. ● 方 外. 1. Chỉ nơi ngoài cõi thế tục, tức nơi non cao rừng thẳm xa hẳn chốn thị tứ phồn hoa. Tiết Phổ An Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “於 百 丈 門 下 得 旨。後 聞 天 台 勝 概、聖 賢 間 出、思 欲 高 蹈 方 外、遠 追 遐 躅、 – Sư đắc pháp tại đạo tràng của Bách Trượng Hoài Hải. Về sau nghe cảnh tượng núi Thiên Thai đẹp đẽ, thánh hiền thường hiện ra nơi đó bèn có ý muốn dẫm chân cõi xa ngoài thế tục, để tìm dấu vết thánh hiền thuở trước. “ Bài Phóng Cuồng Ngâm trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 天 地 渺 望 兮 何 茫 茫 杖 策 優 游 兮 方 外 方 Trời đất thoáng trông chừ sao mênh mang Chống gậy rong chơi chừ ngoài cõi thế. 2. Ngoài thế giới. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “納 須 彌 於 芥 中、擲 大 千 於 方 外。 – Nhét núi Tu Di vào trong hạt cải, ném cõi đại thiên ra ngoài thế giới. “ ● 方 外 友. Người bạn đạo đã thoát vòng trần lao, không phân biệt tại gia hay xuất gia. Tiết Sở Thạch Hòa Thượng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 20 ghi: “翰 林 學 士 宋 公 景 濂、危 公 大 朴、與 師(指 梵 琦 禪 師)爲 方 外 友。 – Hàn lâm học sĩ Tống công Cảnh Liêm, Nguy công Đại Phác cùng sư (chỉ Thiền Sư Pham Kỳ) làm Phương ngoại hữu”. ● 方 喦. Hiệu của Thiền tăng Vân Tụ, đời Nguyên. X. Vân Tụ. ● 方 念 (1510-1594). Thiền tăng đời Minh, họ Dương, tự Từ Chu, hiệu Thanh Lương, người Đường huyện (Hà Bắc), Trung Quốc. Năm 10 tuổi xuất gia, sư ban đầu nghiên cứu tông chỉ tính tướng, thường bị bệnh bức bách nên hâm mộ thiền pháp, liền đến Thiếu Thất tham kiến Thiền Sư Thường Nhuận. Thường Nhuận thấy sư nói năng hòa nhã nên cho làm Duy Na. Ngày nọ đi đến chỗ Sơ Tổ ngồi nhìn vào vách, bỗng nhiên khế ngộ, bèn được Thường Nhuận ấn chứng, làm truyền nhân tông Tào Động. Lúc 28 tuổi sư vào Ngũ Đài bế quan khổ tâm tham cứu. Ngày ăn một bữa, đêm chỉ tọa thiền. Theo lời thỉnh, sư trụ trì chùa Đại Thiện, Thiệu Hưng (Chiết Giang) thượng đường nói pháp làm kinh ngạc mọi người, tiếng tăm lẫy lừng. Lần lượt trụ trì các chùa Đông Tháp, Vân Cư, Viên Thông v. v… dời sang chùa Đại Giác ở Kinh Sư. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 22 (1594) sư tịch tại núi Ngũ Đài. ● 方 廣 寺. Dưới ngọn Liên Hoa, Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Xây dựng vào niên hiệu Thiên Giám thứ 2 (503) đời Lương Nam Triều, đời Đường gọi là “Phương Quảng Thánh Thọ Tự”, đầu đời Tống gọi là “Phương Quảng Sùng Thiền Tự”. Huệ Hải là một trong 18 cao tăng Nam Nhạc từng lấy nơi đây làm đạo tràng. Từ đây về sau nhiều lần hư phế nhiều lần tu sửa. Vào đời Minh, Hòa Thượng Khiết Không trùng tu, cất nhà ván lợp ngói sắt. Hơn 100 năm sau đến niên hiệu Sùng Trinh thứ 1 (1628) đời Minh, Vương Phù Chi lại bỏ tiền ra tu sửa. Kiến trúc chủ yếu hiện còn trong chùa là Chính điện, Tổ sư đường. Sự thâm u của Phương Quảng Tự là một trong “Nam Nhạc tứ tuyệt”. ● 方 册 因 緣. Cơ duyên ngữ cú trên sách vở. Tiết Đạo Trường Minh Biện Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “佛 眼 問:從 上 祖 師 方 冊 因 緣、許 你 會 得。忽 舉 拳 曰:這 箇 因 何 喚 作 拳? – Phật Nhãn nói: Những cơ duyên ngữ cú trên sách vở của Tổ sư xưa kia, tôi nhận là ông hiểu được. Sư chợt giơ nắm tay lên, hỏi: Cái này do đâu mà gọi là nắm tay?”. ● 方 寸. Tâm tính. Lạc Đạo Ca của Hòa Thượng Đằng Đằng trong TĐT q. 3 ghi: “八 萬 四 千 法 門、至 理 不 離 方 寸。不 要 廣 學 多 聞、不 在 辯 才 聰 隽。識 取 自 家 城 廓、莫 謾 游 他 州 郡。 – Chí lý của 84. 000 pháp môn không rời tâm tính. Chẳng cần học rộng nghe nhiều, chẳng chuộng biện tài sâu sắc. Chỉ cần biết dùng kho báu nhà mình, chớ dối rong chơi khắp chốn”. ● 方 寸 禪. Thiền pháp chỉ thẳng tâm người. Tông Môn Võ Khố ghi: “法 會 杲 和 尚 後 出 世 時、上 堂、小 參、常 謂 人 曰:和 尚 紹 聖 三 年 十 一 月 二 十 一 日 悟 得 方 寸 禪。 – Hòa Thượng Pháp Hội Cảo sau khi trụ tùng lâm giáo hóa, lúc thượng đường, tiểu tham, thường bảo mọi người rằng: Vào ngày 21 tháng 11 niên hiệu Thiệu Thánh thứ 3 (1096) Hòa Thượng ngộ được Phương thốn thiền”. ● 方 澤. Thiền tăng đời Minh, họ Nhậm, tự Vân Vọng, hiệu Đông Khê, Vô Tham, người Gia Thiện (Chiết Giang), Trung Quốc. Vào chùa Tinh Nghiêm ở Tú Thủy (Gia Hưng, Chiết Giang) sư cạo tóc làm tăng, thông nội điển, có giới hạnh. Yết kiến Đạo Tế chùa Thiên Ninh. Một hôm nhân xem công án Thiên Vương, đọc đến câu “chỗ nào chẳng chỉ bày tâm yếu” sư liền hoát nhiên tỉnh ngộ, được Đạo Tế ấn khả. Khi ra hoằng pháp pháp sư trụ trì chùa Tích Nghiêm, về già lui về ở tinh xá Tú Thủy. Bẩm tính thông minh, ngày có thể tụng hơn vạn lời kệ, hạ bút là văn tự tuôn chảy. Tác phẩm: Hoa Nghiêm Yếu Lược 2 quyển, Đông Khê Nội Ngoại Tập 8 quyển. ● 方 丈. 1. Còn gọi: Phương Trượng Thất, Trượng Thất, Hàm Trượng, Chính Đường. Căn phòng của vị Trụ trì tự viện. Như Tịnh Ngữ Lục, q. hạ ghi: “方 丈、橫 一 丈、縱 一 丈。文 殊、維 摩、隔 壁 抓 痒。 – Phương trượng, chiều dài chiều ngang một trượng. Văn Thù, Duy Ma cách vách gãi ngứa”. ● 2. Lời chư tăng gọi vị Trụ trì. Tông Môn Võ Khố ghi: “撫 州 明 水 遜 禪 師、在 法 雲 侍 者 寮 時、道 林 琳 禪 師 掛 搭。方 丈 特 爲 新 到 茶、遜 躬 至 寮 請 之。 – Thiền Sư Minh Thủy Tốn tại Phủ Châu, lúc còn ở liêu thị giả của chùa Pháp Vân, có thiền sư Đạo Lâm Lâm đến chùa xin tạm trú. Vị Trụ trì muốn Đạo Lâm Lâm đến uống trà nên sai Tốn đến liêu của khách để mời”. ● 果. 1. Kết quả, đối lại với “nhân”, chỉ cho sự báo ứng lành dữ của hành vi thiện hay ác. ● 2. Giai vị giác ngộ của người tu theo đạo Phật. Chương Ma Ha Ca Diếp, Tổ thứ 1 trong CĐTĐL q. 1 ghi: “時 阿 難 爲 漏 未 盡不 得 入 會。後 證 阿 羅 漢 果。由 是 得 入。 – Khi ấy A Nan vì chưa dứt hết phiền não nên không được vào hội, sau đó Ngài chứng được quả A La Hán, nhờ đó được vào”. ● 3. Phó từ, nghi vấn, để nhấn mạnh ngữ khí cho câu văn, tương đương với từ: cứu cánh, đáo để (Rốt cuộc). Tử Bá Lão Nhân Tập q. 1 ghi: “心 悟、則 無 塞 而 通;心 迷、則 無 近 而 不 遠 也。鳴 呼!心 果 何 物 乎?能 使 人 爲 聖 人、又 能 使 人 爲 眾 人。 – Ngộ được tâm này thì không có chỗ trệ ngại nào mà chẳng thông; còn mê tâm này thì mọi chỗ gần đều thành xa. Than ôi! Rốt cuộc tâm là vật gì? Lại có năng lực khiến người làm Thánh nhân, cũng có năng lực khiến người làm phàm phu”. ● 過. Giao, đưa. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “僧 問 國 師。如 何 是 本 身 盧 舍 那。國 師 云。與 老 僧 過 淨 瓶 來。 – Tăng hỏi Quốc sư: Thế nào là bản thân Tỳ lô xá na? Quốc sư bảo: Hãy đưa tịnh bình cho ta. “ ● 過 手. Chìa tay ra. Tào Sơn Ngữ Lục ghi: “師 曰:過 手 來。僧 過 手。乃 點 指 曰:一 二 三 四 五、足! – Sư nói: Hãy chìa tay ra. Tăng chìa tay ra. Sư bèn đếm ngón tay nói: Một, hai, ba, bốn, năm. Đủ!” ● 過 朝 夕. Sống. Tiết Linh Tuyền Quy Nhân Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “問:如 何 是 靈 泉 活 計?師 曰:東 壁 打 倒 西 壁。曰:憑 箇 甚 麼 過 朝 夕。師 曰:折 腳 鐺 子 無 煙 火。 – Hỏi: Thế nào là gia sản của Linh Tuyền? Sư nói: Trong nhà không có một vật. Hỏi: Dựa vào cái gì để sống? Sư nói: Bẻ gãy chân cái chõ không còn khói lửa. “ ● 郭 朋 (1920-1990). Học giả Phật giáo hiện đại, người Đường Hà, Hà Nam, Trung Quốc. Thuở bé vì nghèo khó mà làm tăng, về sau lớn lên đi theo cách mạng. Sau giải phóng (1-10- 1949) ông nhậm chức Phó bí thư Hiệp hội Phật Giáo Trung Quốc, Phó giáo sư viện Nghiên cứu sinh thuộc viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Nghiên cứu viên Sở Nghiên cứu Tôn giáo Thế giới thuộc viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Nhiều năm theo đuổi nghiên cứu lịch sử tư tưởng Phật giáo Trung Quốc, ông siêng năng nghiên cứu học thuật thành tựu nổi bật; trong giới học thuật gọi ông là “Chàng Ba liều mạng”. Tác phẩm: ― Đàn Kinh Hiệu Thích ― Đàn Kinh Đối Khám ― Đàn Kinh Đạo Độc ― Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều Phật Giáo ― Tùy Đường Phật Giáo ― Tống Nguyên Phật Giáo ― Minh Thanh Phật Giáo ― Trung Quốc Phật Giáo Tư Tưởng Sử ― Trung Quốc Phật Giáo Sử Lược. ● 廓 落. Rỗng lặng. Như Tịnh Ngữ Lục ghi: 妙 淨 淨 時 解 活 計 露 堂 堂 處 有 家 風 須 知 脫 體 卓 然 道 廓 落 圓 通 是 箇 宗 “Diệu tịnh tịnh thời giải hoạt kế Lộ đường đường xứ hữu gia phong Tu tri thoát thể trác nhiên đạo Quách lạc viên thông thị cá tông”. “Lúc diệu lặng lặng biết kế sống Chỗ bày lồ lộ có gia phong Cần hay toàn thể đạo tuyệt vời Rỗng lặng viên thông là Thiền Tông”. ● 廓 然. Rỗng rang. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “梁 武 帝 問 達 磨 大 師:如 何 是 聖 諦 第 一 義?磨 云:廓 然 無 聖。 – Lương Võ Đế hỏi Đại sư Đạt Ma: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Đại sư đáp: Rỗng rang không thánh”. ● 廓 巿. Thành thị. Quách: vùng ngoại thành. Tiết Tăng Xán trong TĐT q. 2 ghi: “或 處 山 林、或 居 廓 市 – Hoặc ở núi rừng, hoặc ở thành thị”. ● 廓 徹. Rỗng lặng thấu suốt. Tiết Nghệ ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “到 得 心 路 絕 處、廓 徹 無 依、則 人 法 雙 亡、心 境 俱 捐。 – Đến được chỗ đường tâm bặt, rỗng lặng thấu suốt không nương gá thì nhân pháp đều mất, tâm cảnh đều quên”. ● 怪 差. Quái gở, lạ lùng. Mật Am Ngữ Lục ghi: 生 鐵 鑄 牛 頭。牽 犁 還 拽 杷 智 者 笑 忻 忻。愚 人 驚 怪 差 “Sinh thiết chú ngưu đầu Khiên lê hoàn duệ bả Trí giả tiếu hân hân Ngu nhân kinh quái sai”. “Sắt sống đúc thành trâu Kéo cày còn kéo bừa Người trí hớn hở cười Kẻ ngu ngại quái gở”. ● 掛 鉢. Còn gọi: Quải Đáp, Quải Đơn. Treo bát, tức là thiền tăng ăn cơm cháo xong, treo bát của mỗi người vào cái móc phía sau giường ngủ (đơn). Nghĩa bóng là nương ở nhờ nơi thiền viện. Phần Phó Chúc Phạn trong Thiền Uyển Thanh Quy (Vạn Tục 111, 441 hạ) ghi: “念 食 訖 偈 (中 略)、住 持 人 出、起 身 掛 鉢、令 掛 搭 單 齊 整。 – Niệm bài kệ ăn cơm xong (…), Trụ trì bước ra ngoài nhón người lên treo bát, khiến đại chúng đều treo bát ngay ngắn”. ● 挂 鉢 囊. Treo túi bát. Lúc vị tăng hành cước qua các thiền hội, có mang theo túi và bát. Khi đến ngụ tại một thiền viện nào đó thì treo túi và bát lên móc trong Tăng đường. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc tham học đã xong. Tắc 20, Thung Dung Lục (Đại 48, thượng) ghi: “舉 步 踏 著、便 可 高 掛 鉢 囊、拗 折 拄 杖。 – Dẫm lên đất chân thật, liền có thể treo cao túi bát, bẻ gãy cây gậy”. ● 掛 瓶 杯. Chỉ cho tăng nhân hành cước dừng lại nghỉ ngơi một nơi nào đó. Bình bôi là đồ đựng thức ăn nước uống của tăng nhân hành cước. Tiết Đầu Tử Nghĩa Thanh Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “孤 村 陋 店、莫 挂 瓶 杯。 – Thôn xóm vắng vẻ, quán trọ rách nát chớ nên dừng lại nghỉ ngơi. “ ● 掛 羊 頭 賣 狗 肉. Treo đầu dê bán thịt chó. Theo Nội Thiên Tạp Hạ trong Án Tử Xuân Thu: Treo đầu trâu ở cửa mà bán thịt ngựa ở bên trong. Đời sau đổi “Ngưu đầu” thành “Dương đầu”, đổi “Mã nhục” thành “Cẩu nhục” rồi viết thành “Quải dương đầu, mại cẩu nhục” để ví với hành vi lừa đảo lấy giả làm thật, trong ngoài không thống nhất. Vô Môn Quan (Đại 48, 293 hạ) ghi: “黃 面 瞿 曇、傍 若 無 人、壓 良 爲 賤、懸 羊 頭 賣 狗 肉。將 謂 多少 奇 特。 – Ông già mặt vàng không coi ai ra chi, ép tốt thành xấu, treo đầu dê bán thịt chó, tưởng đâu là hay lắm!”. ● 挂 單. Quải là ở đậu, đơn là đơn vị. Tất cả vật dụng của tòng lâm thuộc về một vị tăng là 1 đơn vị. ở đậu một ngày thì làm chủ tòng lâm một ngày. ở đậu 10 năm thì làm chủ tòng lâm 10 năm. ● 掛 人 唇 齒. Bị người nghị luận. Mật Am Ngữ Lục ghi: “乾 峰 搖 頭。雲 門 擺 尾。亘 古 亘 今。掛 人 唇 齒。 – Kiền Phong lắc đầu, Vân Môn vẫy đuôi, từ xưa đến nay bị người nghị luận. “ ● 挂 唇 齒. Chỗ tiếp giáp giữa môi và răng, tức là nướu răng. Chỗ này thì chẳng thể nuốt vật gì. Thiền Tông dùng từ này để tỷ dụ nếu câu nệ vào lời nói của người khác thì chẳng thể hiểu được ý nghĩa chân thật của lời nói ấy. Bích Nham Lục (Đại 48, 283 trung) ghi: “疎 山 到 溈 山 便 問:承 師 有 言、有 句 無 句、如 藤 倚 樹(挂 入 唇 齒)。 – Sơ Sơn đến Quy Sơn liền hỏi: Nghe Sư có dạy lời rằng: Câu Hữu câu Vô như bìm leo cây (Câu nệ vào lời nói của người thì sẽ không hiểu được ý nghĩa chân thật của lời nói ấy)”. ● 挂 唇 吻. Liên quan tới ngôn từ giảng thuyết. “Nghệ Ngôn” trong NHQL q. 29 ghi: “少 室 心 印、豈 落 文 彩?古 人 聊 爲 接 引 之 計、始 挂 唇 吻、然 皆 渾 朴 簡 直、刻 的 示 人、非 夸 會 逞 能、外 飾 觀 美 而 已 也。 – Tâm ấn Thiếu Thất há câu nệ vào việc trau chuốt lời nói câu văn? Người xưa tạm vì kế tiếp dẫn mà mượn lời nói, nhưng đều hồn hậu chất phác, ngắn gọn chuẩn xác và trong sáng để dạy người, chẳng phải khoe hiểu khoe tài, bên ngoài trang sức coi đẹp mà thôi. “ ● 掛 錫. Còn gọi: Lưu Tích, Quải Đáp. Treo tích trượng. Thuở xưa, các vị tăng hành cước tham học khắp nơi đều mang theo tích trượng. Khi vào thiền viện, nếu được hứa cho tạm ngụ thì treo tích trượng vào cái móc ở trên vách. Bài thơ của Thượng thư Đoàn Văn Khâm tặng Thiền Sư Quảng Trí (Việt Nam) ghi: 掛 錫 危 峯 罷 六 塵 默 居 幻 夢 問 浮 雲 殷 勤 無 計 參 澄 什 索 絆 簪 纓 在 鷺 群 “Quải tích nguy phong bãi lục trần Mặc cư huyễn mộng vấn phù vân Ân cần vô kế tham Trừng Thập Sách bạn trâm anh tại lộ quần”. “Tạm ngụ non cao bỏ sáu trần ở yên huyễn mộng hỏi phù vân Ân cần không cách tham Trừng Thập Quan tước triều đình trót vướng chân”. -Quải tích còn chỉ cho vị Trụ trì đảm nhiệm một ngôi chùa nào đó. Tiết Không Thất Trí Thông Đạo Nhân trong NĐHN q. 18 ghi: “後 爲 尼、名 惟 久、挂 錫 姑 蘇 之 西 竺。 – Về sau, cô xuất gia làm ni tên Duy Cửu, trụ trì chùa Tây Trúc thuộc Cô Tô”. ● 掛 子. Áo mặc ngoài. Tiết Quốc Hoan Văn Củ Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “後 謁 萬 歲 塔 譚 空 禪 師 落 髮、不 披 袈 裟、不 受 具 戒、唯 以 雜 綵 爲 挂 子。 – Về sau yết kiến Thiền Sư Đàm Không nơi tháp Vạn Tuế xuống tóc nhưng không mặc cà sa, không thọ giới cụ túc, chỉ mặc áo ngoài nhiều màu. “ ● 官 不 容 針 私 通 車 馬. Pháp luật nghiêm minh, tra xét kỹ càng cho đến cây kim cũng không lọt, nhưng vì tình cảm thiên vị mà ngựa xe vẫn lọt qua cửa khẩu, qua chốt kiểm tra như thường. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho thiền sư khi tiếp dẫn người học có thể tùy cơ ứng vật mà dùng nhiều phương thức khác nhau. NĐHN q. 20 ghi: “雖 然 如 是、官 不 容 針、私 通 車 馬。放 一 線 道、有 箇 葛 藤 處。 – Dù như thế, vẫn phải dùng nhiều phương thức tiếp dẫn người học,mở một con đường có chỗ cho ngôn ngữ văn tự”. NĐHN q. 19 ghi: “官 不 容 針、更 借 一 問。 – Khi tiếp dẫn người học cần dùng nhiều phương thức, lại còn mượn một câu hỏi”. ● 關 捩 子. Gọi tắt: Quan liệt (chữ Liệt cũng viết〖⿰木戾〗). Chỗ chí cực vi diệu của thiền cơ, điểm then chốt của sự lý. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “謂 之 無 事。不 是 拍 盲 便 道 無 事。須 是 透 過 關 捩 子。出 得 荊 棘 林。淨 裸 裸 赤 灑 灑。依 前 似 平 常 人。 – Gọi là vô sự, chẳng phải ù ù cạc cạc mới gọi là vô sự mà cần phải thấu suốt chỗ vi diệu tột cùng của thiền cơ, ra được rừng tư kiến chấp trước mê vọng, buông bỏ mọi việc không còn mảy may tình trần, giống như người bình thường thuở trước. “ CĐTĐL q. 9 ghi: “且 如 四 祖 下 牛 頭 融 大 師 橫 說 堅 說。猶 未 知 向 上 關 〖⿰木戾〗 子。有 此 眼 腦 方 辨 得 邪 正 宗 黨。且 當 人 事 宜 不 能 體 會 得。但 知 學 言 語。念 向 皮 袋 裏 安 著 到 處 稱 我 會 禪。 – Ngay như đệ tử của Tứ Tổ là đại sư Ngưu Đầu Dung nói ngang nói dọc vẫn còn chưa biết chỗ vi diệu tột cùng của thiền cơ (…) Vả lại, người thời ấy sự thật là không đủ khả năng để thể hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩ rằng thân thể an ổn là đủ, đi đến nơi đâu cũng xưng là ta đã hội thiền. “ ● 觀 志 (910-970). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Tống, tự An Nhiên, người Hồng Châu (nay là Nam Xương, Giang Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Đồng An Đạo Phi, làm truyền nhân tông Tào Động đời thứ 4, trụ viện Đồng An ở kiến Xương (nay là Nam Thành, Giang Tây) ● 丱 角. Còn gọi: A Giác 阿 角. Đứa bé con, đầu để chỏm như hai cái sừng. Chương Đại Đồng Đầu Tử Thiền Sư trong CĐTĐL q. 15 ghi: “問 如 何 是 祖 師 意。師 曰。彌 勒 覓 箇 受 記 處 不 得。問 和 尚 住 此 來 有 何 境 界。師 曰。丱 角 女 子 白 頭 絲。 – Tăng hỏi: Thề nào là chỉ ý Tổ sư? Sư đáp: Di Lặc tìm một nơi thọ ký không được. Tăng hỏi: Hòa Thượng trụ nơi đây có cảnh giới gì? Sư đáp: Bé gái tóc còn để chỏm (như hai cái sừng) mà đầu đã bạc như tơ. “ ● 觀 衝 (1578-1645). Tăng nhân đời Minh, họ Triệu, tự Chuyên Ngu, người Phách Châu (Hà Bắc), Trung Quốc. Tính người đoan trang, thường niệm danh hiệu Quán Thế Âm. Lần lượt tham kiến các ngài Không ấn Trấn Trừng, Tuyết Lãng Hồng Ân, Vân Thê Châu Hoằng. Kết am trên ngọn Hoa Đảnh núi Thiên Thai, sư đọc kinh Lăng Nghiêm hoát nhiên tỏ ngộ. Về sau sư sang trụ Lô Sơn, Hoành Sơn, núi A Dục Vương. Đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 1 (1644) sư trụ trì chùa Thanh Lương núi Thạch Thành, gặp Minh Tư Tông Băng, vì để cúng tế các vua quan, bèn xây cất đạo tràng ở nơi Tử Trúc Lâm, phía bắc thành Kim Lăng (Nam Kinh) cất thiền đường, tỉnh thất. Niên hiệu Thuận Trị thứ 2 (1645) nơi chùa Thiên Giới, sư hoằng dương giới luật. Tháng 5 năm ấy nhập tịch. Sư trước tác rất nhiều, như Tâm Kinh Tiểu Đàm, Tập Luật Thường Quỷ, Kim Cang Bát Nhã Lược Đàm v. v… Khi đệ tử biên tập, sư tự đề tên là “Bế Môn Ngữ”. Đặc biệt có: Tử Trúc Lâm Chuyên Ngu Hòa Thượng Ngữ Lục, 30 quyển. ● 貫 休 (852-913). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Khương, tự Đức ẩn, người Lan Khê (Hy Thủy, Hồ Bắc), Trung Quốc. Xuất gia từ thuở nhỏ, sư thấm nhuần Phật điển, cư ngụ Hàng Châu và Tô Châu. Sư đi du phương để xin yết kiến học đạo. Niên hiệu Thiên Thục (901-904) vào đất Thục, Thục Chúa là Vương Kiến ban hiệu “Thiền Nguyệt Đại Sư”. Bởi sư giỏi viết chữ thảo nên thời nhân sánh sư như Hoài Tố. Tác phẩm: Thiền Nguyệt Tập 30 quyển, Toàn Đường Thi 12 quyển. ● 灌 沐. Rót nước thơm để tắm Phật. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 煙 濛 濛、雨 濛 濛 芍 葯 花 開 濕 嫩 紅 我 今 灌 沐 諸 如 來 人 間 天 上 起 清 風 “Yên mông mông, vũ mông mông Thược dược hoa khai thấp nộn hồng Ngã kim quán mộc chư Như Lai Nhân gian thiên thượng khởi thanh phong”. “Mưa lất phất, khói lờ mờ Thược dược hoa khai đỏ thắm tươi, Nay ta rót nước tắm Như Lai Gió mát nổi lên khắp đất trời”. ● 館 使 寺. Chùa nằm giữa phố Quán Sứ, Hà Nội, Việt Nam, mang biển số nhà 73. Cả khu vực này là đất thôn An Tập xưa. Tại đây, thời đầu đời Lê (thế kỷ XV) có lập một khu nhà gọi là Quán Sứ để tiếp đón sứ thần các nước Lão Qua, Chiêm Thành… khi họ tới Thăng Long. Vì họ đều theo đạo Phật nên một ngôi chùa được dựng ở cạnh Quán Sứ để tiện cho các sứ thần dó tụng niệm cúng bái. Về sau, nhà Quán Sứ bỏ đi nhưng ngôi chùa được giữ lại. Hiện nay trong chùa còn nhiều bia đá, đáng chú ý là bia do Lê Duy Trung soạn năm 1842 có đoạn ghi: “… Chùa Quán Sứ ở phía nam thành. Vị sư đến xin ta (tức Lê Duy Trung) bài văn bia nói rằng: Chùa ở thôn An Tập, huyện Thọ Xương, tiền đường thờ Phật, hậu đường thờ Lý Quốc Sư…” Trải bao thay đổi, tới năm 1934, hội Phật Giáo Bắc Kỳ lấy chùa này làm hội quán. Năm 1942 chùa được xây lại theo quy mô kiến trúc và trang trí nội thất như ngày nay. Theo: VHVNTH 1989-1995. ● 觀 心 玄 樞. Sách, 1 quyển, do Vĩnh Minh Diên Thọ soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114. Thiền Sư Diên Thọ đứng trên lập trường Thiền Tông để trình bày huyền chỉ Quán tâm của Phật giáo như sau: Nếu như chúng ta muốn thoát khỏi cảnh trói buộc, dứt phân biệt, hộ chính pháp, minh pháp tướng, liễu tứ đế, rõ tam tạng, hàng phục 4 thứ ma, biện được nhiễm tịnh đều phải từ phương pháp quán tâm mà được thành tựu. Nếu chẳng quán tâm thì tất cả đều lầm loạn, điên đảo, như 96 thứ ngoại đạo. Cuối quyển phụ kệ, bày tỏ ý nghĩa nguyện sinh Tịnh độ duy tâm. Sách này kế thừa hệ tư tưởng Quán tâm của tông Thiên Thai, rút từ văn Quán tâm trong các kinh điển, giải thích các yếu nghĩa quán tâm như: “Tâm tức Đại thừa”, “Tâm tức Phật tính”, “Tâm nhiếp các giáo”. ● 丱 歲. Thuở bé, tuổi nhỏ. Tiết Vĩnh Phong Huệ Nhật Am Chủ trong NĐHN q. 18 ghi: “信 州 永 豐 慧 日 庵 主、本 郡 丘 氏 子。丱 歲 出 家、於 明 心 寺 得 度。 – Am chủ Huệ Nhật ở Vĩnh Phong Tín Châu, con nhà họ Khâu ở bản quận, thuở bé xuất gia, được độ làm tăng ở chùa Minh Tâm”. ● 觀 圓 (cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV). Thiền tăng đời Trần, hiệu Quán Viên ở chùa Đông Sơn, giới hạnh thanh tịnh, tuệ giải tròn đầy, mấy mươi năm mà không xuống núi. Gặp lúc vua Trần Anh Tông (1293-1314) đau mắt đã hơn tháng, chữa trị không hiệu quả, ngày đêm đau nhức. Bỗng vua nằm mộng thấy một vị sư lấy tay xoa vào mắt. Vua hỏi sư từ đâu đến và tên gì? Sư đáp: “Tôi là Quán Viên, đến cứu mắt vua”. Tỉnh mộng, mắt liền hết đau, qua vài ngày mắt vua khỏi hẳn. Vua cho người tìm hỏi trong giới tăng sỉ, quả có người tên Quán Viên ở chùa Đông Sơn. Nhà vua sai người mời đến, rõ ràng là vị sư đã thấy trong mộng. Vua rất lấy làm lạ, phong chức Quốc sư, ban thưởng rất hậu. Sư đều đem phân phát hết không để lại một đồng nào, vẫn mặc y vá trở về núi, dường như chẳng quan tâm. Từ đó về sau, sư đi vân du khắp núi sông châu huyện làng mạc, nếu ở đâu có miếu thờ thần không chính đáng, làm hại dân, đều bị sư quở trách đuổi đi, dẹp phá miếu đền. Còn những vị thần lớn phần nhiều xin quy y thụ giới với sư, được sư dạy phải bảo vệ dân chúng và giảm bớt việc đòi cúng kiến sinh vật. Không rõ sư tịch lúc nào, ở đâu và thuộc hệ phái nào. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 管 顧. Chiêu đãi. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “結 夏 無 可 供 養 大 眾 作 一 家 宴 管 顧 諸 人。 – Kết hạ không thể cúng dường đại chúng, làm một tiệc nhà chiêu đãi mọi người. “ ● 管 茆 覆 頂. Chỉ cho tăng nhân trụ trì tự viện. Chương Nham Tuấn Thiền Sư trong CĐTĐL q. 15 ghi: “嘗 經 鳳 林 深 谷。欻 睹 珍 寶 發 現。同 侶 相 顧 意 將 取 之。師 曰。古 人 鋤 園 觸 黃 金 若 瓦 礫。待 吾 菅 茆 覆 頂。須 此 供 四 方 僧。言 訖 捨 去。 – Từng ở trong hang sâu Phụng Lâm bỗng phát hiện ra trân bảo. Bạn đồng tu nhìn nhau, ý muốn lấy nó. Sư nói: Cổ nhân cuốc đất gặp phải vàng ròng xem như gạch ngói. Hãy chờ tôi trụ trì tự viện, đến khi ấy sẽ cúng dường bốn phương tăng. Nói xong bỏ đi. “ ● 光 影. Bóng sáng, dụ chỉ vật hư huyễn chẳng thật. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “古 人 云:身 依 義 立。土 據 體 論。法 性 身 法 性 土 明 知 是 光 影。 – Người xưa nói: Thân nương nơi nghĩa mà lập, độ căn cứ vào thể mà bàn. Pháp tính thân, pháp tính độ đều biết rõ là vật hư huyễn chẳng thật”. ● 光 影 裏 活 計. Chỉ cho hành vi, ngôn ngữ, tình thức hư vọng. Tiết Dục vương Đoan Dụ Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “上 堂:盡 大 地 是 沙 門 眼、遍 十 方 是 自 己 光、爲 甚 麼 東 弗 于 逮 打 鼓、西 瞿 耶 尼 不 聞、南 贍 部 洲 點 燈、北 鬱 單 越 暗 坐。直 饒 向 箇 裡 道 得 十 全、猶 是 光 影 裡 活 計。 – Thượng đường: Cả mặt đất đều là con mắt của sa môn, khắp mười phương đều là ánh sáng tự kỷ, tại sao Đông thắng thần châu đánh trống, Tây ngưu hóa châu không nghe, Nam thiệm bộ châu thắp đèn, Bắc cu lô châu ở trong tối? Đến chỗ này cho dù ông nói được toàn vẹn vẫn là hành vi, ngôn ngữ, tình thức hư vọng. “ ● 光 影 門 頭. Sự lý hư huyễn chẳng thật. Thư đáp Trịnh Côn Nham Trung thừa trong HSLNMDT q. 1 ghi: “最 怕 得 少 爲 足、切 忌 墮 在 光 影 門 頭。 – Rất sợ được ít cho là đủ, tối kỵ là rơi vào trong sự lý hư huyễn chẳng thật”. ● 光 涌 (850-938). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Chương, người xứ Phong Thành (nay thuộc Giang Tây). Thuở nhỏ học sách Nho, năm 13 tuổi có thể giảng giải nghĩa kinh. Đến khi trưởng thành, đi dạo chùa Khai Nguyên gặp dị tăng giao cho chỉ quyết kinh Duy Ma, liền đến chùa Thạch Đình ở Hồng châu nương Thiền Sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch xuất gia, 19 tuổi thọ giới cụ túc. Sư từng tham vấn Lâm Tế Nghĩa Huyền, y theo lời dạy mà trở về hầu hạ Huệ Tịch. Sau được tâm ấn, nối pháp làm truyền nhân tông Quy Ngưỡng. Khi Huệ Tịch mất, Quang Dũng đốt ngón tay cúng dường, và ở lại Nam Tháp Ngưỡng Sơn phát dương tông phong. Niên hiệu Thiên Hựu thứ 1 (904) đến Hồng Châu trụ trì chùa Thạch Đình, 14 năm sau từ biệt trở lại Ngưỡng Sơn. ● 光 孝 寺. 1. Chùa ở đường Quang Hiếu, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Nền chùa nguyên là chỗ ở của Triệu Kiến Đức, cháu của Nam Việt Vương Triệu Đà đời Tây Hán. Vào thời Tam Quốc Ngu Phiên dạy học nơi đây, còn cải tạo và xây dựng lại làm “Ngu Uyển”, sau đó đổi nhà thành chùa gọi là “Chế Chỉ Tự”. Thời Đông Tấn tăng nhân ấn Độ là Đàm Ma Da Xá đến Quảng Châu truyền giáo, tại đây xây cất Vương Uyển Triều Đình Tự, còn gọi “Vương Quốc Tự”. Theo truyền thuyết Đạt Ma từng ở chùa này giảng kinh truyền pháp. Niên hiệu Trinh Quán thứ 19 (645) đời Đường đổi tên là “Càn Minh Pháp Tính Thiền Viện”, cũng gọi là “Pháp Tính Tự”. Niên hiệu Nghi Phụng thứ 1 (676) Lục Tổ Huệ Năng cùng tăng tranh luận gió phướn tại chùa này, cạo tóc dưới cây Bồ đề. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 7 (1137) đời Tống đổi tên là “Báo Ân Quảng Hiếu Thiền Tự”. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 21 (1151) sắc tứ “Quang Hiếu Thiền Tự”. Niên hiệu Thành Hóa thứ 2 (1466) đời Minh bắt đầu gọi “Quang Hiếu Tự”. Về sau bị quân Thanh phá hủy. Đầu khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, Thiền Sư Nguyên Chí xây cất lại, quy mô hùng vĩ tráng lệ, trở thành tùng lâm hạng nhất ở Lĩnh Nam. Trong chùa xưa có 12 điện, 6 đường, còn có Chung lâu, Cổ lâu, Diên thọ am, Đâu suất các, Bút thọ hiên, Ngu Phiên từ. Hiện còn Đại hùng bảo điện, Lục Tổ điện, Già lam điện, Thiên vương điện, Môn lâu, ngoài ra còn có Thùy Phật các, ế phát tháp, Đông Tây thiết tháp, Pháp trang, Đại Bi tràng, Đạt Ma tỉnh. Đây là thắng cảnh nổi tiếng của Phật giáo. ● 2. Còn gọi: Báo Ân Quang Hiếu Thiền Tự. Nằm trên sườn núi Thiết Sư, phía nam huyện Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Xây dựng vào niên hiệu Cảnh Vân thứ 1(710) đời Đường, niên hiệu Thiệu Hưng thứ 7 (1137) đời Tống bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 10 (1377) đời Minh xây dựng lại. Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) lại bị lửa thiêu hủy. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 48 (1620) tái thiết, đời Thanh lại trùng tu. Tự viện kiến trúc hùng vĩ, đứng hàng đầu các chùa ở Mân Bắc. Cổng chùa treo tấm biển chữ vàng, điện đầu tiên là Thiên vương điện thờ Phật Di Lặc và bốn Đại Kim Cang, hình dáng uy nghi. Phía sau là Đại hùng bảo điện có rường vẽ hoa lầu chạm trổ, mái tỏa góc vểnh. Điện đường cao lớn rộng thoáng, bên trong thờ Tam Bảo Như Lai, hai bên là 18 vị La hán, trước điện có Đàn tăng chúng bái Phật, có thể chứa vài trăm người. Sau đại điện là Quán Âm điện, bên trái bên phải đại điện là lầu chuông lầu trống, cùng với Phương trượng thất, Tàng kinh các. ● 光 孝 寺 鐵 塔. Trong khuôn viên chùa Quang Hiếu, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Đông thiết tháp nằm ở phía đông ao Bạch Liên, chùa Quang Hiếu, niên hiệu Đại Bảo thứ 10 (967) Nam Hán chúa Lưu Sưởng quyên tạo. Tháp hình vuông 7 tầng cao 6,35m, có tòa Tu Di bằng đá khắc, cao 1,34m. Toàn tháp có hơn 900 cái khám thờ Phật, trong mỗi khám đều có một tượng Phật nhỏ, công nghệ tinh xảo, lúc mới thành toàn thân thếp vàng, được gọi là “Đồ kim thiên Phật tháp”. Xung quanh có điêu khắc “Hành long hỏa châu”, “Thăng long giáng long hỏa diệm tam bảo châu”, tạo dáng sinh động. Tháp nguyên đặt tại chùa Khai Nguyên, Quảng Châu (đã bị phá hủy), khoảng niên hiệu Đoan Bình (1234- 1236) đời Tống do tăng trụ trì di dời đến chùa Quang Hiếu, xây điện che phủ. Tháp này dùng kỷ nghệ đúc luyện và điêu khắc cao siêu, là một trong những tháp sắt hoàn chỉnh nhất, cổ xưa nhất hiện còn ở Trung Quốc. Tây thiết tháp nằm ở phía tây Đại điện chùa Quang Hiếu. Niên hiệu Đại Bảo thứ 6 (963) Thái giám của Lưu Sưởng là Cung Trừng Khu và người vợ thứ 33 họ Đặng liên danh quyên tiền đúc tháp. Hình thức cùng quy mô giống như Đông thiết tháp (trên thực tế thì Đông thiết tháp phỏng chế theo Tây thiết tháp), xung quanh thân tháp là tượng Phật và điêu khắc bảo liên hoa. Trong thời kháng chiến, tháp điện bị sụp đổ 4 tầng trên, hiện chỉ còn 3 tầng. ● 光 穆. Thiền tăng đời Đường, họ Chương, tự Dật Thế, hiệu Tây Tháp, người Cao An, Giang Tây, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Huệ Tịch, thuộc tông Quy Ngưỡng đời thứ 3. Sau khi thầy tịch, sư kế tiếp trụ trì Ngưỡng Sơn. Sư dùng 36 phép đối của Lục Tổ để tiếp dẫn thiền cơ, hết sức tuyệt vời. ● 光 訪. (Từ tôn kính để gọi) những người khách đến thưa hỏi. Tiết Chính Pháp Hy Minh Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “諸 上 善 人 得 得 光 訪。 – Người lành các nơi đặc biệt đến thưa hỏi”. ● 光 祚 (928-998). Thiền tăng đời Tống, họ A người Chiết Giang, Trung Quốc. Đến núi Thanh Thành, Ích Châu (Thành Đô, Tứ Xuyên) sư tham kiến Thiền Sư Trừng Viễn được tâm ấn, nối pháp làm truyền nhân tông Vân Môn. Ban đầu trụ Song Tuyền, Tùy Châu (Hồ Bắc) rồi dời sang chùa Trí Môn truyền bá tông phong, người đời gọi là “Trí Môn Quang Tộ Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp hơn 30 người như Tuyết Đậu Trọng Hiển v. v… Tác phẩm: Trí Môn Tộ Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. ● 光 壯. Hoằng dương, làm cho vinh quang rạng rỡ. Mật Am Ngữ Lục ghi: 一 言 劄 住 萬 機 通、自 然 光 壯 少 林 風 “Nhất ngôn trát trụ vạn cơ thông Tự nhiên quang tráng Thiếu Lâm phong”. “Một câu thống thiết, muôn cơ thông Tự nhiên rạng rỡ mạch Thiền Tông”. ● 光 狀 元. Biệt hiệu của Thiền tăng Di Quang đời Tống. X. Di Quang. ● 光 緒. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tham vấn Huyền Sa Sư Bị và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp ở viện Vân Phong, núi Thiên Thai. Ngô Việt Vương rất hậu đãi sư, ban cho hiệu “Chí Đức Đại Sư”. ● 廣 印 (1566-1636). Thiền tăng đời Minh, tự Văn Cốc, biệt hiệu Chưởng Thạch, người Gia Thiện (Chiết Giang), Trung Quốc. Năm 13 tuổi sư xuất gia tại chùa Khai Nguyên, Hàng Châu, lần lượt tham kiến Nghi Phong, Vô Huyễn, sau thụ giới Bồ Tát với Châu Hoằng, sớm tối thỉnh ích vấn đạo. Về sau đi dạo núi Ngũ Đài đến Kính Sơn thấy thiền giới của Ngô Việt suy đồi, sư liền trụ chùa Chân Tịch để phục hưng, lại dời sang chùa Tịnh Từ giáo hóa đệ tử rất đông, chấn hưng tông phong Lâm Tế. Tác phẩm: Tông Môn Cảnh Ngữ 2 quyển, Ngữ Lục 4 quyển. Vĩnh Giác Nguyên Hiền, Tiễn Khiêm Ích Vi soạn tháp minh. ● 廣 照. Thiền tăng đời Tống, tên Huệ Giác, người Tây Lạc, Trung Quốc. Lúc sư còn tuổi trẻ, cha sư làm Thái thú Hành Dương, bị bệnh mất tại đây. Sư phò linh cữu từ Hành Dương về Tây Lạc, qua Lễ châu (huyện Lễ, Hồ Nam) nghỉ đêm tại Dược Sơn Cổ Tự, bèn xuất gia tại đây. Sư du phương tham học đắc pháp nơi Thiền Sư Phần Dương Thiện Chiêu. Về sau trụ núi Lang Nha, Trừ Châu (huyện Trừ, An Huy), chấn hưng tông phong Lâm Tế, người đời gọi là “Lang Nha Huệ Giác”, cùng với Tuyết Đậu Trọng Hiển được gọi là “Nhị Cam Lộ Môn”. ● 廣 照 禪 師. Hiệu của Thiền tăng ứng Phu, sống vào đời Tống. X. ứng Phu. ● 廣 單. Giường rộng mà dài của thiền đường, mỗi giường có thể nằm mấy chục người. Diện tích mỗi chỗ nằm của 1 người là: 2m x 0,8m = 1,6㎡ ● 廣 化 寺. Nằm trên sườn núi Phụng Hoàng (còn gọi Nam Sơn) cách thành phố Phủ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc 3km về phía nam. Cùng với Phúc Châu Cổ Sơn Dũng Tự, Tuyền Châu Khai Nguyên Tự, Hạ Môn Nam Phổ Đà Tự gọi chung là “Bốn đại thiền lâm ở Phúc Kiến”. Nguyên là nơi dạy học của anh em nhà Trịnh Lộ. Niên hiệu Vĩnh Định thứ 2 (558) đời Trần Nam Triều, đổi làm Kim Tiên Thiền viện. Niên hiệu Cảnh Vân thứ 2 (711) đời Đường, tăng chùa tên Chí Ngạn theo lệnh vua tiến cung giảng Tứ phần luật, vua ban tên “Linh Nham Tự”, Liễu Công Quyền viết biển. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 1 (976) đời Tống, do tăng Linh Thưởng và Thiền Sư Quy Dương Vô Liễu xây dựng lại, đổi tên là “Quảng Hóa Tự”. Chùa vào hai đời Tống Minh rất là hưng thịnh, toàn chùa gồm có 10 đại viện, tiểu am trực thuộc viện 120 tòa. Cổ tự sau khi trải qua ngàn năm sương gió phần lớn đã sụp đổ. Những kiến trúc hiện còn được xây cất lại y theo cũ vào khoảng niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh, lại đem chùa Tiểu Nam Sơn với chùa Pháp Hải nhập lại. Trên tuyến trục giữa theo thứ tự có Sơn môn, Đại hùng bảo điện, Pháp đường, Tàng kinh lâu; hai bên có Chung cổ lâu, Thiền phòng, Phương trượng thất, Khách phòng. Trước Đại hùng bảo điện có 2 tòa thạch kinh kiến tạo vào niên hiệu Trị Bình thứ 2 (1065) đời Tống, cao khoảng 3m điêu khắc “Phật Đỉnh Tôn Thắng đà la ni kinh chú”. ● 廣 慧 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Đức Huy, sống vào đời Nguyên. X. Đức Huy. ● 廣 慶 禪 寺. Vua Tống Lý Tông ban cho chùa Phi Lai bảng hiệu Quảng Khánh thiền tự. X. Phi Lai tự ● 廣 利 禪 寺. Vua Tống Chân Tông ban cho chùa A Dục Vương bảng hiệu “Quảng Lợi thiền tự”. X. A Dục Vương tự ● 廣 利 寺. Chùa Dương Kỳ vào đời Đường gọi là Quảng Lợi tự. X. Dương Kỳ tự. ● 廣 錄. Trong Ngữ Lục, đem các pháp ngữ của Tổ sư ghi chép lại tỉ mỉ thì gọi là Quảng Lục. Chẳng hạn như: Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư Quảng Lục, Vân Môn Khuông Chân Thiền Sư Quảng Lục. ● 廣 嚴 (1121-1190). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 11. Sư họ Nguyễn, quê huyện Đan Phượng, mồ côi từ thuở bé, theo học Phật pháp với người cậu là thầy Bảo Nhạc. Sau khi thầy Nhạc qua đời, sư đi hành cước bốn phương, viếng khắp các thiền hội. Nghe thiền sư Trí Thiền giáo hóa ở chùa Phúc Thánh hạt Điển Lãnh, sư liền đến đây tham vấn. Một hôm nhân nghe Trí Thiền giảng Ngữ Lục của ngài Tuyết Đậu, đến chỗ Đạo Ngô và Tiệm Nguyên đến nhà người điếu tang đối đáp về vấn đề sinh tử, sư có sở đắc liền hỏi và được Trí Thiền ấn chứng, nối pháp ngài. Đến ngày 15 tháng 2 năm Canh Tuất, nhằm niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ 5 (1190), sư sắp tịch liền nói kệ: 離 寂 方 言 寂 滅 去 生 無 生 後 說 無 生 男 兒 自 有 衝 天 志 休 向 如 來 行 處 行 “Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh Nam nhi tự hữu xung thiên chí Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”. “Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt Được vô sinh sau nói vô sinh Trượng phu có chí xông trời thẳm Chớ dẫm Như Lai chỗ đã hành”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 廣 嚴 寺. Còn gọi: Chùa Tiên Lữ, chùa Trăm Gian. Chùa nằm trên ngọn đồi thuộc núi Tiên Lữ (Lã Sơn), nay thuộc xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội, Việt Nam. Chùa được xây dựng vào thế kỷ XII, đã qua nhiều lần tu sửa. Nay chùa gồm 3 cụm kiến trúc. Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ, hai quán là nơi đánh cờ người vào những ngày hội và nhà giá ngự là nơi đặt kiệu thánh. Trèo qua trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm có tòa gác chuông hai tầng tám mái. Tại đây có treo quả chuông đúc năm 1794. Qua gác chuông leo 25 bậc đá xanh đến sân trên có kê một sập đá, lại leo 9 bậc đá nữa thì đến cụm thứ ba. Đó là chùa chính gồm Bái đường, tòa thiêu hương và thượng điện. Hai bên là hai dãy hành lang. Trong cùng là nhà Tổ. Giữa lại có lầu trống, bên trong treo một trống lớn và một khánh đồng đúc năm 1749. Chùa có cả thảy 153 pho tượng hầu hết bằng gỗ sơn thếp. Đặc biệt có một pho mây đan bọc vải sơn, tương truyền là tượng bó cốt của một cao tăng đã tu ở đây: nhà sư Nguyễn Lữ, sống vào đầu thế kỷ XV. ● 廣 法 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Bằng Ngạn, sống vào đời Ngũ Đại. X. Bằng Ngạn. ● 廣 福 寺. X. Thường Châu Thiên Ninh Tự. ● 廣 濟 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Tồn Tương, sống vào đời Đường. X. Tồn Tương. ● 廣 濟 禪 師 塔 亭. Tháp nằm trong điện tháp chùa Tam Bình, huyện Bình Hòa, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Trong khám đá thờ tượng ngồi xếp bằng của thiền sư Quảng Tế (hiệu của Thiền tăng Nghĩa Trung đời Đường), hai bên là tượng Thị giả Phục Hổ đứng hầu. Tương truyền hài cốt của Nghĩa Trung được chôn dưới khám này. ● 廣 濟 寺. ở cửa đông Đại Nhai trong PhụThành Môn, khu Tây Thành, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Đời Kim là Tây Lưu Thôn Tự của Trung bộ Bắc Giao, đời Nguyên cải tạo và xây dựng lại gọi là “Báo Ân Hồng Tế Tự”. Niên hiệu Thái Tổ thứ 16 (1221) đời Nguyên, Thiền Sư nổi tiếng Vạn Tùng Hành Tú vào ở chùa này. Năm thứ 19 (1224) Hành Tú thể theo lời thỉnh của Gia Luật Sở Tài trước tác “Thung Dung Lục”. Đệ tử nối pháp của Hành Tú là Lâm Tuyền Tùng Luân kế tục ở chùa này. Sau bị binh lửa chùa chiền hủy sạch. Niên hiệu Thiên Thuận (1457-1464) đời Minh, Hòa Thượng Phổ Huệ cùng đệ tử Viên Hồng quyên tiền xây dựng lại. Niên hiệu Thành Hóa thứ 2 (1466) ban tên “Hoằng Từ Quảng Tế Tự”, năm thứ 20 (1484) xây xong. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 11 (1583) đời Minh, Khang Hy thứ 38 (1699) đời Thanh, năm 1924 đều có tu sửa thêm. Năm 1952, 1972 từng có hai lần tu sửa lớn. Chùa quay lưng về hướng bắc mặt nhìn về hướng nam, diện tích 35 ha. Kiến trúc chủ yếu trên tuyến trục giữa có Sơn môn, Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Viên thông điện, Đa Bảo điện, Tàng kinh các. Trong Tây lộ viện có giới đàn 3 tầng xây bằng đá cẩm thạch. Tàng kinh các chứa kinh thư Phật giáo hơn 10 vạn quyển và hơn 3 vạn tấm thác bản thạch kinh chùa Vân Cư, Phòng Sơn. Trong chùa còn cất giấu kỹ pho tượng đồng Di Lặc đúc vào đời Minh, đỉnh đồng bát bảo đúc vào đời Thanh. Hiện là trụ sở của “Trung Quốc Phật Giáo Hiệp Hội”, “Trung Quốc Phật Học nghiên Cứu Sở”. ● 廣 智 (thế kỷ XI). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 7, nối pháp Thiền Lão Thiền Sư. Sư họ Nhan, người ở kinh đô, là anh của bà Chương Phụng Hoàng phi, vốn thích giữ khí tiết thanh cao. Niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ 1 (1059), sư từ bỏ thế tục, đến tham vấn với Thiền Lão thiền sư ở Tiên Du. Từ đó, năm tháng miệt mài, sư dốc hết ý chí vào thiền học, chưa bao lâu tiếng tăm vang xa khắp nơi. Về sau, sư trụ chùa Quán Đỉnh, núi Không Lộ (tức búi Phụng Hoàng tại xã Sơn Lộ, huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây hiện nay) thường mặc áo vá, ăn hạt tòng, kết bạn thoát tục với sơn tăng Minh Huệ. Người đời cho là “Hàn Sơn, Thập Đắc tái thế”. Công Bộ Thượng thư Đoàn Văn Khâm rất kính trọng, có làm thơ tặng: 掛 錫 危 峯 罷 六 塵 默 居 幻 夢 問 浮 雲 殷 勤 無 計 參 澄 什 索 絆 簪 纓 在 鷺 群 “Quải tích nguy phong bãi lục trần Mặc cư huyễn mộng vấn phù vân Ân cần vô kế tham Trừng, Thập Sách bạn trâm anh tại lộ quần”. “Tạm ngụ non cao bỏ sáu trần ở yên huyễn mộng hỏi phù vân Ân cần không cách tham Trừng, Thập Quan tước triều đình trót vướng chân”. Khoảng niên hiệu Quảng Hựu (1085-1091) đời Lý Nhân Tông, sư quy tịch. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 廣 聞 (1189-1263). Thiền tăng đời Tống, họ Lâm, hiệu Yển Khê, người Hầu Quan (Phúc Châu), Trung Quốc. Năm 18 tuổi xuất gia với Hòa Thượng Trí Long chùa Quang Hiếu; sau đó tu học với Chiết Ông Như Diễm ở Kính Sơn, nhờ thoại đầu “Triệu Châu rửa bát đi!” được tỏ ngộ. Niên hiệu Thiệu Định thứ 1 (1228) sư hoằng pháp ở chùa Tịnh Từ, rồi sang chùa Vạn Thọ, chùa Trí Độ ở Hương Sơn. Niên hiệu Thuần Hựu thứ 5 (1245) sư trụ trì chùa Tư Thánh núi Tuyết Đậu. Về sau lần lượt trụ trì chùa Quảng Lợi núi A Dục Vương, chùa Tịnh Từ ở Lâm An. Niên hiệu Bảo Hựu thứ 2 (1254) trụ chùa Linh ẩn, sắc tứ hiệu “Phật Trí Thiền Sư”. Tác phẩm: Yển Khê Hòa Thượng Ngữ Lục 2 quyển. ● 群 機. Chỉ cho rất nhiều hạng người tham vấn thiền pháp. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “普 應 群 機、聊 隨 時 節 – Ứng khắp quần cơ, tạm theo thời tùy lúc”. ● 群 生. Chúng sinh. Tiết Tĩnh Cư Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “自 傳 曹 溪 密 旨、便 復 廬 陵、化 度 群 生。 – Từ khi được truyền mật chỉ của Tào Khê, sư bèn trở lại Lô Lăng, hóa độ quần sinh”. ● 窟 多 三 藏 (680 -?). Thiền tăng đời Đường, người Thiên Trúc (nay là ấn Độ). Sư xuất gia từ thuở bé. Do nằm mộng thấy Sư tổ Trí Dược Tam Tạng dạy phải đem cây Bồ Đề đến chùa Bảo Lâm ở Thiều Châu trồng nơi pháp hội của Nhục thân Bồ Tát. Sư bèn vượt biển Nam Hải vào Thiều Dương tìm chùa Bảo Lâm vào niên hiệu Đại Túc thứ 1 (701). Sau khi hỏi thăm thấy quả đúng như lời Sư tổ nói, nên sư trồng cây Bồ Đề trong khuôn viên chùa Bảo Lâm. Sư thờ Lục Tổ Huệ Năng làm Thầy, dưới lời dạy của Tổ liền khế ngộ, thuộc Thiền Tông Nam tông đời thứ 2. ● 桂 琛 (867-928). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lý, người Thường Sơn (Chiết Giang), Trung Quốc. Sớm có chí xuất trần, sư theo Đại sư Vô Tuớng chùa Vạn Thế cạo tóc thụ giới, chuyên học Tỳ ni, biết trì giới không phải đạo giải thoát bèn chuyển sang du phương, tham phỏng các sư Nam tông. Ban đầu, yết kiến Tuyết Phong Nghĩa Tồn thưa hỏi thiền yếu, song chưa được gì. Lại đến Phúc Châu sư tham kiến Huyền Sa Sư Bị, một lời thốt ra tiêu sạch nghi hoặc. Quan Mục ở Chương Châu xây cất viện Địa Tạng tại núi Phương Thạch phía Tây thành Mân (Phúc Kiến) thỉnh Quế Sâm diễn pháp. Sư trụ nơi đây 18 năm, học đồ hơn 200 người. Về sau dời qua viện La Hán ở Chương Châu (Chương Phổ, Phúc Kiến) xiển dương Thiền Tông, tăng lữ nam bắc tụ hội, người khế cơ khai ngộ nhiều vô kể, người đời gọi sư là “La hán Quế Sâm”. Thụy là “Chân ứng Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp có Văn Ích, Hồng Tiến, Hưu Phục, Thiệu Tu, Thủ An v. v… ● 國 一 (330). Hiệu của Thiền tăng Pháp Khâm tông Ngưu Đầu đời Đường. X. Pháp Khâm. ● 國 清 寺 (330). Ở sườn nam núi Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, cách trung tâm huyện Thiên Thai chừng 3km. Niên hiệu Khai Hoàng thứ 18 (598) đời Tùy, Tấn vương Dương Quảng xây cất theo ý nguyện của Trí Nghỉ, ban đầu tên “Thiên Thai Sơn Tự”. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ 1 (605) đời Tùy ban tên là “Quốc Thanh Tự”. Niên hiệu Cảnh Đức thứ 2 (1005) đời Tống đổi tên là “Cảnh Đức Quốc Thanh Tự”. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 4 (1130) vua ra lệnh đổi giáo làm thiền. Đời Đường có các Thiền tăng nổi tiếng như Phong Can, Hàn Sơn, Thập Đắc trụ chùa này. Niên hiệu Càn Đạo thứ 4 (1168) đời Tống, Sơ Tổ tông Lâm Tế Phật giáo Nhật Bản Vinh Tây cũng từng đến chùa Quốc Thanh cầu pháp. Chùa Quốc Thanh còn là cái nôi của tông Thiên Thai, Tổ sư nhiều đời của tông Thiên Thai đều truyền pháp nơi chùa này. Chùa hiện có 14 tòa điện vũ, 600 gian phòng ốc, diện tích kiến trúc chiếm gần 2 ha. Kiến trúc chủ yếu phân bố trên ba tuyến trục dọc. Trên tuyến trục giữa theo thứ tự có Di lặc điện, Vũ hoa điện, Đại hùng bảo điện. Trước Vũ hoa điện hai bên có lầu chuông, lầu trống. Trên tuyến trục tây theo thứ tự có An dưỡng đường, Quán Âm điện, Văn vật thất, Diệu pháp đường. Trên tuyến trục đông theo thứ tự có Trai đường, Phương trượng lâu, Nghinh tháp lâu. Ngoài ra còn có những kiến trúc Tu hành hiên, Thiền đường, Tịnh quán đường. Trước cửa chùa có Hàn Thập đình, Phong Can kiều, Tùy tháp, Nhất Hạnh Thiền Sư tháp. Hàn Thập đình xây dựng để kỷ niệm Hàn Sơn, Thập Đắc, mặt bằng bày ra hình chữ nhật, nam bắc có cửa thông nhau, trên cửa có tấm biển đề “Ngũ Phong Thắng Cảnh”, “Vạn Tùng Thâm Xứ”. Phong Can kiều xây dựng để kỷ niệm Phong Can, là một chiếc cầu đá hình cung tạo dáng thuần phác cổ xưa. Xung quanh chùa cây cối xanh tươi, đồi núi bao phủ, nước suối chảy quanh, cảnh sắc đẹp đẽ tĩnh mịch. ● 國 清 寺 塔 (331). ở phía đông chùa Quốc Thanh, núi Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Được xây dựng vào đời Tùy, niên hiệu Kiến Viêm thứ 3 (1129) đời Tống được xây lại trên nền tháp đời Tùy. Tháp gạch 6 mặt, 9 tầng, cao 59,3m theo kiểu lâu các. Trong tháp rỗng ruột, kết cấu bằng gạch gỗ, phần mái gỗ đã bị lửa thiêu hủy, hiện chỉ còn phần vách bằng gạch bày ra màu vàng nâu, trên vách có nhiều tượng Phật khắc nổi sinh động như sống, vô cùng tinh xảo đẹp đẽ. Cả tháp tạo dáng thanh tú mạnh mẽ. ● 歸 本. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người Lạc Dương, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, thuộc hệ Thanh Nguyên đời thứ 7, trụ viện Song Tuyền ở núi Vân Cái, Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Hiệu: Thủ Tướng Đại Sư. ● 龜 洋 和 尚. Thiền tăng Vô Liễu đời Đường sau khi tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất được pháp, kết am tranh ẩn tu ở núi Quy Dương, người đời gọi là Quy Dương Hòa Thượng. X. Vô Liễu. ● 歸 家 罷 問 呈. Người đã về đến nhà thì không còn việc hỏi thăm đường sá nữa. Thiền Tông mượn từ này để chỉ một khi ngộ được tự tâm thì mọi việc dừng ngay lập tức, không còn câu nệ vào ngôn ngữ tri giải, các giai vị tu hành. Ngoạn Châu Ngâm của Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: 演 教 非 爲 教、聞 名 不 認 名 二 邊 俱 不 立、中 道 不 須 行 見 月 休 看 指、歸 家 罷 問 程 “Diễn giáo phi vi giáo Văn danh bất nhận danh Nhị biên câu bất lập Trung đạo bất tu hành Kiến nguyệt hưu khán chỉ Quy gia bãi vấn trình!” “Nói giáo chẳng chấp (là) giáo Nghe danh chẳng nhận (là) danh Nhị biên đều chẳng lập Trung đạo chẳng nên hành Thấy trăng thôi xem ngón (tay) Đến nhà hỏi chi đường!”. ● 歸 曉. Thiền đời Tống, sư đến núi Hàm Châu thờ Thiền Sư Thẩm Triết làm thầy rồi nối pháp ngài, làm truyền nhân của tông Tào Động. Sư ở viện Diên Khánh tại Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Có vị tăng hỏi: Thế nào là cảnh Phong Sơn? Sư đáp: Hãy xem cho cẩn thận. Tăng hỏi tiếp: Thế nào là người trong cảnh? Sư đáp: Biết chăng? Thụy hiệu: Huệ Quảng Đại Sư. ● 歸 敬. Quy y tôn kính. Tiết Long Tường Sĩ Khuê Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “紹 興 間 奉 詔、開 山 鴈 蕩 能 仁。時 眞 歇 居 江 心、聞 師 至、恐 緣 法 未 熟、特 過 江 迎 歸 方 丈。大 展 九 拜、以 誘 溫 人、由 是 翕 然 歸 敬。 – Vào niên hiệu Thiệu Hưng sư phụng chiếu khai sơn chùa Năng Nhân ở Nhạn Đãng. Khi ấy Chân Yết đang ở Giang Tâm, nghe tin sư đến, sợ pháp duyên chưa chín mùi bèn riêng qua sông nghinh rước về phương trượng, sùng kính bái 9 lạy để dạy dỗ người họ Ôn, vì thế đều cùng nhau quy y tôn kính. “ ● 歸 路. Dụ cho pháp môn thấy rõ tự tâm được giác ngộ. Chương Tâm ấn Thủy Nguyệt đại sư trong CĐTĐL q. 21 ghi: “師 上 堂 示 眾 曰。久 立 大 眾。更 待 什 麼 不 辭 展 拓。卻 恐 誤 於 禪 德。轉 迷 歸 路 時 寒 珍 重。 – Sư thượng đường dạy chúng: Phiền mọi người đứng lâu! Còn chờ cái gì? Ta chẳng từ chối mở bày nhưng chỉ sợ lầm nơi thiền đức, chuyểân mê trở về giác ngộ. Thời tiết lạnh lẽo, xin tạm biệt!” ● 規 摸. Noi theo, học tập. Tiết Hoàng Long Nam Thiền Sư trong TLTBT q. 22 ghi: “至 栖 賢 依 諟 禪 師、諟 莅 眾 進 止 有 律 度、公 規 摸 之、三 季 辭。 – Sư đến chùa Thê Hiền nương nơi Thiền Sư Thị. Ngài dạy chúng rất có quy củ, sư học tập theo đây. Sư ở Thê Hiền được 9 tháng rồi từ giả ra đi”. ● 龜 毛 兔 角. Gọi tắt: Quy Mao. Lông rùa sừng thỏ là những vật chỉ có trên tên gọi. Thiền Tông thường dùng từ này để chỉ muôn vật đều hư huyễn không thật. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “月 窻 與 人 既 各 各 無、合 之 又 豈 能 有? 則 此 境 界、直 如 龜 毛 兔 角、但 以 妄 念 分 別、故 虛 妄 有 生 耳。 – Mặt trăng, cửa sổ cùng người, mỗi thứ đều không có. Các thứ đó hợp lại mà cho rằng có sao? Thế thì cảnh giới này giống như lông rùa sừng thỏ, nhưng vì vọng niệm phân biệt nên thấy có sinh hư vọng”. ● 規 模. Cái khuôn, cái mẫu có sẳn. Tiết Bảo Phong Duy Chiếu Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “本 自 不 生、今 亦 無 滅、是 死 不 得 底 樣 子。當 處 出 生、隨 處 滅 盡、是 活 生 受 底 規 模。 – Vốn tự chẳng sinh, nay cũng chẳng diệt, cái chết này chẳng có kiểu mẫu nào. Ngay chỗ sinh ra, tùy chỗ diệt hết, cái sống này được sinh từ cái khuôn nào!”. ● 歸 元 寺. Đầu phía tây phố Thúy Vi, khu Hán Dương, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Là một trong bốn đại tùng lâm ở Vũ Hán. Niên hiệu Thuận Trị thứ 15 (1658) đời Thanh Thiền Sư Đức Minh đời thứ 31 tông Tào Động lần lượt khởi công xây dựng Đại hùng bảo điện, Thiền đường, Khách đường, Trai đường đặt tên “Quy Nguyên Thiền Tự”, tên chùa lấy từ kinh Lăng Nghiêm: “Quy nguyên vô nhị lộ, phương tiện hữu đa môn”, tức là ý nghĩa phản bản hoàn nguyên, vạn pháp quy nhất. Niên hiệu Khang Hy thứ 3 (1664) cất thêm Tổ đường, Vi Đà điện, Phương trượng thất. Niên hiệu Khang Hy thứ 8 (1669) cất Lão trượng các, Chung cổ lâu. Niên hiệu Khang Hy thứ 13 (1674) xây thêm Quán Âm đường,Vân thủy đường, Nội ngoại liêu xá, Liêu viện, Tam Tổ tháp viện và Sơn môn. Niên hiệu Quang Tự thứ 9 (1883) khởi công, trải qua 9 năm mới xây xong La hán đường. Do chiến tranh nên chùa nhiều lần hủy nhiều lần xây. Kiến trúc hiện còn là nhờ được lần lượt xây dựng lại vào niên hiệu Đồng Trị thứ 3 (1864) đời Thanh, Quang Tự thứ 21 (1895) và đầu năm Dân Quốc. Trong chùa có những kiến trúc như Vi Đà điện, Đại hùng bảo điện, Thiên vương điện, Địa Tạng Vương điện, La hán đường, Tàng kinh các, Đại sĩ các. Đặc biệt có Thúy vi phong, Tiểu đình, Hoa đàn, bố cục nghiêm cẩn, thiết kế khéo léo; tuy là chùa Phật nhưng có đủ những gì đặc sắc của viên lâm. Trong chùa do vân tường phân cách làm ba viện Bắc viện, Trung viện, Nam viện. Mỗi viện đều có đình viện đặc sắc. Đại hùng bảo điện ở Trung viện thờ tượng Phật Thích Ca, hai bên là A Nan và Ca Diếp, phía sau là Quán Âm hải đảo. Trước tượng Phật là tấm mành phủ lên bàn thờ khắc họa những nhân vật trong Tây Du Ký như Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng. Tàng kinh các ở Bắc viện cao khoảng 25m, 2 tầng, 5 gian, phía trước có hành lang, cột tròn to lớn cao tới đấu củng, mái cong bốn lớp, bốn con phụng hướng về phía mặt trời sơn son thếp vàng rực rỡ. Ngoại trừ cất giữ Đại tạng kinh, còn cất giấu rất nhiều văn vật trân quý khác. La hán đường ở Nam viện bày ra hình chữ “Điền”, nội thất trưng bày 500 tượng La hán hiện đủ mọi dáng vẻ khởi phục tọa ngọa, hỉ nộ ai lạc, phong cách sống động, kỹ thuật điêu khắc cực kỳ tinh xảo. ● 潙 仰 宗. Một trong ngũ gia (5 nhà) của Thiền Tông Trung Quốc, thuộc hệ Nam Nhạc. Người sáng lập là hai thầy trò Thiền Sư Linh Hựu (779-853) và Huệ Tịch (814-890) cả hai đều sống vào đời Đường. Do vì ngài Linh Hựu trụ Quy Sơn (Hồ Nam) và Huệ Tịch trụ Ngưỡng Sơn (Giang Tây) nên mới được gọi là Quy Ngưỡng Tông. Tông này môn phong nghiêm cẩn, chỗ tiếp dẫn người học xem như mênh mông vô bờ bến, mà kỳ thực thì sâu xa tế mật, sự lý cùng hành. Trong năm nhà của Thiền Tông thì tông Quy Ngưỡng hưng khởi sớm nhất và suy vong cũng sớm nhất. Sự truyền thừa từ đời thứ 6 trở đi không thấy chép lại trong sử sách, im bặt tăm hơi, pháp mạch kéo dài khoảng 150 năm (Từ cuối nửa đời Đường đến những năm đầu đời Bắc Tống). Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “學 云:如 何 是潙 仰 下 事?師 云:斷 碑 橫 古 路。 – Học thưa: Thế nào là tông Quy Ngưỡng? Sư đáp: Gãy bia chắn giữa đường xưa”. Tiết Tông thừa yếu nghĩa trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 9 ghi: “潙 仰 宗 父 慈 子 孝、上 令 下 從、暗 合 機 輪、混 融 境 致、大 約 忘 機 得 體、舉 緣 明 用。 – Tông Quy Ngưỡng cha từ con hiếu, trên bảo dưới nghe, thầm hợp cơ luân, hòa tan cảnh trí, đại khái quên cơ được thể, nêu duyên rõ dụng”. ● 潙 山. 1. Còn gọi: Đại Quy Sơn. Núi nằm cách Tây thành 70km thuộc huyện Ninh Hương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Là một nhánh trong dãy Hành Sơn, là đầu nguồn của sông Qui. Trên núi phần lớn là đất bằng. Nguồn sông rất nhiều nước, từ xưa đến nay, người xuất gia canh tác ở đây, nên có tên là La Hán điền (Ruộng La Hán). Tổ tông Quy Ngưỡng là Thiền Sư Linh Hựu hoằng dương thiền phong tại núi này nên người đời gọi Ngài là Quy Sơn Linh Hựu. Trên núi có chùa Mật ấn, chùa Đồng Khánh, am Liên Hoa. ● 2. Còn gọi: Tiểu Quy Sơn. Núi nằm ở phía đông huyện Lễ Lăng tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Trên núi có chùa Tiểu Quy Sơn, do Thiền Sư Đại Duyên lập nên vào đời Đường. ● 潙 山 警 策. Gọi đủ: Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách. Ngữ Lục, 1 quyển, do Quy Sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47. Linh Hựu xét thấy người tu hành thời ấy phần lớn sinh lòng lười biếng, chẳng giữ oai nghi nên viết sách này để răn nhắc thiền tăng quay trở về chính đạo. Sách này do phối hợp 2 thể văn xuôi và văn vần mà thành. Ban đầu dùng văn xuôi thuật rõ ý định răn nhắc, chia làm 5 tiết: 1. Chỉ dạy về cái họa lớn của sắc thân. 2. Cảnh cáo về những đều hư hỏng, xấu xa của người xuất gia. 3. Giải thích về mục đích chính của người xuất gia. 4. Chỉ ra con đường tắt vào đạo. 5. Khuyên răn dặn dò để kết thúc. Tiếp theo là phần văn vần gồm 36 câu, mỗi câu 4 chữ, văn giản dị nhưng ý lại thiết tha. Thiền Tông đem sách này cùng Tứ Thập Nhị Chương Kinh, Phật Di Giáo Kinh họp thành “Phật Tổ Tam Kinh”, là bộ sách mà người sơ học cần phải đọc. Sách chú thích gồm có: ― Quy Sơn Cảnh Sách Chú, 1 quyển của Thủ Toại đời Tống. ― Quy Sơn Cảnh Sách Chỉ Nam, 1 quyển của Đạo Bái đời Minh. ― Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký, 2 quyển của Hoằng Tán. ― Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký Chú, 1 quyển của Đại Hương ● 潙 山 靈 祐 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Đàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục. Còn gọi: Đại Viên Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Quy Sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường, các vị Ngộ Phong Viên Tín, Quách Ngưng Chi biên tập vào đời Minh, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47. Nội dung gồm: Hành trạng, Thị chúng, Pháp môn luận cứu của Quy Sơn Linh Hựu cho đến hơn 60 điều đối thoại về Thiền Tông của sư với các vị: Bách Trượng Hoài Hải, Tư Mã Đầu Đà, Đặng ẩn Phong, Vân Nham, Đạo Ngô, Đức Sơn, Thạch Sương, Ngưỡng Sơn, Hương Nghiêm và lược ghi về lúc thị tịch của sư Linh Hựu. ● 歸 則 (1010-1070). Thiền tăng đời Tống, họ Đàm, tự Phúc Am, người Thọ Xuân (nay thuộc huyện Thọ, An Huy) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Văn Thắng, thuộc tông Pháp Nhãn đời thứ 5, trụ trì Tiến Phúc Thiền viện ở Thường Châu (nay là huyện Vũ Tiến, tỉnh Giang Tô). ● 歸 心. Thành tâm quy phụ. Tiết Tây Thiền Đảnh Nho Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “師 下 語、妙 喜 詬 之 曰:你 見 解 如 此、敢 妄 爲 人 師 耶?。。。師 淚 交 頤、不 敢 仰 視。默 計 曰:我 之 所 得、既 爲 所 排。西 來 不 傳 之 旨、豈 止 此 耶?遂 歸 心 弟 子 之 列。 – Sư hạ ngữ, Diệu Hỉ mắng rằng: Kiến giải như vầy mà dám làm thầy người ư! ………Nước mắt trên má sư ràng rụa, chẳng dám nhìn lên. Thầm nghĩ rằng: Sở đắc của ta là do sắp xếp, ý chỉ bất truyền từ ấn Độ sang đâu chỉ như vậy ư? Bèn thành tâm quy phụ làm đệ tử. “ ● 規 繩. Phép tắc, quy củ. Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “自 是 明 每 山 行、師 輒 瞰 其 出、雖 晚 必 擊 鼓 集 眾。明 遽 還、怒 曰:少 叢 林 暮 而 陞 座、何 從 得 此 規 繩?師 曰:汾 陽 晚 參 也、何 謂 非 規 繩 乎? – Sau giờ thọ trai, Từ Minh thường lên núi đi kinh hành, có các thiền giả đến tham vấn không biết đâu mà tìm. Sư biết Từ Minh đi chưa bao xa, liền đánh trống họp chúng. Từ Minh giận rầy: Từ đâu mà có quy củ buổi chiều thăng tòa nơi tiểu tùng lâm? Sư thưa: Phần Dương chiều vẫn tham vấn sao lại bảo chẳng phải quy củ?” ● 歸 寂. Còn gọi: Quy Chân. (Tăng nhân) Chết. Chương Tổ thứ 17 Tăng Già Nan Đề trong CĐTĐL q. 2 ghi: “尊 者(指 僧 伽 難 提)付 法 已。右 手 攀 樹 而 化。大 眾 議 曰。尊 者 樹 下 歸 寂。其 垂 蔭 後 裔 乎。 – Tôn giả phó pháp xong, tay phải vịn cây mà tịch. Mọi người bàn bạc rằng: Tôn giả quy tịch dưới cây có lẽ rủ lòng che chở cho hậu duệ chăng?” ● 歸 寂 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Trí Chân, sống vào đời Đường. X. Trí Chân. ● 歸 信. Thiền tăng đời Tống, ban đầu học Nho, giỏi thơ văn. Sư nối pháp thiền sư Thanh Phong Truyền Sở, trụ chùa Tịnh chúng ở Ích Châu (nay là Thành Đô, Tứ Xuyên). ● 歸 宗 寺. Chùa ở phía nam chân núi Lô Sơn, huyện Tinh Tử, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Niên hiệu Hàm Khang thứ 6 (340) đời Đông Tấn Hữu tướng quân Vương Nghĩa sửa nhà cũ của mình thành chùa để ngài Tam tạng Phật Đà Da Xá ở. Khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) đời Đường, ngài Trí Thường xây dựng lại lần nữa. Các văn nhân như: Bạch Cư Dị, Lý Bột cũng từng đến đây hỏi đạo; từ đó về sau nó trở thành thiền viện. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 9 (984), ngài Đạo Thuyên trụ trì chùa này, là đời thứ 12. Đạo tục tụ hội về, môn phong hưng thạnh. Về sau có các sư: Khắc Văn, Chính Hiền, Đàm Hoa, Huệ Nam trụ trì khiến cho chùa này trở thành đại đạo tràng của Thiền Tông. ● 歸 程 祥 參. Hồi quang phản chiếu để tham cứu bản lai diện mục của chính mình. Đây là quá trình tu hành tinh tấn sau khi đại ngộ để gánh vác yếu cơ của Phật giáo. Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (Đại 82, 2 thượng) ghi: “雖 謂 千 差 萬 別、但 喜 歸 程 祥 參;何 忘 卻 自 家 之 坐 床、謾 去 來 他 國 之 塵 境? – Tuy bảo rằng có muôn ngàn sai khác, nhưng mừng là biết tinh tấn tu hành sau khi đại ngộ. Sao quên mất chỗ ngồi của mình mà luống công lưu lạc tha phương?” ● 歸 重. Tôn sùng, kính trọng. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “後 遷 諸 巨 剎、住 歸 宗 日、大 慧 在 梅 陽、有 僧 傳 師 垂 示 語 句、慧 見 之、極 口 稱 歎。後 以 偈 寄 曰:坐 斷 金 輪 第 一 峰 、千 妖 百 怪 盡 潛 蹤。年 來 又 得 眞 消 息、報 道 楊 歧 正 脈 通。其 歸 重 如 此。 – Về sau, sư dời về các chùa lớn. Trong lúc sư ở chùa Quy Tông thì Đại Huệ đang ở Mai Dương; có vị tăng truyền tụng những lời dạy bảo của sư, Đại Huệ nghe được hết sức khen ngợi, sau đó dùng kệ ủy thác rằng: ›Quét sạch núi (đứng) đầu là Kim Luân, ngàn yêu trăm quái bặt hành tung. Sang năm lại được chân tin tức, xin thưa Dương Kỳ chính mạch thông. ‹ Sư được kính trọng như thế”. ● 歸 仗. Quy y. “Minh Chân Tụng” trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 18 ghi: “善 哉 圓 頂 方 袍、便 是 當 來 佛 樣。心 內 坦 然 平 夷、世 間 靡 不 歸 仗。 – Lành thay đầu tròn áo vuông chính là hình dáng Phật trong tương lai. Trong tâm thản nhiên phẳng lặng, thế gian không ai chẳng quy y. “ ● 貴. 1. Hy vọng, mưu cầu. Linh Hựu Ngữ Lục ghi: “只 貴 子 眼 正、不 說 子 行 李。 – Chỉ hy vọng rằng nhận thức của ngươi đúng, chớ không nói đến hành vi của ngươi. “ ● 2. Khiến cho. Tiết Lang Nha Huệ Giác thiền sư trong NĐHN q. 12 ghi: “汝 等 諸 人 若 到 諸 方、遇 明 眼 作 者、與 我 通 箇 消 息、貴 得 祖 風 不 墜。 – Các ngươi nếu có đến những thiền viện gặp bậc tông sư mắt sáng cho ta nhắn tin tức (sắp kiến tính), khiến cho Thiền Tông không suy vi. “ ● 3. Sắp, sẽ. Tiết Dục Vương Tịnh Đàm Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “紹 興 丙 寅 夏、辭 朝 貴 歸 付 院 事。四 眾 擁 視、揮 扇 久 之。 – Mùa hạ năm Bính Dần, niên hiệu Thiệu Hưng sư từ giã đất Triêu (Hà Nam) sắp trở về, định giao việc chùa cho tứ chúng coi sóc, nên mở cửa chờ họ. “ ● 貴 圖. Còn gọi: Quý Yêu. Hi vọng, mưu cầu. Mật Am Ngữ Lục ghi: “道 眼 不 明 宗 師。胡 說 亂 道。將 古 今 言 句。妄 意 穿 鑿。以 爲 極 則。貴 圖 稱 他 會 禪。此 是 第 一 等 大 病。 – Đạo nhãn không biết rõ tông sư nên ăn nói bậy bạ, đem ngôn cú cổ kim vọng ý xuyên tạc cho là cực tắc, hi vọng khen ông ta hiểu thiền, đây là bệnh lớn hạng nhất. “ ● 鬼 號 神 泣. Thần khóc quỷ gào. Hình dung dáng vẻ mừng giận, buồn vui đến cực điểm giống như sự gào khóc của quỷ thần. Tắc 59, Bích Nham Lục (Đại 48, 192 thượng) ghi: “水 灑 不 著。風 吹 不 入。虎 步 龍 行。鬼 號 神 泣。。。非 但 這 僧。直 得 鬼 也 號 神 也 泣。風 行 草 偃 相 似。 – Nước rưới chẳng dính, gió thổi chẳng vào. Hùm sải rồng lượn, thần khóc quỷ gào (…) chẳng những một vị tăng này cho đến cả thần cũng khóc quỷ cũng gào, giống như gió lướt làm cỏ rạp”. ● 鬼 屈 裏 子 禪 和 子. Thiền sinh bị quỷ ám. Quỷ khuất lý tử: Trong lòng bị quỷ ám. Thiền hòa tử: Thiền sinh, người tu học theo đạo Thiền. Đây là thuật ngữ để chỉ cho những người có tâm hắc ám, nhiều thiên kiến. Tông Lâm Tế ở Nhật Bản thường sử dụng thuật ngữ này để trách mắng các vị Thiền tăng nhiều ngã mạn cống cao. Sư Bạch ẩn Huệ Hạc đến tham vấn Thiền Sư Lão Ông ở chùa Chính Thọ Am. Thiền Sư vừa thấy Bạch ẩn vào cửa liền nói: Thiền sinh bị quỷ ám. ● 鬼 眼 睛. Con mắt quỷ quái. Tỷ dụ cho cái thấy chẳng chân chính, hoặc kiến giải nông cạn, không có chút giá trị. Phần giáp chú trong tắc 5, Bích Nham Lục (Đại 48, 144 hạ) ghi: “山 僧 從 來 不 弄 鬼 眼 睛。 – Xưa nay Sơn tăng không có đùa giỡn với những kiến giải vô giá trị”. ● 鬼 窟 裏. Còn gọi: Giả Giải Thoát Khanh. Trong hang quỷ, là chỗ rất âm u, tỷ dụ cho cảnh giới vướng mắc trong tình thức nên mê mờ chẳng thấy được chân lý. Chỉ cho trạng thái ngoan không mà thiền giả chấp trước cho là cảnh giới ngộ. Từ đó bị vướng mắc chẳng thông trở thành tà kiến. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 141 thượng) ghi: “休 相 憶(道 什 麼。向 鬼 窟 裹 作 言 計)。 – Thôi nhớ nhau (Nói cái gì? Đây là tìm kế sống trong hang quỷ!)”. ● 鬼 趣. Còn gọi: Quỉ Quật. Chỉ cho tình thức ý tưởng. Tiết Đầu Tử Nghĩa Thanh trong NĐHN q. 14 ghi: “諸 禪 德 到 這 裡、進 則 落 於 天 魔、退 則 沉 於 鬼 趣。不 進 不 退、正 在 死 水 中。 – Các vị thiền đức đến chỗ này, tiến thì rơi vào thiên ma, lùi thì kẹt trong tình thức ý tưởng, không tiến không lùi thì đang ở trong nước tù đọng. “ ● 決. 1. Xác định, rõ ràng. Tiết Ngưu Đầu sơn Pháp Dung thiền sư trong NĐHN q. 2 ghi: “貧 道 不 決 所 止、或 東 或 西。 – Bần đạo không xác định được chỗ dừng hoặc đông hoặc tây. “ ● 2. Thiền gia gọi dứt trừ tình niệm nghi hoặc, liền đó minh tâm ngộ tính là quyết. Chương Chứng Đạo ca của Vĩnh Gia Chân Giác đại sư trong CĐTĐL q. 30 ghi: “圓 頓 教 勿 人 情。有 疑 不 決 直 須 爭。不 是 山 僧 逞 人 我。修 行 恐 落 斷 常 坑。 – Giáo viên đốn không nhân tình, có nghi không quyết cần phải tranh, chẳng phải sơn tăng khoe nhân ngã, tu hành sợ rơi vào hầm hố thường đoạn. “ ● 決 定. 1. Chắc chắn, nhất định. Uyển Lăng Lục ghi: “平 日 只 管 瞞 人。爭 知 道 今 日 自 瞞 了 也。阿 鼻 地 獄 中 決 定 放 爾 不 得。 – Ngày thường chỉ lo dối người, đâu biết rằng hôm nay tự dối mình, địa ngục A Tỳ nhất định không tha ngươi đâu. “ ● 2. Rốt cuộc. Tiết Tịnh Từ Sở Minh Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “祖 師 心 印、非 長 非 短、非 方 非 圓、非 內 非 外、亦 非 中 間。且 問 大 眾、決 定 是 何 形 貌? – Tâm ấn Tổ sư chẳng phải dài chẳng phải ngắn, chẳng phải vuông chẳng phải tròn, chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng chẳng phải ở giữa. Thử hỏi mọi người rốt cuộc hình tướng nó là thế nào?” ● 決 了. Dứt trừ nghi hoặc, hiểu rõ thiền pháp. Tiết “Bản Tịnh truyện” trong TCTT q. 8 ghi: “遊 方 見 曹 溪 六 祖、決 了 疑 滯。 – Du phương yết kiến Lục Tổ ở Tào Khê, quyết liễu những nghi vấn. “ ● 決 裂. Phá hoại. “Nghệ Ngôn” trong NHQL q. 30 ghi: “今 有 等 妄 人、任 情 縱 恣、決 裂 禮 法、反 笑 守 律 儀 者 爲 局 曲、果 何 心 哉? – Ngày nay có những kẻ giả dối, mặc tình phóng túng, phá hoại lễ giáo, chê cười những người gìn giữ luật nghi là cố chấp, quả là cái tâm gì đây?” ● 決 疑. Dứt trừ nghi hoặc. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “又 有 一 僧 名 法 達、常 誦 法 華 經 七 年、心 迷 不 知 正 法 之 處。經 上 有 疑、大 師 智 慧 廣 大、願 爲 決 疑。 – Lại có vị tăng tên Pháp Đạt thường tụng kinh Pháp Hoa trong bảy năm, tâm mê không biết chỗ chính pháp: Trong kinh có nghi, đại sư trí huệ rộng lớn xin quyết nghi cho. “ ● 決 擇. Phán xét lý sự, dứt trừ nghi hoặc. Tiết Phần Dương Thiện Chiêu Thiền Sư trong NĐHN q. 11 ghi: “古 德 已 前 行 腳、聞 一 箇 因 緣、未 明 中 間、直 下 飲 食 無 味、睡 臥 不 安、火 急 決 擇、莫 將 爲 小 事。 – Trước kia bậc cổ đức đi hành cước nghe qua một công án mà chưa rõ thì lập tức ăn uống không ngon, nằm ngủ không yên, vội vã quyết trạch, chớ cho là việc nhỏ. “ ● 迥 無 獨 脫. Không có một chút ý niệm trần tục nào, riêng tự siêu thoát. Thản nhiên giải thoát. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “夫 如 眞 學 道 人。並 不 取 佛。不 取 菩 薩 羅 漢。不 取 三 界 殊 勝。迥 無 獨 脱 不 與 物 拘。乾 坤 倒 覆 我 更 不 疑。 – Nếu là người chân học đạo thì chẳng chấp lấy Phật, Bồ Tát, La Hán, chẳng chấp lấy sự thù thắng của tam giới, thản nhiên giải thoát, chẳng bị cảnh vật trói buộc, dù trời đất đảo lộn ta cũng không nghi”. ● 迥 出. Triệt để siêu thoát. Tiết Tĩnh Cư Hòa Thượng trong TĐT q. ghi: “凈 修 禪 師 贊 曰:曹 溪 門 人、出 世 廬 陵。唯 是 一 脉、迥 出 三 乘。澤 中 孤 燭、火 裏 片 冰。許 君 妙 會、說 底 相 應。 – Tịnh Tu Thiền Sư có bài tán về sư rằng: Môn đệ Tào Khê ra hoằng pháp ở Lô Lăng, chỉ nêu ra một mạch, triệt để siêu thoát tam thừa. Giống như ngọn đuốc trong đầm, mảnh băng trong lửa, dù cho rằng anh đã ngộ đi, nói cái gì tương ưng?” ● 瓊 林 寺. Chùa ở chân núi Quỳnh Lâm, nay thuộc xã Đông Triều, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Đây là một trong những ngôi chùa lớn nổi tiếng bậc nhất ở thời Trần. Chùa có viện (tức Quỳnh Lâm Viện) là nhà giảng kinh, và am gọi là am Bích Động, nơi Pháp Loa đọc sách và đón tiếp tăng hữu. Tăng đồ các nơi trong nước đến chùa Quỳnh Lâm theo học. Chùa cũng nhận được sự cúng dường rất lớn của nhiều người trong hoàng tộc… Ruộng chùa Quỳnh Lâm có đến 1. 000 mẫu, tá điền đông đến 1. 000 người. Những năm cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, cùng với chùa Vân Yên ở Yên Tử, chùa Báo Ân ở Siêu Loại, chùa này vào thời điểm Thiền Sư Pháp Loa trụ trì, là một trong ba trung tâm lớn nhất của giáo hội Trúc Lâm thời Trần. Trần Nhân Tông sau khi đã xuất gia từng đến thuyết pháp ở đây. Sau khi Pháp Loa mất (1336) chùa này vẫn được ngưỡng mộ vì là nơi lưu dấu các vị Tổ của thiền phái Trúc Lâm. Chùa đã qua vài lần bị phá hủy và kiến thiết lại. Vào thời Thiệu Trị (1840- 1847) chùa bị một bọn thổ hào đốt trụi chính điện và tiền đường, tương truyền chỉ có pho tượng Trần Nhân Tông là không cháy. Theo: DTLSVHVN do Ngô Đức Thọ chủ biên. ● 沙 中 取 油. Lấy dầu trong cát, tỷ dụ hành vi không căn cứ vào sự thực, luống công vô ích. Minh Chân Tụng trong Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 18 ghi: “覺 道 無 過 自 悟、參 禪 不 要 他 求。却 來 心 外 覓 佛、如 向 沙 中 取 油。 – Phật đạo, không gì bằng tự ngộ. Tham thiền, chớ nên cầu người khác Nếu tìm Phật ở ngoài tâm thì giống như tìm lấy dầu trong cát”. ● 拆. (Đóa hoa) nở. Tiết Bát Nhã Kính Tuân Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “優 曇 華 拆 人 皆 睹。 – Hoa Ưu Đàm nở, mọi người đều thấy”. ● 策 眞 (?-979). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Ngụy, người Tào Châu (Đào Tây, Đông Định), Trung Quốc. Lúc đầu tên Huệ Siêu, yết kiến Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, hỏi: “Thế nào là Phật?” Văn Ích đáp: “Ông là Huệ Siêu!” Sách Chân do đây ngộ nhập, nối pháp làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Sư trụ trì chùa Quy Tông núi Lô Sơn, có vị tăng hỏi: “Thế nào cảnh Quy Tông?” Sư đáp: “Ông thấy gì?” Tăng hỏi lại: “Thế nào là người trong cảnh?” Sư đáp: “Hãy bước ra!” Về sư dời sang các chùa Phụng Tiên, Báo Ân v. v… Được ban hiệu “Pháp Thí Thiền Sư”. ● 索 飯 錢. Sau khi chết bị Diêm Vương đòi tiền cơm, chỉ cho một phen hành cước tham học, không thu được kết quả gì, chỉ toi cơm của thí chủ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 眼 不 明。盡 須 抵 債。索 飯 錢 有 日 在。 –…Đạo nhãn chẳng sáng, cuối cùng phải trả nợ, có ngày bị Diêm Vương đòi tiền cơm. “ ● 索 索. Dáng vẻ nhanh nhẹn dứt khoát. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “若 是 得 意 底 人、自 解 作 活 計。舉 措 悉 皆 索 索 底、時 常 恬 恬 底。觸 物 則 轉、意 在 轉 處、住 則 獲 住、去 則 獲 去。 – Nếu là người lãnh ngộ thiền ý thì tự biết vận dụng thiền pháp. Mỗi hành động đều nhanh nhẹn dứt khoát, lúc nào cũng điềm tĩnh. Chạm vật liền chuyển, ý tại chỗ chuyển. Muốn đứng thì đứng, muốn đi thì đi. “ ● 策 子. Quyển sách. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “今 時 學 人 不 得。蓋 爲 認 名 字 爲 解。大 策 子 上 抄 死 老 漢 語。三 重 五 重 複 子 裹。不 教 人 見。道 是 玄 旨。以 爲 保 重。 – Thời nay người học chẳng được ngộ, bởi vì nhận danh tự làm kiến giải, trên quyển sách to sao chép lời nói của người đã mất, lấy khăn quấn lại đến năm ba lớp, không cho người khác thấy, nói là huyền chỉ, ngỡ là đáng quý trọng”. ● 差. 1. Khỏi bệnh. “Đại Giám Thiền Sư bi” trong Toàn Đường Văn q. 610 ghi: “ẩm chi diệu dược sai ký ám lung. – Uống thuốc nhiệm mầu khỏi bệnh câm điếc. “ ● 2. Kì lạ. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “差 珍 異 寶 盡 在 其 中。 – Trân bảo kì lạ đều ở trong đó. “ ● 差 排. Sai khiến, điều khiển. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “天 生 豈 受 差 排、誰 肯 輒 從 抑 出。 – Trời sinh há bị sai khiến, kẻ nào bằng lòng thì từ đây bị khuất phục. “ ● 差 異. Kì quái, kì lạ. Tiết Tây Dư Tịnh Đoan Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “山 僧 不 曾 見 恁 麼 差 異 畜 生。 – Sơn tăng chưa từng thấy súc sinh kì lạ như thế. “ ● 瘥 病 不 假 驢 駝 藥. Trị bệnh không nhờ đến thuốc Lô Đà, ý nói thuốc trị bệnh chỉ cần dùng một lượng nhỏ liền có hiệu quả. Tông Môn Võ Khố ghi: “只 管 問。古 人 作 麼 生。眞 如 又 如 何 下 語。楊 岐 又 如 何 下 語。爾 管 得 許 多 閑 事。瘥 病 不 假 驢 駝 藥。若 是 對 病 與 藥。籬 根 下 拾 得 一 莖 草。便 可 療 病。說 什 麼 朱 砂 附 子 人 參 白 朮。 – Chỉ lo hỏi: Người xưa thế nào? Chân Như làm sao hạ ngữ? Dương Kỳ làm sao hạ ngữ? Ngươi chỉ lo việc không đâu! Trị bệnh không nhờ đến thuốc Lô Đà, nếu là đối với bệnh và thuốc, dưới chân bờ giậu lượm được một cọng cỏ cũng có thể trị bệnh, nói gì đến Chu sa, Phụ tử, Nhân sâm, Bạch truật!”. ● 灑 灑 落 落. Sái sái: Từ hình dung tâm chẳng có mê hoặc. Lạc Lạc: Tâm không chấp trước, xa lìa mọi trói buộc và nhiễm ô. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho cảnh giới của người đại triệt đại ngộ. Tắc 8, Thung Dung Lục (Đại 48, 232 trung) ghi: “若 是 爾 灑 灑 落 落、不 妨 我 哆 哆 和 和。 – Nếu ngươi đạt đến cảnh giới của người đại triệt đại ngộ, thì chẳng ngại ta bô lô ba la”. ● 柴 石 野 人. Hiệu của thiền tăng Pháp Viễn đời Tống. X. Pháp Viễn. ● 攙. Tranh đoạt, cướp giật. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 瑞 巖 一 只 破 木 靴 幾 箇 攙 來 盡 要 拖 唯 有 老 僧 能 踢 脫 出 門 赤 腳 笑 呵 呵 “Thụy Nham nhất chích phá mộc ngoa Kỷ cá sàm lai tận yếu đà Duy hữu lão tăng năng thích thoát Xuất môn xích cước tiếu ha ha”. “Thụy Nham chỉ còn chiếc guốc mẻ Mấy người tranh nhau đều muốn xỏ Chỉ có Lão tăng dám hất ra Chân trần khỏi cửa, cười ha hả” ● 攙 奪. Tranh đoạt, cướp giật. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “王 令 稍 嚴。不 許 攙 奪 行 市。 – Lệnh vua rất nghiêm, chẳng cho cướp giật lộng hành ở chợ”. ● 攙 行 奪 巿. Cướp giật thị trường. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “吹 笛 打 鼓、攙 行 奪 市。 – Thổi sáo đánh trống, cướp giật thị trường”. ● 攙 先. Vượt lên trước. Mật Am Ngữ Lục ghi: “若 只 管 向 他 人 口 頭 取 辨。方 策 中 尋。要 契 合 心 田。縱 饒 參 到 彌 勒 下 生。也 不 能 得 悟。也 不 能 得 安 樂。何 故。蓋 起 心 動 念。便 被 情 識 欃 先 爲 累 也。 – Nếu ông chỉ lo phân biệt lời nói, tìm trong sách vở để mong khế hợp tâm điền, thì dầu tham đến Phật Di Lặc hạ sinh cũng không thể ngộ được, cũng không an lạc được. Vì sao? Bởi vì khởi tâm động niệm, liền bị tình thức vượt lên trước để làm lụy ông rồi”. ● 剷 子 禪. Thiền pháp trừ bỏ tất cả sự hiểu biết; có thể hình dung như cây cuốc, cuốc sạch tất cả bùn cát đất đá. Sản tử: cây cuốc. ● 創. Vừa mới. Chương Tư Phúc Như Bảo Thiền Sư trong CĐTĐL q. 12 ghi: “問 學 人 創 入 叢 林 一 夏 將 末。未 蒙 和 尚 指 教 願 垂 提 拯。 – Hỏi: Học nhân mới vào tùng lâm, một hạ sắp hết mà chưa được Hòa Thượng chỉ dạy, cúi xin cứu giúp. “ ● 撐 架 門 庭. Chỉ cho việc chống đỡ môn đình Thiền Tông. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 打 破 黑 漆 桶、十 方 空 豁 豁 爆 雷 一 喝 變 通、掣 電 千 機 頓 發 便 可 以 東 行 行 撐 架 門 庭 西 班 怒 罵 佛 祖 收 放 絕 來 由 縱 橫 透 今 古。 “Đập bể thùng sơn đen Mười phương trống hoang hoác Một hét sấm nổ biến thông Ngàn cơ điện chớp chóng phát mới có thể: bên Đông chống đỡ môn đình bên Tây giận mắng Phật Tổ Lấy bỏ tuyệt cả nguồn cơn Tung hoành thấu suốt kim cổ”. ● 撐 門 拄 戶. Chống cửa đỡ nhà, ý nói chống đỡ môn đình Thiền Tông. Vô Môn Quan ghi: “雲 門 可 謂、家 貧 難 辨 素 食、事 忙 不 及 草 書。動 便 將 屎 橛 來、撐 門 拄 戶。 – Vân Môn có thể nói là nghèo đến không dọn nỗi bữa cơm chay, bận việc đến không có thì giờ thảo thư. Động một tí là đem que chìu đít để chống đỡ môn đình”. ● 撐 天 拄 地. Chọc trời chống đất, hình dung việc chống đỡ môn đình của Thiền Tông. Vô Môn Quan ghi: 諸 方 深 與 淺、都 在 掌 握 中 撐 天 并 拄 地、隨 處 振 宗 風 “Chư phương thâm dữ thiển, Đô tại chưởng ác trung Sanh thiên tinh trụ địa Tùy xứ chấn tông phong”. “Khắp nơi dù sâu cạn Cũng tùy tay nắm thôi Chọc trời cùng chống đất Nếp nhà rạng nơi nơi”. ● 撐 觸. Dính mắc. Tiết Hương Nghiêm Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “思 清 人 少 慮、風 規 自 然 足、影 落 在 音 容、孤 明 絕 撐 觸。 – Nghĩ đến điều thanh tịnh người ta sẽ ít lo lắng, quy củ tự nhiên đầy đủ. Còn bóng dáng 6 trần thường là âm thanh và sắc tướng, mà tự tính thì không dính mắc những thứ ấy”. ● 敲 枷 打 鎖. Phá bỏ gông cùm. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho việc phá bỏ gông cùm “ngoan không đoạn diệt”. Chương Mật Am Hàm Kiệt trong Tục Truyền Đăng Lục q. 34 (Đại 51, 704 trung) ghi: “將 來 敲 枷 打 鎖 則 不 無。 – Sắp đến sẽ có việc phá bỏ gông cùm xảy ra”. ● 敲 空 作 響 擊 木 無 聲. Gõ vào hư không phát ra âm thanh, đánh lên bảng gỗ không có tiếng động. Đây là cách nói kỳ đặc của thiền sư: Trong cái nhìn của người ngộ đạo không có sự đối đãi giữa có tiếng và không tiếng, có tiếng cũng tức là không tiếng, không tiếng cũng tức là có tiếng. Vân Môn Quảng Lục q. trung, ghi: “舉 生 法 師 云:敲 空 作 響 擊 木 無 聲。師 以 拄 杖 空 中 敲 云:阿 耶 耶。又 敲 板 頭 云:作 聲 麼。僧 云:作聲。師 云:這 俗 漢。 – Pháp sư Cử Sinh nói: Gõ vào hư không phát ra tiếng, đánh vào bảng gỗ không âm thanh. Sư lấy gậy gõ vào hư không, nói: Cộc! Cộc! Rồi lại gõ vào tấm bảng gỗ hỏi: Có tiếng chăng? Tăng đáp: Có tiếng. Sư nói: Gã phàm tục này!”. ● 敲 門 瓦 子. Miếng ngói dùng để gõ cửa, cửa mở rồi thì ném bỏ nó đi; dụ chỉ cho lời nói chữ nghĩa dùng để khải phát việc ngộ đạo, sau khi lãnh ngộ thì không nên câu nệ vào lời nói chữ nghĩa nữa. Bài tựa của Thiền Sư Huệ Khai trong Vô Môn Quan: “慧 開、紹 定 戊 子 夏、首 眾 于 東 嘉 龍 翔。因 衲 子 請 益、遂 將 古 人 公 案、作 敲 門 瓦 子、隨 機 引 導 學 者。 – Huệ Khai tôi, vào năm Thiệu Định (1228) Mậu Tý, mùa hạ, thủ chúng tại chùa Long Tường, huyện Đông Gia, nhân tăng chúng thưa hỏi, bèn lấy công án của người xưa, mượn làm miếng ngói để gõ cửa, tùy căn cơ người học mà dẫn dắt”. ● 敲 床 竪 拂. Gõ vào pháp tòa, dựng đứng phất tử, đều là động tác thị cơ hoặc ứng cơ của thiền sư thường dùng, chỉ chung cho thiền cơ tác lược. Mật Am Ngữ Lục ghi: “朝 說 暮 說。展 演 河 沙 句 義。不 是 衲 僧 分 上 事。行 棒 行 喝。敲 床 豎 拂。揚 眉 瞬 目。不 是 衲 僧 分 上 事。 – Sớm nói tối nói, diễn thuyết quá nhiều nghĩa lý, chẳng phải là việc hướng thượng của nạp tăng. Sử dụng đánh hét, gõ vào pháp tòa dựng đứng phất tử, dương mày chớp mắt, chẳng phải là việc hướng thượng của nạp tăng”. ● 敲 唱. Gia phong của tông Tào Động. Sao: Người học gõ cửa thất của thiền sư để thưa hỏi về đạo lý. Xướng: Thiền Sư trả lời để tiếp dẫn họ. Chỗ hỏi đáp của Thầy và trò liên tục không thưa hở, gọi là Sao xướng cụ hành. Đây là 1 trong 3 loại cương yếu của Động Sơn Lương Giới. Tông Môn Thập Cử Luận (Vạn Tục 110, 440 thượng) ghi: “曹 洞 則 敲 唱 爲 用、臨 濟 則 互 換 爲 機、韶 陽 則 函 蓋 截 流、溈 仰 則 方 圓 默 契、如 谷 應 韻、似 關 合 符。 – Tào Động lấy Sao xướng làm dụng, Lâm Tế lấy Hỗ hoán làm cơ, Thiều Dương thì Hàm cái tuyệt lưu. Quy Ngưỡng lấy Phương viên (tướng vuông tròn) làm chỗ thầm khế hợp, giống như hang động vang tiếng vọng, trạm kiểm soát tra hỏi giấy tờ”. ● 剿 絕. Chỉ cho việc trừ sạch tình niệm trần tục, trừ hết vọng tâm phân biệt đối lập. Tiết Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 11 ghi: “僧 舉:「盤 山 云:光 鏡 俱 亡、復 是 何 物?洞 山 云:光 鏡 未 亡、復 是 何 物?」 據 二 彼 商 量、盡 未 得 剿 絕。師 拈 問 其 僧:作 摩 生 道 得 剿 絕?僧 云:還 解 怪 笑 得 麼?師 云:非 常 怪 笑 得。學 人 却 問:和 尚 如 何 道 得 剿 絕 去?師 云:兩 手 扶 犂 水 過 膝。 – Tăng nêu lên việc Bàn Sơn nói: Ánh sáng và gương đều mất, lại là vật gì? Động Sơn nói: Ánh sáng và gương chưa mất, lại là vật gì? Theo chỗ thương lượng của 2 người kia, thật chưa được sào tuyệt. Sư nêu ra để hỏi vị tăng ấy: Nói thế nào mới được sào tuyệt? Tăng nói: Có biết sợ người cười không? Sư nói: Rất sợ bị cười. Người học liền hỏi: Nói thế nào để được sào tuyệt? Sư nói: Hai tay kéo cày, nước quá gối”. ● 插 單. Nhập chúng. Đơn: đơn vị, tức chỗ ngồi của một vị Tỳ kheo. Sáp: sát nhập. Sáp đơn là đem chỗ ngồi của mình sát nhập vào chỗ ngồi của chư tăng trong thiền đường. Sau khi sáp đơn, mới được nhận làm một thành viên trong tăng đường, được sinh hoạt chung với chư tăng. Điều Tân Giới Tham Đường trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 5 (Đại 48, 1138 hạ) ghi: “然 後 歸 堂 插 單、隨 眾 禪 誦。 – Rồi sau mới trở về thiền đường xin một chỗ ngồi để theo đại chúng tọa thiền và tụng kinh”. ● 殺. Tắt lửa. Mật Am Ngữ Lục ghi: “夜 立 更 深。潭 云。侍 者 何 不 出 去。德 山 挨 簾 出。乃 云。外 面 黑。龍 潭 遂 點 紙 燭 度 與。纔 擬 接。潭 便 吹 殺。 – Đêm nọ sư đứng hầu, trời đã khuya. Hòa Thượng Long Đàm nói: Thị giả sao không lui ra? Đức sơn vén rèm bước ra, bèn nói: Bên ngoài tối như mực. Long Đàm liền thắp nến cho sư, sư vừa định tiếp lấy, Long Đàm liền thổi tắt. “ ● 剎 活 臨 時. Tùy thời cứu sống hoặc giết chết. Căn cứ vào thời cơ cụ thể mà vận dụng cơ phong: Hoặc chặt đứt vọng tưởng phân biệt (sát), hoặc làm sống lại chân tính linh giác (hoạt). Mật Am Ngữ Lục ghi: “虛 空 掛 劍。殺 言 臨 時。 – Treo kiếm trong hư không, tùy thời cứu sống hoặc giết chết”. ● 剎 活 令. Lệnh tha giết. Chỉ cho cơ phong chặt đứt vọng niệm phân biệt và làm sống lại chân tính. Vô Môn Quan ghi: “首 山 和 尚、拈 竹 篦 示 眾 云:汝 等 諸 人 若 喚 作 竹 篦 則 觸。不 喚 作 竹 篦 則 背。汝 諸 人 且 道、喚 作 甚 麼。頌 曰:拈 起 竹 篦、行 殺 活 令、背 觸 交 馳、佛 祖 乞 命。 – Hòa Thượng Thủ Sơn giơ cây trúc bề lên dạy chúng rằng: Này các ông, nếu gọi là cây trúc bề thì xúc phạm, nếu chẳng gọi là cây trúc bề thì trái nghịch. Thử hỏi các ông gọi nó là cái gì?… Tụng rằng: Gậy trúc giơ ra Hành lệnh tha giết Xúc nghịch cùng hòa Phật Tổ xin tha”. ● 剎 人 不 眨 眼. Giết người không chớp mắt, giết người mà không run sợ, chỉ cho người có tư cách cứng cỏi. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho bậc Thầy đã kiến tính tiếp hóa người học bằng thủ đoạn rất khốc liệt, chẳng hề nương tay hay vị nể. Tắc 4, Bích Nham Lục (Đại 48, 144 trung) ghi: “有 殺 人 不 眨 眼 底 手 腳。方 可 立 地 成 佛。有 立 地 成 佛 底 人。自 然 殺 人 不 眨 眼。方 有 自 由 自 在 分。 – Bậc tu hành phải có tư cách giết người không chớp mắt mới có thể lập tức thành Phật. Người lập tức thành Phật tự nhiên có tư cách giết người không chớp mắt mới có phần tự do tự tại”. ● 剎 人 刀 活 人 劍. Đao giết người, kiếm cứu người. Cơ xảo của chư Tổ tiếp dẫn hậu học có cao thấp. Thấp là tiểu cơ tiểu dụng, nghĩa là chỉ biết dùng Đao giết người. Cao là đại cơ đại dụng, vừa khéo dùng Đao giết người vừa khéo dùng Kiếm cứu người. Phần Thùy Thị, tắc 12, Bích Nham Lục (Đại 48, 152 hạ) ghi: “殺 人 刀 活 人 劍。乃 上 古 之 風 規。亦 今 時 之 樞 要。若 論 殺 也。不 傷 一 毫。若 論 活 也 喪 身 失 命。 – Thiền giống như đao giết người cũng giống như kiếm cứu người, là quy củ đã có từ xưa và cũng là then chốt của thời nay. Nếu luận về chỗ giết người thì chẳng thương tổn mảy lông, còn luận về chỗ cứu người thì vùi thân mất mạng”. ● 敕 賜. Mệnh lệnh của Vua ban. Trong tác phẩm chữ Nôm “Sãi Vãi” của Nguyễn Cư Trinh có câu: “Linh Sơn am quê ngụ, Sãi sắc tứ trụ trì – Quê của Sãi vốn là Linh Sơn, Sãi được vua cho phép Trụ trì”. ● 敕 賜 慈 恩. Chùa ở số 23 đường Tân Hóa, phường 14 Phú Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Chùa được dựng vào năm Gia Long thứ 1 (1802) tại thôn Hòa Hưng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (cũ) nay thuộc địa chỉ trên. Sau khi chùa xây xong, Hiếu Khang Hoàng hậu (họ Trương, mẹ Gia Long) cúng biển sơn. Năm 1821 vua Minh Mệnh ban biển tên chùa: Sắc tứ Từ Ân Tự. ● 瞋 瞍 吼 地. Phùng mang trợn mắt. Tục ngữ đời Tống, nghĩa là sự giận dữ như lửa cháy mạnh. Sân: nóng giận, Tẩu: trợn mắt, Hống: kêu rống, Địa: trợ từ ngữ vĩ. Chính Pháp Nhãn Tạng q. 1 của Đại Huệ Tông Cảo (Vạn Tục 118, 2 hạ) ghi: “未 觸 著 時、自 弄 毛 羽、可 憐 生、纔 有 人 撥 著、便 嗔 瞍 吼 地、有 甚 麼 近 處? – Lúc chưa có ai đụng đến thì tự khoe lông cánh, thật đáng thương! Bỗng có người khác khiêu khích, chạm nọc thì liền phùng mang trợn mắt, có chỗ nào là đạo lý đâu!”. ● 趁 口. Còn gọi: Sấn khẩu đầu, Sấn khẩu khoái. Đi theo sau người khác, lời nói có vẻ vội vàng, khinh suất. Tiết Phật Nhãn Viễn Thiền Sư trong GTPĐL q. 25 ghi: “從 上 南 泉 歸 宗 諸 人 方 喚 作 無 迷 無 悟 之 見、如 今 學 者 也 趁 口 說、無 迷 無 悟 又 何 曾 到 來?不 得 容 易 出 言、盖 爲 你 有 疑 在。 – Trước kia các vị Nam Tuyền, Quy Tông mới gọi là kiến giải không mê không ngộ. Hôm nay người học cũng bắt chước vội vàng nói không mê không ngộ, nhưng đâu từng đến được trình độ ấy? Chẳng được nói lời khinh suất, bởi vì các ngươi còn có nghi”. Chương Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong CĐTĐL q. 19 ghi: “亦 莫 趁 口 頭 亂 問。自 己 心 裏 黑 漫 漫 地。 – Cũng chớ nên vội vã hỏi bậy, vì trong tâm của chính mình còn tối mênh mang”. Tiết Hoằng Minh Thiền Sư trong TLTBT q. 2 ghi: “雖然 如 是、據 箇 什 麼 道 理 便 與 麼?莫 趁 口 快 向 這 裏 亂 道、須 是 箇 漢 始 得。 – Mặc dù vậy, căn cứ vào đạo lý gì mà nói như thế? Chớ có khinh suất nói bậy ở chỗ này, phải là bậc kiến tính mới được”. ● 趁 逐 言 章. Chấp trước vào chữ nghĩa thiên chương, tìm nghĩa giải trong ấy. Chương 14 liệu giản của Chí Công Hòa Thượng trong CĐTĐL q. 29 ghi: “聲 聞 心 中 不 了。唯 只 趁 逐 言 章。言 章 本 非 眞 道。轉 加 鬥 爭 剛 彊。 – Thanh Văn chẳng tỏ ngộ tự tâm, chỉ chấp trước vào chữ nghĩa thiên chương. Chữ nghĩa vốn chẳng phải là chân đạo, càng thêm đấu tranh mạnh mẽ”. ● 痴 狂 兩 頭 走. Kẻ si mê chấp trước hai bên. Thiền Tông cho rằng vạn pháp nhất như, sự vật không có hai đầu phân biệt và đối lập. Văn Ích Ngữ Lục ghi: “適 來 向 上 座 道、但 隨 時 及 節 便 得。若 也 移 時 失 候、即 是 虛 度 光 陰、於 非 色 中 作 色 解。上 座、於 非 色 中 作 色 解、即 是 移 時 失 候。且 道:色 作 非 色 解、還 當 不 還?上 座、若 恁 麼 會、便 是 沒 交 涉、正 是 癡 狂 兩 頭 走。 – Nãy giờ nói với Thượng tọa là chỉ hợp theo thời tiết liền được. Nếu đánh mất thời tiết tức là luống uổng thời gian, ở nơi phi sắc mà hiểu là sắc. Thượng tọa, ở trong phi sắc mà hiểu là sắc, tức là đánh mất thời tiết; thử hỏi: Sắc mà hiểu là phi sắc là đúng hay chẳng đúng? Thượng tọa, nếu hiểu thế ấy tức là không dính dáng, chính là kẻ si mê chấp trước hai bên, có dùng được chỗ nào?”. ● 癡 人 面 前 不 得 説 夢. Trước kẻ còn mơ, không nên nói mộng. Tiết Đông Thiền Tư Nhạc Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “春 風 幾 時 來、解 此 黃 河 凍?令 魚 化 作 龍、直 透 桃 花 浪。會 即 便 會、癡 人 面 前 且 莫 說 夢。 – Lúc gió xuân thổi đến mới biết được cái giá rét của Hoàng Hà này, khiến cá hóa thành rồng, xuyên qua sóng hoa đào. Biết thì liền biết, trước kẻ còn mơ, không nên nói mộng”. ● 士 曇 (1249-1306). Thiền tăng đời Nam Tống, họ Hoàng, tên Tử Đàm, hiệu Tây Giản, người xứ Tiên Cư, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thạch Phàm Duy Diễn, đời thứ 22 hệ Nam Nhạc, đời thứ 5 tông Lâm Tế Nhật Bản. Trụ trì chùa Kiến Trường ở Nhật Bản. ● 士 珪 (1083-1146). Thiền tăng đời Tống, họ Sử, tự Trúc Am, hiệu Lão Thiền, người Thành Đô (Tứ Xuyên), Trung Quốc. Thiếu niên xuất gia, sư siêng học kinh giáo, chuyên về “Lăng Nghiêm”. Sau khi thụ giới cụ túc, sư đến tham kiến Phật Nhãn Thanh Viễn, ngay dưới lới nói đại ngộ, nối pháp làm truyền nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế. Sau trụ các chùa Long Tường, Thiên Ninh, Bao Thiền, Đông Lâm. Niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) sư cùng với Tông Cảo ở Vân Môn soạn hơn trăm tắc tụng cổ được người trân trọng. Sư lại vào đất Mân, trụ trì Cổ Sơn ở Phúc Châu, phụng chiếu dời sang chùa Năng Nhân núi Nhạn Đãng làm Tổ khai sơn. Khi ấy, Chân Hiết ở chùa Giang Tâm, vì ngại duyên pháp chưa đầy đủ bèn qua sông đón sư về làm Phương trượng, nhân dân Ôn Châu họp nhau quy kính. Sư thông hiểu ngoại học, khéo thư pháp, giỏi về thư từ. Tác phẩm: Trúc Am Khuê Hòa Thượng Ngữ Yếu 1 quyển, Đông Lâm Hòa Thượng Vân Môn Am Chủ Tụng Cổ 1 quyển lưu hành nơi đời. ● 生 (k. ng). 1. Thay! (kng, thường dùng sau hình dung từ). Từ biểu thị sự tác động mạnh mẽ đến tình cảm người nói về một điều đạt đến mức độ rất cao, và ở trước hình dung từ thường có phó từ tương ứng thích hợp (đại 大, thái 太 = rất, lắm). Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “普 化 踏 倒 飯 床。師 云:太 麁 生。 – Phổ Hóa đạp đổ bàn ăn cơm, sư nói: Thô lắm thay!”. ● 2. Đặt sau nghi vấn đại từ như: (chẩm sinh), (Tác ma sinh) có nghĩa là: sao? thế nào? cái gì? Tiết Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “上 堂 次、陸 大 夫 曰:請 和 尚 爲 眾 說 法。師 曰:教 老 僧 作 麼 生 說? – Sư đang thượng đường, Lục Cắng Đại phu thưa: Thỉnh Hòa Thượng thuyết pháp cho đại chúng nghe. Sư nói: Ngươi bảo lão tăng nói cái gì?”. ● 3. Đặt sau phó từ như: (Hảo sinh), (Thậm sinh) có nghĩa là: rất, biết bao, lắm. Tiết Long Thọ Thiệu Khanh Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “因 侍 雪 峰、山 行 見 芋 葉 動、峰 指 動 葉 示 之。師 曰:紹 卿 甚 生 怕 怖。 – Tuyết Phong đi dạo núi, sư theo hầu; thấy lá khoai lay động, Phong lấy tay chỉ để khai thị cho sư. Sư nói: Thiệu Khanh sợ lắm”. ● 生 緣. Quê quán. Chương Ngũ Tổ Diễn Thiền Sư trong Ngũ Gia Chính Tông Tán q. 2 ghi: “生 緣 左 綿 蒲 許 村、听 講 成 都 大 慈 寺。 – Quê quán ở tả ngạn thôn Bồ Hứa, nghe giảng tại chùa Đại Từ ở Thành Đô. “ ● 生 涯. Lối thoát, con đường sống. Mật Am Ngữ Lục ghi: “烏 巨(密 庵 和 尚 之 法 號)與 麼 告 報。不 是 抑 他 雪 峰。且 要 天 下 衲 僧。向 後 各 各 自 有 生 涯。莫 總 作 遮 野 狐 精 見 解。 – Ô Cự tôi (pháp hiệu của Hòa Thượng Mật Am là Ô Cự, ở đây ngài tự xưng) nói như thế không phải là chê Tuyết Phong đâu, mà cốt để thiền tăng trong thiên hạ sau này mỗi người tự có con đường sống, chứ đừng đi theo con đường không chính đáng này. “ Tiết Tịnh Từ Sư Nhất Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “上 堂:寂 然 不 動、感 而 遂 通 古 人 恁 麼 說 話、大 似 預 搔 待 痒。若 教 渠 踏 著 衲 僧 關 捩、管 取 別 有 生 涯。喝 一 喝、卓 拄 杖 下 座。 – Sư thượng đường nói: Lặng yên chẳng động, nhờ cảm mà thành thông. Người xưa nói thế ấy giống như chưa ngứa đã gãi. Giá mà bảo y đạp nhằm chỗ then chốt sự lý của nạp tăng, trông coi riêng con đường sống. Nói xong hét một tiếng, dộng gậy rồi xuống tòa. “ ● 生 如 著 衫 死 同 脫 袴. Sinh ra như mặc áo, chết đi tợ cởi quần; ý bảo xem việc sống chết rất là bình thường. Đây là một cách biểu hiện của người lãnh ngộ thiền pháp, siêu thoát sinh tử. Mật Am Ngữ Lục ghi: “撞 入 母 胎 中。便 具 正 因 正 見。煉 磨 純 熟。纔 出 頭 來。一 撥 便 轉。本 地 風 光。頓 爾 現 前。不 假 他 心。及 至 出 生 入 死。超 然 卓 絕。談 笑 說 偈。恰 如 平 日。終 無 別 道 理。正 所 謂。生 如 著 衫。死 同 脫 袴。 – Chui vào thai mẹ có đủ chính nhân chính kiến, mài giũa thuần thục mới chịu sinh ra, một khi được Thiền Sư khơi gợi liền lập tức lãnh hội. Tự tính bỗng nhiên hiện tiền, chẳng phải tìm đâu nơi khác. Cho đến việc ra sống vào chết thật vượt mức thường, nói cười thuyết kệ giống như thường ngày. Rốt cuộc không có đạo lý nào khác, chính là chỗ nói sinh ra như mặc áo, chết đi tợ cởi quần”. ● 生 受. Bị giày vò. Tiết Bảo Phong Duy Chiếu Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “本 自 不 生、今 亦 無 滅、是 死 不 得 底 樣 子。當 處 出 生、隨 處 滅 盡、是 活 生 受 底 規 模。 – Vốn tự không sinh, nay cũng không diệt, đây là kiểu chết không được. Đương xứ sinh ra, tùy xứ diệt hết, đây là kiểu sống bị giày vò. “ ● 逞 人 我. Còn gọi: Tranh Nhân Ngã. Tỏ rõ sức mạnh. Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca ghi: “圓 頓 教 勿 人 情。有 疑 不 決 直 須 爭。不 是 山 僧 逞 人 我。修 行 恐 落 斷 常 坑。 – Giáo viên đốn không nhân tình, có nghi không quyết cần phải tranh. Chẳng phải sơn tăng khoe nhân ngã, tu hành sợ rơi vào thường đoạn. “ ● 逞 俊. Trổ tài. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “石 頭 雖 然 善 能 馳 達。不 辱 宗 風。其 奈 逞 俊 太 忙。不 知 落 節。 – Dẫu Thạch Đầu khéo thành đạt không làm nhục tông phong, nhưng chả lẽ không biết rằng trổ tài quá vội sẽ bất lợi. “ ● 超 寶 (1635-1709). Thiền tăng đời Thanh, họ Lưu, người Lư Lăng (Kiết An, Giang Tây), Trung Quốc. Lúc 9 tuổi sư đột nhiên phát bệnh nặng, cha sư đưa sư vào chùa Kỳ Đà lễ ngài Từ Thừa để cạo tóc. Khi 19 tuổi thụ giới cụ túc với Thanh Nguyên My Am, hầu hạ hơn mười năm. Sau sư đến Hàng Châu tham kiến Thiền Sư Viên Chiếu Mao Khê, tham cứu tâm chỉ được ấn ký, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế, hầu hạ Viên Chiếu 3 năm. Niên hiệu Khang Hy thứ 36 (1697) đáp ứng lời thỉnh của núi Thiên Mục, sư đến thuyết pháp hoằng hóa. Sau 3 năm sư trở về bản sơn ở am Hoạt Mai sống vào những năm cuối đời. Lưu lại đời sau Ngữ Lục 4 quyển. ● 超 格. Vượt khỏi khuôn khổ cách thức thông thường, phần lớn để hình dung tầm nhìn hoặc hành động phi thường của bậc triệt ngộ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “逗 到 大 休 大 歇 之 場。身 心 若 枯 木 寒 陸。大 棒 打 不 回 頭。千 人 萬 人。羅 籠 不 住。白 日 只 閑 閑 地。出 一 言 半 句。快 如 倚 天 長 劍。便 能 殺 人。亦 能 活 人。千 變 萬 化。卓 卓 盡 超 格。 – Làm cho đến chỗ thôi nghỉ, thân tâm như cây khô tro lạnh, dù có bị đánh rất đau cũng chẳng quày đầu, ngàn người muôn người khống chế chẳng nổi. Ban ngày chỉ thanh thản, nói ra một lời nửa câu bén như thanh ỷ thiên trường kiếm, có khả năng giết người, cũng hay cứu người, muôn ngàn biến hóa, hết sức cao siêu vượt khỏi khuôn khổ cách thức thông thường”. ● 超 證. Vượt khỏi giai vị thứ tự thông thường, trực tiếp lãnh ngộ. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “未 悟 往 生 者、必 念 佛 極 其 誠 切、若 參 禪 者 亦 如 彼 之 誠 切、則 雖 止 滯 人 天、取 悟 不 遠、再 出 頭 來、慧 根 頓 發、超 證 菩 提、未 可 限 量。 – Người chưa ngộ muốn vãng sinh, cần phải khẩn thiết niệm Phật. Nếu người tham thiền cũng khẩn thiết như người ấy, dù sinh vào cõi trời, người mà cùng chỗ ngộ chẳng xa, vừa mới sinh ra huệ căn chóng phát, siêu chứng Bồ Đề, chưa thể hạn lượng”. ● 超 證 大 師. Hiệu của Thiền tăng Tùng Yểm đời Ngũ Đại. X. Tùng Yểm. ● 超覺 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Huệ Lăng đời Ngũ Đại. X. Huệ Lăng. ● 超 詣. Trình độ rất cao. Tông Môn Võ Khố ghi: “平 昔 履 踐 明 白、見 道 超 詣。 – Trước kia do các việc làm như: tham thiền, tu tập, khế cơ đều rõ ràng, nên trình độ kiến đạo rất cao”. ● 超 悟. Vượt khỏi giai vị thứ lớp thông thường, trực tiếp lãnh ngộ. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “還 辯 明 得 也 無。未 辯 辯 取。未 明 明 取。既 辯 明 得 能 截 生 死 流。同 踞 祖 佛 位。妙 圓 超 悟 正 在 此 時。 – Có biện minh được hay không? Nếu chưa biện hãy biện đi, nếu chưa sáng hãy làm cho sáng đi. Còn như biện minh được rồi, hay cắt đứt dòng sinh tử, cùng ngồi ở địa vị Phật Tổ, diệu viên siêu ngộ, chính là ở lúc này”. ● 超 樂 (1642-1702). Thiền tăng đời Thanh, họ Trần, người Hải Diêm (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thiết Chu Hành Hải, làm truyền nhân tông Lâm Tế, trụ trì chùa Giang Thiên. ● 超 然. Vẻ siêu thoát sau khi khai ngộ. Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q. 1 ghi: “懷 讓 曰:馬 祖 一 蒙 開 悟、心 地 超 然、侍 奉 十 秋、日 益 深 奧。 – Hoài Nhượng nói: Mã Tổ một khi được khai ngộ, thần thái siêu thoát, nhưng vẫn hầu hạ ta đến mười năm nên chỗ ngộ ngày càng sâu mầu”. ● 超 方. 1. Vượt ngoài phép tắc thông thường, phần lớn chỉ cho tầm nhìn, lòng can đảm và trí hiểu biết của bậc triệt ngộ. Như Tịnh Ngữ Lục ghi: “上 堂 云:清 蘿 倚 喬 松 之 勢、紅 尾 竸 禹 門 之 浪、還 有 出 頭 人 麼?舉 拂 子 云:寶 劍 振 來 試 霜 刃、何 用 埃 塵 惹 匝 中?一 喝 云:超 方 者 委。 – Sư thượng đường nói: Giây leo nương vào thế cây tùng cao, cá đuôi đỏ thi đua qua sóng Vũ Môn, còn có người ra mặt chăng? Sư giơ cây phất tử lên nói: Gươm báu vung lên thử độ bén, đâu cần trong hộp rước bụi nhơ? Hét một tiếng, nói: Siêu phương thì biết”. ● 2. Du phương. Thị Chân Ngộ Thiền Sư trong HSLNMDT q. 2 ghi: “何 因 而 入 母 胎?何 因 而 汨 沒 愛 纏?何 因 而 愿 出 沈 淪?何 因 而 發 足 超 方?何 因 而 參 訪 知 識? – Do đâu mà vào thai mẹ, do đâu mà sa vào lưới ái, do đâu mà mong muốn ra khỏi luân hồi? Do đâu mà cất bước du phương. Do đâu mà tham phỏng tri thức”. ● 超 揆. Pháp danh của Thiền tăng Văn Quả đời Thanh. X. Văn Quả. ● 超 情 離 見. Vượt khỏi tình thức, thoát ly tri kiến. Mật Am Ngữ Lục ghi: “大 爐 鞴 中。千 鍛 萬 煉。徹 底 淨 盡 跳 得 出。無 絲 毫 領 覽。超 情 離 見。 – Trong lò rèn lớn, khổ công rèn luyện đến sạch sẽ hoàn toàn mới đem ra, không còn mảy may ý thức, vượt khỏi tình thức, thoát ly tri kiến”. ● 超 宗. Hiệu của Thiền tăng Huệ Phương đời Tống. X. Huệ Phương. ● 超 宗 異 目. Pháp nhãn phi thường, vượt khỏi khuôn phép của tông môn. Mật Am Ngữ Lục ghi: “若 是 親 證 親 悟 大 法 明 底 人。說 什 麼 把 斷 咽 喉。渠 自 有 超 宗 異 目 生 涯。開 眼 時。也 只 恁 麼 湛 湛 地。閉 眼 時。也 只 恁 麼 湛 湛 地。 – Nếu là người thân chứng thân ngộ, sáng được đại pháp thì nói làm gì đến việc quét sạch ngôn ngữ, y tự có pháp nhãn phi thường để sinh nhai. Lúc y mở mắt, cũng chỉ là trong trẻo thế ấy; khi y nhắm mắt cũng chỉ là trong trẻo thế ấy”. ● 超 宗 眼. Pháp nhãn vượt khỏi cách thức thông thường của Tông môn. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 9 ghi: “當 知 具 擇 法 眼、不 如 具 透 關 眼。具 透 關 眼、不 如 具 超 宗 眼。 – Nên biết có Trạch pháp nhãn chẳng bằng có Thấu quan nhãn; có Thấu quan nhãn chẳng bằng có Siêu tông nhãn”. ● 超 宗 越 格. Vượt thoát khuôn phép thông thường trong thiền môn, chỉ cho người triệt ngộ có nhãn lực và nhận thức không giống người tầm thường. Tiết Thị Dục Tạng Chủ trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 3 ghi: “你 若 未 具 超 宗 越 格 的 眼 目、又 無 縛 虎 拏 龍 底 手 段、未 免 一 切 處 一 切 時、見 色 被 色 碍、聞 聲 被 聲 碍、以 至 出 言 吐 氣 皆 是 白 日 青 天 開 眼 寐 語。 – Nếu ông chưa có cái nhìn vượt thoát khuôn phép thông thường trong thiền môn, lại không có thủ đoạn trói cọp bắt rồng thì ở mọi lúc mọi nơi sẽ chưa tránh khỏi việc bị sắc làm ngại khi thấy sắc, bị âm thanh làm ngại khi nghe tiếng, cho đến việc ông nói năng cũng đều là giữa ban ngày mà mở mắt nói mớ”. ● 超 智 (1610-1674). Thiền tăng đời Thanh, họ Hồ, hiệu Kỳ Nhiên, người Thành Đô, Trung Quốc. Xuất gia lúc 9 tuổi tại chùa Trung Phong, sư từng tham kiến các bậc tôn túc: Chúc Gia Am ấn Tâm, Thiên Đồng Mật Vân Viên Ngộ, Phá Sơn Hải Minh, Tượng Nhai Tính Diên v. v… Sau yết kiến Lộc Môn núi Sơn Đãng đắc pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Lần lượt trụ trì các chùa Linh Huệ, Song Trì, Bạch Thủy, Hoàng Long. Tác phẩm có: Kỳ Nhiên Trí Thiền Sư Ngữ Lục 2 quyển. ● 超 越 生 死. Đạo Phật cho rằng chúng sinh hữu tình đều ở trong biển khổ luân hồi sinh tử. Nhà thiền đem việc thoát khỏi sinh tử một cách triệt để làm mục đích tu tập và gọi đó là “siêu việt sinh tử”. Tiết Hòa Sơn Huệ Phương Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “然 五 家 宗 派、門 庭 施 設 則 不 無、直 饒 辨 得 倜 儻 分 明 去、猶 是 光 影 邊 事。若 要 抵 敵 生 死、則 霄 壤 有 隔。且 超 越 生 死 一 句 作 麼 生 道? – Nhưng ngũ gia tông phái, mỗi tông đều có cách giáo hóa riêng, dù ông phân biệt được rõ ràng thoải mái cũng còn là việc hư huyễn chẳng thật. Nếu muốn đối địch với sinh tử, thì còn cách xa như trời với đất. Thế thì một câu siêu việt sinh tử làm sao nói?”. ● 超 永. Thiền tăng đời Thanh, họ Diêu, hiệu Tể Luân, người Túy Lý (Chiết Giang), Trung Quốc. Thuở nhỏ theo Nho học, lớn lên công danh đạm bạc. Niên hiệu Thuận Trị thứ 7 (1650) sư lễ Thâm Vân Quả ở Gia Hưng (Chiết Giang) xin cạo tóc. Mùa thu năm ấy yết kiến Bách Ngu Tịnh Tư. Sau đó lần lượt du phương núi Thiên Đồng, Kính Sơn, chùa Báo Ân, chùa Kim Túc. Niên hiệu Thuận Trị thứ 9 (1652) tham kiến Thiền Sư An Điền Tĩnh, vào ngày Phật thành đạo (mùng 8 tháng 12) được ấn khả. Sau sư trụ trì chùa Thánh Cảm, Tây Sơn, Bắc Kinh. Niên hiệu Khang Hy thứ 32 (1679) biên tập Ngũ Đăng Toàn Thư 120 quyển; đặc biệt trước tác Thâm Tuyết Thảo Đường Tập, Pháp Uyển Anh Hoa, Độc Thư Tùy Ký, Cổ Kim Tăng Thi v. v… ● 雙 峰 寺. ở dưới núi Song Phong, phía tây huyện Nhũ Nguyên (khu tự trị dân tộc Dao), tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Còn gọi “Hưng Phúc Viện”. Khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-983) đời Tống, Thiền Sư Cánh Khâm (Huệ Chân Quảng Ngộ) sáng lập. Sau được ban cho tấm biển “Song Phong Sơn Hưng Phúc Thiền Tự”. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 2 (1087) Lương Thành trung tu. Đầu những năm Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh, Liễu Yết xây cất lại. Niên hiệu Thành Hóa thứ 5 (1469) Tổ Quan Thủ Giới trùng tu. Niên hiệu Chính Đức thứ 1 (1506) Thái Tiến trùng tu. Niên hiệu Gia Tỉnh thứ 22 (1543) Trinh Khải trùng tu. Niên hiệu Khang Hy thứ 22 (1683) đời Thanh trùng tu một lần nữa. ● 雙 塔 寺. ở ngõ chùa Định Huệ, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Được xây dựng vào khoảng niên hiệu Hàm Thông (860-873) đời Đường, ban đầu tên “Bát Nhã Tự”, sau đổi tên là “Thọ Ninh Vạn Tuế Thiền Viện”. Khoảng niên hiệu Ung Hy (984-987) đời Tống, anh em Vương Văn Hãn xây hai tháp gạch đứng đối nhau, bèn gọi là “Song Tháp Tự”. ● 初. Đặt trước từ phủ định, biểu thị phủ định một cách hoàn toàn, tương đương với “hào” (mảy mảy), “tuyệt” (tuyệt đối). Mật Am Ngữ Lục ghi: “與 平 常 人 初 無 二 樣。 – Cùng với người bình thường tuyết đối không sai khác. “ ● 疏 山. Núi thuộc huyện Kim Khê, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, nằm cách trung tâm huyện 29km về hướng tây bắc. Trong núi có chùa Sơ Sơn. Núi này vốn là chỗ đọc sách của ẩn sĩ Hà Tiên Đan đời Đường, nên có khi gọi là Thư Sơn. Khoảng niên hiệu Trung Hòa (881-884) đời Đường, Thiền Sư Khuông Nhân tông Tào Động đến núi này cất chùa, Vua ban bảng hiệu là Bạch Vân. Vào thời Nam Đường, đổi tên là Sơ Sơn. Đời Minh có Thiền tăng Tự Tính trụ chùa Sơ Sơn. ● 初 祖 庵. ở tây bắc chùa Thiếu Lâm, huyên Đăng Phong, tỉnh Hà nam, Trung Quốc. Hiện còn 1 điện, 2 đình, 1 các. Đại điện xây dựng vào niên hiệu Tuyên Hòa thứ 7 (1125) đời Tống, trong điện hai bên có cặp đối liễn khắc bằng gạch; “Tại Tây Thiên nhị thập bát Tổ; quá Đông Độ sơ khai Thiếu Lâm” (ở Tây Thiên hai mươi tám Tổ; qua Đông Độ mới mở Thiếu Lâm). Bên trong thờ tượng của Sơ Tổ, Nhị Tổ, Tam Tổ, Tứ Tổ, Ngũ Tổ. Trong điện trên trụ đá có khắc võ sĩ khí độ uy nghiêm, rồng bay sống động,, phụng múa tự nhiên, phi thiên bồng bềnh, rồng cuộn tròn trịa. Tòa Tu Di thần đài và đá giữ chân tường điện có khắc nổi cỏ cuốn, mãnh sư, kỳ lân, thủy thú đều sinh động truyền thần. Phía đông nam đại điện có một cây cổ bách, tương truyền là Lục Tổ Huệ Năng đem từ Quảng Đông về trồng nơi đây. Xung quanh điện phòng còn giữ gìn hơn 40 tấm đá khắc “Đạt Ma tụng bi”của Hoàng Đình Kiên, “Đạt Ma diện bích chi am” của Thái Biện. ● 楚 勛. Thiền tăng đời Tống. Sư đến Đại Long sơn thuộc Đảnh Châu (nay thuộc huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam) thờ Thiền Sư Trí Hồng làm thầy và nối pháp ngài, kế tiếp trụ trì làm hưng thịnh tông phong. Có vị tăng hỏi: Thế nào là cảnh Đại Long? Sư đáp: Thiền Sư các nơi chỉ dạy cho người. ● 楚 明 (1085-1145). Thiền tăng đời Tống, họ Trương, người Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thiện Bổn, thuộc tông Vân Môn đời thứ 8, trụ trì chùa Tịnh Từ ở Lâm An (tại Hàng Châu, Chiết Giang). ● 楚 南 (813-888). Thiền tăng đời Đường, họ Trương, người Phúc Châu, Trung Quốc. Thuở nhỏ sư theo Đàm Ái chùa Khai Nguyên làm Sa Di, sau khi cạo tóc sư đến núi Ngũ Đài thụ giới cụ túc, học giới luật, kinh Tịnh Danh, gần như thông được tông chỉ. Theo lời dạy của Phù Dung Linh Huấn, sư tham kiến Hoàng Bá Hy Vận được nối pháp. Vào niên hiệu Hội Xương Vua hủy diệt Phật pháp, sư liền ẩn trong rừng hoang. Sau nhân Bùi Hưu thỉnh nên sư trụ trì chùa Báo Ân ở Giang Tô hơn 20 năm, về sau lần lượt trụ chùa Bảo Lâm, núi Chi Hình. Niên hiệu Càn Phù thứ 5 (878) sư trụ viện Từ Vân núi Thiên Đốn, đồ chúng các nơi tụ hội, pháp hóa hưng thịnh; tuy ứng cơ rất nhiều mà vẫn lặng lẽ an nhiên. Niên hiệu Quang Khải thứ 3 (887) Ngô Việt Vương triệu vào cung thuyết pháp, ban cho tử y. Tác phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh Tụng 1 quyển, Phá Tà Luận 1 quyển. ● 楚 石 梵 琦 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục. Còn gọi: Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục, Sở Thạch Lục. Ngữ Lục, 20 quyển, do Phạm Kỳ soạn vào đời Nguyên, các vị Tổ Quang, Đàm Thiệu, Lương Ngạn biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 124, trang 71. Nội dung bao gồm Ngữ Lục của sư Phạm Kỳ ở các chùa: Phúc Trăn, Thiên Ninh Vĩnh Tộ, Đại Báo Quốc, Bản Giác và các phần Bỉnh phất tiểu tham, Tụng cổ, Pháp ngữ, Tạp trước và phụ Hành trạng cùng với lời tựa, tháp minh do Tống Liêm soạn. ● 楚 俊 (1262-1336). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hoàng, tự Minh Cực, người huyện Ngân (Chiết Giang), Trung Quốc. Tính nhàn nhã, không thích đùa giỡn. Năm 12 tuổi sư xuất gia với Trúc Song Hỉ chùa Linh Nghiêm; sau đó tham kiến Hoành Xuyên Như Hồng, sư siêng năng tham cứu ngày đêm không rảnh ăn ngủ. Sau nghe Hổ Nham Tịnh Phục giáo hóa hưng thạnh, sư bèn đến Lãnh Tuyền hầu hạ, có chỗ tỉnh ngộ. Sau đó ở pháp hội của Chỉ Hoằng Giám chùa Thiên Đồng, sư giữ chức Tạng chủ. Khi ra hoằng pháp, sư trụ trì chùa Phụng Thánh ở Kim Lăng (Nam Kinh), sau đó dời sang trụ chùa Thụy Nham, Phổ Từ, lại sang chùa Song Lâm. Chẳng bao lâu lần lượt đi du phương các chùa Kính Sơn, Linh ẩn, Thiên Đồng, Tịnh Từ, đều giữ chức Đệ nhất tòa. Niên hiệu Chí Thuận thứ 1 (1330) qua Nhật Bản, Đề Hồ Thiên Hoàng cho mời vào cung. Tấu đối đẹp lòng vua nên được ban hiệu “Phật Nhật Diễm Huệ Thiền Sư”. Xây dựng chùa Quảng Nghiêm để sư làm Tổ khai sơn. Sau đó phụng chiếu lần lượt trụ trì chùa Nam Thiền, Kiến Nhân, các nhân sĩ Nho học lẫn Phật học nghe danh tìm đến. Sau khi sư tịch, hài cốt được chia ra thờ phụng tại hai tháp Vân Trạch và Thiếu Lâm. ● 楚 圓 (986-1039). Thiền tăng đời Tống, họ Lý, người Thanh Sương, Toàn Châu (Quảng Tây), Trung Quốc. Lúc trẻ sư làm Nho sinh chuyên tâm học hành. Năm 22 tuổi sư xuất gia nơi chùa ẩn Tĩnh ở Tương Sơn. Đi đến cửa Tương Miến, sư kết bạn với Thủ Chi Cốc Tuyền rồi vào thành Lạc Dương. Nghe đồn Thiện Chiêu là đệ nhất trong thiên hạ, sư bèn đến Phần Châu (Phần Dương, Sơn Tây) y chỉ 2 năm mà vẫn chưa được vào thất. Mỗi lần yết kiến đều bị mắng chửi hoặc nghe ngài chê bai những nơi khác, những lời dạy bảo đều thô bỉ thế tục. Một hôm, Sở Viên đang than trách thì bị Thiện Chiêu nhìn kỹ mà mắng rằng: “Đồ ác tri thức! Ngươi dám trách ta à!” Còn quơ gậy đánh đuổi. Sư muốn giải bày, Thiện Chiêu liền bụm miệng sư, Sở Viên chợt đại ngộ, nói: “Đúng là đạo của Lâm Tế vượt ra ngoài thường tình”. Sư ở lại hầu hạ 12 năm lãnh ngộ hết ý chỉ. Sư còn tham phỏng Trí Tung ở Đường Minh, và cùng các danh sĩ đương thời như Dương Đại Niên, Lý Tuân Úc luận đạo. Muốn trở về quê hương cảnh tỉnh mẹ già, sư đi qua Quân Châu (Cao An, Giang Tây) nơi Động Sơn yết kiến Hiểu Thông xin y chỉ 3 năm. Lại đi đến Ngưỡng Sơn trụ chùa Quảng Lợi, Nam Nguyên, Viên Châu (Nghi Xuân, Giang Tây), Lại tham kiến Thần Đảnh Hồng Nhân, Hồng Nhân rất khen ngợi sư, nhờ vậy mà tiếng tăm vang dội. Sư làm chủ pháp tịch Đạo Ngô, Đàm Châu (Trường Sa, Hồ Nam), dời sang trụ chùa Sùng Thắng núi Thạch Sương, chùa Phúc Nghiêm Hành Sơn, sau đó thị tịch nơi chùa Hưng Hóa ở Đàm Châu. Thụy là “Từ Minh Thiền Sư”. Tác phẩm: Thạch Sương Sở Viên Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển. Đệ tử nối pháp có 50 người, song nổi tiếng nhất là Hoàng Long Huệ Nam, Dương Kỳ Phương Hội. ● 山 庵 雜 錄. Bút ký, 2 quyển, do Vô Uấn biên vào khoảng niên hiệu Hồng Võ (1368-1398) đời Minh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 323. Nội dung sách này được tuyển chọn từ: La Hồ Dã Lục, Vân Ngọa Kỷ Đàm, Tùng Lâm Công Luận, Thiền Lâm Bảo Huấn, các thứ Truyền Đăng Lục, cho đến các điều thấy nghe trong lúc tham học vào thời ấy. Đối với ngần ấy truyện có chỗ sai lầm, tác giả thêm phần khảo chứng lại. Quyển thượng thu thập hơn 70 điều từ Hoà Thượng Định Thủy Bảo Nguyệt đến Hòa Thượng Vô Tượng Dị. Quyển hạ thu thập hơn 60 điều từ Hồ Châu Tăng Tịnh đến Đàn chủ Đức Ngung, đều là đưa ra lời hay ý đẹp của các bậc danh tăng. ● 山 主. Chỉ cho vị Trụ trì của một tự viện. Về sau cũng dùng từ này để tôn xưng các vị thiền sư. Tông Môn Võ Khố ghi: “分 寧 雲 巖 虛 席、郡 牧 命 黃 龍 死 心 禪 師 擧 所 知 者、以 補 其 處。死 曰:准 山 主 住 得、某 不 識 他、只 見 有 〔洗 鉢 頌〕 甚 好。 – Chùa Vân Nham ở Phần Ninh chưa có Trụ trì. Quan Quận này nhờ thiền sư Hoàng Long Tử Tâm tiến cử cho một người để trông coi chùa ấy. Tử Tâm nói: Sơn chủ Chuẩn trụ trì nơi đó được. Có điều là tôi chẳng biết mặt ông ta, chỉ đọc được bài tụng Tẩy bát rất hay của ông ta mà thôi!”. ● 山 谷 寺. X. Tam Tổ Tự ● 山 門. 1. Còn gọi: Tam Môn. Cửa chính của tự viện. Như Tịnh Ngữ Lục, q. thượng ghi: “指 山 門:不 曾 動 步 上 天 台、金 鎖 玄 關 盡 豁 開 “Sư chỉ cánh cửa chính, nói: Không từng cất bước lên Thiên Thai, Khóa vàng của Tổ mở toang ra”. ● 2. Còn gọi: Sơn tự. Chỉ cho các tự viện, chùa. Tông Môn Võ Khố ghi: “慶 藏 主 在 智 海、偶 臥 病。秀(指 法 秀)欲 詣 問 所 苦、而 山 門 無 假、乃 潜 出 智 海 見 慶。 – Tạng chủ Khánh ở chùa Trí Hải chợt mắc bệnh. Pháp Tú muốn đến viếng thăm, nhưng chùa không cho phép. Tú liền lẻn đến Trí Hải để gặp Khánh”. ● 山 翁 夢 隱. Hiệu của thiền tăng Đạo Mân đời Thanh. X. Đạo Mân ● 山 僧. Lời của tăng sĩ tự xưng, phần lớn là lời của thiền sư trụ trì một tự viện tự xưng, hàm ý khiêm tốn. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “府 主 王 常 侍。與 諸 官 請 師 升 座。師 上 堂 云:山 僧 今 日 事 不 獲 已。曲 順 人 情 方 登 此 座。 – Tri phủ Vương Thường Thị cùng các quan trong phủ thỉnh Sư thăng tòa. Sư thượng đường bảo: Hôm nay, do sự bất dắc dĩ, Sơn tăng thuận theo nhân tình mới lên tòa này”. ● 皴 皵. Da dẻ thô ráp, sần sùi. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “多 年 松 樹 饒 皴 皵。心 間 自 有 一 條明。 Cây tùng lâu năm dù da dẻ sần sùi, nhưng trong ruột tự có một đường trong sạch”. ● 搐 鼻 因 緣. Công án vặn mũi. Công án này được thấy nơi chương Hoài Hải, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 như sau: “一 日、隨 侍 馬 祖 路 行 次、聞 野 鴨 聲。馬 祖 云:什 麼 聲?師 云:野 鴨 聲。良 久、馬 祖 云:適 來 聲 向 什 麼 處 去?師 云:飛 過 去。馬 祖 回 頭 將 師 鼻 便 搊。師 作 痛 聲。馬 祖 云:又 道 飛 過 去?師 於 言 下 有 省。却 歸 侍 者 寮、哀 哀 大 哭。同 事 問 曰:汝 憶 父 母 耶? 師 曰:無。曰:被 人 罵 耶?師 曰:無。曰:哭 作 甚 麼?師 曰:我 鼻 孔 被 大 師 搊 得 痛 不 徹。同 事 曰:有 甚 因 緣 不 契?師 曰:汝 問 取 和 尚 去?同 事 問 大 師 曰:海 侍 者 有 何 因 緣 不 契?在 寮 中 哭。告 和 尚 爲 某 甲 說。大 師 曰:是 伊 會 也、汝 自 問 取 他。同 事 歸 寮 曰:和 尚 道 汝 會 也、教 我 自 問 汝。師 乃 呵 呵 大 笑。同 事 曰:適 來 哭、如 今 爲 甚 却 笑?師 曰:適 來 哭、如 今 笑。同 事 罔 然。 – Một hôm sư đang theo hầu Mã Tổ đi dạo, nghe tiếng vịt trời kêu. Mã Tổ hỏi: Tiếng gì thế? Sư đáp: Tiếng vịt trời. Hồi lâu, Mã Tổ hỏi: Tiếng kêu vừa rồi đi đâu rồi? Sư đáp: Bay qua rồi. Mã Tổ xoay đầu lại vặn mũi sư, Sư đau quá kêu lên. Mã Tổ bảo: Lại nói bay qua đi? Sư nghe lời này có tỉnh. Khi trở về liêu thị giả, sư khóc to thảm thiết. Người đồng sự hỏi: Huynh nhớ cha mẹ phải không? Sư đáp: Không. Hỏi: Tại sao khóc? Sư đáp: Lỗ mũi tôi bị Hòa Thượng vặn, đến giờ vẫn còn đau. Người đồng sự nói: Có nhân duyên gì chẳng khế hợp? Sư bảo: Huynh hãy hỏi Hòa Thượng! Người đồng sự đến hỏi Mã Tổ: Thị giả Hải có nhân duyên gì không khế hợp, đang khóc trong liêu. Xin hòa thượng nói cho con biết với. Mã Tổ bảo: Y ta đã hội, ngươi hãy hỏi y. Người đồng sự trở về liêu, bảo: Hòa Thượng nói huynh hội rồi, bảo tôi về hỏi huynh. Sư liền cười to ha hả. Người đồng sự nói: Hồi nãy khóc, bây giờ lại cười. Sư bảo: Hồi nãy khóc, bây giờ lại cười. Người đồng sự mờ mịt. “ Đây là câu chuyện Bách Trượng Hoài Hải ngay nơi cơ dụng gợi ý của Mã Tổ mà lãnh ngộ đạo pháp và đạt được sự ấn chứng của Tổ. ● 崇 照 (?-1342). Thiền tăng đời Nguyên, họ Đoạn, người Phổ Ninh (nay thuộc Vân Nam), Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Trung Phong Minh Bản, làm truyền nhân tông Lâm Tế, trụ trì chùa Bàn Long trên núi Bàn Long tại Vân Nam. ● 崇 㭲 (1304-1378). Thiền tăng đầu đời Minh cuối đời Nguyên, họ Trần, tự Ước Chi, người Tỳ Lăng (Thường Châu, Giang Tô), Trung Quốc. Năm 16 tuổi, sư vào viện Thọ Xương theo Đông Lâm Hiểu Công xuất gia, cầu thụ giới cụ túc. Sau lên núi Song Kính yết kiến Tịch Chiếu Đoan Công xin làm thị giả. Đến núi Thiên Mục tham vấn Phật Huệ Nghĩa Công. Đến chùa Trung Thiên Trúc, Quảng Trí Hân Công vừa gặp đã kính trọng sư, ngôn ngữ khế hợp bèn được ấn chứng. Nhậm chức Duy Na, chẳng bao lâu lên chức Chủ Tạng thất, y chỉ hơn muời năm được trọn đạo pháp của Hân Công. Đời Nguyên, niên hiệu Chí Thuận thứ 2 (1331), sư ra trụ trì Quang Hiếu Thiền Tự ở Thái Bình (An Huy) rồi sang Sùng Thắng Thiền Tự ở Cửu Giang (Giang Tây). Đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ thứ 1 (1368) sư sang trụ Sùng Thắng Thiền tự ở Cửu Giang (Giang Tây). Đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ thứ 1 (1368) sư sang trụ chùa A Dục Vương ở Tứ Minh; Hồng Vũ thứ 5 (1372) sư đến Kinh Sư hiến kệ đẹp lòng vua, vua ngợi khen ban thưởng trọng hậu. Tác phẩm: Tam Hội Ngữ Lục. ● 崇 覺 寺 鐵 塔. Tục gọi: Tế Ninh Thiết Tháp. Nằm trong khuôn viên chùa Thiết Tháp, thành phố Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Sùng Giác tự còn gọi “Thích Ca Thiền Tự”, xây dựng vào niên hiệu Hoàng Kiến thứ 1 (560) đời Bắc Tề. Tháp xây vào niên hiệu Sùng Ninh thứ 4 (1105) đời Tống, ban đầu 7 tầng. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 9 (1581) đời Minh xây thêm 9 tầng. Hình bát giác cao 23,8m. Tòa nền xây gạch xanh, bốn mặt mở ra cửa cuốn hình vuông, trong tâm thất tháp hiện còn “Thiên thủ Phật tạo tượng” đời Tống, bia “ký tháp sự” niên hiệu Quang Tự thứ 7 (1881) đời Thanh. Mỗi tầng do ba phần lan can tòa bằng, thân tháp, mái cong hợp lại mà thành. Tòa bằng, mái cong đều dùng đấu củng ngẩng cao nâng đỡ. Bốn mặt của mỗi tầng mở ra cửa hình chữ nhật, đặc biệt bên ngoài bốn mặt thiết kế khám thờ 2 tượng Phật. Vách tháp tầng 1, tầng 2 có đúc minh ký: “Đại Tống Sùng Ninh ất Dậu Thường Thị Hoàn Phu Từ Vĩnh An Nguyện Cẩn Chú”. Tầng đỉnh bát giác có treo phong linh, lắp đặt sát tòa hoa sen bằng đồng, tháp sát bình báu bằng vàng ròng. Tháp này mô phỏng kiến trúc gỗ đặc điểm nặng nề, tạo dáng mỹ quan. ● 崇 慧. 1. Thiền tăng đời Đường (?-779), họ Trần, nối pháp Thiền Sư Trí Oai, thuộc tông Ngưu Đầu đời thứ 6. Khoảng niên hiệu Càn Nguyên (758-759) sư khai sơn núi Thiên Trụ. ● 2 Thiền tăng đời Đường, họ Chương, người Hàng Châu, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Kính Sơn Pháp Khâm, thuộc tông Ngưu Đầu đời thứ 8, trụ chùa Chương Tín, sư là “Cân Tử Sơn Hàng Ma Thiền Sư”. ● 崇 岳 (1132-1202). Thiền tăng đời Tống, họ Ngô, hiệu Tùng Nguyên, người Long Tuyền, Xử châu (Chiết Giang), Trung Quốc. Thuở nhỏ sư có chí xuất gia, 23 tuổi mới thọ ngũ giới làm Sa Di, lần lượt tham kiến các bậc tôn túc trong thiền lâm như: Yết Linh Thạch Diệu. Đại Huệ Tông Cảo, ứng Am Đàm Hoa v. v… Niên hiệu Long Hưng thứ 2 (1164) sư được độ nơi Tinh xá Bạch Liên ở Tây Hồ, đi du phương tham học với các thiền sư ở Giang Nam, Chiết Giang. Sau sư tham kiến Thiền Sư Mật Am Hàm Kiệt, nghe tăng hỏi câu “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật”, sư hoát nhiên đại ngộ, nối pháp làm truyền nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế. Sư lần lượt trụ chùa Báo Ân Quang Hiếu, các thiền viện Thật Tế, Tiến Phúc, Trí Độ, Vân Nham hoằng hóa cực thịnh. Niên hiệu Khánh Nguyên thứ 3 (1197) sư trụ trì chùa Linh ẩn và khai sáng chùa Hiển Thân Báo Từ. Đệ tử Thiện Khai, Quang Mục vì sư biên tập Tùng Nguyên Hòa Thượng Ngữ Lục 2 quyển. Lục Du soạn tháp minh. ● 崇 因 大 師. Hiệu của Thiền tăng Thanh Hộ đời Ngũ Đại. X. Thanh Hộ. ● 崇 梵 (1004-1087). Thiền tăng đời cuối Lê đầu Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đời thứ 11. Sư họ Mâu, dáng vẻ mạnh mẽ to lớn, hai trái tai thòng đến vai. Xuất gia xong, sư đến tham vấn với ngài Vô Ngại ở Hương Thành. Sau khi được tâm ấn, sư dạo khắp nước Thiên Trúc để cầu học hỏi sâu rộng. Mãn chín năm sư trở về nước, gồm thông giới định. Về sau, sư thuyết giảng Phật pháp tại chùa Pháp Vân làng Cổ Châu, Long Biên. Học trò các nơi tụ về rất đông. Hoàng đế Lê Đại Hành nhiều phen thỉnh sư vào cung để thưa hỏi huyền chỉ. Vua lấy lễ đãi sư rất trọng hậu. Đến năm Quảng Hựu thứ 3 triều Lý (1087) nhằm năm Đinh Mão, sư viên tịch, thọ 84 tuổi. Vua Lý Nhân Tông có làm bài kệ truy tặng sư: 崇 範 居 南 國、心 空 及 第 歸 耳 長 囘 瑞 質、法 法 盡 離 微 “Sùng Phạm cư Nam Quốc Tâm không cập đệ qui Nhĩ trường hồi thụy chất Pháp pháp tận ly vi”. “Nước Nam ngài Sùng Phạm Tâm không thi đậu về Tai dài hiện tướng lạ Pháp pháp thảy nhiệm mầu”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 崇 福 寺. 1. Phía bắc phố Đông, trong thành huyện Sóc, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Chùa xây vào niên hiệu Lân Đức thứ 2 (665) đời Đường. Đời Liêu từng làm dinh thự cho Lâm Thái sư, cho nên còn gọi “Lâm Nha Viện”. Khoảng niên hiệu Thống Hòa (983-1011) đời Liêu đổi tên “Lâm Nha Tự”. Niên hiệu Thiên Đức thứ 2 (1150) đời Kim đề biển “Sùng Phúc Thiền Tự”. Khoảng niên hiệu Càn Long (1736-1795) đời Thanh đổi tên “Sùng Phúc Tự”. Kiến trúc quy mô hùng vĩ tráng lệ, bố cục nghiêm cẩn, chủ thứ phân minh. Hiện còn Sơn môn, Quán Âm điện, Di Đà điện, Địa Tạng điện, Văn Thù điện, Tàng kinh các, Chung cổ lâu. Tàng kinh điện nằm phía trước các điện, là một loại tự miếu bố cục hiếm thấy. Di Đà điện xây vào niên hiệu Hoàng Thống thứ 3 (1143) đời Kim, hùng vĩ tráng lệ, là kiến trúc đời Kim quy mô khá lớn hiện còn, trong điện tố tượng bích họa được giữ gìn hoàn hảo. ● 2. Còn gọi: Cửu Phong Tự. Nằm trong núi Cửu Phong, cách trung tâm huyện Thượng Cao, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc 35km về phía tây. Khoảng niên hiệu Càn Ninh (894-898) đời Đường, Nam Bình Vương Chung Truyền quyên nhà làm chùa, Đường Chiêu Tông ban biển “Hoằng Tế”. Khoảng niên hiệu Thiên Phục (901-904) đổi tên là “Sùng Phúc Thiền Lâm”, là đạo tràng lớn của tông Tào Động. Chùa đến nay vẫn được giữ gìn hoàn hảo, chiếm diện tích chừng 1000㎡, trước sau điện vũ là hai dãy nhà, hai bên là phòng ốc. Trên cửa chính treo tấm biển viết bốn chữ lớn “Sùng Phúc Thiền Lâm”. Phong cảnh quanh chùa thanh tú đẹp đẽ, Cửu Phong chập chùng xanh thẳm. Ngọn Hương Lô đứng trước chùa, suối Quán Âm mùa đông ấm, mùa hè mát. ● 3. ở huyện Lâm An, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Khai Vận thứ 3 (946) đời Hậu Tấn, Thiền Sư Minh Nghĩa Trí Hậu sáng lập Bảo Thọ Viện. Niên hiệu Đại Trung Tường Phù thứ 1 (1008) đời Tống đổi tên “Sùng Phúc Thiền Tự”. Khoảng niên hiệu ĐạiQuán (1107-1110) bị phá hủy, khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) xây dựng lại. Cuối đời Nguyên bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 16 (1383) đời Minh xây dựng lại, sau lập thành tùng lâm. Niên hiệu Ung Chính thứ 12 (1734) đời Thanh tu sửa rất quy mô, là tổ đình tông Lâm Tế. Niên hiệu Gia Khánh thứ 6 (1801) Chu Văn Tảo, Thích Chân Nguyên biên tập “Sùng Phúc Tự Chí”. ● 4. Dưới núi Bắc Lĩnh, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, cách thành phố chừng 8km. Chùa xây vào niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 (977) đời Tống, nguyên tên là “Sùng Phúc Viện”, quy mô khá nhỏ sau bị hủy phế. Cuối đời Minh đầu đời Thanh xây dựng lại, đến đời Khang Hy thứ 38 (1699) mới đủ quy mô, về sau dần dần phát triển thành đại tự viện, phạm cung mọc lên như rừng, điện vũ nguy nga, đến cuối đời Thanh trở thành một trong năm đại thiền sát ở Phúc Châu. Những kiến trúc hiện còn phần nhiều được xây lại vào khoảng niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh. Chùa Sùng Phúc nằm trên sườn núi Tượng Phong, đồi núi bao quanh, tùng bách cao vút, nước khe trong vắt chảy quanh chùa, khung cảnh vô cùng u nhã tĩnh mịch. ● 5. Còn gọi: Chùa Tây Phương, Hoành Sơn Thiếu Lâm Tự. Chùa xây dựng trên núi Câu Lậu, thuộc xã thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Tây, Việt Nam, cách thủ đô 37km về hướng tây. Khoảng năm 865-873, Cao Biền cho xây ngôi chùa Tây Phương nguyên thủy trên đỉnh Câu Lậu và Trịnh Tạc sửa sang vào khoảng 1657-1682. Đến năm 1794, chùa được xây dựng lại hoàn toàn mới, đặt trên đỉnh núi cao 50m, muốn lên đến cổng chùa phải vượt qua 239 bậc xây đá ong. Chùa có ba tòa nhà chính, đặt cách nhau 1,6m. Tòa Bái đường phía trước và tòa Hậu cung phía sau có chiều dài lớn hơn với năm bước nhà, nhưng lại có chiều ngang với nhịp nhà bé hơn tòa Chính điện ở giữa. Nhà xây kiểu chồng diềm, hai tầng tám mái, khung gỗ chịu lực, tường ngoài xây gạch Bát Tràng để trần. Cột nhà cao hơn thì đường kính lớn hơn, hợp lý về chịu lực, hài hòa về kiến trúc, tất cả đều đặt trên các tảng đá xanh. Những chi tiết kiến trúc, trang trí trước hết là những đầu đao, giàu sức khái quát, khả năng truyền cảm. Các vì, xà, diềm mái chạm khắc chim muông, hoa lá, triện cuốn đặc biệt công phu. Hệ thống cửa gỗ lấy ánh sáng ở đây cũng đã tạo được một khung cảnh thoát tục, mơ màng. Chùa có trên 70 pho tượng, nay còn 64 pho, trong đó có nhiều tác phẩm quan trọng của điêu khắc Việt Nam cuối thế kỷ XVIII như tượng Tuyết Sơn, tượng La Hầu La, các vị La hán v. v… Theo: VHVNTH 898-95 ● 崇 福 寺 志. Chí, 4 quyển, do Chu Văn Tảo soạn vào đời Thanh, Thích Chân Nguyên hiệu đính, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Chùa Sùng Phúc là 1 trong những Tổ đình của tông Lâm Tế. Niên hiệu Gia Khánh thứ 6 (1801) đời Thanh, Chu Văn Tảo bắt đầu soạn “Sùng Phúc Tự Chí”, chia ra lịch trình thay đổi và phát triển của tự vũ, trụ trì tam môn, và còn được sự hiệu đính của Thích Chân Nguyên. Niên hiệu Quang Tự thứ 7 (188l), Tiền Đường Đinh Bính cho in lại, phía sau phụ “Trùng Kiến Sùng Phúc Tự Bi ký”. Quyển chí này từ niên hiệu Gia Khánh trở về trước, phần văn hiến của chùa Sùng Phúc đều được sưu tập đầy đủ. ● 崇 瑫. Thiền tăng đời Minh, tên đời là Triệu Dữu, tự Hoán Chi, hiệu Đại Dữu, người Ngô Giang (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Linh Nham Kế, trụ trì chùa Thiên Thai Quốc Thanh, mọi người gọi sư là Đại Dữu Hòa Thượng. ● 崇 信 (780-850). Thiền tăng đời Đường, họ Hồ người Kinh Châu (Giang Lăng, Hồ Bắc), Trung Quốc. Gia đình sư bán bánh, lúc ấy Đạo Ngô ở chùa Thiên Hoàng, Sùng Tín mỗi ngày biếu Đạo Ngô 10 cái bánh; sau theo Đạo Ngô xuất gia tỏ ngộ ý chỉ. Sư trụ Thiền viện Long Đàm, Lễ Châu (huyện Lễ, Hồ Nam) tông phong đại thịnh, người đời gọi là “Long Đàm Hòa Thượng”. Sau sư truyền pháp cho Đức Sơn Tuyên Giám rồi tịch. ● 揣 盡 家 私. Dốc hết vốn liếng, tỷ dụ có bao nhiêu lời hay đem ra nói hết, rơi vào hình thức. Vô Môn Quan ghi: “南 泉 和 尚、因 僧 問 云:還 有 不 與 人 說 底 法 麼?泉 云:有。僧 云:如 何 是 不 與 人 說 底 法?泉 云:不 是 心、不 是 佛、不 是 物。無 門 曰:南 泉 被 者 一 問、直 得 揣 盡 家 私、郎 當 不 少。 – Có vị tăng hỏi Hòa Thượng Nam Tuyền: Có pháp nào chưa dạy nữa không? Sư đáp: Có. Vị tăng lại hỏi: Pháp chưa dạy là pháp gì vậy? Sư nói: Không phải tâm, không phải Phật, không phải vật. Vô Môn nói: Nam Tuyền bị hỏi một câu như thế, phải dốc hết vốn liếng, lải nhải chẳng ít”. ● 師 陰. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Trung Vân Cái Sơn. Khi ra hoằng pháp, sư trụ viện Đại Trí tại Hòa Sơn. Sư học rộng, tính tình giản dị trầm lặng; suốt ngày ngồi lặng lẽ, có ai thưa hỏi mới đáp và chỉ đáp vắn tắt vài lời mà thôi. ● 師 印. Sự ấn khả, chứng minh của thiền sư. Thiên Nhất Túc Giác Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “雖 明 佛 理、未 得 師 印 – Tuy hiểu được Phật lý nhưng chưa được sự ấn khả của thiền sư”. ● 師 備 (835-908). Thiền tăng đời Đường, họ Tạ, người Phúc Châu, Trung Quốc. Thuở bé sư thích câu cá, thường thả thuyền trôi bồng bềnh trên mặt nước. Năm 30 tuổi mới có chí thoát trần, sư xuất gia với Thiền Sư Linh Huấn núi Phù Dung, lại đến chùa Khai Nguyên ở Dự Chương (Nam Xương, Giang Tây) thụ giới cụ túc. Thực hành phá Đầu Đà, sư mặc áo gai đi giày cỏ, ăn một bữa, tọa thiền suốt ngày, người đời gọi là “Bị Đầu Đà”. Cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn là huynh đệ trong đạo mà lại thân cận như thầy trò, đồng ra sức hoằng hóa, người học đạo tụ hội rất đông. Nhờ xem kinh Lăng Nghiêm phát minh tâm địa, các nơi thỉnh ích như trăm sông về biển cả. Ban đầu sư trụ viện Phổ ứng, dời sang núi Huyền Sa ở Phúc Châu ứng cơ tiếp vật hơn 30 năm, kẻ học đạo hơn 800 người. Mân Chúa Vương Thẩm ban tử y và hiệu “Tông Nhất Đại Sư”. Có Ngữ Lục 3 quyển truyền lại đời. ● 師 戒 (920-990). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Chu, người Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hồ Bắc), Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Sư Khoan, thuộc tông Vân Môn đời thứ 3, trụ trì chùa Ngũ Tổ ở Kỳ Châu (tại Hoàng Mai, Hồ Bắc). Có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 師 浩. Thiền tăng đời Tống, tham vấn Thiền Sư Hoài Nhạc ở Báo Ân và đắc pháp. Sư trụ trì viện Diệu Tế, Hương Sơn thuộc Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam). Hiệu: Truyền Tâm Đại Sư. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Diệu Tế?. Sư đáp: Kẻ tả hữu rất nhiều. ● 師 護. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Mân, nối pháp Quốc sư Đức Thiều ở Thiên Thai, thuộc tông Pháp Nhãn. Khi sư xuống núi hành hóa, chúa Nam Hán lễ sư làm thầy, sáng lập viện Quang Thánh ở Quảng Châu rồi thỉnh sư trụ trì, ban cho sư hiệu “Đại Nghĩa Thiền Sư”. Sư tịch vào khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-997) đời Tống. ● 師 會 (880-946). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Cự, người xứ Kế Môn (nay là huyện Kế, tỉnh Thiên Tân) Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở bé, lễ Thiền Sư Đạo Phi ở viện Ôn Tuyền làm thầy. Năm 20 tuổi sư thụ giới Cụ túc ở giới đàn Bảo sát tại Kim Đài. Khoảng niên hiệu Khai Bình (907-910) thời Hậu Lương, sư đi đến các nơi như: Hà Sóc, Giang Hoài; ở Hán Nam sư gặp Nghiêm Tuấn ở viện Quán Âm, bàn luận đạo lý quên cả thời gian. Sư vâng theo lời chỉ bảo của Nghiêm Tuấn đến núi Đầu Tử tham vấn Thiền Sư Đại Đồng, ngộ được bản nguyên và nối pháp ngài. Mùa thu niên hiệu Càn Hóa thứ 4 (914), sư nhận lời mời của Chí Tu phường Bảo Tích viện La Hán, thay thế ngài nhậm chức Trụ trì. Sau đó có Thượng thư Tả thừa Ngô Ái, Binh bộ thị lang Trương Ai quy y với sư. Hai vị Ngô, Trương cùng tâu về triều ban cho chùa sư bảng hiệu “Thiên Thọ Thiền Viện”. Từ đó, chư tăng lũ lượt kéo về. Sư trụ trì chùa này 35 năm, đồ chúng rất đông. Niên hiệu Thiên Phúc thứ 7 (942) vua Cao Tổ đời Hậu Tấn khen ngợi sư đức hạnh và ban cho y hồng. Niên hiệu Khai Vận thứ 1 (944), sư được vua ban hiệu “Pháp Tướng”. ● 師 寬 (890-955). Thiền tăng đời cuối Đường đầu Ngũ Đại, họ Hà, người huyện Tùy, Hồ Bắc, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ chùa Song Tuyền ở Hồ Bắc hoằng pháp. Có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 師 鼐. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư thờ Tuyết Phong Nghĩa Tồn làm thầy nương ở để tham thiền và có tỉnh ngộ. Sau đó nhận lời mời của Mân Vương, sư đến phó trai ở lầu Thanh Phong, ngồi đợi lâu sư ngước mắt nhìn, chợt thấy ánh nắng hoát nhiên đốn ngộ, có bài kệ như sau: “Thanh Phong lâu thượng phó quan trai Thử nhật bình sinh nhãn hoát khai Phương tín Phổ Thông niên viễn sự Bất tùng Thông Lãnh đới tương lai”. “Lầu Thanh Phong đến thọ trai Bỗng dưng mắt huệ tuyệt vời mở ra Mới hay việc Tổ lâu xa Chẳng từ Thông Lãnh mang qua chốn này”. Lúc trở về, sư trình lên Tuyết Phong, được ngài trao cho y bát. Khi ra hoằng pháp, sư trụ Việt Sơn tại Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang). Thự hiệu: Giám Chân Thiền Sư. ● 師 彥. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Hứa, người xứ Mân Trung, Trung Quốc. Sư xuất gia từ bé, trì giới nghiêm cẩn, tham vấn Thiền Sư Nham Đầu Toàn Khoát và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp sư trụ viện Thụy Nham ở Đan Khâu thuộc Thai Châu (nay là huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang). Sư oai đức nghiêm nghị, uốn nắn tăng ni, chẳng chịu để họ lầm lạc, nên Giang Biểu nói người hay điều phục đại chúng chỉ có Thụy Nham là bậc nhất. Thuỵ hiệu: Không Chiếu Thiền Sư. ● 師 笵 (1175-1249). Thiền tăng đời Tống, họ Ung, hiệu Vô Chuẩn, người Tử Đồng (Tứ Xuyên), Trung Quốc. Năm 9 tuổi sư theo Âm Bình Đạo Khâm xuất gia. Niên hiệu Thiệu Hi thứ 5 (1194) thụ giới cụ túc, niên hiệu Khánh Nguyên thứ 1 (1195) nhập hạ tại chùa Chính Pháp ở Thành Đô. Năm 20 tuổi sư theo học với Tú Nham Sư Thụy núi Dục Vương, khi ấy núi Dục Vương có Phật Chiếu Đức Quang ở am phía đông, Không Tẩu Tông ấn giữ chức Phân tọa. Sư Phạm nghèo, không có đồ cạo tóc nên thời nhân thường gọi sư là “Ô Đầu Tử” (Ông đầu đen). Về sau đến chùa Linh ẩn, Hàng Châu yết kiến Tùng Nguyên Sùng Nhạc, qua lại Nam Sơn ở lại sáu năm. Lại nghe Phá Am Tổ Tiên trụ núi Hoa Tú phía tây Tô Châu, sư liền đến y chỉ. Chẳng bao lâu, sư đến chùa Hoa Tạng ở Thường Châu (Giang Tô) hầu hạ Tông Diễn 3 năm, rồi lại trở về chùa Linh ẩn. Thị lang Trương Tư Tân sáng lập chùa Quảng Huệ thỉnh Phá Am Tổ Tiên trụ trì, sư cũng đến hầu 3 năm, còn theo Phá Am lên Kính Sơn. Truớc khi viên tịch, Phá Am Tổ Tiên đem pháp y đảnh tướng truyền cho sư. Niên hiệu Thiệu Định thứ 5 (1232) phụng sắc trụ Kính Sơn, năm sau vào điện Từ Minh thuyết pháp, vua Tống Lý Tông rất cảm động, ban hiệu “Phật Giám Thiền Sư” cùng vàng bạc lụa là để tu sửa chùa Kính Sơn. Niên hiệu Thuần Hựu thứ 9 (1249) ngày rằm tháng 3, sư viết hơn 20 trang di biểu, 3 ngày sau thị tịch. Tác phẩm: Vô Chuẩn Sư Phạm Thiền Sư Ngữ Lục 5 quyển, Vô Chuẩn Hòa Thượng Tấu Đối Ngữ Lục 1 quyển. ● 師 述. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Quốc sư Đức Thiều ở Thiên Thai, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ Nghiêm Phong tại Phúc Châu. Có vị tăng hỏi: Thế nào là Văn Thù? Sư đáp: Chỗ đến rất rõ ràng. ● 師 承. Thầy truyền pháp cho đệ tử. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 1 (Đại 48, 1018 hạ) ghi: “雖 群 居 類 聚。率 而 齊 之。各 有 師 承。 – Tùng lâm tuy là chỗ tụ tập của nhiều hạng người, nhưng nhờ có đầu tàu gương mẫu nên vẫn được đàng hoàng, đúng phép. Vì thế, mỗi tùng lâm cần có sự truyền trao từ vị Thầy xuống trò”. ● 師 進. Thiền tăng đời Tống. Sư tham yết Thiền Sư Long Hoa Linh Chiếu và đắc pháp. Ban đầu, sư ở viện Lục Thông tại Thai Châu (nay là huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang), sau đó dời đến viện Thụy Nham, thiền tăng theo học rất đông. Môn đình nghiêm túc, là thiền viện đứng đầu các nơi vào thời ấy. ● 師 賾 (1376-1432). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, tự Hy Cổ, hiệu Giản Am, Phật Giám, người xứ Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 17 tuổi, sư theo ngài Thiên Vũ Tịnh Công ở chùa Vạn Thọ để xuất gia, hầu hạ ngài một thời gian, thường vào thất thưa hỏi nhưng cơ duyên phần lớn không hợp, nên sư đến tham vấn ngài Thời Am Phu Công ở chùa Linh ẩn tại Hàng Châu song khối nghi vẫn chưa vỡ. Ít lâu sau, sư đến Nam Kinh, lễ ngài Tuyết Hiên Thành; ngài vừa gặp sư liền biết là pháp khí nên bảo sư làm Tri tạng. Niên hiệu Kiến Văn thứ 2 (1400), sư ra hoằng pháp trụ chùa Sùng Phúc ở Hàng Châu. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) sư mời các bậc cao tăng chứng minh cho việc sửa chữa Đại tạng. Năm 1417, sư vâng chiếu trụ trì chùa Trung Thiên Trúc. Công việc hoàn thành, sư được Vua ban cho y, tiền bạc, Phật tượng, vòng ngọc để trang trí cho kinh. Sau đó, sư dời đến chùa Tịnh Từ ở Hàng châu; đến nơi sư quyên góp để xây dựng điện La Hán, điện Viên Thông. ● 師 智. Thiền tăng đời Tống, tham vấn Thiền Sư Thanh Tủng ở Linh ẩn được ngộ, nối pháp Ngài, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Báo Ân ở Xử Châu (nay là huyện Lệ Thủy, tỉnh Chiết Giang). Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa Thượng? Sư đáp: Ai mà chẳng thấy? Tăng lại hỏi: Thế nào là Nhất tướng tam muội? Sư đáp: Xanh, vàng, đỏ, hồng, trắng. ● 師 資. Thầy và trò trong thiền lâm. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL, q. 30 ghi: “近 日 禪 人 却 以 先 輩 之 語 爲 不 然、惟 相 與 學 頌 古、學 機 鋒 過 日。學 得 文 字 稍 通、口 頭 稍 滑 者、則 以 拂 子 付 之、師 資 互 相 欺 誑、而 達 摩 之 旨 又 安 在 哉! – Gần đây người học thiền lại cho lời của bậc tiền bối là chẳng đúng. Họ cùng nhau học tụng cổ, học cơ phong qua ngày. Mới hơi thông chút ít chữ nghĩa, mới hơi trơn được miệng mồm thì đã vội truyền trao. Thầy trò dối gạt lẫn nhau thì ý chỉ Đạt Ma còn đâu nữa!”. ● 師 子 吼. Nhà Phật tỷ dụ Đức Phật Thích Ca thuyết pháp như sư tử hống. Cụm từ này trong thiền ngữ chỉ cơ ngữ đặc biệt lạ lùng của thiền sư kiệt xuất. Chứng Đạo Ca của Thiền Sư Huyền Giác (Đại 48) ghi: 師 子 吼、無 畏 說 深 嗟 懵 懂 頑 皮 靼 祇 知 犯 重 障 菩 提 不 見 如 來 開 祕 訣 “Sư tử hống, vô úy thuyết Thâm ta mông đổng ngoan bì đát Chỉ tri phạm trọng chướng Bồ Đề Bất kiến Như Lai khai bí quyết”. “Sư tử hống, thuyết vô úy Thương thay ai vẫn mê mờ tối Mãi e tội chướng lấp Bồ Đề Chẳng thấy Như Lai bày bí quyết”. CĐTĐL q. 13 ghi: “問:如 何 是 獅 子 吼?師 曰:阿 誰 要 汝 野 干 鳴。 – Có vị tăng hỏi: Thế nào là sư tử rống? Sư đáp: Ai cần ngươi làm chồn hoang kêu”. ● 獅 子 院. ở ngọn Sư Tử núi Thiên Mục, phía tây tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Chí nguyên thứ 16 (1279) đời Nguyên Thiền Sư Cao Phong Nguyên Diệu sáng lập, ban đầu gọi “Sư Tử Viện”. Niên hiệu Diên Hựu thứ 5 (1318) đổi tên là “Sư Tử Chính Tông Tự”. Cuối đời Nguyên bị chiến tranh phá hủy. Sau khi xây cất lại chùa có rất nhiều tên “Khai Sơn Lão Điện”, “Thiền Nguyên Tự”, “Chính Tông Tự”. X. “Chính Tông Tự”. ● 師 匠. Bậc thầy kiến tính khéo dẫn dắt kẻ hậu học. Tào Khê Đại Sư Biệt truyện ghi: “昨 夜 某 房 論 議、在 後 者 是 誰?此 人 必 稟 承 好 師 匠。 – Đêm qua bàn luận nghĩa lý trong phòng của tôi, người đứng phía sau là ai vậy? Người này chắc chắn đã được bậc thầy kiến tính truyền dạy”. ● 師 蘊 (?-973). Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Kim Hoa (nay thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc). Sư tính tình thành thực, gặp việc phần nhiều nói thẳng không kiêng nể. Khoảng niên hiệu Long Đức (921-923) thời Hậu Lương, sư kết bạn với Thiền Sư Đức Thiều lần lượt đi đến các danh sơn thắng cảnh như: Thanh Lương, Thương Ngộ, Chúc Thánh v. v.. Sau đó, sư trụ chùa Bát Nhã ở núi Thiên Thai. Hễ gặp người thích hài hước thì sư gắn bó như keo sơn, nên số người gìn giữ oai nghi tế hạnh không chịu kết bạn với sư, trừ Đức Thiều là hiểu được sư. Niên hiệu Khai Bảo thứ 6 (973) đời Tống, sư không bệnh ngồi thị tịch, như vào thiền định. ● 師 郁. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Tuyền Châu, tham vấn Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn và đắc pháp nơi Ngài. Sư ở viện Tây Hưng Trấn Hóa Độ tại Hàng Châu. Sư học rộng, giỏi thi ca, nổi tiếng khắp xa gần. Ngô Việt Vương tặng thự hiệu “Ngộ Chân Đại Sư”. ● 事 無 一 向. Không có vật nào giữ mãi trạng thái ban đầu của nó, ý nói phép tắc, sự lý tương đối v. v.. đều có thể biến đổi, nên có thái độ linh hoạt khi vận dụng nó. Đây là tập quán ngữ của thiền sư khi mở pháp môn phương tiện. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “開 堂 日。宣 疏 了 乃 云:疏 帖 一 時 讀 了。若 是 具 金 剛 眼 睛 底。何 必 重 說 偈 言。雖 然 如 是。事 無 一 向。便 陞 座。 – Ngày sư vào viện khai đường, đọc sớ xong bèn nói: Sớ thiếp đọc qua một lượt, nếu là người có con mắt kim cang, đâu cần phải lặp lại lời kệ? Mặc dù như thế, sự vô nhất hướng. Sư liền thăng tòa”. ● 飾 讓. Cố tình khiêm nhường để tự làm nổi bật. Tiết Thanh Hóa Toàn Phô Thiền Sư trong NĐHN q. 9 ghi: “忠 獻 王 賜 紫 方 袍、師 不 受。王 改 以 衲 衣、仍 號 純 一 禪 師。師 曰:吾 非 飾 讓 也、慮 後 人 倣 吾 而 逞 欲 耳。 – Trung Hiến Vương ban cho sư Tử phương bào (áo dài bằng lụa đỏ tím), sư chẳng nhận. Vương sửa thành nạp y (áo của tăng sĩ) còn ban cho sư hiệu Thuần Nhất Thiền Sư. Sư nói: Tôi chẳng phải cố tình khiêm nhường làm gì, chỉ lo rằng người sau bắt chước tôi rồi sinh lòng ham hố mà thôi”. ● 蹉 跎. Hỏng, làm lầm. Chương Thập Huyền Đàm trong CĐTĐL q. 29: “枯 木 巖 前 差 路 多、行 人 到 此 盡 蹉 跎。 – Trước núi cây khô nhiều lối tẻ, người đi đến đó đều bị lầm. “ ● 些 些. Chút ít. Bài thơ “Nhân có người cho con trâu không sừng” trong PDNL q. hạ ghi: 有 頭 無 角 實 堪 嗟 百 劫 難 逃 這 作 家 凡 聖 不 能 明 得 盡 現 前 相 貌 有 些 些 “Hữu đầu vô giác thật kham ta Bách kiếp nan đầu giá tác gia Phàm thánh bất năng minh đắc tận Hiện tiền tướng mạo hữu ta ta”. “Có đầu không sừng thật đáng khen Trăm kiếp khó trốn bậc sư Thiền Phàm thánh đâu hay rõ hết được Chút ít tướng mạo bày hiện tiền”. ● 些 小. Một chút, chút ít. Tiết Ngạc Châu Vô Đẳng Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “其 僧 至 來 朝 上 參、師 乃 轉 身 面 壁 而 臥、佯 作 呻 吟 聲 曰:老 僧 三 兩 日 來、不 多 安 樂。大 德 身 邊 有 甚 麼 藥 物、與 老 僧 些 小。 – Vị tăng ấy chờ đến sáng hôm sau lên phương trượng tham vấn. Sư liền xoay mặt vào vách mà nằm, miệng làm bộ rên rỉ, bảo rằng: Hai ba ngày nay, lão tăng không được khỏe. Đại đức có thuốc gì mang theo bên mình, cho lão tăng xin chút ít”. ● 些 子. Còn gọi: Ta Tử Cá. Một ít, chút xíu. Vô Môn Quan ghi: “既 是 無 門、因 甚 有 關、老 婆 心 切、惡 聲 流 布。無 庵 欲 贅 一 語、又 成 四 十 九 則。其 間 些 子 誵 訛、剔 起 眉 毛 薦 取。 – Đã là không cửa, nhân đâu mà có cổng? Tâm lão bà thiết tha, tiếng xấu rao truyền. Vô Am muốn nói rườm rà thành 49 tắc, trong đó có chút xíu sai lầm, hãy phấn chấn tinh thần mà lãnh hội”. ● 謝 三 郎. Còn gọi: Tạ Tam. Chàng Ba họ Tạ. Chỉ cho Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị thuộc pháp hệ Thanh Nguyên. Sư Bị họ Tạ, khi còn ở nhà ông là người con thứ ba nên mọi người thường gọi ông là Tạ tam lang. Tắc 22, Bích Nham Lục (Đại 48, 162 hạ) ghi: “玄 沙 云:用 南 山 作 什 麼(釣 魚 船 上 謝 三 郎。只 這 野 狐 精。猶 較 些 子。喪 身 失 命 也 不 知)。 – Huyền Sa nói: Dùng Nam Sơn để làm gì? (Trên thuyền chàng Ba họ Tạ đang câu cá, chỉ có đồ chồn tinh ranh này là còn khá hơn một chút! Chết đến nơi mà cũng chẳng biết)”. Bài Giang Hồ Tự Thích trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục có ghi: 曉 掛 孤 帆 淩 汗 漫 晚 橫 短 笛 弄 煙 波 謝 三 今 已 無 消 息 留 得 空 船 閣 淺 沙 “Hiểu quải cô phàm lăng hãn mạn Vãn hoành đoản địch lộng yên ba Tạ Tam kim dĩ vô tiêu tức Lưu đắc không thuyền các thiển sa”. “Chiều nghiêng sáo thổi sương lồng khói. Sáng quấn buồm phăng sóng bạc đầu Tăm bóng Tạ Tam nay vẫn bặt Thuyền không bỏ đó gối cồn nâu”. Phần Tính Danh trong Thiền Lâm Loại Tụ q. 9 (Vạn Tục 117, 512 hạ) ghi: “玄 沙 師 備 禪 師 因 僧 問:如 何 是 和 尚 親 疏 底 事。師 云:我 是 謝 三 郎。 – Nhân có vị tăng hỏi Thiền Sư Sư Bị ở Huyền Sa: Thế nào là việc thân sơ của Hòa Thượng? Sư đáp: Tôi là Tạ Tam Lang”. ● 作 具. Dụng cụ lao động. Tiết Bách Trượng Hòa Thượng trong TĐT q. 14 ghi: “凡 日 給 執 勞、必 先 於 眾。主 事 不 忍、密 收 作 具 而 請 息 焉。師 云:吾 無 德、爭 合 勞 於 人?師 遍 求 作 具、既 不 获、而 亦 忘 餐。 – Mỗi khi làm công tác sư là người đi đầu trong chúng. Vị Tri sự thấy thế không nỡ, liền ngầm giấu dụng cụ và rthỉng sư nghỉ. Sư bảo: Tôi không có đức, sao lại đùn việc nặng nhọc cho người? Rồi đi tìm dụng cụ khắp nơi, nhưng không được, và hôm đó sư nhịn ăn. “ ● 作 用. Vận dụng cơ duyên, cử chỉ hành vi ứng cơ tiếp vật của nhà thiền. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “大 凡 扶 竪 宗 教、須 是 有 本 分 宗 師 眼 目、有 本 分 宗 師 作 用。 – Nói chung nếu người nào muốn đỡ nâng Thiền và Giác thì cần phải có pháp nhãn và cử chỉ, hành vi ứng cơ tiếp vật của bậc thiền sư lão luyện. “ ● 作 大. Ngạo mạn tự đại. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “誰 肯 作 大、誰 肯 作 小? – Ai hay ngạo mạn? Ai hay khiêm tốn?” Tiết Đầu Tử Đại Đồng trong NĐHN q. 5 ghi: “ – 不 作 大、無 人 我。 – Không ngạo mạn. Không có nhân ngã. “ ● 作 道 理. Sử dụng khái niệm nghĩa lý thông thường theo cách suy luận chặt chẽ liên quan đến việc suy nghĩ hoặc biểu đạt thông thường. Nhà thiền cho rằng cần phải thoát khỏi triệt để khái niệm nghĩa lý nầy và sự trói buộc của cách suy luận chặt chẽ mới có thể đạt được sự tỉnh ngộ. Tiết Đạo Trường Minh Biện Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “ – 佛 眼 問:從 上 祖 師 方 冊 因 緣、許 你 會 得。忽 舉 拳 曰:這 箇 因 何 喚 作 拳?師 擬 對、眼 築 其 口 曰:不 得 作 道 理。於 是 頓 去 知 見。 – Phật Nhãn hỏi: Cơ duyên ngữ cú trên sách vở của Tổ sư từ trước chấp nhận là ngươi hiểu được, chợt giơ nắm tay lên hỏi ›Cái nầy vì sao gọi là nắm tay?‹ Sư định đáp; Nhãn đánh vào miệng sư, bảo: Chẳng được sử dụng khái niệm nghĩa lý thông thường. Khi ấy, sư chóng bỏ được tri kiến. “ ● 作 家. Còn gọi: Tác Giả. Bậc tu hành tài giỏi có cơ dụng vượt hơn mọi người. Tiết Ngọc Tuyền Tông Liễn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “作 家 禪 客、天 然 有 在。 – Thiền khách tài giỏi, tự nhiên có mặt”. Bài tán của Thị giả Pháp Cổ trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 古 國 師、今 上 士 一 箇 丈 夫 分 彼 此 毘 耶 作 者 立 下 風 禿 老 龐 公 甚 茄 子 “Xưa Quốc sư, nay Thượng sĩ Cùng một trượng phu chia đây kia Duy Ma tài giỏi còn kém xa, Đạt Ma, Bàng Uẩn như rơm rác”. ● 作 解 會. Còn gọi: Tác giải tác hội. Theo cách suy nghĩ, ý nghĩa thông thường để hiểu rõ hoặc để giải thích. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “後 人 只 管 去 言 句 上 作 解 會。 – Người sau cứ trên lời nói để hiểu hoặc để giải thích. “ và: “若 向 言 上 生 言、句 上 生 句、意 上 生 意、作 解 作 會、不 唯 帶 累 老 僧、亦 乃 辜 負 雪 竇。 – Nếu nhằm trên lời sinh lời, trên câu sinh câu, trên ý sinh ý, tạo nên sự hiểu biết thì không chỉ làm lụy lão tăng mà còn cô phụ Tuyết Đậu. “ ● 作 活 計. Ý chính là vì mưu sinh mà sống luống uổng. Trong các tác phẩm Thiền Tông phần lớn dùng từ này để tỷ dụ. 1. Tỷ dụ thực tế vận dụng thiền pháp. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “若 是 得 意 底 人、自 解 作 活 計、舉 措 悉 皆 索 索 底、時 常 恬 恬 底。 – Nếu là người lãnh ngộ thiền ý, tự biết thực tế vận dụng thiền pháp, mỗi hành động thảy đều dứt khoát, trong mỗi thời đều điềm tĩnh. “ ● 2. Tỷ dụ nương theo tục tình mà hiểu sai làm bậy. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “所 以 有 作 家 鉗 鎚。凡 出 一 言 半 句、不 是 心 機 意 識 思 量 鬼 窟 裏 作 活 計、直 是 超 群 拔 萃、坐 斷 古 今。 – Cho nên có phương tiện của bậc thiền sư kiệt xuất. Hễ nói ra một lời nửa câu đều không phải do tâm cơ ý thức, suy nghĩ, không sa vào hành vi hư dối của tục tình vọng niệm; quả tình tài giỏi vượt lên trên mọi người thường, quét sạch xưa nay. “ ● 作 客 不 如 歸 家. Làm khách chẳng bằng trở về nhà, tỷ dụ tìm Phật ở bên ngoài chẳng bằng quay về tự tính, nhận ra tự tính liền có thể thành Phật. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “作 客 不 如 歸 家、多 虛 不 如 少 實。 – Làm khách chẳng bằng trở về nhà, nhiều giả không bằng ít thật. “ ● 作 略. Hành động, hành vi của thiền sư nhằm khải phát tiếp dẫn người học. Tắc 54, Bích Nham Lục ghi: “Một thiền giả đã thấu thoát việc lớn sinh tử, lúc xử sự hay nắm điểm cơ yếu của sự việc, những việc này đều là chuyện rất bình thường, tác lược của y tùy chỗ mà giáo hóa mọi người”. ● 作 麼 生. Còn gọi: Chẩm Ma Sinh, Tự Ma Sinh, Tác Ma, Tác Sinh. Thế nào? Là gì? Vốn là tục ngữ đời Tống được Thiền Tông dùng làm từ nghi vấn hoặc cảm thán trong các công án. Phần Khám Biện trong Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục (Đại 55, 503 thượng) ghi: “後 溈 山 問 仰 山:此 二 尊 宿 意 作 麼 生? – Về sau Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: Ý của hai vị tôn túc này là thế nào?” ● 作 模 樣. Làm bộ làm tịch, làm ra vẻ. Lâm Tế Lục ghi: “大 德。且 要 平 常 莫 作 模 樣。有 一 般 不 識 好 惡 禿 奴。便 即 見 神 見 鬼 指 東 劃 西 好 晴 好 雨。 – Này Đại đức! Cần phải bình thường chớ có làm bộ làm tịch. Có một bọn trọc đầu chẳng biết tốt xấu, làm điều giả dối xằng bậy, chỉ đông vẻ tây, cầu mưa cầu tạnh. “ ● 作 佛. Làm Phật. Thiền Tông cho rằng mọi người đều có đủ Phật tính, nhận ra tự tính liền có thể thành Phật. Làm Phật là mục tiêu của người tu hành theo đạo Phật. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “慧 能 答 曰:弟 子 是 嶺 南 人、新 州 百 姓、今 故 遠 來 禮 拜 和 尚、不 求 餘 物、雖 求 作 佛。 – Huệ Năng đáp rằng: Đệ tử là người Lãnh Nam, quê ở Tân Châu. Hôm nay từ xa đến đây cố tình lễ bái Hòa Thượng, chỉ cầu làm Phật chứ không cầu vật khác. “ ● 作 賊 人 心 虚. Có tật thì giật mình. Nguyên có nghĩa là kẻ trộm cướp trong bụng luôn luôn lo sợ bị người ta phát hiện. Về sau rút gọn làm thành ngữ “Tác tặc tâm hư” với nghĩa có tật thì giật mình. Liên Đăng Hội Yếu (Vạn Tục 136) ghi: “ “重 顯 禪 師 囘 問 侍 者 曰:適 來 有 人 見 方 丈 麼?侍 者 曰:有。師 云:作 賊 人 心 虛。 – Thiền Sư Trọng Hiển trở về hỏi thị giả: Vừa rồi có ai đến tìm ta (Hòa Thượng) chăng? Thị giả đáp: Có. Sư nói: Có tật thì giật mình”. ● 作 小. Khiêm tốn, tự nhún nhường. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “誰 肯 作 大、誰 肯 作 小? – Ai hay tự đại? Ai hay khiêm tốn?” ● 作 情 解. Theo tình lý thông thường để giải thích. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “且 道:雪 峰 意 在 什 麼 處?人 多 作 情 解、道:心 是 萬 法 之 主、盡 大 地 一 時 在 我 手 裏。且 喜、沒 交 涉! – Thử hỏi Tuyết Đậu ý ở chỗ nào? Phần đông theo tình lý thông thường giải thích rằng: Tâm là chủ của muôn pháp, cả quả đất một lúc ở trong tay ta. May thay không dính dáng!” ● 作 知 解. Theo cách suy nghĩ thông thường để nhận thức và giải thích thiền pháp. Thiền pháp là cái siêu việt nghĩa lý, tư duy, còn “Tác tri giải” lại là cách tham học sai lầm. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “情 存 學 解、却 成 迷 道。道 無 方 所、名 大 承 心。此 心 不 在 外 內 中 間、實 無 方 所。第 一 不 得 作 知 解。 – Nếu còn tri thức đạo lý thông thường của thế gian sẽ trở thành mê đạo. Đạo không có chỗ nơi, gọi là Đại thừa tâm. Tâm này chẳng ở trong, ngoài hay chặng giữa, thật không có chỗ nơi. Cần nhất là không được theo cách suy nghĩ thông thường để nhận thức và giải thích thiền pháp. “ ● 作 務. Lao động, kiếm sống. Thư của Dương Ức gởi Lý Duy trong phần phụ của quyển cuối trong CĐTĐL q. 30 ghi: “不 可 說 禪 道 之 時 便 有 箇 照 帶 底 道 理。擇 菜 作 務 之 時 不 可 便 無 去 也。– – Lúc không thể nói thiền đạo liền có cái biết dạy đạo lý. Khi lặt rau không thể không có cái biết này. “ ● 作 意. Chú ý, dụng tâm. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “大 眾 作 意 聽、世 人 自 色 身 是 城、眼 耳 鼻 舌 身 即 是 城 門。 – Đại chúng chú ý nghe, sắc thân của người đời là thành, mắt tai mũi lưỡi thân tức là cửa thành. “ ● 再 請. Còn gọi: Tái Tiến. Nghĩa là mời ăn lần nữa. Về sau chuyển thành nghĩa “Ăn thêm chén nữa”. Nhưng theo môn Ăn Uống, loại thứ 25, trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên ghi: “Tái Tiến” là nói sai của “Tái thỉnh”. ● 在. Trợ từ cuối câu. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “三 十 年 後、有 人 舉 在。 – Ba mươi năm sau, có người kể lại. “ Mật Am Ngữ Lục ghi: “每 人 各 欠 一 頓 棒 在。 – Mỗi người đều thiếu một lần ăn gậy. “ ● 三 百 餘 會. Hơn 300 pháp hội do Đức Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp trong một đời của Ngài. Mật Am Ngữ Lục ghi: “達 磨 大 師。九 年 面 壁 覷 不 破。黃 面 老 子。三 百 餘 會 道 不 著。 – Đại sư Đạt Ma 9 năm ngó vách mà nhìn chẳng ra. Ông già Thích Ca hơn 300 hội nói mà chẳng nhằm”. ● 三 平 寺. Chùa ở khu núi Văn Phong, huyện Bình Hòa, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Nguyên tên “Tam Bình Chân Viện”, niên hiệu Bảo Lịch thứ 3 (827) đời Đường Thiền Sư Nghĩa Trung sáng lập, địa chỉ ban đầu ở phia đông nam sườn núi Tử Chi, thành phố Chương Châu. Lúc pháp nạn Hội Xương chùa chiền bị phá hủy. Niên hiệu Hàm Thông thứ 7 (866) Nghĩa Trung xây dựng lại chùa Tam Bình trong khe sâu núi Đại Bách, gần núi Cửu Thành, huyện Bình Hòa. Sau đó nhiều lần xây, nhiều lần hủy. Chùa Tam Bình hiện tại được xây vào cuối đời Thanh. Kiến trúc hiện còn tựa vào núi theo thứ tự đi lên, chủ thứ phân minh, liên tiếp ba dãy nhà, trước thấp sau cao, tổng diện tích 3000㎡. Đại hùng bảo điện rộng rãi hiên ngang, mặt rộng 5 gian, trước có nguyệt đài, hai bên là lầu chuông, lầu trống. Trong điện đường có tượng đắp thếp vàng Tam Bảo Như Lai, thần thái hòa nhã hiền lành. Dãy thứ hai là Tổ sư điện địa thế cao hơn đại hùng bảo điện, mái đơn, mặt rộng 2 gian thờ tượng Nghĩa Trung và 4 pho tượng thị giả bộ mặt dữ dằn đứng hầu hai bên. Dãy cuối cùng là tháp điện, nền tòa cao 2m, chính giữa điện đường trong khám đá có tượng Nghĩa Trung ngồi kiết già. Hai bên vách điện có khảm bia đá “Trùng khắc Đường Vương phúng Chương Châu Bình đại sư bi” do Lý Mật đời Minh viết và 7 tấm bia khắc của Lưu Bột, Vương Tài đầu đời Thanh. ● 三 句. Chỉ tóm tắt ba câu nói lên đặc điểm thiền pháp của tông Vân Môn: Hàm cái càn khôn (Bao trùm vũ trụ) Tiệt đoạn chúng lưu (Cắt đứt các dòng), Tùy ba trục lãng (Theo mòi đuổi sóng). X. Vân Môn tam cú. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “雲 門 大 師。多 以 一 字 禪 示 人。雖 一 字 中。須 具 三 句。 – Đại sư Vân Môn phần lớn dùng Thiền một chữ để tiếp dạy người. Mặc dù trong một chữ, phải đủ ba câu. “ ● 三 脚 驢 兒. 1. Chỉ cho cái phi lý, cái không thể suy lường được. Bởi vì con lừa 3 chân làm sao leo núi được, nhưng chỗ cứu cánh tuyệt đối là phi lý nên phải nhờ đến con lừa 3 chân này mới vào được. Tứ Sơn Kệ trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông: 四 山 峭 壁 萬 青 叢 悟 了 都 無 萬 物 空 喜 得 驢 兒 三 腳 在 驀 騎 打 趁 上 高 峯 “Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng Ngộ liễu đô vô vạn vật không Hỷ đắc lư nhi tam cước tại Mịch kỵ đả sấn thướng cao phong”. “Chon von bốn núi vạn cây tùng Liễu ngộ đều không vạn vật KHÔNG May thay đã có lừa ba cẳng Cỡi lên thẳng tới đỉnh non bồng”. ● 2. Chỉ cho Phật tính, hay Bản lai diện mục. Liên Đăng Hội Yếu (Vạn Tục 136) ghi: “有 僧 問 楊 岐 禪 師:如 何 是 佛?楊 岐 云:三 腳 驢 兒 蹄 弄 行。 – Có vị tăng hỏi Thiền Sư Dương Kỳ: Thế nào là Phật? Dương Kỳ đáp: Con lừa ba cẳng nhảy tung tăng”. ● 三 家 村 裏 漢. Gã ở trong xóm hẻo lánh. Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ cho kẻ dốt nát; không có kiến thức. Đây là lời mà thiền sư thường dùng để chê trách. Vân Môn Ngữ Lục, q. trung ghi: “驢 年 夢 見 三 家 村 裡 漢。 – Kẻ dốt nát đến năm lừa mới mơ thấy”. ● 三 家 村 裏 男 女. Con cái kẻ quê mùa, hàm ngữ khí khinh rẻ. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q. 3 ghi: “是 汝 三 家 村 裏 男 女、牛 背 上 將 的 兒 子、作 麼 生 投 這 箇 宗 門? – Ngươi là con cái kẻ quê mùa, là thằng bé sống trên lưng trâu thì làm sao vào Tông môn này được?” ● 三 角 山. Còn gọi: Thê Hiền Sơn. Núi cách Bắc thành 3km thuộc huyện Kim Đường, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Thế núi uốn khúc như rồng, đỉnh cao thanh tú. Những ngôi chùa được xây cất vào đời Tùy Đường có: Pháp Hải, Phổ Tế, Quảng Lạc gọi chung là Tam Giác Tự. Đời Đường, Vương Bột có bài thơ “Du Phạm Vũ Tam Giác Tự” như sau: Hương các phi thanh đăng Chu đài khống tử sầm Diệp tề sơn lộ hiệp Hoa tích dã đàn thâm Mộng hoảng thê thiền ảnh Tùng môn thính Phạm âm. Cự hân bồi diệu trục Diên tưởng địch phiền khâm. “Gác hương rẽ đường lên Đài ngọc át núi xanh Cành che đường núi hẹp Hoa chất đàn hoang thâm Trướng mộng ghé thiền viện Từ cửa nghe tiếng kinh Vui sao đời ẩn dật Nhớ đến sạch não phiền”. Đời Minh, vua sắc tứ “Thê Hiền Thiền Viện”. Về sau chùa bị thiêu hủy do binh lửa. Niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, chùa được xây cất lại. ● 三 界 唯 心、萬 法 唯 識. Ý nói toàn ba cõi thế tục (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) và tất cả sự vật ở thế gian vốn không thật có, đều do tâm thức biến hiện mà thành. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “我 見 諸 法 空 相。變 即 有。不 變 即 無。三 界 唯 心 萬 法 唯 識。所 以 夢 幻 空 花 何 勞 把 捉。 – Ta thấy tướng của các pháp trống rỗng, biến đổi thì có, chẳng biến đổi thì không. Ba cõi thế tục và tất cả sự vật ở thế gian vốn không thật có, đều do tâm thức biến hiện mà thành. Thế nên như mộng huyễn, như hoa đốm giữa hư không, đâu nhọc nắm bắt?” ● 三 玄. Cơ xảo của tông Lâm Tế, nhằm kích thích hành giả tham thiền phát khởi nghi tình. Ba huyền: 1. Thể trung huyền: Câu nói phải chất phác, ngay thật không trau chuốt. 2. Cú trung huyền: Lời nói không mắc kẹt tình thức phân biệt. 3. Huyền trung huyền: Câu nói lìa đối đãi hai bên. Tiết Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư trong NĐHN q. 11 ghi: “乃 曰:大 凡 演 唱 宗 乘、一 句 中 須 具 三 玄 門、一 玄 門 須 具 三 要。有 權 有 實、有 照 有 用。汝 等 諸 人 作 麼 生 會? – Sư lại bảo: Nói chung khi diễn nói tông thừa, trong một câu phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ tam yếu. Có quyền có thật, có chiếu có dụng. Các ông hiểu như thế nào?”. ● 三 玄 戈 甲. Giáo giáp ba huyền. Tam huyền (ba huyền) của tông Lâm Tế giống như là giáo là giáp, người tu thiền phải mang nó để phá vượt qua ba cổng cứng chắc là Tổ Sư quan, Trùng quan, Lao quan. Bài tán của Pháp Cổ (phần Chư nhân tán tụng) trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 三 玄 戈 甲 破 牢 關 貶 上 眉 毛 休 擬 擬 眼 皮 蓋 卻 須 彌 盧 口 裏 橫 吞 大 海 水 “Tam huyền qua giáp phá lao quan Biếm thượng my mao hưu nghĩ nghĩ Nhãn bì cái khước Tu Di lô Khẩu lý hoành thôn đại hải thủy”. “Giáo giáp ba huyền phá lao quan Trên chớp lông mày thôi do dự Mí mắt che mất núi Tu Di Trong miệng nuốt ngang nước biển cả”. ● 三 門. Còn gọi: Sơn môn. Cổng tam quan, cổng chùa. Tông Môn Võ Khố ghi: “其 寺 元 是 鐵 馬 營 太 祖 太 宗 二 聖 生 處 太 祖 朝 已 建 寺。忘 其 名。其 僧 乃 寺 主 也 太 宗 別 賜 錢重 建 三 門。 – Chùa ấy vốn là doanh trại Thiết Mã. Hai vua Thái tổ và Thái tông ra đời ở đây. Đời vua Thái tổ đã cho cất chùa … Vua Thái Tông riêng cho tiền để dựng lại cổng chùa. “ ● 三 峰 清 涼 禪 寺. Nằm trong núi Ngu Sơn, thành phố Thường Thục, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh sáng lập, Hán Nguyệt Pháp Tạng khai sơn, xưa gọi là “Tam Phong Thiền Viện”. Niên hiệu Khang Hy thứ 38 (1699) đời Thanh ban tặng tấm biển “Tam Phong Thanh Lương Thiền Tự”. ● 三 峰 川 (1710-1799). Thiền tăng đời Thanh, họ Lương, tên Di, tự Lễ Bỉnh, pháp danh Xuyên, hiệu Tam Phong, người xứ Thuận Đức, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Triện Ngọc, đời thứ 38 hệ Thanh Nguyên. Sư là một họa tăng nổi tiếng niên hiệu Càn Gia. ● 三 關 語. Ba lời then chốt, ví như ba cửa ải. Thiền Uyển Mông Cầu, q. trung (Vạn Tục 148, 125 thượng) ghi: “ở trong thất, Hoàng Long thường hỏi tăng: Mọi người đều có chỗ sinh ra, vậy Thượng tọa quê quán ở đâu? Chính đang lúc hỏi qua đáp lại, Sư liền duỗi tay, nói: Tay tôi sao giống tay Phật. Các nơi đâu chẳng phải tham thỉnh sở đắc của Tông sư sao? Sư lại thòng chân nói: Chân tôi sao giống chân lừa? Hơn 30 năm khai thị ba câu hỏi này, người học không có ai khế hội yếu chỉ ấy. Bài tụng chung: 生 緣 斷 處 伸 驢 腳 驢 腳 伸 時 佛 手 開 爲 報 五 湖 參 學 者 三 關 一 一 透 將 來 Sinh duyên đoạn cứ thân lô cước Lô cước thân thời Phật thủ khai Vị báo ngũ hồ tham học giả Tam quan nhất nhất thấu tương lai”. Thấu rõ quê quán, chân lừa duỗi Tay Phật đồng thời cũng mở ra Báo cùng người học nơi nơi biết Tam quan mỗi cửa, hãy thấu qua!” ● 三 生 六 十 劫. Ba đời sáu mươi kiếp. Ý nói đối với sự lãnh ngộ thiền pháp vẫn còn cách rất xa, Lời nói hàm ý cường điệu. Đây là lời chê bai mà thiền sư thường sử dụng. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “向 這 裏 薦 得 去、可 以 丹 霄 獨 步。你 若 作 情 解、三 生 六 十 劫。 – ở nơi đây lãnh hội được, khả dĩ trời cao riêng bước. Nếu như ngươi khởi tục tình vọng giải thì ba đời sáu mươi kiếp!” ● 三 十 年 後. Ba mươi năm sau. Ý nói lãnh ngộ thiền pháp còn phải đợi ba mươi năm nữa. Đây là lời chê trách mà các Thiền Sư thường dùng. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “問 如 何 是 祖 師 西 來 意。師 云 點。進 云。猶 有 者 箇 在。師 云。三 十 年 後。 – Tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ từ ấn Độ sang? Sư đáp: Điểm. Tăng lại nói: Còn có cái ấy. Sư bảo: Ba mươi năm sau. “ ● 三 千 里 外. Ngoài ba ngàn dặm. Ý nói lìa xa thiền pháp đâu chỉ có ba ngàn dặm. Đây là lời chê trách mà các thiền sư thường dùng. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “雲 巖 奉 師(指 懷 海 禪 師)處 分、持 書 到 藥 山。道 吾 相 接、引 去 和 尚 處。藥 山 問:海 師 兄 尋 常 說 什 麼 法?對 曰:三 句 外 省 去、亦 曰 六 句 內 會 取。師 曰:三 千 里 外、且 喜 得 勿 交 涉。 – Vân Nham nghe lời sư (chỉ thiền sư Hoài Hải) dặn dò, mang thư đến Dược Sơn. Đạo Ngô (làm tri khách) ra đón tiếp dẫn vào nơi Hòa Thượng ở. Dược Sơn hỏi: Sư huynh Hải bình thường nói pháp gì? Vân Nham thưa: Ngoài ba câu hãy tỉnh đi, cũng nói trong sáu câu hãy hội lấy. Sư bảo: Ngoài ba ngàn dặm, may thay là không dính dáng. “ ● 三 乘 學 道 人. Người học đạo Tam thừa, tức là người căn cứ theo giáo pháp Tam thừa để tu hành. Nhà thiền cho rằng dạng học đạo này không thể đạt được sự triệt ngộ. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “今 時 人 只 欲 得 多 知 多 解、廣 求 文 文、喚 作 修 行、不 知 多 解 翻 成 壅 塞、唯 知 多 與 兒 酥 乳 喫、消 與 不 消 都 總 不 知。三 乘 學 道 人 皆 是 此 樣、盡 名 食 不 消 者。 – Người thời nay chỉ muốn nhiều thứ hiểu biết, cầu nhiều chữ nghĩa, gọi là tu hành. Chẳng biết rằng nhiều hiểu biết trở thành bít lấp. Chỉ biết cho con nít uống nhiều bơ sữa mà không biết là nó có tiêu hóa hết nổi không. Người học đạo tam thừa đều là dạng này, đều gọi là người ăn không tiêu vậy. “ ● 三 乘 一 切 諸 位. Giai vị có được do quá trình tu hành theo giáo pháp Tam thừa. Học thuyết đôán ngộ của Thiền Tông cho rằng Tâm này vốn là Phật, không cần phải theo giai vị tuần tự tiến dần. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “祖 師 西 來 唯 傳 心 佛、直 指 汝 等 心 本 來 是 佛。心 心 不 異、故 名 爲 祖。若 直 下 見 此 意、即 頓 超 三 乘 一 切 諸 位。本 來 是 佛、不 假 修 成。 – Tổ sư từ ấn Độ sang chỉ truyền tâm Phật, chỉ thẳng tâm các ông xưa nay là Phật. Tâm tâm chẳng khác nên gọi là Tổ. Nếu lập tức thấy được ý nầy, tức chóng vượt tất cả giai vị do quá trình tu hành theo giáo pháp Tam thừa. Xưa nay là Phật (vốn sẵn là Phật), chẳng nhờ tu mới thành. “ ● 三 祖 寺. Còn gọi: Sơn Cốc Tự. Nằm ở khu Dã Trại, núi Thiên Trụ, huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Xây dựng vào thời Lương Nam Triều (502-557), Thiền Sư Bảo Chí đến đây khai sơn cất chùa. Về sau Tam Tổ Tăng Xán vân du đến đây, mở rộng xây cất tự viện, lựa nơi xây đàn, tiếng tăm hai bờ Đại Giang. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ 2 (606) đời Tùy, Tam Tổ Tăng Xán đứng tịch dưới cây đại thọ trước chùa, người đời sau xây dựng “Lập Hóa Đình” ngay chỗ này và gọi chùa này là “Tam Tổ Tự”. Đời Đường đổi tên là “Càn Nguyên Thiền Tự”. Hiện còn Tàng kinh lâu, Giác tịch tháp và Thiên phòng vài gian. Quanh chùa cây cối cao vút, bóng mát rậm rạp. Phía đông có Bảo Công Động là động mà Thiền Sư Bảo Chí ở lúc mới khai sơn. Phía tây có Thạch Ngưu Cổ Động là nơi đọc sách của Hoàng Đình Kiên. ● 三 祖 寺 塔. Còn gọi: Giác Tịch Tháp. ở trong chùa Tam Tổ, khu Dã Trại, núi Thiên Trụ, huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Xây vào niên hiệu Thiên Bảo thứ 5 (746) đời Đường. Vào thời Đường Võ Tông thiêu Phật chùa bị phá hủy. Đầu những năm Đại Trung (847-859) xây dựng lại. Tháp hiện nay được xây lại vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 43 (1564) đời Minh. Tháp 7 tầng hình bát giác cao 10 trượng theo kiểu lâu các, đấu củng bố cục nghiêm cẩn. Tháp thể ngoài xoáy trong rỗng xung quanh có khắc tượng Phật. Đỉnh tháp có tướng luân đúc sắt cao khoảng 5m được đúc vào niên hiệu Càn Đạo thứ 8 (1172) đời Tống. ● 三 祖 寔 錄. Lục. 1 quyển, do một vị khuyết danh (mà người ta đoán là một thiền sư Việt Nam) sống vào đời Trần soạn, Diệu Trạm đời Nguyễn hiệu chính. Nội dung gồm có 4 phần: 1. Bài tựa của Tỳ kheo Diệu Trạm nói về việc in lại Tam Tổ Thực Lục vào năm Thành Thái thứ 9 (1897), cho số trang riêng từ 1 đến 5. 2. Tiểu sử của Sơ Tổ Trúc Lâm, bắt đầu trang 1 đến trang 15. 3. Tiểu sử của đệ Nhị tổ Pháp Loa, từ trang 16 đến trang 48. 4. Tiểu sử của đệ Tam tổ Huyền Quang từ trang 49 đến trang 64. Tư liệu này nằm trong tập 6 của bộ Việt Nam Phật Điển Tùng San, do Tổng hội Phật giáo Bắc kỳ ấn hành năm 1943. Đây là một trong những tư liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung, và lịch sử phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử nói riêng. ● 三 要. Ba điều quan trọng trong mỗi huyền môn, do Thiền Sư Nghĩa Huyền ở viện Lâm Tế đặt ra. Đó là: 1. Trong lời nói không có phân biệt tạo tác. 2. Ngàn thánh vào thẳng chỗ huyền áo. 3. Đường ngôn ngữ dứt. Mật Am Ngữ Lục ghi: “豁 開 三 要 三 玄。捏 碎 佛 祖 標 格。 – Mở toang tam yếu tam huyền, bóp nát phong cách của Phật Tổ”. Thiền Sư Thiện Chiêu có bài kệ như sau: 三 玄 三 要 事 難 分 得 意 忘 言 道 易 親 一 句 分 明 超 萬 象 重 陽 九 日 菊 花 新 “Tam huyền tam yếu sự nan phân Đắc ý vong ngôn đạo dị thân Nhất cú minh minh siêu vạn tượng Trùng dương cửu nhật cúc hoa tân”. “Tam huyền tam yếu sự khó phân Được ý quên lời đạo dễ gần Một câu thấu suốt vượt muôn tượng Tiết trùng dương đến cúc tươi nhuần”. ● 贊 元 (?-1086). Thiền tăng đời Tống, là con cháu của Phó Đại sĩ, tự Vạn Tông, người xứ Nghĩa Điểu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang), Trung Quốc. Xuất gia lúc 3 tuổi, 7 tuổi thụ giới Bồ Tát, rồi sư đi tham học các nơi; tham yết ngài Thạch Sương Sở Viên, nối pháp ngài thuộc tông Lâm Tế. Sau đó, sư trụ trì các chùa: Tô Đài, Thiên Phong, Long Hoa, Bạch Vân. Sư còn nhận lời mời thỉnh của Phủ Soái, trụ trì đạo tràng Bảo Chí tại Tưởng Sơn (tức chùa Thái Bình Hưng Quốc). Vương An Thạch tâu về đạo đức sư, ban cho chương phục và hiệu “Giác Hải Thiền Sư”. ● 散 伊. Hiệu của thiền tăng Minh Lãng đời Minh. X. Minh Lãng ● 撒 手 到 家. Buông tay đến nhà, dụ chỉ đã thoát khỏi chướng ngại của trần tục, thấy rõ tự tâm bản tính. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “登 山 須 到 頂。入 海 須 到 底。登 山 不 到 頂。不 知 宇 宙 之 寬 廣。入 海 不 到 底。不 知 滄 溟 之 淺 深。既 知 寬 廣。又 知 淺 深。一 踏 踏 翻 四 大 海、一 摑 摑 倒 須 彌 山、撒 手 到 家 人 不 識、雀 噪 鵶 鳴 柏 樹 間。 – Leo núi cần phải tới đỉnh, xuống biển cần phải đến đáy. Leo núi chẳng tới đỉnh sẽ không biết chỗ bao la của vũ trụ, xuống biển chẳng đến đáy sẽ không biết chỗ sâu cạn của đại dương. Đã biết bao la, còn biết thêm sâu cạn thì: Một đá đá bật bốn biển lớn Một tát tát ngã núi Tu Di Buông tay đến nhà người chẳng biết Sẻ quạ kêu vang giữa chòm cây”. ● 藏 六 龜. Rùa giấu 6 bộ phận trên thân nó (Đầu, đuôi, 4 chân), ý nói người tu đừng để sáu căn chạy theo trần cảnh bên ngoài. Từ ngữ này lấy từ điển tích con chồn hoang khi bắt gặp con rùa, nếu nó cắn cái đầu thì con rùa thụt đầu vào mai, nếu nó cắn cái chân thì rùa rút chân vào mai… Phần tụng cổ trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 蚯 蚓 斬 爲 兩 段 時 兩 頭 俱 動 有 誰 知 問 來 佛 性 全 難 得 辜 負 刳 膓 藏 六 龜 “Khâu dẫn trảm vi lưỡng đoạn thì Lưỡng đầu câu động hữu thùy tri Vấn lai Phật tính toàn nan đắc Cô phụ khô trường tàng lục qui”. “Con trùng chặt đứt làm hai khúc Mỗi khúc lăn quăn, có ai hay Hỏi ra Phật tính toàn khó đáp Cô phụ phanh rùa giấu sáu chi”. ● 藏 主. Còn gọi: Tri Tạng, Tạng Ty. Vị tăng đứng đầu quản lý lầu kinh, gác kinh. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “師 在 南 嶽 福 嚴 爲 藏 主。 – Tại chùa Phúc Nghiêm núi Nam Nhạc, sư làm Tạng chủ”. ● 藏 用. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư An Quốc Hoằng Đạo. Khi ra hoằng pháp sư ở viện Trường Khánh, Thai Sơn, Phúc Châu. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa Thượng? Sư đáp: Trước giờ thọ trai nhà bếp nấu cơm Nam Quốc, sau giờ ngọ vào lò đun trà Bắc Uyển. ● 藏 院. Nơi tàng trữ kinh điển sổ sách trong chùa Phật. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “師 在 南 嶽 福 嚴 爲 藏 主。李 殿 院 同 雅 長 老 入 藏 院。師 出 接 殿。 – Sư ở chùa Phúc Nghiêm Nam Nhạc làm Tạng chủ; có Lý điện viện cùng với Nhã trưởng lão vào Tạng viện, sư bước ra tiếp đón”. ● 曹 洞 五 位. Trình bày hệ thống thiền pháp của tông Tào Động cũng là phương pháp đặc thù của tông này dùng để tiếp dẫn người học. X. Mục từ “Ngũ Vị Quân Thần”. Pháp Diễn Ngữ Lục ghi: “師 上 堂 云。臨 濟 入 門 便 喝。是 甚 碗 鳴 聲。德 山 入 門 便 棒。抝 曲 作 直 雲 門 三 句。曹 洞 五 位。大 開 眼 了 作 夢。何 故 如 此。國 清 才 子 貴。家 富 小 兒 嬌。 – Sư thượng đường nói: Vào cửa Lâm Tế liền bị hét là bày vẽ lắm việc, Vân Môn tam cú, Tào Động ngũ vị cũng là mở to mắt mà nằm mộng! Vì sao như thế? Đất nước thanh bình thì hạng tài tử được quý trọng, nhà giàu có thì con nít được nuông chìu. “ ● 曹 洞 土 民. ông phong của Tào Động kín đáo mà cẩn thận khi tiếp hóa người học, giống như bác nông phu cặm cụi cày cấy trên ruộng đất của mình. ● 曹 洞 宗. Một trong “Ngũ gia” (Năm nhà) của Thiền Tông Trung Quốc, thuộc hệ Thanh Nguyên. Người sáng lập là 2 thầy trò: Lương Giới (807-869) và Bản Tịch (840-901) sống vào đời Đường, do vì Lương Giới trụ Động Sơn thuộc Cao An, Giang Tây và Bản Tịch trụ Tào Sơn nên gọi là tông Tào Động. Có thuyết khác cho rằng chữ Tào trong Tào Động là ám chỉ Động Sơn nối tiếp dòng Thiền Tào Khê (chỗ ở của Lục Tổ Huệ Năng, cũng là pháp hiệu của Lục Tổ). Môn phong của tông này tế mật, ngôn hạnh tương ưng, tùy cơ mà lợi vật, dựa vào lời để độ người. Trong Thiền Tông Ngũ gia tuy tông này chẳng phồn thạnh bằng tông Lâm Tế, nhưng pháp mạch liên tục không dứt cho đến ngày nay, so với 3 tông: Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn thì tông này kéo dài hơn. Pháp Nhãn Ngữ Lục q. thượng ghi: “如 何 是 曹 洞 宗 下 事?師 云:馳 書 不 到 家。 – Người học hỏi: Thế nào là việc của tông Tào Động? Sư đáp: Đuổi theo sách vở thì chẳng đến nhà”. ● 曹 溪. 1. Địa danh nằm dưới chân núi Song Phong, huyện Khúc Giang tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tại đây có chùa Bảo Lâm do Lục Tổ Huệ Năng trụ trì; về sau được xem là Tổ đình của Thiền Tông. Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh Lược Tựa trong Toàn Đường Văn q. 915 ghi: “次 年 春、師 辭 眾 歸 寶 林、印 宗 與 緇 白 送 者 千 余 人、直 至 曹 溪。 – Mùa xuân năm sau sư giã từ đại chúng để trở về Bảo Lâm. ấn Tông cùng với trên ngàn người vừa tại gia vừa xuất gia đưa tiễn sư đến tận Tào Khê”. ● 曹 溪 正 宗 原 流 頌. Sách, 1 quyển, do Thạch Nguyên Kỷ Vân (Thiền tăng tông Lâm Tế) soạn vào đời Thanh, Hành Sách hiệu đính. Nội dung ghi chép pháp tự truyền thừa của thiền sư trải qua các triều đại kể từ Lục Tổ Huệ Năng đến Thạch Nguyên Kỷ Vân và lấy lược truyện các thiền sư làm trung tâm rồi thu thập thêm những Ngữ Yếu của họ. Sách này được khắc bản vào đời Thanh. ● 曹 溪 大 師 別 傳. Truyện ký, 1 quyển, không rõ tác giả, Hán Hưng Tổ Phương (Thiền tăng tông Lâm Tế) hiệu đính, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 146, trang 965. Nội dung bao gồm truyện ký, tông chỉ truyền pháp của Lục Tổ Huệ Năng, các sắc thư của vua Cao Tông, nguồn gốc chùa Bảo Lâm ở núi Tào Khê, 6 thứ điềm linh ứng của Lục Tổ Huệ Năng. Sách này được soạn trong khoảng niên hiệu Kiến Trung (780-783) đời Đường. Một vị tăng Nhật Bản tên Tối Trừng được bản chép tay sách này vào niên hiệu Trinh Nguyên thứ 19 (803), cất nó tại Tỷ Duệ sơn (Nhật Bản). Sau một phen lưu lạc chốn dân gian, sau đó sách này lại trở về Tỷ Duệ sơn, từng được xem là quốc bảo của Nhật Bản. Quyển Đàn Kinh Khảo do Hồ Thích viết đã chỉ ra 8 chỗ sai lầm của sách này. ● 曹 溪 路. Con đường tham thiền, con đường ngộ thiền. Mật Am Ngữ Lục ghi: “自 從 蹈 斷 曹 溪 路。直 向 毘 盧 頂 上 行。 – Từ khi giẫm nát nẻo Tào Khê, nhắm đỉnh Tỳ Lô thẳng bước lên”. ● 曹 溪 密 旨. Chỉ cho thiền pháp của Huệ Năng. Tiết Tĩnh Cư Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “師 諱 行 思、俗 姓 劉、廬 陵 人 也、自 傳 曹 溪 密 旨、便 復 廬 陵、化 度 羣 生。 – Sư húy là Hành Tư, họ Lưu, người xứ Lô Lăng; từ khi được truyền thiền pháp của Huệ Năng, liền trở về Lô Lăng, hóa độ chúng sinh”. ● 曹 溪 一 派. Một phái Tào Khê, chỉ cho thiền pháp và sự truyền thừa nối pháp của Huệ Năng. Lời bạt của Tông Bảo trong Đàn Kinh ghi: “接 察 使 云:公 成 龍、深 造 此 道。一 日 過 山 房、睹 余 所 編、謂 得 壇 經 之 大 全。慨 然 命 工 鋟 梓、顓 爲 流 通、使 曹 溪 一 派 不 至 斷 絕。 – Án sát sứ nói Công Thành Long nghiên cứu sâu đạo này. Một hôm ông ta đi qua sơn phòng, thấy những điều tôi biên chép, bảo rằng bộ Đàn Kinh được hoàn thành, nên khảng khái gọi thợ khắc gỗ in ra để phổ biến, khiến cho một phái Tào Khê không đến nỗi dứt mất”. ● 曹 溪 一 滴. 1. Một giọt nước Tào Khê, dụ chỉ cho thiền pháp. Tào Khê: chỗ ở của Lục Tổ Huệ Năng. Phần Tháp minh của Cát Tất phụ vào cuối quyển Mật Am Ngữ Lục ghi: “曹 溪 一 滴 源 深 流 長。 – Một giọt nước Tào Khê nguồn sâu dòng dài”. ● 2. Sách, 9 quyển, do vị tăng tên Nhất Triệt Chu Lý soạn vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 9 (1636) đời Minh. Đầu quyển 1 có lời tựa của Vô Học Cư Sĩ là Đào Hồng, lời dẫn của Qua Duẫn Lễ. Bên trong chia làm 2 mục: Thiền Tông và ứng hóa, thu thập cơ duyên Ngữ Yếu của hơn 40 vị thiền sư, kỳ túc. Quyển 2-5: “Sơn Vân Thủy Thạch Tập” do Cổ Đình Thiện Thánh soạn. Quyển 6: “Trúc Thất Tập” do Đại Ngụy Tịnh Luân soạn. Quyển 7: “Phù Sơn Pháp Cú” do Minh Mục Bản Trí soạn. Quyển 8: “Cốc Hưởng Tập” do Hưởng Cốc Triệt Dung soạn. Quyển 9: “Vân Sơn Mộng Ngữ Trích Yếu”. Bên trong chia làm 4 chương như: Nguyên khởi chương, Duy thức chương v. v… Quyển cuối phụ lục “Kỷ Nghiệp” do Chu Lý soạn. Thứ tự nội dung toàn sách không giống với thứ tự của mục lục. ● 曹 溪 佛 敕. Ý chỉ Thiền Tông Huệ Năng. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “法 幢 已 建、宗 旨 已 立、且 道:如 何 是 曹 溪 佛 旨?還 相 委 悉 麼? – Cờ pháp đã dựng, tông chỉ đã lập. Thử hỏi, thế nào là ý chỉ Thiền Tông Huệ Năng? Có biết chăng?”. ● 曹 溪 山. Núi nằm ở hướng đông nam huyện Khúc Giang tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Vốn là Song Phong sơn, vì dưới chân núi có con suối nên được gọi là Tào Khê sơn. Tiết Nhất Túc Giác Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “其 弟 僧 年 當 三 十 一、迤 邐 往 到 始 興 縣 曹 溪 山、恰 遇(慧 能)大 師 上 堂。 – Em của sư là vị tăng tên Di Lệ, nắm ấy tuổi vừa 31, đi đến núi Tào Khê huyện Thủy Hưng, vừa đúng lúc Đại sư Huệ Năng thượng đường”. ● 曹 溪 水. Nước Tào Khê, dụ chỉ thiền pháp. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL, q. 30 ghi: “辨 公 援 筆 書 偈、語 語 矜 誇、全 是 我 慢 之 習、曹 溪 水 當 不 如 是 也。 – Biện Công mượn bút viết kệ, lời lẽ kiêu ngạo khoa trương, toàn là thói quen ngã mạn, thiền pháp đương nhiên không như thế”. ● 曹 溪 寺. Chùa ở thung Bọ Ngựa cách trung tâm huyện An Ninh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc 5km về phía Tây bắc. Lục Tổ Huệ Năng từng ở chùa Bảo Lâm, Tào Khê, Quảng Đông hoằng dương thiền phong, về sau thiền tăng chùa này kéo vào Vân Nam cất chùa hoằng pháp, cũng gọi là “Tòa Khê Tự”. Theo “Vân Nam Thông Chí” ghi, chùa cất vào đời Tống, đấu củng trong đại điện vẫn là nguyên vật đời Nguyên Tống. Vách bên trái của hậu điện khảm nạm bia đá “Trùng tu Tào Khê tự chí” do Dương Thăng Am viết. Kiến trúc chủ yếu hiện còn có Sơn môn, Đại hùng bảo điện, Hậu điện, Chung cổ lâu, Hành lang tả hữu. Trong Đại hùng bảo điện chính giữa thờ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh khắc gỗ vào đời Tống. Dưới mái hiên trước điện có một cửa sổ hình tròn, theo truyền thuyết vào năm Giáp Tý đêm trung thu khi trăng lên, ánh trăng chiếu vào trán tượng Phật qua cửa sổ nhỏ, ánh trăng càng lên cao, ánh sáng mặt trăng giống như cái gương tròn chạy dọc theo sống mũi từ từ đi xuống tới rốn tượng Phật, đây là cảnh tượng đặc biệt thích thú nhất của chùa Tào Khê: “Thiên mãn bảo nguyệt”, “Nguyệt ấn Phật tề”. Trong chùa có cây hoa Ưu Đàm, bia đại tự “Tùng Phong Thủy Nguyệt” do đích thân vua Sùng Trinh đời Minh viết thảo. Phía bắc chùa có Kim thiền thánh tuyền, người đời gọi là “Tam triều thánh thủy”. ● 曹 源. Hiệu của thiền tăng Đạo Sinh đời Tống. X. Đạo Sinh. ● 曹 源 道 生 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Tào Nguyên Hòa Thượng Trụ Châu Diệu Quả Thiền Tự Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Tào Nguyên Đạo Sinh soạn vào đời Tống, đệ tử là Si Tuyệt Đạo Xung biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 483. Nội dung thu thập pháp ngữ thượng đường của Đạo Sinh ở chùa Diệu Quả, lời thượng đường và tiểu tham ở chùa Quy Phong Tín Châu và 10 bài tán tụng. ● 曹 山. Nằm cách huyện Nghi Hoàng, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc chừng 20km về phía bắc. Xưa gọi “Hà Ngọc Sơn”, “Mai Sơn”. Vào cuối đời Đường, Bản Tịch trụ tích núi này; bởi Lục Tổ Huệ Năng ở Tào Khê nên đổi tên núi là “Tào Sơn”, là đạo tràng nổi tiếng của tông Tào Động. ● 掃 蕩 門. Còn gọi: Thôi đảo môn. Phương pháp quét sạch mọi khái niệm chấp trước, phủ định tất cả tướng sai biệt. Đây thuộc về cơ pháp bả trụ (nắm chặt) của bậc Thầy đã kiến tính dùng để tiếp hóa người học. ● 早 暮. Hồi nào, lúc nào. Tiết Thạch Đầu Hoài Chí Am Chủ trong NĐHN q. 17 ghi: “明 年 六 月 晦、問 侍 僧 曰:早 暮?曰:已 夕 矣。遂 笑 曰:夢 境 相 逢、我 睡 已 覺。汝 但 莫 負 叢 林、即 是 報 佛 恩 德。 – Vào buổi chiều tháng sáu năm sau, sư hỏi thị giả rằng: Lúc nào? Đáp: Đã chiều rồi. Sư liền cười nói: Cảnh mộng gặp nhau, ta đã tỉnh rồi. Ngươi chỉ đừng cô phụ tùng lâm, tức là báo đáp ân đức của Phật rồi vậy”. ● 棗 山 人. Thiền tăng Quang Nhân đời Đường ở Tảo Sơn, được người đời gọi là Tảo Sơn Nhân. X. Quang Nhân ● 早 晚. Hồi nào, lúc nào. Tiết Thanh Nguyên Hành Tư Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “師 曰:我 卻 知 汝 早 晚 離 曹 谿。曰:希 遷 不 從 曹 谿 來。 – Sư nói: Ta muốn biết ngươi rời Tào Khê hồi nào? Hy Thiên nói: Hy Thiên chẳng từ Tào Khê đến”. ● 造 作. Đặc biệt làm ra. Hàm nghĩa chê bai. Tiết Đầu Tử Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “第 二 問 曰:道 若 因 修 而 成、即 是 造 作、便 同 世 間 法、虛 僞 不 實、成 而 復 壞。何 名 出 世?師 答 曰:造 作 唯 是 結 業、名 虛 僞 世 間、無 作 是 修 行、即 眞 實 出 世。 – Người thứ hai hỏi rằng: Đạo nếu do tu mà thành tức là đặc biệt làm ra, đồng với pháp thế gian, giả dối chẳng thật, thành rồi lại hoại. Sao gọi là xuất thế? Sư đáp rằng: Đặc biệt làm ra chỉ là kết nghiệp gọi là thế gian hư dối. Vô tác là tu hành, tức xuất thế chân thật. “ ● 匝 匝. Dáng sóng nổi lên cuồn cuộn. Tiết Hoàng Long Bái Thiền Sư trong TBCTT q. 6 ghi: “至 今 一 井 如 明 鏡、時 有 無 風 匝 匝 波。 – Đến nay giếng này giống như gương sáng, có lúc không gió mà sóng nổi lên cuồn cuộn. “ ● 拶. 1. Nghiến, chèn, gạt, đẩy. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “門(指 雲 門 禪 師)擬 議、便 被 推 出。門 一 足 在 門 閫 內、被 州 急 合 門、拶 折 雲 門 脚。 – Môn (chỉ thiền sư Vân Môn) do dự, liền bị Châu đẩy ra. Một chân của Vân Môn còn ở trong cánh cửa, bị Châu (tức chỉ thiền sư Mục Châu) đóng sầm cửa, chèn gãy chân Vân Môn. “ ● 2. Thiền Sư khéo dùng phương tiện quét sạch lời nói tri giải khiến người học không suy nghĩ gì được nữa, trong tình thế khốn đốn bức bách người học nhảy vào cảnh giới ngộ, loại biện pháp này được gọi là “tạt”. Tiết “Khai thị Dục Tạng Chủ trong DTNL q. 3 ghi: “儞 若 是 箇 銅 頭 鐵 額 漢、撥 着 便 轉、如 師 子 兒 向 萬 仞 懸 崖、一 拶 便 解 翻 身、哮 吼 聲、百 獸 腦 裂、始 有 少 分 衲 僧 氣 概。 – Ngươi nếu là bậc căn cơ linh lợi, một khi được thiền sư khải phát liền lãnh hội, giống như sư tử ở bờ vực thẳm muôn thước, một khi bị bức bách liền biết vươn mình, rống lên một tiếng, trăm thú đều bị nhức óc, mới có chút phần khí khái của nạp tăng. “ ● 3. Người học trong khi khốn đốn quẫn bách, phấn chấn tinh thần, vượt khỏi nghi hoặc, đạt được sự tỉnh ngộ, cũng gọi là tạt. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “譬 如 百 萬 軍 中、單 刀 直 入、不 顧 危 亡 得 失、人 我 是 非、猛 拼 性 命、拶 透 佛 祖 牢 關、不 曆 阶 梯、高 登 佛 祖 堂 奧、是 謂 禪 宗 也。 – Ví như cầm một thanh đao chạy thẳng vào trong trăm vạn quân địch, không màng nguy vong đắc thất, nhân ngã thị phi, chẳng kể tính mạng, vượt qua cửa ải Phật Tổ, không có đẳng cấp thứ lớp, leo lên ngôi nhà Phật Tổ ấy là Thiền Tông. “ ● 4. Lúc thiền nhân đọ cơ phong với nhau, hành vi bức bách đối phương khiến họ không còn đường chạy thoát gọi là “tạt”. Tiết Hoàng Long Đức Phùng trong NĐHN q. 18 ghi: “殊 不 知 夾 山 老 漢 被 這 僧 輕 輕 拶 著、直 得 腳 前 腳 後。 – Thật không ngờ ông già Giáp Sơn bị ông tăng này bức bách nhè nhẹ, đến nỗi phải lúng túng. “ ● 拶 透 禪 關. Xông thẳng qua cửa ải thiền, liền được ngộ. Duy Tắc Ngữ Lục q 2 ghi: 退 食 公 堂 自 凭 幾 不 動 不 搖 心 似 水 霹 靂 一 聲 透 頂 門 惊 起 從 前 自 家 底。 此 乃 趙 清 献 公 拶 透 禪 關 之 語 也。 “Thoái thực công đường tự bằng kỷ Bất động bất diêu tâm tợ thủy Tích lịch nhất thinh thấu đảnh môn Kinh khởi tùng tiền tự gia để Thủ nãi Triệu Thanh Hiến Công tạt thấu thiền quan chi ngữ dã”. “Ăn xong ngồi tựa ghế công đường Tâm như nước đứng chẳng động lay Đỉnh đầu sét nổ vang một tiếng, Giật mình biết được của báu nhà. Đây là lời của Triệu Thanh Hiến Công mô tả về việc xông thẳng qua cửa ải thiền, liền được ngộ”. ● 則 且 置. Còn gọi: Tức Thả Trí, Thả Trí. Tạm gác lại. Tiết Đại Mai Pháp Anh Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “末 後 句 則 且 置、祇 如 當 頭 一 句、又 作 麼 生 道? – Câu sau rốt hãy gác lại, còn một câu hiện giờ làm sao nói?” Tiết Đại Quy Pháp Thái Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “獨 超 物 外 則 且 置、萬 機 喪 盡 時 如 何? – Riêng đứng ngoài cuộc thì tam gác lại, lúc muôn cơ mất hết thì thế nào?” ● 賊 過 後 張 弓. Giặc qua rồi mới giương cung, chỉ cho việc nối tiếp thiền cơ một cách lề mề chậm chạp. Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “師 到 黃 檗、檗 見 來 便 閉 方 丈 門。師 乃 把 火 於 法 堂 內、叫 曰:救 火!救 火!檗 開 門 捉 住 曰:道!道!師 曰:賊 過 後 張 弓。 – Sư đi đến chỗ Hoàng Bá. Bá thấy sư đến liền đóng cửa phương trượng. Sư bèn đem lửa vào Pháp đường, la to: Chữa cháy! Chữa cháy! Bá mở cửa nắm chặt Sư lại bảo: Nói! Nói! Sư nói: Giặc qua rồi mới giương cung!” ● 僧 寶 正 續 傳. Truyện ký, 7 quyển, do Thạch Thất Tổ Tú viết vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 137, trang 569. Sách này là truyện các danh tăng trong thiền lâm vào đời Tống. Tác giả sưu tập truyện và Ngữ Yếu tông thừa của 30 vị như: La Hán Tố Nam, Viên Thông Đạo Yển, Đâu Suất Huệ Chiếu, Hoàng Long Đạo Chấn, Đức Sơn Mộc Thượng Tọa, Lâm Tế Kim Cương Vương, và dưới truyện của mỗi người phụ 1 thiên tán ngữ. Quyển cuối phụ lục Đại Cổ Tháo Chủ Dữ Hồng Giác Phạm Thư, chỉ ra bộ Tăng Bảo Truyện do Giác Phạm viết bị mất 3 quyển, và có thêm lời chất vấn. ● 僧 寶 傳. X. Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện. ● 僧 堂. Còn gọi: Thiền Đường, Vân Đường. Căn phòng lớn trong ngôi thiền tự để cho chư tăng tọa thiền. Trong tăng đường có chia làm: Tiền đường và hậu đường. Tiết Long Tường Sĩ Khuê Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “一 日 侍 立 次、問 云:絕 對 待 時 如 何?眼 曰:如 汝 僧 堂 中 白 椎 相 似。 – Một hôm sư đang đứng hầu ngài Phật Nhãn, hỏi rằng: Khi bặt hết đối đãi thì sao? Phật Nhãn đáp: Giống như ngươi bạch chùy trong tăng đường”. ● 僧 伽 梨. Gọi tắt: Già Lê. Áo ngoài của tăng sĩ Phật giáo, Ca Sa. Tiết Thích Ca Mâu Ni Phật trong NĐHN q. 1 ghi: “世 尊 至 多 子 塔 前、命 摩 訶 迦 葉 分 座 令 坐、以 僧 伽 梨 圍 之。 – Thế tôn đến trước tháp Đa Tử, bảo Ma Ha Ca Diếp phân tòa để ngồi, rồi dùng Tăng Già Lê phủ lên mình Ca Diếp. “ ● 僧 可. X. Huệ Khả. ● 僧 密. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Vân Nham Đàm Thạnh. Khi ra hoằng pháp, sư trụ Thần Sơn thuộc Đàm Châu (nay là Trường Sa tỉnh Hồ Nam), giảng dạy cho học trò dù lạnh nóng thế nào cũng chẳng nghỉ. ● 僧 那. Thiền tăng sống vào thời Bắc Ngụy, họ Mã, người xứ Đông Hải (nay là cảng Liên Vân, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. Ban đầu sư theo nghiệp Nho, thông Tam lễ, Chu dịch, có vài trăm đệ tử. Về sau đến Tương Châu (nay là huyện An Dương tỉnh Hà Nam), nghe Huệ Khả thuyết pháp, chóng sinh chính tín, liền dẫn 10 vị đệ tử theo Huệ Khả xuất gia, tu hạnh Đầu Đà, khất thực nơi xóm làng chứ không vào thành thị. Sư cùng với đệ tử là Huệ Mãn được truyền chung 4 quyển kinh Lăng Già. Sư từng đến Lạc Dương, gặp ngài Đàm Khoáng ở chùa Thiện Hội. Chẳng rõ về cuối đời sư ra sao. ● 增 語. Lời nói thừa, lời nói uổng phí vô dụng. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “佛 法 中 菩 提 涅 槃 眞 如 解 脫。並 爲 增 語。 – Trong Phật pháp, Bồ Đề, Niết Bàn, Chân như, Giải thoát đều là lời nói thừa” ● 僧 一. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. Sư ở núi Nam Tế thuộc Hà Trung (nay là huyện Vĩnh Tế tỉnh Sơn Tây), về sau vào đất Mân, cuối cùng ở viện Trường Khánh. Thự hiệu: Bản Tịnh Đại Sư. ● 僧 丕 (898-955). Còn gọi: Đạo An. Thiền tăng đời cuối Đường đầu Ngũ Đại, họ Lý, tên Phi, người Trường An (Tây An, Thiểm Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Đạo Ưng, thuộc tông Tào Động đời thứ 3, trụ thiền viện Đồng An, núi Phụng Thê, Hồng Châu (gần sát huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây). Người đời gọi sư là Tổ Đồng An. Vua ban hiệu Quảng Trí Đại Sư. Có Ngữ Lục truyển bá ở đời. ● 增 集 續 傳 燈 錄. Đăng Lục, 6 quyển, có riêng 1 quyển mục lục, do Nam Thạch Văn Tú viết vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 142, trang 725. Tác giả kế thừa Cư Đảnh viết tiếp “Tục Truyền Đăng Lục”, sưu tập các tài liệu có liên quan đến sách vở Thiền Tông, tháp minh, hành trạng từ đời Tống, Nguyên để biên tập bắt đầu từ đời thứ 18 đến đời thứ 25 sau Lục Tổ Huệ Năng, tính chung có trên 500 vị thiền sư. Nội dung nói về sự nghiệp và cơ duyên Ngữ Yếu của các ngài. Phụ lục 1 quyển “Ngũ Đăng Hội Nguyên Bổ Di”, kể thêm vắn tắt truyện của 20 vị thuộc đời thứ 17 sau ngài Đại Giám. Sau phần bổ di còn kể thêm 7 vị không rõ nối pháp ai. Sách này được chùa Lăng Nghiêm, phủ Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang xuất bản vào niên hiệu Khang Hy thứ 10 (1671) đời Thanh. ● 僧 璨 (?-606). Thiền tăng đời Tùy, Trung Quốc, Tam Tổ Thiền Tông. Đời Đông Ngụy niên hiệu Thiên Bình thứ 2 (535) tham kiến Huệ Khả được khai ngộ. Lúc Bắc Chu Võ Đế diệt Phật pháp, sư qua lại núi Tư Không, núi Hoàn Công thuộc Thơ Châu (Tiềm Sơn, An Huy). Đời Tùy, niên hiệu Khai Hoàng thứ 12 (592) Đạo Tín đến cầu pháp, theo học với sư 9 năm. Tác phẩm: Tín Tâm Minh. Đường Huyền Tông ban thụy “Giám Trí Pháp Sư”. ● 曾. Phó từ, đặt ở trước từ phủ định, nhấn mạnh ngữ khí phủ định, tương đương với tuyệt (絕), hào (毫), tùng (從). “Lục Tổ Năng Thiền Sư Bi Minh” trong Toàn Đường Văn q. 327 ghi: “談 笑 語 言、曾 無 戲 論。 – Chuyện trò cười nói, không bao giờ hí luận”. ● 心 印. Chỉ cho thiền pháp. Thần Hội Truyện trong Tống Cao Tăng Truyện q. 9 ghi: “年 三 十、方 入 蜀、謁 無 相 大 師。利 根 頓 悟、冥 契 心 印。 – Năm 30 tuổi, sư mới vào đất Thục, yết kiến Đại sư Vô Tướng. Nhờ căn tính lanh lợi nên sư đốn ngộ, thầm khế hợp với thiền pháp”. ● 心 印 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Giác Kha, sống vào đời Tống. X. Giác Kha. ● 心 印 水 月 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Tử Nghi, sống vào đời Ngũ Đại. X. Tử Nghi. ● 心 鏡 錄. X. Tông Cảnh Lục. ● 心 鏡 禪 師 塔. Nằm trong khuôn viên chùa Thất Tháp, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Xây dựng vào niên hiệu Hàm Thông thứ 14 (873) đời Đường, niên hiệu Quang Tự thứ 32 (1906) đời Thanh, trụ trì Từ Vận trùng tu, trên khắc 12 chữ “Đường sắc tứ Tâm Cảnh Thiền Sư chân thân Xá Lợi tháp”. Chia làm ba phần bệ tháp, thân tháp, đỉnh tháp, hình tròn, tạo dáng trang trọng, đường nét đẹp đẽ. Trên tháp có bài minh văn giới thiệu sự tích của Thiền Sư Tâm Cảnh và quá trình xây dựng tháp. Đây là minh văn sinh ra từ bút tích của người đời Đường, hiện chỉ còn 117 chữ. ● 心 道 (1058-1129). Thiền tăng đời Tống, họ Từ, người xứ Đan Lăng My Châu (nay thuộc Tứ Xuyên) Trung Quốc. Năm 30 tuổi được độ làm tăng, đến Thành Đô học Duy Thức, nghiên cứu sâu rộng trong 10 năm; bỗng một hôm có người hỏi đến, sư mờ mịt chẳng biết đáp ra sao, nên bỏ môn này. Sư đến Tương Dương (nay là huyện Tương Phàn tỉnh Hồ Bắc) nương ngài Cốc ẩn Hiển để tham thiền. Độ 10 năm sau, một hôm nghe ngài Phật Giám Huệ Cần thuyết pháp ở Thư Châu (nay là huyện Tiềm Sơn tỉnh An Huy), sư đại nghi, liền ở lại đây. Một chiều nọ, sư bỗng nhiên như người tỉnh mộng, được Huệ Cần ấn khả, và nối pháp ngài. Năm 1112, sư khai pháp ở chùa Thiên Ninh Vạn Thọ tại Tương Dương. Năm 1119, sư trụ trì viện Văn Thù tại Đảnh Châu (nay là huyện Thường Đức, Hồ Nam). Sư rất tinh tường kệ tụng, được các thiền tăng rất mến mộ. Năm 1129, nhằm lúc có giặc đến, chư tăng thỉnh sư về Nam. Sư cho rằng người học đạo là vì việc liễu thoát sinh tử nên không chịu lánh nạn, nhân đây sư bị giặc giết chết. ● 心 空 及 第 歸. Ý nói lãnh ngộ lý muôn pháp đều không, trừ sạch tục tình vọng niệm, trúng tuyển thành Phật. Đây là cách nói dùng khoa cử khảo thí để thí dụ. Cập đệ: Thi đậu, trúng tuyển ký thi. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “問 選 佛 場 開。還 許 學 人 選 也 無。師 云。切 忌 點 額。學 云。恁 麼 則 心 空 及 第 歸 也。 – Hỏi: Trường tuyển Phật đã mở, có tuyển chọn học nhân hay không? Sư đáp: Rất kỵ điểm trán. Học nhân thưa: Thế ấy thì tâm không được thi đậu vậy. “ ● 心 泰 (1327-1415). Thiền tăng đời Minh, họ Tôn, tự Đại Tông, hiệu Phật Huyễn, người Thượng Ngu (Chiết Giang), Trung Quốc. Năm 15 tuổi sư theo ốc Công xuất gia, lại đến chùa Tây Thiên Trúc ở Hàng Châu tham kiến Cổ Đảnh Minh Công, ở lại làm Thị giả. Sau nghe Đàm Ngạc thuyết pháp ở chùa Quốc Thanh, Thiên Thai liền đến tham yết, được ấn chứng. Đời Minh niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) sư trụ trì Quốc Khánh, Đông Sơn, Thượng Ngu, năm thứ 13 (1380) dời sang chùa Trung Thiên Trúc, Hàng Châu. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) sư phụng sắc vào kinh tham gia việc biên tập “Vĩnh Lạc Đại Điển”. Tuổi già ẩn cư nơi am Tịch Chiếu, Thượng Ngu. Tác phẩm: Phật Pháp Kim Thang Biên 16 quyển. ● 心 宗. Thiền Tông. CĐTĐL q. ghi: “傳 燈 錄 鏤 行 舊 矣、兵 興 以 來、其 板 灰 飛、慕 心 宗 者 患 無 其 書。 – Bản khắc Truyền Đăng Lục cũ bị nạn binh lửa cháy thành tro, khiến người hâm mộ Tâm Tông lo rằng không còn sách ấy”. Truyện Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính trong Thiền Sư Việt Nam ghi: “Cổ thanh hợp vận tùng thanh họa Tịch chiếu tâm tông tức tập tầm Minh nguyệt thanh phong trường tự tại Tầm tâm bất đắc, tức tầm tâm”. “Âm thanh hợp vận âm trùng họa Tịch chiếu tâm tông tức tập tầm Trăng sáng gió thanh thường tự tại Tìm tâm chẳng được, nghỉ tìm tâm”. ● 心 要. Yếu chỉ thiền pháp. Tiết Long Đàm Hòa Thượng trong TĐT, q. 5 ghi: “受 具 戒 已、執 爨 數 年、忽 於 一 日 問 天 皇 曰:某 甲 身 廁 僧 倫、已 果 足 志、未 蒙 和 尚 指 示 箇 心 要、伏 乞 指 示。天 皇 曰:你 自 到 吾 身 邊 來、未 嘗 不 指 汝 心 要。 – Thụ giới cụ túc rồi, sư làm bếp được vài năm. Một hôm sư chợt hỏi Thiên Hoàng rằng: Tuy thân con đã được dự vào hàng ngũ của chư tăng, đã thỏa mãn chí nguyện nhưng chưa được Hòa Thượng chỉ dạy tâm yếu, cúi xin Thầy chỉ dạy! Thiên Hoàng nói: Từ ngày ngươi đến ở bên cạnh ta, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi”. ● 尋 常 茶 飯. Còn gọi: Gia Thường Trà Phạn. Chỉ cho việc lặt vặt giống như việc ăn cơm, uống trà hàng ngày. Phần thùy thị của tắc 1 trong Bích Nham Lục (Đại 48, 140 thượng) ghi: “隔 山 見 煙。早 知 是 火。隔 牆 見 角。便 知 是 牛。舉 一 明 三。目 機 銖 兩。是 衲 僧 家 尋 常 茶 飯。 – Cách núi thấy khói liền biết có lửa, cách tường thấy sừng liền biết có trâu. Người thông minh học một biết mười, mắt vừa nhìn thấy liền có thể đánh giá được sự việc. Đây là việc lặt vặt như cơm nước trong nhà thiền”. ● 寑 疾. Bị nhuốm bệnh càng ngày càng nặng, sắp chết đến nơi. Tiểu truyện Thiền Sư Trường Nguyên trong TUTA ghi: “迨 政 隆 寶 應 三 年 六 月 七 日 寑 疾 說 偈。 – Đến ngày 7 tháng 6 niên hiệu Chính Long Bảo ứng năm thứ 3 (1165), sư lâm bệnh nặng, nói kệ…” ● 新 到. Chỉ cho vị tăng mới đến một ngôi chùa nào đó để xin tá túc. Tông Môn Võ Khố ghi: “撫 州 明 水 遜 禪 師。在 法 雲 侍 者 寮 時。道 林 琳 禪 師 挂 搭。方 丈 特 爲 新 到 茶。遜 躬 至寮 請 之。 – Thiền Sư Minh Thủy Tốn tại Phủ Châu lúc còn ở liêu thị giả của chùa Pháp Vân, có Thiền Sư Đạo Lâm Lâm đến chùa xin tạm trú. Hòa Thượng Trụ trì muốn đãi trà cho vị tăng mới đến, nên sai Tốn đến liêu khách để mới Đạo Lâm Lâm”. ● 新 羅、西 天. Chữ Tân La tuy có nghĩa là tên nước Triều Tiên cũ và chữ Tây Thiên có nghĩa tên nước ấn Độ thời xưa, nhưng trong trứ tác thiền lâm, hai chữ này hàm ý chỉ một nơi xa xôi mơ hồ, vì trong tư tưởng người Trung Hoa hay người Việt ta thuở xưa thì Tân La và Tây Thiên là hai nơi xa xôi diệu vợi – Tiết Trường Lô ứng Phu Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: Tăng hỏi: “僧 問:古 者 道、如 來 禪 即 許 老 兄 會、祖 師 禪 未 夢 見 在。未 審 如 來 禪 與 祖 師 禪 是 同 是 別?師 曰:一 箭 過 新 蘿。 – Người xưa nói: Chấp nhận cho lão huynh ngộ Như Lai thiền đi, nhưng Tổ sư thiền thì nằm mơ cũng chưa thấy. Chẳng hay Như Lai thiền và Tổ sư thiền là giống nhau hay khác nhau? Sư đáp: Một mũi tên bay qua Tân La. “ Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “到 翠 峰 峰 問。甚 處 來。師 云。黃 蘗 來。峰 云。黃 蘗 有 何 言 句 指 示 於 人。師 云。黃 蘗 無 言 句。峰 云。爲 什 麼 無。師 云。設 有 亦 無 舉 處。峰 云。但 舉 看。師 云。一 箭 過 西 天。 – Sư đến Thúy Phong. Phong hỏi: Từ đâu đến? Sư đáp: Từ Hoàng Bá đến. Phong hỏi: Hoàng Bá có lời gì để dạy người? Sư đáp: Hoàng Bá không có lời cũng không có chỗ nêu lên công án. Phong nói: Hãy nêu lên công án xem. Sư nói: Một mũi tên bay qua Tây Thiên. “ ● 新 命. Còn gọi: Tân Mạng Trụ Trì, Tân Mạng Hòa Thượng, Tân Trụ Trì. Là người mới nhậm chức Trụ trì một chùa. Điều Trụ trì tiến thoái, chương Trụ trì, trong Hoàng Bá Thanh Quy (Đại 82, 768 hạ) ghi: “凡 請 新 命、必 前 任 住 持 預 先 告 眾、次 白 公 府、俟 公 命 下、然 後 修 書 疏 珍 重 聘 請。新 命 領 已、前 住 者 當 於 方 丈 設 齋。 – Đại khái việc thỉnh Tân Trụ trì gồm: Đầu tiên vị Cựu Trụ trì phải báo trước cho đại chúng rõ. Kế đó là trình với Công phủ, chờ Công phủ đồng ý mới viết sớ trân trọng kính mời. Tân Trụ trì nhậm chức xong, vị Cựu Trụ trì phải thiết trai ở nơi phương trượng”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di ● 津 送. Đưa ma, chôn cất người chết. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “老 人 於 言 下 大 悟、作 禮 曰:某 已 脫 野 狐 身、住 在 山 後。敢 乞 依 亡 僧 津 送。 – Lão nhân ư ngôn hạ đại ngộ, tác lễ viết: Mỗ dĩ thoát dã hồ thân, trụ tại sơn hậu, cảm khất biểu vong tăng tân tống. – Ông già ngay nơi lời nói đại ngộ, làm lễ thưa: Con đã thoát kiếp chồn hoang, bỏ xác ở sau núi, dám xin Hòa Thượng chôn cất con như một vị tăng đã chết. “ ● 嚬 呻. (Sư tử, voi chúa) rống lên. Tiết Quy Tông Chí Chân Thiền Sư trong CĐTĐL q. 29 ghi: 歸 宗 事 理 絕。日 輪 正 當 午 自 在 如 師 子。不 與 物 依 怙 獨 步 四 山 頂。優 游 三 大 路 欠 呿 飛 禽 墜。嚬 呻 眾 邪 怖 “Quy Tông sự lý tuyệt Nhật luân chính đương ngọ Tự tại như sư tử Bất dữ vật y cổ Độc bộ tứ sơn đảnh Ưu du tam đại lộ Khiếm khứ phi cầm đọa Tần thân chúng tà bố!” “Quy Tông sự lý bặt Mặt trời đứng bóng tròn Tự tại như sư tử Không cùng vật tựa nương. Bốn đỉnh núi riêng bước Ba đường lớn thung dung Ngáp dài chim chóc rớt Rống lên bọn tà run”. ● 儘 然. Buồn bã. Chương Duy Khoan Thiền Sư trong CĐTĐL q. 7 ghi: “唯 寬 禪 師。。。年十 三 見 殺 生 者、儘 然 不 忍 食。 – Thiền Sư Duy Khoan… Năm mười ba tuổi thấy người khác sát sinh, sư buồn bã không nỡ ăn. “ ● 盡 大 地 人 一 口 吞 盡. Còn gọi: Tận Đại Địa Nhân Vong Phong Kết Thiệt. Há miệng nuốt hết mọi người. Chỉ cho thiền sư hoặc thiền sinh có kiến thức, năng lực, cảnh địa triệt ngộ hơn người. Những thiền giả ưu tú này, mọi hành vi của họ hạng tầm thường đều không thể so sánh được, giống như mọi người trong trời đất đều bị nuốt mất trong sự cười nói, nín lặng của người ấy. Tắc 49, Bích Nham Lục (Đại 48, 185 thượng) ghi: “千 尺 鯨 噴 洪 浪 飛(轉 過 那 邊 去、不 妨 奇 特、盡 大 地 人 一 口 吞 盡)。 – Cá kình ngàn thước phun sóng to (Khi ngộ rồi thì thật là kỳ đặc, như há miệng nuốt hết mọi người)”. ● 盡 價. Giá thích hợp, đúng giá. Tiết Tín Tương Tông Hiển Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “中 邑 大 似 箇 金 師、仰 山 將 一 塊 金 來、使 金 師 酬 價、金 師 亦 盡 價 相 酬。臨 成 交 易、賣 金 底 更 與 貼 秤。金 師 雖 然 闇 喜、心 中 未 免 偷 疑。何 故?若 非 細 作、定 是 賊 贓。 – Trung ấp giống như một ông thợ kim hoàn, Ngưỡng Sơn đem một thỏi vàng đến nhờ Ngài cho biết giá tiền, Ngài cũng cho giá thích hợp. Đến lúc trở thành việc buôn bán, vàng bán ra lại vừa đúng với cân lượng. Thợ kim hoàn mặc dù mừng thầm nhưng trong lòng chưa khỏi hồ nghi. Vì sao? Vì nếu không xem xét kỹ lưỡng, chắc chắn vàng kia là của ăn trộm. “ ● 盡 却 今 時. Hiện nay thấu suốt, hiện nay triệt ngộ, tức hiện nay ngộ suốt thiền pháp. Nhà thiền nhấn mạnh, thiền pháp chính ở trước mắt, chẳng cần tìm cầu ở nơi nào lúc nào khác. Thuật ngữ này thể hiện được tinh thần hiện thực của Thiền Tông. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “所 以 先 聖 教 人、秖 要 盡 卻 今 時。能 盡 今 時、更 有 何 事。 – Cho nên Phật Tổ dạy người, chỉ cần hiện nay ngộ suốt thiền pháp. Ngộ được thiền pháp thì đâu còn việc gì?” ● 贐 路. Trao tặng lễ vật cho người lên đường. Tiết Vĩnh Phong Huệ Nhật Am Chủ trong NĐHN q. 18 ghi: “吾 明 日 行 腳 去、汝 等 可 來 相 送。於 是 賮 路 者 畢 集。 – Sư chợt bảo người trong ấp rằng: Sáng mai tôi hành cước, các vị có thể đến đưa tiễn. Khi mai tôi hành cước, các vị có thể đến đưa tiễn. Khi ấy người trao tặng lễ vật đều tập họp đủ cả. “ ● 盡 力 道 不 得 底 句. Câu cố hết sức nói mà chẳng được, nghĩa là lời nói không sao diễn tả được, chỉ cho thiền pháp siêu việt ngôn cú nghĩa lý. Tiết Phù Bôi Hòa Thượng trong NĐHN q. 3 ghi: “凌 行 婆 來 禮 拜、師 與 坐 喫 茶。婆 乃 問:盡 力 道 不 得 底 句 分 付 阿 誰?師 曰:浮 盃 無 剩 語。 – Lăng Hành Bà đến lễ bái, sư mời cùng ngồi uống trà. Bà liền hỏi: Câu cố hết sức nói mà chẳng được, giao phó cho ai? Sư đáp: Phù Bôi không có lời gì chưa nói ra”. ● 盡 時. Bấy giờ, hồi đó. Tiết Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư trong KTTQTĐL q. 28 ghi: “Nhuyễn triền tạng phong nhập trận lai, tận thời cầm hạ nhãn xanh khai. Tử sinh nhất quyết anh hùng sĩ, Văn võ song đả tướng tương tài. – Quấn chứa cơ phong vào trận ngay, bấy giờ bắt được kinh ngạc thay! Anh hùng nhất quyết phen sinh tử, văn võ song toàn tướng ngang tài. “ ● 襲 燈 禪 師. Thụy hiệu của thiền tông Trí Nhàn đời Đường. X. Trí Nhàn. ● 漝 麽. Như thế. Vân Môn Quảng Lục q. hạ ghi: “師 云:飯 袋 子。江 西 湖 南 便 漝 麼 去。僧 於 言 下 大 悟。 – Sư nói: Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam mà như thế hả? Tăng nghe lời này liền đại ngộ”. ● 葺 茅 盖 頭. Chỉ cho việc xây cất chùa chiền. Nguyên Diệu Ngữ Lục q. hạ ghi: “西 峰 之 肩 有 師 子 巖、拔 地 千 仞、崖 石 林 立、師 東 之、有 終 焉 之 意、弟 子 法 升 等 – Mé bên vai của ngọn Tây Phong có hang Sư Tử sâu đến ngàn trượng, có đá dựng như rừng. Sư thích cảnh này, có ý muốn ở đấy suốt đời, các vị đệ tử như Pháp Thăng v. v… lục tục tìm đến, rồi cùng nhau xây cất chùa chiền”. ● 畢 竟. 1. Xét cho cùng, dĩ nhiên. Phẩm thứ hai: Tịnh độ của Tông Giáo đáp hưởng trong NHQL q. 21 ghi: “信 我 念 佛 將 來 畢 竟 見 佛、畢 竟 成 佛、更 無 疑 惑 者。 – Tin ta niệm Phật tương lai dĩ nhiên thấy Phật. Xét cho cùng khi thành Phật không còn việc gì nghi hoặc. “ ● 2. Cứu cánh, cuối cùng. Biểu thị nghi vấn. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “畢 竟 如 何 結 果、畢 竟 有 何 了 期? – Cứu cánh kết quả ra sao? Cuối cùng có thời gian nào tỉnh ngộ?” ● 畢 竟 事. Việc cứu cánh. Chỉ việc lãnh ngộ thiền pháp, siêu thoát sinh tử. Nhà thiền cho cánh nhìn này là hết sức quan trọng. Tiết Nam Tuyền Hòa Thượng trong TĐT q. 16 ghi: “師 與 歸 宗 同 行 二 十 年、行 腳 煎 茶 次、師 問:從 前 記 持 商 量 語 句 已 知、離 此 後 有 人 問 畢 竟 事作 麼 生? – Sư và Quy Tông du phương hai mươi năm. Trên đường hành cước, đang nấu trà, sư hỏi: Việc ghi nhớ, thương lượng ngữ cú trước kia đã biết, Xa lìa những thứ đó sau này có ai hỏi về việc cứu cánh thì sao?” ● 漆 桶 生 光. Thùng sơn phát sáng. Trong thúng sơn tối tăm phát sinh ra một vầng sáng, dụ chỉ chuyển mê thành ngộ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “入 寺 上 堂。僧 問:華 藏 海 中 張 巨 網。慣 打 鯤 鯨。凌 宵 峰 頂 握 鉗 鎚。陶 鑄 佛 祖。而 今 爐 鞴 既 開。一 鎚 便 就 時 如 何。師 云: 漆 桶 生 光。 – Sư vào chùa thượng đường, Tăng hỏi: Trong biển Hoa Tạng giăng lưới to, quen bắt cá côn cá kình; trên đỉnh Lăng Tiêu cầm kiềm búa để rèn đúc Phật Tổ. Nhưng nay lò rèn đã mở cửa, khi một búa liền thành thì sao? Sư đáp: Thùng sơn phát sáng”. ● 疾 焰 過 風. Gió thổi lửa bùng. Thiền Tông mượn từ này để chỉ thiền cơ rất nhanh chóng. Tiết Nhất Thượng tọa hạ tỏa trong Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: 生 死 脫 著 不 相 干 一 道 神 光 常 獨 露 咦! 疾 焰 過 風 發 大 機 塵 塵 剎 剎 頭 回 互。 “Sinh tử thoát trước bất tương can Nhất đạo thần quang thường độc lộ Di! Tật diệm quá phong phát đại cơ Trần trần sát sát đầu hồi hỗ”. “Sinh tử thoát rồi chẳng liên quan, Một luồng ánh sáng thường riêng bày. Chao! Thiền cơ phát ra rất nhanh chóng, Cõi nước vi trần đắp đổi nhau”. ● 湊. Khế hợp. Tiết Phúc Tiên Chiêu Khánh Hòa Thượng trong TĐT q. 13 ghi: “遂 乃 拥 毳 參 尋、初 見 鼓 山、長 慶、安 國、未 湊 機 緣。 – Sư liền ôm gói đi tham tầm, ban đầu gặp Cổ Sơn, Trường Khánh, An Quốc nhưng cơ duyên chưa khế hợp”. ● 湊 泊. 1. Gần gũi, khế hợp, khế ngộ. Đại Quang Minh Tạng ghi: “祖 師 意 峻 硬 孤 峭、有 如 其 平 生、難 於 湊 泊。 – Ý Tổ sư cao vút bí hiểm, như có đem cả cuộc đời của mình để tham cứu cũng khó mà khế ngộ” ● 2. Ngưng tụ, kết hợp. Tiết Tham Chính Tiền Đoan Lễ Cư Sĩ ghi: “盖 爲 地 水 火 風、因 緣 和 合、暫 時 湊 泊、不 可 錯 認 爲 己 有。 – Vì là đất nước gió lửa, nhân duyên hòa hợp, tạm thời ngưng tụ nên chẳng thể lầm nhận là thân mình”. ● 湊 機. Khế hợp cơ duyên, khế cơ. Huệ Nam Ngữ Lục tục bổ ghi: “慧 南 禪 師 三 十 餘 年、示 此 三 問、往 往 學 者 多 不 湊 機、叢 林 共 目 爲 三 關。 – (Thiền Sư Huệ Nam) hơn 30 năm khai thị bằng 3 câu này, thường thường người học phần nhiều chẳng khế hợp cơ duyên, trong tùng lâm đều cho là tam quan (3 cửa ải)”. ● 走 颺 颺. Tất tả chạy ngược chạy xuôi. Tiết Phúc Châu Tây Viện Hòa Thượng trong TĐT q. 17 ghi: “若 欲 得 作 佛、汝 自 是 佛。擔 却 一 箇 佛、傍 家 走 颺 颺、渴 鹿 趁 陽 焰 相 似、何 時 得 相 應 去? – Nếu muốn được làm Phật thì chính ông là Phật. Đã mang một ông Phật trên mình mà còn tất tả chạy ngược chạy xuôi giống như con nai khát nước chạy theo sóng nắng, đến khi nào mới được tương ưng?”. ● 走 作. Nghĩa là tâm thần bất định, chạy lăng xăng. Tiết Dũng Tuyền Hân Thiền Sư trong NĐHN ghi: “我 四 十 九 年 在 這 裡、尚 自 有 時 走 作。汝 等 諸 人 莫 開 大 口。見 解 人 多、行 解 人 萬 中 無 一 箇。 – Sư thượng đường nói: Ta 49 năm tại chỗ này còn có tẩu tác, bọn các ông chớ mở miệng to. Kẻ kiến giải thì nhiều, còn người hạnh giải thì trong muôn người không có một”. ● 西 庵. Hiệu của thiền tăng Đàm Ngạc đời Nguyên. X. Đàm Ngạc. ● 西 照. Hiệu của thiền tăng Huệ Tài đời Minh. X. Huệ Tài. ● 西 來 意. Còn gọi: Tây Tổ Ý. Ý chỉ thiền pháp của Sơ tổ Thiền Tông là Bồ Đề Đạt Ma từ ấn Độ truyền sang Trung Quốc. Đây là cách nói tắt của Tổ Sư Tây Lai Ý. Chương Chiêu Khánh viện Đạo Khuông Thiền Sư trong CĐTĐL q. 21 ghi: “問 如 何 是 西 來 意。師 曰。蚊 子 上 鐵 牛。 – Hỏi: Ý chỉ của Tổ sư từ phương Tây đến là gì? Sư đáp: Con muỗi đáp trên mình con trâu sắt. “ Tiết Chính Pháp Hy Minh Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “林 葉 紛 紛 落、乾 坤 報 早 秋。分 明 西 祖 意、何 用 更 馳 求? – Lá rừng rơi lả tả, trời đất báo thu sang. Đâu cần kiếm gì nữa, ý Tổ sư rõ ràng. “ ● 西 林 塔. Nằm trong nhóm Tây trong thành huyện Tùng Giang, tỉnh Thượng Hải, Trung Quốc. Nguyên tên là “Sùng Ân Bảo Tháp”, bởi ởtrong Tây Lâm Thiền tự, nên gọi “Tây Lâm Tháp”. Tháp được xây vào khoảng niên hiệu Hàm Thuần (1265-1274) đời Tống, niên hiệu HồngVũ thứ20 (1387) đời Minh trùng tu, đổi tên “Viên ứng Tháp”. Tháp là kết cấu hỗn hợp gạch gỗ, mặt bằng hình bát giác, 7 tầng cao hơn 40m. Thang lên tháp là những bậc đá xây trong thân tháp vòng vèo đi lên, đến nay vẫn còn hoàn chỉnh. Tháp này cùng với tháp chùa Hưng Thánh đông tây đối mặt nhau, điểm xuyết cho phong cảnh thanh tú đẹp đẽcổthành Tùng Giang. ● 西 麓. Hiệu của thiền tăng Trí Cập đời Nguyên. X. Trí Cập. ● 西 巖. Hiệu của thiền tăng Liễu Huệ đời Tống. X. Liễu Huệ. ● 西 天 二 十 八 祖. Còn gọi: Tây Thiên tứ thất. Chỉ 28 vị Tổ Thiền Tông của ấn Độ thời xưa. Tương truyền trên hội Linh Sơn, đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền trao chính pháp nhãn tạng (thiền pháp) cho đệ tử là Ma Ha Ca Diếp. Ca Diếp trở thành vị Tổ Thiền Tông thứ nhất, lần lượt trao truyền đến vị Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma vượt biển sang Trung Quốc. Vị này là Tổ khai sáng Thiền Tông Đông độ. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “若 論 第 一 義、西 天 二 十 八 祖、唐 土 六 祖、立 在 下 風。 – Nếu bàn về nghĩa thứ nhất thì 28 vị Tổ ấn Độ và 6 vị Tổ Trung Quốc đều ở thế kém. “ ● 西 禪 寺. Viện Trường Khánh ở phía tây thành phố Phúc Châu nên người đời gọi là Tây Thiền tự. X. Trường Khánh viện. ● 〖⿱斯言〗 速. Kêu ca, âm thanh cảm thán gấp rút. Tiết Vong Danh Cổ Túc trong NĐHN q. 6 ghi: “昔 有 一 老 宿、一 夏 不 爲 師 僧 說 話。有 僧 嘆 曰:我 祇 恁 麼 空 過 一 夏、不 敢 望 和 尚 說 佛 法、得 聞 「正 因」 兩 字 也 得。老 宿 聞、乃 曰:闍 黎 莫 〖⿱斯言〗 速、若 論 正 因、一 字 也 無。 – Thuở xưa có một vị lão túc, trong suốt mùa an cư không chịu thuyết pháp cho chư tăng nghe. Có một vị tăng than: Cứ như thế thì một hạ trôi qua vô ích, tôi chẳng dám mong Hòa Thượng nói Phật pháp, chỉ cần nghe hai chữ chính nhân cũng được. Lão túc nghe được lời này, liền nói: Xà lê chớ có kêu ca, nếu luận về chính nhân, một chữ cũng không có”. ● 西 齋. Hiệu của thiền tăng Phạm Kỳ đời Nguyên. X. Phạm Kỳ. ● 西 竺. Hiệu của thiền tăng Bản Lai đời Minh. X: Bản Lai. ● 西 竺 禪 師 墓 塔. Dưới cửa Hắc Phong, phía nam sườn núi Tuyết Sơn, huyện Lương Sơn,tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Tháp của Thiền Sư Tây Trúc đứng trước mộ, tháp cao 3,12m, đường kính 0,4 đến 0,85m. Bia đá trước tháp là “Đông Lỗ Tây Trúc Thiền Sư minh ký”, mặt trên ghi lại sự tích của tăng nhân yêu nước Thiền Sư Tây Trúc đã dẫn đầu hơn 3000 tăng binh chống lại giặc Oa vào khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) đời Minh. ● 西 雲 禪 寺. ở làng Ngũ Cổ, thành phố Đài Bắc, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Nguyên tên là “Tây Vân Nham”. Niên hiệu Càn Long thứ 17 (1752) đời Thanh sáng lập, những năm Gia Khánh, Quang Tự đều trùng tu thêm, là một Phật tự lâu nhất trong lịch sử Đài Loan. ● 西 域 寺. Nằm trên sườn núi Thạch Kính, phía tây nam huyện Phòng Sơn, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Xưa có hai chùa Đông Dụ và Tây Dụ, đều là kiến trúc đời Tùy Đường. Sau đó Đông Tự bị phá hủy, chỉ còn Tây Tự. Cấu trúc hùng vĩ, Phật tháp trang nghiêm, theo truyền thuyết bên dưới tháp có con đường nhỏ lát đá phiến. Đời Minh đổi tên là “Tây Vực Tự”. Đầu đời Thanh hai vị Đại sư Siêu Cổ, Tăng Quảng nối nhau trụ trì, ngày thêm hưng thịnh và đổi tên là “Tây Vực Vân Cư Thiền Lâm”. Từ đời Dân Quốc trở đi bao lần bị chiến tranh đã suy vi từ lâu. ● 濟 拔. Cứu vớt, siêu thăng. Tiết “Sở Thạch Hòa Thượng hành trạng” trong PKNL q. 20 ghi: “皇 明 启 運、混 一 海 宇、天 子 念 將 臣 或 沒 於 戰、民 庶 或 死 於 兵、宜 以 釋 氏 法 設 冥 以 濟 拔 之。 – Vua biết rõ bắt đầu chở đi, xáo trộn thế giới. Vua nhớ đến tướng sĩ chết trận, dân đen bỏ mạng bởi đao binh nên dùng Phật pháp lập ra cõi u minh để cứu vớt họ. “ ● 濟 北. Danh hiệu của Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Vào năm 854, Thiền Sư Nghĩa Huyền đến trụ ở viện Lâm Tế, góc phía đông bờ sông Hô Đà, tại Trấn Châu (Hà Nam Chính Định). Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q. 4 (Đại 47, 1011 hạ) ghi: “濟 北 瞎 驢、初 到 高 安 灘 頭、既 不 能 踢 蹈、卻 還 黃 檗 山 中。 – Lâm Tế là con lừa mù, ban đầu đến bến sông Cao An (chỉ cho ngài Đại Ngu) đã không thể vượt qua, còn quay trở lại núi Hoàng Bá”. ● 濟 辦. Thành công, hoàn thành. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “謝 莊 主 上 堂 云。一 不 做 二 不 休。不 風 流 處 也 風 流。若 要 公 私 濟 辦。好 看 露 地 白 牛。 – Một không làm hai không nghỉ, chỗ chẳng phong lưu cũng phong lưu. Nếu muốn mọi việc hoàn thành, coi chừng con trâu trắng sờ sờ. “ (Con trâu trắng sờ sờ: dụ chỉ diệu nghĩa pháp) ● 濟 公. X. Đạo Tế. ● 濟 顛. Thiền tăng Đạo Tế đời Tống, tính tình ngông cuồng, ham thích rượu thịt, chẳng giữ giới luật, người đời gọi sư là Tế Điên. ● 霽 崙. Hiệu của thiền tăng Siêu Vĩnh đời Thanh. X. Siêu Minh. ● 濟 寧 鐵 塔. X. Sùng Giác tự thiết tháp. ● 際 聖(1696-1756). Thiền tăng đời Thanh, họ Tiết, tự Liễu Phàm, người xứ Hải Ninh, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thiên Đồng Triệt ở Hàng Châu, đời thứ 40 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Thiên Mân ở Dương Châu. ● 濟 宗 八 大 勢. Tám thứ cơ pháp mà bậc Thầy của tông Lâm Tế thường vận dụng một cách tự tại: 1. Thiên chân đại thế: Cơ pháp tự nhiên nhậm vận không do tạo tác, không nhờ phương tiện. 2. Bí mật đại thế: Cơ pháp thầm kín không dùng lời nói. 3. Bình thường đại thế: Dùng động tác bình thường để chỉ ra Bản tính. 4. Trực thị đại thế: Chỉ thẳng Tức tâm là Phật. 5. Trình tự đại thế: Lấy vật bên mình như phất tử, nắm tay… để chỉ bày đại đạo. 6. Thâu phóng đại thế: Khi nắm chặt, khi buông thả, vận dụng tự như. 7. Quyền thiết đại thế: Dùng phương tiện khéo léo. 8. Tỉnh ngộ đại thế: Tức là cơ pháp dùng: Phất, quyền, bổng, hét… giúp người học ngay đó khai ngộ. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 濟 宗 七 事 隨 身. Là 7 loại tự tại mà vị thiền tăng ưu tú của tông Lâm Tế phải có đủ: 1. Sát nhân đao: Chặt đứt tất cả sở hữu của người học. 2. Hoạt nhân kiếm: Trí giúp người học hết sức linh hoạt. 3. Cước đạp thật địa: Tất cả hành vi đều khế hợp với Phật đạo. 4. Hướng thượng quan hệ tử: Tột cùng tông chỉ hướng thượng. 5. Cách ngoại thuyết thoại: Xa rời sự nghĩ suy thông thường mà nói Phật đạo. 6. Nạp tăng ba tỵ: Đủ sức dẫn dắt người học. 7. Thám can ảnh thảo: Có thể phân biệt rõ ràng điều chân, giả của người học. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 濟 宗 頌 語. Sách, 1 quyển, do Hán Nguyệt Pháp Tạng soạn vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 1 (1628) đời Minh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 213. Pháp Tạng vì muốn chứng minh pháp mạch truyền thừa của tông Lâm Tế mà soạn sách này. Nội dung nêu ra các vị như: Mã Tổ, Đại Giác, Hưng Hóa, Ngũ Tổ, Viên Ngộ, Đại Huệ là do Mã Tổ truyền thẳng xuống một mạch. Mỗi một truyện thiền sư đều có phụ thêm lời bình ngắn và tụng ngữ, dùng để cử dương tông phong Lâm Tế. Phần sau sách phụ lục “Ngũ Tông Nguyên”. ● 齊 安 (?-842). 1. Thiền tăng đời Đường, người Hải Môn Trung Quốc. Thuở nhỏ sư lập chí xuất gia, theo học với Thiền Sư Vân Tông nơi quận nhà rồi xuất gia, sau thụ giới cụ túc với Luật sư Trí Nghiêm ở Nam Nhạc, tập học luật nghi. Về sau tham kiến Mã Tổ Đạo Nhất ở núi Cung Công rất được trọng vọng, thầm truyền chính pháp được ngộ đạo nối pháp. Cuối niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) tuổi đã 70 sư trùng tu chùa Pháp Lạc ở Tiên Sơn (Chiết Giang) hoang phế đã lâu. Lúc bấy giờ Pháp Hân ở Diêm Quan (Tây Nam Hải Ninh, Chiết Giang) kiến thiết viện Hải Xương thỉnh Tề An về ở, người đời gọi là “Diêm Quan Tề An”. Một thời kẻ tham học khắp nơi tụ hội, sư đại dương thiền phong Mã Tổ. Niên hiệu Hội Xương thứ 2 (842) sư ngồi yên mà thị tịch, thọ hơn 90 tuổi. Vua Tuyên Tông ban thụy “Ngộ Không Đại Sư” và làm thơ truy điệu. Sau khi Võ Tông hủy Phật, Tuyên Tông được sư cảm hóa mà chấn hưng lại Phật pháp. ● 2. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Hoa Nghiêm Trí Tạng. Về sau hoằng dương thiền pháp ở Hoàng Châu (nay là Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc), người đời gọi sư là “Hoàng Châu An” để phân biệt với Thiền Sư Tề An ở Diêm Quan. Sư dời đến Phụng Tường (nay thuộc Thiểm Tây) rồi thị tịch. ● 齊 肩. Còn gọi: Kết kiên. Tương đương. Tiết Bảo Phúc Tùng Triển Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “諸 仁 者 還 識 麼?若 識 得、便 與 古 佛 齊 肩。 – Này chư vị! Có biết chưa? Nếu biết được thì ngang bằng với chư cổ Phật rồi đấy. “ ● 齊 耸. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Nghĩa Huyền thuộc tông Lâm Tế. Một hôm có vị tăng hỏi: Phật là gì? Sư đáp: Lão tăng trọn chẳng biết. Tăng nói: Hòa Thượng là bậc đại thiện tri thức vì sao chẳng biết? Sư đáp: Lão tăng chẳng từng tiếp căn cơ bậc hạ. Tăng lại hỏi: Đạo là gì? Sư đáp: Qua lại không chướng ngại. Sư nói thêm: Chợt gặp biển lớn làm sao qua? Tăng do dự, sư liền đánh. ● 他. Người khác. Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia Chân Giác Đại sư trong CĐTĐL q. 30 ghi: “卻 被 如 來 苦 訶 責。數 他 珍 寶 有 何益。 – Trái lại bị Như lai quở trách mãi về việc đếm của báu cho người khác nào có ích gì. “ ● 蹉 跎. Lầm lỗi, sai sót. Chương Thập huyền đàm trong CĐTĐL q. 29 ghi: 枯 木 巖 前 差 路 多 行 人 到 此 盡 蹉 跎 “Khô mộc nham tiền sai lộ đa Hành nhân đáo thử tận tha đà” “Trước núi cây khô nhiều lối tẻ Hành nhân đến đó lắm người sai”. ● 他 後. Về sau, mai sau. Vô Môn Quan ghi: “巖 頭 至 僧 堂 前、拊 掌 大 笑 云、且 喜 得 老 漢(指 德 山 和 尚)會 末 後 句。他 後 天 下 人、不 奈 伊 何。 – Nham Đầu đến trước tăng đường vỗ tay cười to rằng: May thay ông già này (chỉ Hòa Thượng Đức Sơn) hội được câu rốt sau. Về sau người thiên hạ không làm gì nổi ông ta. “ ● 瑳 切. Trau dồi gọt giũa, bàn luận nghiên cứu. Ngâm trong CĐTĐL q. 30 ghi: “急 著 力 勤 咬 齧。無 常 到 來 救 不 徹。日 裏 語 暗 瑳 切。快 磨 古 錐 淨 挑 揭。 – Mau ra sức, gắng chịu đựng, vô thường đến rồi cứu không kịp. Lời nói trong ngày thầm nghiên cứu, dùi thép bén nhọn sạch chọn lựa. “ ● 他 時 後 日. Mai kia mốt nọ, ngày sau. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “我 將 謂 汝 他 時 後 日 向 孤 峰 頂 上 盤 結 草 庵、播 揚 大 教、猶 作 這 箇 語 話。 – Ta tưởng đâu ngươi ngày sau lên đỉnh núi vắng cất am cỏ ở xiển dương thiền giáo, dè đâu còn nói lời này!” ● 且 (k. ng. ). 1. Mà, mà lại, còn. Biểu thị ngữ khí chuyển chiết. Long Nha Tài Thiền Sư trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện q. 1 ghi: “語 言 雖 有 異、至 理 且 無 差。 – Lời nói tuy có khác, chí lý lại giống nhau”. 2. Hãy … đi! Biểu thị ngữ khí mệnh lệnh. Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “有 僧 持 鉢 家 常、俗 人 問:上 座 要 箇 什 麼?僧 云:簡 什 麼。俗 人 將 草 滿 鉢 盂 著、云:上 座 若 解 道 得、則 供 養、若 道 不 得、則 且 去。其 僧 無 對。 – Có vị tăng cầm bình bát đi khất thực, bị người thế tục hỏi: Thượng tọa cần cái gì? Tăng nói: Gì cũng được. Người thế tục liền đem cỏ bỏ đầy bát, nói: Nếu Thượng tọa nói được thì tôi cúng dường, nếu không nói được thì hãy đi đi! Vị tăng không nói được”. 3. Nên… đi! Biểu thị ngữ khí khuyên răn. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 且 隨 處 作 主。立 處 皆 眞。境 來 囘 換 不 得。縱 有 從 來 習 氣 五 無 間 業。自 爲 解 脱 大 海。 – Ông nên tùy chỗ mà làm chủ đi! Mọi chỗ đều chân, cảnh không lôi cuốn được. Giả sử có tập khí, năm nghiệp vô gián từ xưa đều biến thành biển lớn giải thoát”. 4. Cần phải. Biểu thị ngữ khí dặn dò. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “大 徳。且 要 平 常 莫 作 模 様。 – Đại đức! Cần phải bình thường chớ có kiểu cách”. 5. Thử hỏi. Biểu thị ngữ khí nghi vấn. Vô Môn Quan ghi: “且 道、如 何 是 祖 師 關? – Thử hỏi thế nào là Tổ sư quan?”. 6. Chớ nên. Biểu thị ngữ khí khuyên răn, cấm chỉ. Chương Thiệu Tu Thiền Sư trong CĐTĐL q. 24 ghi: “問 見 色 便 見 心。露 柱 是 色、如 何 是 心?師 曰:幸 然 未 會、且 莫 詐 明 頭。 – Hỏi: Thấy sắc liền thấy tâm, cột cái là sắc, cái gì là tâm? Sư nói: May mà ngươi chưa biết, chớ nên lừa người mắt sáng”. 7. Cứu cánh, rốt cuộc. TĐT q. 7 ghi: “雪 峰 和 尚 云:悟 入 是 阿 誰 分 上 事?亦 須 著 精 神 好!菩 提 達 摩 來 道:我 以 心 傳 心、不 立 文 字。且 作 麼 生 是 汝 諸 人 心? – Hòa Thượng Tuyết Phong nói: Ngộ nhập là việc bản phận của người nào cũng cần lưu ý đó! Bồ Đề Đạt Ma đến nói: Ta đem truyền tâm, chẳng lập văn tự. Rốt cuộc cái gì là tâm của các ông?” Trong các quyển Ngữ Lục, Tông môn Truyền Đăng Lục của Thiền Tông thường có thuật ngữ “Thả” mà cách dùng và ý nghĩa của nó đều không nhất định: ― Thả trụ: Tạm thời đình chỉ. ― Thả hỷ: May thay. ― Thả như: Lệ như, chẳng hạn như ― Thả thuyết: Nói về ― Thả trí: Tạm thời đặt để, tạm gác lại. ● 且 拙. Hiệu của thiền tăng Tịnh Nột đời Thanh. X. Tịnh Nột. ● 且 喜 沒 交 涉. Thả hỷ hoặc Hạnh hỷ: Thật tức cười. Một giao thiệp: Không dính dáng. Tắc 5, Bích Nham Lục (Vạn Tục 148, 134 thượng) ghi: “曹 溪 鐘 裏 絕 塵 埃。多 少 人 道。靜 心 便 是 鏡。且 喜 沒 交 涉。 – Câu “Trong vắt Tào Khê gương chẳng nhơ, nhiều người nói tâm lặng tức là gương. Thật tức cười không dính dáng!” Còn gọi: Thả đắc một giao thiệp. May thay không dính dáng, ý nói trên căn bản không phù hợp với thiền pháp. Là lời phê bình mà nhà thiền quen dùng. ● 且 取. Hãy… đi! Biểu thị ngữ khí mệnh lệnh. Vân Môn Quảng Lục, q. trung ghi: “乃 拈 拄 杖 云:且 向 者 裡 會 取。 – Sư liền giơ cây gậy lên, bảo: Hãy lãnh hội chỗ này đi! ● 且 置. Còn gọi: Thả chỉ, Thả tùng. Hãy gác lại. Đặt ở cuối phân câu trước trong câu phức, biểu thị trừ bỏ nội dung của một khoản nào đó không trở thành chủ đề của câu chính, phân câu sau (câu chủ) giống như câu nghi vấn. Tiết Đại Từ Hoàn Trung Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “(南 泉 和 尚)問:如 何 是 庵 中 主? 師 曰:蒼 天!蒼 天!泉 曰:蒼 天 且 置、如 何 是 庵 中 主? – (Hòa Thượng Nam Tuyền) hỏi: Thế nào là chủ trong am? Sư đáp: Trời ơi! Trời ơi! Tuyền bảo; Trời ơi hãy gác lại, thế nào là chủ trong am?” Tiết Pháp Xương ỷ Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “宗 門 事 且 止、這 箇 事 作 麼 生? – Việc trong Thiền Tông hãy gác lại, việc này là gì?” Tiết Pháp Hoa Toàn Cử Thiền Sư rong NĐHN q. 12 ghi: “那 箇 且 從、這 箇 作 麼 生? – Cái kia hãy gác lại, cái này là gì?” ● 拓 枝. Tên một điệu múa. Điệu múa này được trang trí bằng hai hoa sen lớn bằng giấy, hai cô gái đứng trong hoa sen; tời giờ múa hai hoa sen nở ra và 2 cô đứng múa trong ấy. Phần Tụng cổ trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 智 者 無 實 虛、迷 人 生 得 失 木 人 舞 拓 枝、石 女 吹 觱 篥 “Trí giả vô thật hư Mê nhân sinh đắc thất Mộc nhân vũ Thác chi Thạch nữ xuy Tất lật”. “Người trí không thật hư Kẻ mê sinh được mất Người gỗ múa Thác chi Gái đá thổi Tất lật”. ● 橐 子. Cái khay, cái mâm. Tiết Tùng Sơn Hòa Thượng trong NĐHN q. 3 ghi: “松 山 和 尚 同 龐 居 士 喫 茶。士 舉 橐 子 曰:人 人 盡 有 分、爲 甚 麼 道 不 得?。。。(龐 居 士)、乃 令 人 傳 語 霞 曰:何 不 會 取 未 舉 橐 子 時? – Hòa Thượng Tùng Sơn cùng Bàng Cư sĩ ngồi uống trà, Cư sĩ giơ cái khay lên hỏi: Người người đều có phần, vì sao nói chẳng được?… (Bàng cư sĩ) sai người đem câu hỏi này hỏi Hà (chỉ Hòa Thượng Đan Hà). Hà đáp: Sao chẳng lãnh hội khi chưa giơ cái khay lên?” ● 石 敢 當. Phiến đá được dựng ở cửa ngỏ, trên có khắc 3 chữ “Thạch cảm đang”, dùng để ếm trừ điều xui xẻo, theo tục lệ ngày xưa. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho tự tính. Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải ghi: “大 顛 打 首 座、聚 雪 埋 金。興 化 罰 維 那、揚 聲 止 響。惟 有 石 敢 當、年 整 歲 向 百 眾 人 前 出 一 頭、今 古 無 人 解 稱 賞。 – Đại Điên đánh Thủ tọa, gom tuyết để chôn vàng; Hưng Hóa phạt Duy Na, la lớn để lấp tiếng vang. Duy có Thạch cảm đang quanh năm suốt tháng ló đầu ra trước trăm ngàn chúng, xưa nay chẳng ai biết tán thưởng”. ● 石 巩 和 尚. Thiền tăng Huệ Tạng, sống vào đời Đường, ở núi Thạch Củng, người đời gọi là “Thạch Củng Hòa Thượng”. X. Huệ Tạng. ● 石 頭 希 迁. Thiền tăng Hy Thiên sống vào đời Đường, cất am trên gộp đá phía đông chùa Nam trên rặng Hành Sơn, nên người đời gọi là “Thạch Đầu Hòa Thượng”, “Thạch Đầu Hy Thiên”. X. Hy Thiên. ● 石 火. Chỉ ánh lửa do cọ đá phát ra. Dụ cho sự sinh diệt mau chóng. Vạn Thiện Đồng Quy Tập, q. hạ (Đại 48, 986 trung) ghi: “無 常 迅 速、念 念 遷 移。石 火 風 燈、逝 波 殘 照、露 華 電 影、不 足 爲 喻。 – Cơn vô thường mau chóng, mỗi niệm đổi dời, giống như lửa đá nháng, đèn trước gió, như nước chảy qua cầu, như ánh mặt trời lặn, hạt sương, ánh chớp. Tất cả những dụ đó hãy còn chưa đủ”. NĐHN q. 7 (Vạn Tục 138, 127 hạ) ghi: “此 事 如 擊 石 火、似 閃 電 光。 – Việc này như lửa đá nháng, ánh điện chớp”. Tắc 26, Bích Nham Lục (Đại 48, 167 thượng) ghi: 祖 域 交 馳 天 馬 駒 化 門 舒 卷 不 同 途 電 光 石 火 存 機 變 堪 笑 人 來 捋 虎 鬚 “Tổ vực giao trì thiên mã câu, Hóa môn thơ quyển bất đồng đồ Điện quang thạch hỏa tồn cơ biến Kham tiếu nhân lai loát hổ tu”. “Ngựa hay biểu diễn chốn thiền môn Tùy duyên tiếp hóa có muôn đường Nhanh như chớp nháng còn cơ biến, Nực cười cho kẻ vuốt râu hùm”. ● 石 廉 (1620-1698). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Tào Động, đời thứ 29, nối pháp Thiền Sư Giác Lãng. Sư họ Từ hiệu Đại Xán, Hán Ông, quê ở tỉnh Giang Tây Trung Quốc, là người truyền tông Tào Động vào miền Trung Việt Nam. Sư có tài, học vấn uyên bác, các thứ thiên văn địa dư, toán số, cho đến viết, vẽ đều rất tinh xảo, lại sở trường về thơ phú. Cuối đời Minh, nhà Mãn Thanh làm chủ Trung Quốc, sư không chịu ra làm quan, từ biệt mẹ già, cắt tóc đi tu, rồi vân du khắp nơi. Hòa Thượng Nguyên Thiều được lệnh chúa Nguyễn về Quảng Đông thỉnh các bậc cao tăng, nghe tiếng sư nên đến am Trường Thọ mời thỉnh. Sư khởi hành sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm ất Hợi, đến ngày 28 tháng giêng sư đến Thuận Hóa và ngày mùng một tháng hai ra mắt chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn mời sư ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường vời vào cung thưa hỏi đạo lý. Ngoài ra những thân hào nhân sĩ trong nước, hoặc trực tiếp hỏi đạo lý, hoặc gián tiếp đưa thơ hỏi đạo và văn chương khá nhiều. Sư ở lại Việt Nam hai năm rồi trở lại Trung Quốc. Tông Tào Động do sư truyền vào Việt Nam, về phái xuất gia không thấy nói đến người thừa kế, về phái tại gia thì thấy ghi chúa Nguyễn Phúc Chu tự nhận là đồ đệ nối dòng Tào Động thứ 30 (lời khắc trên chuông tại chùa Thiên Mụ). Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 石 門 文 字 禪. Gọi tắt: Văn Tự Thiền. Còn gọi: Quân Khê Tập. Sách, 30 quyển, do Huệ Hồng soạn vào đời Tống, Giác Từ biên, được xếp vào “Tứ Bộ Tùng San” quyển 108. Sách này do thu thập các loại: Thơ, Văn, Từ, Sớ, Ký, Minh của Huệ Hồng Giác Phạm khi ở chùa Thạch Môn Quân Khê Giang Tây mà thành. Đạt Quan viết tựa như sau: “Thiền như xuân, văn tự như hoa, xuân ở nơi hoa, toàn hoa là xuân; hoa ở nơi xuân, toàn xuân là hoa. Thế mà bảo Thiền và văn tự là hai sao? Nên Đức Sơn, Lâm Tế đánh hét xen nhau chưa từng phi văn tự; Thanh Lương, Thiên Thai sớ kinh tạo luận chưa từng chẳng phải Thiền”. Sách này là đem cái học của chẳng học, văn tự của chẳng lập văn tự mà phát huy thiền chỉ. Nội dung tràn trề thiền vị, rất đáng xem qua. ● 石 佛 寺. Còn gọi: Linh Thứu Thiền Viện. ở Dương Sơn, thị trấn Hạ Phương Kiều, cách thành phố Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc 20km về phía tây bắc. Khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-600) đời Tùy, thợ đá tại núi này lựa chọn đá để xây cất thành Thiệu Hưng, đã để lại khối đá đặc biệt trên vách dốc đứng. Trên khối đá cao vài chục trượng, chu vi hơn mười trượng tạc thành một tượng Phật Di Lặc cao hơn 4 trượng. Tương truyền khi khắc xong, trên không trung chim đại bàng bay đến, tăng nhân cho là điềm lành bèn tựa vào núi mà xây cất “Linh Thứu Thiền Viện” dùng điện vũ che chở Phật đá. Hiện vẫn còn vài gian phòng ốc. Trên vách núi nhiều danh nhân đề vịnh thơ, danh tướng đời Nam Tống Hàn Thế Trung viết hai chữ “Phi Dược” (bay vọt) rất là cứng cáp. Trong chùa đường nhỏ quanh co uốn lượn, cảnh tiên u nhã. Ngoài chùa hồ nước bao quanh, tiểu sơn la liệt. Xung quanh chùa ánh sáng mặt hồ và sắc núi soi chiếu nhau rực rỡ. Nhìn từ ngoài xa trông giống như một bồn cảnh thiên nhiên của cảnh quan lạ thường cho nên có lời ca ngợi “Thạch sát cánh kiêm thạch sơn ủng, Phật điện xảo trúc tự thần công”(Chùa đá lại được núi đá giúp, điện Phật xây khéo tợ thợ thần). ● 石 霜 楚 圓 禪 師 語 錄. Còn gọi: Từ Minh Thiền Sư Ngũ Hội Trụ Trì Ngữ Lục, Từ Minh Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Thạch Sương Sở Viên soạn vào đời Tống, Hoàng Long Huệ Nam trùng biên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 161. Nội dung biên tập những lời thị chúng, Thượng đường và Cơ duyên, Khám biện, Kệ tụng v. v.. của thiền sư Sở Viên lúc ở những nơi như: ― Chùa Quảng Lợi tại Viên Châu ― Chùa Sùng Thắng núi Thạch Sương Đàm Châu. ― Núi Đạo Ngô tại Đàm Châu. ― Chùa Phúc Nghiêm núi Nam Nhạc. Trong phần kệ tụng, ngoài phần tam quyết tam cú, tam huyền tam yếu của tông Lâm Tế ra, cũng có các bài tụng ngũ vị của tông Tào Động. Hơn nữa, trong “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” quyển 11 có trích lục “Sở Viên Ngữ Yếu” với tựa đề là “Từ Minh Thiền Sư Ngữ Lục”. ● 石 霜 山. Còn gọi: Sương Hoa Sơn. Núi thuộc huyện Lưu Dương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, nằm cách trung tâm huyện 46km về phía tây nam. Phía bắc của núi là động Dương Sơn. Trên núi có chùa Sùng Thắng, đời Đường có thiền sư Khánh Chư Phổ Hội ở trên núi đến 20 năm. Đời Tống có thiền sư Sở Viên cũng ở núi này hoằng dương tông Lâm Tế; về sau được an táng tại đây. Các vị như: Huệ Viên, Huệ Nam, Phương Hội cũng xiển dương tông phong nơi đây. Đầu niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) chùa bị nạn binh lửa, về sau được trùng tu, đổi tên là Thạch Sương Tự. ● 石 霜 寺. Nằm dưới núi Sương Hoa, làng Kim Cang, huyện Lưu Dương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Đại Trung (847-860) đời Đường Thiền Sư Đại Thiện sáng lập Sùng Thắng Viện ở nơi đây, khoảng niên hiệu Hàm Thông (860-874) Khánh Chư kế nhiệm trụ trì. Đời Tống, Huệ Viên, Huệ Nam, Phương Hội ở nơi này đại dương tông phong. Đầu niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) chùa bị chiến tranh phá hủy, sau đó trùng tu, đổi tên Thiền tự. Bên chùa sông núi tạo nên cảm giác hứng thú, kiến trúc dù qua bao cuộc bể dâu, nhưng vẫn cao lớn nguy nga, Đại Phật điện cao 90 thước Tàu, tượng Phật cao 70 thước Tàu. Trong chùa nguyên có Quan Thánh điện, Tổ đường, Trai đường, Thiền đường, Giới đường, Phương trượng, Chu trì, Ngọc trì lâu, Hoa các lâu, Tàng kinh điện, Văn Thù đường, Di hốt đường. Hiện chỉ còn Đại Phật điện đường, Trai đường, Giới đường, Phương trượng và không ít bia đá còn gìn giữ hoàn hảo. ● 石 室 行 者. Thiền tăng Thiện Đạo, sống vào đời Đường, sau khi tham yết Thạch Đầu Hy Thiên và đắc pháp, gặp nạn Võ Tông hủy diệt Phật pháp, sư làm Hành giả (cư sĩ) ở trong chỗ xay lúa giã gạo. Tuy sư giã gạo nơi liêu công quả song không quên cử dương Phật Pháp, nên trong thiền lâm gọi sư là “Thạch Thất Hành Giả” hoặc “Thạch Thất Đạo”. X. Thiện Đạo. ● 石 上 栽 花. Trồng hoa trên đá. Tỷ dụ thiền cơ kiên cố miên mật, không chút lơi lỏng, hoặc dụ cho ngộ tâm thanh tịnh không thể nhiễm ô. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “師 因 石 頭 垂 語 曰:言 語 動 用 亦 勿 交 涉。師 曰:無 言 語 動 亦 勿 交 涉。石 頭 曰:這 裏 針 扎 不 入。師 曰:這 如 石 上 栽 花。 – Sư nhân Thạch Đầu dạy rằng: Nói năng hành động cũng không can hệ. Sư nói: Không nói năng hành động cũng không can hệ. Thạch Đầu nói: Chỗ này kim đâm không thủng. Sư nói: Chỗ này như trồng hoa trên đá”. ● 石 雨 明 方 禪 師. Thiền tăng Minh Phương, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người đời gọi là “Thạch Vũ Minh Phương Thiền Sư”. X. Minh Phương. ● 石 雨 禪 師 法 檀. Còn gọi: Thạch Vũ Pháp Đàn. Sách, 20 quyển, do Thạch Vũ Minh Phương soạn vào đời Minh, Viễn Môn Tịnh Trụ biên, được ấn hành vào niên hiệu Thuận Trị thứ 6 (1649) đời Thanh. Nội dung bao gồm Ngữ Lục của Minh Phương từ lúc ban đầu ở chùa Phật Nhật phủ Hàng Châu trải qua 13 ngôi đạo tràng ở 6 phủ, tính chung có 15 hội, và các phần: Phổ thuyết, Thị chúng, Cơ duyên, Tụng cổ, Tán, Pháp ngữ, Thi kệ, Tự, Ký, Minh, Bạt, Sớ, Thư vấn, Phật sự, Tế văn, Tạp trước, Hành trạng v. v… ● 太 阿 劍. Một loại gươm quý, dụ cho cơ phong nhà Thiền. Lai lịch của thanh gươm này như sau: Lôi Hoán làm chức Huyện Lệnh ở Phong thành, huyện Dự Chương, thường thấy luồng khí màu tía ở khoảng giữa sao Ngưu và sao Đẩu. Ông cho đó là khí của thanh kiếm quý bốc lên. Sau đó, ông đào nền nhà ngục quả nhiên gặp một chiếc hòm đá đựng 2 thanh kiếm: một có khắc tên Long Tuyền, một có khắc tên Thái A. Phần lời bình của tắc 1 trong Bích Nham Lục (Vạn Tục 117, 129 thượng) ghi: “且 據 雪 竇 頌 此 公 案。一 似 善 舞 太 阿 劍 相 似。向 虛 空 中 盤 礡。自 然 不 犯 鋒 鋩。 – Cứ theo lời tụng công án này của Tuyết Đậu giống như người giỏi múa kiếm Thái A, huơ trong hư không thênh thang mà không chạm đến lưỡi bén”. ● 太 平 興 國 寺. Nằm ở phía nam huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Nguyên tên là “Thê ẩn Tự”. Chùa ở dưới ngọn Tập Vân, Đại Ngưỡng Sơn, do Thiền Sư nổi tiếng Huệ Tịch đời mạt Đường sáng lập, lúc đó gọi là “Ngưỡng Sơn Thiền Viện”. Đời Ngũ Đại môn đình càng thịnh, bèn chia ra làm 5 viện. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 (977) đời Tống xuống chiếu đổi thành Thái Bình Hưng Quốc Tự, đương nhiên kẻ sĩ vẫn gọi là “Ngưỡng Sơn Tự”. ● 太 孤 危 生. Cao chót vót. Thái: rất, cô nguy: ngọn núi hiểm trở, sinh: tiếp vĩ ngữ. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho cơ phong lanh lợi luôn luôn hướng thượng, không phải chỗ nói năng suy nghĩ đến được. Phần Thùy thị của tắc 3 trong Bích Nham Lục (Đại 48, 142 hạ) ghi: “蓋 天 蓋 地 又 摸 索 不 著。恁 麼 也 得。不 恁 麼 也 得 太 廉 纖 生。恁 麼 也 不 得。不 恁 麼 也 不 得。太 孤 危 生。不 涉 二 塗。如 何 即 是。 – Nó bao trùm trời đất song dò tìm không được. Làm thế ấy cũng đúng, chẳng làm thế ấy cũng đúng, thế thì qua rườm rà! Làm thế ấy cũng không đúng, chẳng làm thế ấy cũng không đúng, thế thì quá đơn độc! Không theo hai con đường này thì làm sao mới phải?”. ● 太 毓 (747-826). Thiền tăng đời Đường, họ Phạm, người xứ Kim Lăng (nay là Nam Kinh) Trung Quốc. Xuất gia từ thuở bé, sư thờ Thiền Sư Huệ Trung ở núi Ngưu Đầu làm thầy, dũng mãnh tinh tấn, cầu huyền chỉ của Ngài. Sư đến chùa An Quốc ở Ung Kinh, thụ giới cụ túc. Tham yết Mã Tổ Đạo Nhất và đắc pháp. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 13 (818), sư dừng chân ở núi Phù Dung, Nghĩa Hưng (nay là huyện Nghi Hưng tỉnh Giang Tô), người học bốn phương hướng về. Từ đấy ở Giang Nam là nơi có nhiều người ngộ thiền lý. Thụy hiệu: Đại Bảo Thiền Sư. ● 菜 頭. Vị tăng phụ trách việc cung cấp rau cải trong thiền viện. “Thiền môn quy thức” trong CĐTĐL q. 6 ghi: “主 飯 者 目 爲 飯 頭。主 菜 者 目 爲 菜 頭。他 皆 倣 此。 – Vị trông coi việc cơm nước được xem là Phạn đầu. Vị trông coi về rau cải được xem là Thái đầu. Chức vụ của họ hơi giống nhau. “ ● 太 殺. Rất ghê gớm. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “師 一 日 以 手 入 木 師 子 口、叫 曰:咬 殺 我 也、相 救!歸 宗 柔 代 云:和 尚 出 手 太 殺。 – Một hôm, sư đưa tay vào trong miệng sư tử bằng cây và kêu to: Cứu ta với, nó cắn chết ta rồi! Ngài Quy Tông Nhu đáp thay rằng: Bản lĩnh của Hòa Thượng rất ghê gớm!” ● 泰 欽 (910-974). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Quý người xứ Ngụy Phủ (nay là huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư ở viện Song Lâm, Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây) rồi dời đến viện Hộ Quốc ở Thượng Lam. Sư nhận lời mời của Nam Đường Hậu Chủ, trụ trì Đại đạo tràng Thanh Lương ở Kim Lăng, nối tiếp pháp hệ tông Pháp Nhãn. Sư biện tài vô ngại, thiền tăng trong nước hướng về đều cho rằng sư là bậc Thầy thông sáng. Hiệu: Pháp Đăng Thiền Sư. ● 寀 寮. Từ chỉ chung các vị quan chức, quan lại. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “一 要 今 上 皇 帝 太 皇 太 后 聖 躬 萬 歲。二 要 合 朝 卿 相 文 武 百 官 州 縣 寀 寮 常 居 祿 位。 – Một là muốn cho Đức Kim thượng Hoàng đế, Thái hoàng, Thái hậu sống lâu muôn tuổi, hai là muốn cho khanh tướng bá quan văn võ toàn triều và các quan lại châu huyện thường được tại chức”. ● 太 粗 生. Thô lỗ quá! Thái là rất, thô là bạo, sinh là tiếp vĩ ngữ. Trong Thiền Tông thường mượn từ này để quở trách người tu hành chưa viên mãn mà có cử chỉ không thận trọng. Lâm Tế Ngữ Lục (Đại 47, 503) trung) ghi: “師 一 日 同 普 化 赴 施 主 家 齋 次。師 問:毛 呑 巨 海 芥 納 須 彌。爲 是 神 通 妙 用 本 體 如 然。普 化 踏 倒 飯 床。師 云:太 麁 生。 – Một hôm, sư với Phổ Hóa đang thọ trai nhà thí chủ, sư hỏi: Sợi lông nuốt biển lớn, hạt cải chứa Tu Di, đây là thần thông diệu dụng hay bản thể như nhiên? Phổ Hóa đạp đổ bàn cơm. Sư nói: Thô lỗ quá!” ● 參. 1. Người học ra mắt vị Thầy để hỏi đạo. Tông Môn Võ Khố ghi: “自 慶 藏 主 者、蜀 人、叢 林 知 名、遍 參 眞 如、晦 堂、普 覺 諸 大 老。 – Tạng chủ Tự Khánh là người nước Thục, các chùa đều biết tiếng, sư đã đến ra mắt hỏi đạo các vị thiền sư lớn như: Chân Như, Hối Đường, Phổ Giác”. ● 2. Tìm tòi, tra cứu, nghi tình. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “若 參 得 透 見 得 徹。自 然 如 醍 醐 上 味 相 似。 – Nếu đã tra cứu thấu suốt, đã thấy rõ ràng thì tự nhiên giống như uống vị đề hồ ngon nhất”. Trong nhà thiền chia ra nhiều loại: ― Tảo tham = Triêu tham: Hỏi đạo vào lúc sáng sớm. ― Tọa tham: Hỏi đạo trước giờ tọa thiền buổi chiều. ― Tiểu tham: Nhóm chúng để hỏi đáp qua lại mà không có định kỳ. ― Ngũ tham: Cách 5 ngày thượng đường 1 lần. ― Quảng tham: Đại chúng đồng tham vấn. ● 參 榜. Còn gọi: Tham Trạng, Môn Trạng. Tấm danh thiếp sẽ được đưa ra khi đến yết kiến một vị thiền sư. Kích thước của tham bảng là: 1,8 x 2,1dm, tên họ đề phía trên, khoảng giữa chừa trống, lấy chỉ cột nơi chính giữa của mép trên, cuốn vào từ bên trái. ● 參 飽. Còn gọi: Bão Tham. Ngộ được toàn phần. Tham bão nhân: Người tham học Phật pháp đạt đến chỗ triệt ngộ như người đói được ăn no. Thung Dung Lục q. 1 (Đại 48, 235 thượng) ghi: “不 是 飽 參 人 不 知。參 飽 明 知 無 所 求。 – Chẳng phải người tham thiền triệt ngộ không biết gì. Khi đã ngộ được toàn phần thì họ biết rõ không có chỗ nào đáng mong cầu”. ● 參 究. Suy xét, tìm tòi tra cứu thiền pháp. Tiết Thế Kỳ Thủ Tọa trong NĐHN q. 20 ghi: “世 奇 首 座 者、成 都 人 也。遍 依 師 席、晚 造 龍 門。。。未 幾 有 省、乃 占 偈 曰:夢 中 聞 版 響、覺 後 蝦 蟆 啼。蝦 蟆 與 版 響、山 嶽 一 時 齊。由 是 益 加 參 究、洞 臻 玄 奧。 – Thủ tọa Thế Kỳ là người xứ Thành Đô, đi tham học khắp các thiền hội, cuối cùng đến Long Môn… Chưa bao lâu sư tỉnh ngộ, liền khẩu chiếm một bài kệ: Trong mơ: nghe tiếng bảng Tỉnh ra: ểnh ương kêu ểnh ương cùng tiếng bảng Non núi vốn như nhau. Từ đó, sư càng thêm tham cứu, thấu đến chỗ huyền áo”. ● 參 頭. Người đứng đầu các vị tăng hành cước tham thiền. Phần lớn chức vụ này do các vị tăng hơi lớn tuổi đảm nhiệm. Tông Môn Võ Khố ghi: “慈 明、琅 琊、大 愚 等 數 人 辭 汾 陽、相 讓 不 肯 爲 參 頭。 – Một vài người như: Từ Minh, Lang Da, Đại Ngu từ chối lời mời của Phần Dương, nhường nhau chức vụ Tham đầu”. ― Phó tham: Người phụ tá Tham đầu để hướng dẫn các vị tăng mới đến. ― Vọng tham: Người dự bị để làm Phó tham. ● 參 徒. Các thiền tăng. Trung Phong Hòa Thượng Hành Lục trong Trung Phong Quảng Lục ghi: “高 峰 書 〔眞 贊〕 付 師 曰:我 相 不 思 議、佛 祖 莫 能 視、獨 許 不 肖 兒、見 得 半 邊 鼻。且 俾 參 徒 謁 師 請 益、眾 由 此 知 歸。 – Bài chân tán trong bức thư của Cao Phong gởi cho sư có nói: ›Không thể tưởng tượng về tướng của ta, Phật và Tổ cũng không nhìn thấy được. Chỉ cho phép một đứa chẳng ra gì, thấy được một nửa bên mũi. ‹ Rồi bảo các thiền tăng đến ra mắt sư để thỉnh ích. Đại chúng nhờ thế được kiến tính”. ● 參 同 契. Tụng, 1 thiên gồm hơn 200 chữ, do Thạch Đầu Hy Thiên trứ tác. Trong thiên thi ca này, Thạch Đầu ca ngợi trạng thái ngộ vượt lên tất cả các tính nhị nguyên. Tham Đồng Khế thường được đọc tụng trong các thiền viện của tông Tào Động. ● 參 堂. Vào tăng đường ra mắt Thủ tọa, đại chúng để nhập chúng. Vị tăng hành cước chính thức được thiền viện tiếp nạp gọi là ứng tham đường. Tông Môn Võ Khố ghi: “圓 悟 亟 歸 祖 山、演 和 尚 喜 曰:汝 復 來 耶!即 日 參 堂、入 侍 者 寮。 – Viên Ngộ nhanh chóng trở về núi Ngũ Tổ, Hòa Thượng Diễn thấy thế rất vui lòng, nói: Ngươi trở lại đấy ư? Ngay hôm ấy, Tổ cho sư vào Tăng đường yết kiến Thủ tọa và đại chúng, rồi sư vào ở trong liêu của thị giả”. ● 參 暇. Còn gọi: Tham Giả. Thiền tăng xin phép ra khỏi thiền viện trong khoảng thời gian 15 ngày. Oánh Sơn Thanh Qui, q. hạ (Đại 82, 447 hạ) ghi: “不 請 暇 而 起 單 人、不 可 免 再 參 暇。 – Người nào không xin phép mà cứ đi bừa thì chẳng được giải quyết tham hạ nữa”. ● 參 後. Còn gọi: Tham Thối. Đối lại: Tham Tiền. Thời gian sau lúc tham vấn, niệm tụng buổi chiều. Điều Tọa Thiền trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 5 (Đại 48, 1142 hạ) ghi: “參 後 坐 禪 如 常。 – Sau thời tham vấn buổi chiều, vẫn tọa thiền như bình thường”. Chân Tịch Ngữ Lục trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q. 43 (Vạn Tục 118, 365 thượng) ghi: “今 日 莊 主 設 饡 飯、俵 施 錢、參 退 僧 堂 內、普 請 喫 茶 去。 – Hôm nay Trang chủ thiết đãi cơm, bố thí tiền. Sau thời tham vấn buổi chiều trong tăng đường, xin mời mọi người uống trà”. ● 參 學. 1. Gọi đủ: Tham Thiền Học Đạo. Sau khi thiền giả đi thưa hỏi về phong cách, quy củ của các Tông phái trong thiền viện, vị này liền nương theo một vị Minh sư để học tập. Trong bài thơ Hoàn Trấn Thành tiễn Thượng nhân Giản Tuyền đi du phương có câu: “直 到 無 生 參 學 畢、逢 人 遮 莫 說 輪 囘。 – Đến được chỗ vô sinh thì việc tham học mới xong, gặp người ngăn trở chớ nói chuyện luân hồi”. ● 2. Chân thật tham cứu chính pháp do chính Phật, Tổ truyền lại. Trong bài thơ của tăng Phạm Kỳ tiễn Mật Tạng chủ ở Thiên Ninh có câu: 曹 溪 只 是 箇 樵 夫 佛 法 何 曾 解 參 學 “Tào Khê chỉ thị cá tiều phu Phật pháp hà tằng giải tham học”. “Tào Khê (Huệ Năng) chỉ là gã tiều phu Đâu từng biết tham học Phật pháp”. ● 參 學 眼. Con mắt trí huệ thấu rõ mọi vật, chỉ người tham thiền mới có. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 涅 槃 堂 裏 死 功 夫 風 袞 葫 蘆 水 上 浮 恁 麼 點 開 參 學 眼 釋 迦 彌 勒 是 他 奴 “Niết Bàn đường lý tử công phu Phong cổn hồ lô thủy thượng phù Nhẫm ma điểm khai tham học nhãn Thích Ca Di Lặc thị tha nô”. “Nơi nhà Niết Bàn dụng công phu Trên nước gió đẩy trái bầu trôi Điểm khai thế ấy mở mắt huệ Thích Ca Di Lặc: kẻ tôi đòi”. ● 參 玄. Còn gọi: Tham Thiền. Tìm tòi tra cứu huyền nghĩa. Phần Khai thị Duy Na Như trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 3 ghi: “近 時 參 玄 之 士、雖 於 逆 順 門 頭 具 得 只 眼、又 或 被 一 種 虛 名 聲、閑 學 解 當 頭 瞞 却。 – Gần đây, các kẻ sĩ tham thiền dù có được con mắt trí huệ đối với việc thuận nghịch nhưng vẫn bị tiếng tăm rỗng, học giải suông làm lầm”. ● 參 扣. Còn gọi: Tham vấn. Ra mắt Thiền Sư và thưa hỏi thiền pháp. Tông Môn Võ Khố ghi: “葉 縣 省 和 尚 嚴 冷 枯 淡、衲 子 敬 畏 之。浮 山 遠、天 衣 懷 在 眾 時、特 往 參 扣。 – Hòa Thượng Diệp Huyện Tỉnh nghiêm nghị, lãnh đạm, nên thiền tăng rất kính sợ sư. Phù Sơn Viễn và Thiên Y Hoài lúc còn ở chúng thường đến tham vấn sư”. ● 參 請. Còn gọi: Thỉnh Ích, Tham Thiền Biện Đạo. Người học đạo thiền đi đến chỗ của vị Thiền Sư kiến tính để thưa hỏi và thọ giáo về đại ý Phật pháp. Phần Khám Biện trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 504 trung) ghi: “徑 山 有 五 百 衆。少 人 參 請。 – Kính Sơn có 500 chúng, ít có người tham thỉnh”. ● 參 禪. 1. Chỉ cho việc tọa thiền tu hành dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư. Tắc 1, Vô Môn Quan (Đại 48, 292 hạ) ghi: “參 禪 須 透 祖 師 關、妙 悟 要 窮 心 路 絕。 – Tham thiền phải thấu qua cửa ải Tổ sư. Diệu ngộ cần bặt dứt đường tâm ý”. ● 2. Tham cứu chân lý nương vào sức Thiền định. Tam Muội Vương Tam Muội trong Chính Pháp Nhãn Tạng (Đại 82, 243 hạ) ghi: “參 禪 者、身 心 脫 落 也、只 管 打 坐 始 得、不 要 燒 香、禮 拜、念 佛、修 懺、看 經。 – Tham thiền cốt để thân tâm rỗng rang, chuyên tâm nhất ý ngồi thiền chẳng quản đến việc gì khác mới được. Cũng không cần thắp nhang, lễ bái, niệm Phật, sám hối, xem kinh”. ● 參 禪 到 家. Tham thiền đến nhà, chỉ cho đã lãnh ngộ thiền pháp, đã nhận rõ tự tâm tự tính. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “參 禪 要 悟 自 心、念 佛 亦 要 悟 自 心。入 門 雖 異、到 家 是 同。但 參 禪 到 家 者、無 淨 土 之 緣、似 爲 稍 異。然 心 光 發 明、已 與 諸 佛 氣 分 交 接、何 必 淨 土 乎? – Tham thiền cần ngộ tự tâm, niệm Phật cũng cần ngộ tự tâm, vào cửa tuy khác mà đến nhà thì đồng. Nhưng người tham thiền đến nhà không cầu sinh về cõi Tịnh Độ, tựa như có khác một ít. Song tâm quang phát sáng đã cùng với cõi nước chư Phật giao tiếp thì cần gì phải sinh về Tịnh Độ?” ● 參 前. Chỉ khoảng thời gian trước giờ tham thiền tụng niệm buổi chiều, hoặc khoảng thời gian trước lúc phỏng tham. Điều Đạt Ma Kị trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 2 (Đại 48, 117 hạ) ghi: “來 日 半 齋 各 具 威 儀、散 忌 諷 經、參 前 鳴 僧 堂 鐘。 – Ngày mai có thiết trai, mỗi người phải đầy đủ oai nghi, buổi giỗ phải tụng kinh, khoảng thời gian trước giờ tham thiền tụng niệm buổi chiều phải đánh chuông ở Tăng đường”. ● 參 辭 謝 賀. Lời cảm ơn hoặc chúc mừng của vị Giám viện đối với tăng quan vừa mãn nhiệm hoặc các tăng quan mới nhậm chức. Thiền Uyển Thanh Quy q. 3 (Vạn Tục 111, 445 hạ): “監 院 一 職、總 領 院 門 諸 事、如 官 中 應 副 及 參 辭 謝 賀。 – Một chức Giám viện nhận lãnh chung mọi việc trong viện như: ứng phó việc quan và đáp lời cảm ơn hoặc chúc mừng”. ● 參 問. Ra mắt Thiền Sư và thưa hỏi thiền pháp. Tông Môn Võ Khố ghi: “顒 華 嚴 圓 照 本 禪 師 之 子、因 喫 攧 有 省。富 鄭 公 堂 參 問 之。 – Học trò của Thiền Sư Viên Chiếu Bản là Hoa Nghiêm Ngung do bị té mà có tỉnh. Phú Trịnh Công thường tham vấn Ngung”. ● 探 竿 影 草. Mồi câu, dề cỏ. Còn gọi: Thám thảo. Cây trúc dò dẫm, bóng cỏ. Bậc Thầy kiến tính dò xét người học bằng cách sử dụng tiếng hét loại này để thử nghiệm trình độ của người học. Đây là 1 trong 4 loại hét. Thám can ảnh thảo, nghĩa đen có 2: 1. Thám can: Cây sào một đầu có cột chùm lông chim rồi nhúng vào nước để dụ bầy cá tụ lại rồi dùng vợt bắt chúng. ảnh thảo: Lấy cỏ ngãi bỏ vào ao nước, đợi bầy cá chui vào đó rồi dùng lưới bắt chúng. 2. Thám can: Chỉ cho cây trúc mà kẻ trộm dùng để huơ qua huơ lại ở cửa sổ hoặc trên đầu tường… để dò xét động tĩnh trong nhà. ảnh thảo: Chiếc áo tơi của kẻ trộm mặc để ẩn mình. Lâm Tế Lục (Đại 47, 504 thượng) ghi: “師 問 僧:有 時 一 喝 如 金 剛 王 寶 劍。有 時 一 喝 如 踞 地 金 毛 師 子。有 時 一 喝 如 探 竿 影 草。有 時 一 喝 不 作 一 喝 用。汝 作 麼 生 會? – Sư hỏi tăng: Có khi một tiếng hét như kiếm báu Kim Cang Vương; có khi một tiếng hét như sư tử lông vàng sắp chụp người, có khi một tiếng hét như cây trúc dò dẫm, bóng cỏ; có khi một tiếng hét chẳng cho là tác dụng của một tiếng hét; các ngươi làm sao lãnh hội?” Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 探 頭. Sự khám biện, dò xét của thiền sư. Lâm Tế Lục (Đại 47, 496 hạ) ghi: “上 堂。有 僧 出 禮 拜。師 便 喝。僧 云:老 和 尚 莫 探 頭 好。 – Sư thượng đường, có vị tăng bước ra lễ bái, sư liền hét. Tăng nói: Lão Hòa Thượng chớ có dò xét nhé!” ● 炭 頭. Vị tăng trông coi than củi trong ba tháng lạnh tại thiền viện. Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 4 (Đại 48, 1233 thượng) ghi: “預 備 柴 炭、以 禦 寒 事。或 化 施 主、或 出 公 界、須 令 足 用。 – Thán đầu chuẩn bị than củi để chống lạnh, hoặc bảo thí chủ cúng, hoặc xuất của thường trụ, cần sắm cho đủ dùng”. ● 湯 用 彤 (1893-1946). Học giả Phật giáo hiện đại, tự Tích Dư, người Hoàng Mai, Hồ Bắc, Trung Quốc. Năm 1917, ông tốt nghiệp tại Thanh Hoa học đường. Năm sau sang Hoa Kỳ học tập Phạn văn, Pali văn tại Đại học Harvard. Năm 1922 sau khi về nước, ông lần lượt nhận chức Giáo sư Đại học Đông Nam ở Nam Kinh, Đại học Nam Khai, Đại học Bắc Kinh, Tây Nam Liên Đại. Sau giải phóng (1949), ông làm Hiệu phó trường Đại học Bắc Kinh. Từ tuổi 20, ông đã nghiên cứu Phật giáo sử Trung Quốc, đồng thời nghiên cứu Triết học sử ấn Độ để đối chiếu vối sự nghiên cứu Phật giáo sử Trung Quốc. Nhờ nắm được tài liệu đặc sắc và phong phú nên ông đã kết hợp được phương pháp nghiên cứu theo truyền thống Trung Quốc với phương pháp nghiên cứu tiên tiến cận đại Tây phương. Tác phẩm chủ yếu: Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều Phật Giáo Sử, Tùy Đường Phật Giáo Sử Cảo. ● 清 音 閣. Nằm dưới ngọn Ngưu Tâm, núi Nga My, tỉnh Tứ xuyên, cách chùa Báo Quốc chừng 15km. Đời Đường gòi là “Ngưu Tâm Tự”. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 1 (1368) đời Minh Thiền Sư Quảng Tế sau khi tu sửa lại, đổi tên là “Thanh Âm Các”. Hai dòng Bạch Long Giang và Hắc Long Giang tập họp dưới Thanh Âm Các, chỗ hiệp lưu có một hòn đá hình dáng giống như trái tim bò, gọi là “Ngưu Tâm Thạch”. Cách Ngưu Tâm Thạch không xa có hai chiếc cầu đá có vòm tròn bắc qua hai dòng Hắc, Bạch gọi là “Song Phi Kiều”. Sau khi nước chảy qua cầu va vào Ngưu Tâm Thạch làm nước bắn tung tóe óng ánh như ngọc rất là đẹp mắt. “Song Kiều Thanh Âm” là một trong mười cảnh đẹp của núi Nga My. ● 清 稟 (895-976). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lý, người Tuyền Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ thiền viện Quang Mục theo chiếu chỉ của Nam Đường Trung Chủ. Sau khi vào nội cung ở Trừng Tâm Đường soạn sách “Chư Phương Ngữ Yếu” sư được Hậu Chủ sắc trụ trì thiền viện Phổ Lợi ở Động Sơn (ở Nghi Phong, Giang Tây). ● 清 辯 (?-686). Thiền tăng thời Bắc thuộc, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 4. Sư họ Đỗ quê ở Cổ Giao (Giao Chỉ) (nay là miền Bắc Việt Nam). Năm 12 tuổi sư theo ngài Pháp Đăng ở chùa Phổ Quang tu học. Khi ngài Pháp Đăng sắp thị tịch, sư hỏi: ― Sau khi Hòa Thượng đi, con nương tựa vào đâu? Pháp Đăng bảo: ― Con chỉ Sùng Nghiệp mà thôi. Sư mờ mịt không hiểu. Pháp Đăng tịch rồi, sư chuyên trì kinh Kim Cang lấy đó làm sự nghiệp. Một hôm nhờ thiền khách chỉ điểm sư chợt hiểu được lới của ngài Pháp Đăng là khuyên sư tham học nơi Thiền Sư Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp. Sư liền khăn gói đến đấy và trong cơ ngữ khai thị của Huệ Nghiêm, sư bỗng tỉnh ngộ. Sư ở lại đây một thời gian. Sau, sư đến trụ trì chùa Kiến Dương ở làng Hoa Lâm phủ Thiên Đức. Hóa duyên đã mãn, sư thị tịch vào năm Bính Tuất nhằm niên hiệu Thùy Cung thứ 2 đời Đường (686). Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 青 州 百 問. Sách, 1 quyển. Vào khoảng niên hiệu Tuyên Hòa (1119-1125) đời Tống, Hòa Thượng Nhất Biện ở chùa Phổ Chiếu Thanh Châu lúc trụ chùa Đại Vạn Phật, tập họp chư tăng mười phương nêu ra cương tông đặt 100 câu để hỏi đại chúng. Trong chúng có sư Từ Vân Giác Toại của chùa Thập Thân trả lời được tất cả. Sau đó, Lâm Tuyền Tùng Luân ở dưới mỗi câu hỏi đáp có phụ 1 bài tụng và tập thành sách này, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 119, trang 345. Sách này cùng một thể loại với Thung Dung Lục, đều là tập sách bình xướng công án, tuyên bày tông phong Tào Động. Đời sau thường đem sách này cùng với “Thông Huyền Bách Vấn” của Thông Huyền Viên Thông (Đệ tử của Nhất Biện) hợp thành “Thông Huyền Thanh Châu Nhị Bách Vấn” và ấn hành để phổ biến. ● 清 眾. Tăng chúng. Chương “Thiền Môn Quy Thức” trong CĐTĐL q. 6 ghi: “或 有 假 號 竊 形 混 于 清 眾。并 別 致 喧 撓 之 事。即 堂 維 那 檢 舉 抽 下 本 位 掛 塔。擯 令 出 院 者。貴 安 清 眾 也。 – Hoặc có kẻ trộm hình giả hiệu trà trộn vào thanh chúng, còn gây ra ồn ào náo loạn, liền bị Duy Na tố giác, không cho tạm trú, đuổi ra khỏi thiền viện quiý ở chỗ thanh chúng được an ổn”. ● 青 磚 塔. Là tháp Trừng Linh, chùa Lâm Tế, huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, do tháp có màu gạch xanh lam nên còn gọi “Thanh Chuyên Tháp”. X. “Lâm Tế Tự Trừng Linh Tháp”. ● 清 拙. Hiệu của Thiền tăng Chính Trừng sống vào đời Nguyên. X. Chính Trừng. ● 清 拙 和 尚 禪 居 集. Gọi tắt: Thiền Cư Tập. Sách, 2 quyển, do Thanh Chuyết Chính Trừng soạn vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên, Vĩnh Ki biên. Thiền Cư là tên cái am tại chùa Kiến Nhân Nhật Bản mà sư Chính Trừng ẩn tu ở đấy. Sách này lấy phần soạn trước khi sang Nhật làm thiên trước, phần sưu tập sau khi sang Nhật làm thiên sau. Nội dung gồm các thể lẫn lộn: Phật Tổ Tán, Tự Tán, Tiểu Phật sự, Đề bạt, Minh, Ký, Tự, Tự thuyết, Sớ, Tế văn v. v… ● 清 珙 (1272-1352). Thiền tăng đời Nam Tống, họ Ôn, hiệu Thạch ốc, người xứ Ngu Sơn (Thường Thục, Giang Tô) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Cập Am Tín, đời thứ 23 hệ Nam Nhạc. Sư kết am tranh ở núi Hà Vụ thuộc Hồ Châu, Chiết Giang. Có kệ sơn cư lưu truyền lại đời, về thơ thì có “Nguyên Thi Tuyển”. ● 清 昱 (?-975). Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Quốc sư Đức Thiều ở núi Thiên Thai, thuộc tông Pháp Nhãn. Ngô Việt Trung Hiến Vương triệu sư vào cung hỏi đạo, cho dựng chùa Phụng Tiên ở Hàng Châu rồi thỉnh sư ở đó. Vua ban hiệu “Viên Thông Diệu Giác Thiền Sư”. Có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Lên tiếng chỉ dạy đại chúng. ● 清 欲 (1288-1363). Thiền tăng đời Nguyên, họ Chu, tự Liễu Am, hiệu Nam Đường, người xứ Lâm Hải, Thai Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Lúc 9 tuổi, sư thọ tang cha. Đến 16 tuổi sư theo Hổ Nham Tịnh Phục xuất gia, dự thi kinh điển được độ làm tăng. Sư nghe lời khuyên của Tri tạng Tùng Hi Bạch Minh, đến chùa Khai Nguyên ở Tô Châu yết kiến Cổ Lâm Thanh Mậu, nhiều lầm tham vấn, nghi tình tan vỡ, sư liền khế ngộ và nối pháp ngài. Niên hiệu Hoàng Khánh thứ 1 (1312), Thanh Mậu lại ra trụ trì chùa Khai Nguyên, Thanh Dục theo làm thị giả cho Ngài. Sau đó sư trở về Kính Sơn, nhậm chức Thủ tọa trong pháp hội của ngài Hư Cốc Hy Lăng. Khi Thanh Mậu trụ trì chùa Bảo Ninh, sư làm Đệ nhất tọa. Sau khi thầy tịch, sư lui về ẩn ở chùa Khai Phúc. Năm 1333, sư dời đến chùa Bản Giác tại Gia Hưng (nay thuộc Chiết Giang) ở được 10 năm. Người thời ấy tôn sư làm Đông am Đại pháp tràng (ngọn cờ pháp lớn ở miền đông nam), giới trí thức quan lại hỏi đạo nơi sư rất nhiều. Vua ban hiệu “Từ Vân Phổ Tế Thiền Sư” và y Kim lan. Năm 1345, sư ở chùa Linh Nham tại Ngô Trung. Về già, sư lui về ở ẩn nơi viện Từ Vân. Tác phẩm: Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư 9 quyển. ● 清 談. Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc tông Tào Động, đời thứ 42, nối pháp Thiền Sư Đạo Nguyên hiệu Minh Chính, là Trụ trì chùa Bích Động ở làng Đam Khê, phủ An Khánh, tỉnh Ninh Bình, miền Bắc Việt Nam. Sư xuất gia năm 1807, thụ giới cụ túc năm 1810. Sư là đệ tử Thiền Sư Đạo Nguyên, lúc bấy giờ ngài đang trụ trì thiền viện Nguyệt Quang, một Tổ đình của phái Chân Nguyên. Một hôm sư hỏi Thiền Sư Đạo Nguyên: ― Tâm không phải ở trong thân, cũng không phải ở ngoài thân, cũng không phải ở chặng giữa, vậy rốt cuộc tâm ở chỗ nào? Đạo Nguyên cười và xoa đầu sư rồi nói kệ: “Tùy thời ứng dụng Ngộ vật kiến cơ Tính bản như như Hà quan nội ngoại”. “Theo thời ứng dụng Gặp vật thấy cơ Tính vốn như như Nào ngại trong ngoài”. Đến năm 1819, sư sáng tác sách Pháp Hoa Đề Cương tại viện Liêm Khê. Năm 1843, sư sáng tác sách Tâm Kinh Trực Giải. Sư cũng thuộc về phái Trúc Lâm. Không biết sư tịch ở đâu và vào lúc nào. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 清 簡. Thiền tăng đời Tống, họ Trương, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Quy Tông Nghĩa Nhu, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Thiên Đồng ở Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang). Do tính tình sư giản dị, trong sạch, nên người đời gọi sư là “Giản Chiết Khách”. Có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Đạt Ma chẳng thể sang Trung Hoa lần nữa. Về già, sư ở chùa Tuyết Đậu. ● 清 海. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư thờ Thiền Sư Chiêu Khánh Đạo Khuông làm thầy, học đạo và đắc pháp nơi Ngài. Sư ở viện Thái Bình tại Sâm Châu (nay thuộc Hồ Nam). ● 青 恒 (1785-1855). Thiền tăng đời Thanh, họ Trần, tự Cự Siêu, hiệu Tá Am, người xứ Hải Ninh, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Trừng Đào, đời thứ 42 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Vân Lâm. Tác phẩm: Tá Am Tập, Thanh Hằng Ngữ Lục. ● 清 護 (916-970). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người Trường Lạc, Phúc Châu (Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 6 tuổi xuất gia nơi Quốc sư Thần Yến ở Cổ Sơn, ngay dưới lời liền tỏ ngộ. Phong độ thanh thoát cao vút, Nam Đường Hậu Chủ khâm phục đức hạnh sư thỉnh về Kim Lăng (Nam Kinh) trụ trì 2 chùa Báo Ân và Tịnh Đức. Ban hiệu “Sùng Nhân Đại Sư”, còn có hiệu “Diệu Hạnh Thiền Sư”. ● 清 豁. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Thuở bé sư thông minh, lễ Cổ Sơn Thần Yến Quốc sư, cạo tóc thụ giới cụ túc. Sư còn tham yết Như Am chủ ở núi Đại Chương. Sau đó sư tham vấn Thiền Sư Thùy Long Đạo Phổ và đắc pháp. Sư ở viện Bảo Phúc, Chương Châu (nay là huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến). Lúc tuổi già sắp tịch, sư dặn đệ tử đừng xây tháp, rồi vào núi ngồi thị tịch. ● 清 皎 (906-993). Thiền tăng đời Tống, họ Vương, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Sư thờ Thiền Sư Bạch Triệu Chí Viên làm thầy, theo học và đắc pháp nơi Ngài. Ban đầu sư ở núi Đại Dương (nay ở phía Bắc Kinh sơn, tỉnh Hồ Bắc) rồi dời đến chùa Huệ Nhật ở An Châu (nay là An Lục, tỉnh Hồ Bắc). Sau đó, sư trụ trì Ngũ Tổ Sơn ở Kỳ Châu (nay là huyện Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc). Có vị tăng hỏi: Sư xướng gia khúc ai, nối pháp người nào? Sư đáp: Mé vách Khải Sư mây lành nổi, Trước núi Bảo Thọ chấn pháp lôi. ● 清 鏡 (1790-1870). Thiền tăng đời Thanh, họ An, tự Siêu Nhiên, người xứ Đan Dương, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Trừng Lãng ở Thượng Hải, đời thứ 42 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Đảm Vân. ● 清 了 (1090-1151). Thiền tăng đời Tống, họ Ung, tự Chân Hiết, người An Xương, Miên Châu, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Tổ Chiếu (Pháp Nhất), thuộc tông Tào Động đời thứ 10, trụ Trường Lô, Chân Châu (Nghi Trưng, Giang Tô). Thụy hiệu: Ngộ Không Thiền Sư. Có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 清 龍 塔. Còn gọi: Kiết Vân Thiền Tự Tháp. ở thị trấn Cổ Thanh Long, huyện Thanh Phố, thành phố Thượng Hải, Trung Quốc. Thời kỳ Đường Tống thị trấn này là bến cảng mua bán với bên ngoài, thương nhân tụ tập, có tên gọi “Tiểu Hàng Châu”. Niên hiệu Thiên Bảo thứ 2 (743) đời Đường xây dựng chùa Báo Đức. Niên hiệu Trường Khánh thứ 2 (822) đổi tên là “Long Phúc Tự”, và xây tháp tại trong chùa. Khoảng niên hiệu Khánh Lịch (1041-1048) đời Tống tháp hư hủy được xây dựng lại. Tháp hình bát giác 7 tầng, thân gạch mái gỗ. Từ Nam Tống trở đi, sông Thanh Long dần dần bị lấp, thị trấn cũng suy vi, chỉ lưu lại đây một ngôi tháp điêu tàn. Khi vua Khang Hy đời Thanh đi Nam tuần, sắc phong chùa Long Phúc là “Kiết Vân Thiền Tự”, một lần nữa thắp lại hương khói. ● 清 涼. Hiệu của Thiền tăng Phương Niệm, sống vào đời Minh. X. Phương Niệm. ● 清 涼 山. Núi Ngũ Đài. Mặc dù vào mùa hè oi bức, nhưng khí hậu ở Ngũ Đài sơn vẫn mát mẻ, nên núi này còn được gọi là Thanh Lương Sơn. X. Ngũ Đài Sơn. ● 清 涼 寺. 1. Chùa trên núi Trạm Lô huyện Tùng Khê tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc; được xây dựng vào niên hiệu Thần Long thứ 3 (707) đời Đường, để kỷ niệm Âu Trị Tử, gọi là “Thượng Từ”. Niên hiệu Nguyên Phù thứ 2 (1099) đời Tống chùa được mở rộng thêm, gọi là Trạm Lô Thiền Am. Từ đó về sau trải qua nhiều đời đều có sửa sang. Niên hiệu Tuyên Thống thứ 2 (1910) đời Thanh, chùa được xây dựng đại quy mô, đến năm 1930 thì công trình hoàn tất, đổi tên là “Thanh Lương Tự”. Điện truớc thờ Phật Di Lặc, điện giữa thờ thiền sư Tịnh Không, sau lưng thiền sư có thờ Bồ Tát Vi Đà. ● 2. Chùa nằm trên núi Thanh Lương, thành phố Nam Kinh tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, được xây dựng bởi ngài Từ Ôn, đời Ngũ Đại, đầu tiên gọi là Hưng Giáo Tự. Đầu niên hiệu Thăng Nguyên (937-942) triều Nam Đường chùa được đổi tên là “Thạch Thành Thanh Lương Đại Đạo Tràng”, còn gọi “Thanh Lương Báo Ân Thiền Viện”, gọi riêng là “Quảng Huệ Tự”. Ban đầu do ngài Hưu Phục (Ngộ Không) ở, về sau Nam Đường Chủ mời ngài Văn Ích, tổ tông Pháp Nhãn ở chùa này truyền pháp, nên người đời gọi ngài là Thanh Lương Văn Ích. Sau đó các Thiền Sư Thái Khâm, Văn Thúy cũng trụ chùa này. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) đời Tống, đem Thanh Lương Quảng Huệ Tự ở núi Mạc Phủ dời về chùa này. Niên hiệu Thuần Hựu thứ 12 (1252), dựng đình Thúy Vi trên núi. Đầu đời Minh, Vua xuống chiếu đổi Thanh Lương Quảng Huệ Tự thành Thanh Lương Tự. Về sau chùa bị thiêu hủy bởi nạn binh lửa, chỉ còn 1 giếng nước được đào từ niên hiệu Bảo Đại thứ 3 (945) triều Nam Đường. Tương truyền chư tăng trong chùa thường uống nước giếng này, dù tuổi già nhưng đầu không bạc nên gọi là “Hoàn dương tỉnh”. Cuối đời Thanh, chùa được xây cất lại cùng dạng kiến trúc nhưng thu nhỏ hơn. Trong thời gian kháng chiến chùa bị hủy hoại, rừng cây chung quanh chùa bị đốn sạch. Sau khi dựng nước, chùa Thanh Lương từng được sửa sang, núi Thanh Lương sau nhiều năm cấm khai thác gỗ, trồng lại rừng đến nay cây cối xanh tươi rợp mát. ● 清 涼 文 益. Thiền tăng Văn Ích sống vào đời Ngũ Đại, về già truyền pháp ở viện Thanh Lương tại Kim Lăng, nhân đó có tên gọi “Thanh Lương Văn Ích”. X. Văn Ích. ● 清 茂 (1262-1329). Thiền tăng đời Nguyên, họ Lâm, tự Cổ Lâm, hiệu Kim Cang Tràng, Lân Cư Tẩu; thường gọi sư là Mậu Cổ Lâm. Nhờ thư pháp mà nổi tiếng khắp nơi. Năm 12 tuổi sư theo Cô Nham Khải chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai xuất gia, qua thi kinh luật mà được thụ giới. Sư rất thích thiền tịch và đi du phương khắp nơi, trước sau tham phỏng Giản Ông Kính núi Tuyết Đậu, Thạch Lâm Củng ở Nam Bình, Giác Am Chân ở Thừa Thiên, lại theo học với Hoành Xuyên Như Củng chùa Năng Nhân, tinh tấn tu tập nên lúc 19 tuổi nối pháp làm truyền nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế. Niên hiệu Đại Đức thứ 2 (1298) sư khai đường thuyết pháp tại Bạch Vân Thiền Tự núi Thiên Bình, Tô Châu. Sau 9 năm dời sang chùa Khai Nguyên. Chẳng bao lâu sư lui vể ở ẩn nơi Tháp viện Thiệu Long núi Hổ Khâu trùng niêm “Bách Tắc Tụng cổ” của Tuyết Đậu Trọng Hiển. Niên hiệu Hoàng Khánh thứ 1 (1312) một lần nữa trụ chùa Khai Nguyên, khi ấy do theo lời mời của Dương Quốc Công, được ban hiệu “Phù Tông Phổ Giác Phật Tính Thiền Sư”. Niên hiệu Diên Hựu thứ 2 (1315) sư dời sang chùa Vĩnh Phúc ở Nhiêu Châu (Ba Dương, Giang Tây). Lại trụ 6 năm chùa Bảo Ninh núi Phụng Đài ở Kiến Khang (Nam Kinh). Tuổi già phụng mạng triều đình, sư mở ra Đại hội Kim Sơn, được vua quan đại phu tôn sùng, kẻ sĩ thứ đến cầu pháp không dưới vài ngàn người. Tính sư cương trực, cơ phong bén nhạy, thủ đoạn cao vút, người học rất kính sợ. Đệ tử nối pháp có Thanh Dục, Lương Du, Phạm Tiên v. v… Tác phẩm: Tục Tông Môn Thống Yếu, Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Ngữ Lục 5 quyển, Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Thập Di Kệ Tụng 2 quyển. ● 清 慕. Thiền tăng đời Tống, tham vấn Thiền Sư Đạo Hy được ngộ và nối pháp ngài. Sư ở viện Bạch Long tại Thăng Sơn, Phúc Châu. Có một vị tăng hỏi: Thế nào là một cơ mật dụng của Bạch Long? Sư đáp: Mỗi ngày ngươi dùng cái gì? ● 清 諤. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Mân, Trung Quốc. Sư thờ Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến và đắc pháp, kế vị pháp hội của Ngài. Trong khi làm chủ tùng lâm nhờ sư chỉnh đốn nghiêm túc nên tiếng tăm vang dậy. Hiệu: Tông Hiểu Thiền Sư. ● 清 嚴 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Toàn Khoát, sống vào đời Ngũ Đại. X. Toàn Khoát. ● 清 原. Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Tào Động, đời thứ 41. Sư hiệu Minh Nam, là người viết bài tựa cho sách Pháp Hoa Đề Cương của Thanh Đàm Minh Chính. Hai vị có lẽ có cùng một bản sư. Sau đây là bài kệ của sư tán dương sách Pháp Hoa Đề Cương: “Bích Thanh đàm xuất diệu liên hương Hoa mục chi tiêu tổng pháp cương Minh Chính nhất thừa khai tố quảng Đạo trung tâm yếu thị hoằng dương Quần phương hội ngộ viên tâm tịnh Chúng đẳng đế quan nhập lý trường Thanh tịnh liên hoa quang pháp giới Tỳ Lô tính hải diễn chân thường”. “Hồ xanh trong biếc nảy sen thơm Kinh mục nêu bày nghĩa đại cương Minh Chính nhất thừa đà quảng bá Đạo trung tâm yếu lại hoằng dương. Quần phương tỏ ngộ tâm viên tịnh Đại chúng đồng tham lý vĩnh trường Thanh tịnh sen kia ngời pháp giới Tự tính Tỳ Lô khéo xiển dương”. Bài tựa sách Pháp Hoa Đề Cương được viết vào tháng 8 âm lịch năm 1820. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 青 原 行 思. Thiền tăng Hành Tư sống vào đời Đường, trụ chùa Tĩnh Cư núi Thanh Nguyên hoằng dương thiền pháp mở ra một hệ phái Thiền, được gọi là Thanh Nguyên Hành Tư. X. Hành Tư. ● 清 原 山. Núi ở thành phố Cát An, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, nằm cách trung tâm thành phố 15km về hướng đông nam. Từ xưa đến nay núi vẫn tốt đẹp mãi, được làm thắng cảnh du lịch. Các danh nhân như: Nhan Chân Khanh, Tô Đông Pha, Văn Thiên Tường đã từng đến núi này ngoạn cảnh. Thiền Sư Hành Tư, Tổ hệ phái Thanh Nguyên (nối pháp Lục Tổ Huệ Năng) đến đây xây dựng chùa Tĩnh Cư, hoằng dương đạo pháp thiền đốn ngộ phương Nam. Các cổ tích trong núi còn có Tổ quan núi Thanh Nguyên, tháp Thất Tổ, tháp Phi Lai, cầu Đãi Nhật, Điếu đài thạch, đình Ngũ Tiếu. ● 清 原 山 志 略. Chí, 13 quyển, do Tiếu Phong Đại Nhiên biên vào đời Thanh. Thi Nhuận Chương biên tập bổ sung, và được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 8 (1669) đời Thanh. Quyển 1 ghi chép về sơn thủy, đạo tràng. Quyển 2 là tăng truyện, quyển 3 về thư viện, quyển 4-11: gồm các bài minh, thuyết, thư, ký v. v… quyển 12, 13 là tạp ghi. Quyển thủ có phàm lệ gồm 7 tiết do Thi Nhuận Chương soạn, giải thích về đại ý của mỗi quyển, trình bày và phát huy ý nghĩa của việc biên tập thật đặc sắc, giống như 7 tiểu phẩm về triết lý. Các thơ văn, bi minh, du ký của các vị thiền sư nhiều đời trụ núi Thanh Nguyên và các cư sĩ văn nhân mặc khách đều được thu thập vào. ● 清 一 叟 (1300-1360). Thiền tăng đời Nguyên, họ Lưu, người xứ Tân An (Tuy Ninh, Giang Tô) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Kính Sơn Hạnh Đoan, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc. Trụ trì Nam Hoa thiền tự. ● 清 讓. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Ba Tiêu Huệ Thanh thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư ở núi Hưng Dương tại Dĩnh Châu (nay là Kinh Sơn, tỉnh Hồ Bắc). ● 倩 女 離 魂. Cô Thanh lìa hồn. Công án này được thấy trong Vô Môn Quan như sau: “五 祖 問 僧 云、倩 女 離 魂、那 箇 是 眞 底。 – Ngũ Tổ (Pháp Diễn) hỏi tăng: Cô Thanh lìa hồn, cái gì là con người thật?” Cô Thanh lìa hồn vốn là một truyền thuyết đời Đường, kể rằng khoảng niên hiệu Thiên Thọ có một thiếu nữ là nàng Thanh thương nhớ một chàng tên Vương Trụ. Vì bị cha nàng ngản cản cuộc tình duyên này nên nàng sầu não mang bệnh, hồn lìa khỏi xác, cùng với Vương Trụ âm thầm kết nghĩa vợ chồng. (Theo truyện “Nhân Trụ” trong Thái Bình Quảng Ký q. 358) Công án này gợi ý người học đạo cần biết rõ cái “ngã” trong sắc thân này là không thật, phải nhận ra cái “ngã” xưa nay, cũng chính là chân ngã. ● 清 法 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Khế Phù sống vào đời Ngũ Đại. X. Khế Phù. ● 清 福 (1850-1915). Thiền tăng đời Thanh, họ Nghiêm, người xứ Bồng An, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thể Hải, đời thứ 46 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Bảo Quang ở Tân Đô. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 清 濋. Thiền tăng cuối đời Nguyên đầu đời Minh, tự Lan Giang, người Thiên Thai (Chiết Giang) Trung Quốc. Cuối đời Nguyên sư thuyết pháp ở Ngô Trung, đạo tục ngưỡng mộ pháp hội thường rất đông. Vào đầu niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) sư vâng lệnh trụ chùa Thiên Giới ở Nam Kinh, vâng sắc chỉ vào cung tấu đối hợp ý vua. Tuổi già trụ trì chùa Đông Thiền ở Vô Tích (Giang Tô). Tác phẩm: Vọng Vân Tập, Tỳ Lô Chính Ấn và có Ngữ Lục lưu hành trên đời. ● 清 山 禪 院. ở Thanh Sơn, Hồng Kông, Trung Quốc. Vào thời Đường Tống đã có chùa này, khi đó gọi là “Bôi Độ Tự” nguyên để kỷ niệm Thiền Sư Bôi Độ mà sáng lập. Phía sau chính điện bên phải có Thạch Phật Nham gọi là “Bôi Độ Động”, trước động có tượng Bôi Độ điêu khắc bằng đá. ● 青 青 翠 竹 盡 是 眞 如、郁 郁 黃 花 無 非 般 若. Trúc biếc xanh xanh, thảy đều là thật tướng chân như hoa vàng rực rỡ không gì chẳng phải là trí huệ Bát nhã. Ý nói chân như Phật tính tồn tại ở khắp nơi, là trừ sạch mọi vọng tâm phân biệt, đạt đến cảnh giới vạn vật nhất như, sau khi vật ngã nhất như. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q. 3 ghi: “又 問:古 德 曰:青 青 翠 竹 盡 是 眞 如、郁 郁 黃 花 無 非 般 若。有 人 不 許、是 邪 說、亦 有 人 信、言 不 可 思 議、不 知 若 爲?師 曰:此 盡 是 普 賢、文 殊 大 人 之 境 界、非 諸 凡 小 而 能 信 受、皆 與 大 乘 了 義 經 意 合。 – Lại hỏi: Cổ đức nói: Trúc biếc xanh xanh thảy đều là thật tướng chân như, hoa vàng rực rỡ không gì chẳng phải là trí huệ Bát Nhã, có người chẳng chịu cho là tà thuyết; cũng có người tin, nói không thể nghĩ bàn, chưa rõ là thế nào? Sư đáp: Đây đều là cảnh giới của các bậc Phổ Hiền Văn Thù, hàng phàm phu tiểu thừa không thể tin nhận, nhưng lại hợp với ý kinh Đại thừa liễu nghĩa. “ ● 青 天 白 日 尿 床. Ban ngày ban mặt lại đái dầm, dụ cho hành vi vô lý đến buồn cười. Tiết Thanh Hóa Toàn Phó Thiền Sư trong NĐHN q. 9 ghi: “問:如 何 是 正 法 眼?師 曰:我 卻 不 知。曰:和 尚 爲 甚 麼 不 知?師 曰:不 可 青 天 白 日 尿 床 也。 – Hỏi: Thế nào là Chính pháp nhãn? Sư bảo: Ta cũng chẳng biết. Hỏi: Vì sao Hòa Thượng chẳng biết? Sư bảo: Không thể giữa ban ngày ban mặt lại đái dầm. “ (Thiền Sư cho rằng dùng lời nói để diễn tả Chính pháp nhãn là việc vô lý đến buồn cười). ● 清 錫. Thiền tăng đời Tống, người xứ Tuyền châu, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Ban đầu sư trụ viện Quảng Bình núi Long Tu rồi dời sang núi Vân Cư ở quận Nam Khang (nay là huyện Tinh Tử, tỉnh Giang Tây), sau đó sư trụ trì viện Tây Minh ở Tuyền Châu. Có vị tăng hỏi: Phật là gì? Sư đáp: Dung nhan rất kỳ diệu. ● 清 進. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư La Hán Đạo Nhàn. Sư ở viện Bảo ứng tại Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam). ● 清 淨 法 眼. Huyền chỉ của giáo ngoại biệt truyền (tức Thiền Tông). Chương “Thích Ca Mâu Ni Phật” trong CĐTĐL q. 1 ghi: “後 告 弟 子 摩 訶 迦 葉。吾 以 清 淨 法 眼 涅 槃 妙 心 實 相 無 相 微 妙 正 法 將 付 於 汝。汝 當 護 持。 – Sau đó, đức Thích Ca bảo với đệ tử là Ma Ha Ca Diếp rằng: Ta đem thanh tịnh pháp nhãn, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, chính pháp vi diệu để giao lại cho ngươi, ngươi nên gìn giữ”. ● 清 淨 知 見. Chỉ cho việc dùng trí huệ pháp nhãn để quán chiếu chân tướng của sự vật và thu được sự cảm ngộ, thể nghiệm; do sự thấy biết đạt được này không còn một mảy chấp trước, của vọng tình tục niệm nên được gọi là “Thanh tịnh tri kiến”. Chương Ngụy Phủ Hoa Nghiêm Trưởng Lão thị chúng phụ lục ở cuối quyển trong CĐTĐL q. 30 ghi: “爾 若 作 一 切 有 爲 功 德、只 是 造 業、增 長 頑 福、不 生 箇 清 淨 知 見。 – Nếu ngươi làm tất cả công đức hữu vi chỉ là tạo nghiệp, thêm lớn si phúc, chẳng phát sinh thanh tịnh tri kiến”. ● 清 浚 (1328-1392). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, tự Thiên Uyên, người Hoàng Nham (Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư học Nho giáo, 13 tuổi theo Diệu Minh chùa Bảo Đà xuất gia, qua tuổi 20 mới cạo tóc thụ giới cụ túc. Diệu Minh sang chùa Trung Thiên Trúc, sư được mời đến Thị Ty, dời sang Song Kính lại giữ chức Ký thất. Một hôm đọc Đại Huệ Ngữ Lục chợt tỏ ngộ. Trở về ở chùa Thiên Đồng Ninh Ba (Chiết Giang). Niên hiệu Hồng Vũ thứ 1 (1368) ra hoằng pháp trụ trì chùa Vạn Thọ ở Tứ Minh, năm thứ 5 (1372) đến dự đại hội Phổ Độ ở Chung Sơn, xong việc sư trở về núi, vua Thái Tổ ban thưởng rất nhiều. Năm thứ 15 (1382) thăng chức Tả giác nghĩa Tăng lục ty. Năm thứ 19 (1386) phụng chỉ thuyết pháp ở chùa Linh Cốc, Nam Kinh. Năm thứ 3 (1390) vâng lệnh trụ trì chùa Linh Cốc, Minh Thái Tổ đích thân làm 13 bài thơ đề tặng sư. Sư chuyên nghiên cứu giáo nghĩa, thông suốt sách Nho, lại giỏi thi văn. ● 清 聳. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Thái, người Phúc Thanh, Phúc Châu (Phúc Kiến) Trung Quốc. Ban đầu tham kiến Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, Văn Ích chỉ mưa, nói: “Giọt mưa rơi trong mắt Thượng tọa”. Thanh Tủng không lãnh hội ý chỉ. Sau nhờ xem kinh Hoa Nghiêm cảm ngộ, được Văn Ích ấn khả, nối pháp làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Trở về ở thảo am núi Tứ Minh, Minh Châu (Ninh Ba, Chiết Giang), Tiết độ sứ Tiền ức lễ sư làm thầy. Ngô Việt Trung Ý Vương ra lệnh sư khai đường thuyết pháp hai nơi trong Hàng Châu. Có vị tăng hỏi: Khi Ngưu Đầu chưa gặp Tứ Tổ thì thế nào? Sư đáp: Non xanh nước biếc. Lại hỏi: Sau khi gặp thì thế nào? Sư đáp: Nước biếc non xanh. Về sau ở chùa Linh ẩn, hiệu là Liễu Ngộ Thiền Sư. ● 清 運. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển. Khi ra hoằng pháp, sư trụ viện Vạn An ở Tuyền Châu. Hiệu: Tư Hóa Thiền Sư. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Vạn An? Sư đáp: Việc cơm nước trong nhà. Lại hỏi: Thế nào là cảnh của Vạn An? Sư đáp: Cây tháp Tùng La ngóng biển xanh. ● 青 園 寺. Nằm trên sườn núi Hà Chu, ngoại ô thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Hoàng hậu Cung Tư đời Đông Tấn là Chữ Thị sáng lập. Trúc Đạo Sinh từng ở chùa này giảng nghĩa lý đốn ngộ thành Phật. Niên hiệu Cảnh Bình thứ 1 (423) đời Lưu Tống điện Phật chấn động, tương truyền có rồng thăng thiên bèn đổi tên là “Long Quang Tự”. Bảo Lâm, Pháp Bảo, Huệ Sinh nối nhau đến trụ trì. Khoảng niên hiệu Hội Xương (841-846) đời Đường chùa bị phá hủy. Đến niên hiệu Hàm Thông thứ 2 (861) xây dựng lại, ban cho tấm biển “Long Quang Viện”. Niên hiệu Thăng Nguyên thứ 2 (938) đời Nam Đường trùng tu, Trừng Di. Thái Khâm trụ chùa này hoằng dương thiền pháp. ● 聖 燈 錄. Đăng Lục, 1 quyển, được biên soạn vào thế kỷ XIII (đời Trần, Việt Nam). Nội dung ghi chép về hành trạng của 5 vị vua đầu đời Trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông và Minh Tông. ● 聖 諦 第 一 義. Chỉ chân lý tối cao, chân lý chí cực huyền diệu của Phật giáo, Thiền giáo. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “梁 武 帝 問 達 磨 大 師:如 何 是 聖 諦 第 一 義?M磨 云:廓 然 無 聖。 – Lương Võ Đế hỏi Đại sư Đạt Ma: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Đạt Ma đáp: Rỗng rang không có gì là Thánh. “ ● 聖 可. Hiệu của Thiền tăng Đức Ngọc đời Thanh. X. Đức Ngọc. ● 聖 嚴 (1930-?). Thiền tăng đời hiện đại, họ Trương, hiệu Huệ Không, người Nam Thông, Giang Tô, Trung Quốc. Năm 13 tuổi theo Hòa Thượng Lãng Huệ chùa Quảng Giáo cạo tóc xuất gia, 16 tuổi vào Phật học viện chùa Tĩnh An, Thượng Hải. Năm 1949 gia nhập Ngũ Tùy Quân đến Đài Loan. Mười năm sau khôi phục tăng tịch, theo Trưởng Lão Đông Sơ xuất gia. Năm sau sư thụ giới Tỳ kheo nơi chùa Hải Hội ở Cơ Long, ngay lập tức đến Mỹ Nồng, Cao Hùng cấm túc và bế quan trong thời gian 6 năm. Mùa xuân năm 1969 sư sang Nhật Bản lầy bằng Tiến sĩ tại Đại học Đại Chính (Taishò) ở Đông Kinh. Mùa đông năm 1975 đến Hoa Kỳ nhận chức Phó Hội trưởng Hội Phật Giáo Mỹ Quốc và trụ trì chùa Đại Giác, xuất bản quý san “Tạp Chí Thiền”. Năm 1978, sư trở về Đài Bắc tiếp quản Trung Hoa Phật Giáo Văn Hóa Quán, nhậm chức giáo sư Sở nghiên cứu triết học của Đại học Trung Quốc Văn Hóa, Sở trưởng sở nghiên cứu Phật Học của Viện Trung Hoa Học thuật, đồng thời tại Newyork xây dựng Trung tâm Thiền. Tác phẩm: Thiền Môn Ly Châu Tập, Thiền Môn Nghệ Ngữ. ● 聖 凡 窠 臼. Khuôn mẫu thánh phàm, chỉ cho cái thấy của người thế tục thường hay phân biệt người thánh với kẻ phàm. Nhà thiền cho rằng đây là biểu hiện của vọng tâm phân biệt. Mật Am Ngữ Lục ghi: “上 堂。舉 金 峰 和 尚 示 眾 云:老 僧 二 十 年 前。有 老 婆 心。二 十 年 後 無 老 婆 心。時 有 僧 出 問:如 何 是 和 尚 二 十 年 前。有 老 婆 心。峰 云:問 凡 答 凡。問 聖 答 聖。僧 云:如 何 是 二 十 年 後 無 老 婆 心。峰 云:問 凡 不 答 凡。問 聖 不 答 聖。師 云:烏 巨 當 時 若 見。但 冷 笑 兩 聲。這 老 漢 忽 若 瞥 地。自 然 不 墮 聖 凡 窠 臼。 – Sư thượng đường, nêu công án Hòa Thượng Kim Phong dạy chúng rằng: Lão tăng 20 năm trước có tâm lão bà, 20 năm sau không có tâm lão bà. Khi ấy có vị tăng bước ra, hỏi: Thế nào là Hòa Thượng 20 năm trước có tâm lão bà? Phong đáp: Hỏi phàm đáp phàm, hỏi thánh đáp thánh. Tăng hỏi: Thế nào là 20 năm sau không có tâm lão bà? Phong đáp: Hỏi phàm chẳng đáp phàm, hỏi thánh chẳng đáp thánh. Sư nói: Ô Cự (pháp hiệu của Hòa Thượng Mật Am) nếu có mặt ngay lúc đó chỉ cười nhạt hai tiếng, ông già ấy bất chợt đốn ngộ, tự nhiên chẳng rơi vào khuôn mẫu thánh phàm”. ● 聖 凡 盡 殺. Giết sạch Thánh phàm, ý nói hoàn toàn trừ sạch mọi chấp trước trên nghĩa lý đối với bậc. Thánh người phàm, cùng với những vọng tình đối lập giữa Thánh phàm. Tông Môn Võ Khố ghi: “(悅 和 尚)住 兜 率 五 年。一 日 說 偈 曰。四 十 有 八。聖 凡 盡 殺。不 是 英 雄。龍 安 路 滑。奄 然 而 化。 – (Hòa Thượng Duyệt) trụ trì chùa Đâu Suất năm năm, một hôm nói kệ rằng: ›Bốn mươi tám năm giết sạch thánh phàm, không phải anh hùng, đường Long An trơn‹. Bỗng nhiên thị tịch. ● 聖 果 寺. ở núi Phụng Hoàng, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Niên hiệu Khai Hoàng thứ 2 (582) đời Tùy sáng lập. Đời Đường Thiền Sư Vô Trước Văn Hỉ phục hưng khai pháp, ban đầu gọi “Thánh Quả Tự”. Vua Tống Cao Tông đi về phương nam từng đổi thành ngự uyển. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 35 (1556) đời Minh bị lửa thiêu rụi. Năm thứ 37 (1558) tăng Chính Nhân xây dựng lại. ● 聖 觀 寺. ở thành phố Đài Bắc, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc, là Thiền tự tông Lâm Tế. Năm 1948 Tương Nhật Thức cải tạo và xây dựng lại phòng ốc mà thành gọi là “Thánh Quan Phật Đường”. Năm 1968 dỡ bỏ rồi xây dựng lại, đổi tên là “Thánh Quan Tự”. Thiền Sư Thịnh Vân là khai sơn trụ trì. ● 聖 獅 子. Tên hiệu của Phật. Chân Minh Tụng trong PKNL q. 18 ghi: “法 王 出 現 世 間、方 便 談 空 破 有。有 者 必 歸 於 無、是 爲 聖 獅 子 吼。 – Bậc Pháp vương xuất hiện ở thế gian, phương tiện nói không để phá trừ chấp có (hữu). Người chấp có ắt sẽ trở về Không, ấy là Thánh sư tử rống. “ ● 聖 胎. Thuật ngữ của Đạo giáo. Thiền Tông mượn dùng để chỉ cho Tự tính. Tiết Bát Nhã Hòa Thượng thị chúng trong Thiền Quan Sách Tiến ghi: “遍 參 知 識。得 知 一 切 淺 深。卻 向 水 邊 林 下。保 養 聖 胎。直 待 龍 天 推 出。方 可 出 來 扶 揚 宗 教。普 度 群 生。 – Phải đi tham vấn các bậc Thiện tri thức để được biết chỗ cạn sâu, rồi sau đến bên bờ suối, dưới rừng cây bảo dưỡng Thánh thai, đợi khi nào Long thiên mời ra, mới nên đi xiển dương chính pháp, độ khắp quần sinh”. ● 聖 壽. 1. ở khe núi Linh Không cách trung tâm huyện Tẩm Nguyên, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc 18km về phía tây bắc. Niên hiệu Càn Phù thứ 6 (879) đời Đường, Lý Khản con thứ 4 của vua Ý Tông vì tránh nạn Hoàng Sào khởi nghĩa mà đến nơi này. Niên hiệu Cảnh Phúc thứ 2 (893) cất chùa ẩn cư và cạo tóc làm tăng. Thụy hiệu “Tiên Sư Bồ tát”, nhân đây đặt tên chùa là “Tiên Sư Thiền viện”. Niên hiệu Đoan Củng thứ 2 (989) đời Tống trùng tu, đổi tên là “Thánh Thọ Tự”. Chùa ở dưới mỏm núi, nhân địa thế mà cất, năm tòa sân sướng có thể thông suốt nhau, lại đều có sơn môn tự thành kết cấu và cách thức, trung tâm là Đại Phật điện viện, hai bên là Tiên Sư Bồ tát viện, Tàng kinh viện, Phương trượng viện, Thiền đường viện. Trước Đại Phật điện viện là Thiên vương điện, hai bên đình viện có Phối điện tả hữu và Chung cổ lâu. Trong chùa có vài tấm bia cổ ghi chép sự phát triển biến đổi lịch sử chùa và phong cảnh núi sông. ● 2. ở núi Phục Long, huyện Tuy Đức, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Niên hiệu Thái Định thứ 4 (1327) đời Nguyên, Thiên Nham Nguyên Trường vào núi Phục Long thấy chùa hoang phế đã lâu bèn muốn xây cất lại, dân làng ra sức trợ giúp chẳng bao lâu xây dựng thành chùa lớn. ● 聖 水 寺. ở trong núi Vân Cư, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Nguyên Hựu (1086-1093) đời Tống, Phật ấn Liễu Nguyên xây cất Vân Cư Am trong núi. Sau đó Trung Phong Minh Bản xây cất Thánh Thủy Tự ở gần đó. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 24 (1391) đời Minh, hai chùa cùng được xây cất lại, Minh Thái Tổ ban cho tấm biển “Vân Cư Thánh Thủy Tự”. ● 聖 持 祖. Đời Minh, thiền tăng Phổ Trì trụ trì chùa Thánh Ân núi Đặng Úy ở Tô Châu, được người đời gọi là Thánh Trì tổ. X. Phổ Trì. ● 成. Dẫn dắt, trợ giúp. Chương Long Sách Tự Thuận Hóa Đại sư trong CĐTĐL q. 18 ghi: “問 學 人 未 達 其 原 請 師 方 便。師 曰。是 什 麼 原。僧 曰。其 原。師 曰。若 是 其 原 爭 受 方 便。僧 禮 拜。退 後 侍 者 問 曰。和 尚 適 來 莫 是 成 他 問 否。師 曰 無。 – Hỏi: Người học chưa đạt đến cội nguồn, thỉnh Thầy phương tiện dẫn dắt. Sư bảo: Là cội nguồn nào? Tăng thưa: Cội nguồn của con. Sư bảo: Nếu là cội nguồn của con thì đâu cần phương tiện? Tăng lễ lạy rồi lui. Thị giả hỏi: Phải chăng vừa rồi Hòa Thượng đã dẫn dắt y? Sư bảo: Không. Thị giả hỏi tiếp:Phải chăng Hòa Thượng không dẫn dắt y? Sư đáp: Không. “ ● 成 辦. Thành công. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “舉 則 公 案、事 事 成 辦。向 外 持 求、癡 漢 癡 漢。 – Nêu công án này ra, bất cứ việc gì cũng thành công còn chạy tìm bên ngoài là kẻ độn, kẻ ngu!” ● 成 等 明 亮. Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 34, nối pháp Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch, chưa rõ quê quán và hành trạng của sư… Có thể sư thọ giáo quy y với Hòa Thượng Minh Vật Nhất Tri ở chùa Kim Cang (Bình Thảo Đồng Nai), và sau đó thiền sư đến trụ trì chùa Đại Giác ở Đại Phố Đồng Nai (cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, tỉnh Biên Hòa) sau này. Theo: LSPGĐTcủa Nguyễn Hiền Đức. ● 成 現. Đầy đủ sẵn sàng, hàm ý vốn tồn tại, luôn luôn tồn tại, hiện tại cũng xem đến được, phần lớn chỉ cho Phật tính, thiền pháp. Tiết Luy Phong Sung Áo Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “人 人 具 足、人 人 成 現、爭 怪 得 山 僧? 珍 重。– Sư thượng đường nói: Ai nấy đều đầy đủ, mọi người đều sẵn sàng, đâu trách được sơn tăng? Trân trọng!” ● 成 持. Giúp đỡ, thành lập, thành công. Tiết Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q. 14 ghi: “有 西 川 黃 三 郎、教 兩 箇 兒 子 投 馬 祖 出 家。有 一 年 却 歸 屋 裏、大 人 才 見 兩 僧、生 佛 一 般 禮 拜 云:古 人 道:生 我 者 父 母、成 我 者 朋 友。是 你 兩 箇 僧、便 是 某 甲 朋 友、成 持 老 人。 – Có Hoàng tam lang ở Tây Xuyên bảo 2 đứa trẻ theo Mã Tổ xuất gia. Một năm nọ, 2 vị tăng ấy trở về nhà, họ Hoàng vừa trông thấy liền lễ bái như Phật sống, bảo rằng: Người xưa nói: Sinh ta ra là cha mẹ, làm thành ta là bạn bè. Hai vị tăng này chính là bạn bè của ta, giúp đỡ cho ta”. ● 韜 光 養 晦. Còn gọi: Hối Tích Thao Danh, Ẩn Tích Mai Danh. ẩn mình, giấu tên. Có tài trí, đạo đức mà giữ kín đáo không cho người ta biết đến mình. Truyện Thiền Sư Cảnh Nguyên trong Vân Cư Sơn Chí (134, hạ) ghi: “隨 眾 作 息、閉 門 研 經、韜 光 養 晦 , 不 求 聞 達。 – Theo đại chúng sinh hoạt, đóng cửa nghiên cứu kinh điển, mặc dù có tài trí đạo đức song Sư giữ kín, không muốn mọi người biết đến mình”. Quy Sơn Cảnh Sách của Thiền Sư Linh Hựu ghi: “便 能 澡 心 育 德、晦 跡 韜 名。蘊 素 精 神、喧 囂 止 絕。 Lại nên rửa lòng nuôi đức, ẩn mình giấu tên, tịnh dưỡng tinh thần, nhiễu phiền sẽ dứt”. ● 操 略. Hành động ứng cơ tiếp vật, vận dụng cơ duyên. Tiết Thị Dục Tạng Chủ trong DTNL q. 3 ghi: “你 若 有 這 箇 操 略、管 取 諸 佛 諸 祖、向 你 面 前 納 欵 有 分、就 你 手 裏 乞 命 無 由。 – Nếu ngươi có hành động ứng cơ tiếp vật, bảo đảm chư Phật chư Tổ nộp tiền cho ngươi và xin ngươi tha mạng không lý do”. ● 操 履. Hành vi, phẩm hạnh. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 3 ghi: “有 等 禪 人、言 在 飛 龍 之 前、行 在 跋 鱉 之 後、却 謂 我 宗 門 下、只 重 見 地、不 重 操 履 – Có một bọn tu thiền, lời nói ở trên mây xanh còn việc làm thì ở dưới đất, lại bảo rằng trong tông môn của ta chỉ trọng kiến giải chứ chẳng trọng hành vi”. ● 操 爲. Cử chỉ, hành vi. Tiết Huệ Khả Thiền Sư trong TĐT q. 2 ghi: “二 祖 碩 學、操 爲 堅 礭。 – Nhị Tổ là bậc học rộng, hành vi cương quyết”. ● 草 堂 (?-?). Thiền tăng đời Lý, Tổ khai sáng dòng Thiền Thảo Đường ở Việt Nam. Sư vốn là người Trung Hoa, là đệ tử của Thiền Sư Trọng Hiển ở Tuyết Đậu, nhằm đời pháp thứ 3 phái Vân Môn. Không rõ lý do gì, sư sang ở Chiêm Thành. Năm Kỷ Dậu (1069), vua Lý Thánh Tông đem binh sang đánh Chiêm Thành, bắt được Chế Củ là vua nước ấy cùng một số tù binh. Về triều, vua ban cho bá quan những tù binh để làm nô bộc. Sư cũng nằm trong số tù binh ấy, và chính sư lại rơi vào thân phận nô bộc cho một vị Tăng lục. Một hôm vị Tăng lục đi khỏi, sư thấy bản Ngữ Lục để trên bàn có mấy chỗ sai, bèn tự ý sửa chữa lại. Vị tăng lục đi về xem thấy thế ngạc nhiên hỏi ra mới biết sư sửa. Ông đem việc ấy tâu lên vua Lý Thánh Tông. Vua đòi sư vào triều, đem kinh luận và thiền hỏi sư. Sư ứng đối rất lanh lẹ và xác đáng. Vua rất kính phục, truy nguyên ra mới biết tông tích của sư. Từ đó, vua Thánh Tông thường thưa hỏi Phật pháp nơi sư và phong chức Quốc sư, mời ở chùa Khai Quốc trong thành Thăng Long. Đồ chúng nghe tiếng tìm đến tham vấn rất đông. Do đây biến thành phái thiền thứ 3 ở Việt Nam. Đến 50 tuổi, sư có chút bệnh ngồi kiết già thị tịch. Phái thiền của sư truyền xuống được 5 đời, song ít thấy ghi chép lịch sử đầy đủ. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 草 堂 寺. Chùa ở làng Thảo Đường, thị trấn Tần, huyện Hộ, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, nằm cách trung tâm thị trấn 15km về phía nam. Vốn là nền cũ “Tiêu Dao Viên” của nhà Hậu Tần vào thời Nam Bắc Triều, là chỗ dịch kinh của cao tăng Cưu Ma La Thập, nước Quy Tư, Tây Vức. Đời Đường xây dựng thành chùa Thê Thiền, về sau đổi tên là chùa Thảo Đường, Thiền Sư Tông Mật từng ở chùa này. Các điện đường phần lớn bị hư hỏng, chỉ còn đại điện và lang vũ (nhà nhỏ ở hai bên) được xây dựng trong đời Dân Quốc là tồn tại đến nay. Góc tây bắc chùa có 1 cái giếng xưa tương truyền thuở xưa trong giếng có cái nón bằng sương mù (Yên vụ) hiện ra. “Thảo Đường Yên Vụ” là 1 trong 8 cảnh ở Quan Trung. ● 草 裏 漢. Người lạc lối vì cỏ rậm. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho đồ cố chấp. Phần Giáp chú của tắc 36, Bích Nham Lục q. 4 (Đại 48, 174 trung) ghi: “不 可 落 草。敗 缺 不 少。草 裹 漢。 – Không được quanh co, thất bại không ít, đồ cố chấp!” ● 草 衣 木 食. Kết cỏ lá làm áo, hái trái rừng làm thức ăn, chỉ cho sinh hoạt thô sơ của tăng nhân ở ẩn trong rừng núi sâu kín. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “勤 苦 修 行、草 衣 木 食。 – Cần cù tu hành, kết cỏ lá làm áo, hái trái rừng làm thức ăn. “ ● 草 偃 風 行. Gió thổi cỏ rạp, chỉ cho hành vi hoặc sự kiện tiến hành thuận lợi, phát triển tự nhiên. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “拈 起 也 天 回 地 轉。放 下 也 草 偃 風 行。 – Lúc giơ lên thì trời xoay đất chuyển; khi buông xuống thì mọi việc phát triển tự nhiên”. ● 塔 婆. Phạn: Stūpa. Cây tháp. Ngôi tháp. Tiết Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư Tháp Minh (Hữu Tự) trong PKNL q. 0 ghi: “復 造 塔 婆 七 級、崇 二 百 四 十 餘 尺。 – Còn tạo dựng một ngôi tháp bảy từng, cao hơn 72 mét”. ● 塔 主. Vị tăng phụ trách việc quản lý, giữ gìn ngôi tháp. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “師 到 達 磨 塔 頭。塔 主 云:長 老 先 禮 佛 先 禮 祖。師 云:佛 祖 倶 不 禮。塔 主 云:佛 祖 與 長 老。是 什 麼 寃 家? – Sư đến ngôi tháp của Tổ Đạt Ma, Tháp chủ hỏi: Trưởng lão lễ Phật trước hay lễ Tổ trước? Sư đáp: Phật Tổ đều chẳng lễ Tháp chủ nói: Phật Tổ cùng với Trưởng Lão có thù oán gì?” ● 塔 頭. Ngôi tháp, cây tháp. Chữ “đầu” (頭) đứng sau có ý biểu thị phương hướng nơi chốn. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “洞 山 問 僧 曰:什 麼 處 來?對 曰:三 祖 塔 頭 來。 – Động Sơn hỏi tăng rằng: Ngươi từ đâu đến? Tăng đáp: Từ ngôi tháp của Tam Tổ đến”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “師 到 達 磨 塔 頭。塔 主 云:長 老 先 禮 佛 先 禮 祖。 – Sư đến ngôi tháp của Tổ Đạt Ma, Tháp chủ hỏi: Trưởng lão lễ Phật trước hay lễ Tổ trước”. ● 塔 院 寺. ở phía nam chùa Hiển Thông, thị trấn Đài Hoài, Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, là một trong năm đại thiền tự của Ngũ Đài Sơn. Nguyên là tháp viện của chùa Hiển Thông, thời Minh Tống trùng tu tháp Xá Lợi, mới lập riêng thành chùa, gọi là “Tháp Viện Tự”. Phía trước là Đại hùng bảo điện, phía sau là Tàng kinh các, Xá Lợi tháp ở giữa, xung quanh là hành lang, phía đông là Thiền viện, bố cục hoàn chỉnh. Các tượng đắp trong mỗi điện được giữ gìn hoàn hảo, trong Tàng kinh các có Chuyển Luân Tạng 12 tầng làm bằng gỗ, mỗi tầng chứa đầy tạng kinh cung cấp cho tăng chúng đọc tụng, tín đồ lễ bái. Trong chùa có Bạch tháp cao lớn khiến người chú ý được xem là tiêu chí của Ngũ Đài Sơn. ● 塔 院 寺 舍 利 塔. ở phía nam chùa Hiển Thông, thị trấn Thai Hoài, huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, nguyên là tháp viện của chùa Hiển Thông, niên hiệu Vạn Lịch thứ 10 (1582) đời Minh sau khi xây tháp Xá Lợi này, mới lập riêng thành chùa gọi là “Tháp Viện Tự”, là một trong năm đại thiền tự của Ngũ Đài Sơn. Bố cục của chùa lấy tháp làm chủ, tháp Xá Lợi nằm ở trung tâm chùa, xung quanh có lang vũ bao quanh, phía đông có Thiền viện. Tháp theo kiểu Lạt Ma hình chiếc bát úp, nền tòa mặt bằng hình vuông, phía dưới là tòa Tu Di cao lớn, ở giữa là thân tháp hình chiếc bát úp xây gạch sơn màu trắng, nên còn gọi “Ngũ Đài Sơn Đại Bạch Tháp”. Hoa cái, ngưỡng nguyệt, bảo châu của sát đỉnh đều làm bằng đồng pha vàng, ánh vàng rực rỡ. Chung quanh eo tháp và tướng luân có treo 252 chiếc chuông nhỏ, khi gió núi thổi qua tiếng chuông kêu đinh đang, rất có phong vị một chùa cổ. Tháp cao lớn tráng lệ, hùng vĩ nghiêm túc, thân tháp trắng tinh nổi bật giữa điện vũ tường đỏ, cây xanh núi biếc, càng cảm thấy vô cùng trong sáng, được mọi người xem như là tiêu chí của Ngũ Đài Sơn. Tháp này đã có đặc trưng to lớn của tháp Lạt Ma thời kỳ đầu, lại có phong cách tú lệ của tháp Lạt Ma thời kỳ cuối, hiển bày đầy đủ tính chất quá độ, nó chiếm một địa vị trọng yếu trong lịch sử kiến trúc. Nền tòa tháp này xung quanh có hành lang gấp khúc rộng lớn, trên có nhiều ống sắt tròn viết sáu chữ chân ngôn kinh chú, để cho tín đồ khi đi hành hương nhiễu tháp sờ mó, thay vì tụng niệm kinh văn. Đây là điểm khác biệt với tháp Lạt Ma cỡ lớn ở khu vực Trung Nguyên. ● 忒 剎. Còn gọi: Thái Sát. Phó từ, tương đương với rất, thực tại, quá phần. Tông Môn Võ Khố ghi: “古 人 忒 剎 直 截、爾 不 肯 去 直 截 處 行。只 爲 分 明 極、翻 令 所 得 遲。 – Người xưa rất dứt khoát, còn ngươi chẳng chịu thực hành một cách dứt khoát. Chỉ vì quá rõ ràng nên người ta hay trì hoãn”. ● 陞 座. Còn gọi: Thăng Đường, Thượng Đường. Thiền Sư vào pháp đường, lên ngồi pháp tòa thuyết pháp cho đại chúng nghe. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “師 到 靈 隱。眾 請 陞 座。僧 問:遠 別 翠 峰 丈 室。將 屆 雪 竇 道 場。如 何 是 不 動 尊。師 云:看 風 使 帆。 – Sư đến Linh ẩn, đại chúng thỉnh sư thăng tòa. Tăng hỏi: Rời xa trượng thất Thúy Phong, đi đến đạo tràng Tuyết Đậu, thế nào là Đấng Bất Động? Sư nói: Xem gió mà điều khiển buồm”. Thiên Đâu Suất Huệ Chiếu Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: 兜 率 都 無 伎 倆 也 効 諸 方 榜 樣 五 日 一 度 陞 堂 起 動 許 多 龍 象 “Đâu suất đô vô kỹ lưỡng, Dã hiệu chư phương bảng dạng Ngũ nhật nhất độ thăng đường Khởi động hứa đa long tượng”. “Đâu Suất không có thủ đoạn Noi theo cách thức các phương Năm hôm một bận thăng đường Long tượng nổi lên cũng bộn”. ● 勝 學 (1326-1406). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, tự Vô Niệm, người xứ Tùy Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. Năm 9 tuổi sư lễ ngài Vô Cực ở chùa Bảo Lâm xin làm điệu, sau đó đến Kinh Châu (nay là huyện Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc) tham học với Hòa Thượng Vô Văn, chợt phát đại nghi, ngày đêm đề khởi tham cứu. Năm 22 tuổi sư đến Tuyên Châu (nay là Tuyên Thành tỉnh An Huy) đăng đàn thụ giới. Sư còn lên Tung Sơn tham vấn một hôm bỗng nhiên có tỉnh, viết kệ như sau: “Động Sơn sương mù lất phất bay Tựa lan, trông tạnh suốt cả ngày Đêm về chợt thấy vầng trăng tỏ Mặt gương muôn tượng thảy hiện bày”. Sư đến Tô Châu tham vấn Thiền Sư Thời Úy, cơ ngữ khế hợp nhau. Ngài đích thân viết pháp ngữ, trao Tăng Già Lê, dùng kệ ấn chứng cho sư. Sư trở về chùa Bảo Lâm, đạo phong rực sáng, tăng tục đều kính mộ. Khoảng niên hiệu Hồng Võ (1368-1398) sư được triệu vào kinh, ứng phó tuyên dương tông chỉ, Vua đích thân làm thơ văn ban tặng sư. Thụy hiệu: Thanh Phúc Quảng Huệ Thiền Sư. ● 勝 業 寺. X. Chúc Thánh Tự ● 繩 床. Giường dây. Một loại giường bề mặt được đan bằng dây, thiền sư thường dùng để ngồi. Tiết Ngũ Thế Hòa Thượng trong TĐT q. 15 ghi: “師 元 和 十 三 年 化 緣 周 畢、澡 浴 焚 香、端 坐 繩 床、大 集 僧 眾、殷 勤 叮 囑 囑 累、開 喻 門 徒。。師 正 坐 叠 掌 放 光、一 剎 那 間 便 歸 圓 寂。 – Đến niên hiệu Nguyên Hòa thứ 13 (818) sư hóa duyên đã xong, tắm gội đốt hương, ngồi ngay ngắn trên giường dây, cho triệu tập chư tăng để ân cần dặn dò nhắn nhủ, giảng giải khuyên bảo môn đồ…. Sư ngồi kiết già chắp tay, phóng hào quang, trong khoảng sát na liền viên tịch”. Tiết Huyền Sa Sư Bị trong NĐHN q. 7 ghi: “有 一 般 坐 繩 床 和 尚、稱 善 知 識、問 著 便 搖 身 動 手、點 眼 吐 舌 瞪 視。 – Có một bọn Hòa Thượng ngồi giường dây xưng là Thiện tri thức, khi bị người khác hỏi liền động thân múa tay, le lưỡi trừng mắt”. ● 剩 語. Lời nói đã có trong tâm nhưng chưa nói ra. Đối với Thiền Tông, có thặng ngữ cũng là đã chấp trước vào lời nói, nghĩa lý rồi. Tiết Pháp Hoa Toàn Cử Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “開 口 又 成 增 語、不 開 口 又 成 剩 語。 – Mở miệng thì thành tăng ngữ, còn chẳng mở miệng thì thành thặng ngữ”. ● 剩 人. Hiệu của Thiền tăng Hàm Khả sống vào đời Thanh. X. Hàm Khả. ● 剩 法. Sự vật hoặc đạo pháp dư thừa, rối rắm. Tiết Thị Đổng Văn Thừa Thiền Nhân trong HSLNMDT q. 1 ghi: “佛 祖 怜 憫 此 輩、特 特 出 世 一 番、并 無 剩 法 與 人、不 過 直 指 此 心、令 一 切 眾 生、當 下 知 歸。 – Phật Tổ thương xót bọn người này nên chỉ xuất thế một lần, không có một pháp dư thừa nào để cho người, chẳng qua là chỉ thẳng tâm này, khiến cho tất cả chúng sinh, ngay nơi đó biết trở về”. ● 深 師 (905-965). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Khổng, người Hoài Tập, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ trì Từ Vân Sơn Tự ở Liên Châu (tại huyện Liên, Quảng Đông). ● 甚 底. Cái gì? Cái chi? Bài thơ Ngôn Pháp Hoa trong Như Tịnh Ngữ Lục, q. hạ ghi: 口 內 不 知 道 甚 底 惱 亂 風 光 沒 奈 何 南 北 東 西 無 定 義 “Cước hạ trường tha phá mộc lý Khẩu nội bất tri đạo thậm để? Não loạn phong quang một nại hà Nam bắc đông tây vô định nghĩa”. “Dưới chân lê mãi đôi guốc mẻ, Trong miệng không biết nói cái chi? Làm mưa làm gió ai cũng ngán, Nam, Bắc, Đông, Tây loạn xạ bì!”. ● 親 的. Khế hợp, ăn khớp với thiền pháp. Tiết Dục Vương Hoài liễn Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “若 是 本 分 衲 僧、纔 聞 舉 著、一 擺 擺 斷、不 受 纖 塵、獨 脫 自 在、最 爲 親 的。 – Nếu là nạp tăng biết việc bên trong của mình, vừa nghe nêu ra lập tức lãnh hội, chẳng nhận một mảy trần, siêu thoát tự tại, thật là khế hợp với thiền pháp. “ ● 親 疏. Khế hợp với thiền pháp là thân. Tách rời, không khế hợp với thiền pháp là Sơ. Tiết Vong tăng cổ túc trong NĐHN q. 6 ghi: “昔 有 一 老 宿、曰:這 一 片 田 地 分 付 來 多 時 也、我 立 地 待 汝 搆 去。法 眼 云:山 僧 如 今 坐 地、待 汝 搆 去、還 有 道 理 也 無?那 箇 親、那 箇 疏、試 裁 斷 看。 – Thuở xưa có một vị thiền sư già bảo: Một mảnh đất này giao lại cũng mất ít nhiều thời gian. Ngay đây ta đợi ông ngươi nhận lãnh! Pháp Nhãn nói: Hôm nay sơn tăng ngồi chờ ngươi nhận lãnh, còn có đạo lý hay không? Cái nào thân, cái nào sơ? Hãy dứt khoát xem!” ● 身 心 一 如. Còn gọi: Sắc Tâm Bất Nhị, Tính Tướng Bất Nhị. Thân chỉ cho sắc thân, thân thể. Tâm chỉ cho tâm linh, tinh thần. Tức là nhục thể cùng tinh thần là một thể không hai, là 2 mặt của một thể, thân tức là thân của tâm, tâm tức là tâm của thân. Ngoại đạo Tiên Ni (Pàli: Senika) ở ấn Độ cổ đại, cho rằng thân là vô thường sinh diệt, duy có tâm là thường trụ bất biến, đây là đối với thân khởi đoạn kiến, đối với tâm khởi thường kiến. Bởi thân tâm cùng với thiện ác, khổ vui đều có tương quan mật thiết, không có pháp nào riêng tự tồn tại, nếu thân vô thường sinh diệt thì tâm cũng vậy; nếu tâm là thường trụ bất diệt thì thân cũng vậy; cho nên cho Thân tâm nhất như; là thật tướng của pháp giới. ● 身 心 脫 落. Còn gọi: Thoát Lạc Thân Tâm. Thân tâm rỗng rang, thoát khỏi mọi phiền não vọng tưởng mà bước vào cảnh giới tự tại chân không vô ngã. Thiên Đồng Như Tịnh Thiền Sư Tục Ngữ Lục q. 8 (Vạn Tục 124, 495 thượng) ghi: “師 因 入 堂、懲 納 子 坐 睡 云:夫 參 禪 者、身 心 脫 落、只 管 打 睡 作 麼? – Sư gặp dịp vào tăng đường, quở trách các thiền tăng ngủ gục rằng: Tham thiền cốt để thân tâm rỗng rang, tại sao chỉ lo ngủ gục?” Hoặc có người nói: Thân tâm thoát lạc là môn hướng thượng, Thoát lạc thân tâm là môn hướng hạ. ● 親 切. Khế hợp với thiền pháp. Phần “Tục Nghệ Ngôn” trong NHQL q. 30 ghi: “投 子、芙 蓉 之 後、能 振 洞 上 一 宗 者、天 童 覺、眞 歇 了 也。二 師 見 處 親 切、而 高 行 碩 德 俱 能 不 愧 古 人。 – Sau ngài Đầu Tử và Phù Dung, người có khả năng làm hưng thạnh tông Tào Động là hai vị Thiên Đồng Giác và Chân Hiết Liễu. Nhận thức của hai vị rất phù hợp, tương ứng với thiền pháp, và có đức hạnh cao thượng không hổ với người xưa. “ ● 神 照 (776-838). Thiền tăng đời Đường, họ Trương, người Thanh Thành Thục Châu (huyện Quán, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Trí Như ở chùa Thánh Thiện tại Đông Đô, thuộc tông Hà Trạch đời thứ 4, trụ trì chùa Phụng Quốc ở Đông Đô. Hiệu: Văn Từ Thiền Sư. Tác phẩm: Thần Chiếu Đại Sư Quảng Lục. ● 神 照 大 師. Hiệu của Thiền tăng Pháp Chân sống vào đời Đường. X. Pháp Chân. ● 神 頭 鬼 面. Hành vi ngông cuồng, ngôn hạnh kỳ lạ ít thấy. Vô Môn Quan ghi: “瑞 巖 彥 和 尚、每 日 自 喚 主 人 公、復 自 應 諾。乃 云:惺 惺 著、諾。他 時 異 日、莫 受 人 瞞、諾 諾。無 門 曰:瑞 巖 老 子、自 買 自 賣、弄 出 許 多 神 頭 鬼 面。 – Mỗi ngày, Hòa Thượng Thụy Nham Ngạn tự gọi: Ông chủ! Rồi tự đáp: Dạ! Và nói tiếp: Tỉnh tỉnh nghen! Dạ! Mai kia mốt nọ chớ bị người gạt! Dạ dạ! Vô Môn nói: Ông già Thụy Nham tự mua tự bán, có nhiều ngôn hạnh kỳ lạ ít thấy”. ● 神 會 (686-795). Thiền tăng đời Đường, người khai sáng tông Hà Trạch, họ Cao, người Tương Dương (Tương Phàn, Hồ Bắc) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư học đạo Nho, về sau để tâm đến Phật giáo, trước tiên theo pháp sư Hạo Nguyên chùa Quốc Xương xuất gia, chẳng bao lâu lại theo Thần Tú học tập. Sau đến Tào Khê, Thiều Châu (Thiều Quan, Quảng Đông) tham kiến Huệ Năng, thông qua hỏi đáp, thử nghiệm mới hay thầy trò khế hợp. Sau khi Huệ Năng viên tịch, sư đến khắp nơi trong Lạc Dương xiển dương học thuyết của Huệ Năng. Tại chùa Đại Vân sư biện luận với các thiền sư Bắc tông, chỉ trích Bắc tông “truyền thừa là bàng, pháp môn là tiệm”. Do Bắc tông thù ghét nên sư bị đuổi ra khỏi kinh thành. Trong khi dẹp loạn sứ quân, sư vì triều đình mở giới đàn độ tăng, dùng “Hương thủy tiền” giúp cho quân phí. Sau khi hòa bình, vua Đường Túc Tông triệu sư vào cung, cất thiền viện trong chùa Hà Trạch, Lạc Dương, ban hiệu “Hà Trạch Đại sư”. Thụy là “Chân Tông Đại Sư”. Đường Đức Tông truy lập sư làm Tổ thứ bảy Thiền Tông. Thần Hội chủ trương “Vô niệm” làm tông, “định huệ nhất thể, bình đẳng song tu”, tuyên truyền thuyết đốn ngộ “đơn đao trực nhập, trực liễu kiến tính”. Đệ tử có Vô Danh, Pháp Như v. v… Tác phẩm: Hiển Tông Ký. Học giả Hồ Thích sưu tập Thần Hội Ngữ Lục 3 quyển. ● 會 和 尚 遺 集. Gọi đủ: Hồ Thích Hiệu Đôn Hoàng Đường Tả Bản Thần Hội Hòa Thượng Di Tập. Sách, 4 quyển, do học giả cận đại là Hồ Thích biên, được Thư viện Á Đông tại Thượng Hải ấn hành vào năm 1930. Hồ Thích sưu tập trong văn hiến Đôn Hoàng các tư liệu về Thần Hội và thêm phần đối chiếu hiệu đính với các sách khác như: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Tống Cao Tăng Truyện. Riêng có 4 bài bạt, 1 thiên Thần Hội Truyện, phụ lục 1 quyển (tức là 3 bài Thần Hội Ngữ Lục trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 28). Còn phụ phần trình bày và phân tích về tư tưởng, dấu vết hoạt động, tác phẩm của Thần Hội. ● 神 祿. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị. Khi ra hoằng pháp sư trụ viện Vĩnh Hưng tại núi Liên Hoa, Phúc Châu, thiền tăng bốn phương tụ về. Mân Vương từng mời sư khai đường thuyết pháp. ● 2. Thiền tăng đời Tống (872-976), người xứ Phúc Châu. Sư thờ Thiền Sư Thụy Nham Sư Ngạn làm thầy, lâu ngày sư xin làm thị giả để báo đáp ân đức của Ngài. Sau khi thầy tịch, sư khai sơn lập viện Thụy Phong ở Ôn Châu (nay thuộc Chiết Giang), người học đến nương tựa, đạo đức vang xa. ● 神 宜 (?-1216). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 13, nối pháp Thiền Sư Thường Chiếu. Sư họ Quách, quê ở Ngoại Trại (nay thuộc tỉnh Hà Tây), miền Bắc Việt Nam. Sau khi Thường Chiếu tịch, sư về trụ trì chùa Thắng Quang làng Thị Trung, Kim Bài. Nơi đây, sư diễn hóa tông thừa, đồ chúng theo học rất đông. Đến ngày 18 tháng 2 năm Bính Tý, nhằm niên hiệu Kiến Gia thứ 6 (1216) đời Lý Huệ Tông, sư gọi đệ tử là ẩn Không đến, lấy Chiếu Đối Bản và Nam Tông Tự Pháp Đồ của Thường Chiếu trao cho rồi dặn: “Hiện nay loạn lạc, người khéo giữ bản đồ này, cẩn thận đừng để cho binh lửa làm hoại, ắt là Tổ phong của ta không mất vậy”. Nói xong, sư tịch. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 神 光 寺. Còn gọi: Chùa Keo. Chùa ở làng Dũng Nghĩa, huyện Giao Thủy, tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Chùa khởi dựng vào đầu thế kỷ XVII, đã qua nhiều lần xây dựng lại, đợt trùng tu lớn nhất quyết định hình thức của chùa Keo lại ở vào thời kỳ gần một thế kỷ sau (năm 1707). Sử chép rằng, đã có một ngôi chùa Keo cổ sơ, ra đời từ thời Lý Thánh Tông ở ven sông Hồng. Khuôn viên chùa rất rộng, diện tích tới 5,7ha, chỗ đặt các công trình chính dọc 300m, ngang l25m. Có đến 15 thành phần công năng tạo thành quần thể kiến trúc: cột cờ, sân lát đá, tam quan ngoài, ao trước chùa, tam quan trong, sân đất, chùa Hộ, chùa Phật, sân gạch, tòa Giá Roi, tòa Thiêu Hương, tòa Phục Quốc, tòa Thượng Điện, gác chuông, nhà Tổ, ngoài ra là hai dãy hành lang chạy dài hai bên từ chùa Hộ trở vào. Chùa hiện nay còn 107 gian (gác chuông tính một gian), trước đây có 154 gian. Trình độ tổ chức không gian ở đây “phức tạp một cách trật tự” theo kiểu “Tiền Phật hậu Tổ: khu chùa phía trước và khu đền thờ Thiền Sư Không Lộ phía sau tách khỏi nhau. Các đơn thể kiến trúc, những thành phần, chi tiết và hình thức của chúng, cách dùng gỗ lim, nghệ thuật điêu khắc, màu sắc… rất độc đáo. Đặc biệt gác chuông chùa Keo là một kiệt phẩm kiến trúc mỹ thuật vô giá, một công trình kết cấu gỗ 3 tầng, cao 12m, vừa gây được ấn tượng đồ sộ, vừa có nhịp điệu và chi tiết hài hòa: trong cái nguy nga vẫn có phần đầm ấm, trong cái cốt cách vươn lên vẫn có cái phong thái khoan thai trầm lắng rất Việt Nam. Theo: VHVNTH 1989-1995. ● 生 醭 舌 生 毛. Môi miệng lên meo, cái lưỡi sinh mốc. Từ hình dung tình trạng tịnh khẩu rất lâu. Tiết Khai thị Duy Na trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 3 ghi: 更 拼 取 唇 生 醭、舌 生 毛、一 丁 不 識、百 事 不 能。只 恁 麼 挨 將 去、異 時 驀 忽 向 垃 圾 堆 頭、點 出 一 句 半 句、驚 天 動 地、其 聲 名 腥 薌、自 不 容 掩 矣。 – Hơn nữa, cần phải tịnh khẩu rất lâu, một chữ chẳng biết đến, muôn việc chẳng màng đến. Chỉ thế ấy mà đun đẩy tiến tới đi! Một hôm nào đó chợt tan đống rác rưởi, đưa ra một câu nửa câu làm kinh động đất trời. Lúc ấy, tiếng tăm của ông vang dậy, dù không muốn cũng không được”. ● 神 贊. Thiền tăng đời Đường, người Phúc Châu Trung Quốc. Ban đầu sư xuất gia học đạo tại chùa Đại Trung Phúc Châu, về sau hành cước gặp Bách Trượng Hoài Hải khai ngộ. Trở về chùa Đại Trung vì Bản sư thuyết pháp, Bản sư ngay dưới lời nói của sư liền cảm ngộ. Tuổi già trụ Cổ Linh giáo hóa đồ chúng. Một hôm, trong tiếng chuông báo cạo tóc tắm gội sư an nhiên thị tịch. ● 晨 參暮 請. Sớm thưa chiều hỏi. Vào lúc sáng sớm hoặc khi chạng vạng, chư tăng vào phương trượng của Hòa Thượng để tham bái, thỉnh ích. Là luật lệ hằng ngày trong tự viện. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “古 人 有 晨 參 暮 請。 – Người xưa đã sớm thưa chiều hỏi”. ● 晨 夕 參 扣. Sớm chiều gõ cửa phương trượng để cầu xin chỉ dạy. Tắc 96, Bích Nham Lục (Đại 48, 219 thượng) ghi: “近 聞 達 磨 大 師 住 少 林。乃 往 彼 晨 夕 參 扣。達 磨 端 坐 面 壁。莫 聞 誨 勵。 – Gần đây nghe nói Đại sư Đạt Ma ở tại chùa Thiếu Lâm, Huệ Khả mới đến đó sớm chiều gõ cửa cầu xin chỉ dạy. Đạt Ma ngồi ngay thẳng, quay mặt vào vách không ngó ngàng đến Sư”. ● 神 秀 (606-706). Thiền tăng đời Đường, người khai sáng Thiền Bắc tông, họ Lý, người Úy Thị, Biện Châu (Hà Nam) Trung Quốc. Tuổi trẻ theo Nho giáo, sư học rộng hiểu nhiều, về sau chuẩn bị xuất gia nghiên cứu Phật điển. Tầm sư học đạo, đến chùa Đông Sơn núi Song Phong, Kỳ Châu (Kỳ Xuân, Hồ Bắc) yết kiến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, làm tạp dịch 6 năm như bửa củi, gánh nước v. v… Sư rất được Hoằng Nhẫn coi trọng, thường nói “pháp Đông Sơn đều thuộc về Tú”. Được tôn làm Thượng tọa. Giữ chức “Giáo thọ sư”. Sau khi Hoằng Nhẫn viên tịch, sư đến chùa Ngọc Tuyền núi Đương Dương truyền thọ pháp thiền, đệ tử rất đông. Lúc tuổi hơn 90, sư phụng chiếu vào đô, được Võ Tắc Thiên, Trung Tông, Dục Tông tôn trọng sùng bái, ban hiệu “Tam Đế Quốc Sư”. Do ở phương bắc hoằng dương pháp thiền nên pháp hệ của sư gọi là Bắc Tông. Sau khi mất, thụy là “Đại Thông Thiền Sư”. Đệ tử chủ yếu có Nghĩa Phúc, Kính Hiền, Phổ Tịch, Huệ Minh. v. v… ● 唇 吻. Lời nói đầu miệng. Tiết Kim Sơn Đàm Dĩnh Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “纔 涉 唇 吻、便 落 意 思。盡 是 死 門、終 非 活 路。 – Vừa dính vào lời nói liền rơi vào ý nghĩ, thảy là cửa chết đều không phải con đường sống. “ ● 神 晏 (?-943). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lý, người Đại Lương (Khai Phong, Hà Nam) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư học Nho giáo, thông minh mẫn tiệp. Năm 16 tuổi sư xuất gia, hâm mộ pháp thiền. Sau yết kiến Tuyết Phong Nghĩa Tồn, hỏi đáp vừa ý, cơ duyên khế hợp, rõ ràng liễu ngộ và được truyền tâm ấn. Mân chúa Vương Thẩm Tri thường hỏi pháp yếu, xây cất chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn, thỉnh sư đến ở cử dương tông chỉ. Thần Yến ở đây hơn 30 năm đồ chúng tụ hội thường hơn ngàn người. Đời Hậu Tấn, niên hiệu Thiên Phúc thứ 8 (943) sư thị tịch, thọ hơn 70 tuổi. Vua ban hiệu “Hưng Thánh Quốc Sư”. Tác phẩm: Cổ Sơn Tiên Hưng Thánh Quốc Sư Hòa Thượng Pháp Đường Huyền Yếu Quảng Tập 1 quyển. ● 慎 庵. Thiền tăng đời Minh, họ Lý, người xứ Hải Xương (nay là huyện Hải Ninh, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé sư theo Ngọc Hành Cơ Công ở chùa Linh ẩn học đạo, kinh sách hễ qua mắt là sư đều đọc thuộc. Lớn lên sư theo vị Trụ trì chùa Linh ẩn là Toàn Am Lý Công cạo tóc thụ giới cụ túc, và đắc pháp nơi Bích Am Lân Công. Khoảng niên hiệu Cảnh Thái (1450-1456), sư ra hoằng pháp trụ chùa Hiển Ninh ở Hàng Châu. Khoảng niên hiệu Thiên Thuận, sư trụ trì chùa Linh ẩn, chấn chỉnh quy củ thiền môn, loại bỏ những điều hư tệ lập ra quy chế mới, bồi dưỡng kẻ hậu học nên người học đạo đều tôn trọng sư. Sư mất vào năm 73 tuổi. ● 得. Thiền tăng đời Đường, tên họ quê quán không rõ. Thiền Sư Phong Can đang đi trên đường nơi Xích Thành chợt nghe tiếng trẻ con khóc; bởi là con hoang không nhà cửa, Phong Can bồng về chùa Quốc Thanh nhờ chư tăng nuôi dưỡng nên có tên là “Thập Đắc”. Khi lớn lên sư được giao việc lo nhang đèn nơi Thực đường. Một hôm sư leo lên bàn ngồi ăn cùng các tượng Phật, kêu Kiều Trần Như là Tiểu quả Thanh văn, cười đùa không xem ai ra gì; chư tăng đánh đuổi sư; bãi chức rồi sai làm việc dưới nhà trù. Bình sinh bộ dạng điên khùng làm bạn với Hàn Sơn, hay ngâm vịnh xướng họa với nhau, thi phong rất tự nhiên thanh thoát. Sau đó sư cùng Hàn Sơn đi ra khỏi chùa không ai biết dấu tích. Người đời sau sưu tập thơ của sư và gởi vào cuốn “Hàn Sơn Tử Thi Tập”. ● 十 玄 談. Thi ca, 1 quyển, do Thiền Sư Đồng An Thường Sát soạn vào đời Đường, được xếp vào “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” quyển 29, “Liên Đăng Hội Yếu” quyển 30. Nội dung chia ra 10 huyền: Tâm ấn, Tổ ý, Huyền cơ, Trần dị, Phật giáo, Hoàn hương khúc, Phá hoàn hương khúc, Tứ cơ, Chuyển vị, Chính vị tiền. Mỗi huyền được làm bằng bài tụng thất ngôn. Năm bài đầu tự thuật yếu chỉ tông môn, năm bài sau chỉ ra con đường đi thực tiễn cho người học. Do nơi khắc bản sai khác nên tên gọi 10 huyền có chỗ bất đồng. ● 十 牧 牛 圖 論 解. Luận, 1 quyển do Quảng Trí, Thiền Sư Việt Nam soạn vào đời Lê Dụ Tông (1719). Trong Tục Tạng hiện có hai loại tranh chăn trâu. Một là tranh Đại thừa, hai là tranh Thiền Tông. Phổ Minh Thiền Sư và Cự Triệt Thiền Sư, mỗi vị lại làm mười bài thi tụng cho muời bức tranh này. Ngài Pháp Thông Quảng Trí đã luận giải mười bài thi tụng của Phổ Minh Thiền Sư, lời văn rất sáng sủa, ý nghĩa rất uyên bác, chú trọng thức tỉnh lòng người học tu đúng chính pháp. Trước khi vào chính luận, ngài có viết một đoạn luận về chưa chăn, toàn đề cập đến những hạng trong giới xuất gia mà không nói gì đến hạng tại gia, quả đây là lời nhắc nhở sâu xa của ngài đối với kẻ tu hành. Dưới đây là nội dung 10 bức tranh chăn trâu kèm theo 10 bức tranh khổ lạc nhân duyên: 1. Vị mục (chưa chăn) + Khoan hoài du ngoạn ẩm tửu. 2. Sơ điều (mới dắt) + Sơ tĩnh lự. 3. Thọ chế (chịu phép) + Tĩnh lự. 4. Hồi đầu (quay đầu) + Tĩnh lư. 5. Thuần phục (ngoan ngoãn)+ Khinh an. 6. Vô ngại (Không ngại) + Hòa quang đồng trần. 7. Nhậm vận (Theo cuộc) + Tuyền thạch tự ngu. 8. Tương vong (Quên nhau) + Đại thể đại yết. 9. Độc chiếu (Riêng chiếu) + Giác thiên hoảng lộ. 10. Song dẫn (Cả 2 đều vắng bặt) + Nan danh nan trạng (Khó gọi tên, khó miêu tả). Đây là quyển sách được viết ra do 1 thiền sư thạch trụ và theo lời yêu cầu của vua Lê Dụ Tông nên là 1 tư liệu Thiền Tông quý giá của dân tộc Việt Nam. ● 十 牛 圖 頌. Gọi đủ: Trụ Đảnh Châu Lương Sơn Quách Am Hòa Thượng Thập Ngưu Đồ Tụng Tinh Tựa Tập Tranh, 1 quyển, do Quách Am Sư Viễn vẽ vào đời Tống, có thuyết nói do Thiền Sư Thanh Cư vẽ, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 113, trang 917. Thập ngưu đồ (10 bức tranh chăn trâu) theo thứ tự là: 1. Tìm trâu. 2. Thấy dấu. 3. Thấy trâu. 4. Được trâu. 5. Chăn trâu. 6. Cưỡi trâu về nhà. 7. Quên trâu còn người. 8. Người trâu đều quên. 9. Trở về nguồn cội. 10. Vào chợ duỗi tay. Mười bức tranh này lấy việc chăn trâu làm đề tài chính và dưới mỗi bức đều có phụ phần tự tự cùng kệ tụng để giải thích phương pháp và thứ lớp của việc tu thiền. Thập Ngưu Đồ được in chung với Tín Tâm Minh, Chứng Đạo Ca, Tọa Thiền Nghi thành 1 quyển sách mang tên “Tứ Bộ Lục”. ● 十 二 時. 1. Mười hai giờ trong trọn ngày đêm. Đây là cách tính giờ của người Trung Quốc thời xưa, đem trọn một ngày đêm chia làm 12 giờ như: Tý, Sửu, Dần, Mão v. v… Mỗi giờ bằng 120 phút của giờ hiện nay. Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “問:十 二 時 中 如 何 用 心?師 曰:汝 被 十 二 時 辰 使、老 僧 使 得 十 二 時。 – Có người hỏi: Trọn ngày đêm dụng công ra sao? Sư đáp: Ngươi bị trọn ngày đêm sai khiến, còn Lão tăng đây sai khiến được trọn ngày đêm. “ ● 2. Tên gọi một loại ca khúc của thế gian. Cứ mỗi ca khúc được chia làm 12 bài ca nhỏ (đoạn), mỗi đoạn được phân biệt bằng cách lấy tên của 12 giờ đặt cho, như: Dạ bán tý (Tý. Nửa đêm), Kê minh sửu (Sửu. Gà gáy), Bình đán dần (Dần. Tờ mờ sáng) Nhật xuất mão (Mão. Mặt trời lên) v. v… Loại thể tài ca khúc này thường được giới tăng sĩ sử dụng như: Thập nhị thời ca của Hòa Thượng Bảo Chí trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 29. ● 十 方 佛 塔. Còn gọi: Chư Phật Tháp, Thất Phật Tháp. Nằm trong khuôn viên chùa Ngũ Tổ, cách trung tâm huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc 12km về phía đông, được xây vào niên hiệu Tuyên Hòa thứ 3 (1121) đời Tống. Tháp xây bằng sa thạch màu xanh, 7 tầng, hình bát giác, cao 6,36m. Chính diện tầng thứ nhất xây một Phật khám, trên đỉnh Phật khám khắc hai chữ “Thập phương”, nên gọi là “Thập Phương Phật Tháp”. Dưới đáy Phật khám khắc một chữ “Phật” lớn. Ngoài ra bảy mặt có khắc danh hiệu bảy vị Phật, đó là Nam Mô Đa Bảo Như Lai, Bảo Thánh Như Lai, Diệu Thanh Sắc Như Lai, Quảng Bác Thanh Như Lai, Ly Bố Úy Như Lai, Cam Lộ Vương Như Lai, A Di Đà Như Lai, nên còn gọi là “Thất Phật Tháp”, “Chư Phật Tháp”. Tầng 2, 3, 4 mặt nam có mở ra Phật khám, trong khám tượng Phật tạo dáng nghiêm cẩn, hình tướng khôi ngô, sinh động rất giống, phong cách thanh tú, là tác phẩm thượng thừa trong các tượng Phật Bồ Tát điêu khắc đá vào đời Tống. ● 十 方 普 覺 寺. ở sườn nam núi Thọ An, thuộc Bắc bộ Tây Sơn, khu Hải Điện, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Chùa được xây dựng vào khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường, ban đầu gọi là “Đâu Suất Tự”. Niên hiệu Diên Hựu thứ 7 (1320) đời Nguyên mở rộng xây dựng, sử dụng lao động hơn vạn người, hao mất 500 vạn lượng bạc, niên hiệu Chí Thuận thứ 2 (1331) hoàn thành, đổi tên là “Chiêu Hiếu Tự‹, “Hồng Khánh Tự”. Khoảng niên hiệu Tuyên Đức, Chính Thống (1426-1449) đời Minh xây cất lại nữa, đổi tên là “Thọ An Sơn Thiền Lâm”, cùng ban tặng một bộ “Đại tạng kinh” đặt ở điện Chư Phật. Niên hiệu Thành Hóa thứ 18 (1482) nơi cao ráo phía trước chùa xây một tòa Như Lai Bảo Tháp, khoảng niên hiệu Sùng Trinh (1628-1643) đổi tên là “Vĩnh An Tự”. Niên hiệu Ung Chính thứ 12 (1734) đời Thanh trùng tu, ban tên “Thập Phương Phổ Giác Tự”. Bởi trong chùa có tượng Phật nằm bằng đồng rất lớn đời Nguyên cho nên tục gọi là “Ngọa Phật Tự”. Chùa quay lưng về hướng bắc mặt nhìn về hướng nam, do ba cụm sân sướng ngang hàng họp thành. Trong chùa kiến trúc chủ yếu có Thiên vương điện, Tam thế Phật điện, Ngọa Phật điện. Trong Ngọa Phật điện có tượng Phật nằm bằng đồng được tạo vào niên hiệu Chí Trị thứ 1 (1321) đời Nguyên, dùng 50 vạn cân đồng, dài hơn 5m, tay phải áp má, tay trái duỗi thẳng, mặt sau là 12 tượng Phật nặn bằng đất đứng xung quanh, biểu thị cảnh tượng Thích Ca Mâu Ni niết bàn dưới cây sA La dặn dò hậu sự đối với đệ tử, tạo dáng hồn hậu chất phác và trong sáng, thể hiện sự thành tựu cao độ của nghệ thuật điêu khắc và kỷ thuật đúc tượng đời Nguyên. Sau Ngọa Phật điện có Tàng kinh lâu 5 gian. Đông viện có Trai đường, Đại thiền đường, Tế nguyệt hiên, Thanh lương quán, Tổ đường. Tây viện là Hành cung. Trong chùa có đầm ao lang đình, tùng xanh trúc biếc, cây xưa đá lạ, ngoằn ngoèo thú vị, có đầy đủ phong vị đình viên. ● 十 方 世 界 是 全 身. Pháp thân của người triệt để giác ngộ đầy khắp cả mười phương thế giới, cùng với mười phương thế giới kết thành một khối, nên nói: “Thập phương thế giới thị toàn thân”. Đây là cảnh giới thiền ngộ. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “所以長沙和尚道。。。百 尺 竿 頭 須 進 步。十 方 世 界 是 全 身。 Sở dĩ Trường Sa Hòa Thượng đạo: Bách xích can đầu tu tiến bộ… thập phương thế giới thị toàn thân. – Thế nên Hòa Thượng Trường Sa nói: Đầu sào trăm trượng cần phải tiến bước…. mười phương thế giới là toàn thân. “ ● 十 萬 八 千. Mười muôn tám ngàn (108. 000). Ý chỉ xa lìa thiền pháp mười muôn tám ngàn dặm, cũng chính là căn bản không hợp với thiền pháp. Vô Môn Quan ghi: “且 道、是 說 法 不 說 法。開 口 即 失、1 , 閉 口 又 喪。不 開 不 閉、十 萬 八 千。 – Thử hỏi là có thuyết pháp hay không có thuyết pháp? Mở miệng liền mất, ngậm miệng cũng chẳng còn, chẳng mở chẳng ngậm, mười muôn tám ngàn!” ● 七 級 浮 圖 塔. Là tháp 7 tầng chùa Cực Lạc, thành phố Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc, nên còn gọi “Thất cấp phù đồ tháp”. X. “Cực Lạc Tự Tháp”. ● 七 花 八 裂. Còn gọi: Thất Điên Bát Đảo, Thất Chi Bát Tiết, Thất Linh Bát Lạc, Thất Ao Bát Đột. 1. Lúng ta lúng túng. Phần Bình xướng, tắc 9, Triệu Châu Tứ Môn trong Bích Nham Lục q. 1 (Đại 48, 149 hạ) ghi: “纔 問 著。卻 是 極 則 相 似。纔 拶 著。七 花 八 裂。 – Vừa hỏi đến, tợ như rất cao minh; một khi bị bức bách thì lúng ta lúng túng”. ● 2. Tan nát. Tắc 14, Bích Nham Lục (Đại 48, 154 hạ) ghi: “無 孔 鐵 鎚。七 花 八 裂。老 鼠 咬 生 薑。 – Chùy sắt không lỗ đập cho tan nát con chuột gặm gừng sống”. ● 3. Đại triệt đại ngộ. Niệm Phật Tông Thừa của Thiền Sư Triệt Ngộ ghi: 一 句 彌 陀、五 宗 公 案 八 裂 七 花、不 勞 判 段 “Nhất cú Di Đà, Ngũ tông công án Bát liệt thất hoa. bất lao phán đoán”. “Một câu Di Đà, công án năm tông Đại triệt đại ngộ, chẳng nhọc phán đoán”. ● 七 師. Đời Đường, thiền tăng Mễ Hòa Thượng còn được gọi là Thất sư. X. Mễ Hòa Thượng. ● 七 塔 寺. ở phố Bách Trượng, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, bởi trước chùa có xây 7 tòa bảo tháp mà có tên, là một trong bốn đại tùng lâm ở Chiết Đông. Chùa được xây vào niên hiệu Đại Trung thứ 12 (858) đời Đường, đương thời do Quan tể Phần Ninh là Nhậm Cảnh Cầu bỏ nhà làm chùa, gọi là “Đông Tân Thiền Viện”, thỉnh Thiền Sư Tâm Cảnh chùa Thiên Đồng trụ trì. Niên hiệu Đại Trung Tường Phù thứ 1 (1008) đời Tống lại đổi tên là “Sùng Thọ Tự”. Vào đời Tống vùng Ninh Ba trên biển buôn bán phát đạt, Phật giáo thịnh hành, chùa nhờ gần thành nên hương khói ngày càng thịnh. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 20 (1387) đời Minh, bởi trên biển không yên ổn, Dương Hòa mới đem tăng chúng chùa Phổ Đà và tượng Phật Quán Âm đến chùa này, thờ tượng Quán Âm nơi Đại hùng bảo điện, và đổi tên chùa là “Bổ Đà Tự” cũng gọi “Tiểu Phổ Đà”, “Nam Hải Phổ Đà”. Niên hiệu Khang Hy thứ 21 (1682) đời Thanh, ở trước chùa xây 7 tòa bảo tháp bèn đặt tên là “Thất Tháp Tự”. Niên hiệu Quang Tự thứ 16 (1890) do Từ Viễn Trường Chí trụ trì, sửa sang chùa chiền, thiền tăng tụ hội. Năm thứ 20 (1894) ban tấm biển “Thất Tháp Báo Ân Tự”. Năm Dân Quốc trở đi, truyền giới giảng kinh, kiến thiết Tàng kinh lâu, lập Phật học viện, đại chấn tông phong Lâm Tế. Tự viện hiện giữ gìn hoàn hảo, có Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Đại thánh điện, Ngọc Phật điện, Phương trượng viện. Trong chùa còn có tháp Thiền Sư Tâm Cảnh xây vào niên hiệu Hàm Thông thứ 14 (873) đời Đường, hai chiếc chuông đồng đời Tống, 500 họa tượng La hán đời Thanh. ● 七 通 八 達. Mô tả cách ngộ triệt để rõ ràng, Vận dụng thông suốt không chướng ngại. Tiết Lặc Đàm Thiện Thanh Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “子 入 處 眞 實、得 坐 披 衣、向 後 自 看、自 然 七 通 八 達 去。 – Con vào chỗ chân thật, được ngồi mặc áo. Từ đây về sau hãy tự giữ gìn, tự nhiên ngộ triệt để rõ ràng vận dụng thông suốt không chướng ngại. “ ● 室 中 百 問. X. Thùy Ngữ Bách Tắc. ● 七 出 八 沒. Mô tả cách ngộ triệt để, vận dụng không bị chướng ngại. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “到 龍 門 上 堂 云。有 舌 胡 利。無 口 非 啞。七 出 八 沒。風 流 儒 雅。便 下 座。 – Sư đến chùa Long Môn thượng đường nói: Bộ có lưỡi mới hoạt bát sao? Không lưỡi đâu phải câm. Khi triệt ngộ vận dụng không chướng ngại thật là phong lưu nho nhã. Rồi xuống toà. “ ● 七 穿 八 穴. Còn gọi: Thất Huyệt Bát Xuyên, Thất Tung Bát Hoành, Thất Xuất Bát Một, Thất Thông Bát Đạt. Đại triệt đại ngộ. Tắc 6, Bích Nham Lục (Tục 117,135 thượng) ghi: “七 穿 八 穴。向 什 麼 處 去。放 過 一 著。 – Đại triệt đại ngộ còn muốn gì đây? Hãy tha cho một phen. “ ● 實. Đối lại: Quyền. Nhà Phật thường gọi chân lý vĩnh hằng bất biến là “Thật”. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “這 一 喝。也 有 權。也 有 實。也 有 照。也 有 用。– Một tiếng hét này cũng có quyền, cũng có thật, cũng có chiếu, cũng có dụng”. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “即 同 一 佛 教、而 大 小 不 同;即 同 一 大 乘、而 權 實 不 同。蓋 機 既 萬 殊、故 教 非 一 端。 – Tuy cùng là giáo pháp của Phật mà Đại, Tiểu chẳng đồng; dù cùng là Đại thừa mà quyền thật chẳng đồng. Bởi vì căn cơ đã có muôn loại sai khác cho nên giáo pháp không phải một thứ”. ● 實 蔭 (1718-1791). Thiền tăng đời Thanh, họ Chung, tự Phật Duệ, người xứ Hán Dương, Hồ Bắc, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Minh Trung, đời thứ 40 hệ Nam Nhạc. Trụ trì các chùa Càn Phong, Nam Bình, Thánh Nhân. Tác phẩm: Phật Duệ Tập. ● 實 際 理 地. Chỉ cảnh giới thiền ngộ chân thật không hai, thanh tịnh vô nhiễm. Bài tựa của Như Tịnh Ngữ Lục ghi: “夫 佛 祖 道、實 際 理 地、本 離 言 語 相。然 佛 事 門 中、爲 物 垂 慈、則 雖 非 有 爲、又 非 無 語。 – Luận về đạo của Phật Tổ thì thật tế lý địa vốn lìa tướng ngôn ngữ, nhưng trong cửa Phật sự thì rủ lòng từ đến mọi vật, mặc dù chẳng phải là hữu vi mà không phải là không nói”. ● 實 性. Bản tính, chân tính cùng với các từ “Pháp tính”, “Chân Như” đồng nghĩa, chỉ cho tính chất chân thật của sự vật. Tào Khê Đại sư Biệt truyện ghi: “蘊 之 與 界、凡 夫 見 二、智 者 了 達、其 性 無 二、無 二 之 性、即 是 實 性。明 與 無 明、凡 夫 見 二、智 者 了 達、其 性 無 二、無 二 之 性、即 是 實 性。實 性 無二。 – Uẩn cùng với giới, phàm phu thấy là hai, người trí thấu rõ tính nó không hai, tính không hai ấy tức là thật tính. Minh cùng với vô minh, phàm phu thấy là hai, người trí thấu rõ tính nó không hai, tính không hai ấy tức là thật tính. Thật tính thì không hai”. ● 實 智 (900-972). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lý, tự Thanh Duệ, người Khúc Giang, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ Nam Hán La Hán tự. ● 實 相. Tướng trạng chân thật xưa nay của sự vật, cũng là chân lý tuyệt đối chân thật không hai, vĩnh hằng bất biến. Từ này cùng với các từ Pháp tính, Chân Như có cùng một ý nghĩa: Nếu nói về nghĩa thể tính vạn pháp thì gọi là Pháp tính. Nếu nói về nghĩa chân thật thường trụ thì gọi là Chân như. Ngoài ra, thật tướng còn có những tên gọi khác: Nhất thật, Nhất như, Nhất tướng, Vô tướng, Pháp thân, Pháp chứng, Pháp vị, Niết Bàn, Vô vi, Chân đế, Chân tính, Chân không, Thật tính, Thật đế. Đạo Phật cho rằng khi nào không còn những chấp trước của nhận thức thế tục thì thật tướng mới hiển lộ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “施 主 請 上 堂。師 據 座 顧 視 左 右。驀 拈 拄 杖 云:今 佛 放 光 明。助 發 實 相 義。 – Thí chủ thỉnh sư thượng đường. Sư dựa tòa nhìn quanh quất, chợt giơ gậy lên, nói: Hiện giờ Phật phóng ánh sáng giúp phát huy nghĩa thật tướng”. ● 實 相 無 相. Ý nói tướng trạng chân thật và tướng trạng không cụ thể của sự vật. Đây là ý chỉ Thiền Tông trừ sạch mọi chấp trước trần tục, vọng tâm phân biệt. Chương Thích Ca Mâu Ni Phật trong CĐTĐL q. 1 ghi: “說 法 住 世 四 十 九 年。後 告 弟 子 摩 訶 迦 葉。吾 以 清 淨 法 眼 涅 槃 妙 心 實 相 無 相 微 妙 正 法 將 付 於 汝。汝 當 護 持。并 敕 阿 難 副 貳 傳 化 無 令 斷 絕。 – Phật thuyết pháp 49 năm, sau đó bảo Tổ Ma Ha Ca Diếp rằng: Ta đem thanh tịnh pháp nhãn, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu chính pháp để giao phó cho ông. Ông nên giữ gìn, và bảo A Nan làm người phụ tá thứ hai để truyền hóa, không cho dứt mất”. ● 偸 心. Tâm trộm cắp; trong Thiền lâm chỉ tâm hướng ngoại phân biệt. Hư Đường Lục q. 3 (Đại 47, 1011 thượng) ghi: “僧 云:學 人 今 夜 借 大 眾 威 光、別 置 一 問 得 麼?答 云:偷 心 鬼 子 得 人 憎。 – Tăng nói: Học nhân đêm nay nhờ oai lực của đại chúng xin hỏi một câu được chăng? Đáp: Thằng quỷ có tâm trộm bị người ghét”. Ngoài ra đối với tâm hướng ngoại tìm cầu không dừng thì gọi là Thâu tâm vị chỉ, Thâu tâm du vị chỉ. ● 透 離 微. Thoát khỏi hai phần đối lập ly (thể) và vi (dụng), cũng chính là kết hợp thể và dụng làm một. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “喚 作 拄 杖 則 觸、不 喚 作 拄 杖 則 背、不 得 有 語、不 得 無 語。。。未 曾 親 近、早 隔 大 千、向 上 全 提、轉 無 交 涉。向 者 裏、莫 有 脫 窠 臼、透 離 微 底 麼?出 來 與 拄 杖 子 證 據。 – Gọi là cây gậy thì phạm, chẳng gọi là cây gậy thì trái, không được nói, không được nín… chưa từng gần gũi sớm cách đại thiên; việc hướng thượng được lập bày nhằm hiển thị giáo pháp một cách triệt để càng không dính dáng. ở đây đừng nói đến khuôn mẫu, thoát khỏi hai phần đối lập thể và dụng chưa? Hãy bước ra cùng cây gậy chứng cứ. “ ● 透 關. Vượt qua cửa ải thiền ngộ. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “只 今 眾 中、莫 有 句 外 透 關 底 麼?出 來 點 眼、慶 快 平 生。 – Như nay trong chúng, không có ai ngoài lời nói vượt qua cửa ải thiền ngộ sao? Hãy bước ra làm cho mọi người thấu rõ được thiền pháp giáo ngoại biệt truyền để thư thái cả đời. “ ● 透 關 眼. Tầm nhìn xuyên thấu cửa ải thiền cơ, chỉ pháp nhã. Thị Tâm Nguyên Tụ Duy Na trong DTNL q. 3 ghi: “夫 欲 識 達 心 源、別 無 奇 术、惟 於 念 慮 洶 涌 之 際、用 截 流 機、當 頭 坐 斷、向 事 物 蔽 交 之 時、具 透 關 眼、徹 底 照 破、倐 爾 洞 見 心 源、如 口 唇 邊 摸 得 鼻 孔、自 然 千 穩 百 當、不 待 問 人 矣。 – Luận đến việc muốn thấu rõ nguồn tâm, đặc biệt không có thuật gì lạ, chỉ là ở chỗ niệm lự nổi lên, dùng ngay cơ dụng chặt đứt, ngay nơi đó quét sạch nó đi; nhằm khi sự vật che lấp liền có tầm nhìn xuyên thấu cửa ải thiền cơ chiếu phá triệt để, chợt thấy suốt nguồn tâm, giống như sờ thấy lỗ mũi bên cạnh môi miệng tự nhiên ổn đáng trăm bề, chẳng đợi hỏi người nào khác. “ ● 透 三 關. Vượt qua ba cảnh giới tham thiền từ thấp lên cao. 1. Quá Sơ Quan = Thấu Tổ Sư Quan. Hành giả dứt sạch phàm tình, thấy rõ các pháp hư vọng không thật và tỏ ngộ tâm tính bản nguyên của mình. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: 上 堂 云: 幸 然 無 一 事。行 腳 要 參 禪。 卻 被 禪 相 惱。不 透 祖 師 關。 如 何 是 祖 師 關。把 火 入 牛 欄。 “Sư thượng đường nói: May mà không một vật Hành cước cốt tham thiền Lại bị thiền trêu tức Chẳng lọt Tổ sư quan Thế nào là Tổ sư quan? Đem lửa vào chuồng bò”. 2. Phá Trùng Quan: Sau khi kiến tính lại dụng công tu trì thì chẳng những không bị “Có” làm chướng ngại, mà cũng không chấp trước nơi “Không”. Tham Thiền Phổ Thuyết ghi: “大 參 即 重 疑 也。有 重 疑 功 夫 必 將 破 重 關。 – Đại tham tức là trùng nghi (ngộ rồi nghi lại). Có công phu trùng nghi chắc chắn sẽ phá trùng quan”. 3. Thấu Lao Quan: Sau cùng lại dụng công tu luyện, liền có thể đạt đến cảnh giới “Tịch chiếu không hai” “Có không vô ngại”, dù ngũ dục hiện tiền cũng vận dụng tự như mà không mất bản tính. Kệ khai ngộ của Thiền Sư Hà Sơn Thủ Tuần ghi: 終 日 看 天 不 舉 頭、桃 花 欄 漫 始 抬 眸 饒 君 更 有 遮 天 網、透 得 牢 關 即 便 休 “Chung nhật khán thiên bất cử đầu Đào hoa lạn mạn thỉ đài mâu Nhiêu quân cánh hữu già thiên võng, Thấu đắc lao quan tức tiện hưu”. “Suốt ngày trông trời chẳng ngẩng đầu, Nhìn đào rực rỡ mới ngước cao Dù anh có lưới che trời lại Thấu được lao quan mới nghỉ ngơi”. ● 透 脫. 1. Siêu thoát. Uyển Lăng Lục ghi: “秖 是 不 起 諸 見、無 一 法 可 得、不 被 法 障、透 脫 三 界 凡 聖 境 域、始 得 名 爲 出 世 佛。 – Chính vì chẳng khởi các kiến chấp, không một pháp khả đắc chẳng bị pháp làm chướng ngại, siêu thoát cảnh giới phàm thánh trong ba cõi nên mới được gọi là xuất thế Phật”. ● 2. Thông suốt. Tiết Kính Sơn Liễu Nhất Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “參 玄 之 士、觸 境 遇 緣。不 能 直 下 透 脫 者、蓋 爲 業 識 深 重、情 妄 膠 固、六 門 未 息、一 處 不 通。 – Kẻ sĩ tham cứu tâm, khi chạm cảnh gặp duyên, chẳng thể thông suốt ngay được, bởi vì nghiệp thức sâu nặng, tình vọng kết chặt, sáu căn chưa chịu dừng đụng đâu kẹt đấy”. ● 透 祖 師 關. Vượt qua cửa ải thiền cơ của Tổ sư, chỉ cho việc khế hợp, lãnh ngộ thiền pháp của Tổ sư. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “上 堂 云。幸 然 無 一 事。行 腳 要 參 禪。卻 被 禪 相 惱。不 透 祖 師 關。如 何 是 祖 師 關。把 火 入 牛 欄。 – Sư thượng đường nói: May mắn không một vật, hành cước cốt tham thiền. Lại bị thiền tướng gạt, không vượt cửa Tổ sư. Thế nào là cửa Tổ sư? Đem lửa vào chuồng bò. “ ● 栖 霞 寺. Nằm trên sườn phía tây Trung Phong, núi Thê Hà, đông bắc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Niên hiệu Vĩnh Minh thứ 1 (483) đời Nam Tề, ẩn sĩ Minh Tăng Thiệu sửa nhà làm Thê Hà tinh xá. Đường Cao Tổ Lý Uyên đổi tên chùa là “Công Đức Tự”, còn xây cất thêm lâm cung phạm vũ 49 sở, diện mạo chùa thay đổi lớn, nổi tiếng nam bắc, cùng với Thiên Thai Quốc Thanh Tự, Trường Thanh Linh Nham Tự, Đương Dương Ngọc Tuyền Tự được gọi là “Thiên hạ tứ đại tùng lâm”, “Thiên hạ tứ tuyệt”. Đời Nam Đường Cao Việt cất Xá Lợi thạch tháp, đổi tên là “Diệu Nhân Tự”. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) đời Tống đổi tên là “Phổ Vân Tự”. Niên hiệu Cảnh Đức thứ 4 (1007) đổi tên là “Thê Hà Thiền Tự”. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 8 (1093) đổi tên là “Nham Nhân Sùng Báo Thiền Viện”, sau còn gọi “Hổ Huyệt Tự”. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 25 (1392) đời Minh sắc thư “Thê Hà Tự”. Niên hiệu Hàm Phong thứ 5 (1855) đời Thanh chùa bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Quang Tự thứ 34 (1908) về sau, những vị tăng trụ trì Tông Ngưỡng, Nhã Thuấn nối nhau tu sửa dần dần khôi phục như cũ. Trong chùa hiện còn Sơn môn, Thiên vương điện, Tỳ Lô điện, Tàng kinh lâu, Nhiếp thúy lâu, ngoài ra còn có Đại Phật các, Thiên Phật nham, Xá Lợi tháp, thạch tháp đời Ngũ Đại và bia đá đời Đường, có giá trị lịch sử và nghệ thuật rất cao. ● 栖 霞 寺 舍 利 塔. Nằm trong khuôn viên Thê Hà Thiền Tự, núi Thê Hà, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, được xây vào niên hiệu Nhân Thọ thứ 1 (601) đời Tùy, sau đó bị hủy. Thời Nam Đường, Cao Việt, Lâm Nhân xây dựng lại, xây bằng đá, 5 tầng, hình bát giác, cao 15m. Phần dưới tháp là một tòa Tu Di điêu khắc tinh mỹ, trên khắc hoa sen nở xòe ba lớp nâng đỡ thân tháp. Tầng thứ nhất của tháp khá cao, từ đây trở lên bày 5 tầng mái kín, là tháp xây trau chuốt bằng đá theo kiểu mái kín, mái vươn ra rất xa, vẫn còn gìn giữ đặc điểm kiểu lâu các. Khắp thân tháp bố trí dày đặc điêu sức tinh mỹ, có thể gọi là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc to lớn. Nền tòa khắc các loại cá cua ếch, phần thắt lưng trên tòa Tu Di là tranh truyện Phật “Thích Ca Bát Tướng”, trên thân tháp là Kim Cang lực sĩ, tiểu Phật, những điêu sức này đều sinh động tinh tế đẹp đẽ. ● 棲 賢 山. X. Tam Giác Sơn. ● 棲 賢 禪 院 石 塔. Tháp nằm trên núi Tam Giác cách trung tâm huyện Kim Đường tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc 3km về phía bắc. Theo tấm bia đời Minh “Thê Hiền Sơn Đạo Tràng Thiền Viện Thạch Tháp Ký”, niên hiệu Hồng Vũ thứ 31 (1398) đời Minh, vua Thục Vương cho xây 168 ngôi tháp nhỏ ở phía sau Thiền viện Thê Hiền, họp thành một đại thạch tháp, gọi là “Vô Lượng Bảo Tháp”. Mỗi tháp có khắc 500 tượng Phật, tổng cộng 84. 000 tượng Phật. Trong tháp chứa kinh Pháp Hoa, trước tháp có ba gian nhà đá, chung quanh có tường đá bao bọc. Công trình to lớn, tinh xảo tuyệt luân, trải qua 5 năm mới hoàn thành. Đến cuối đời Minh tháp này được trùng tu lại, hiện nay vẫn còn bệ tháp, nhà đá và số ít tượng Phật, bia đá. ● 棲 禪 寺. X. Thảo Đường Tự. ● 世 寶. Vật báu của thế gian. Tổ 27, Bát Nhã ĐA La trong CĐTĐL q. 2 ghi: “尊 者 欲 試 其 所 得。乃 以 所 施 珠 問 三 王 子 曰。此 珠 圓 明 有 能 及 此 否。。。第 三 子 菩 提 多 羅 曰。此 是 世 寶 未 足 爲 上。於 諸 寶 中法 寶 爲 上。 – Tôn giả muốn thử sở đắc của họ liền đem viên ngọc vừa được vua tặng ra, hỏi ba vị vương tử rằng: Viên ngọc này sáng lắm, có vật gì sánh bằng nó không?… Vị vương tử thứ ba là Bồ Đề Đa La thưa: Đây là vật báu của thế gian, chưa đủ làm tột. Trong các thứ quý báu, chỉ có pháp bảo là tột. “ ● 世 諦. Nhà Phật gọi chân lý của thế gian là Thế đế. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “若 以 世 諦 觀 之。曹 山 合 喫 二 十 棒。若 以 祖 道 觀 之。白 雲 合 喫 二 十 棒。 – Nếu dùng chân lý thế gian để xem xét nó, Tào Sơn nên ăn hai mươi gậy. Nếu dùng thiền pháp của Tổ sư để xem xét nó, Bạch Vân tôi nên ăn hai mươi gậy. “ ● 世 諦 法. Phương pháp, nguyên tắc, lý lẽ của thế tục. Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 2 ghi: “以 世 諦 法 接 人 去、落 在 世 諦 法 中。以 祖 佛 機 接 人 去、落 在 祖 佛 機 中。 – Dùng thế đế pháp để tiếp dẫn người sẽ rơi vào trong thế đế pháp; dùng cơ Tổ Phật để tiếp dẫn ngưới sẽ rơi vào trong cơ Tổ Phật. “ ● 世 業. 1. Nghề nghiệp sinh sống trong cuộc đời. Tiết Long Đàm Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “師 諱 崇 信、未 詳 姓 氏。在 俗 之 時、世 業 作 餅 師。 – Sư húy là Sùng Tín, chưa rõ họ là gì. Lúc còn ở thế tục là thợ làm bánh. “ ● 2. Nhà cửa ruộng vườn của ông cha để lại. Tiết Thạch Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “Thời Lục Tổ chính dương chân giáo, sư thế nghiệp lân tiếp Tân Châu, toại vãng lễ cẩn. – Lúc Lục Tổ xiển dương giáo nghĩa Thiền, thế nghiệp của sư kề cận Tân Châu, liền đi đến lễ bái. “ ● 世 愚 (1301-1370). Thiền tăng đời Nguyên, họ Dư, tự Kiệt Phong, người Tây An (Cù Châu, Chiết Giang) Trung Quốc. Xuất gia thuở nhỏ, sư lớn lên theo Cổ Nhai, Thạch Môn Học học đạo. Lại tham kiến nhiều bậc tôn túc Bố Nạp, Đoạn Nhai, Trung Phong nhưng không khế hợp, bèn ẩn cư trong núi Nam Bình khổ tham công án “không phải tâm, không phải Phật, không phải vật”, ba năm không ra khỏi cửa, một đêm nghe vị tăng bên cạnh tụng “Chứng Đạo Ca”, sư có tỉnh, yết kiến Thiền Sư Chỉ Nham Thành được ấn chứng rồi nối pháp. Niên hiệu Chí Thuận thứ 2 (1331) sư trở về trụ núi Ô Thạch, Tây An suốt 16 năm không ra khỏi núi. Xây dựng chùa Phúc Huệ, tụ họp đồ chúng khai pháp, danh tiếng ngày càng lẫy lừng. Sau sư dời sang chùa Hưng Long, Thạch Khê, Quảng Đức (An Huy) thiền lữ tụ hội hơn 3 ngàn người. Đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ thứ 3 (1370) sư phụng chiếu đến dự pháp hội Tưởng Sơn, không bao lâu viên tịch. Tác phẩm: Nhị Hội Ngữ Lục. ● 世 法. Bao gồm các lý lẽ, nguyên tắc, phương pháp của muôn sự muôn vật ở thế gian. Tiết Tư Thọ Ni Diệu Tổng Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “日 日 是 好 日、佛 法 世 法 盡 周 畢。不 須 特 地 覓 幽 玄、祇 管 鉢 盂 兩 度 濕。 – Mỗi ngày đều là ngày tốt, Phật pháp thế pháp thảy vẹn toàn. Chẳng cần riêng kiếm lý u huyền, Cứ ướt bát cho ngày hai cữ. “ ● 世 誠 (1260-1332). Thiền tăng đời Nguyên, họ Lưu, hiệu Tuyệt Học, người đời gọi là “Tuyệt Học Thế Thành Thiền Sư”, người xứ Cát Thủy (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Năm 17 sư tuổi đi buôn đến núi Tam Tuyền, Đại Trị tại Hưng quốc (nay thuộc Giang Tây), chợt gặp dị tăng là Vô Tướng. Vô Tướng khuyên sư nên học Phật, Thế Thành liền bỏ việc buôn bán để tu thiền định, cạo tóc xuất gia. Sư tham học với các vị thiền sư trong đất Ngô như: Mông Sơn Đức Dị, Cập Am Tông Tín, Tỉ Nhai Giới Công rồi đến Tương Nam yết kiến Thiết Ngưu Trì Định, khối nghi tan vỡ và khai ngộ, được nối pháp Ngài, thuộc tông Lâm Tế. Lăng Cảnh Nhân ở Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây) thỉnh sư trụ trì am Linh Thứu Phong Cung để hoằng hóa thiền pháp; người học vân tập gồm các sư từ Tây Vực, Cao Ly, Việt Nam, Nhật Bản. Công Khanh sĩ thứ đều ngưỡng mộ, nhà nhà đều họa tượng sư để thờ. Mỗi khi sư cắt móng tay hoặc rụng một chiếc răng nào, mọi người tranh nhau lượm để phụng thờ. ● 世 榮. Vinh hoa của thế tục. Tiết Hoài Nhượng, đời thứ 1 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: “國 之 法 器、不 染 世 榮。 – Pháp khí của quốc gia, không nhiễm vinh hoa của thế tục. “ ● 世 出 世. Thế tục và siêu thoát thế tục, thân dù ở trong thế tục mà siêu thoát thế tục. Thị Chân ẩn Chu cư sĩ trong MANL ghi: “終 日 在 聲 色 中 出 沒。聲 色 不 能 染 污。世 出 世 間。如 蓮 花 不 著 水。豈 不 慶 快 平 生。 – Suốt ngày qua lại ở trong thanh sắc mà thanh sắc chẳng thể nhiễm ô. Thân dù ở trong thế tục mà siêu thoát thế tục, như hoa sen chẳng dính nước, đâu chẳng thư thái cả đời sao!” ● 體 海 (1834-1889). Thiền tăng đời Thanh, họ Lý, tự Duy Thanh, người xứ Hiếu Cảm, Hồ Bắc, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Như Giám Đạt Trừng, đời thứ 45 hệ Nam Nhạc. Niên hiệu Quang Tự thứ 7 (1881) sư sáng lập chùa Viên Chiếu ở Hán Dương để hoằng pháp. ● 體 露 眞 常. Vật thể hoàn toàn hiển bày tướng trạng chân thật, vĩnh hằng, là điều mà nhà Phật gọi là Chơn Như. Đây là cảnh giới của người ngộ thiền. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “靈 光 獨 耀、迥 脫 根 塵。體 露 眞 常、不 拘 文 字。心 性 無 染、本 自 圓 成。但 離 妄 緣、即 如 如 佛。 – Linh quang sáng tỏ, thoát hẳn căn trần, thể lộ chơn thường, chẳng mắc văn tự. Tâm tính không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật. “ ● 體 露 金 風. Thân bày gió thu, dụ cho sự tự tại của người tu sau khi kiến tính. Tắc 27, Bích Nham Lục (Đại 48, 167 trung) ghi: “僧 問 雲 門:樹 凋 葉 落 時 如 何?雲 門 云:體 露 金 風。 – Tăng hỏi Vân Môn: Khi lá rụng cây trơ trụi thì thế nào? Vân Môn đáp: Thân bày gió thu”. ● 體 柔. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thê Hiền Trừng Thực, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ núi Tây Dư ở An Cát (nay thuộc Chiết Giang). Một hôm, sư thượng đường, lặng lẽ một hồi rồi nói: Hãy đợi tuyết tan rồi, tự nhiên Xuân sẽ đến. ● (Thiền Tông) 詩 歌. Hình thức sáng tác văn học, nghệ thuật cao quý thể hiện được tâm trạng khai ngộ của thiền tăng qua ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Nói đến thi ca Thiền Tông, trước tiên phải bàn đến Kệ. Đây là một thể thơ trong kinh Phật (ấn Độ), thông thường do 4 câu hợp thành, có cách luật nhất định. Thiền Sư làm thơ, hình thức đa dạng, rất khó phân loại, có khi là kệ, có khi là thi ca. Thí dụ như: Tín Tâm Minh của Tam tổ Tăng Xán. Bài kệ: “Bồ đề bản vô thọ” của Tổ Huệ Năng. Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia Huyền Giác. Bài thơ “Qua suối” của Động Sơn Lương Giới. Căn cứ vào cách biên tập của các tác phẩm thi ca, có thể chia chúng ra làm 2 loại: 1. Biệt tập, như: “Hàn Sơn Tử Thi Tập”, “Thuyền Tử Hòa Thượng Bạt Trạo Ca”, “Thiền Nguyệt Tập”, “Nghĩ Hàn Sơn Thi”, “Thiền Nhạc Phủ”. 2. Hợp tập như: “Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng”, “Giang Hồ Phong Nguyệt Tập”, “Thiền Tông Tạp Độc Hải”… Phần tụng cổ chuyên tập cũng có thể được xem là thi ca chuyên tập. Trong khá nhiều Ngữ Lục biệt tập của thiền sư có một vài quyển chuyên thu thập về thi ca. Như quyển 5 của “Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục” chuyên gom góp các bài Tụng cổ thi, quyển 7 chuyên thu thập về kệ tụng. Trong tác phẩm Đăng Lục cũng có một số trang ghi chép về thi ca của các thiền sư, như quyển 29, 30 của “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” lấy thi ca làm chính. Ngoài ra còn một số thơ thiền trong các Thi văn tập của những văn nhân học sĩ ưa thích thiền học. ● 匙 挑 不 上、甑 蒸 不 熟. Muỗng múc chẳng được, nồi hấp chẳng chín. Thiền cơ nhân duyên khó có thể lãnh ngộ, không dễ ứng phó. Thi khiêu bất thượng: ý nói mềm nhũn. Tắng chưng bất thục: ý nói còn sống, còn cứng. Vô Môn Quan ghi: “這 老 子 造 作 妖 怪、令 千 百 代 兒 孫 被 葛 藤 纏 倒、未 得 頭 出。似 這 般 奇 特 話 靶、匙 挑 不 上、甑 蒸 不 熟。有 多 少 錯 認 底。 – Cái lão này (chỉ Thích Ca Mâu Ni) tác yêu tác quái khiến cho con cháu trăm ngàn đời bị lời nói rối rắm trói buộc, chưa ra khỏi được. Hình như công án loại này là thiền cơ nhân duyên khó có thể lãnh ngộ, không dễ ứng phó, có bao nhiêu người nhận định sai lầm?”. ● 施 設. 1. Biện pháp của thiền sư chọn lấy để tiếp dẫn người học. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “即 今 識 取 聽 法 底 人。無 形 無 相 無 根 無 本 無 住 處。活 撥 撥 地。應 是 萬 種 施 設。用 處 秖 是 無 處。 – Ngày nay nhận thức người đang nghe pháp đây, vốn là vô hình vô tướng, vô căn vô bản, không trụ xứ, mà hoạt bát rõ ràng. Cần có muôn thứ biện pháp, chỗ dùng chỉ là không chỗ. “ ● 2. Chọn lấy biện pháp tiếp dẫn người học. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “僧 問。德 山 不 答 話。千 古 把 斷 要 津。白 雲 今 夜 小 參。未 審 如 何 施 設。 – Tăng hỏi: Đức Sơn không trả lời, ngàn đời vững chỗ quan trọng. Tối nay Bạch Vân tiểu tham, chưa biết lực chọn biện pháp tiếp dẫn người học ra sao?” ● 施 利. Của cải do người đời quyên tặng cho tự viện, cho tăng sĩ. Tông Môn Võ Khố ghi: “長 蘆 福 長 老。道 眼 不 明。常 將 所 得 施 利。 – Trưởng lão Phúc ở Trường Lô, đạo nhãn chẳng sáng. Thường mang của cải quyên tặng. “ ● 施 三 寸. Ý nói phát biểu ý kiến, giảng giải. Tham thốn: Lưỡi. Tiết Phúc Tiên Chiêu Khánh Hòa Thượng trong TĐT q. 13 ghi: “纔 施 三 寸、盡 落 途 中。 – Vừa mới giảng giải đã rơi vào đường. “ ● 屎 擔 子. Kẻ gánh phẩn, chỉ thân thể con người. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “大 德。爾 檐 鉢 囊 屎 檐 子。傍 家 走 求 佛 求 法。即 今 與 麼 馳 求 底。爾 還 識 渠 麼。 – Đại đức, ngươi gánh túi bát là kẻ gánh phẩn chạy sang nhà hàng xóm cầu Phật cầu Pháp, ngày nay tìm cầu như thế, ngươi có biết y chăng? ● 是 (k. ng). 1. Đặt trước đại từ nhân xưng, không có ý nghĩa thực cũng không có tác dụng phán đoán. Tiết Đức Sơn Duyên Mật Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “古 鏡 闊 一 丈、屋 梁 長 三 尺。是 汝 缽 盂 鐼 子 闊 多 少? – Gương xưa rộng một trượng, đòn dông dài ba thước, cái bát của ông rộng bao nhiêu?” ● 2. Đặt trước đại từ nhân xưng làm tăng thêm ngữ khí hỏi vặn. Tiết Đông Tự Như Niệm Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “公 見 鳥 雀 於 佛 頭 上 放 糞、乃 問:鳥 雀 還 有 佛 性 也 無?師 曰:有。公 曰:爲 甚 麼 向 佛 頭 上 放 糞?師 曰:是 伊 爲 甚 麼 不 向 鷂 子 頭 上 放? – Công (chỉ cho Tướng quốc Thôi Quần) thấy con chim sẻ ỉa trúng ngay đầu tượng Phật, liền hỏi: Chim sẻ có Phật tính hay là không? Sư đáp: Có. Công nói: Vì sao nó lại ỉa trên đầu tượng Phật? Sư bảo: Vì sao nó lại không ỉa trên đầu con chim Diêu?” ● 3. Đặt trước đại từ nhân xưng, làm tăng ngữ khí khuyên răn. Tiết Tuyết Phong Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “師 示 眾 曰:南 山 有 鼈 鼻 蛇、是 爾 諸 人 好 看 取。 – Sư dạy chúng rằng: Nam Sơn có con rắn lớn, các ông cần phải chú ý!” ● 是 箇 漢. Còn gọi: Thị cá nhân, Thị cá trượng phu hán. Ý nói là một kẻ trượng phu chân chính, là một người tham thiền chân chính. Là lời nói quen thuộc của nhà thiền. Vô Môn Quan ghi: “共 成 四 十 八 則。通 曰 無 門 關。若 是 箇 漢、不 顧 危 亡、單 刀 直 入。八 臂 那 吒、攔 他 不 住。 – Cả thảy thành bốn mươi tám tắc, gọi chung là “Vô Môn Quan”. Nếu là người tham thiền chân chính, chẳng màng đến nguy vong, một dao vào thẳng, dù cho Na Tra tám tay cản cũng không nổi. “ Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “一 日、明(指 慈 明 和 尚)上 堂、師 出 問:幽 鳥 語 喃 喃、辭 雲 入 亂 峰 時 如 何?明 曰:我 行 荒 草 裡、汝 又 入 深 村。師 曰:官 不 容 針、更 借 一 問。明 便 喝。師 曰:好 喝。明 又 喝、師 亦 喝。明 連 喝 兩 喝、師 禮 拜。明 曰:此 事 是 箇 人 方 能 擔 荷。 – Một hôm, Minh (chỉ Hòa Thượng Từ Minh) thượng đường. Sư bước ra nói: Khi chim rừng kêu rì rầm, mây từ vào núi loạn thì sao? Từ Minh đáp: ta đi trong cỏ hoang, còn ngươi vào xóm vắng. Sư thưa: Việc công phải hết sức chặt chẽ, lại mượn một câu hỏi. Từ Minh liền hét. Sư thưa: Hét hay quá! Minh lại hét. Sư cũng hét. Minh hét luôn hai tiếng. Sư lễ bái. Từ Minh nói: Việc này phải là người tham thiền chân chính mới có khả năng ứng cơ ngộ nhập. “ ● 示 眾. Còn gọi: Thùy Ngữ. Thiền Sư chỉ dạy yếu chỉ Thiền cho môn đệ và đại chúng trong thiền viện. Phẩm Định Huệ trong Đàn Kinh (Đại 48, 352 hạ) ghi: “師 示 眾 云:善 知 識、我 此 法 門 以 定 慧 爲 本。 – Sư dạy chúng: Thiện tri thức, pháp môn của ta lấy định huệ làm gốc”. Trong các kinh lục, từ ngữ Thị chúng được Kinh Pháp Bảo Đàn sử dụng sớm nhất. ● 示 滅. (Tăng nhân) mất, chết. Tông Môn Võ Khố ghi: “諸 方 尊 宿 示 滅。全 身 火 浴 得 舍 利 極 多。 – Bậc tôn túc các nơi thị diệt, hỏa thiêu toàn thân được Xá Lợi rất nhiều. “ ● 示 徒. Chỉ dạy (đạo pháp) cho các học tăng. Chương Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư rong CĐTĐL q. 12 ghi: “時 中 將 何 示 徒? – Trong lúc ấy đem cái gì chỉ dạy cho các học tăng. “ ● 示 現. Phật, Bồ Tát tùy theo cơ duyên cứu giúp chúng sinh mà hóa hiện các thứ thân hình vào trong cuộc đời. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “至 人 垂 化 無 生 死、示 現 閻 浮 有 去 來、剎 剎 塵 塵 成 正 覺、黃 金 寶 殿 玉 樓 臺。 – Bậc chí nhân giáo hóa không còn sinh tử, thị hiện có đến có đi ở cõi Diêm Phù, thành Chính giác trong rất nhiều thế giới có lầu vàng, điện ngọc. “ ● 是 沒. Cái gì. Đại từ nghi vấn. Thần Hội Ngữ Lục ghi: “問 曰:此 似 是 沒 物?答:不 似 箇 物。 – Hỏi rằng: Cái này giống cái gì? Đáp: Không giống vật gì cả. ● 是 非 交 結 處. Chỗ thị phi rối rắm phức tạp. Tắc 41, Bích Nham Lục (Đại 48, 178 hạ) ghi: “垂 示 云:是 非 交 結 處、聖 亦 不 能 知;逆 順 縱 橫 時、佛 亦 不 能 辨。爲 絕 世 超 倫 之 士、顯 逸 群 大 士 之 能。 – Lời dẫn: Chỗ thị phi rối rắm, phức tạp đến nỗi Thánh cũng không thể biết; có khi dùng phương pháp nghịch thuận dọc ngang để xử lý thì Phật cũng không thể biện. Đây là bậc tu hành vượt hẳn thế gian hiện bày khả năng siêu quần của Bồ Tát”. ● 是 則. Tuy vậy, cho dù như thế. Quan hệ từ. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “是 則 二 俱 作 家。要 且 只 解 收 虎 尾。不 能 據 虎 頭。 – Cho dù cả hai đều là bậc tác gia, cũng cần phải biết nắm đuôi cọp, chẳng thể cưỡi đầu cọp. “ ● 示 疾. Bị nhuốm bệnh nặng sắp chết, lâm bệnh. Chương La Hán Quế Sâm trong CĐTĐL q. 21 ghi: “。。。(桂 琛 禪 師)示 疾 數 日 安 坐 告 終。 – (Thiền Sư Quế Sâm) lâm bệnh ít hôm, ngồi yên mà qua đời. “ Chương Nam Tuyền Phổ Nguyện trong CĐTĐL q. 8 ghi: “師 乃 示 疾。。。告 門 人 曰。星 翳 燈 幻 亦 久 矣。勿 謂 吾 有 去 來 也。言 訖 而 謝。 – Sư lâm bệnh…, trối lại với môn đồ rằng: Ta như huyễn ảnh của đèn, sao, kể cũng đã khá lâu rồi, các ngươi đừng cho là ta có sinh ra và mất đi nhé. Nói xong rồi qua đời. “ ● 示 寂. Còn gọi: Thị Tịch Diệt. (Tăng nhân) chết, mất. Tông Môn Võ Khố ghi: “師 因 湛 堂 和 尚 示 寂。請 覺 範 狀 其 行 實。 – Sư nhân Hòa Thượng Trạm Đường thị tịch, mời ngài Giác Phạm kể về sự nghiệp của Trạm Đường. “ ● 是 須. Cần phải. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “若 欲 化 愚 人、是 須 有 方 便、勿 令 彼 有 疑、即 是 菩 提 現。 – Nếu muốn giáo hóa người, cần phải có phương tiện, chớ khiến người nghi ngờ, tức là tính giác hiện. “ ● 是 物. Cái gì? Đại từ nghi vấn. Thần Hội Ngữ Lục ghi: “問:是 物 是 生 滅 法?答:三 世 是 生 滅 法。 – Hỏi: Cái gì là pháp sinh diệt? Đáp: Ba đời là pháp sinh diệt. “ ● 釋 迦 多 寶 如 來 佛 塔. ở phía trước chùa Ngũ Tổ, cách trung tâm huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc 12km về phía đông. Căn cứ vào bài minh ghi trên thân tháp, tháp xây vào niên hiệu Tuyên Hòa thứ 3 (1121) đời Tống. Tháp xây bằng nham thạch sa lạp, 5 tầng, hình bát giác. Phía dưới là tòa Tu Di thắt lưng cánh sen, thắt lưng hình bát giác đều có một tượng khắc Lực sĩ nâng đỡ tháp, tạo dáng phong cách vững vàng khỏe mạnh, vô cùng sinh động. Trên tòa Tu Di là thân tháp kiểu cái trống đứng, mặt nam thân tháp có tạc Phật khám, trong khám thờ tượng Phật ngồi. Bên phải khám khắc 8 chữ “Thích Ca Đa Bảo Như Lai Phật Tháp”, bên trái khắc tên họ những người quyên góp xây tháp. Trên Phật khám là mái tháp kiểu hoa núi lá chuối, mái tháp mỗi tầng đều là hình thức phỏng theo kiến trúc gỗ, nhưng đồng thời kèm theo cảm giác phong phú của kiến trúc nặng nề của đá. Tầng trên cùng là bảo cái cánh sen, trên bảo cái có chiếc bát úp và bảo châu đỉnh sát, tháp thể tuấn tú vững vàng, điêu khắc điển nhã lung linh. ● 釋 眾. Tăng chúng. Chương Sư Tử Tỷ kheo, Tổ thứ 24 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “王 果 怒 曰:吾 素 歸 心 三 寶。何 乃 搆 害 十 至 于 斯。即 命 破 毀 伽 藍 祛 除 釋 眾。 – Quả nhiên Vua tức giận, nói: Lâu nay ta sùng kính Tam bảo, mà sao mưu hại ta đến thế này? Vua liền ra lệnh phá huỷ chùa chiền, loại trừ tăng chúng”. ● 刺 脚. Bước chân đi. Tiết Thạch Sương Khánh Chư Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “問 僧:近 離 甚 處?曰:審 道。師 於 面 前 畫 一 畫 曰:汝 刺 腳 與 麼 來、還 審 得 這 箇 麼? – Sư hỏi tăng: Ngươi vừa rời chỗ nào? Đáp: Biết rõ đường đi. Sư vẽ ngay trước mặt ông tăng một đường, hỏi: Ngươi bước chân đi như thế, có biết được cái này chăng?” ● 刺 頭. Chui đầu vào. Tiết Chư Phương Quảng Ngữ trong GTPĐL q. 25 ghi: “若 未 得 箇 端 的 悟 入 處、只 是 向 人 口 角 頭 尋 言 逐 句、刺 頭 入 經 論 裏 求 玄 覓 妙、猶 如 入 海 算 沙、捫 空 追 響、只 益 疲 勞、終 無 了 日。 – Nếu chưa được chỉ rõ chỗ ngộ nhập, chỉ là chạy theo lời nói của người khác, chui đầu vào trong kinh luận để tìm huyền diệu, giống như vào biển đếm cát, gõ vào hư không tìm tiếng vang, chỉ càng nhọc nhằn, rốt cuộc không có ngày xong”. ● 刺 頭 入 膠 盆. Còn gọi: Thích não nhập giao bồn. Đâm đầu vào bồn keo. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho việc chấp ngôn ngữ văn tự là cứu cánh Phật pháp mà không thoát ra được. Tiết Pháp Xương ỷ Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “你 又 剌 頭 入 膠 盆 作 甚 麼? – Còn ngươi đâm đầu vào bồn keo để làm gì?” Tiết Viên Thông Đạo Mân Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “切 莫 刺 腦 入 膠 盆。 – Cần nhất là chớ có đưa đầu vào bồn keo”. ● 適 來. Vừa rồi, ban nãy. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “又 問 第 三 人。適 來 兩 箇 敗 闕 了 也。爾 堪 作 箇 什 麼。僧 擬 議。師 便 喝。 – Lại hỏi người thứ ba: Hai người vừa rồi bị thua rồi, còn ngươi kham làm gì nữa? Tăng do dự, sư liền hét. “ ● 倜 儻 分 明. Thật là rõ ràng. Tiết Tư Thọ Ni Diệu Tổng Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “不 動 步 游 彌 勒 樓 閣、不 返 聞 入 觀 音 普 門。情 與 無 情、性 相 平 等。不 是 神 通 妙 用、亦 非 法 爾 如 然。於 此 倜 儻 分 明、皇 恩 佛 恩、一 時 報 足。 – Không cất bước mà vẫn đến lầu gác của ngài Di Lặc, không phản văn mà vẫn vào phổ môn của ngài Quán Âm. Tình cùng với vô tình, tính tướng bình đẳng. Không phải là thần thông diệu dụng, cũng không phải là pháp nhĩ như nhiên. Nếu thấy được chỗ này thật là rõ ràng thì ân Phật ân vua đồng thời báo đáp”. ● 釋 氏. Chỉ cho đạo Phật, Phật pháp, Phật môn. Tông Môn Võ Khố ghi: 任 觀 察、內 貴 中 賢 士、御 庙 極 眷 之。任 傾 心 釋 氏、遍 參 知 識。 – Quan Quán sát họ Nhậm là bậc hiền sĩ trong hàng quý phái rất được vua sủng ái. Họ Nhậm dốc lòng nghiên cứu đạo Phật, tham vấn các bậc thiện tri thức ở các nơi”. ● 釋 氏 教. Chỉ cho Phật giáo. Bài tựa Lục Tổ Đàn Kinh của Lang Giản ghi: “六 祖 於 釋 氏 教、可 謂 要 乎 至 哉。 – Địa vị của Lục Tổ đối với Phật giáo có thể nói hết sức quan trọng”. ● 刺 刺 不 休. Hình dung miệng nói rất nhiều, huyên thiên không dừng. Bác Sơn Hòa Thượng truyện trong NLQL q. 35 ghi: “途 次 論 君 臣 五 位 之 旨、和 尚 語 刺 刺 不 休、夀 昌 皆 然 之。 – Đang trên đường, hai người luận về ý chỉ của Ngũ Vị Quân Thần, Hòa Thượng nói huyên thiên không dừng, Thọ Xương đều cho là đúng”. ● 偏. Rất, đặc biệt. Tiết Minh Châu Bố Đại Hòa Thượng trong NĐHN q. 2 ghi: 是 非 憎 愛 世 偏 多 子 細 思 量 柰 我 何 寬 卻 肚 腸 須 忍 辱 豁 開 心 地 任 從 他 “Thị phi tắng ái thế thiên đa Tử tế tư lương nại ngã hà? Khoan khước đổ trường tu nhẫn nhục Khoát khai tâm địa nhậm tùng tha” “Phải trái ghét yêu đời rất nhiều Xét suy kỹ lưỡng phải làm sao? Mở rộng lòng ra cần nhẫn nhục Tâm hồn cởi mở mặc người ta”. ● 天 眞 佛. Chỉ cho bản tính tự nhiên vốn sẵn có, không phải do sức người tạo nên. Lục Tổ Lạc Đạo Ca ghi: 兔 角 杖、龜 毛 拂 若 欲 覓 時 又 無 物 不 拂 世 間 地 塵 埃 盡 拂 本 來 天 眞 佛 “Thố giác trượng, quy mao phất Nhược dục mích thời hựu vô vật Bất phất thế gian địa trần ai Tận phất bản lai thiên chân Phật”. “Gậy sừng thỏ, chổi lông rùa Bằng lúc muốn tìm không một vật Chẳng phủi thế gian cát bụi mù Phủi sạch bản lai thiên chân Phật”. ● 偏 正 五 位. Trình bày hệ thống htiền pháp của tông Tào Động (được khai sáng bởi Lương Giới và Bản Tịch), cũng là phương pháp đặc biệt của tông này dùng để tiếp dẫn người học. X. Ngũ Vị Quân Thần. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL q. 9 ghi: “曹 洞 宗 就 語 接 人、隨 機 應 物、示 以 偏 正 五 位、功 勛 五 位、五 臣 五 位、王 子 五 位、辨 明 體 用、掃 蕩 情 塵、使 其 物 我 雙 忘、人 法 俱 愍 而 已。 – Tông Tào Động tùy theo lời nói mà tiếp người, tùy căn cơ mà ứng vật, chỉ dạy bằng Thiên chính ngũ vị, công huân ngũ vị, ngũ thần ngũ vị, vương tử ngũ vị, phân biệt rõ thể dụng, quét sạch tình trần khiến cho vật ngã đều quên, nhân pháp đều bặt mà thôi. “ ● 天 機. Căn khí, căn cơ trời sinh. Lời bạt của Tông Bảo trong Đàn Kinh ghi: “六 祖 大 師 平 昔 所 說 之 法、皆 大 乘 圓 頓 之 旨、故 目 之 曰 經、其 言 近 指 遠、詞 坦 義 明、誦 者 各 有 所 獲。明 教 嵩 公 常 贊 云:天 機 利 者 得 其 深、天 機 鈍 者 得 其 淺。誠 哉 言 也。 – Ngày trước, pháp do Lục Tổ đại sư nói, đều là ý viên đốn của Đại Thừa nên được khen đó là kinh. Kinh ấy nói gần mà ý xa, lời chân thật nghĩa rõ ràng khiến người tụng tiếp thu được. Ngài Minh Giáo Tung thường khen rằng: Người thiên cơ linh lợi đạt được chỗ sâu xa của nó, kẻ thiên cơ chậm lụt cũng hiểu được theo cách nông cạn. Đúng thay lời nói nầy!” ● 天 宮 寺. ở thành phố Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Nguyên là nhà cũ của vua Đường Thái Tông. Niên hiệu Trinh Quán thứ 6 (632) xuống chiếu đổi làm chùa. Năm thứ 12 (638) cho Pháp Hộ làm chủ chùa, cao tăng đến chùa này rất đông, trở thành chùa nổi tiếng ở Lạc Dương. Huệ Tú từng trụ chùa này, giữ giới nghiêm cẩn, thông đạt thiền định. Lúc Võ Hậu đến Lạc Dương thường mời ngài đến hỏi pháp yếu. Còn có Thần Tú hoằng dương Thiền Bắc tông tại chùa này. Hiện chùa đã không còn nữa. ● 偏 党. Chấp nghiêng về một phía, lệch một bên. Chương Tín Tâm Minh của Tam Tổ Tăng Xán Đại Sư trong CĐTĐL q. 30 ghi: 一 空 同 兩 齊 含 萬 象 不 見 精 粗 寧 有 偏 黨 “Nhất không đồng lưỡng Tề hàm vạn tượng Bất kiến tinh thô Ninh hữu thiên đảng”. “Một KHÔNG đồng với hai, Cùng bao hàm vạn tượng Chẳng thấy tinh tế thô sơ Đâu có thiên lệch một bên”. ● 天 童 正 覺 禪 師 廣 錄. Còn gọi: Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục, Hoằng Trí Quảng Lục, Hoằng Trí Lục, Phổ Chiếu Giác Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 9 quyển, do Thiên Đồng Chính Giác soạn vào đời Tống, Tông Pháp và Tập Thành cùng biên tập, và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 124, trang 657. Thiên Đồng Chính Giác là đệ tử của Đan Hà Tử Thuần thuộc tông Tào Động, cùng với Đại Huệ Tông Cảo của tông Lâm Tế, cả hai được xem là hai cửa Cam lộ lớn vào lúc đương thời. Thiền mặc chiếu của Thiên Đồng Chính Giác thực hành lấy việc tĩnh tọa khán tâm làm căn bản. Từ các chỗ trong quyển 8 của sách này chúng ta có thể thấy ý chỉ của Thiền mặc chiếu. Chính Giác cho rằng Thiền mặc chiếu “không có nhiều lời nói, lặng lẽ là phải”. “Ngươi nhằm trong ấy lo lường, hư mà linh, không mà diệu” cũng chính là thông qua phương thức tĩnh tọa mặc chiếu mà thể ngộ tâm hư linh không diệu. Sách này là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về sự phát triển tông Tào Động. ● 天 童 徹 (1621-1705). Thiền tăng đời Thanh, họ Tiêu, tên Triệt, tự Thiên Nhạc, hiệu Bản Thư, người xứ Kỳ Xuân, Hồ Bắc, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Linh Thứu Thành, đời thứ 39 hệ Nam Nhạc. Trụ trì Thiên Đồng sơn tự. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 天 童 寺. Chùa nằm ở chân núi Thái Bạch, phía đông huyện Ngân, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, là 1 tự viện lớn của Thiền Tông. Vào niên hiệu Vĩnh Khang thứ 1 (300), đời Tây Tấn, ngài Nghĩa Hưng đến đây cất am ở. Niên hiệu Khai Nguyên thứ 20 (732) đời Đường, ngài Pháp Tuyền bắt đầu chính thức xây chùa. Đến niên hiệu Chí Đức thứ 2 (757), ngài Tông Bật chọn đất để xây chùa mới (tức nền hiện nay). Niên hiệu Càn Nguyên thứ 2 (759), vua ban tên là “Thiên Đồng Linh Lung Tự”. Niên hiệu Hàm Thông thứ 10 (869), đổi tên là Thiên Thọ Tự. Niên hiệu Cảnh Đức thứ 4 (1007), đời Tống, đổi tên là Cảnh Đức Thiền Tự. Niên hiệu Hồng Võ thứ 25 (1392), đời Minh đổi tên là Thiên Đồng Thiền Tự, Tỉnh Sách phong là ngôi chùa thứ 2 trong 5 ngôi chùa Thiền Tông ở Trung Hoa. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 15 (1587), do nạn cháy rừng toàn chùa bị thiêu hủy. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 4 (1631), đời Minh chùa được Thiền Sư Mật Vân xây dựng lại; trong vòng vài năm hoàn thành: Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Tàng kinh lâu, Chung lâu, La hán đường, Vân thủy đường. Đời Thanh, Vua ban cho hiệu Hoằng Pháp Tự, sau đó gọi là Thiên Đồng Hoằng Pháp Tự, cùng với Kim Sơn Tự ở Trấn Giang, Thiên Ninh Tự ở Thường Châu, Cao Mân Tự ở Dương Châu được xếp là 4 ngôi chùa lớn của Thiền Tông. Năm 1979, chùa được sửa sang toàn diện. Từ đời Nam Tống đến nay, chùa Thiên Đồng là nơi tăng chúng vân tập, các bậc cao tăng xuất hiện. Nhiều đời cao tăng trụ trì như: Hoằng Trí Chính Giác, Trường Ông Như Tịnh, Mật Vân Viên Ngộ. Các vị tăng Nhật Bản như: Vinh Tây, Đạo Nguyên lần lượt đến chùa này cầu pháp vào niên hiệu Càn Đạo thứ 4 (1168), đời Tống, sau khi trở về nuớc, các vị sáng lập “Nhật Bản Phật Giáo Tào Động Tông”, toàn thể Phật giáo đồ suy tôn chùa Thiên Đồng là Tổ đình. ● 天 童 寺 七 佛 塔. ở trước điện Thiên vương, chùa Thiên Đồng, huyện Ngân, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Là bảy ngôi tháp nhỏ bày hình chữ nhất (一) là kiến trúc thời đại Tống Nguyên. Phần nền tòa của tháp hình bát giác, bệ nền mỗi ngôi tháp là một tầng, phần dưới là chân đàn, Như Ý khám. Trên đặt nền tòa 2 tầng, tầng dưới cao, tầng trên thấp, thân tháp là hình bầu dục, chọn dùng theo kiểu “Suất đổ ba”. Phần trên là mái tháp khắc bằng đá, đỉnh tháp hình lục giác nhọn đầu, góc mái vểnh lên, đỉnh tháp độ nghiêng dốc đứng. Thất Phật Tháp mang một tác dụng như sợi dây gắn bó cho cảnh quan trong ngoài Thiên vương điện. ● 天 下 橫 行. Hình dung khí thế vận dụng vô ngại, chẳng chịu người lừa, tùy chỗ làm chủ của người ngộ đạo. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “且 道。是 箇 什 麼。眾 中 還 有 久 參 先 德 天 下 橫 行 具 頂 門 上 眼 底 衲 僧 麼。出 來 爲 白 雲 證 據。也 要 暢 快 平 生。有 麼 有 麼。 – Thử hỏi là cái gì? Trong chúng hoặc có tiên đức nào tham thiền đã lâu, hoặc có người ngộ đạo vận dụng vô ngại, hoặc có nạp tăng đủ con mắt trên trán hay chăng? Hãy bước ra để Bạch Vân (là pháp hiệu của thiền sư Pháp Diễn) làm chứng giùm cho, sẽ được sung sướng cả đời. Có chăng? có chăng?” ● 天 花 落 石 點 頭. Hoa trên trời rơi xuống, đá gật đầu. Hình dung việc giảng kinh thuyết pháp rất hay làm người nghe cảm động, đến nỗi trên trời có hoa thơm rơi xuống, đá cứng cũng cảm động mà gật đầu. Tiết Vân Cư Đạo Ưng Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “汝 等 諸 人、直 饒 學 得 佛 邊 事、早 是 錯 用 心。不 見 古 人 講 得 天 花 落、石 點 頭、亦 不 干 自 己 事。 – Này các vị, dù cho học được việc bên cạnh các đức Phật sớm đã lầm dụng tâm. Chẳng thấy người xưa giảng được hoa trên trời rơi xuống, đá gật đầu còn chẳng dính dáng đến việc của chính mình”. ● 天 花 亂 墜. Hoa trời rơi tới tấp. Truyền thuyết khi Lương Võ Đế, pháp sư Vân Quang giảng kinh, cảm động đến trời, hương hoa từ không trung rơi tới tấp. Về sau, nhà thiền dùng từ ngữ này hình dung việc thuyết pháp hay, làm cảm động mọi người. Chương Thanh Bình sơn Linh Tuân Thiền Sư trong CĐTĐL q. 15 ghi: “若 未 會 佛 意。直 饒 頭 上 出 水 足 下 出 火 燒 身 鍊 臂。聰 慧 多 辯 聚 徒 一 千 二 千。說 法 如 雲 如 雨。講 得 天 華 亂 墜。只 成 箇 邪 說 爭 競 是 非。去 佛 法 大 遠 在。 – Nếu chưa hiểu ý Phật, giả sử trên đầu phun ra nước, dưới chân xẹt ra lửa, thiêu thân đốt tay, thông minh, biện tài, tập họp được một hai ngàn môn đồ, thuyết pháp như mây như mưa, giảng kinh được hoa trời rơi tới tấp, chỉ thành tà thuyết, tranh luận thị phi, cách Phật pháp rất xa. “ ● 遷 化. Còn gọi: Niết Bàn, Viên Tịch, Diệt Độ, Thuận Thế, Quy Chân. Chỉ cho việc thị tịch của hàng tăng lữ. Những bậc Cao tăng có đức độ, khi duyên giáo hóa chúng sinh ở cõi này đã hết liền dời sang cõi khác để hóa độ chúng sinh ở đó. Truyện Đàm Giới trong Lương Cao Tăng truyện q. 5 (Đại 50, 356 hạ) ghi: “有 光 照 于 身、容 貌 更 悅、遂 奄 爾 遷 化。 – Thân có ánh sáng chiếu ra, gương mặt vui vẻ, bỗng nhiên thị tịch”. ● 天 皇 寺 (68). ở huyện Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Chùa được xây dựng vào đời Lương Nam Triều, khi ấy Pháp Luận từng ở chùa này dạy dỗ đệ tử. Đời Bắc Chu Võ Đế, đây là nơi hủy Phật pháp của Nan Ba và Kinh Sở, bởi trong chùa có tượng Khổng Tử do vị tăng vẽ nên được đổi làm trường học, tránh khỏi bị hủy diệt. Thời Đường Đức Tông, Linh Giám nghinh đón đệ tử nối pháp của Thạch Đầu Hy Thiên là Thiền Sư Đạo Ngộ đến bản tự, tu sửa đường vũ, hoằng dương Phật pháp. Đời Tống ban đầu gọi là “Thái Bình Hưng Quốc Tự”, sau đổi tên là “Càn Minh Tự”. Khoảng niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh xây dựng lại. ● 千 熙 (1335-1415). Thiền tăng Cao Ly, họ Phác. Niên hiệu Chí Chính thứ 24 (1364) vượt biển sang nhà Nguyên (Trung Quốc) tầm phỏng thiện tri thức, đến chùa Thánh Ân tham học với Thiền Sư Vạn Phong Thời Uùy mà đắc pháp, đời thứ 26 hệ Nam Nhạc. Sư là một trong những Tổ sư tông Tào Khê Triều Tiên. ● 天 寬 地 窄. Còn gọi: Thiên Địa Huyền Thù, Thiên Địa Huyền Cách. Cách đạo rất xa. NĐHN q. 9 ghi: “若 道 得、有 參 學 眼。若 道 不 得、天 寬 地 窄。 – Nếu nói được thì ông có con mắt tham học, nếu nói không được thì cách đạo rất xa”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “云 何 是 法。法 者 是 心 法。心 法 無 形 通 貫 十 方 目 前 現 用。人 信 不 及。便 乃 認 名 認 句。向 文 字 中 求 意 度 佛 法。天 地 懸 殊。 – Thế nào là pháp? Pháp tức là tâm pháp, tâm pháp không hình, thông suốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Vì con người chẳng thể tin nổi bèn nhận danh, nhận cú, hướng trong danh tự, so đo tìm nghĩa; thế là còn cách thiền pháp rất xa!”. Tham thiền kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、恍 惚 不 得 毫 釐 有 差、天 地 玄 隔 “Tham thiền đệ nhất Hoảng hốt bất đắc Hào ly hữu sai Thiên địa huyền cách”. “Pháp tham thiền đệ nhất Lờ mờ thì chẳng đắc Phân biệt dù mảy may Cách đạo còn xa lắc”. ● 天 籟. Sáo trời, tức là những âm hưởng của tự nhiên như gió thổi vào hang, tiếng reo của cây… Thiên Bán Dạ Thì trong Khóa Hư Lục ghi: “伏 以、三 更 漏 轉 萬(天)籟 清 塵。 – Cúi nghĩ, giọt lậu canh ba vừa chuyển, sáo trời muôn tiếng đều im”. ● 千 了 百 當. Còn gọi: Thiên Ẩn Bách Đáng. Mục đích của đời tu (việc lớn) xong xuôi. Việc lớn đã xong. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL q. 9 ghi: “沒 量 大 人 即 是 你、你 到 者 箇 田 地、方 是 千 了 百 當 底 時 節、方 是 見 釋 迦 與 達 磨 無 地 可 容 身、更 說 甚 麼 雲 門、臨 濟! – Người đại triệt đại ngộ tức là ngươi, ngươi đến được trình độ này mới là lúc xong xuôi việc lớn, mới tự thấy Thích Ca cùng Đạt Ma không có đất dung thân, còn nói gì đến Vân Môn, Lâm Tế!” Tiết Thị Tâm Nguyên Tụ Duy Na trong DTNL q. 3 ghi: “夫 欲 達 識 心 源、別 無 奇 術、惟 於 念 慮 汹 通 之 際、用 截 流 機、當 頭 坐 斷、向 事 物 蔽 交 之 時、具 透 關 眼、徹 底 照 破、倏 爾 洞 見 心 源、如 口 唇 邊 摸 得 鼻 孔、自 然 千 穩 百 當、不 待 問 人 矣。 – Luận đến việc muốn thấu rõ nguồn tâm, không có thuật lạ nào khác, chỉ ở khoảng suy nghĩ lo lắng đang cuộn trào mãnh liệt, cần chặt đứt cơ dụng của dòng ý thức, quét sạch nó ngay lập tức. Lúc tiếp xúc với sự vật, phải đủ pháp nhãn, chiếu phá triệt để thì cái điều ước muốn của ngươi thấu rõ nguồn tâm như là bên môi miệng mò được lỗ mũi, tự nhiên việc lớn đã xong, chẳng đợi hỏi người nào khác”. ● 千 里 萬 里. Ngàn dặm muôn dặm, ý nói cùng với thiền nghĩa cách nhau rất xa. Đây là lời thiền sư ưa dùng. Tào Sơn Ngữ Lục ghi: “若 不 妙 會、則 千 里 萬 里。 – Nếu chẳng diệu ngộ thì cùng với thiền nghĩa cách nhau rất xa”. ● 天 目 明 本 禪 師 雜 錄. X. Trung Phong Hòa Thượng Tạp Lục. ● 天 然 (739-824). Thiền tăng đời Đường, người Đặng Châu (Hà Nam) Trung Quốc. Ban đầu sư theo Nho nghiệp, sắp vào Trường An ứng thí, gặp thiền tăng mà tỉnh ngộ bèn bỏ thi cử và đến yết kiến Thạch Đầu Hi Thiên cầu học thiền pháp, chấp dịch 3 năm mới được cạo tóc thụ giới. Lại tham kiến Mã Tổ Đạo Nhất được pháp hiệu “Thiên Nhiên”. ở núi Thiên Thai, ngọn Hoa Đỉnh 3 năm, lại đến Kính Sơn tham bái Thiền Sư Quốc Nhất. Sau vào chùa Huệ Lâm ở Lạc Dương gặp phải trời rét liền đốt tượng Phật gỗ để sưởi ấm nên danh tiếng đồn khắp nơi, “Đơn Hà thiêu Phật” trở thành công án Thiền Tông nổi tiếng. Sư trở về quê ở núi Đơn Hà hoằng hóa thiền phong, đời gọi là “Đơn Hà Thiên Nhiên”. Thụy là “Trí Thông Thiền Sư”, tháp hiệu “Diệu Giác”. ● 天 寧 寺. 1. Nằm bên ngoài cửa ải phía tây huyện Hải Khang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, được xây vào đời Đường. Tên cũ là “Báo Ân Tự”. Sơn môn của chùa có 4 chữ “Vạn Sơn Đệ Nhất” do Tô Đông Pha viết. Là nơi ưa thích của tao nhân mặc khách nhiều thời đại. Lý Cương, Triệu Đỉnh, Hồ Thuyên lúc bị giáng chức đày về Nam đều từng ở lại chùa này. 2. X. “Bắc Kinh Thiên Ninh Tự”. 3. X. “Dương Châu Thiên Ninh Tự”. 4. X. “Thường Châu Thiên Ninh Tự”. 5. X. “Kim Hoa Thiên Ninh Tự”. Hà Nội 25km về phía tây. Thượng điện của chùa này là một kiến trúc đơn giản mà hùng mạnh. Trông bên ngoài là một tòa mái rộng, ngói to và dầy chụp lên bốn mặt ● 天 寧 寺 塔. Tháp nằm trong khuôn viên Thiên Ninh Thiền Tự, ngoài Quảng An Môn, khu Tuyên Vũ, thủ đô Bắc Kinh Trung Quốc. Theo sách Hữu Quan Văn Hiến, tháp được xây sớm nhất vào đời Tùy, nhưng xem cách tạo hình, kết cấu thì phải là tháp đời Liêu được xây vào đầu thế kỷ thứ 12. Tháp được xây trên một cái đài hình vuông, cao 57,8 mét. Mặt bằng là hình bát giác, đáy là tòa Tu Di, trên khắc ba tầng cánh sen to lớn nâng đỡ thân tháp tầng thứ nhất. Góc quàng thân tháp làm trụ, trên trụ có giao long quấn tròn. Bốn mặt chính là cửa, hai bên cửa có tượng Thiên vương, hình tượng sinh động truyền thần. Toàn bộ tháp tạo dáng vững vàng trang trọng, hùng vĩ tráng lệ. Tòa Tu Di, thân tháp tầng thứ nhất, 13 tầng mái kín, ngọc báu to lớn kết trên đảnh, tạo thành toàn thể nghệ thuật nặng nhẹ, dài ngắn, kín hở, xen kẻ nhau, liền lạc nhau. ● 千 佛 塔. X. Hoa Tháp. ● 千 佛 寺. X. Hưng Quốc Thiền Tự. ● 千 峰 寺. X. Phong Huyệt Tự. ● 天 福 寺. Còn gọi: Chùa Thầy, Chùa Cả. Chùa ở phía nam núi Sài Sơn, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (Hà Sơn Bình), Việt Nam, cách hiên thấp đứng trên một nền bệ đất cao. Bên trong là một bộ sườn nhà cao lớn với những cột to kèo lớn đội một mái nhà một gian hai chái nhưng to rộng khác thường. Cột kèo chạm trổ đơn giản nhưng những vách gỗ bọc chung quanh được cấu tạo theo kiểu nong đố dầy chắc. Trong chùa có thờ tượng của Thiền Sư Từ Đạo Hạnh. ● 千 福 寺. ở phường An Định, Trường An xưa, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Niên hiệu Hàm Hanh thứ 4 (673) đời Đường, Thái tử Chương Hoài bỏ nhà làm chùa. Học trò của Thiện Đạo là Hoài Cảm trụ trì, kẻ đồng đạo bốn phương đến xin ở ngày càng đông. Cuối những năm Khai Nguyên (713-741) Sở Kim thiền tọa 6 năm tại chùa này. Niên hiệu Thiên Bảo thứ 3 (744) xây cất tháp, tập họp các vị Đại đức ở dưới tháp tu “Pháp Hoa tam muội”. Niên hiệu Thượng Nguyên thứ 2 (761) vua Túc Tông vời Huệ Trung đến cung đình làm lễ thầy trò, sai trụ Tây Thiền Viện của chùa này. Thời kỳ Võ Tông hủy Phật, chùa này cũng bị phá hoại. Niên hiệu Đại Trung thứ 6 (852) phục hưng, đổi tên là “Hưng Nguyên Tự”, về sau dần dần suy vi, hiện chùa không còn nữa. ● 千 光 禪 寺. ở làng Thủy Thượng, huyện Gia Nghĩa, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Đạo Quang (1821-1850) đời Thanh sáng lập, ban đầu gọi “Thiện Đức Phật Đường”. Niên hiệu Đồng Trị thứ 3 (1864), Quang Tự thứ 7 (1881) từng hai lần thi công. NaÊm 1932 tín đồ cũng tập họp tiền bạc xây cất lại. Về sau gặp phải trình độ bất đồng mà hủy hoại. Tín đồ vì hoằng dương Phật pháp mà quyết định dời chỗ xây dựng. Năm 1966 đặt mua khu đất hiện nay, năm sau khởi công xây dựng. Năm 1968 đổi tên là “Thiên Quang Thiền Tự”. ● 千 差. Nhiều sự khác biệt, đủ mọi sự khác biệt. Mật Am Ngữ Lục ghi: “在 處 爲 瑞 爲 祥。爲 龜 爲 鑑。牆 塹 法 門。股 肱 王 室。不 是 神 通 妙 用。亦 非 法 爾 如 然。何 謂 如 此。自 從 踏 斷 千 差 路。便 向 毘 盧 頂 上 行。 – ở nơi nào cũng làm tốt làm lành, làm gương làm mẫu, làm người hộ trì cho pháp môn, trợ thủ đắc lực cho Hoàng gia, nhưng đều chẳng phải là thần thông diệu dụng, cũng chẳng phải là lẽ ấy như thế. Vì sao nói như vậy? Từ khi đi trên nhiều đường sai khác, bây giờ mới nhằm trên đỉnh Tỳ Lô bước lên. “ ● 千 山. Còn gọi: Thiên Hoa Sơn, Tích Thúy Sơn, Thiên Đóa Liên Hoa Sơn. Núi ở cách thành phố Liêu Dương về phía đông nam 30km, cách thành phố Yên Sơn, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc 20km về phía đông, là một trong ba đại danh sơn vùng Đông Bắc. Núi cách mặt biển hơn 700m, diện tích khoảng 300㎢. Trong núi có nhiều ngọn núi kỳ lạ, chùa chiền bố trí như bàn cờ. Đồi núi tổng cộng 999 tòa, vì gần 1000 nên gọi là “Thiên Sơn”. Tiên Nhân Đài là ngọn cao thứ nhất, Ngũ Phật Đỉnh là ngọn cao thứ nhì. Từ xưa đã có lời khen “không ngọn núi nào không lạ, không vách đá nào không dốc, không chùa chiền nào không cổ”. Trong danh thắng cổ tích, năm đại tùng lâm là nổi tiếng hơn cả. Đó là Hương Nham, Tổ Việt, Long Tuyền, Trung Hội, Đại An, đều được xây dựng vào khoảng niên hiệu Cảnh Đức (1004-1007) đời Tống, nổi tiếng vào đời Minh. Chùa Long Tuyền là cự phách, kiến trúc hai chùa Đại An, Trung Hội rất là tao nhã cổ kính, ở giữa hai chùa lại có Huyền Nhai La Hán Động. Trên vách đá phía sau chùa Tổ Việt có khắc bốn chữ “Độc Trấn Quần Hiệp”. ● 千 山 萬 水. Ngàn núi muôn sông, ý nói cách thiền pháp rất xa, căn bản chẳng hợp thiền pháp. Đây là lời thiền sư hay dùng. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng: “才 擬 擬 早 已 千 山 萬 水。 – Vừa mới suy nghĩ đã cách thiền pháp rất xa”. ● 天 台 山. Còn gọi: Thiên Thê Sơn, Thai Nhạc. Núi thuộc huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc cách thành phố 2km về phía bắc. Vì hình dáng núi giống như 8 cánh sen búp, có 8 nhánh 8 khe và thượng đài, trung đài, hạ đài giống như cái đài của Tam tinh, nên gọi là Thiên Đài (Thiên Thai). Tương truyền vào niên hiệu Xích Ô (238-251) của nhà Ngô, thời Tam Quốc, núi này đã có chùa Phật, từ đời Đông Tấn trở đi, có các ngài: Chi Tuần, Đàm Quang, Trúc Đàm Thái, đã từng ở đây. Niên hiệu Thái Kiến thứ 7 (575) nhà Trần thời Nam Bắc Triều, ngài Trí Khải chọn chỗ tu thiền và lập Tu Thiền Tự trên ngọn Phật Lũng (sau đổi tên Thiền Lâm Tự). Niên hiệu Khai Hoàng thứ 18 (598) đời Tùy, Tấn Vương là Dương Quảng dựng Thiên Thai Sơn Tự, đến năm 605, Vua ban hiệu chùa là Quốc Thanh. Năm 804, 2 vị tăng Nhật Bản là Tối Trừng và Nghĩa Chân đến Tu Thiền Tự để học Ngưu Đầu Thiền với ngài Tu Nhiên. Cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại, Thiền Tông hưng thạnh, chùa thiền trên núi Thiên Thai rất nhiều, các vị như Đức Thiều, Sư Uẩn đã từng trụ Vân Cư, quy y cho Ngô Việt Vương, phục hưng di tích của ngài Trí Khải. Đức Thiều xây cất “Bảo Quốc Hoa Nghiêm Viện”. Rặng Thiên Thai có nhiều núi đẹp, cao lớn nhiều vẻ, suối chảy thác tuôn trắng tinh như dãi lụa. Có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng như: Thác treo kèo đá, Ráng đậu Xích Thành, Đêm trăng Quỳnh Đài, Buổi sáng mùa xuân ở Đào Nguyên… ● 遷 台 寺. Còn gọi: Địa Tạng Thiền Lâm. ở phía bắc đình Bổng Nhật, ngọn Thiên Thai, núi Cửu Hoa, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Vào đời Đường, Kim Địa Tạng kết tranh làm am ở nơi đây, có tăng Khiết Bình thường từ gò La hán đến đây gặp gỡ trò chuyện với Địa Tạng. Đời Tống cao tăng Tông Cảo có làm thơ vịnh chùa này: “Đạp biến Thiên Thai bất tác thinh, thanh chung nhất chử vạn sơn minh” (Giẫm khắp Thiên Thai chẳng tiếng tăm, chuông vang một tiếng động núi non). Đời Minh chùa này y nguyên vô cùng sơ sài, chỉ là vài gian nhà tranh với cỏ xanh. Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) đời Minh, tăng trong chùa là Trân Ngọc tuần tra núi, bảo vệ núi vài mươi năm như một ngày. Vào cuối đời Minh đầu đời Thanh Thiền Sư Mặc An giỏi cả thi thư họa trường kỳ ở chùa này. Khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, tăng Trần Trần Tử kết am bên cạnh chùa, gọi “Hoạt Mai Am”. Thi nhân đời Thanh Viên Mai có bài thơ viết về Hoạt Mai Am trong quyển “Tùy Viên thi Thoại”: “Thùy bả am danh hiệu Hoạt Mai, linh nhân thiên cổ phí nghi xai. Ngã kim khởi thị khinh sinh giả, chỉ vị tùng tiền tử quá lai. “ (Ai đặt tên am là Hoạt Mai, khiến người thiên cổ phải nghi hoài. Nay tôi đâu phải người tự tử, chỉ bởi trước đây đã chết rồi). Về sau có Hòa Thượng Lãn Ngộ thường ở nơi này họa vẽ vật thực và cùng với trụ trì Pháp sư Nghĩa Phương đàm đạo suốt ngày. Chùa dựa vào thế núi mà cất, trước sau ba dãy điện vũ là Địa Tạng điện, Đại hùng bảo điện, Vạn Phật lâu, dãy sau còn có Thiền phòng, Nhà khách. Tượng Phật ở mỗi điện trang nghiêm, chuông to, trống lớn, pháp khí có đủ cả. Trên Vạn Phật lâu nhiều tượng khắc gỗ treo đầy trên xà nhà, bị khói hương xông mãi nên rất giống tượng Phật đúc bằng sắt. Trên núi sau điện có một hòn đá lớn, trên có in dấu chân lớn hình lõm, tương truyền đó là dấu chân của Kim Địa Tạng để lại. ● 天 聖 廣 燈 錄. Đăng Lục, 30 quyển, do Lý Tuân Húc biên soạn vào đời Tống. Vào niên hiệu Thiên Thánh thứ 7 (1029), Tuân Húc dâng Quảng Đăng Lục lên vua Tống Nhân Tông. Vua ban cho 2 chữ Thiên Thánh làm tựa sách, được xuất bản vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 18 (1148), về sau đựơc xếp vào Tục Tạng Kinh tập 135, trang 595. Sách này thu thập lược truyện và cơ duyên của khoảng trên 370 vị từ Phật Thích Ca, 27 vị Tổ ấn Độ, 6 vị Tổ Trung Quốc đến 9 đời dưới Tổ Nam Nhạc, 12 đời dưới Tổ Thanh Nguyên. Đặc biệt kể tỉ mỉ về hệ phái Nam Nhạc, gom chép hầu như toàn bộ Ngữ Lục các thiền sư từ Mã Tổ Đạo Nhất trở về sau. ● 遷 神. (Tăng nhân) chết, mất. Chương Kính Sơn Hồng Nhân Thiền Sư trong CĐTĐL q. 11 ghi: “咸 通 六 年 上 徑 山。明 年 本 師 遷 神。眾 請 繼 躅 爲 徑 山 第 三 世。 – Niên hiệu Hàm Thông thứ 6 (379) sư lên Kính Sơn. Năm sau, bản sư mất, chúng thỉnh sư tiếp trụ trì Kính Sơn, đời thứ ba. “ ● 千 七 百 則 陳 爛 葛 藤. Một ngàn bảy trăm (1. 700) công án là lời cũ mèm vô dụng. 1. 700 tắc: chỉ cho tất cả công án trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục đời Bắc Tống. Cát đằng: dây leo, dụ chỉ lời nói trong công án. Hàm ý chê bai. Tiết Trung Phong Hòa Thượng Hành Lục trong TPQL q. 30 ghi: “任 以 百 千 聰 明、一 一 把 他 三 乘 十 二 分 教、千 七 百 則 陳 爛 葛 藤、百 氏 諸 子、從 頭 注 解 得 盛 水 不 漏、總 是 門 外 打 之 繞、說 時 似 悟、對 境 還 迷。 – Mặc cho ông đem tất cả trí thông minh hiểu hết được kinh điển tam thừa, 1. 700 công án cũng đều là lời cũ mèm vô dụng. Đối với Bách gia chư tử, dù cho ông có chú giải khéo léo từ đầu đến cuối đều là đi loanh quanh ngoài cửa, lúc nói thì giống như ngộ, nhưng khi đối cảnh vẫn còn mê”. ● 天 壽 寺 大 聖 寶 塔. Nằm trong khuôn viên chùa Thiên Thọ, huyện Quảng Đức, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Chùa Thiên Thọ nguyên gọi là “Thông Thiên Tự”, do Thiền Sư Pháp Uyển sáng lập vào khoảng niên hiệu Thiên Hựu (904-907) đời Đường. Niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc thứ 1 (1101) đời Tống đổi tên là “Khai Hóa Tự”. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 30 (1602) đời Minh mới đổi tên là “Thiên Thọ Tự”, bị phá hủy vào năm 1938, chỉ còn tháp này. Đại Thánh Bảo Tháp được xây vào niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 (979) đời Tống, khi đó chỉ có 5 tầng. Niên hiệu Nguyên Phù thứ 2 (1099) bị lửa thiêu hủy. Niên hiệu Sùng Ninh thứ 4 (1105) trùng tu thành 7 tầng. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 30 (1602) đời Minh, Khang Hy thứ 7 (1668) lần lượt trùng tu. Tháp thể hiện còn là kết cấu hỗn hợp gạch gỗ theo kiểu lâu các, hình lục giác, 7 tầng, 6 cửa, cao khoảng 42m. Đỉnh tháp là kiểu nồi sắt úp, mái cong phô bày ngói ống màu xanh lam, có treo phong linh, tạo dáng đặc biệt hoa lệ. ● 天 壽 聖 恩 寺. Nằm ở sườn nam núi Đặng Úy, thị trấn Quang Phúc, huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Thiên Thọ và Thánh Ân vốn là hai chùa. Thiên Thọ Thiền Tự sáng lập vào khoảng niên hiệu Thiên Bảo (742-755) đời Đường, Thanh Ân Thiền Viện sáng lập vào khoảng niên hiệu Bảo Hựu (1253-1258) đời Tống. Thiên Thọ Thiền Tự bị hủy vào đời Nguyên. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 9 (1376) đời Minh đem hai chùa hiệp làm một, phát triển mạnh công trình thổ mộc, xây đại điện, đúc chuông, cất lầu chuông. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 7 (1409) trùng tu đại điện, xây Tàng kinh các, Thiên vương điện. Niên hiệu Chính Thống thứ 8 (1443) ban cho tấm biển “Thiên Thọ Thánh Ân Tự”. Niên hiệu Chính Thống thứ 10 (1445) lại xây Phạm thiên các. Hoàng đế Càn Long sáu lần Nam tuần, đều đến chùa này ban tấm biển, tặng thơ, đề chữ, từ đây danh tiếng chùa càng lẫy lừng. Hiện chỉ còn Đại hùng bảo điện, Thiên vương điện, Tăng xá. Ngoài ra còn có nửa ngôi miếu thờ đời Minh và phần điêu khắc đá rất tinh xảo. ● 天 上 天 下 唯 我 獨 尊. Trên trời dưới trời, chỉ có Ngã là tôn quý. Truyền thuyết khi Phật ra đời đã nói ngay câu này. Tiết Thích Ca Mâu Ni phật trong NĐHN q. 1 ghi: “祇 如 世 尊 生 下、一 手 指 天、一 手 指 地、云:天 上 天 下、唯 我 獨 尊。 – Thế Tôn vừa được sinh ra, liền một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, bước đi bảy bước, mắt nhìn bốn hướng, nói: Trên trời dưới trời, chỉ có Ngã là tôn quý. “ Nhà Thiền sử dụng lời nói này, ngụ ý rằng: Tự tâm là Phật, tự ngã là chủ. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “所 以 道:萬 象 之 中 獨 露 身、惟 人 自 肯 乃 方 親、昔 年 謬 向 途 中 覓、今 日 看 如 火 裏 氷。天 上 天 下 唯 我 獨 尊。人 多 逐 末、不 求 其 本。先 得 本 正、自 然 風 行 草 偃、水 到 渠 成。 – Cho nên nói: ở trong muôn tượng riêng bày thân, chỉ người tự nhận mới là gần, năm xưa lầm hướng ngoài đường kiếm, xem lại trong lò lửa kết băng. Trên trời dưới trời, chỉ có ngã là tôn quý. Phần lớn mọi người chạy theo ngọn, chẳng tìm ngay gốc của nó. Trước tiên phải được nơi gốc, tự nhiên mọi việc tiến hành thuận lợi, không có gì phải lo. “ ● 遷 寂. (Tăng nhân) mất, chết. Tông Môn Võ Khố ghi: “暨 明 安 遷 寂。遺 囑 云。瘞 全 身 十 年 無 難。當 爲 大 陽 山 打 供。 – Đến khi Minh An mất, di chúc rằng: Toàn thân được chôn kín trong mười năm không bị nạn gì, nhưng sau đó sẽ bị Đại Dương Bình đánh. “ ● 天 晴 不 肯 去. Trời tạnh chẳng chịu đi. Nói đủ gồm có 2 câu: 天 晴 不 肯 去、直 待 雨 淋 頭。 Thiên tình bất khẳng khứ Trực đãi vũ lâm đầu “Trời tạnh chẳng chịu đi Chờ mãi mưa ngập đầu” Thiền Tông mượn nhóm từ này để chê người học thiền chẳng biết nắm lấy thời cơ để lập tức ngộ nhập. Tiết Linh ẩn Huyền Bản Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “問:臨 濟 入 門 便 喝、德 山 入 門 便 棒、此 意 如 何?師 曰:天 晴 不 肯 去。 – Hỏi: Vào cửa Lâm Tế liền bị hét, vào cửa Đức Sơn liền bị đánh, ý này thế nào? Sư đáp: Trời tạnh chẳng chịu đi!” ● 千 松 筆 記. Bút ký, 1 quyển, do Đại Thiều viết vào đời Minh, được ấn hành vào cuối đời Minh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 773. Sách này thu thập 4 thiên do Đại Thiều viết lúc ở Thiền viện Thiên Tùng, Biện Sơn. Đó là: “Thiên Tùng Bút Ký”, Thiền Tông Hợp Luận”, “Lăng Nghiêm Kích Tiết”, “Tạp trước” và lấy thiên đầu “Thiên Tùng Bút Ký” để làm tên sách. Nội dung nêu lên việc tham thiền ngộ đạo có thể ở trong pháp thế gian kiểm chứng được pháp xuất thế gian và ngược lại. Một loại bản gốc còn được xếp vào 1 thiên “Kim Cang Chính Nhãn”. ● 天 資 福 寺. Còn gọi: Chùa Côn Sơn, chùa Hun. Chùa nằm trong núi Côn, thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng, miền Bắc Việt Nam, là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất vào đời Trần. Chùa nguyên được lập ra từ triều Lý nhưng mãi đến đời Trần, được Tam Tổ Trúc Lâm là Huyền Quang sửa sang thành một ngôi đại tùng lâm. Tam Tổ trụ trì và viên tịch tại đây, Xá Lợi được bảo tàng trong ngọn tháp ở phía sau chùa trên lưng chừng núi Côn Sơn. Tháp xây bằng đá xanh, xung quanh có tường hoa, mặt tường có những viên gạch cổ chạm triệu gấm, rất lớn và nặng. Tương truyền xưa kia, chùa này tòa ngang dãy dọc có đến 83 gian. Sau bao năm tháng đổi thay, bao cuộc chiến tranh tàn phá, chùa chỉ còn lại mấy gian thờ Phật và gian nhà Tổ. Đến đầu triều Nguyễn, vị thiền sư Trụ trì trùng tu lại chùa: Tòa thượng điện khá to, ngói lợp to bằng cái khay hình chữ nhật kiểu mũi hài và rất dầy, đến nay vẫn còn Nhà Tổ thờ Trúc Lâm Tam Tổ, hai bên thờ tượng các vương hầu đời hậu Lê. Tất cả tượng đều được tạc rất khéo. ● 禪. 1. Một phương pháp tu luyện từ thời cổ ấn Độ truyền sang Trung Quốc, tiếng Phạn là Dhyàna, dịch âm là Thiền na, gọi tắt là Thiền, cách dịch cũ là Tư duy tu, cách dịch mới là Tĩnh lự. Giống với từ thiền định, nghĩa là tâm chuyên chú vào một cảnh nhất định và chỉ suy nghĩ kỹ về cảnh đó. ● 2. Chỉ thiền pháp của Thiền Tông Trung Quốc, tương truyền chính là do đức Phật Thích Ca Mâu Ni trao truyền lại. Kỳ thực là do thiền tăng Trung Quốc sáng lập thứ thiền pháp gọi là “Chính pháp nhãn tạng”. Nhà thiền cho rằng thứ thiền này không thể nói ra, không thể định được phạm vi, không thể giải thích, vượt khỏi mức suy nghĩ bình thường. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “上 堂 云:如 何 是 禪?閻 浮 樹 在 海 南 邊。近 則 不 離 方 寸。遠 則 十 萬 八 千。畢 竟 如 何?禪 禪! – Sư thượng đường nói: Thiền là gì? Cội Diêm Phù ở bên Hải Nam. Gần thì chẳng rời tấc vuông, xa thì mười muôn tám ngàn. Rốt cuộc là gì? Thiền! Thiền!” Tiết Tịnh Pháp Chương Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “廣 主 問:如 何 是 禪?師 乃 良 久。 – Quảng chủ hỏi: Thiền là gì? Sư lặng lẽ chẳng nói”. ● 3. Chỉ Thiền Tông Trung Quốc. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “禪、教、律 三 宗、本 是 一 源、後 世 分 之 爲 三、乃 其 智 力 弗 能 兼 也。 – Ba tông Thiền, Giáo, Luật vốn là một nguồn, đời sau chia nó ra làm ba vì trí lực của họ chẳng thể bao gồm hết”. ● 禪 庵. Nhà cỏ đơn sơ để tu tập pháp thiền. Huyền Giác truyện trong TCTT q. 8 ghi: “睹 其 寺 旁 別 有 胜 境、遂 於 巖 下 自 构 禪 庵。 – Sư thấy cạnh chùa có một cảnh đẹp nên tự xây một thiền am dưới vách núi”. ● 禪 伯. Lời tôn xưng các vị thiền sư có đạo đức cao, danh vọng lớn. Thư Dương ức gởi Lý Duy trong CĐTĐL q. 30 ghi: “去 年 假 守 玆 郡。適 會 廣 慧 禪 伯。 – Năm ngoái tạm trấn giữ quận này, may mắn gặp được thiền bá Quảng Huệ”. ● 禪 板. Còn gọi: ỷ bản. Tấm ván được dùng để tựa lưng hoặc để gác tay cho đỡ mỏi trong khi ngồi thiền. Kích thước: 1 x 6 x 54cm. Trên đầu có khoét một lỗ tròn để xỏ dây. Khi ngồi thiền sẽ cột tấm ván này nằm ngang trên giường thiền, bề mặt hơi nghiêng để dễ tựa lưng. Nếu muốn đỡ mỏi tay thì đặt nó nằm ngang trên hai đầu gối. Tắc 20, Bích Nham Lục q. 2 (Đại 48, 181 thượng) ghi: 龍 牙 山 裏 龍 無 眼 死 水 何 曾 振 古 風 禪 板 蒲 團 不 能 用 只 應 分 付 與 盧 公 “Long Nha sơn lý long vô nhãn Tử thủy hà tằng chấn cổ phong Thiền bản bồ đoàn bất năng dụng Chỉ ưng phân phó dữ Lô Công”. “Trong núi Long Nha rồng không mắt, Nước chết đâu làm thịnh Thiền Tông, Thiền bản bồ đoàn không dùng được, Chỉ nên giao phó lão Lô Công”. ● 禪 病. Đứng về lập trường Tổ sư thiền, nói chung những gì có thể chướng ngại sự kiến tính đều gọi là Thiền bệnh. Nói khác đi, hễ có sở trụ đều là bệnh, lọt vào tương đối đều là bệnh. Viên Giác Kinh (Đại 17, 920 thượng) ghi: “大 悲 世 尊!快 說 禪 病、令 諸 大 眾 得 未 曾 有、心 意 蕩 然、獲 大 安 隱。 – Đại bi Thế Tôn! Đã thuyết rõ những thiền bệnh khiến đại chúng trong hội được pháp chưa từng có, tâm ý sạch trơn, được hoàn toàn an ổn”. ● 禪 備 眾 格. Pháp môn của nhà thiền bao gồm và súc tích nhiều phương thức. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “臨 濟 語 上 直 截、曹 洞 語 上 宛 轉、此 其 大 概 也。然 諸 大 老、亦 有 不 盡 然 者。。。此 乃 大 慧 所 謂 禪 備 眾 格、不 可 以 一 途 局 也。 – Lâm Tế ưa nói quả quyết, Tào Động chuộng nói uyển chuyển, đây là những nét lớn về tông phái của họ. Nhưng các bậc đại lão, cũng có người chẳng phải hoàn toàn như thế… Đây chính là chỗ Đại Huệ gọi là Thiền bị chúng cách, không hạn cuộc trong một đường hướng”. ● 禪 毬. Quả banh lông, nhà chùa dùng để ném đánh thức người tu thiền ngủ gật. Tư Trì Ký q. hạ ghi: “Quả banh của nhà chùa dùng gọi là thiền cầu, được ném từ đằng xa để đánh thức người ngủ gật trong lúc tọa thiền”. ● 禪 主 大 師. Hiệu của Thiền tăng Kiểu Nhiên, đời Ngũ Đại, do Mân Vương ban cho. X. Kiểu Nhiên. ● 禪 眾. Tăng chúng tham thiền. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng: “師 入 院 日。僧 問:遠 別 雙 泉 來 臨 禪 眾。入 門 一 句 願 師 舉 揚。 – Ngày sư vào viện, có vị tăng hỏi: Từ giả Song Tuyền, đi đến nơi tăng chúng tham thiền, ngưỡng mong Sư nói cho một câu mới vào cửa”. ● 禪 悅. Trạng thái vui vẻ thoải mái phát sinh nơi tâm khi người tu nhập vào thiền định. Thượng Sĩ Hành Trạng trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: “日 以 禪 悅 爲 樂、不 以 功 名 硋 膺。 – Ngày ngày Thượng sĩ chỉ lấy Thiền duyệt làm vui, không lấy công danh làm sở thích”. ● 禪 道. Đạo pháp Thiền Tông. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung: “大 眾 且 道。昨 夜 夢 底 是。適 來 說 底 是。眾 中 盡 是 久 參 先 德 禪 道 之 精。若 人 辨 得 試 出 來。露 箇 消 息 看。 – Thử hỏi đại chúng đêm qua mộng cái gì, vừa rồi nói cái gì? Trong chúng đều là các bậc tiên đức tham thiền lâu ngày, tinh thông đạo pháp Thiền Tông. Nếu có người nào biện được, thử bước ra thố lộ tin tức xem!” ● 禪 燈 世 譜. Đăng Lục, 9 quyển, do Ngô Đồng biên tập vào đời Minh, Đạo Mân trùng biên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 513. Đạo Mân sưu tập tư liệu từ trong các Truyền Đăng Lục, các bi minh còn sót lại để biên tập thế phổ của chư sư Thiền Tông. Đạo Mân tình cờ được biết Ngô Đồng cũng có trước thuật giống như mình, nên hai người cùng hợp tác, thêm phần tu đính thành sách. Đem vào những vị được truyền thừa có căn cứ, theo biểu đồ các tông soạn thành thế phổ, còn những vị không rõ nối pháp ai thì phụ vào ở cuối tông. Toàn sách được trình bày sáng sủa, có thứ tự lớp lang. ● 禪 頭. 1. Thủ tọa trong thiền viện. Đại Giám Thanh Quy (Đại 81, 621 hạ) ghi: “僧 堂 坐 禪 號 令、權 在 首 座、不 在 住 持、首 座 謂 之 禪 頭。 – Hiệu lệnh tọa thiền ở Tăng đường quyền ở vị Thủ tọa, chứ không ở vị Trụ trì, Thủ tọa được gọi là Thiền đầu”. ● 2. Còn gọi: Thiền Đậu, Thiền Đâu, Thiện Đô. Dịch âm của chữ Phạn Jantu, có nghĩa là chúng sinh. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 禪 定. Tĩnh tâm suy nghĩ, chuyên chú vào một cảnh. Tiết Tống Huy Tông Hoàng Đế trong NĐHN q. 6 ghi: “政 和 三 年、嘉 州 巡 捕 官 奏:本 部 路 傍 有 大 古 樹、因 風 摧 折、中 有 一 僧 禪 定、鬚 髮 被 體、指 爪 遶 身。 – Niên hiệu Chính Hòa thứ 3 (1113) quan Tuần bổ ở Gia Châu tâu rằng: Có cội cổ thụ bên đường của bản bộ bị gió thổi ngã, bên trong cội cây có một vị tăng đang thiền định râu tóc xoả che thân thể, móng tay mọc dài quấn quanh thân”. Lục Tổ Huệ Năng giải thích “Thiền Định” như sau: Ngoài lìa tướng là Thiền, trong không loạn là Định. Lối giải thích này ảnh hưởng rất lớn trong giới tu thiền đời sau. ● 禪 徒. Thiền sinh. Lục Tổ Lạc Đạo Ca ghi: 一 草 菴、勝 伽 藍 八 萬 禪 徒 日 夜 參 法 鼓 纔 鳴 餐 一 頓 箇 中 人 我 不 猶 耽 “Nhất thảo am thắng già lam Bát vạn thiền đồ nhật dạ tham Pháp cổ tài minh xan nhất đốn Cá trung nhân ngã bất do đam”. “Một am tranh hơn già lam Mỗi ngày tám vạn thiền sinh tham Trống pháp vừa vang ăn một bữa Ngã nhân trong đó chẳng còn mang”. ● 禪 德. Lời tôn xưng các vị thiền tăng. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “爾 諸 禪 德。覬 善 參 詳。如 人 上 山。各 自 努 力。 – Thiền đức các ông, tôi hy vọng quý vị tham cứu rõ ràng, như người leo núi, mỗi vị hãy tự nỗ lực”. ● 禪 堂. 1. Gọi đủ: Tọa thiền đường. Cũng tức là Tăng đường. ● 2. Đạo tràng dùng để chuyên ngồi thiền. ● 3. Pháp đường được dùng để ngồi thiền, nếu tự viện không có Tăng đường. Đây cũng là chỗ ở của chư Tăng, từ Duy Na trở xuống. Bài thơ Gia Lâm Tự của Trần Quang Triều (1286-1325, Việt Nam) ghi: 心 灰 蝸 覺 夢、步 里 到 禪 堂 春 晚 花 容 薄、林 幽 蟬 運 長 “Tâm khôi oa giác mộng Bộ lý đáo Thiền đường Xuân vãn hoa dung bạc Lâm u thiền vận trường”. “Tro lòng tàn mộng nhỏ Chân dạo tới Thiền đường Cuối xuân sắc hoa nhạt Rừng vẳng tiếng ve suông”. Theo: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang. ● 禪 家 龜 鍳. Sách, 1 quyển, do Thanh Hư Thể Tịnh (vị tăng Triều Tiên) soạn, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 112, trang 911. Trong sách này, tác giả giải thích về yếu chỉ của công phu tham thiền, gồm hơn 80 điều như: Nhất vật bất sinh bất diệt, Tâm Phật Chúng sinh, Giáo Thiền nhị đồ, Tổ Sư công án, Thoại đầu công phu, Vô sinh không, Giới định huệ, Bố thí trì giới nhẫn nhục tinh tấn, Trì chú lễ bái niệm Phật, Thính kinh khán kinh, Xuất gia tu đạo, Vô thường, Sám hối, Lâm chung, Tông sư, Ngũ gia gia phong, Lâm Tế tông chỉ v. v… phụ lời bình hoặc kệ tụng và trưng dẫn lời kinh, lời của các thiền sư. Đầu quyển có lời tự tự vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 43 (1564) đời Minh. Cuối quyển có lời bạt của Tùng Vân Duy chính (đệ tử của sư) vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 7 (1579). ● 禪 海 十 珍. Gọi đủ: Vi Lâm Thiền Sư Thiền Hải Thập Trân. Sách, 1 quyển, do Vi Lâm Đạo Bái biên vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 26 (1687), sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 126, trang 80. Đạo Bái trích lục chỉ yếu cương tông của 10 thứ pháp bảo trong thiền lâm như sau: Kệ của bảy Đức Phật, Nhập Đạo Tứ Hạnh của Sơ Tổ, Tín Tâm Minh của Tam Tổ, Nhị Chủng Tam Muội của Lục Tổ, Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia, Tham Đồng Khế của Thạch Đầu Hy Thiên, Pháp Ngữ của Lâm Tế Nghĩa Huyền, Bảo Cảnh Tam Muội của Động Sơn Lương Giới, Thập Huyền Đàm của Đồng An, Cửu Đới của Phù Sơn, mỗi thứ đều có phụ lời bàn để giúp cho người học tham thiền học đạo. ● 禪 和. Còn gọi: Thiền Lữ, Thiền Nạp, Thiền Nhân. Chỉ cho Thiền tăng. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 解 卻 禪 和 布 袋 頭 虛 空 豁 達逞 風 流 “Giải khước thiền hòa bố đại đầu Hư không khoát đạt sính phong lưu”. “Cởi được túi vải Thiền tăng, Hư không bát ngát mặc tình rong chơi”. Pháp Diễn Ngữ Lục q. hạ ghi: “禪 侶 盡 臨 於 座 側、未 審 師 還 說 也 無? – Thiền tăng đều đến tận bên tòa, chẳng hay thầy có nói được hay không?”. Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “諸 人 既 稱 禪 衲、下 視 流 俗、豈 可 不 思 并 古 人 哉? – Các ông đã xưng là Thiền tăng, mà còn bắt chước thói tục, há tưởng đâu học được như người xưa rồi sao?” Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “此 夏 居 白 雲。禪 人 偶 聚 會。三 月 九 旬 中。尊 卑 相 倚 賴。 – Hạ này ở Bạch Vân, Thiền tăng ngẫu nhiên tụ hội trong 3 tháng, trên dưới nương dựa nhau”. ● 禪 畫 一 味. Thiền học và hội họa có cùng một tính chất tốt đẹp. Hội họa là một ngành nghệ thuật chú trọng đến phần thẩm mỹ bên ngoài. Thiền học là một ngành nghệ thuật hướng đến phần thẩm mỹ bên trong. Cả trong và ngoài, cả tình và lý, cả họa và thiền dung hợp bổ túc cho nhau để đào tạo những con người thiện mỹ sống trong một thế giới đẹp đẽ an lành. Đó là chủ trương, cũng là thuyết của ngài Tuyết Đơn, thiền sư kiêm họa sĩ của Nhật Bản. Theo: Triết học Zen của Hòa Thượng Thiên Ân. ● 禪 學 大 系. Sách, 8 quyển, do “Thiền Học Đại Hệ Biện Toản Cục” biên, được ấn hành vào khoảng niên hiệu Minh Trị thứ 43 đến niên hiệu Đại Chính thứ 4 (1910-1915). Nội dung bao gồm các kinh lục mang tính đại biểu về thiền, chia làm: Kinh luận bộ, Giới pháp bộ, Tổ lục bộ, Thanh quy bộ, Truyện ký bộ, Phê phán bộ, Tạp bộ. ● 禪 客. 1. Người tham thiền, bao quát cả những vị tu thiền tại gia, chứ không chỉ riêng cho thiền tăng. Lâm Tế Lục (Đại 47, 506 thượng) ghi: “師 云:老 和 尚 瞌 睡 作 麼?嚴 云:作 家 禪 客 宛 爾 不 同。 – Sư nói: Lão Hòa Thượng ngủ gật làm gì? Nghiêm nói: Thiền khách tài giỏi rõ ràng chẳng giống ngươi”. ● 2. Người có biện tài xuất chúng đối đáp với vị Trụ trì trong những buổi thượng đường thuyết pháp của vị Trụ trì. Điều Thượng đường trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 2 (Đại 48, 1119 trung) ghi: “古 之 學 者、蓋 爲 決 疑、故 有 問 答。初 不 滯 於 語 言、近 日 號 名 禪 客、多 昧 因 果、增 長 惡 習、以 爲 戲 劇。 – Người học thuở xưa vì cầu sáng tỏ các điều nghi ngờ nên có hỏi đáp mới chẳng mắc kẹt nơi ngôn ngữ. Thời gần đây tuy mang danh Thiền khách nhưng phần đông chẳng rõ nhân quả, tăng trưởng tập khí xấu ác, cho là trò đùa”. Từ đời Tống về sau, mỗi Thiền tự đều có chức Thiền khách, chùa lớn thì 2 vị, chùa nhỏ thì 1 vị. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 禪 老 (?-?). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 6, nối pháp Thiền Sư Đa Bảo. Không rõ tên họ và sinh quán. Sau sư đến trụ trì chùa Trùng Minh trên núi Thiên Phúc huyện Tiên Du (nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Thiền phong của sư lan khắp, số người theo học có trên số ngàn, khiến cảnh chùa này trở thành một tùng lâm sung thạnh. Khoảng niên hiệu Thông Thụy (1034-1038), vua Lý Thái Tông thường đến viếng chùa sư. Sau khi về cung, Vua sai sứ đến chùa rước sư vào triều làm cố vấn. Khi sứ đến nơi, sư đã viên tịch. Vua rất đỗi mến tiếc, ngự chế thi và ai vãn, sai Trung sứ đến cúng và tặng lễ, thu linh cốt xây tháp cúng dường. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 禪 林. Từ gọi chung tất cả tầng lớp Thiền Tông. Thung Dung Am Lục q. 1 ghi: “講 肆 謂 之 升 座、禪 林 號 曰 上 堂。 – ở chốn giảng tứ (Giáo môn) gọi việc ấy là thăng tòa, còn trong thiền lâm cho việc ấy là thượng đường”. ● 禪 林 寶 訓. Còn gọi: Thiền Môn Bảo Huấn, Thiền Môn Bảo Huấn Tập. Sách, 4 quyển, do Tịnh Thiện biên vào đời Tống, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 1016. Ban đầu là bản thảo của hai Thiền Sư Diệu Hỷ Phổ Giác và Trúc Am Sĩ Khuê thu thập những lời dạy bảo của các thiền sư khi 2 vị ở chùa Vân Môn Giang Tây. Khoảng niên hiệu Thuần Hy (1174-1189) Tịnh Thiện tìm được bản thảo này. Do lâu ngày nên sách bị hư hỏng, đầu đuôi không trọn vẹn nên Tịnh Thiện thu thập tư liệu thêm trong các Đăng Lục, Ngữ Lục để biên tập lại. Nội dung bao gồm 300 thiên, là những lời dạy bảo, phó chúc, sau mỗi thiên đều có ghi xuất xứ. Các quyển chú thích về sách này có: Thiền Lâm Bảo Huấn Hiệp Chú, 4 quyển do Trương Văn Gia hiệu định. Thiền Lâm Bảo Huấn Niêm Tụng, 1 quyển của Hạnh Thạnh. Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết, 3 quyển của Trí Tường. Sách này rất thạnh hành trong thiền môn, cũng được xem là sách nhập môn cho người sơ học. ● 禪 林 備 用 清 規. Còn gọi: Bị Dụng Thanh Quy, Trạch Sơn Thanh Quy, Chí Đại Thanh Quy, Bị Quy. Sách, 10 quyển, do Trạch Sơn Nhất Hàm biên vào đời Nguyên, được biên tập xong vào niên hiệu Chí Đại thứ 4 (1311) đời Nguyên, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 112, trang 56. Tác giả biên tập lại các quy củ, lễ pháp của thiền lâm từ đời Đường trở về sau. Tất cả gồm l69 mục về quy củ nghi thức thiền môn như: Thánh tiết thăng tòa phúng kinh, Tọa thiền, Lăng Nghiêm hội, Chuyên sứ thỉnh trụ trì, Bách Trượng quy cảnh văn, Trì phạm nghi quỹ, Đương đại trụ trì Niết Bàn, Nhật dụng thanh quy v. v… ● 禪 林 類 聚. Sách, 20 quyển, do Đạo Thái soạn vào đời Nguyên, Trí Cảnh biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 117, trang 1. Tác giả sưu tập cơ duyên Ngữ Yếu của các thiền sư từ Truyền Đăng Lục, Ngữ Lục rồi biên chép lại mà thành. Nội dung bao gồm 102 loại như sau: Đế vương, Tể thần, Nho sĩ, Phật tổ, Pháp thân, Phật tượng, Già lam, Điện đường, Tháp miếu, Trượng thất, Môn hộ, Thiền định, Kinh giáo, Ni nữ, Giới luật, Lễ bái, Duyên hóa, Thần dị, Vấn tật, Phục sức, Pháp khí, Trai chúc, Hương đăng, Sư tử tượng, Quy ngư v. v… Trong ấy có rất nhiều lời thị chúng của thiền gia, vấn đáp thương lượng giữa bậc thầy với người học, các câu hỏi về việc tham cứu, sự nghiệp của nhà thiền … ● 禪 林 僧 寶 傳. Gọi tắt: Tăng Bảo Truyện. Truyện ký, 30 quyển, do Huệ Hồng soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 137, trang 439. Nội dung bao gồm lược truyện của 81 vị thiền tăng từ đời Ngũ Đại đến niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1117) đời Bắc Tống. Trong ấy có: 11 vị thuộc pháp hệ Thanh Nguyên 10 vị thuộc tông Tào Động, 17 vị thuộc tông Lâm Tế, 15 vị thuộc Vân Môn,5 vị thuộc tông Pháp Nhãn, 1 vị thuộc tông Quy Ngưỡng, 15 vị thuộc phái Hoàng Long, 4 vị thuộc phái Dương Kỳ, riêng có 3 vị không rõ thuộc pháp hệ nào. Sách này đặt nặng phần sự tích còn các bộ Đăng Lục nghiêng về việc ghi chép cơ ngữ. Tuy nhiên sách này cũng có thu thập một vài cơ duyên ngữ cú, sau đó phụ thêm tán ngữ để bình nghị. Huệ Hồng góp nhặt những tin tức, sự tích của thiền lâm còn sót lại, dung hội các thuyết, lời văn trang nhã, nhất quán; sau khi hoàn tất được thiền gia xem trọng. Sách này về mặt sử liệu tuy có vài chỗ chẳng đáng tin, nhưng trong sử truyện Thiền Tông nó vẫn là một tác phẩm có ảnh hưởng quan trọng. ● 禪 林 鐵 觜 語 錄. Tác phẩm, 1 quyển, do vua Trần Nhân Tông, Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử soạn vào đời Trần, Việt Nam. Nội dung gồm các bài kệ tụng, những lời Thiền ngữ và những đoạn vấn đáp giữa Trúc Lâm và các môn đệ. Tuy tác phẩm hiện nay không còn, nhưng tư tưởng và văn phong còn sót lại trong những đoạn trích cho thấy đây là một tác phẩm giá trị. Ngoài những giá trị được chuyển tải trong nội dung tác phẩm, sách này còn đóng góp rất lớn vào kho tàng văn học Thiền của Việt Nam thời Lý Trần. Hiện nay, tác phẩm chỉ còn vài đoạn trích in lại trong Tam Tổ Thục Lục và Thánh Đăng Lục. Theo: VNPGSL q. 1 của Nguyễn Lang. ● 禪 林 象 器 箋. Sách, 20 quyển, có riêng 1 quyển mục lục, do Vô Trước Đạo Trung (vị tăng Nhật Bản) biên, được ấn hành vào niên hiệu Khoan Bảo thứ 3 (1741) Nhật Bản. Tác giả sưu tập nguồn gốc, lịch trình thay đổi và phát triển cùng với ý nghĩa hiện hành của các danh mục như: Thiền lâm quy củ, Hành sự, Cơ cấu, Khí vật… trong các bản thanh quy kể từ “Cổ Thanh Quy” của Bách Trượng Hoài Hải về sau. Mỗi thứ đều có thêm phần chú giải, nội dung chia làm 29 loại: Khu giới, Điện đường, Tọa vị, Tiết thời, Linh tượng, Xưng hô, Chức vị, Thân chi, Nghiệp quỹ, Lễ tắc, Thùy thuyết, Tham thỉnh, Chấp vụ, Tạp hạnh, Tội Trách, Báo đảo, Phúng xướng, Tế cúng, Tang tiến, Ngôn ngữ, Kinh lục, Văn sớ, Bộ khoán, Đồ bi, ẩm đạm, Phục chương, Bái khí, Khí vật, Tiền tài, tổng cộng là 1724 điều. Sách này trưng dẫn tư liệu phong phú, cùng viện dẫn 484 thứ nội điển như: Tăng Sử, Thiền Đăng Sử, Thanh Quy, Ngữ Lục, 286 thứ ngoại điển như: Kinh Sử Tử Tập v. v… ● 禪 門 寶 藏 錄. Lục, 3 quyển, do Thiên Sách (vị tăng Cao Ly) soạn, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 113, trang 985. Sách này là do tác giả trích lục các lời hỏi đáp chất vấn quan trọng về tông thừa từ trong các bộ Truyền Đăng Lục như “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, “Gia Thái Phổ Đăng Lục”. Nội dung gồm có: 25 bài về Thiền Giáo đối biện môn. 25 bài về Chư giảng quy phục môn. 39 bài về Quân thần sùng tín môn. Sách này cùng với “Thiền Môn Cương Yếu tập” được ấn hành vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 11 (1532) đời Minh. ● 禪 門 諸 祖 師 偈 頌. Thi ca hợp tập, 4 quyển, do Tử Thăng và Như Hựu biên vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 116, trang 908. Nội dung bao gồm trên 80 mục răn dạy của các bậc cao tăng Thiền Tông dưới hình thức kệ tụng như: Phật Tổ truyền pháp tụng, Trí tâm minh, Huyền trung minh, Tuyết Tử ngâm, Tọa thiền minh, Ngũ vị tụng, Thiền nguyệt quy giám, Chí Công dược phương, Nhân Tông Hoàng đế tán tăng, miễn Phật Quả hành cước, Chân tính tụng v. v… ● 禪 門 鍛 煉 說. Còn gọi: Thiền Lâm Đoạn Luyện Thuyết, Đoạn Luyện Thuyết Thập Tam Thiên. Sách, 1 quyển, do Hối Sơn Thành Hiển soạn vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Đồng Trị thứ 11 (1872), sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 112, trang 985. Tác giả cho rằng rèn luyện thiền tăng cần phải giống như Tôn Võ dụng binh, nên ở trong sách này nêu ra cách rèn luyện thiền tăng gồm 13 bước theo thứ tự 13 thiên như sau: Kiên thệ nhẫn khổ, Biện khí thọ thoại, Nhập thất sưu quát, Lạc đường khai đạo, Thùy thủ đoạn luyện, Cơ quyền sách phát, Ký xảo hồi hoán, Trảm quan khai nhãn, Nghiên cứu cương tông, Tinh nghiêm tháo lý, Ma trị học nghiệp, Giản luyện tài năng, Cẩn nghiêm phó thọ. ● 禪 門 科 教. Tác phẩm, 1 quyển, do Trạng nguyên Lương Thế Vinh soạn vào đời Hậu Lê, Việt Nam. Đây là một cuốn giáo khoa Phật học. Có thuyết đây là một cuốn sách nói về những nghi thức cúng tế trong Phật giáo, điều này không đúng. Vì chữ khoa trong Phật học có nghĩa là phân tích văn mạch và làm cho rõ ý từng đoạn. Văn đây là nguyên văn của kinh điển. Trong lúc Phật giáo suy đồi, có lẽ vì nhận thấy sách giáo khoa Phật giáo soạn thảo dưới đời Trần mất hết, nên Lương Thế Vinh mới biên tập một cuốn sách giáo khoa Phật học để giúp người chưa biết Phật học đi vào Phật giáo một cách dễ dàng. Tác phẩm này hiện đã bị thất lạc. Theo: VN PGSL q. 2 của Nguyễn Lang. ● 禪 門 拈 頌 集. Sách, 30 quyển, do Huệ Trạm và Chân Huấn (2 vị tăng Cao Ly) biên. Tác giả sưu tập cơ duyên ngữ cú của các thiền sư trong các Truyền Đăng Lục, Ngữ Lục kể từ Sơ tổ Đạt Ma đến Thiền Sư Giới Kham ở chùa Dục Vương đời Tống. Tổng cộng gồm 1125 tắc, phụ thêm các phần: Chư gia niêm cổ, Tụng cổ, Phổ thuyết, Tiểu tham. ● 禪 門 規 式. X. Bách Trượng Thanh Quy. ● 禪 門 師 資 承 襲 圖. Còn gọi: Tập Thể Thập Di Vấn. Sách, 1 quyển, do Khuê Phong Tông Mật soạn vào đời Đường. Tựa đề bên trong là “Trung Hoa Truyền Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ, Nội Cung Phụng Sa Môn Tông Mật Đáp Bùi Tướng Quốc Vấn”, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 110, trang 866. Sách này là Tông Mật đáp những câu hỏi của Tể tướng Bùi Hưu về lịch trình thay đổi và phát triển các tông phái Thiền Tông vào thời kỳ đầu, và tính cạn sâu được mất của ngôn giáo. Nội dung chủ yếu có 3 phần: 1. Thuật về nguồn gốc các tông, trình bày sơ lược về sự truyền thừa của Ngưu Đầu tông, Bắc tông, Nam tông, Hà Trạch tông, Hồng Châu tông, chủ trương lấy Hà Trạch tông làm Thiền Tông chính thống. 2. Nói về giáo chỉ các tông, trình bày sơ lược giáo chỉ của Bắc tông (phụ Tịnh Chúng tông của Vô Tướng, Bảo Đường tông của Vô Trụ), Hồng Châu tông, Ngưu Đầu tông, Hà Trạch tông. Đối với 3 tông trước có thêm lời bình ngắn. 3. Phê bình giáo chỉ các tông, ban đầu đem Bất biến tùy duyên để luận về các tông, kế đến luận về đốn ngộ và tiệm tu. ● 禪 門 拾 遺 錄. X. Tuyết Đường Thập Di Lục. ● 禪 門 撮 要. Sách, 2 quyển, do Thể Tịnh (vị tăng Triều Tiên) biên, được ấn hành vào niên hiệu Long Hy thứ 1 (1907) ở chùa Vân Môn, núi Hổ Cứ, Triều Tiên. Nội dung bao gồm 15 loại trứ thuật về Thiền Tông Trung Quốc và Triều Tiên. ― Quyển thượng là các tác phẩm Thiền Tông Trung Quốc, theo thứ tự là: Huyết Mạch Luận, Quán Tâm Luận, Tứ Hạnh Luận của Bồ Đề Đạt Ma; Tối Thượng Thừa Luận của Hoằng Nhẫn, Uyển Lăng Lục, Truyền Tâm Pháp Yếu của Hy Vận; Thị Mông Sơn Pháp Ngữ của Chính Ngưng; Tham Thiền Cảnh Ngữ của Vô Dị. ― Quyển hạ là các tác phẩm Thiền Tông Triều Tiên, theo thứ tự là: Tu Tâm Quyết, Chân Tâm Trực Thuyết, Khuyến Tu Định Huệ Kiết Xã Văn, Khán Thoại Quyết Nghi Luận của Phổ Chiếu; Thiền Môn Bảo Tạng lục của Chân Tịnh đại sư biên tập; Thiền Môn Cương Yếu tập của Thanh Phong, Thiền Giáo Thích của Tây Sơn Thanh Hư. Các sách trong quyển thượng cũng được xếp vào “Pháp Hải Bảo Phiệt”. Các quyển Khuyến Tu Định Huệ Kết Xã Văn, Khán Thoại Quyết Nghi Luận, Thiền Môn Cương Yếu tập trong quyển hạ là những tác phẩm chưa từng được ấn hành trước đó. ● 禪 那. Tức là “Thiền”, dịch âm của từ tiếng Phạn. Chương Đề Đa Ca, Tổ thứ 5 trong CĐTĐL q. 1 ghi: “昔 與 師 同 生 梵 天。我 遇 阿 私 陀 僊 人 授 我 僊 法。師 逢 十 力 弟 子 修 習 禪 那。自 此 報 分 殊 塗 已 經 六 劫。 – Xưa kia tôi với sư cùng sinh ở cõi Phạm Thiên, tôi gặp vị tiên A Tư Đà truyền dạy phép tiên, còn sư gặp đệ tử Phật cùng tu tập Thiền na, từ đó phân chia đôi ngã, đến nay đã trải qua 6 kiếp”. ● 禪 原 諸 詮 集 都 序. Luận nghị, 2 quyển, do Tông Mật viết vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 397. Sách này là lời tựa của “Thiền Nguyên Chư Thiên tập,” còn gọi “Thiền Na Lý Hạnh Chư Thiên tập”, “Thiền Nguyên Thuyên”, “Khuê Phong Lan Nhã Thiền Tạng”. Cả tập sách đã bị thất lạc vào đời Tống, khoảng niên hiệu Cảnh Đức (1004-1007). Đại ý bài tựa này trình bày về nghĩa lý Thiền Giáo nhất trí,căn cứ vào tính thực tiễn của Thiền mà chia ra: Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền, Tối thượng thừa thiền. Tác giả cho rằng Phật nói 2 giáo Đốn Tiệm, Thiền mở 2 môn Đốn Tiệm nên có sự phù hợp giữa 2 môn và 2 giáo. Tất nhiên phải dùng giáo để phân biệt thiền và dùng tâm để hiểu giáo, khiến cả hai đều dung thông. Khuê Phong còn đem giáo chia làm 3 thứ: Mật ý nương nơi tính mà nói tướng. Mật ý phá tướng mà hiển tính. Hiển bày chân tâm tức tính. Và đem thiền chia làm 3 thứ: Tức vọng tu tâm tông. Dẫn tuyệt vô ký tông. Trực hiển tâm tính tông, có sáng kiến dung 3 thứ giáo với 3 thứ thiền, chỉ ra sự nhất trí của nó. Tông Mật nối liền học thuyết của 2 nhà thiền và giáo, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hội thông truyền giáo ở đời sau. ● 禪 月 大 師. Hiệu của Thiền tăng Quán Hưu đời Ngũ Đại do Thục chủ Vương Kiến ban cho. X. Quán Hưu. ● 禪 月 集. Thi ca biệt tập, 30 quyển, có riêng một quyển bổ di, do Quán Hưu soạn vào đời Đường, đệ tử của sư là Đàm Vực biên chép thơ văn của sư mà thành, được xếp vào “Tứ Khố Toàn Thư”. Trong 30 quyển nguyên bản, 5 quyển văn tập đã mất, chỉ còn 25 quyển thi tập. Đến đời Minh, Mao Tấn làm một quyển bổ di. Trong ấy có: Nhạc phủ cổ tụng tạp ngôn, Cổ phong tạp ngôn, Luật thi, Tuyệt cú… được gom chung vào trăm bài thơ của Quán Hưu. Tuy ca ngâm trăng gió, nhưng lời lẽ trong sáng đẹp đẽ, xuất phát từ chỗ thật ngộ nên rất có thiền vị. ● 禪 樂 府. Thi ca biệt tập, 1 quyển, do Vô Khả soạn vào đời Thanh, được ấn hành vào năm 1935. Nội dung gồm có 22 bài từ của tác giả đều ngầm chứa thiền cơ, khiến người tìm thấy được ý vị. ● 禪 岩 (1093-1163). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đời thứ 13, nối pháp Thiền Sư Đạo Pháp. Sư họ Khương tên Thông, gia thế đời đời làm Tăng quan, tinh thần quắc thước, tiếng nói trong thanh. Triều đình mở khoa thi về các kinh điển Đại Thừa: Pháp Hoa, Bát Nhã, sư đỗ Giáp khoa (thủ khoa). Về sau sư được một lời ấn chứng của Thiền Sư Pháp Y chùa Thành Đạo, nên nhân đó xuất gia luôn và nối pháp Ngài. Ban đầu sư trụ trì chùa Thiên Phúc trong núi Tiên Du, giới hạnh tinh nghiêm, tâm đạo rộng lớn. Đói thì ăn lá cây, khát thì uống nước suối, suốt 6 năm trường như vậy. Sau, sư trở về quê trùng tu ngôi chùa Trí Quả làng Cổ Châu, Long Biên và trụ trì nơi đây. Khoảng niên hiệu Thiên Thuận (1128-1132), triều đình gởi chiếu vời sư về kinh đô cầu mưa. Bởi có linh nghiệm nên vua Lý Thần Tông trọng sư vào hàng danh tăng và ban cho thượng phục. Năm Chính Long Bảo ứng thứ 1 (1163), khoảng giữa mùa xuân, lúc ban ngày, sư đốt hương từ biệt mọi người, ngồi an nhiên mà tịch, thọ 71 tuổi. Thời gian sau, thể xác của sư vẫn còn, thời nhân gọi sư là “Phật sống”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 禪 人. Lời gọi người tham thiền, tăng nhân Thiền Tông. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng: “此 夏 居 白 雲。禪 人 偶 聚 會。三 月 九 旬 中。尊 卑 相 倚 賴。 – Hạ này ở Bạch Vân, thiền nhân chợt tụ hội, trong ba tháng hay chín tuần (90 ngày), trên dưới cần nương tựa nhau. “ ● 禪 翁 道 者 (902-979). Thiền tăng đời cuối Ngô đầu Đinh, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 11, nối pháp Đinh Trưởng Lão. Sư họ Lữ, quê làng Cổ Pháp (tức làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Hà Bắc hiện nay), tuổi nhỏ sư theo đời học nghiệp Nho, về sau mới theo Đinh Trưởng lão xuất gia. Sư trụ trì chùa Song Lâm làng Phù Ninh, phủ Thiên Đức. Niên hiệu Thái Bình thứ 10 (977) triều Đinh, nhằm năm Kỷ Mão, sư viên tịch, thọ 78 tuổi. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 禪 風. Ngọn gió thiền, phong độ thiền. Bài thơ họa Hưng Trí Thượng Vị Hầu của Tuệ Trung Thượng Sĩ có câu: 禪 風 無 後 亦 無 前 本 體 如 如 只 自 然 “Thiền phong vô hậu diệc vô tiền Bản thể như như chỉ tự nhiên”. “Không trước không sau phong độ thiền Muôn đời bản thể cứ như nhiên”. ● 禪 房 寺 塔. Tháp nằm trên đỉnh ngọn Trượng Nhân, núi Thất Phong, cách thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc 35km về phía tây nam, bởi phía bắc dưới núi có một ngôi Thiền Phòng Tự nên gọi là “Thiền Phòng Tự Tháp”. Được xây vào thời kỳ Liêu, Kim, cao 15m, 7 tầng, mặt bằng là hình bát giác. Tháp càng lên cao càng thu nhỏ là một tháp gạch đặc ruột hình dáng và cấu tạo vững vàng. Mặt tháp có đồ án hoa văn cửa sổ, Phật khám, Đại lực sĩ, điêu khắc tinh xảo. ● 禪 坊. Thiền viện, thiền tự (chùa thiền). Mật Am Ngữ Lục ghi: “陞 座 拈 香 祝 聖 罷。歛 衣 就 座。僧 問 :丹 書 來 鳳 闕。瑞 氣 藹 禪 坊。少 室 無 私 句。當 機 願 發 揚。 – Sư lên tòa đốt hương chúc tụng vua xong, vén y lên toà ngồi. Tăng hỏi: Kinh điển đến cung vua, khí lành đầy thiền viện. Câu vô tư của Thiếu Thất, đương cơ nguyện phát huy”. ● 禪 關 策 進. Sách, 1 quyển, do Vân Thê Châu Hoằng soạn vào đời Minh, được xếp vào “Vân Thê Pháp Vựng” và Đại Chính Tạng tập 48, trang 1097. Phần đầu trích yếu 39 pháp ngữ của chư Tổ như Hoàng Bá Hy Vận, Huyền Sa Sư Bị, Nga Hồ Đại Nghĩa,… Phần kế tóm lược 24 gương tu tập, gồm quá trình tu khổ hạnh và khai ngộ của các Thiền Sư như: Ngồi trên cây dựa mé hố, lấy dùi chích vào mình, thề không xổ mền, không lúc nào duyên ảnh khác, thân miệng đều quên, đụng đầu vào cột… Phần cuối là phần tóm lược các kinh dẫn chứng. ● 禪 觀. Tĩnh tâm tư duy, quán chiếu chân lý. Chương Chí công Hòa Thượng Thập tứ liệu tụng trong CĐTĐL q. 29 ghi: 若 欲 斷 除 煩 惱 此 是 無 明 癡 漢 煩 惱 即 是 菩 提 何 用 別 求 禪 觀 實 際 無 佛 無 魔 心 體 無 形 無 段 “Nhược dục đoạn trừ phiền não Thử thị vô minh si hán Phiền não tức thị Bồ Đề Hà dụng biệt cầu thiền quán Thực tế vô Phật vô ma Tâm thể vô hình vô đoạn”. “Nếu muốn đoạn trừ phiền não Là kẻ si mê không sáng Phiền não tức là Bồ Đề Đâu cần riêng cầu thiền quán Tự tính không Phật không ma Tâm thể không hình không tướng”. ● 禪 師. Vị thầy có tu chứng trong Thiền Tông. Tiết Giác A Thượng Nhân trong NĐHN q. 20 ghi: “且 如 心 佛 及 眾 生、是 三 無 差 別、離 相 離 言、假 言 顯 之。禪 師 如 何 開 示? – Nếu như Tâm, Phật và chúng sinh không có sai khác, lìa tướng lìa ngôn, mượn lời nói để hiển bày. Còn Thiền Sư khai thị ra sao?”. ● 禪 心. Đạo pháp nhà thiền. Đạo Lượng Truyện trong TCTT q. 8 ghi: “二 年、詔 於 西 園 問 道、朝 廷 欽 貴、大 都 督 李 孝 逸、工 部 上 書 張 錫、國 子 監 周 業 崔 融、秘 書 監 賀 知 章、睦 州 刺 史 康 詵、同 心 慕 仰、請 問 禪 心、多 結 師 資、或 傳 香 火。 – Được 2 năm, có chiếu của Vua vời sư vào Tây viên hỏi đạo, triều đình rất quý kính, Đại đô đốc Lý Hiếu Dật, Công bộ Thượng thư Trương Tích, Quốc tử giám Châu Nghiệp Thôi Dung, Bí thư giám Hạ Tri Chương, Thứ sử Mục Châu là Khang Sằn đồng tâm ngưỡng mộ, thưa thỉnh đạo pháp nhà thiền, phần đông kết tình thầy trò hoặc ủng hộ nhang đèn”. ● 禪 榻. Còn gọi: Thiền Sàng. Chiếc bục để tọa thiền, thấp và ngắn hơn chiếc giường. Bài thơ Thứ Vận Tăng Tiềm Kiến Tặng của Tô Đông Pha có câu: 閉 門 坐 穴 一 禪 榻 頭 上 穢 月 空 崢 嶸 “Bế môn tọa huyệt nhất thiền tháp Đầu thượng tuế nguyệt không tranh vanh”. “Giường thiền khép cửa hang sâu Tháng năm chồng chất mái đầu tuyết pha”. Bài thơ Thạch Thất của Thiền Sư Huyền Quang (Việt Nam) ghi: 半 間 石 室 和 雲 住 一 領 毳 衣 經 歲 寒 僧 在 禪 床 經 在 案 爐 殘 榾 拙 日 三 竿。 “Bán gian thạch thất hòa vân trụ Nhất lãnh thuế y kinh tuế hàn Tăng tại thiền sàng kinh tại án Lô tàn cốt đốt nhật tam can”. “Nửa gian nhà đá lẫn vào mây Một mảnh áo lông khỏi lạnh này Tăng ở giường thiền, kinh tại án Trong lò củi tắt, sáng rạng ngày”. ● 禪 室. 1. Chỗ tu hành tọa thiền. Bài “Đề Đạm Thủy Tự” của thiền Sư Huyền Quang (Việt Nam) ghi: 淡 水 亭 邊 野 草 多 空 山 雨 霽 夕 陽 斜 因 過 輦 路 投 禪 室 摧 梵 敲 鐘 揀 落 花 “Đạm Thủy đình biên dã thảo đa Không sơn vũ tễ dịch dương tà Dục nhân liễn lộ đầu thiền thất Thôi Phạm sao chung giản lạc hoa”. “Bên chùa Đạm Thủy cỏ xanh tươi Mưa tạnh, non yên, nắng xế rồi Tiện lối xe vua vào thiền thất Khua chuông, đọc kệ, nhặt hoa rơi”. ● 2. Nhà ở của vị Trụ trì, tức phương trượng. Đôi khi ám chỉ vị Trụ trì. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 禪 寂. 1. Tĩnh tâm tư duy. Chương CA Tỳ Ma La Tổ thứ 13 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “太 子 曰:今 我 國 城 之 北 有 大 山 焉。山 中 有 一 石 窟。師 可 禪 寂 于 此 否? – Thái tử nói: Nay về phía bắc của thành trì nước con, có một ngọn núi lớn, trong núi có một hang đá, Thầy có thể ở nơi đó tĩnh tâm tư duy được không?” ● 2. Thiền tăng qua đời. Chương Tôn giả Long Thọ Tổ thứ 14 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “付 法 訖 入 月 輪 三 昧 廣 現 神 變。復 就 本 座 凝 然 禪 寂。迦 那 提 婆 與 諸 四 眾。共 建 寶 塔 以 葬 焉。 – Truyền pháp xong, Ngài nhập Nguyệt luân Tam Muội, hiện các thần biến, rồi trở về chỗ ngồi, ngưng thần thị tịch. Ca Na Đề Bà cùng tứ chúng xây bảo tháp để an táng Ngài”. ● 禪 籍 志. Chí, 2 quyển, do Diệu Đế (vị tăng Nhật Bản soạn), được xếp vào “Đại Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư” ấn hành vào niên hiệu Đại Chính thứ 2 (1913). Sách này nêu ra 244 thứ sách vở Thiền Tông Trung Quốc và Nhật Bản, có giải thích sơ lược về tựa đề mỗi thứ. Nội dung chia ra: Đơn lục thiền yếu, Bả đoạn công án, Tông môn toàn sử, Tông môn lược sử, Tùng lâm lễ phạm, Thiền giáo tổng sử, Tông môn tùy bút, Thiền giáo tạp thuyết, Tông sư chú kinh v. v… Phần sau có phụ Thập di. ● 禪 宗. Còn gọi: Phật Tâm Tông, Đạt Ma Tông, Vô Môn Tông. Là một trong những tông phái chính của Phật giáo Trung Quốc. Khởi đầu do vị tăng ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa truyền giáo vào thời Nam Bắc Triều, chính thức hình thành vào đời tiền Đường bởi những hoạt động truyền giáo của Huệ Năng và lấy tác phẩm Đàn Kinh của Ngài làm mốc cắm chủ yếu. Từ cuối nửa đời Đường đến đời Ngũ Đại và đời Bắc Tống là thời kỳ phát triển cực thịnh của Thiền Tông, trong đó lần lượt xuất hiện hai hệ (Thanh Nguyên và Nam Nhạc), năm nhà ngũ gia (Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn), hai phái (Hoàng Long và Dương Kỳ) trở thành dòng chính của Thiền Tông. Riêng hai nhà Lâm Tế và Tào Động truyền một mạch đến sau đời Minh Thanh. Từ đời Tống, đời Nguyên đến nay, Thiền Tông dần dần bị pha trộn vào các tông phái khác của Phật giáo, nên cũng dần mất đi tính độc lập. Trong thời kỳ Thiền Tông cực thạnh đã nhấn mạnh việc chẳng lập văn tự, có cách truyền thừa khác ngoài kinh điển, tâm chính là Phật, kiến tính thành Phật; đề xướng việc chẳng đọc kinh, chẳng lạy Phật, chẳng cần khổ tu, chẳng cầu bên ngoài. Thiền bao hàm tinh thần tự chủ, chuộng sự thật và sáng tạo; nó không những là nhân tố thành công của tôn giáo mà còn giàu ý nghĩa gợi mở về kiếp sống thông thường của con người. Thiền Tông từng được sự ủng hộ của các bậc Vua chúa, quan văn quan võ cho đến hạng bình dân, trong mỗi tầng lớp có số lượng tín đồ rất lớn và ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự phát sinh văn hóa tư tưởng của Trung Quốc từ đời Đường, Tống về sau, cho đến các nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “我 此 禪 宗、從 上 相 承 已 來、不 曾 教 人 求 知 求 解、只 云 學 道、早 是 接 引 之 詞。 – Thiền Tông của tôi đây, từ trước nối tiếp nhau đến nay, chẳng từng dạy người cầu tri cầu giải, chỉ nói học đạo cũng đã là lời lẽ tiếp dẫn rồi”. ● 禪 宗 本 行. Gọi đủ: An Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh. Tập thơ nôm của Thiền Sư Chân Nguyên sống vào đời Hậu Lê (Việt Nam) viết. Nội dung kể sơ lược về lịch sử Thiền Tông từ Phật Thích Ca đến thời nhà Trần. ● 禪 宗 正 脉. Đăng Lục, 10 quyển, do Như Cần biên tập vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 146, trang 1. Vì “Ngũ Đăng Hội Nguyên” quá bề bộn khó đọc nổi, cơ duyên cao vút như vách đứng muôn trượng, khiến cho bậc thượng căn phải líu lưỡi còn hàng hạ căn thì không có chỗ xoay xở, nên sư chọn lấy những chỗ đơn giản bình dị mà biên thành sách này, khiến cho mọi người đều có thể đọc hiểu. ● 禪 宗 決 疑 集. Sách, 1 quyển, do Đoạn Vân Trí Triệt soạn vào đời Nguyên, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 6 (1667) đời Thanh, sau đó được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 1009. Tác giả đem sự thể nghiệm của chính mình để nói về công phu dụng tâm học đạo cùng với việc trình bày và giải thích phương pháp tu đạo thực tiễn, lấy việc tham cứu sâu huyền chỉ Phật đạo để hiển bày bản lai diện mục nơi mỗi người. Nội dung chia làm 21 môn: Nguyên trạm lưu thanh môn, Ly trần tinh tấn môn, Khước bộ phục thăng môn, Thối đọa sách lệ môn, Giải đải miễn cần môn, Chấp đại quyết nghi môn, Thất chính cứu cánh môn, Triệt để cùng uyên môn, Chỉ bản hoàn chân môn, Thuận tức miễn hoạn môn, Thượng căn lợi khí môn, Thiền lâm tĩnh lự môn, U cư chính phái môn, Kỳ Viên Thánh chúng môn, Giác ngộ huyền tông môn, Quy nguyên thật tế môn, Thể dụng song tu âm dực Vương hóa, Song lâm di giới chúng đẳng tuân y, Sám hối pháp môn Bồ Đề hạnh nguyện, ức tích xuất trần thừa huynh cảnh giới, Phục trưng giải đọa chỉ cảnh tức mê. Phần lớn trong văn bàn về việc của Triệu Châu Tùng Thẩm. Sau này các tác phẩm Thiền Quan Sách Tiến của Châu Hoằng, Giác Hổ Tập quyển hạ của Tế Năng, phần nhiều lấy sách này để làm căn cứ. ● 禪 宗 雜 毒 海. Còn gọi: Đại Huệ Thiền Sư Thiền Tông Tạp Độc Hải, Phổ Giác Tông Cảo Thiền Sư Ngữ Lục, Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục. Thi ca hợp tập, 2 quyển, do Pháp Hoằng và Đạo Khiêm biên, được ấn hành vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 1 (1131) đời Tống, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 47. Tựa sách được lấy từ lời nói của Thiền Sư Đại Huệ “Tham thiền chẳng được, đều do tạp độc nhập tâm”. Nội dung bao gồm cơ duyên pháp ngữ của tiên đức, cư sĩ tham thiền quét sạch ký ức, các bài tán bạn phương ngoại, các bài tán Phật Tổ. Vào đời Minh, Trọng Hiến Tổ Xiển đem sách này biên thêm làm 10 quyển, sưu tập nhiều kệ tụng của thiền sư, bao gồm trên 30 mục, 732 bài về: Phật đản, Thành đạo, Sơ tổ, Chúng tán được ấn hành vào niên hiệu Hồng Võ thứ 17 (1384) đời Minh. Đến niên hiệu Thuận Trị thứ 11(1654) đời Thanh, Mai Cốc Hạnh Duyệt kế tiếp Tổ Hiển lại thêm 870 bài. Khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đời Thanh, Ca Lăng Tính Âm đem bản 10 quyển ra bỏ bớt, biên tập lại thành 8 quyển, nội dung gồm: Phật tán, Tạp tán, Đầu cơ, Sao hóa, Tạp kệ, Đạo hiệu, Sơn cư… ● 禪 宗 頌 古 聯 珠 通 集. Sách, 40 quyển, do Pháp ứng biên vào đời Tống, Phổ ứng tục biên vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 115, trang 1. Sách này sưu tập các tác phẩm về tụng cổ của Tổ sư Thiền Tông. Nội dung bao gồm 24 tắc cơ duyên của Thế Tôn, 30 tắc cơ duyên của Bồ Tát, 62 bài kệ kinh Đại Thừa, 702 bài tắc cơ duyên của Tổ sư. Mỗi khi có thêm vào đều có để 2 chữ “Tục Thu”, nhằm phân biệt với nguyên tập. ● 禪 宗 直 指. Sách, 1 quyển, do Thạch Thành Kim soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 112, trang 972. Sách này là một phần trong 4 tập “Truyền Gia Bảo” do Thạch Thành Kim viết. Tựa bên trong là “Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ”, dưới tựa có viết 12 chữ “Minh tâm kiến tính tu tri, thành Phật thành Tổ yếu pháp” (Pháp môn quan trọng để thành Phật thành Tổ, người muốn minh tâm kiến tính cần phải biết). Đầu tiên đem 46 mục mật truyền yếu pháp tham thiền, trình bày và phân tích tỉ mỉ cách thức hạ thủ công phu ngộ đạo. Tiếp theo đem 10 mục chỉ chung về mật truyền Phật pháp, giải thích một số câu của người đời chất vấn về Phật pháp. ● 禪 杖. Cây gậy bằng trúc một đầu bọc vải v. v… dùng để đánh thức người hôn trầm khi ngồi thiền. Thích Thị Yếu Lãm q. hạ ghi: “禪 杖、以 竹、葦 爲 之、用 物 包 一 頭、令 下 座 執 行、坐 禪 昏 睡、以 軟 頭 點 之。 – Thiền trượng làm bằng trúc hay sậy, một đầu bọc vải khiến hàng hạ toạ phải chấp hành. Người tọa thiền mà hôn trầm thì lấy đầu gậy mềm gõ đánh thức”. Ngày nay chỉ chung cây gậy của nhà sư. ● 禪 髓. 1. Phần tinh túy của Thiền. Chương Trần Nhân Tông trong Tam Tổ Thực Lục ghi: “調 御 聖 性 聰 明、多 能 好 學、涉 歷 群 書、通 內 外 典 萬 機 之 暇、旁 招 禪 客、參 究 心 宗、尋 叅 慧 忠 上 士 深 得 禪 髓、常 以 師 禮 事 之。 – Con người Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển và ngoại điển. Những khi nhàn rỗi, Ngài mời các thiền khách bàn giải về tâm tông, tham học thiền với Thượng sĩ Tuệ Trung, thâm đắc đến chỗ thiền tủy. Đối với Thượng sĩ, Ngài kính lễ làm thầy”. ● 2. Tên gọi khác của kinh Lăng Nghiêm. ● 禪 肆. Còn gọi: Thiền Tự, Thiền Lâm. Tự viện Thiền Tông, Thiền viện. Chương Giáp Sơn Thiện Hội Thiền Sư trong CĐTĐL q. ghi: “師 有 小 師 隨 侍 日 久。師 住 後 遣 令 行 腳。游 歷 禪 肆 無 所 用 心。 – Sư có chú tiểu theo hầu hạ lâu ngày. Sau khi trụ trì, sư bảo chú tiểu hành cước đến các thiền viện dửng dưng với tất cả”. Thung Dung Lục q. 1 ghi: “講 肆 謂 之 升 座、禪 林 號 曰 上 堂。 – Giáo môn gọi việc đó là thăng tòa, còn thiền lâm gọi việc đó là thượng đường”. ● 禪 苑 蒙 求 瑤 林. Còn gọi: Thiền Uyển Dao Lâm Chú, Thiền Uyển Dao Lâm, Thiền Uyển Mông Cầu, Thiền Lâm Mông Cầu, Thiền Mông Cầu. Sách, 3 quyển, cho Chí Minh soạn vào đời Kim, Đức Giản chú thích vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 189. Sư Chí Minh sưu tập hạnh nghiệp của các thiền sư làm thành sách tham khảo cho người sơ học biện đạo tu nghiệp. Sách này được làm theo thể văn vần, mỗi câu (mỗi tắc) 4 chữ, gồm 562 tắc, thu thập từ Phật Thích Ca Mâu Ni đến Thiền Sư Thủ Sơn Tỉnh Niệm đời Tống. Phần chú thích của sư Đức Giản chính là trưng dẫn ở các sách: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên, Nhân Thiên Nhãn Mục rất là tường tận. ● 禪 苑 蒙 求 拾 遺. Sách, 1 quyển, không rõ tác giả, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 288. Sách này được làm ra để bổ cứu cho quyển “Thiền Uyển Mông Cầu Dao Lâm”, dùng thể văn vần, mỗi câu 4 chữ, gồm 144 câu (tức 144 tắc), dưới mỗi tắc đều có chú thích, từ tắc “Thiếu Lâm xích tướng” đến tắc “Đại Quy niệm tụng”, trưng dẫn các sách Bích Nham Lục, Nhân Thiên Bảo Giám, Lâm Gian Lục. ● 禪 苑 集 英. Đăng Lục, 1 quyển, do Thiền Sư Kim Sơn đời Trần (Việt Nam) soạn vào năm 1337. Nội dung ghi lại tông phái Thiền học và sự tích các nhà sư nổi tiếng ở nước ta từ đời Đường, Tống, trải đến các đời Đinh, Lê, Lý, Trần (từ cuối thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XIII. Tuy văn bản hiện có không phải là bản in đời Trần mà là một bản khắc in lại vào năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), đó cũng là một trong số thư tịch đầu thế kỷ XVIII trở về trước còn giữ được văn bản hiện vật đến nay. Sách này gồm có: Bài tựa không mang tên tác giả. Sau bài tựa có danh sách 14 người đệ tử của Thiền Sư Thích Như Trí. Thiền phái Vô Ngôn Thông: gồm 38 vị. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi: gồm 28 vị. Thiền phái Thảo Đường: chỉ có biểu pháp hệ gồm 19 vị. Đây là một tác phẩm Đăng Lục có giá trị không chỉ riêng về văn học mà cả về sử học, triết học, văn hóa dân gian v. v… Cả về mặt văn bản, tác phẩm này cũng có một giá trị đặc biệt, bởi vì nó là một trong số rất hiếm tác phẩm khởi thảo từ cuối đời Lý, hoàn chỉnh và ổn định đầu đời Trần cách đây đã trên 7 thế kỷ mà vẫn còn truyền bản trọn vẹn lưu lại đến ngày nay. ● 禪 苑 清 規. Sách, 10 quyển, do Trường Lô Tông Trách biên tập vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 875. Vì sách này được hoàn thành vào niên hiệu Sùng Ninh thứ 2 (1103) nên còn được gọi là “Sùng Ninh Thanh Quy”. Cổ thanh quy thời Bắc Tống có phần lỏng lẻo, quy củ thiền lâm tạp loạn, Tông Trách vì xem trọng tinh thần của “Bách Trượng Thanh Quy” nên sưu tập các hành pháp kệ tụng của các chùa còn sót lại để biên thành Thiền Uyển Thanh Quy. Các thanh quy đời sau được chế định phần lớn tham khảo phỏng theo sách này. ● 禪 衣. Y (áo) của thiền tăng. Tông Môn Võ Khố ghi: “坐 次(劉 宜 翁)指 其 衲 衣 曰:喚 作 什 麼?淨 (指 眞 淨 禪 師)曰:禪 衣。 – Sư đang ngồi. Lưu Nghi Ông chỉ nạp y của sư, nói: Gọi nó là gì? Sư (Chân Tịnh Khắc Văn) nói: Thiền y”. ● 禪 要. Yếu chỉ Thiền Tông. Tiết Đông Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “止 大 中 末 間、住 於 新 豐 山、大 弘 禪 要。 – Đến khoảng cuối niên hiệu Đại Trung, Sư đến núi Tân Phong, hoằng dương yếu chỉ Thiền Tông”. ● 善 本. 1. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư đến Hào Châu (nay là huyện Phụng Dương, tỉnh An Huy) Trung Quốc, tham vấn thiền sư Tư Minh và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp, sư ở Thứu Lãnh, Tương Châu. Một hôm, sư đang tắm, có vị tăng hỏi: Hòa Thượng là người ly cấu (xa lìa nhiễm bẩn của trần lao phiền não) sao lại phải tắm? Sư đáp: Nước định trong veo đầy ắp, tắm gội người vô cấu này. ● 2. Thiền tăng đời Tống (1035-1109), họ Đổng, người Dĩnh Châu (Phụ Dương, An Huy) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Tông Bản ở chùa Huệ Lâm, thuộc tông Vân Môn đời thứ 7, trụ chùa Pháp Vân ở Đông Kinh. Hiệu: Đại Thông Thiền Sư. ● 善 昭 (947-1024). Thiền tăng đời Tống, họ Du, người Thái Nguyên (Sơn Tây) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư thông minh trí huệ hơn người. Lúc 14 tuổi cha mẹ lần lượt qua đời, sư bèn cắt tóc thụ giới cụ túc. Du phương khắp nơi, từng tham phỏng 71 vị tôn túc thạc đức. Sư đến Thủ Sơn, Nhữ Châu (Lâm Nhĩ, Hà Nam) tham kiến Thiền Sư Tỉnh Niệm được đại ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Đến khi Tỉnh Niệm tịch, sư mới đáp ứng lời thỉnh của đạo tục Tây Hà, trụ trì Thái Tử Thiền Tự, Thái Bình Tự ở Phần Châu (Phần Dương, Sơn Tây) diễn nói tông yếu đem cơ dụng ba câu, bốn câu, ba quyết, 18 xướng v. v… tiếp dẫn kẻ học đạo, danh tiếng một thời. Ba mươi năm thuyết pháp không biết mỏi mệt, phong cách cao nhã, giới hạnh tinh nghiêm. Mọi người cung kính ngưỡng mộ không dám kêu tên mà chỉ gọi sư là “Thiền Sư Phần Châu”. Thụy là “Vô Đức Thiền Sư”. Tác phẩm: Phần Dương Vô Đức Thiền Sư Ngữ Lục. ● 善 道. 1. Thiền tăng đời Đường. Ban đầu sư nương Thiền Sư Trường Thử Khoáng, làm Sa Di. Sau khi thọ đại giới, sư yết kiến Thạch Đầu Hy Thiên và đắc pháp nơi ngài. Gặp lúc triều đình sa thải tăng ni, sư bèn làm cư sĩ, ở trong thất đá tại Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, Hồ Nam), người bốn phương đến tham yết rất đông mà sư dẫn dắt chẳng biết mệt mỏi, người đời gọi sư là “Thạch Thất Đạo”, “Thạch Thất Hành Giả”. ● 2. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư đến núi Bàn Long thờ Thiền Sư Khả Văn làm thầy, học đạo và đắc pháp nơi ngài. Sư ở núi Mộc Bình, Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân, tỉnh Giang Tây). Trên đầu sư có nhục kế hình xoắn ốc. Nam Đường Trung Chủ nghe đạo đức của sư nên rước về cúng dường, dùng lể đãi ngộ như bậc thầy. Thụy hiệu: Chân Tịch Thiền Sư. ● 善 德 禪 院. ở làng Xã Đầu, huyện Chương Hóa, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1935 do Pháp sư Diệu Tu sáng lập, từ đó qua nhiều năm lần lượt xây cất thêm. Sau khi Diệu Tu thị tịch, do đệ tử Pháp sư Đạt Cẩm kế nhiệm trụ trì. Năm 1957 mời Pháp sư Thánh ấn làm đạo sư thường xuyên giảng kinh hoằng pháp, tín đồ ngày càng tăng. Năm 1970 xây cất lại hậu điện. ● 善 覺. Thiền tăng đời Đường. Sư thờ Mã Tổ Đạo Nhất và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp ở chùa Hoa Lâm tại Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam). Sư thường cầm tích trượng, ban đêm đi ra khỏi rừng dưới chân núi, cứ bảy bước dộng tích trượng một cái. Bùi Hưu hỏi sư rằng: “Sư làm sự nghiệp gì”. Đáp rằng: “Sơn tăng thường niệm Quán Âm”. ● 善 會. 1. Thiền tăng đời Đường, (805-881) họ Liệu, người Hiện Đình, Quảng Châu Trung Quốc. Năm 9 tuổi sư xuất gia nơi núi Long Nha, 20 tuổi thụ giới cụ túc. Chẳng bao lâu sư đến Giang Lăng (Hồ Bắc) chuyên nghiên cứu kinh luận. Về sau quay sang mộ thiền pháp, ban đầu trụ chùa Hạc Lâm ở Kinh Khẩu, Nhuận Châu (Trấn Giang, Giang Tô) cùng hỏi đáp với Đạo Ngô sư được sở đắc. Nghe lời khuyên của Đạo Ngô, sư đến tham kiến Thiền Sư Đức Thành, thầy trò khế hợp, ngay dưới lời ngộ nhập bèn nối pháp. Niên hiệu Hàm Thông thứ 11 (870) nơi Giáp Sơn, Lễ Châu (Đông Nam huyện Lễ, Hồ Nam) sư xây dựng viện Đại Đồng truyền bá thiền phong, thiền tăng khắp nơi tụ hội. Thụy là “Truyền Minh Đại Sư”. ● 2. Thiền tăng thời Bắc thuộc (?-900), thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 2, nối pháp Thiền Sư Cảm Thành. Sư quê ở Điển Lãnh Giao Chỉ. Thuở nhỏ sư theo thầy Tiệm Nguyên ở chùa Đông Lâm bản hương xuất gia, hiệu là Tổ Phong. Lớn lên sư tham học khắp nơi và gặp Thiền Sư Cảm Thành, phục vụ ngài trong 10 năm. Một hôm sư vào thất ngài thưa hỏi, bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sau, sư trụ trì chùa Định Thiền làng Siêu Loại để truyền bá Tâm Tông. Niên hiệu Quang Hóa thứ 3 (900) đời Đường, sư tịch tại bản tự. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 善 堅 (1409-1493). Thiền tăng đời Minh, họ Đinh, tự Cổ Đình, người Côn Minh (Vân Nam) Trung Quốc. Năm 10 tuổi xuất gia nơi chùa Ngũ Hoa, pháp danh Thiện Hiền, 19 tuổi y chỉ Thiền Sư Bách Nham đổi pháp danh là Thiện Kiên. Vào niên hiệu Chính Thống (1436-1449) yết kiến Thiền Sư Kim Lăng Vô Tế, đọc kinh Viên Giác đến chỗ “thân tâm như huyễn” hoát nhiên đại ngộ liền được ấn chứng làm truyền nhân tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Thiên Thuận (1457-1464) trụ trì Phù Sơn, rồi trở về Vân Nam kiến thiết chùa Quy Hóa. Tác phẩm: Cổ Đình Tổ Sư Ngữ Lục Tập Lược 4 quyển, Vân Thủy Thạch Tập 4 quyển, Hoa Nghiêm Đại Ý 1 quyển. ● 善 美. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Nam An Thủ An. Sư ở Thứu Linh tại Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn tỉnh Hồ Bắc). Có vị tăng hỏi: Thế nào là cảnh Thứu Linh? Sư đáp: Hiện Sơn đối Bích Ngọc, nước sông chảy đến dòng Nam. ● 善 法 (?-1409). Thiền tăng đời Minh, họ Cố, tự Tính Hải, hiệu Vô Thuyết, người xứ Ngô huyện (nay là tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. Sư đến chùa Trung Thiên Trúc ở Hàng Châu yết kiến Thiền Sư Không Tẩu Ngộ, được lưu lại nhậm chức Tri tạng. Một hôm nhân đi thăm bạn cũ, đi một mình trên đường, chợt nghe tiếng mục đồng gọi thợ cày ăn cơm, sư bỗng nhiên tỉnh ngộ. Niên hiệu Hồng Võ thứ 13, sư ra hoằng pháp trụ chùa Tú Phong, 25 năm sau (1392) sư dời sang chùa Hổ Khê. ● 善 果 (1079-1152). Thiền tăng đời Tống, họ Dư, hiệu Nguyệt Am, người Tín Châu (Thượng Nhiêu, Giang Tây) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Đạo Ninh, thuộc tông Lâm Tế thư 12, phái Dương Kỳ đời thứ 5, trụ chùa Thượng Phong ở Hành Sơn. ● 善 藏. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư đến núi Đại Quang, Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam) thờ Thiền Sư Cư Hối làm thầy, học đạo với ngài và đắc pháp, rồi trụ chùa Bạch Vân ở Lạc Dương. ● 善 清 (1057-1142). Thiền tăng đời Tống, họ hà, hiệu Thảo Đường, người Nam Hùng, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Tổ Tâm, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 10, phái Hoàng Long đời thứ 3, sư phụ giúp ngài Tổ Tâm trên 20 năm. Khi Thầy tịch, sư kế tiếp trụ trì Hoàng Long sơn. Niên hiệu Sùng Ninh thứ 4 (1105) sư từ Vân Nham đón sư huynh là Ngộ Tân về trụ trì Hoàng Long, còn sư trở về chùa Lặc Đàm ở bản quận. Nhờ học thức uyên bác, tiếp dẫn người học bằng cơ phong bén nhạy nên người đến học tấp nập như chợ, được suy tôn đứng đầu chư sơn. Tác phẩm: Thảo Đường Tập, Thiện Thanh Ngữ Lục. ● 善 崔. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư trụ Định Châu (nay là huyện Định, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc, có thuyết nói sư trụ Trấn Châu (nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc). Có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Đồ sứ ở Định Châu kêu tợ chuông. Sư thích dùng đánh và hét để tiếp dẫn người học, do nghiêm khắc mà nổi tiếng vào thời ấy. ● 善 靜 (858-946). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Vương, người xứ Toàn Thành (nay là huyện Hưng Bình tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc. Thuở bé sư theo Nho học, thông suốt nhiều sách vở. Năm 27 tuổi, sư đến chùa Phong Đức trong núi Chung Nam lễ Thiền Sư Quảng Độ. Khoảng niên hiệu Thiên Phục (901-903), sư về Nam yết kiến Thiền Sư Lạc Phố Nguyên Tĩnh, được cử làm Tri viên. Sau đó sư trụ trì Vĩnh An Thiền Uyển ở Kinh Triệu, có đến 500 người theo học với sư. Thụy hiệu: Tịnh Ngộ Thiền Sư. ● 善 知 識. 1. Thiền Sư đạo pháp tinh thông. Thiên 283 trong Thiền Lâm Bảo Huấn q. 4 (Đại 48, 1039 trung) ghi: 我 自 歸 林 已。已 與 世 相 疏 賴 有 善 知 識。時 能 過 吾 廬 “Ngã tự quy lâm dĩ Dĩ dữ thế tương sơ Lại hữu thiện tri thức Thời năng quá ngã lư”. “Từ khi về núi rừng Tôi cùng đời cách xa Nhờ có Thiện tri thức Thường hay đến thăm nhà”. ● 2. Lời gọi chung một nhóm tăng nhân và tín đồ. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “善 知 識、淨 心 念 摩 訶 般 若 波 羅 密 法。 – Này Thiện tri thức! Cần tịnh tâm niệm pháp Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật”. ● 善 爲. Hãy bảo trọng. Lưu tâm, chú ý trên đường đi. Lời dặn dò người đi đường. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “得 三 五 年 後、辭 和 尚、和 尚 云:善 爲、善 爲! – Sau khi ở được mười lăm năm, sư từ giả Hòa Thượng để ra đi. Hòa Thượng nói: Hãy bảo trọng!” ● 涉 道 理. Những gì có liên quan đến tri thức nghĩa lý. Đối với nhà thiền thì những thứ này không dính dáng đến thiền ngộ, hơn nữa còn chướng ngại cho thiền ngộ. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “所 以 吐 一 言 半 句。自 然 坐 斷 天 下 人 舌 頭。無 爾 著 意 路 作 情 解。涉 道 理 處。 – Thế nên người xưa nói một lời nửa câu tự nhiên làm líu lưỡi mọi người, không có con đường cho ông khởi ý niệm, tình giải, và những gì có liên quan đến tri thức nghĩa lý”. ● 涉 離 微. Liên quan đến thế đối lập giữa Ly (thể) và Vi (dụng), tức là chưa trừ hết vọng tâm phân biệt đối đãi. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 9 ghi: “生 如 寄、死 如 歸。未 契 悟 宗 向 上 機、離 四 句、絕 百 非、猶 妨 語 默 涉 離 微。 – Sống như gởi tạm, chết như trở về, cũng chưa khế hợp với cơ hướng thượng của tông ta. Ly tứ cú tuyệt bách phi, vẫn còn ngại nói nín chưa trừ hết vọng tâm phân biệt đối đãi”. ● 涉 泥 水. Dính bùn dính nuớc, dụ chỉ những vướng mắc liên quan đến ngôn từ nghĩa lý, làm chướng ngại việc đốn ngộ. Tiết Cổ Sơn An Vĩnh Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “要 明 箇 事、須 是 具 擊 石 火、閃 電 光 底 手 段、方 能 嶮 峻 巖 頭 全 身 放 捨;白 雲 深 處 得 大 安 居。如 其 覷 地 覓 金 針、直 下 腦 門 須 迸 裂。到 這 裡 假 饒 見 機 而 變、不 犯 鋒 鋩、全 身 獨 脫、猶 涉 泥 水。祇 如 本 分 全 提 一 句、又 作 麼 生 道? – Muốn sáng được việc này cần phải có thủ đoạn như lửa đá nháng như ánh điện chớp, mới có thể trên đỉnh núi cao vót phóng mình xuống, ở trong chỗ mây trắng xa xôi sống an ổn. Như người chăm chú tìm kiếm cây kim vàng, lập tức đỉnh đầu phải vỡ toang. Đến chỗ này giả sử thấy cơ hội mà ứng biến, chẳng phạm nhằm mũi nhọn, toàn thân ngộ được cũng còn dính bùn dính nước. Còn như một câu toàn đề lão luyện làm sao nói đây?”. ● 涉 㖘 吻. Còn gọi: Lạc thần vẫn, Quải thần vẫn. Liên quan tới lời lẽ giảng thuyết. Việc này chẳng phải phù hợp với tông chỉ: “Chẳng lập văn tự ngữ ngôn” của nhà Thiền. Tiết Kim Sơn Đàm Dĩnh Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “纔 涉 唇 吻、便 落 意 思。盡 是 死 門、終 非 活 路。 – Vừa có liên quan tới lời lẽ giảng thuyết liền rơi vào khái niệm, đều là cửa chết, chẳng phải là con đường sống”. ● 鐵 壁 機 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Khánh Trung Thiết Bích Cơ Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 20 quyển, do Thiết Bích Huệ Cơ soạn vào đời Minh, Huyễn Mẫn trùng biên. Nội dung bao gồm: Thượng đường, Bỉnh phất, Phổ thuyết, Tiểu tham, Thị chúng, Trà thoại, Pháp ngữ, Cơ duyên, Vấn đáp, Tiên sách ngữ, Phật sự, Tượng tán, Tự tán, Thi, Tụng, Kệ, Liên phương, Ca minh, Tụng cổ (Niêm. biệt, bình, trưng, đại), Tạp trước, Thư vấn, Thỉnh khải, Hành trạng, Tháp minh, Tế văn và phụ lục 1 thiên niên phổ. Quyển thủ có lời tựa do Hùng Nhữ Học soạn vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 15 (1642) và lời dẫn do Hành Hoằng Ngộ soạn. Bộ Ngữ Lục này mang tính chất Quảng Lục, cũng có đem vào “Thiết Bích Cơ Thiền Sư Ngữ Lục” 3 quyển do Tam Sơn Đăng Lai biên vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 15. Sách này có bản in lại của chùa Lăng Nghiêm phủ Gia Hưng, đời Thanh. ● 鐵 脚. Thiền tăng Ngộ Duyên sống vào đời Tống, hành cước tham phỏng, chẳng nệ xa gần, người thời ấy gọi sư là “Thiết Cước”. X. Ngộ Duyên. ● 鐵 笛 倒 吹. Tác phẩm, 2 quyển, do sư Huyền Lâu Áo Long thuộc tông Tào Động, Nhật Bản soạn. Nội dung sách này mô phỏng theo Bích Nham Lục gồm 100 tắc công án, có phần bình xướng và tụng cổ. Quyển thượng gồm 50 tắc từ “Văn Thù nhập môn” đến “Nghĩa Trung thăng tòa”. Quyển hạ gồm 50 tắc từ “Bảo Phúc Phật điện” đến “Quy Sơn phương trượng”. Theo: PQĐTĐ của Nhóm Từ Di. ● 設 利. Xá Lợi, chỉ cho những mảnh răng xương giống như ngọc của Phật và các bậc cao tăng. Thiết lợi thu được sau khi hỏa táng thi thể của các vị này. Tiết Long Tường Sĩ Khuê Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “次 日 沐 浴、聲 鐘 集 眾。就 座、泊 然 而 逝。荼 毗 日、送 者 均 獲 設 利。 – Một hôm sư tắm rửa, đánh chuông họp chúng, ngồi vào tòa, lặng lẽ mà hóa. Hôm thiêu xác, những người đưa đám đều nhặt được Xá Lợi. “ ● 鐵 牛. Trâu sắt. Vốn là một pho tượng được thần cách hóa để giữ gìn, phù hộ cho vùng Thiểm Phủ Hà Nam khỏi bị nạn lũ lụt bởi nước sông Hoàng Hà. Thiền Tông muợn từ này để đổi thành thuật ngữ “Thiết ngưu chi cơ” có nghĩa là Tâm ấn vô tướng của Phật Tổ; về thể thì bất động, về dụng thì tự tại mà không dấu vết. Tắc 38, Bích Nham Lục (Đại 48, 175 hạ) ghi: “祖 師 心 印。狀 似 鐵 牛 之 機、去 即 印 住、住 即 印 破。只 如 不 去 不 住 、印 即 是、不 印 即 是? – Tâm ấn của Tổ sư giống như cơ quan trâu sắt, lấy đi thì gọi là ấn trụ, nếu để lại thì gọi là ấn phá. Còn như lúc không lấy đi, không để lại thì ấn là phải, hay không ấn là phải?”. Lục Tổ Lạc Đạo Ca ghi: 鐵 牛 耕、石 女 笑 幾 人 識 得 玄 中 妙。 “Thiết ngưu canh, thạch nữ tiếu Kỷ nhân thức đắc huyền trung diệu”. “Trâu sắt cày, gái đá cười Mấy ai biết được diệu trong huyền”. ● 佛 寺. ở phía tây thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Được xây vào khoảng niên hiệu Thiên Giám (502-519) đời Lương Nam Triều, Thượng thư hữu bộc Xạ Từ Miễn sửa nhà làm chùa, ban đầu gọi “Bát Chính Tự”, đời Đường đổi tên “Khai Nguyên Tự”. Thời Bắc Tống, trong chùa Khai Nguyên có hai viện Quảng Phúc, Trí Giả, chia ra thờ Quán Âm và Phổ Hiền. Tượng Quán Âm đúc bằng sắt vào niên hiệu Thiên Thánh thứ 3 (1025) đời Tống. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 2 (1369) đời Minh ban tên “Thiết Phật Thiền Tự”, tục gọi “Thiết Phật Tự”, hiện chỉ còn tiền điện, hậu điện và sương phòng. Tiền điện là Quán Âm điện, chính giữa thờ tượng sắt Quán Âm, cao 2, 15m nặng 1500 kg. Tượng hơi hướng về bên phải, thần thái đoan trang, phong tư phóng khoáng tự nhiên, pháp tướng trang nghiêm, tạo dáng ưu mỹ. Dù trải qua ngàn năm mà không bị gỉ sét, là kiệt tác của kỷ thuật đúc luyện kim đời Tống. Hậu điện là nhà trưng bày văn vật. Có 4 chiếc cột đá khắc kinh Phật của chùa Thiên Ninh, Hồ Châu được xây vào niên hiệu Hội Xương thứ 3 (843) đời Đường, trên có khắc “Tôn Thắng đà la ni kinh” và phù điêu. Còn có dựng một tấm bia lớn, trên có ghi “Thiên Ninh Vạn Thọ Thiền Tự”, là bút tích đích thực của Triệu Mạnh Phủ. Trong chùa còn có một chiếc giếng cổ do trụ trì Đàm Bích xây dựng vào niên hiệu Tuyên Đức thứ 8 (1434) đời Minh, trên miệng giếng xây vòng rào hình quả bí đỏ bằng đá cẩm thạch. ● 設 方 便. Ý nói lập ra pháp môn phương tiện, vì người chỉ dạy. Khai thị Dục Tạng chủ trong DTNL q. 3 ghi: “勞 他 古 佛 世 尊、不 忍 坐 視、拖 泥 帶 水、多 設 方 便、爲 儞 解 粘 去 縛。 – Làm phiền đến Cổ Phật Thế Tôn khác, chẳng nỡ ngồi nhìn, chỉ dạy dài dòng, lập ra nhiều phương tiện để gỡ niêm cởi trói cho ngươi. “ ● 鐵 橛 子. Cây cọc sắt. Thiền Tông muợn từ này để chỉ cho trạng thái không gì dính mắc được. Tắc 44, Bích Nham Lục (Đại 48, 180 hạ) ghi: “禾 山 垂 語 云:習 學 謂 之 聞。絕 學 謂 之 鄰(天 下 衲 僧 跳 不 出。無 孔 鐵 鎚 一 箇 鐵 橛 子)。 – Hòa Sơn dạy rằng: Hữu học gọi là nghe, Vô học gọi là gần (Thiền tăng trong thiên hạ nhảy không ra khỏi; chùy sắt không lỗ, một cây cọc sắt)”. ● 鐵 蒺 藜. 1. Trái chùy gai bằng sắt, là vũ khí dùng để đánh nhau vào thời xưa. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho sự dạy đạo nghiêm khắc. Tắc 12, Bích Nham Lục (Đại 48, 152 hạ) ghi: “僧 問 洞 山:如 何 是 佛?(鐵 蒺 藜、天 下 衲 僧 跳 不 出)。 – Tăng hỏi Động Sơn: Thế nào là Phật? (Trái chùy gai bằng sắt, thiền sinh các nơi nhảy không khỏi)”. ● 2. Gọi đủ: Lô Sơn Biệt Truyền Thiền Sư Thiết Tật Lê. Sách, 1 quyển, do Biệt Truyền Đạo Kinh soạn vào đời Minh, Nguyên Hiền và Nguyên Hoảng biên tập. Đại ý sách này nêu lên nghĩa gốc của 100 tắc công án trong Bích Nham Lục và có phụ các bài tụng. ● 鐵 樹 開 花. Cây sắt trổ hoa. Thiền Tông lấy câu “Thiết thọ hoa khai thế giới hương” tỷ dụ cho mọi vật trong pháp giới đều do diệu dụng vô tâm vô tác hiển hiện. Câu “Thiết thọ hoa khai” biểu thị lý bị xem là cố định bất biến nhưng thật ra có biến hóa. Nếu phối hợp vào thể dụng, thì thiết thọ là thể, hoa khai là dụng, biểu thị công dụng vô vi vô tác do chết mà hiển sống, do tĩnh mà phát động. Phần lời dẫn, tắc 40, Bích Nham Lục ghi: “休 去 歇 去。鐵 樹 開 花。有 麼 黠 兒 落 節。直 饒 七 縱 八 橫。不 免 穿 他 鼻 孔。 – Một thiền giả đạt đến cảnh giới thôi hết đi, giống như cây sắt trổ hoa, theo ông có hiện tượng này chăng? Kẻ tinh ranh cũng bị thua, cho dù ông tung hoành ngang dọc cũng không khỏi bị y xỏ mũi”. ● 鐵 脊 梁. Sống lưng bằng sắt, ví dụ dùng để chỉ hành vi làm phấn chấn tinh thần, tự xây dựng chí lớn và quyết tâm theo đuổi. Tiết Phúc Nghiêm Diễn Thiền Sư trong Tăng Bảo Chính Tục Truyện q. 6 ghi: “衲 僧 家 直 須 奮 大 志、鐵 脊 梁、向 時 人 行 不 得 處 行、向 古 人 學 不 到 處 學、行 至 無 可 行、學 至 無 可 學。 – Thiền tăng cần phải lập chí lớn, phấn chấn tinh thần, làm được chỗ người đời không thể làm, học được chỗ người xưa không thể học; làm đến chỗ tột cùng, học đến mức tuyệt đỉnh”. ● 鐵 餕 饀. Còn gọi: Thiết tuấn liêm. Bánh bao có nhưn bằng sắt, không thể nhai, nuốt và tiêu hóa được tỷ dụ cho cơ ngữ của nhà thiền siêu việt ngôn cú, nghĩa lý, rất khó tham cứu. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. thượng ghi: “法 演 遊 方 十 有 餘 年。海 上 參 尋 見 數 員 尊 宿。自 謂 了 當。及 到 浮 山 圓 鑑 會 下。直 是 開 口 不 得。後 到 白 雲 門 下。咬 破 一 箇 鐵 餕 饀。直 得 百 味 具 足。 – Pháp Diễn tôi du phương hơn muời năm tìm kiếm trên biển giáo nghĩa, gặp được vài vị tôn túc rồi tự cho là việc lớn đã xong. Khi đến hội Phù Sơn của ngài Viên Giám thì tôi chẳng mở miệng được. Sau đến dưới cửa Bạch Vân cắn vỡ được một cái bánh bao có nhưn bằng sắt, đúng là đầy đủ trăm vị”. Mật Am Ngữ Lục ghi: “虛 空 掛 劍。殺 活 臨 時。鞭 起 臨 濟 瞎 驢。放 出 五 祖 鐵 酸 豏。盡 大 地 人。亡 鋒 結 舌。 – Treo gươm trên hư không, giết tha tùy lúc, đánh thức con lừa của Lâm Tế, ném ra bánh bao có nhưn bằng sắt của Ngũ Tổ, người khắp mặt đất mất cơ phong, đớ lưỡi”. ● 舌 頭 上 取 辯. Trên cái lưỡi mà phân biệt được, nghĩa là thông qua ngôn ngữ mà tham cứu thiền pháp. Tiết Vân Nham Hòa Thượng trong TĐT, q. 5 ghi: “如 入 鑊 湯 爐 炭、不 被 燒 煮 始 得。這 裏 得、永 劫 不 失;余 處 得、暫 時 間。切 囑 第 一 莫 向 舌 頭 取 辯、記 他 了 事 言 語 有 什 麼 用 處?這 箇 功 課 從 無 人 邊 得、不 由 聰 明 強 記。 – Nếu như vào vạc sôi lò lửa mà chẳng bị cháy tiêu thì mới được Từ chỗ này mà được thì không bao giờ mất. Từ chỗ khác mà được thì chỉ là tạm thời. Kỵ nhất là chớ nên thông qua ngôn ngữ mà tham cứu thiền pháp. Nếu như nhớ được nhiều ngôn ngữ của kẻ khác thì dùng nó vào đâu? Công phu này từ bên không có người nào biện nổi mà được, chứ chẳng phải là do thông minh nhớ dai mà được”. ● 燒 送. Hỏa táng. Tiết Hoài Hải, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1: “老 人 於 言 下 大 悟、告 辭 師 云:某 甲 已 脫 野 狐 身、住 在 山 後、乞 依 亡 僧 燒 送。師 令 維 那 白 槌 告 眾、齋 後 普 請 送 亡 僧。 – Ông già ngay nơi lời nói liền đại ngộ, cáo từ sư, nói rằng: Tôi đã thoát kiếp chồn hoang, bỏ xác ở sau núi xin được hỏa táng như một vị tăng vừa qua đời. Sư bảo Duy Na bạch chùy thông báo cho đại chúng hay là sau giờ ngọ trai phổ thỉnh đưa đám một vị tăng”. ● 少 曇. X. Bảo Đàm ● 少 林. Chỉ Tổ Đạt Ma, bởi vì Sơ Tổ từng ngồi thiền ngó vách chùa Thiếu Lâm trên Tung Sơn ở Hà Nam trải qua nhiều năm, nên trong các sách vở Thiền Tông thường dùng từ Thiếu Lâm để chỉ Tổ Đạt Ma. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “諸 佛 不 出 世。四 十 九 年 說。未 審 說 箇 什 麼。少 林 有 妙 訣。殃 及 子 孫。至 今 分 疏 不 下。更 說 什 麼 妙 訣。若 人 識 祖 佛 當 處 便 超 越。 – Chư Phật chẳng ra đời, bốn mươi chín năm nói, chưa biết là nói cái gì? Thiếu Lâm có diệu quyết gây họa đến con cháu, đến nay phân biệt không được, còn nói diệu quyết gì! Nếu người nào biết rõ Tổ Phật, ngay đây liền siêu việt. ● 少 林 面 壁. Chỉ câu chuyện Bồ Đề Đạt Ma ngồi thiền ngó vách chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “達 磨 無 端 少 林 面 壁。二 祖 斷 臂。一 生 受 屈。 – Đạt Ma thật kỳ cục, ngó vách chùa Thiếu Lâm. Nhị Tổ chặt cánh tay, cả đời chịu khuất phục. “ ● 少 林 冷 坐. Đạt Ma ngồi lặng lẽ (ở chùa Thiếu Lâm). Chỉ câu chuyện Bồ Đề Đạt Ma suốt ngày ngồi lặng lẽ ngó vách chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn. Tiết Hoàng Long Đạo Trăn Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “少 林 冷 坐、門 人 各 說 異 端、大 似 眾 盲 摸 象。 – Đạt Ma ngồi lặng lẽ ở chùa Thiếu Lâm, đệ tử mỗi mỗi nói ra những điều dị thường giống như bọn mù sờ voi. “ ● 少 林 風. Còn gọi: Thiền Phong. Chỉ cho Thiền Tông, Thiền pháp do Tổ Đạt Ma truyền. Mật Am Ngữ Lục ghi: “一 言 劄 住 萬 機 通。自 然 光 壯 少 林 風。 – Một câu thống thiết vạn cơ thông, tự nhiên rạng rỡ mạch Thiền Tông”. ● 少 林 直 指. Đạt Ma chỉ thẳng. Chỉ thiền pháp chỉ thẳng tâm người của Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền bá. Tiết Khai thị Bạch Vân Nhiên Trưởng lão trong MANL ghi: “靈 山 拈 花 已 前。少 林 直 指 之 後。繩 繩 相 繼。如 鏡 照 像。毫 髮 無 差。皆 是 夙 承 願 力。提 持 遮 一 著 子。 – Trước khi Thế tôn giơ cành hoa ở hội Linh Sơn, sau khi Tổ Đạt Ma truyền bá thiền pháp chỉ thẳng tâm người, tiếp nối nhau mãi như gương chiếu soi các vật không khác mảy may, đều là nương vào nguyện lực đời trước để nêu ra một sự kiện này. “ ● 少 林 寺. 1. Chùa nằm dưới chân ngọn Ngũ Nhũ Phong, núi Thiếu Thất cách Bắc thành 15km, thuộc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Chùa được xây dựng vào niên hiệu Thái Hòa thứ 19 (495) đời Bắc Ngụy. Niên hiệu Hiếu Xương thứ 3 (527), Bồ Đề Đạt Ma tại chùa này ngồi 9 năm xoay mặt vào vách tu định, rồi truyền pháp cho Huệ Khả, khai sáng Thiền Tông Trung Quốc, nên gọi Đạt Ma là Tổ sư và chùa Thiếu Lâm là Tổ đình. Đầu đời Đường, tăng chúng chùa Thiếu Lâm giúp vua Đường Thái Tông mở nước có công; từ đó chư tăng thường tập quyền thuật nên Thiền Tông và võ nghệ Thiếu Lâm rất nổi tiếng và được truyền bá rộng rãi. Vua Cao Tông và Võ Hậu đều sùng kính, sửa sang chùa miếu. Sau đó, trải qua các cuộc loạn lạc vào cuối đời Đường đời Ngũ Đại, chùa dần dần suy vi. Niên hiệu Thuần Hựu thứ 5 (1245) đời Tống, Thiền Sư Tuyết Đình Phúc Hựu và các vị nối pháp ngài như: Linh ẩn Văn Thái, Cổ Nham Phổ Tựu, Tức Am Nghĩa Nhượng, Thuần Chuyết Văn Tài tiếp nối nhau trụ trì chùa này và đều làm hưng thịnh Thiền Tông, truyền thừa tông Tào Động dòng chính. Trong khoảng cuối đời Đường đời Ngũ Đại, có thiền tăng tông Lâm Tế ở chùa Thiếu Lâm; từ đời Kim, Nguyên đến nay là đạo tràng của tông Tào Động. Cuối dời Nguyên, chùa bị phá hoại nghiêm trọng, đến đời Minh thì hưng thịnh trở lại. Đầu đời Thanh, do vì chùa Thiếu Lâm trở thành khu vực “Phản Thanh phục Minh” nên bị thiêu hủy. Niên hiệu Ung Chính thứ 13 (1735) đời Thanh, chùa đươc trùng tu với quy mô lớn. Năm 1928 một phần chùa bị phá hủy bởi nạn binh lửa. Năm 1932 lại được trùng tu. Diện tích hiện còn trên 30. 000㎡, phần lớn là các kiến trúc còn sót lại của đời Minh, Thanh như sau: Sơn môn, Khách đường, Đạt Ma đình, Bạch y điện, Địa tạng điện, Thiên Phật điện. Tấm bảng gắn trên Sơn môn có 3 chữ “Thiếu Lâm Tự” do vua Khang Hy viết. Thiên Phật điện được xây dựng vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 16 (1588) đời Minh, vào khoảng niên hiệu Càn Long (1736-1975) được trùng tu với quy mô lớn, bảo tồn điện rất hoàn chỉnh. Sau đàn có bích họa “500 vị La Hán chầu Phật Tỳ Lô” rất to của đời Minh, diện tích trên 300㎡. Bạch y điện là kiến trúc đời Thanh. Trong điện, trên đàn có vẽ các bài luyện tập võ thuật của Thiếu Lâm Tự và bức bích họa “13 vị Hòa Thượng cứu vua Đường” rất được trân quý. Trong chùa còn có trên 300 bia đá được khắc vào đời Đường, trong đó có các tấm: ― “Hoàng Đường Tung Nhạc Thiếu Lâm Tự bi” do Đường Huyền Tông viết. ― “Đại Đường Thiên hậu Ngự chế thư bi” do Vương Tri Kính viết. ― “Đệ Nhất Sơn” do Tống Mễ Phế viết. ― “Tức Am Thiền Sư bi” do vị tăng Nhật Bản tên Thiệu Nguyên viết vào đời Nguyên. ― “Dụ Công bi” do Triệu Mạnh Phủ viết vào đời Nguyên. ― “Đạo Công bi” do Đổng Kỳ Xương viết vào đời Minh đều là những di vật văn hóa trân quý. Bên ngoài chùa còn có những di tích lịch sử văn hóa như: Sơ tổ am, Nhị tổ am, Đạt Ma động, Tháp lâm. ● 2. Chùa ở thôn Ngọc Lâm, huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Đây là Thiếu Lâm Tự ở Mân Trung (tức Nam Thiếu Lâm Tự). Ngày 15-11-96, người ta đã công bố tìm thấy được di chỉ của “Mân Trung Thiếu Lâm Tự” ở dưới núi Di Lặc, phía sau là Tung Sơn, dãy núi ở phía bắc gọi là Cửu Liên Sơn. Chùa này là một nhánh của Thiếu Lâm Tự ở Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, là một địa chỉ Phật giáo quan trọng của Trung Quốc. Theo: Tạp Chí Trung Quốc Ngày Nay số 6-1997. ● 少 林 寺 塔 林. Rừng tháp nằm dưới chân núi Thiếu Thất, cách chùa Thiếu Lâm chừng 0,5km về phía tây, thuộc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam Trung Quốc, gồm 250 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, là một rừng tháp lớn nhất Trung Quốc. Mộ tháp nơi đây có đủ tháp của các triều đại, sớm nhất là niên hiệu Trinh Nguyên thứ 7 (791) đời Đường, trể nhất là niên hiệu Gia Khánh thứ 8 (1803) đời Thanh, trong đó tháp gạch nhiều, tháp đá ít, từ 1 tầng đến 7 tầng, cao từ 15m trở xuống. Mỗi tháp đều có niên đại chuẩn xác và đều có ghi chép điêu khắc phong phú. Tạo hình cũng phong phú đa dạng. Xét về bình diện, có tháp hình vuông, hình lục giác, hình bát giác, hình tròn; xét về lập thể, có tháp theo kiểu đình các một mái một tầng, có tháp nhiều mái nhiều tầng, có tháp hình chuông, hình cột, hình bình, trong đó đa số tháp theo kiểu đình các và mái kín. Có thể nói đây là một nơi tham quan thưởng thức về nghệ thuật thư pháp, điêu khắc và cổ tháp qua các thời đại. Trong rừng tháp còn có một số mộ tháp của cao tăng nước ngoài như mộ tháp Trưởng lão Cúc Am (Nhật Bản) xây vào niên hiệu Chí Nguyên thứ 5 (1339) đời Nguyên, mộ tháp Hòa Thượng Thiên Trúc (ấn Độ) xây vào niên hiệu Gia Tỉnh thứ 43 (1564) đời Minh… ● 少 室. 1. Ngọn núi ở phía bắc huyện Đăng Phong tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Do vì trong núi có thất đá nên mới có tên này và nó thuộc về Tung Sơn. Vào thời Bắc Ngụy. Hiếu Văn Đế cho xây chùa Thiếu Lâm trên núi và Tổ Đạt Ma đã từng ngồi xoay mặt vào vách chùa này đến 9 năm. Đây là lý do khiến chùa nổi danh ở đời. Tắc 1, Bích Nham Lục (Vạn Tục 117, 128 thượng) ghi: 直 歸 少 室 峰 前 坐 梁 主 休 言 更 去 招 “Trực quy Thiếu Thất phong tiền tọa, Lương chúa hưu ngôn cánh khứ chiêu”. “Về ngay Thiếu Thất ngồi trước núi, Vua Lương thôi bảo: Hãy đi mời”. ● 2. Chỉ cho Bồ Đề Đạt Ma. Chương Nhập Đạo Thiển Thâm Tụng của Hòa Thượng Lâm Khê Kính Thoát trong CĐTĐL q. 29 ghi: “少 室 與 摩 竭。第 代 稱 揚 許。我 今 問 汝 徒。誰 作 將 來 主? – Thích Ca cùng Đạt Ma thay nhau vênh vang. Nay tôi hỏi các thiền tăng, ai làm chủ tương lai?” ● 少 室 單 傳. Chỉ thiền pháp do Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền bá. Đơn truyền: Theo cách nói của nhà thiền: Hai mươi tám vị Tổ ấn Độ và sáu vị Tổ Trung Hoa, mỗi đời chỉ truyền một người, gọi là đơn truyền. X. Thiếu Thất. Mật Am Ngữ Lục ghi: “好 大 眾。不 是 文 章 四 六。亦 非 少 室 單 傳。哆 哆 和 和 如 薦 得。祖 師 鼻 孔 一 時 穿。 – Giỏi thay, Đại chúng! Không phải văn chương tứ lục (văn chương biền ngẫu) cũng không phải thiền pháp do Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền bá. Lời nói ngắc ngứ, vụng về như lãnh hội được, lổ mũi Tổ sư đồng thời xỏ tuốt. “ ● 少 室 家 風. Môn phong nhà thiền, hoặc sự truyền thừa Thiền pháp. Tiết Tuyết Phong Tư Huệ Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “總 似 今 日、靈 山 慧 命。殆 若 懸 絲。少 室 家 風、危 如 累 卵。 – Cứ như hôm nay huệ mạng Phật Tổ nguy như chỉ mành treo chuông, môn phong nhà Thiền bấp bênh như trứng để đầu đẳng”. ● 少 室 六 門 集. Còn gọi: Thiếu Thất Lục Môn. Sách, 1 quyển, do Bồ Đề Đạt Ma soạn, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 365. Nội dung ghi lại những lời nói quả quyết chân thật và quan trọng của thiền gia, chia ra làm 6 cửa như sau: Tâm kinh tụng, Phá tướng luận, Nhị chủng nhập, An tâm pháp môn, Ngộ tính luận. Huyết mạch luận. Có người nghi rằng trừ “Nhị chủng nhập” ra, còn 5 cửa kia là do người sau ngụy tác. ● 少 室 心 印. Thiền pháp tâm tâm tương ấn (Tâm thầy in sang tâm trò) của Tổ Đạt Ma truyền bá. X. Thiếu Thất. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “少 室 心 印、豈 落 文 彩?古 人 聊 爲 接 引 之 計、始 掛 唇 吻、然 皆 渾 朴 簡 直、刻 的 示 人。 – Thiền pháp tâm tâm tương ấn của Tổ Đạt Ma truyền bá há câu nệ vào việc trao chuốt lời nói câu văn? Người xưa tạm vì kế tiếp dẫn mà mượn lời nói, nhưng đều hồn hậu chất phác, ngắn gọn, chuẩn xác và trong sáng để dạy người. “ ● 少 逢 穿 耳 客. Xuyên nhĩ khách: Vị khách xỏ lỗ tai, chỉ cho Tổ Đạt Ma, là bậc đã kiến tính. Khó gặp được bậc kiến tính. Tiết Đức Sơn Chí Tiên Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “問:遠 遠 投 師、乞 師 一 接。師 曰:不 接。曰:恁 麼 則 虛 伸 一 問。師 曰:少 逢 穿 耳 客、多 遇 刻 舟 人。 – Tăng hỏi: Con từ xa xôi đến tìm thầy xin thầy tiếp con một lần. Sư nói: Chẳng tiếp. Tăng nói: Thế ấy thì uổng cho một câu hỏi của con. Sư nói: Khó gặp được bậc kiến tính, mà thường gặp kẻ chạy theo kiến giải”. ● 紹 安. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Quốc sư Đức Thiều ở núi Thiên Thai, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Báo Ân ở Hàng Châu. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa Thượng?. Sư đáp: Tất cả chỗ sẵn sàng. Hiệu: Thông Biện Minh Đức Thiền Sư. ● 紹 眞 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Pháp Đoan, sống vào đời Đường. X. Pháp Đoan. ● 紹 顯. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Đồng An, núi Phụng Thê, Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây). ● 紹 卿. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Tuyền Châu, Trung Quốc. Thuở bé ở chùa Linh Nham tập Kinh Luận, lớn lên yết kiến Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư đi trên núi, thấy lá khoai lay động, Tuyết Phong chỉ lá lay động để dạy sư, Thiệu Khanh nhờ đây có tỉnh ngộ. Ban đầu sư ở Long Khê, sau dời sang viện Long Thọ ở Chương Châu (nay là huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến). Hiệu: Hưng Pháp Đại Sư. ● 紹 隆 (1077-1136). Thiền tăng đời Tống, họ Cổ người xứ Hàm Sơn, Hòa Châu (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc. Năm lên 9, sư vào viện Phật Huệ, nghiên cứu tinh tường Luật tạng. Tham vấn các vị: Tịnh Chiếu Sùng Tín, Trạm Đường Văn Chuẩn, Tử Tâm Ngộ Tân. Sau đó, sư đến Giáp Sơn theo hầu Viên Ngộ Khắc Cần 20 năm và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Kệ ngộ đạo: “Thoát thân dĩ hiểu Nam Kha mộng Thử giác nhân gian vạn sự không Xuy khứ hoàn hương vô khổng địch Tịch dương tà chiếu bích vân hồng”. “Thân đã tỉnh rồi Nam Kha mộng Mới biết nhân gian muôn việc không Trổi khúc về quê, sáo không lỗ Mây xanh ửng đỏ, xế vầng hồng”. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 4 (1130), sư trụ Vân Nham Thiền Tự ở núi Hổ Khâu thuộc Bình Giang (nay là Tô châu) làm hưng thịnh thiền phong của Viên Ngộ, dần dà trở thành một phái, tức là phái Hổ Khâu, rất thịnh ở Nhật Bản. Tác phẩm: Hổ Khâu Long Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển. ● 紹 隆 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Hồng Tiến, sống vào đời Ngũ Đại. X. Hồng Tiến. ● 紹 隆 聖 種. Tiếp nối và làm rạng rỡ dòng giống của Thánh hiền. Quy Sơn Cảnh Sách của Thiền Sư Linh Hựu ghi: “夫 出 家 者、發 足 超 方、心 形 異 俗、紹 隆 聖 種、震 懾 魔 軍、用 報 四 恩、拔 濟 三 有。 – Nói đến người xuất gia: Cất bước du phương, thân tâm khác với kẻ thế tục, tiếp nối và làm rạng rỡ dòng giống của Thánh hiền, nhiếp phục ma quân để đền đáp bốn ơn, cùng cứu giúp ba cõi”. ● 紹 明 (1235-1308). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Nam Phố Thiệu Minh, hiệu Viên Thông, người xứ Tuấn Châu, xuất thân vọng tộc Đằng Thị. Tại Nhật Bản sư là đệ tử của Đạo Long. Niên hiệu Khai Khánh thứ 1 (1259) sang nhà Tống (Trung Quốc) đến chùa Tịnh Từ nối pháp Thiền Sư Trí Ngu, đời thứ 22 hệ Nam Nhạc, đời thứ 4 tông Lâm Tế Nhật Bản. Niên hiệu Hàm Thuần thứ 3 (1267) sư trở về nước khai sơn hoằng pháp nơi chùa Gia Nguyên. ● 邵 元 (1305-1385). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Cổ Nguyên Thiệu Nguyên. Niên hiệu Thái Định thứ 4 (1327) sang nhà Nguyên (Trung Quốc) trụ tại chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn, nối pháp Thiền Sư Văn Tài, đời thứ 24 hệ Thanh Nguyên, đời thứ 8 tông Tào Động Nhật Bản. Niên hiệu Chí Chính thứ 7 (1347) sư trở về nước trụ các chùa Đại Thánh, Đẳng Trì, Đông Phúc. ● 紹 岩 (899-971). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lưu, người xứ Ung Châu (nay là huyện Phượng Tường, tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc. Năm lên 7 tuổi, sư xuất gia nơi Thiền Sư Cao An. Đến 18 tuổi sư thụ giới cụ túc nơi Luật sư Hoài Huy, du phương tham vấn Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, nối pháp ngài thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Chân Thân Bảo Tháp ở Hàng Châu, Ngô Việt Vương thỉnh sư khai pháp và ban hiệu “Liễu Không Đại Trí Thường Chiếu Thiền Sư”. Trước khi lâm chung, sư có bảo với đệ tử rằng: “Chư hành vô thường tức thường trụ tướng” (các hiện tượng vô thường tức tướng thường trụ). ● 紹 宗. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Tô Châu, sư thờ Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng làm thầy, theo học và đắc pháp nơi Ngài. Ban đầu sư cất am ở Nha Sơn, Kiền Châu trong 20 năm, đạo đức vang xa. Về sau sư ở chùa Khai Tiên, Lô sơn. Nam Đường Trung Chủ từng vào núi để yết kiến sư. Hiệu: Viên Trí Thiền Sư. ● 紹 珍. Thiền tăng đời Tống. Sư tham vấn Thiền Sư La Hán Hạnh Lâm và đắc ngộ, nối pháp Ngài thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Huệ Lực thuộc quận Lâm Giang (nay là huyện Thanh Giang, tỉnh Giang Tây). Một hôm, có vị tăng hỏi: Lúc gà vàng chưa gáy thì sao? Sư đáp: Là thời tiết gì? Lại hỏi: Sau khi gáy thì sao? Sư đáp: Lại chẳng biết thời. ● 紹 修. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Mân, nối pháp Thiền Sư La Hán Quế Sâm. Sư ở núi Long Tế, Phủ Châu. Sư chẳng kêu gọi tụ tập đồ chúng, mà người học vẫn tìm đến. Sư học rộng giỏi văn chương. Tác phẩm: Quần Kinh Lược Yếu và hơn 60 bài kệ tụng truyền bá ở đời. ● 紹 孜. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư La Hán Đạo Nhàn, kế vị Trụ trì. Khi Mân Việt được bình định, sư đến Kim Lăng (nay là Nam Kinh) ra mắt Nam Đường Trung Chủ, tuyên dương thiền chỉ được vua ban thưởng, đãi ngộ. ● 邵 思 (990-1066). Thiền tăng đời Tống, họ lý, người Khúc giang, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Hiểu Thông ở Động Sơn, thuộc tông Vân Môn đời thứ 5, trụ trì thiền viện Định Huệ núi Tịnh Nguyên (tại Ông Nguyên, Quảng Đông). Người đời gọi là Tịnh Nguyên Tư Trưởng lão. ● 紹 遠. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư đến chùa Thạch Môn ở Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc) tham vấn Thiền Sư Huệ Triệt, nối pháp Ngài thuộc tông Tào Động. Lúc mới đến sư làm Điền đầu (quản lý ruộng nương). Sau sư kế vị Trụ trì. Có vị tăng hỏi: Thế nào là tâm cổ Phật? Sư đáp: Trâu trắng lộ thiên nằm bờ khe biếc. Lại hỏi: Đạo là gì? Sư đáp: Núi sâu nước lạnh. ● 聲 前 一 句 千 聖 不 傳. Một câu (nói) trước khi chưa mở miệng, dù là ngàn thánh ra đời cũng không thể truyền. Nghĩa là một câu “Chính pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm” đã không phải “Ngữ” cũng chẳng phải “Câu” và cũng không phải ngàn Phật muôn Tổ có thể truyền; biểu thị việc lớn hướng thượng Tông thừa không phải do người khác truyền trao mà phải do chính mình thực tế khai ngộ chứng đắc. Tắc 7, Bích Nham Lục (Đại 48, 147 thượng) ghi: “聲 前 一 句。千 聖 不 傳。未 曾 親 覲。如 隔 大 千。設 使 向 聲 前 辨 得。截 斷 天 下 人 舌 頭。亦 未 是 性 懆 漢。 – Một câu trước khi chưa mở miệng, dù là ngàn thánh ra đời cũng chẳng thể truyền. Nếu chưa từng chứng đắc, dù nói cho ông nghe như cách xa cả đại thiên thế giới. Giả sử ông biện được một câu nói trước khi chưa mở miệng là gì, dù cho có làm mọi người líu lưỡi, song cũng chưa phải là người mau lẹ chi!”. ● 請 益. Lời người học cầu xin thiền sư chỉ dạy thêm. Vốn là dụng ngữ trong sách Lễ Ký Luận Ngữ. Sách Lễ Ký ghi: “Thỉnh nghiệp tắc khởi, thỉnh ích tắc khởi” (Xin việc thì phải đứng dậy, xin chỉ dạy thì phải đứng dậy). Trong Thiền Tông, phần lớn chỉ cho nghĩa người học đạo sau khi thụ giới, còn có chỗ chưa thấu hiểu bèn thỉnh giáo một lần nữa. Nói về pháp Thỉnh ích có những quy định rõ ràng, theo điều Thỉnh Ích, chương Đại Chúng trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 5 (Đại 48, 1143 hạ) ghi: “Hễ muốn thỉnh ích, trước phải bẩm thị giả thông báo cho Trụ trì biết: “Thượng tọa … chiều nay muốn gặp Phương trượng thỉnh ích”. Nếu được chấp thuận thì đúng giờ đến cùng thị giả, chờ Phương trượng thắp đèn đốt hương, thị giả dẫn Thượng tọa vào trước Trụ trì vái chào cắm hương, lạy 9 lạy rồi đứng lên thưa: “Tôi vì việc lớn sinh tử, vô thường mau chóng, cúi mong Hòa Thượng từ bi chỉ dạy”. Sau khi đứng bên nghe lời chỉ dạy xong, bước đến thắp hương lạy 9 lạy cảm tạ, sau đó đến cảm ơn thị giả”. Do đây có thể thấy nghi thức Thỉnh ích thật là nghiêm túc. Lại, trong Ngữ Lục Thiền Tông cũng thấy có nhiều ghi chép về Thỉnh ích. Tắc 51, Bích Nham Lục (Đại 48, 186 thượng) ghi: “僧 至 夏 末。再 舉 前 話 請 益。頭 云:何 不 早 問。僧 云:未 敢 容 易。頭 云:雪 峰 雖 與 我 同 條 生。不 與 我 同 條 死、要 識 末 後 句。只 這 是。 – Đến cuối hạ, Tăng cử lại công án trước kia để cầu sư chỉ dạy lần nữa. Nham Đầu nói: Sao chẳng hỏi sớm? Tăng thưa: Chưa dám hồ đồ. Nham Đầu nói: Tuy Tuyết Phong cùng ta đồng điều sinh nhưng chẳng đồng điều tử, nếu ông muốn biết câu sau rốt chính là đây!”. ● 請 益 錄. Gọi đủ: Vạn Tùng Lão Nhân Bình Xướng Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Niêm Cổ Thỉnh Ích Lục. Niêm tụng bình xướng, 2 quyển, do Chính Giác niêm cổ vào đời Tống, Hành Tú bình xướng vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 117, trang 811. Toàn sách thu thập 99 cổ tắc công án như: Văn Thù quá hạ, Ngọa Luân kỹ lưỡng, Bách Trượng thượng đường, Nam Tuyền viên tướng, Động Sơn tôn quý; sau mỗi quyển có phụ âm nghĩa. Vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 35 (1607) đời Minh. Giác Hư Tính Nhất hiệu duyệt sách này, Sinh Sinh đạo nhân đưa bản thảo đi in. ● 壽 安 禪 院. X. Tịnh Từ Tự ● 受 用. Trong Thiền lâm, chỉ cho cơ pháp vận dụng linh hoạt. Như đạt đến cảnh giới tự do tự tại, có thể tùy ý mình nhiệm vận tự như, gọi là Thọ dụng như ý. Người học được thiền sư điểm hóa liền khai ngộ, từ đây về sau không còn bị sự trói buộc nào cả, gọi là Thọ dụng bất tận. Tắc 3, Vô Môn Quan ghi: “胝 將 順 世、謂 眾 曰:吾 得 天 龍 一 指 頭 禪、一 生 受 用 不 盡。 – Thiền Sư Câu Chi trước khi thị tịch, bảo với đại chúng là từ khi được Thiền một ngón tay của Thiền Sư Thiên Long cả đời thọ dụng chẳng hết”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 授 記. Vốn chỉ lời đoán trước của đức Phật cho các đệ tử ngộ đạo, thành Phật. về sau cũng chỉ lời tiên đoán của Tổ sư cho các đệ tử ngộ đạo, hoằng pháp. Tiết Đâu Suất Tùng Duyệt Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “吾 以 福 薄、先 師 授 記、不 許 爲 人。 – Do vì ta kém phúc nên tiên sư thọ ký không cho tiếp dẫn người. “ ● 受 業. Xuất gia rồi theo học với một vị Thầy nào đó. Hạng mục Văn Thái (PQĐTĐ 2, 1428 hạ) ghi: “字 崧 山。少 即 穎 悟 過 人、篤 好 宗 乘、禮 本 鄉 智 禪 師 剃 髮 受 業。 – Sư tự Tung Sơn, thuở bé đã thông minh hơn người, rất thích Thiền Tông, lễ Thiền Sư Trí là người cùng làng làm thầy rồi xuất gia theo học với Ngài”. ● 授 手. Trao tay, truyền thừa. Mật Am Ngữ Lục: “佛 佛 授 手。祖 祖 相 傳。不 昧 見 聞 覺 知。突 出 衲 僧 巴 鼻。風 行 草 偃。水 到 渠 成。 – Phật Phật trao tay, Tổ Tổ truyền nhau. Những cảm giác nhận thức rõ ràng, phá vỡ lổ mũi nạp tăng, gió lướt cỏ rạp, nước chảy thành sông (mọi việc diễn tiến tốt đẹp). “ ● 壽 算. Tuổi thọ. Mật Am Ngữ Lục ghi: “摩 訶 衍 法。離 四 句 絕 百 非。諸 佛 說 不 到。拂 子 善 提 持。乃 舉 起 拂 子 云。還 見 麼。以 此 祝 君 壽。壽 算 等 須 彌。 – Ngày mừng thọ của Vua, sư thượng đường: ›Pháp Đại thừa lìa tứ cú bặt bách phi, chư Phật nói thẳng đến, phất tử khéo giơ lên. ‹ Rồi đưa phất tử lên, nói: Có thấy chăng? Đem cái nầy chúc đức Vua, tuổi thọ bằng Tu Di. “ ● 退. Còn gọi: Thoái viện. Từ bỏ chức vụ trụ trì tự viện. Tông Môn Võ Khố ghi: “眞 淨 和 尚 退 洞 山。遊 浙 至 滁 州 瑯 瑯 起 和 尚。 – Hòa Thượng Chân Tịnh từ bỏ chức vụ Trụ trì Động Sơn, đi đến chỗ Hòa Thượng Lang Da Khởi ở Trừ Châu thuộc Chiết Giang. “ Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “退 院、上 堂:進 院 得 住 便 住、退 院 要 行 便 行、還 相 委 悉 麼?箇 條 烏 拄 杖、莫 怪 太 生 獰。擲 拄 杖、下 座。 – Sư thượng đường nói: Nhậm chức trụ trì tự viện, ở được liền ở; từ chức trụ trì, cần đi liền đi. Có biết cho chăng? ›Cây gậy đen sì này, đừng trách nó rất dữ tợn‹. Sư ném cây gậy, bước xuống tòa. ” ● 退 翁. 1. Hiệu của Thiền tăng Nhất Như đời Minh. X. Nhất Như. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Hoằng Trữ đời Thanh. X. Hoằng Trữ. ● 話. Lời dạy khuôn mẫu của Phật Tổ; công án của Thiền Tông. Tiết Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 11 ghi: “舉 得 一 百 揀 話 不 如 揀 得 一 箇 話、揀 得 一 百 箇 話、不 如 道 取 一 箇 話。道 取 一 百 箇 話 不 如 行 取 一 箇 話。 – Nêu ra được 100 công án chẳng bằng phân biệt được 1 công án, phân biệt được 100 công án chẳng bằng nói được 1 công án, nói được 100 công án chẳng bằng hành được 1 công án”. ● 話 霸. Đầu đề câu chuyện, phần lớn chỉ cho công án nhà thiền. Mật Am Ngữ Lục ghi: “二 尊 宿。前 不 至 村。後 不 迭 店。直 至 于 今。翻 成 話 霸。何 故。字 經 三 寫 烏 焉 成 馬。 – Hai vị tôn túc chưa đến nơi đến chốn thẳng đến hôm nay trở thành đầu đề câu chuyện. Vì sao? Một chữ mà viết ba lần thì sai lạc không còn đúng nguyên bản”. ● 話 靶. Đầu đề câu chuyện, phần lớn chỉ công án nhà thiền. Vô Môn Quan ghi: “豈 但 豐 干 饒 舌、元 是 釋 迦 多 口。這 老 子 造 作 妖 怪、令 千 百 代 兒 孫 被 葛 藤 纏 倒、未 得 頭 出。似 這 般 奇 特 話 靶、匙 挑 不 上、甑 蒸 不 熟。有 多 少 錯 認 底。 – Đâu chỉ Phong Can nhiều lời, mà cả Thích Ca cũng lắm chuyện. Lão này tác yêu tác quái khiến cho con cháu trăm ngàn đời bị vướng mắc trói buộc, chưa ra khỏi được. Hình như công án loại này là thiền cơ nhân duyên khó có thể lãnh ngộ, không dễ ứng phó, có bao nhiêu người nhận định sai lầm?” ● 話 頭. Thoại là một lời nói, khi chưa khởi niệm muốn nói gọi là Thoại đầu, chính là chỗ vô thủy vô minh. Tham thoại đầu, còn gọi là Khán thoại đầu, tức là nhìn ngay chỗ vô thủy vô minh, không biết đó là cái gì, vừa nhìn vừa hỏi, càng hỏi càng cảm thấy không biết, ấy gọi là phát nghi tình. Thư đáp Nham Trung Thừa trong HSLNMDT q. 1 ghi: “公 案 雖 多、唯 獨 念 佛 審 實 的 話 頭、塵 勞 中 極 易 得 力。 – Công án tuy nhiều, nhưng chỉ có thoại đầu Niệm Phật là ai? là dễ đắc lực trong sinh hoạt của người thế tục”. ● 話 墮. Sẩy lời; lời nói chẳng khế hợp thiền nghĩa. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “舉 王 太 尉 入 佛 殿 指 缽 盂 問 僧:這 箇 是 什 麼 缽。僧 云:藥 師 缽。尉 云:祇 聞 有 降 龍 缽。僧 云:待 有 龍 即 降。尉 云:忽 遇 拏 雲 獲 浪 來 又 作 麼 生?僧 云:他 亦 不 顧。尉 云:話 墮 也。 – Vương Thái úy vào điện Phật, chỉ cái bát hỏi một vị tăng rằng: Cái này là bát gì? Tăng nói: Bát Dược Sư. Úy nói: Chỉ nghe có bát hàng long (bát nhốt rồng). Tăng nói: Đợi có rồng liền bắt nhốt. Úy nói: Chợt gặp mây dồn sóng dập đến thì sao? Tăng nói: Hắn cũng bất chấp. Úy nói: Sẩy lời rồi vậy!” ● 話 會. Thông qua lời nói mà giao lưu và lãnh hội. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “九 旬 無 虛 棄 之 功。百 劫 在 今 時 之 用。如 斯 話 會。衲 子 攢 眉。不 見 道。一 塵 不 立 始 歸 家。若 有 纖 毫 非 眷 屬。 – Chín tuần không luống uổng công phu, trăm kiếp đang dùng bây giờ. Thông qua lời nói mà giao lưu và lãnh hội như thế thì thiền tăng chau mày. Chẳng nghe nói: Không lập một trần mới trở về nhà, nếu có mảy may không phải là quyến thuộc”. ● 話 破. Nói toạc ra, nói rõ. Tiết Lâm Tế Hòa Thượng trong TĐT q. 19 ghi: “山 僧 略 爲 諸 人 大 約 話 破 綱 宗、切 須 自 看。 – Sơn tăng vì các ông đại khái nói toạc ra cương yếu Thiền Tông, cần nhất là phải tự tham cứu”. ● 話 作 兩 橛. Lời nói trước sau tự mâu thuẫn với nhau. Tiết Tịnh Từ Ngạn Sung Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “上 堂、舉 雪 峰 示 眾 云:「盡 大 地 是 箇 解 脫 門、因 甚 把 手 拽 不 入。」 師 曰:大 小 雪 峰 話 作 兩 橛、既 盡 大 地 是 箇 解 脫 門、用 拽 作 麼? – Sư thượng đường cử công án Tuyết Phong thị chúng rằng: Khắp thế giới đều là cửa giải thoát, do cái gì mà nắm tay lôi chẳng vào? Sư nói: Đường đường như Tuyết Phong mà lời nói trước sau tự mâu thuẫn với nhau, đã là khắp thế giới đều là cửa giải thoát thì còn lôi kéo làm gì?”. ● 竄 名. Dấu đi tên thật, dùng tên giả. Tiết Vân Nham Thiên Du Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “隆 興 府 雲 巖 典 牛 天 游 禪 師、成 都 鄭 氏 子。初 試 郡 庠、復 梓 州 試、二 處 皆 與 貢 籍。師 不 敢 承、竄 名 出 關。 – Thiền Sư Điển Ngưu Thiên Du ở núi Vân Nham phủ Long Hưng, con nhà họ Trịnh ở Thành Đô. Ban đầu đi thi ở trường quận rồi đến Tân Châu thi nữa. Cả hai nơi sư đều đỗ đạt, nhưng sư chẳng dám nhận, dấu đi tên thật dùng tên giả để ra khỏi cổng thành”. ● 脫 空 妄 語. Còn gọi: Thoát Không Mạn Ngữ. Nói lung tung và không chân thật. Vân Môn Quảng Lục, q. thượng ghi: “長 連 床 上 飽 喫 飯 了 脫 空 妄 語。 – Ngồi trên giường thiền, ăn no rồi nói dối lung tung”. ● 脫 略. Siêu thoát, lãnh ngộ, thông đạt. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “張 無 盡 居 士、徧 參 諸 達 老、復 參 東 林 照 覺 和 尚、自 謂 脫 略、而 禪 宗 機 緣 無 不 透 徹。 – Cư sĩ Trương Vô Tận, tham vấn khắp các bậc Đông Lâm, lại tham Hòa Thượng Chiếu Giác ở chùa Đông Lâm, tự cho mình thông đạt, và cơ duyên Thiền Tông không gì không thấu suốt. “ ● 脫 然. Có vẻ siêu thoát, lãnh ngộ. Siêu thoát, thông đạt. Tiết Vân Nham Thiên Du Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “首 參 死 心 不 契、遂 依 湛 堂 於 泐 潭。一 日、潭 普 說 曰。。。師 聞 脫 然 穎 悟。 – Đầu tiên sư tham Tử Tâm nhưng không khế ngộ, liền nương ngài Trạm Đường ở Lặc Đàm… Một hôm, Đàm phổ thuyết như sau: …Sư nghe, có vẻ siêu thoát thông đạt. “ ● 脫 體. 1. Toàn thể của sự vật, khối thống nhất trong đó có các bộ phận có quan hệ chặt chẽ không thể tách rời nhau. Bài thơ “Tự Tán” của Thiền Sư Xiển Đề Chiếu trong GTPĐL ghi: 通 身 無 影 象、脫 體 露 堂 堂 不 話 非 聲 色、何 曾 有 短 長 “Thông thân vô ảnh tượng Thoát thể lộ đường đường Bất thoại phi thanh sắc Hà tằng hữu đoản trường”. “Khắp thân không hình bóng Toàn thể hiện rõ ràng Không lời phi thanh sắc Đâu từng có dài ngắn”. ● 2. Khỏi bệnh. Tiết Mục Am Trung Thiền Sư trong GTPĐL q. 26 ghi: “大 似 貼 肉 汗 衫、未 能 脫 體。 – Rất giống mồ hôi vã ra đầm đìa, mà chưa thể hết bệnh”. ● 脫 賺. Lừa dối, đánh lừa. Mật Am Ngữ Lục ghi: “雲 門 顧 鑑 夷 相 脫 賺。俱 胝 豎 指。全 無 巴 鼻。 – Lời nói Cố, giám, di của Vân Môn là đánh lừa người học. Câu Chi giơ ngón tay hoàn toàn không có cơ phong. “ ● 粗 食 易 飽 細 嚼 難 機. Tức là nhai ẩu, nuốt trộng tuy dễ no bụng nhưng lại khó tiêu; nhai kỹ ăn chậm chẳng những khó đói mà còn thưởng thức hương vị và lại bổ dưỡng. Trong Thiền Tông mượn thành ngữ này để chỉ nếu có thể tu hành miên mật thì có ngày thể ngộ, sau cùng quyết định đắc đạo. Tắc 48 trong Vô Môn Quan (Đại 48, 298 hạ) ghi: “若 能 下 得 此 三 轉 語、便 可 以 隨 處 作 主、遇 緣 即 宗。其 或 未 然、麤 餐 易 飽、細 嚼 難 飢。 – Nếu có thể hạ được ba chuyển ngữ này, liền có thể tùy chỗ làm chủ, gặp duyên chính là Thiền. Nếu chưa được như thế thì cần phải tu hành miên mật mới có thể chứng ngộ”. ● 措 大. Từ gọi học trò nghèo, hàn sĩ, hàm ý chế ngạo. Tông Môn Võ Khố ghi: “張 無 盡 丞 相。十 九 歲 應 舉 入 京。經 由 向 家。向 家 夜 夢 人 報 曰。明 日 接 相 公。凌 晨 淨 室 以 待。至 晚 見 一 窮 揩 大 著 黃 道 服。乃 無 盡 也。 – Thừa tướng Trương Vô Tận lúc 19 tuổi vào kinh ứng thí. Nói qua nhà họ Hướng. Họ Hướng đêm nằm mộng thấy thần nhân báo rằng: Ngày mai tiếp rước Tướng công. Sáng sớm họ Hướng quét dọn nhà cửa sạch sẽ để đợi. Đến chiều mới thấy một anh học trò nghèo kiết, mặc đạo phục màu vàng, chính là Trương Vô Tận đến. ● 兔 角 龜 毛. Sừng thỏ, lông rùa; chỉ cho sự vật tạm có tên gọi mà không thực có. Bài tựa của Lưu Bạt trong phần phụ lục ở cuối quyển trong PDNL q. hạ ghi: “兔 角 龜 毛、敢 言 有 實?孤 裘 羔 袖、終 愧 非 宜。 – Sừng thỏ lông rùa dám bảo rằng có thực? Áo lông cáo, áo lông cừu không nên dùng, trọn nên hổ thẹn!”. ● 兔 馬. Thỏ ngựa, chỉ cho các ông tăng tầm thường, tài đức thấp thỏi. Tiết Văn Định Hồ An Quốc Cư Sĩ trong NĐHN q. 18 ghi: 手 握 乾 坤 殺 活 機 縱 橫 施 設 在 臨 時 滿 堂 兔 馬 非 龍 象 大 用 堂 堂 總 不 知 “Thủ ác càn khôn sát hoạt cơ Tung hành thi thiết tại lâm thời Mãn đường thố mã phi long tượng Đại dụng đường đường tổng bất tri”. “Nắm chặt càn khôn tung bẫy rập Ra tay ngang dọc chỉ tuỳ thời Đầy nhà toàn hạng tầm thường cả, Đại dụng ràng ràng trọn chẳng hay”. ● 措 意. Hiểu rõ, lãnh hội. Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q. 3 ghi: “(青 青 翠 竹 盡 是 眞 如、郁 郁 黃 花 無 非 般 若。)此 盡 是 普 賢、文 殊 大 人 之 境 界、非 諸 凡 小 而 能 信 受、皆 與 大 乘 了 義 經 意 合。。。此 深 遠 之 言、不 省 者 難 爲 措 意。 – (Xanh xanh trúc biếc đều là chân như, rực rỡ hoa vàng không gì không phải Bát Nhã). Đây đều là cảnh giới của Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, không phải hạng phàm phu, Tiểu thừa có thể tin nhận, khế hợp với kinh Đại thừa liễu nghĩa… Đây là lời nói sâu xa, người chẳng tỉnh ngộ khó mà lãnh hội. “ ● 土 上 加 泥. Trên đất thêm bùn, tỷ dụ tăng thêm một lớp si mê, vướng mắc. “Bài tụng Cư Độn” của Hòa Thượng Long Nha trong CĐTĐL q. 29 ghi: 迷 人 未 了 勸 盲 聾 土 上 加 泥 更 一 重 “Mê nhân vị liễu khuyến manh lung, Thổ thượng gia nê cánh nhất trùng”. “Người mê lại khuyên kẻ mù điếc Thật là trên đất còn thêm bùn”. ● 村 公. Ông già nhà quê. Tiết Nam Tuyền Hòa Thượng trong TĐT q. 16 ghi: “師 行 脚 次、問 村 路:此 路 到 什 麼 處?村 公 對 云:脚 下 底 是 什 麼? – Sư đang hành cước, hỏi người đi đường: Đường này đi đến đâu? Ông gìa nhà quê đáp: Dưới gót chân là cái gì?” ● 村 頭. Người quê mùa, gã thô tục. Bài thơ “Tự tán” trong NTNL q. hạ: “突 出 娑 婆 世 界、一 枚 眞 箇 村 頭、行 腳 都 無 用 處、推 倒 隻 好 做 牛。 – Một anh chàng quê mùa nổi lên ở thế giới Ta Bà. Hành cước đều là chỗ vô dụng, xô ngã một con trâu rất khỏe. “ ● 村 裏 男 女. Đứa bé quê. Lời nói hàm ý xem thường. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “其 沙 彌 去 庫 頭 相 看 主 事 去、道 吾 來 不 審 和 尚。和 尚 向 道 吾 曰:儞 見 適 來 跛 腳 沙 彌 麼?對 曰:見。師 曰:此 沙 彌 有 些 子 氣 息。吾 曰:村 裏 男 女 有 什 麼 氣 息?未 得 草 草、更 須 勘 過 始 得。 – Sa Di ấy đang đến nhà kho ra mắt Chủ sự. Đạo Ngô vấn an Hòa Thượng. Hòa Thượng hỏi Đạo Ngô rằng: Vừa rồi ngươi có gặp Sa Di thọt chân không? Đạo Ngô thưa: Gặp. Sư bảo: Sa Di này có chút ít hơi hám. Ngô thưa: Đứa bé quê mà có hơi hám gì? Sư bảo: Không được cẩu thả, lại cần kham qua mới được. “ ● 吞 吐 不 得. Còn gọi: Thôn Thổ Bất Hạ, Thôn Bất Nhập Thổ Bất Xuất. Nuốt không vào, nhổ không ra. Câu này dùng để hình dung sự rắc rối, khó chịu của tình huống, giống như trong miệng ngậm một vật mà không thể nuốt vào hoặc nhổ ra, muôn phần khó chịu. Còn tỷ dụ cho không có cách nào để ứng đáp, khó xử trí. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho việc không thể tiêu thụ diệu dược Phật pháp vì thiếu đạo tâm. Tắc 83, Thung Dung Lục (Đại 48, 280 hạ) ghi: “妙 藥 何 曾 過 口?(吞 不 入 吐 不 出)。 – Thuốc hay đâu từng qua miệng (Nuốt không vào, nhổ không ra)”. ● 村 院. Chùa nhỏ ở thôn quê. Tiết Động Sơn Hòa Thượng ở TĐT q. 6 ghi: “初 投 村 院 院 主 出 家、其 院 主 不 任 持、師 并 無 欺 嫌 之 心。 – Đầu tiên sư theo Viện chủ một chùa nhỏ ở thôn quê để xuất gia. Vị viện chủ ấy không tín nhiệm, mà sư trọn không có lòng thù ghét ông ta. “ ● 寸 長 尺 短. Tấc dài, thước ngắn. Theo khái niệm thông thường thì thước dài tấc ngắn (xích trường thốn đoản), nhưng Thiền Tông đề xuất khái niệm tương phản tấc dài thước ngắn (thốn trường xích đoản) và dùng tinh thần siêu việt tương đối này để nắm bắt tướng chân thật. ● 寸 絲 不 掛. Chẳng mang một tấc tơ, tỷ dụ tâm tính không nhiễm một trần. CĐTĐL q. 8 (Đại 51, 258 trung) ghi: “師 便 問 大 夫 十 二 時 中 作 麼 生?陸 云:寸 絲 不 掛。 – Hòa Thượng Nam Tuyền hỏi Đại phu Lục Tuyên: Trong 24 giờ Đại phu làm cái gì? Tuyên đáp: Chẳng mang một tấc tơ”. ● 通. Cho biết, tỏ rõ, nói lên. Tiết Lặc Đàm Văn Chuẩn Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “聞 有 悟 侍 者、見 所 擲 爨 餘 有 省、詣 方 丈 通 所 悟。 Văn Ngộ thị giả, kiến sở trịch thoán dư hữu tỉnh, nghệ phương trượng thông sở ngộ. “ ● 通 辯 (?-1134). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 8, Sư họ Ngô, quê ở Đan Phượng (nay là huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây), miền Bắc Việt Nam. Vốn con dòng Phật tử, tính rất thông minh lại hiểu tột tam học. Ban đầu sư đến chùa Kiết Tường tham vấn với Thiền Sư Viên Chiếu, thầm nhận được ý chỉ. Sau, sư đến trụ tại Quốc tự trong kinh đô Thăng Long, từ đó sư lấy hiệu là Trí Không. Nhân việc Hoàng thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân đến chùa trai tăng và thưa hỏi về đạo lý, sư giải đáp thật rành rẽ nên Thái hậu rất hoan hỷ, lễ bái phong sư chức Tăng lục, ban cho y hồng và hiệu là Thông Biện Đại Sư cùng trọng thưởng rất hậu. Bởi kính trọng sư, Thái hậu thường triệu thỉnh vào cung và lễ bái phong làm Quốc sư. Lúc tuổi cao, sư về trụ chùa Phổ Minh ở Từ Liêm, mở đàn thuyết pháp. Sư dạy người tu thường lấy kinh Pháp Hoa làm dụng, nên người thời ấy gọi sư là Ngô Pháp Hoa. Ngày rằm tháng 2 năm Giáp Dần, nhằm niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ 2 (1134) đời Lý Thần Tông, sư cho hay có chút bệnh rồi thị tịch. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 通 辨 明 德 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Thiệu An đời Tống. X. Thiệu An. ● 聰 公 (860-945). Thiền tăng đời Đường, họ Đàm, tên U, hiệu Thông Công, người Tân Châu (Tân Hưng, Quảng Đông) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thiện Hội, thuộc hệ Thanh Nguyên đời thứ 7, trụ chùa Thanh Viễn Đông Lâm. ● 通 容 (1539-1661). Thiền tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Hà, hiệu Phí ẩn, người Phúc Châu Trung Quốc. Thuở nhỏ thông minh lạ lùng, 14 tuổi xuất gia bác thông kinh luận. Đã từng tham kiến Vô Minh Huệ Kinh, Trạm Nhiên Viên Trừng. Đời Minh niên hiệu Thiên Khải thứ 2 (1622) tham yết Mật Vân Viên Ngộ được tâm ấn nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Về sau lần lượt trụ Vạn Phúc Thiền Tự, viện Liên Phong núi Hoàng Bá, chùa Thiên Ninh ở Chiết Giang, chùa Siêu Quả ở Giang Tô, Phúc Nghiêm Thiền Tự, Vạn Thọ Thiền Tự, chùa Duy Ma, viện Hưng Phúc ở núi Nghiêu Phong. Những nơi sư đến đều được phục hưng lại và truyền bá pháp đạo của Viên Ngộ. Tác phẩm: Ngũ Đăng Nghiêm Thống 25 quyển, Ngũ Đăng Nghiêm Thống Giải Hoặc Biên 1 quyển, Tổ Đình Kiềm Chùy Lục 2 quyển. ● 通 豫 (1588-1646). Thiền tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trần, tự Lâm Cao, người Côn Sơn (Giang Tô) Trung Quốc. Năm 20 tuổi sư theo Nghiêu Phong Trạm Xuyên xuất gia, sau khi thụ giới cụ túc sư đi tham học khắp nơi, đến Khánh Sơn tham kiến Thiên ẩn Viên Tu được tỏ ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Khi ra hoằng pháp, sư trụ chùa Thạch Tiểu, Chung Sơn, Kim Lăng (Nam Kinh), dời sang trụ chùa Bảo Nham, Nghiêu Phong. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 11 (1638) dời sang chùa Trúc Lâm, Giáp Sơn, Trấn Giang (Giang Tô) trùng hưng điện vũ, hoằng dương chính pháp. Có Ngữ Lục lưu hành nơi đời. ● 通 賢 (1593-1667). Thiền tăng đời Thanh, họ Triệu, hiệu Phù Thạch, người Đương Hồ (Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 18 tuổi đến núi Phổ Đà yết kiến Thiệu Tông cạo tóc, do Vân Thê Châu Hoằng truyền cho giới Sa Di. Sau đó lần lượt tham kiến các nơi, đến chùa Kim Túc yết kiến Mật Vân Viên Ngộ tham học vài năm, lại theo Viên Ngộ đến Phúc Kiến. Về sau từ biệt Viên Ngộ, sư trụ am Phổ Tịnh, lại trụ chùa Đông Tháp ở Chiết Giang ba năm. Trong lúc đó, Viên Ngộ sang trụ chùa Thiên Đồng, sư cùng theo sau đến Thiên Đồng thăm viếng Viên Ngộ một năm, tức ở Vũ Nguyên bế quan. Năm sau sư hay tin Viên Ngộ mắc bệnh, xin tham kiến lần nữa được nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sau lần lượt trụ các chùa Thanh Liên, Báo Ân, Quảng Huệ, Đông Tháp, Cảnh Đức, Thê Chân, Thiện Quyền, Phúc Thành. Tác phẩm: Phù Thạch Thiền Sư Ngữ Lục 10 quyển. ● 通 慧 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Kính Tuân đời Tống. X. Kính Tuân. ● 通 玄 百 問. Còn gọi: Thông Huyền Bách Vấn Tập Sách, 1 quyển, do Thông Huyền Viên Thông hỏi, Vạn Tùng Hành Tú đáp), sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 119, trang 335. Thiền Sư Viên Thông ở am Thông Huyền tại Tính Châu (Nay là Thượng Nhiêu, tỉnh Quảng Tây) đặt ra 100 câu hỏi để khích lệ người học và tuyên dương Tổ đạo, Vạn Tùng Hành Tú đều đáp được cả, đệ tử của sư là Lâm Tuyền Tùng Luân theo thứ tự phụ tụng. Sinh Sinh Đạo Nhân là Từ Lâm ấn hành vào niên hiệu Thuần Hựu thứ 4 (1244). ● 通 奇 (1595-1652). Thiền tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Thái, tự Lâm Dã, người đời gọi “Lâm Dã Thông Kỳ Thiền Sư”, người Hợp Châu (Hợp Xuyên, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Tính tình trầm tĩnh không thích ăn thịt. Thuở nhỏ theo hầu hạ Thúc phụ là Đạo Nhiên chùa Kim Chung, 17 tuổi theo Liên Phong xuất gia, 19 tuổi ra khỏi Tứ Xuyên đi nam du, ý muốn nghiên cứu giáo điển nên ở lại Đương Hồ (Chiết Giang) bế quan xem kinh giáo, bỗng bị bệnh kiết lị gần chết mới biết học kinh luận không phải là pháp cứu cánh nhân nghe bài kệ tham thiền của Thiên Đồng: “Một niệm chưa sinh tử, thử khán xem đó là gì?”, như có tỏ ngộ. Một hôm sư trợt chân xuống lầu hoát nhiên tỏ ngộ liền đến Ngô Môn yết kiến Thiên Đồng Viên Ngộ, được tâm ấn nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Đời Minh, niên hiệu Sùng Trinh thứ 16 (1643) khi ra hoằng pháp sư trụ trì chùa Thông Huyền ở Thiên Thai, lần lượt qua các chùa Gia Hòa, Đông Tháp, Thê Chân, Thiên Đồng. Tác phẩm: Lâm Dã Hòa Thượng Ngữ Lục 8 quyển. ● 通 明. X. Hải Minh. ● 聰 明 境 界. Cảnh giới thông minh. Người tham thiền chưa thể trừ mọi tri thức kiến giải, chưa thể triệt ngộ tự tính, mà đem trí thông minh thế gian làm nhận thức, kiến giải hư vọng, gọi là “Cảnh giới thông minh”. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “參 學 之 士、工 夫 逼 拶 到 將 悟 未 悟 之 際、解 心 未 絕、往 往 巧 見 橫 生、此 謂 之 聰 明 境 界。 – Đối với kẻ sĩ, công phu tham cứu bức bách đến ranh giới: chưa ngộ với sẽ ngộ. Khi ấy, tâm ý thức chưa sạch, luôn luôn nảy sinh kiến giải. Đây gọi là cảnh giới thông minh. “ ● 通 門 (1599-1671). Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, hiệu Mục Vân, đời gọi là “Mục Vân Thông Môn Thiền Sư”, người Thường Thục (Giang Tô) Trung Quốc. Sư theo Động Văn chùa Hưng Phúc, Ngu Sơn xuất gia, ban đầu yết kiến Vô Dị Nguyên Lai, sau đó đến chùa Kim Túc tham kiến Mật Vân Viên Ngộ, được tâm ấn nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Giữ chức Ký thất nhiều năm, kẻ theo học có hơn ngàn người. Khi ra hoằng pháp sư trụ Cổ Nam Thiền Viện ở Gia Hưng (Chiết Giang), lần lượt trụ các chùa Thê Chân, Mai Khê, Hưng Phúc, Cực Lạc, Hạc Lâm, tuổi già lui về ở ẩn hơn 10 năm không ở một nơi nào nhất định. Bác thông ngoại học, giỏi thi văn, sở trường thư pháp, hội họa mang ít nhiều phong cách Ngụy Tấn xa xưa. Tác phẩm: Mục Vân Hòa Thượng Ngữ Lục 20 quyển, Mục Vân Hòa Thượng Thất Hội Dư Lục 6 quyển. ● 通 忍 (1604-1648). Thiền tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trần, hiệu Triều Tông, người đời gọi “Triều Tông Thông Nhẫn Thiền Sư”, người Thường Châu (Giang Tô) Trung Quốc. Năm 22 tuổi sư theo Thiền Sư Độc Tri am Trường Sinh ở Tĩnh Giang (Giang Tô) cạo tóc xuất gia, được nghe thuyết “Vô sinh”, liền đến chùa Kim Túc tham kiến Mật Vân Viên Ngộ, làm thị giả cho Viên Ngộ. Đời Minh, niên hiệu Sùng Trinh thứ 4 (1631) theo Viên Ngộ đến chùa A Dục Vương, Viên Ngộ nêu lời dạy của Thiền Sư Đại Thiên được khắc lên bia chùa rồi bảo sư: “Hổ dữ trong núi vì sao không ăn thịt con của nó?”. Sư xuất mồ hôi như tắm, ngồi nằm không yên. Hai ngày sau, đang từ ngoài đi vào liêu bất chợt tỏ ngộ, bèn thưa với Viên Ngộ: “Chỉ có người nào tự nhận mới là gần gũi”. Còn trình kệ được thầy ấn khả, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Về sau, lần lượt trụ các chùa Kỳ Đà Lâm, Linh Hựu, Thượng Sinh, Nam Hoa, Bảo Hoa. Tác phẩm: Triều Tông Thiền Sư Ngữ Lục 10 quyển. ● 通 一 線. Mở ra một lối tẻ trên đường. Mật Am Ngữ Lục q. thượng ghi: “祖 師 說 不 著、佛 眼 看 不 見。四 面(系 法 演 禪 師 之 法 號)老 婆。爲 君 通 一 線。 – Tổ sư nói chẳng nhằm, Phật Nhãn xem chẳng thấy, Tứ Diện (pháp hiệu của Thiền Sư Pháp Diễn) tâm lão bà vì anh mở ra một lối tẻ trên đường”. Tiết Điểu Hồi Lương Phạm Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “莫 道 凡 不 知、佛 也 覷 不 見。。。薦 不 薦?更 爲 諸 人 通 一 線。 – Chớ nói kẻ phàm phu chẳng biết, đến Phật nhìn cũng không thấy… có lãnh ngộ hay không? Lại vì các ông mở ra một lối tẻ trên đường”. ● 通 一 線 道. Mở ra một lối tẻ trên đường, là phương tiện do thiền sư lập bày để tiếp dẫn người học. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “雪 竇 第 三 句。卻 通 一 線 道。略 露 些 風 規。早 是 落 草。 – Đến câu thứ ba, Tuyết Đậu mở ra một lối tẻ trên đường, tiết lộ chút ít manh mối, sớm đã quanh co”. Tiết Khai Thiện Đạo Xiêm Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “須 知 通 一 線 道 處 壁 立 千 仞、壁 立 千 仞 處 通 一 線 道。 – Phải biết chỗ mở ra một con đường có vách đứng ngàn nhẫn, chỗ vách đứng ngàn nhẫn có mở ra một con đường”. ● 通 法 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Đạo Thành đời Tống. X. Đạo Thành. ● 通 方. Thông đạt, khế hợp đạo pháp. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “如 今 人 不 會 古 人 意。只 管 咬 言 嚼 句。有 甚 了 期。若 是 通 方 作 者。始 能 辨 得 這 般 說 話。 – Như người thời nay chẳng biết ý người xưa, chỉ lo nhai lời nuốt chữ, có ngày nào xong? Nếu là bậc tài giỏi thông đạt thì mới biện được công án này”. ● 通 身 是 手 眼. Toàn thân đều là tay, là mắt. Thiền Tông dùng từ này để biểu thị sự quên đi thế đối lập chủ khách nhằm tiến đến cảnh giới nhất như. Tắc 89, Bích Nham Lục (Đại 48, 213 hạ) ghi: “吾 云:汝 作 麼 生 會。巖 云:遍 身 是 手 眼。吾 云:道 即 太 殺 道。只 道 得 八 成。巖 云:師 兄 作 麼 生。吾 云:通 身 是 手 眼。 – Đạo Ngô nói: Ông hiểu thế nào? Nham nói: Khắp thân là tay mắt. Ngô nói: Ông nói rất hay, nhưng mới nói được có 8 phần. Vân Nham hỏi: Còn sư huynh thì sao? Đạo Ngô nói: Toàn thân là tay mắt”. ● 通 禪 (?-1228). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 13, nối pháp Thiền Sư Thường Chiếu. Sư họ Đặng, quê làng ốc, An La. Sư cùng với Thần Nghi ở chùa Thắng Quang đồng thờ Thiền Sư Thường Chiếu ở chùa Lục Tổ làm thầy. Một hôm, sư vào thất thưa hỏi rằng: Làm sao hiểu rõ Phật pháp? Thường Chiếu đáp: Phật pháp không thể hiểu được. Liễu ngộ được điều đó thì mới gọi là hiểu pháp. Chư Phật đều tu hành như thế, không đắc bất cứ một pháp nào. Sư ngay câu nói này lãnh ngộ yếu chỉ. Sư trở về cố hương rưới mưa, người học tụ hội rất đông. Phàm có ai thưa hỏi, sư thảy đều dùng tâm ấn tâm. Có vị tăng hỏi: Thế nào là người xuất thế? Sư đáp: Đâu chẳng nghe người xưa nói: “Chỉ xem năm uẩn đều không, tứ đại vô ngã, chân tâm không tướng, không đi không lại, khi sinh tính chẳng đến, khi tử tính chẳng đi, yên tĩnh tròn lặng, tâm cảnh nhất như”. Chỉ hay như thế, liền chóng liễu ngộ, không bị ba đời ràng buộc, bèn là người xuất thế. Cần thiết chẳng được có một mảy may thú hướng. Đến niên hiệu Kiến Trung thứ 4 (1228) đời Trần Thái Tông, vào lúc tháng 7, sư tịch. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 通 時 喧. Lời thăm hỏi. Tiết Kim Phong Tùng Chỉ Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “新 到 參、師 曰:不 用 通 時 暄、第 一 句 道 將 來。 – Vị tăng mới đến tham vấn. Sư bảo: Chẳng cần lời thăm hỏi, hãy nói câu thứ nhất xem sao!” ● 通 乘 (1593-1638). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, tự Thạch Xa, người xứ Kim Hoa (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 26 tuổi, nương Ngài Thiên Chân Hải Tạng xuất gia rồi sư thụ giới cụ túc ở chùa Vân Môn, tham khắp các vị Thiện tri thức. Sau đến chùa Kim Túc yết kiến Mật Vân Viên Ngộ, được tâm ấn của ngài, hầu hạ trong 7 năm và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 4 (1631), sư ra hoằng pháp trụ chùa Long Khánh, núi Đồng Quang ở Hàng Châu, rồi dời sang trụ chùa Kim Túc, khai pháp hoằng hóa, quảng độ quần mê. ● 通 信. Chỉ cho sự giải bày, trao đổi tin tức thiền cơ. Tiết Thạch Sương Sở Viên Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “上 堂:雲 收 霧 卷、杲 日 當 空。不 落 明 暗、如 何 通 信? – Sư thượng đường nói: Trời quang mây tạnh, mặt trời sáng rực trên không. Chẳng rơi vào sáng tối, làm sao trao đổi tin tức?” ● 通 琇 (1614-1675). Thiền tăng đời Thanh, họ Dương, tự Ngọc Lâm, người đời gọi là “Ngọc Lâm Quốc Sư” người Giang Âm (Giang Tô) Trung Quốc. Năm 19 tuổi sư theo Khánh Sơn Viên Tu xuất gia, thụ giới cụ túc nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Từng trụ trì chùa Báo Ân ở Vũ Khang (Chiết Giang), sau phụng chiếu của Thanh Thế Tổ vào kinh, ở nơi cung Vạn Thiện cử dương đại pháp. Chẳng bao lâu sư trở về núi, để lại đệ tử là Hạnh Sâm hoằng pháp nơi Bắc Kinh. Niên hiệu Thuận Trị thứ 17 (1660) vua tuyển lựa tăng thụ giới Bồ Tát, đặc biệt cho sư làm Bản sư còn gia phong “Đại Giác Phổ Tế Năng Nhân Quốc Sư”. Thông Tú khi thuyết pháp nơi cung đình có soạn một thiên “Khách Vấn”, Đại học sĩ Kim Chi Tuấn phụng sắc viết lời bình chú và phụ tự rồi cho ấn hành. Tuổi già, sư xây cất chùa Thiền Nguyên ở núi Thiên Mục, Chiết Giang và thường trụ ở đó. Tác phẩm: Ngọc Lâm Tú Quốc Sư Ngữ Lục 12 quyển. ● 通 醉 (1610-1695). Thiền tăng đời Thanh, họ Lý, tự Trượng Tuyết, người Nội Giang (Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư lễ ngài Thanh Nhiên núi Cổ Tự xuất gia, đọc kinh Pháp Hoa đến chỗ “cho đến giơ một tay hoặc cúi đầu… đều có thể thành Phật đạo” thì biết rằng hy vọng sẽ đắc đạo, sư liền đến núi Nga My tu đạo. Sau nghe đạo phong của Mật Vân Viên Ngộ mà chuyển sang tu thiền, ẩn cư núi Cổ Tự đọc các Ngữ Lục, ở nơi Vạn Phong tham yết Phá Sơn Hải Minh. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 9 (1636) mùa thu sư đến núi Thiên Đồng tham kiến Viên Ngộ và được đại ngộ, rồi trở về Vạn Phong được ấn khả nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Niên hiệu Thuận Trị thứ 4 (1647) đi đến Tuân Nghĩa (Quý Châu) tị nạn. Năm thứ 6 (1649) đến Long Hưng Thiền Viện ở Giang Thượng, Lạc An (Giang Tây) tụ hội thiền sư khắp nơi thuyết pháp. Niên hiệu Khang Hy (1662-1722) đến chùa Chiêu Giác ở Thành Đô, sư ra sức phục hưng lại những điện thờ bị hư hỏng trở thành kiểu cũ. Tuổi già sư lui về ở Dật Lão Quan. Sư học rộng nhớ dai, giỏi làm thơ. Đệ tử nối pháp có Bản Tương, Linh Thiền, Triệt Liễu. Tác phẩm: Ngữ Lục 12 quyển. Thanh Tùng Tập 1 quyển, Lý Trung Hành 1 quyển, Cẩm Giang Thiền Đăng 20 quyển. ● 通 雲 (1594-1663). Thiền tăng đời Thanh, họ Từ, tự Thạch Kỳ, người Giang Tô Trung Quốc. Thuở nhỏ sư hay bệnh, đến chùa Nam Quảng xuất gia, học cả nội ngoại điển. Nhân xem bài kệ của Trung Phong Minh Bản viết trên vách chùa Báo Quốc ở Gia Định (Thượng Hải) mà cảm ngộ, sư liền đến chùa Hiển Thánh tham kiến Trạm Nhiên Viên Trừng. Lại tham kiến Mật Vân Viên Ngộ, luôn trình kiến giải nhưng đều bị Viên Ngộ quát. Một hôm, sư vào thất chưa kịp mở miệng, Viên Ngộ quơ gậy đánh, sư liền đại triệt đại ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Khi ra hoằng pháp sư trụ Linh Thứu Thiền Tự hoằng dương thiền pháp. Lần lượt trụ Tịnh Cư Thiền Tự núi Cảnh Tinh, Thiên Thai; chùa Tư Thánh núi Tuyết Đậu; Phổ Nhuận Thiền Viện, Hương Sơn Thiền Tự; Mật ấn Thiền Tự núi Đầu Đà. Đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 17 (1660) sư trở về chùa Nam Quảng. Tác phẩm: Tuyết Đậu Thạch Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục 15 quyển. ● 通 問 (1604-1655). Thiền tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Du, hiệu Nhược Am, người Ngô Giang (Giang Tô) Trung Quốc. Cha già của sư sợ không con nên đến chùa Thứu Phong thiết lập đại hội Vô già một trăm ngày, Thông Vấn ứng theo sự cầu khẩn mà sinh ra. Thuở nhỏ đã mất cha mẹ, năm 16 tuổi hăng hái đọc sách, xem qua hầu hết các sách. Một hôm nhân đi qua sơn tự xem kinh Lăng Nghiêm dường như có tỏ ngộ, sư bèn đến Khánh Sơn yết kiến Thiên ẩn Viên Tu song đã lâu mà không khế ngộ. Năm 24 tuổi vì bị ép lấy vợ nên sư đêm tối theo Pháp Vũ Phật Thạch chùa Lý An, ở Nam Giản cạo tóc xuất gia, lại theo hầu Mật Vân Viên Ngộ chùa Kim Túc, nhưng không khế ngộ, sư trở lại Khánh Sơn một hôm nghe gió mạnh thổi vào vách núi mà có chỗ tỉnh ngộ, được Viên Tu ấn khả, làm truyền nhân tông Lâm Tế. Về sau trụ chùa Lý An, rồi dời sang Giáp Sơn, qua lại vùng Giang Đông sư phục hưng các chùa hoang phế, an trí đạo lữ là nhiệm vụ chủ yếu. Tuổi già trụ Khánh Sơn. Tác phẩm: Nhược Am Vấn Thiền Sư Ngữ Lục 12 quyển, Tục Tăng Tồn Cảo 20 quyển, Khánh Thất Hậu Lục 1 quyển. ● 通 微 (1594-1657). Thiền tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Trương, tự Vạn Như, người Gia Hưng (Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 19 tuổi sư vào chùa Hưng Thiện xuất gia thụ giới cụ túc. Ban đầu yết kiến Văn Cốc, lần lượt tham kiến các bậc danh túc. Một hôm nhân xem kinh Lăng Nghiêm dường như có tỏ ngộ, sư liền đến chùa Kim Túc tham kiến Mật Vân Viên Ngộ song không khế ngộ. Một hôm vào thành, ở bên đường thấy người chủ mắng đứa ở bất giác toàn thân sư nhảy dựng lên mà được đại ngộ. Sau nối pháp Viên Ngộ làm truyền nhân tông Lâm Tế. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 13 (1640) sư khai pháp nơi viện Chân Như, rồi sang Tào Sơn, đến núi Long Trì, giáo hóa hơn mười năm mà tịch. Tác phẩm: Vạn Như Vi Thiền Sư Ngữ Lục 10 quyển. ● 通 圓. Hiệu của Thiền tăng Vạn Kim, sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh. X. Vạn Kim. ● 通 榮. Thiền tăng đời Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 44. Sư quê ở Nhân Kiệt, tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam. Thuở nhỏ sư đến Hàm Long xin cầu xuất gia, thế độ. Lớn lên, sư đến Hòa Thượng Phúc Điền thụ giới cụ túc. Sư tu hành chín chắn, đạo đức vang xa. Đệ tử rất đông, mỗi vị ở mỗi phương hoằng hóa. Kệ thị tịch: “Tâm không cảnh tịch việt thánh siêu phàm Ý nhiễm tình sinh vạn đoan hệ phược. Thiên nhân chư pháp tận tại kỳ trung Bỉ ngã nhất thể nguyên bản duy tâm”. “Tâm không cảnh lặng vượt thánh siêu phàm Ý nhiễm tình sinh muôn mối trói buộc Trời người các pháp trọn tại trong đây Ta người một thể gốc chỉ là tâm”. Không rõ sư tịch lúc nào và ở đâu. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 痛 棒. Dùng gậy đánh đau điếng. Tiết Dục Vương Đức Quan Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “臨 濟 三 遭 痛 棒、大 愚 言 下 知 歸。 – Lâm Tế ba phen bị đánh đau điếng, ngay nơi lời nói của Đại Ngu liền kiến tính”. ● 痛 領. Lãnh hội sâu sắc, lãnh ngộ rất sâu. Tiết Tri Phủ Cát Đàm Cư Sĩ trong NĐHN q. 20 ghi: “豁 然 頓 明、頌 曰:非 心 非 佛 亦 非 物、五 鳳 樓 前 山 突 兀、豔 陽 影 裡 倒 翻 身、野 狐 跳 入 金 毛 窟。。遂 復 至 虎 丘。海 迎 之 曰:居 士 見 處、止 可 入 佛 境 界。入 魔 境 界、猶 未 得 在。公 加 禮 不 已。海 正 容 曰:何 不 道 金 毛 跳 入 野 狐 窟?公 乃 痛 領。 – ›Ông bỗng nhiên sáng tỏ, tụng rằng: Phi tâm phi Phật cũng phi vật, trước lầu Ngũ Phụng núi cao vút. Trong bóng nắng xuân bỗng lộn nhào, chồn hoang nhảy vào hang sư tử‹. Ông liền trở về Hổ Khâu. Thiền Sư Phật Hải ra đón, nói: ›Kiến giải về thiền pháp của cư sĩ chỉ có thể vào cảnh giới Phật, mà chưa vào được cảnh giới ma‹. Ông càng lễ bái chẳng thôi. Hải nghiêm sắc mặt, bảo: ›Sao chẳng nói sư tử nhảy vào hang chồn hoang?‹ Ông liền lãnh hội sâu sắc”. ● 啐 地 折. Bất ngờ bị bẻ gãy, ẩn chỉ lập tức ngộ nhập, đốn ngộ thiền pháp. Tiết Ngộ Thập Tam Đạo Nhân trong NĐHN q. 20 ghi: “每 以 已 事 扣 諸 禪、及 開 善 歸、結 茆 於 其 左、遂 往 給 侍。紹 興 庚 申 三 月 八 日 夜、適 然 啟 悟、占 偈 呈 善 曰:元 來 無 縫 罅、觸 著 便 光 輝。既 是 千 金 寶、何 須 彈 雀 兒?善 答 曰:啐 地 折 時 眞 慶 快、死 生 凡 聖 盡 平 沉。仙 州 山 下 呵 呵 笑、不 負 相 期 宿 昔 心。 – Sư thường đem việc tự kỷ hỏi các bậc thiền đức, đến lúc Khai Thiện trở về liền cất am bên trái am của ngài để hầu hạ. Đêm mùng 8 tháng 3 năm Canh Thân, niên hiệu Thiệu Hưng, bỗng nhiên sư khải ngộ, khẩu chiếm 1 bài kệ trình Thiện như sau: Té ra không kẻ hở Chạm nhằm liền sáng rỡ Đã là báu ngàn vàng Đâu cần bắn chim sẻ? Thiện đáp rằng: Khi chợt ngộ nhập thật sung sướng Thánh phàm sinh tử chợt mất tiêu Dưới ngọn Tiên Châu cười ha hả Chẳng phụ lòng mong mỏi trước kia”. ● 啐 啄. Kêu mổ. Khi gà mẹ ấp trứng, gà con ở trong vỏ trứng sắp nở kêu lên gọi là Thốt, gà mẹ mổ vỏ trứng để gà con mau ra gọi là Trác. Thiền Tông dùng nó để dụ cho Thiền cơ tương ứng, cơ phong qua lại. Bài tụng “Thốt trác đồng thời” trong Phần Dương Ngữ Lục ghi: 從 前 垂 手 接 初 機 正 示 繁 言 免 妄 思 今 日 捧 詩 來 請 益 聊 伸 啐 啄 報 當 時 “Tùng tiền thủy thủ tiếp sơ cơ, Chính thị phồn ngôn miễn vọng tư Kim nhật phụng thi lai thỉnh ích Liêu thân thốt trác báo đương thời”. “Ngày trước duỗi tay tiếp sơ cơ, Nhiều lời bày vẽ khỏi vọng suy. Ngày nay dâng thơ để thỉnh ích, Tạm thời kêu mổ báo đương thời”. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “問:作 家 不 啐 啄。啐 啄 不 作 家。大 眾 臨 筵。請 師 作 家 相 見。師 垂 下 一 足。 – Hỏi: Thiền Sư kiệt xuất chẳng tương ứng, còn có cơ phong qua lại thì chẳng phải thiền sư kiệt xuất. Đại chúng lên pháp đường thỉnh Sư cùng nhau vấn đáp với Thiền Sư kiệt xuất. Sư liền thòng một chân xuống”. ● 啐 啄 同 時. Kêu mổ một lượt, tỷ dụ sự phối hợp thiền cơ khít khao, nhanh chóng. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “大 凡 出 眾。切 磋 也 須 是 本 分。禪 客 若 未 具 啐 啄 同 時 眼。卒 摸 索 不 著 – Hễ người nào bước ra khỏi chúng để bàn bạc, cũng cần phải là thiền khách lão luyện. Nếu chưa có con mắt phối hợp thiền cơ khít khao nhanh chóng, cuối cùng mò bắt chẳng được. “ ● 時 流. Nhiều, hành loạt thói tục của một thời. Khai thi thiền nhân Huy trong MANL ghi: “才 出 母 胎。立 志 挺 然。與 時 流 迥 絕。行 腳 見 知 識。決 要 透 脫 生 死 大 事。 – Vừa ra khỏi thai mẹ, lập chí vượt bậc, xa hẳn các thói tục, hành cước gặp bậc tri thức, kiên quyết muốn thông suốt việc lớn sinh tử. “ ● 時 時 念 念. Từng phút từng giây. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “更 時 時 念 念 不 見 一 切 相、莫 認 前 後 三 際。 – Trong từng phút từng giây không thấy tất cả tướng, chớ nhận 3 mé trước sau”. Luôn luôn, thường xuyên, hàng ngày. Tiết Hương Nghiêm Nghĩa Đoan Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “兄 弟、佛 是 塵、法 是 塵、終 日 馳 求、有 甚 麼 休 歇。但 時 中 不 用 掛 情、情 不 掛 物、無 善 可 取、無 惡 可 棄。莫 教 他 籠 罩 著、始 是 學 處 也。– Này huynh đệ, Phật là trần, Pháp là trần, suốt ngày chạy tìm, có khi nào lãnh ngộ? Chỉ cần luôn luôn không theo tình, tình không không gá vật, không nắm lấy điều thiện, không vất bỏ điều ác, đừng để chúng bao phủ, mới là chỗ học vậy. “ ● 時 長. Thường xuyên, luôn luôn. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “若 是 得 意 底 人、自 解 作 活 計、舉 措 悉 皆 索 索 底、時 常 恬 恬 底。 – Nếu là người lãnh ngộ thiền ý, tự biết thực tế vận dụng thiền pháp, mỗi hành động thảy đều dứt khoát, luôn luôn điềm tĩnh. “ ● 時 蔚 (1303-1381). Thiền tăng cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Kim, tự Vạn Phong, người Lạc Thanh (Chiết Giang) Trung Quốc. Sư xuất gia thuở nhỏ, 11 tuổi đọc kinh Pháp Hoa có tỉnh, liền vào Hàng Châu thụ giới cụ túc. Sau đó yết kiến Hổ Bào Phổ Thành, Phổ Thành dạy tham thoại đầu “không phải tâm, không phải Phật, không phải vật”, chán nản vì không sở đắc nên sư đến chùa Phật Chỉ núi Đạt Bồng, Minh Châu (Ninh Ba, Chiết Giang) ngày đêm tham cứu. Một hôm nghe Tông luật sư, chủ chùa cử công án “Quy Sơn đạp ngã tịnh bình” chợt đại ngộ. Sư đến núi Phục Long tham kiến Thiền Sư Nguyên Trường được ấn chứng làm Thủ tọa, trao cho pháp y làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sau sư đến núi Đặng Úy, Tô Châu sáng lập chùa Thánh Ân, thiền lữ bốn phương tụ hội đông đảo không đủ chỗ ở, đạo phong hưng thạnh suốt 30 năm. Sau khi tịch, đệ tử Phổ Thọ v. v… biên tập Vạn Phong Ngữ Lục. ● 收 殺. Kết cục, kết thúc. Tông Môn Võ Khố ghi: “密 印 長 老 四 年 前。見 他 恁 麼 地。乃 至 來 金 山 陞 座。也 秖 恁 麼 地。打 一 箇 回 合 了。又 打 一 箇 回 合。秖 管 無 收 殺。如 何 爲 得 人。 – Trưởng lão Mật ấn bốn năm trước là như thế, cho đến khi tới Kim Sơn thăng tòa cũng chỉ như thế. Làm một hiệp xong, lại làm thêm một hiệp nữa, cứ làm mà không kết thúc, làm sao giúp được người?” ● 酬 價. Cho biết giá tiền. Tiết Tín Tương Tông Hiển Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “仰 山 將 一 塊 金 來、使 金 師 酬 價、金 師 亦 盡 價 相 酬。 – Ngưỡng Sơn đem một thỏi vàng ra, bảo người thợ kim hoàn cho biết giá tiền, ông ta cũng cho giá”. ● 殊 像 寺. ở phía tây nam phố Dương Lâm, thị trấn Đài Hoài, Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, là một trong năm đại thiền tự của Ngũ Đài Sơn. Do trong chùa thờ tượng Văn Thù nên có tên “Thù Tượng Tự”. Được xây dựng vào đời Đường, khoảng niên hiệu Diên Hựu (1314-1320) đời Nguyên xây dựng lại, sau đó bị lửa thiêu hủy. Niên hiệu Thành Hóa thứ 23 (1487) đời Minh xây cất lại. Phía trước là Sơn môn, Thiên vương điện, hai bên là Lang vũ phối điện, phía sau là Thiền đường, Phương trượng thất. Chính giữa là Văn Thù các thờ Bồ tát Văn Thù cưỡi sư tử xanh, cao 9m, sau lưng khám là “Tam Thế Phật” (Thích Ca, Dược Sư, Di Đà), hai bên treo 500 La hán, toàn bộ tượng Phật đều được người đời Minh nặn đắp, công nghệ tinh xảo, hình tượng tú mỹ. ● 酬 唱. Dùng cơ ngữ đối đáp qua lại. Bích Nham Lục ghi: “此 語 若 無 奇 特。雲 門 保 福 長 慶 三 人。咂 咂 地 與 他 酬 唱 作 什 麼? – Lời nói này nếu không có gì kỳ đặc thì 3 vị Vân Môn, Bảo Phúc, Trường Khánh tỉ mỉ thù xướng với ông ta làm gì?” ● 手. 1. Cách. Tiết Đan Hà Thiên Nhiên Thiền Sư trong ĐQMT q. hạ ghi: “等 閑 放 過 南 陽 侍 者、而 直 擒 取 南 陽 國 師、所 謂 挽 弓 須 挽 強、用 槍 須 用 長、是 此 手 也。 – Bình thường sư kiềm chế hành động của thị giả Nam Dương, và ắt phải bắt lấy Nam Dương Quốc sư. Cái gọi là giương cung cần giương cứng, dùng dáo phải dùng dáo dài, là cách này vậy. “ ● 2. Thủ đoạn. Tiết “Nghệ ngôn” trong NHQL q. 29 ghi: “此 是 人 顛 顛 倒 倒、一 等 精 靈。婆 有 參 天 之 機、僧 有 入 地 之 路、婆 有 趁 象 之 手、僧 有 陷 虎 之 謀(這 是 對 婆 子 燒 庵 公 案 的 評 議。) – Hai người này rối rắm quá lắm, giống nhau ở chỗ linh lợi. bà gìa có nẻo lên trời, vị tăng có đường xuống đất. Bà già có thủ đoạn đuổi voi, vị tăng có mưu kế bắt cọp. (Đây là bình về công án “Bà già đốt am”).” ● 取 (k. ng). 1. Tuân theo, nghe theo, theo. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流 取 山 僧 見 處。坐 斷 報 化 佛 頭。 – Chư đạo hữu! Theo chỗ thấy của sơn tăng, các ông có thể cắt đứt những đầu Báo thân Phật, Hóa thân Phật”. ● 2. Khoảng cách. Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “韋 監 軍 來 謁、乃 曰:曹 山 和 尚 甚 奇 怪。師 曰:撫 州 取 曹 山 幾 里? – Vi giám quân đến yết kiến, thưa rằng: Hòa Thượng Tào Sơn rất lạ lùng. Sư nói: Phủ Châu cách Tào Sơn bao nhiêu dặm?” ● 3. Cần phải, Hãy (k. ng. , trợ từ đặt ở sau động từ) biểu thị ngữ khí khuyên răn, dặn dò. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “師 云:大 眾 看 取 者 一 員 禪 客。 – Sư nói: Đại chúng! Cần phải xem vị thiền khách này”. Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “問:如 何 是 囊 中 寶?師 曰:合 取 口。 – Hỏi: Cái gì là vật báu trong đãy? Sư đáp: Hãy ngậm miệng”. ● 手 脚. 1. Bản lĩnh. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “雪 竇 可 謂 大 有 手 腳。一 時 與 爾 交 加 頌 出。 – Có thể nói: Tuyết Đậu rất có bản lĩnh sẽ cùng một lúc tụng ra cho ông”. ● 2. Thủ đoạn. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “若 是 本 分 人 到 這 裏。須 是 有 驅 耕 夫 之 牛。奪 飢 人 之 食 底 手 腳。方 見 馬 大 師 爲 人 處。 – Nếu là người tham thiền lão luyện đến chỗ này, cần phải có thủ đoạn đuổi trâu của người cày, đoạt cơm của người đói, thì mới thấy được chỗ vì người của Mã đại sư”. ● 3. Vai, nhân vật. Tiết Thần Đảnh Hồng Nhân Thiền Sư trong LĐHY q. 12 ghi: “問:匹 馬 單 槍 時 如 何?師 云:神 鼎 打 退 鼓。云:畢 竟 如 何?師 云:想 你 不 是 這 手 腳。 – Hỏi: Lúc một dáo một ngựa thì sao? Sư nói: Thần Đảnh đánh trống rút lui. Hỏi: Rốt cuộc ra sao? Sư đáp: Tưởng ngươi chẳng phải là nhân vật này”. ● 守 端 (1025-1072). Thiền tăng đời Tống, họ Chu, có thuyết nói họ Cát, người Hành Dương (Hồ Nam) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư giỏi văn chương, không thích trần lao. Năm 20 tuổi theo Trà Lăng Nhân Úc xuất gia, sau khi thụ giới cụ túc tham kiến Thiền Sư Dương Kỳ Phương Hội được tỏ ngộ, theo hầu hạ nhiều năm kế thừa pháp hệ. Năm 28 tuổi sư trụ trì chùa Thừa Thiên, Giang Châu (Cửu Giang, Giang Tây), sau lần lượt trụ các chùa Pháp Hoa, Long Môn, Hưng Hóa, Hải Hội v. v… Lòng can đảm và trí tuệ hơn người, người học rất kính sợ. Đệ tử nối pháp có Pháp Diễn v. v… 12 người. Tác phẩm: Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư Ngữ Lục 2 quyển, Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư Quảng Lục 4 quyển. ● 守 欽. Thiền tăng đời Ngũ Đại; nối pháp Thiền Sư Hộ Quốc Thủ Trừng, thuộc tông Tào Động. Sư ở chùa Trí Môn tại Tùy Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc). Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa Thượng? Sư đáp: Trên ngạch không gắn bảng. Lại hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Đem lửa đốt trời thêm nhọc sức. Hiệu: Viên Chiếu Đại Sư. ● 守 仁. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Tuyền Châu, Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Ban đầu sư ở viện Thượng Phương, chùa Hưng Giáo, Đông An thuộc Tuyền Châu, sau dời đến viện La Hán ở Chương Châu (nay là huyện Chương Phố tỉnh Phúc Kiến), rồi dời đến chùa Báo Ân. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Báo Ân? Sư đáp: Không có chỗ cho ngươi để mắt. ● 取 人 處 分. Tùy theo sự sắp đặt của người khác. Phần lớn chỉ cho các vị tăng chưa rõ được tự tâm là Phật, đi đến các nơi tìm cầu thưa hỏi một cách mù quáng. Tiết Bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 11 ghi: “有 僧 問:摩 騰 入 漢、一 藏 分 明。達 磨 西 來、將 何 指 示?師 云:上 座 行 腳 底 事 作 麼 生?僧 云:不 會。師 云:會 取 好!莫 傍 家 取 人 處 分。 – Có vị tăng hỏi: Ngài Ma Đằng vào đất Hán, một tạng kinh rõ ràng; Tổ Đạt Ma từ ấn Độ sang đem cái gì chỉ dạy? Sư đáp: Việc hành cước của Thượng tọa là gì? Tăng nói: Chẳng hội! Sư bảo: Hãy lãnh hội đi! Chớ cam tùy theo sự sắp đặt của người khác”. ● 守 一. Thiền tăng đời Tống, họ Thẩm, người xứ Giang Âm (nay thuộc Giang Tô), Trung Quốc. Thuở bé sư sùng mộ Phật pháp, quy y với Thiền Sư Huệ Lâm Tông Bản, nối pháp Ngài thuộc tông Vân Môn. Sau đó sư trụ trì chùa Bản Giác ở Tú Châu (nay là huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang). ● 守 訥. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lâm, người xứ Phúc Châu. Sư tham yết Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp sư trụ viện Hòa Long Thọ Xương tại Trì Châu (nay là huyện Quý Trì, tỉnh An Huy). Hiệu: Diệu Không Thiền Sư. ● 守 威. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Sư tham vấn Quốc sư Đức Thiều ở núi Thiên Thai được ý chỉ và nối pháp ngài, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Quảng Bình ở Phúc Châu. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Quảng Bình? Sư đáp: Ai chẳng thọ dụng? Hiệu: Tông Nhất Thiền Sư. ● 取 奉. Đón ý cho vừa lòng người khác; bợ đỡ; nịnh hót. Tông Môn Võ Khố ghi: “兜 率 悅 禪 師 乃 說 與 首 座 云:聞 張 運 使 非 久 過 此、吾 當 深 錐 痛 劄、若 肯 回 頭、則 吾 門 幸 事。首 座 云:今 之 士 大 夫、受 人 取 奉 慣、恐 惡 發 別 生 事 也。 – (Thiền Sư Đâu Suất Tùng Duyệt) nói với Thủ tọa rằng: …… tôi nghe Trương Vận Sứ chẳng bao lâu sẽ ghé qua đây, tôi định nói với y một lời thống thiết; nếu y chịu hồi đầu ấy là việc may cho môn phong của ta. Thủ tọa thưa: Hạng sĩ đại phu ngày nay quen được người bợ đỡ, con e rằng y sẽ nổi giận mà sinh ra nhiều việc khác nữa”. ● 守 貴 (1290-1361). Thiền tăng đời Nguyên, họ Chân, tự Vô Dụng, hiệu Thủy Am, người xứ Phố Giang (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 18 tuổi vào núi Khang Hầu làm tăng. Ban đầu sư tham vấn Thiền Sư Thiên Nham Vô Trường, bỗng nhiên khế ngộ. Tiếp đến sư tham yết các vị danh tăng như Trung Phong Minh Bản… và nói: “Ngàn sông tuy có khác nhưng mặt trăng sáng chỉ có một, từ nay về sau tôi không còn nghi nữa”. Niên hiệu Chí Thánh thứ 10 (1350) sư trụ trì chùa Thiên Long ở Hàng Châu. Về sau, sư lui về ở ẩn nơi am ứng Mộng tại Gia Hưng (nay thuộc Chiết Giang). ● 守 初 (910-990). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Phó, người Phượng Tường, Thiểm Tây, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ thiền viện Đồng Sơn chùa Đường Đức ở Tương châu (nay là huyện Cốc Thành, tỉnh Hồ Bắc). Thụy: Tông Huệ Thiền Sư. Có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 首 山. Hiệu của Thiền tăng Tỉnh Niệm, đời Tống. X. Tỉnh Niệm. ● 首 山 省 念 禪 師 語 錄. Gọi đủ: Nhữ Châu Thủ Sơn Tỉnh Niệm Hòa Thượng Ngữ Lục. Còn gọi: Thủ Sơn Niệm Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Thủ Sơn Tỉnh Niệm soạn vào đời Tống, được xếp vào “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” quyển 8, Tục Tạng Kinh tập 118, trang 242. Nội dung bao gồm các Ngữ Yếu thượng đường thị chúng của Tỉnh Niệm lúc đầu ở Thủ Sơn, kế đến trụ viện Quảng Giáo, còn có lời thượng đường ở Bảo ứng Nam Viện, Tiểu tham thị chúng, 12 câu hỏi đáp đại ngữ ở Cảnh Thanh, Khám biện, Thị chúng kệ tụng, Tứ tân chủ tụng… ● 取 次 語. Lời nói bộp chộp, cẩu thả. Phần Thị Chúng trong Lâm Tế Lục (Đại 47, 498 trung) ghi: “莫 取 次 語 被 諸 方 老 師 印 破 面 門 道。我 解 禪 解 道。 – Đạo lưu! Chớ nói ẩu rằng ta hiểu thiền hiểu đạo mà bị Thiền Sư vạch mặt”. ● 取 性. Vừa ý thoải mái, tùy thích. Tiết Tây Thục Nhân Vương Khâm Thiền Sư trong GTPĐL q. 25 ghi: “取 性 和 尚 凡 見 虫 蛇、盡 皆 打 殺 拋 卻、云:取 性、取 性。 – Hòa Thượng Thủ Tính hễ gặp rắn đều đập chết vất đi và nói: Thủ Tính tùy thích!” Tiết Văn Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “近 日 師 僧 北 去 言 禮 文 殊、南 去 謂 遊 衡 嶽、恁 麼 行 腳、名 字 比 丘、徒 消 信 施。苦 哉!苦 哉!問 著 黑 漆 相 似、祇 管 取 性 過 時。 – Gần đây các sư tăng đi lên miền Bắc nói lễ Văn Thù, trở về miền Nam bảo hành hương Hành Nhạc, hành cước thế ấy chỉ là danh tự Tỳ kheo , uổng hưởng dụng của tín thì. Khổ thay! Khổ thay. Khi bị hỏi đến thì tối tăm như dầu hắc, chỉ lo tùy thích qua ngày”. ● 首 座. Tăng tham thiền, đứng đầu các vị tăng trong tăng đường. Đây là người gương mẫu của tùng lâm, làm con mắt trí huệ soi sáng cho trời người. Nếu tăng đường phân làm 2 nhà thì có Tiền đường Thủ tọa và Hậu đường Thủ tọa. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. thượng ghi: “遂 叉 手 云:孟 春 猶 寒。伏 惟。首 座 大 眾 洎 諸 知 事。尊 體 起 居 萬 福。 – Sư chắp tay, nói: Tháng giêng vẫn còn lạnh, ngưỡng mong Thủ tọa, đại chúng cho đến các vị Tri sự, tôn thể sinh hoạt hằng ngày vẫn khoẻ mạnh”. ● 守 卓 (1064-1123). Thiền tăng đời Tống, họ Trang, người Tuyền Châu Phúc Kiến, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Duy Thanh, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 11, phái Hoàng Long đời thứ 4, trụ các ngôi chùa nổi tiếng như: Cam Lộ ở Trấn Giang, Sùng Phúc ở Nghi Trưng, Thiên Ninh ở Dương Châu, viện Trường Linh chùa Thái Bình (tại Nhạc Dương, Hồ Nam). Có hiệu là Thiết Diện Trác. Tác phẩm: Thi kệ và Trường Linh Thiền Sư Ngữ Lục. ● 守 忠 (1275-1348). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hoàng, hiệu Đàm Phương, người xứ Nam Khang (nay thuộc Giang Tây) Trung Quốc. Sư xuất gia năm 12 tuổi. Ban đầu nghe kinh Pháp Hoa có tỉnh rồi tham vấn Thiền Sư Thiết Sơn Quỳnh, Mông Sơn Dị, Hổ Nham Phục, sau cùng yết kiến Thiền Sư Ngọc Sơn ấn và đắc pháp. Sư trụ chùa Long Tường ở Nam Kinh, rồi dời đến Tưởng Sơn. Chẳng bao lâu, chùa bị hỏa tai, sư quyên góp để sửa chữa. Nguyên Văn Tông lúc còn làm Phiên Vương, từng giao du với sư. Sau khi lên ngôi, Văn Tông nhiều lần cúng dường và ban cho sư chức Đại Phu. ● 手 相 大 師. Thiền tăng Quy Bản đời Ngũ Đại, có mười ngón tay thon nhỏ và dài, đặc biệt hơn người nên có hiệu là Thủ Tướng Đại Sư. X. Quy Bản. ● 竪 亞 (412). Nằm dọc trám vào. Tiết Phù Sơn Viên Giám Thiền Sư trong NGCTT q. 2 ghi: “神 仙 一 局 棋 密 排 盤 裏、機 路 上 冲 關、摩 醯 三 隻 眼 豎 亞 頂 門、髑 髏 前 失 照。 – Một ván cờ tiên âm thầm bày ra trên bàn, trên nẻo cơ phong xung qua cửa ải; con mắt thứ ba của Tự Tại Thiên nằm dọc trám vào vầng trán, ở trước đầu lâu mất khả năng chiếu soi. “ ● 竪 起 脊 梁. Phấn chấn tinh thần, lập định chí hướng. Tiết Bảo Hoa Phổ Giám Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “不 如 屏 淨 塵 緣、豎 起 脊 梁 骨、著 些 精 彩、究 教 七 穿 八 穴、百 了 千 當、向 水 邊 林 下 長 養 聖 胎、亦 不 枉 受 人 天 供 養。 – Chẳng bằng trừ sạch trần duyên, lập định chí hướng phấn chấn tinh thần tham cứu đến chỗ thấu triệt, đạt được trạng thái hoàn toàn tỉnh ngộ, rồi vào trong rừng núi, bên dòng suối để nuôi lớn thánh thai, mới chẳng uổng công trời người cúng dường”. ● 竪 拂 拈 槌. Giơ dùi dựng phất là động tác mà thiền sư thường dùng để ứng cơ, chỉ chung cho việc lập bày thiền cơ. Đáp Cư sĩ Phán Lưu Kinh Thần trong NĐHN q. 16 ghi: “六 葉 既 敷、千 花 競 秀。分 宗 列 派、各 有 門 庭。故 或 瞬 目 揚 眉、擎 拳 舉 指。或 行 棒 行 喝、豎 拂 拈 槌。 – Sáu cánh đã xòe, ngàn hoa khoe đẹp. Phân chia tông phái, mỗi tông phái có môn đình riêng. Vì vậy họ lập bày thiền cơ: hoặc nhướng mày chớp mắt, đánh quyền, giơ ngón tay; hoặc sử dụng cây gậy, tiếng hét, giơ dùi dựng phất”. ● 啾 唧. Xôn xao, ồn ào. Tiết Hùng Nhĩ Từ Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “山 僧 今 日 撒 屎 撒 尿、這 邊 放、那 邊 屙。東 山 西 嶺 笑 呵 呵。幸 然 一 片 清 涼 地、剛 被 熊 峰 染 污 他。染 污 他、莫 啾 唧、泥 牛 木 馬 盡 呵 叱。過 犯 彌 天 且 莫 論、再 得 清 明 又 何 日? – Hôm nay sơn tăng tung cứt vãi đái, đái bên này ỉa bên kia, cười ha hả khắp núi Đông núi Tây. May mắn gặp được một mảnh đất mát mẻ vừa rồi bị núi Hùng Nhĩ làm nhiễm ô đi. Làm nhiễm ô nó chớ đừng gây ồn ào, trâu đất ngựa gỗ kêu rống mãi. Tuy tội lỗi ngất trời nhưng chớ bàn luận đến, ngày nào mới được trong sáng lại?”. ● 舜 都 宗 (1340-1426). Thiền tăng đời Nguyên, họ Thuấn, hiệu Nhược Ngu, người xứ Tứ Dương, Giang Tô, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thiên Khánh Nghĩa Nhượng, đời thứ 24 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Linh Cốc ở Nam Kinh (Nam Kinh, Giang Tô). ● 純 眞 (?-1101). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 12, nối pháp Thiền Sư Pháp Bảo. Sư họ Đào quê làng Cửu Ông, huyện Tế Giang (tức huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày nay). Sư thuở nhỏ thông thạo kinh sử, đi đến đâu bọn Nho sĩ tranh nhau theo về. Chẳng bao lâu, sư mở tung được cánh cửa áo diệu, tia sáng giác ngộ xuất hiện. Từ đó, sư trụ trì chùa Hoa Quang, làng Tây Kết, Thượng Nghi. Tùy người đến thưa hỏi, sư phát huy tông chỉ, dẫn dắt những kẻ mờ tối. Ngày 7 tháng 2 năm ất Dậu nhằm niên hiệu Nguyên Phù thứ 1 đời Lý Nhân Tông (1101), sư báo tin sắp tịch. Có đệ tử là Bản Tịch vào thất thưa hỏi thêm, sư nói kệ dạy: 眞 性 常 無 性、何 曾 有 生 滅 身 是 生 滅 法、法 性 未 曾 滅 “Chân tính thường vô tính Hà tằng hữu sinh diệt Thân thị sinh diệt pháp Pháp tính vị tằng diệt”. “Chân tính thường không tính Đâu từng có sinh diệt Thân là pháp sinh diệt Pháp tính chưa từng diệt”. Nói xong sư thị tịch. Phụ Quốc Thái Bảo là Cao Công trông nom việc hỏa thiêu và dựng tháp. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 純 一 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Toàn Phó đời Ngũ Đại. X. Toàn Phó. ● 醇 疵 相 半. Nửa ưu nửa khuyết. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “洪 覺 笵 書 有 六 種、達 觀 老 人 深 喜 而 刻 行 之。余 所 喜 者、〔文 字 禪〕 而 已。此 老 文 字 的 是 名 家、僧 中 希 有、若 論 佛 法、則 醇 疵 相 半。世 人 愛 其 文 字、并 重 其 佛 法、非 餘 所 敢 知 也。 – Hồng Giác Phạm viết được 6 kiểu chữ, Đạt Quan lão nhân rất thích nên khắc bản lưu hành. Ngoài chỗ được ưa thích đó ra, nó chỉ là Văn Tự Thiền mà thôi. Thứ chữ điêu luyện này quả là của hàng danh gia, trong chư tăng ít có, nếu luận về Phật pháp thì nửa ưu nửa khuyết. Người thế gian ưa thích văn tự này nên kính trọng Phật pháp của sư, ngoài chỗ đó ra đâu biết gì hơn”. ● 順 支 (825-910). Thiền tăng đời Đường, họ Thôi, người Tân La (nay là Triều Tiên). Vào niên hiệu Đại Trung thứ 12 (858) sư theo sứ giả Tân La đi thuyền đến Trung Quốc, tham vấn Ngưỡng Sơn Huệ Tịch và đắc pháp, thuộc tông Quy Ngưỡng đời thứ 3, phái Ngũ Quán Sơn (Triều Tiên) đời thứ 1. Sư hầu Thầy được 10 năm rồi về nước, ở Ngũ Quán Sơn hoằng truyền thiền pháp Nam Nhạc. ● 順 德 大 師. Hiệu của Thiền tăng Đạo Phó, đời Ngũ Đại. X. Đạo Phó. ● 順 世. Còn gọi: Thuận hóa. (Tăng nhân) thị tịch, mất. Tiết Nam Tuyền Hòa Thượng trong TĐT q. 16 ghi: “師 欲 順 世 時、召 第 一 座 云:百 年 後、第 一 不 得 向 王 老 師(系 南 泉 和 尚 之 稱 號)頭 上 污。 – Lúc sư muốn thị tịch gọi Đệ nhất tọa lại, bảo: Sau khi ta qua đời, điều kiện thứ nhứt là không được làm bẩn đầu của Vương lão sư (là tên gọi của Hòa Thượng Nam Tuyền). “ Tiết Ngũ Thế Linh Mặc Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “元 和 十 三 年 三 月 二 十 三 日、沐 浴 焚 香 端 坐、告 眾 曰:。。。言 畢、奄 然 順 化。 – Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 13 (804), tháng 3, ngày 23, sư tắm gội, đốt hương, ngồi ngay ngắn, bảo chúng rằng… Nói xong, sư bỗng nhiên thị tịch. “ ● 擉. Đánh, đấm. Tiết Khung Long Trí Viên Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “上 堂:福 臻 不 說 禪、無 事 日 高 眠。有 問 祖 師 意、連 擉 兩 三 拳。大 眾 且 道、爲 甚 麼 如 此?不 合 惱 亂 山 僧 睡。 – Sư thượng đường nói: Phúc Trăn (pháp hiệu của Trí Viên) không nói thiền, vô sự dậy trễ tràng. Ai hỏi Tổ sư ý, bị đấm ba thoi liền. Thử hỏi đại chúng vì sao như thế? Vì chẳng nên quấy rầy giấc ngủ của sơn tăng!”. ● 從 容 庵 錄. Gọi đủ: Vạn Tùng Lão Nhân Bình Xướng Thiên Đồng Hòa Thượng Tụng Cổ Thung Dung Am Lục. Niêm tụng bình xướng, 6 quyển do Vạn Tùng Hành Tú soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 226. Đệ tử của Hành Tú là Da Luật Sở Tài lúc đi theo Thành Cát Tư Hãn để chinh phục các nước phía tây, do tỏ lòng thương cảm khi phải rời xa thầy, nhiều lần ông ta gởi thư thỉnh Hành Tú bình xướng các bài tụng cổ của Thiên Đồng nên Hành Tú ở am Thung Dung chùa Báo Ân tại Yên Kinh soạn sách này. Vào đời Nguyên Thế Tổ thứ 8 (1213), sách được gởi sang Tây Vực cho Da Luật Sở Tài. Năm kế, Sở Tài viết tựa. Sách này là do Thiên Đồng Chính Giác dựa trên cơ sở 100 tắc công án để làm tụng cổ và do Hành Tú thêm phần bình xướng mà thành. Mỗi tắc gồm 6 phần: 1. Tiêu đề: như tắc thứ nhất: “Thế Tôn thăng tòa”, tắc thứ 2 “Đạt Ma quách nhiên”… 2. Thị chúng: do Hành Tú làm, đặt ở trước công án, có tác dụng đưa đường dẫn lối. 3. Nêu ra công án. 4. Dẫn lời tụng của Chính Giác. 5. Trước ngữ, do Hành Tú viết, đặt ở dưới mỗi câu của lời tụng của Chính Giác và công án, giống như là lời phê kế bên. 6. Bình xướng chính văn là do Hành Tú làm, chia ra để ở phần công án và sau lời tụng của Chính Giác, dùng chữ “Sư nói” để dẫn ra, đa số lấy 2 câu thơ làm lời kết, như tắc thứ nhất kết như sau: “Ân cần vi giải đinh hương kết, Phóng xuất chi đầu tự tại xuân”. (Ân cần tháo mở bó đinh hương Đầu cành chợt nở đóa tự tại). Bình xướng là Hành Tú giải thích và bình luận về công án cùng kệ tụng đã nêu. ● 毳 衣. Áo lông. Bài thơ “Thạch Thất” của Huyền Quang (thiền sư Việt Nam) ghi: 半 間 石 室 和 雲 住 一 領 毳 衣 經 歲 寒 僧 在 禪 床 經 在 案 爐 殘 榾 拙 日 三 竿 “Bán gian thạch thất hòa vân trụ Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn Tăng tại thiền sàng kinh tại án Lô tàn cốt đốt nhật tam can”. “Nửa gian nhà đá lẫn trong mây Một mảnh áo lông khỏi lạnh này Tăng ở trên giường, kinh tại án Trong lò củi tắt, sáng rạng ngày”. ● 翠 巖 欣. Thiền tăng Tùng Hân đời Ngũ Đại ở Thúy Nham, Xử Châu (nay là Lệ Thủy, Chiết Giang), Trung Quốc, được người đời gọi là Thúy Nham Hân. X. Tùng Hân. ● 翠 峰. Hiệu của Thiền tăng Đức Sơn, đời Minh. X. Thúy Phong. ● 翠 微 寺. Chùa ở núi Chung Nam tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, vốn là cung Thái Hòa do Đường Cao Tổ xây dựng vào niên hiệu Vũ Đức thứ 8 (625), sau đó bỏ hoang phế. Niên hiệu Trinh Quán thứ 21 (647) Đường Thái Tông ra lệnh phục hưng, gọi là cung Thúy Vi. Khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820), cung được đổi thành chùa, gọi là chùa Thúy Vi. Thiền Sư Vô Học, đệ tử của ngài Đan Hà Thiên Nhiên từng trụ trì nơi đây. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 3 (978), chùa được đổi tên là “Vĩnh Khánh Tự”. ● 垂 堂. Dưới mái hiên của căn nhà lớn. Tiết Thị Linh Tri Hòa Am Chủ trong NĐHN q. 18 ghi: “兒 時 嘗 習 坐 垂 堂、堂 傾、父 母 意 其 必 死、師 瞑 目 自 若。 – Thuở nhỏ sư có lần đang tọa thiền dưới mái hiên của căn nhà lớn, thình lình nhà sập, cha mẹ nghĩ rằng sư chắc chết, nhưng sư nhắm mắt ngồi như không có việc gì xảy ra”. ● 垂 化. Giáo hóa; dạy bảo. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: 至 人 垂 化 無 生 死 示 現 閻 浮 有 去 來 剎 剎 塵 塵 成 正 覺 黃 金 寶 殿 玉 樓 臺 “Chí nhân thùy hóa vô sinh tử Thị hiện Diêm Phù hữu khứ lai Sát sát trần trần thành chính giác Hoàng kim bảo điện ngọc lâu đài”. “(Bậc) chí nhân dạy người không (còn) sinh tử. Thị hiện (ở) Diêm Phù có đến đi Trong nhiều thế giới thành chính giác Điện vàng lầu ngọc có sá gì!” ● 睡 龍 溥. Thiền tăng Đạo Phổ đời Ngũ Đại ở núi Thùy Long, Tuyền Châu, người đời gọi là Thùy Long Phổ. X. Đạo Phổ. ● 睡 語. Nói mớ, nói xằng. Tiết Thiên Bình Khế Ngu Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “石 含 茶 居 士 問:法 無 動 搖 時 如 何?師 曰:你 從 潞 府 來?士 曰:一 步 也 不 曾 驀。師 曰:因 甚 得 到 這 裡?士 曰:和 尚 睡 語 作 麼? – Cư sĩ Thạch Hàm Trà hỏi: Lúc pháp không dao động thì sao? Sư đáp: Ngươi từ Lộ Phủ đến phải không? Cư sĩ đáp: Một bước cũng chưa từng dở lên. Sư nói: Do đâu đến được chỗ này? Cư sĩ đáp: Hòa Thượng nói mớ làm gì!” ● 睡 語 百 則. Còn gọi: Thất Trung Bách Vấn. Sách, 1 quyển, do Trường Linh Thủ Trác soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 318. Sách này bao gồm các Kệ tụng, Niêm cổ, Tán, Chân tán,… do Trường Linh Thủ Trác đáp các câu hỏi của người học mà viết nên. Phần sau sách phụ Trường Linh Thủ Trác Thiền Sư Ngữ Lục. ● 垂 示. Thiền Sư thuyết pháp cho chư tăng trong thiền hội của mình nghe. Lâm Tế Lục ghi: “第 二 代 徳 山 垂 示 云:道 得 也 三 十 棒。道 不 得 也 三 十 棒。 – Trụ trì đời thứ nhì ở Đức Sơn, thuyết pháp rằng: Nói được cũng ăn 30 gậy, nói chẳng được cũng ăn 30 gậy”. ● 垂 手. Duỗi tay. Ý nói thiền sư khải phát (khơi gợi), tiếp dẫn người học. Bài tụng “Thốt trác đồng thời” trong PDNL q. hạ ghi: 從 前 垂 手 接 初 機 正 示 繁 言 免 妄 思 “Tùng tiền thùy thủ tiếp sơ cơ Chính thị phiền ngôn miễn vọng tư”. “Từ trước duỗi tay tiếp hạng sơ cơ Chính là nhiều lời để trừ bỏ vọng tưởng”. ● 垂 手 入 廛. Còn gọi: Thùy thủ sưu khiên. Vào chợ duỗi tay. Sau khi triệt ngộ, thiền sư không theo gương người xưa làm mẫu mực cho đời mà đi vào trong chợ búa, làm con người rất tầm thường để gần gũi, dẫn dắt người khác đến với đạo. Thập mục ngưu đồ (Vạn Tục 113) ghi: “入 纏 垂 手、繪 濟 度 眾 生 而 垂 慈 悲 手、入 市 井 之 塵 境 相。 – Vào chợ duỗi tay: Vẽ cảnh thiền sư đi vào chợ, duỗi tay từ bi để cứu giúp chúng sinh”. Phổ thuyết Hướng thượng nhất lộ của Trần Thái Tông ghi: “或 垂 手 搜 牽、或 回 頭 山 野。 – Hoặc duỗi tay dẫn dắt, hoặc quay đầu về đồng nội”. ● 水 庵. Hiệu của Thiền tăng Thủ Quý đời Nguyên. X. Thủ Quí. ● 水 不 洗 水. Nước chẳng rửa Nước, ý nói không làm việc vô nghĩa, uổng công. Phương Hội Ngữ Lục ghi: “拈 起 拄 杖 云。穿 卻 釋 迦 老 子 鼻 孔。作 麼 生 道 得 脫 身 一 句。向 水 不 洗 水 處 道 將 一 句 來。 – Sư giơ cây gậy lên, nói: Xỏ mũi ông già Thích Ca, làm sao nói được một câu thoát khỏi? ở nơi nước chẳng rửa nước, hãy nói một câu xem!” ● 水 頭. Còn gọi: Thủy Khán. Chức vụ trông coi về việc cung cấp nước, nước nóng cho đại chúng tắm, như ngài Nghĩa Hoài nhận chức Thủy đầu dưới hội Thiền Sư Thúy Phong. Thiền Uyển Thanh Quy q. 8 (Vạn Tục 111, 460 thượng) ghi: “湯 水 不 足、寒 暖 失 宜、非 浴 主、水 頭 所 以 浣 眾 也。 – Nước nóng không đủ, nên độ ấm chưa thích hợp. Nếu chẳng phải do Dục chủ, Thủy đầu cho phép thì chúng chưa được tắm”. ● 水 陸 禪 寺. ở phía tây trong chùa Khai Nguyên, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Nguyên là Cực Lạc Viện, chuyên thờ Phật A Di Đà cho nên gọi là “A Di Đà viện”, xây vào niên hiệu Thuần Hy (1174-1189) đời Tống, đầu đời Minh xây dựng lại. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 37 (1558) dời Thủy Lục Thiền Tự ở phố Tây về nơi đây, nhân đó đổi thành tên hiện nay. Niên hiệu Đồng Trị thứ 10 (1871) đời Thanh trùng tu, xây theo kiểu mái đơn yết sơn, rộng 3 gian, sâu 3 gian, trong thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cao 3,4m. ● 水 目 山. Còn gọi: Bảo Hoa Sơn. ở phía nam trung tâm huyện Tường Vân, tỉnh Vân Nam. Khoảng niên hiệu Khai Minh đến Thiên Định (1099-1253) nước Đại Lý, hai vị Tịnh Diệu Trừng và Phổ Tế Khánh Quang là người họ Đoàn ở tại núi này xây dựng chùa Phật. Tương truyền trên núi vốn không có suối, Khánh Quang lấy tích trượng dộng xuống đất nước suối phun lên, bèn gọi là “Trác Tích Tuyền”, núi nhân đó mà gọi là “Thủy Mục Sơn”. Khánh Quang khai đường thuyết pháp nơi chùa này. Cuối đời Minh, Thiền tăng phái Dương Kỳ là Vô Trụ Hồng Như xây dựng chùa Bảo Hoa tại núi này, cùng đệ tử là Phổ Hạnh Phi Tướng nối nhau hoằng dương thiền phong tại chùa này, quan dân quy y rất đông. ● 水 月. Thiền tăng đời Minh, họ Chủ, người xứ Thường Đức (nay thuộc tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. Tuổi nhỏ theo Nho học, một hôm chợt xem đến câu “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” trong kinh “Kim Cang Bát Nhã”, dường như có tỉnh. Năm 16 tuổi sư theo Ngài Cổ Lâm xuất gia, nhất tâm chuyên ý nghiên cứu pháp sinh tử cứu cánh. Tham vấn khắp nơi, cuối cùng sư đến núi Nga My, bỗng nhiên chứng được Lưu Ly Tam muội và đại ngộ. Về già, sư yết kiến Tuyết Kiệu Viên Tín, trình sở ngộ, được Ngài truyền tâm ấn, thuộc tông Lâm Tế. Sư cất am ở núi Kê Túc, bảng đề “Thủy Nguyệt Am” và mọi người lấy tên đó gọi sư. Một hôm, sư tập họp đồ chúng khuyên răn nên trọng pháp đạo. Nói xong, sư ngồi ngay ngắn thị tịch. ● 水 月 通 覺 (1637-1704). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Tào Động đời thứ 36. Sư họ Đặng, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam, miền Bắc Việt Nam. Tuổi trẻ sư học Nho, đến năm 18 tuổi thi đậu Cống cử tứ trường. Đến năm 20 tuổi, sư bỏ nghiệp Nho, tìm đến chùa xã Hỗ Đội, huyện Thụy Anh xin xuất gia học đạo. ở đây 6 năm học các kinh sách, sư chưa thỏa mãn, xin phép thầy đi du phương tham vấn các thiền hội trong nước, vẫn chưa thỏa mãn, sư liền xin du phương sang Trung Quốc. Sư đến chùa của Thiền Sư Thượng Đức, núi Phụng Hoàng, được ngài cho nhập chúng và theo chúng tham vấn. Thời gian trôi qua lần lữa đã 6 năm, một hôm Hòa Thượng gọi sư vào phương trượng hỏi: Đã thấy tính chưa?. Sư ra lễ bái, trình kệ: “Viên minh thường tại thái hư trung Cương bị mê vân vọng khởi lung Nhất đắc phong xuy vân tứ tán Hằng sa thế giới chiếu quang thông”. “Sáng tròn thường ở giữa hư không Bởi bị mây mê vọng khởi lồng Một phen gió thổi tan mây ám Thế giới hà sa sáng chiếu thông”. Hòa Thượng đưa tay điểm trên đầu sư, cho hiệu là Thông Giác Đạo Nam Thiền Sư và bài kệ: Tịnh trí thông tông Từ tính hải khoan Giác đạo sinh quang Chính tâm mật hạnh Nhân đức vi lương Tuệ đăng phổ chiếu Hoằng pháp vĩnh trường để về Việt Nam truyền tông Tào Động. Sư nối pháp Ngài, thuộc tông Tào Động đời thứ 36. Về nước sư trụ chùa Hạ Long ở Đông Sơn, huyện Đông Triều giáo hóa tăng chúng lẫn thân hào nhân sĩ. Kệ thị tịch: Thủy xuất đoan do tẩy thế trần Trần thanh thủy phục nhập nguyên chân Dữ quân nhất bát cam lồ thủy Bái tác ân ba độ vạn dân “Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần Sạch rồi nước lại trở về chân Cho ngươi bát nước cam lồ quý. Ân tưới chan hòa độ vạn dân”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 水 飯. Còn gọi: Thủy Chúc, Hàn Chúc. Cháo, là món ăn điểm tâm trong Thiền viện. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 始 卒. Trước sau một lòng. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “是 日 又 蒙 朝 蓋 光 臨 法 筵。始 卒 成 褫。良 增 榮 荷。 – Hôm nay lại nhờ các quan chức triều đình đến dự pháp hội, trước sau một lòng nâng đỡ, càng thêm vinh dự. “ ● 水 盛 (1276-1347). Thiền tăng đời Nguyên, họ Phạm, tự Trúc Nguyên, hiệu Vô Trụ Ông, người xứ Lạc Bình Nhiêu Châu (nay thuộc Giang Tây), Trung Quốc. Năm 17 tuổi xuất gia, sư ưa thích tĩnh tâm tư duy, phát nguyện rằng: “Đời này nếu tôi chẳng làm Phật được thì nên vào địa ngục vô gián”. Sư tham yết Vô Năng Giáo Công được ngộ, vượt thoát mọi tri giải huyền diệu. Niên hiệu Thiên Lịch thứ 2 (1329), sư trụ trì chùa Diệu Quả ở Tây Hồ, hoằng dương tông chỉ, thiền tăng từ xa muôn dặm cũng tìm đến học đạo. Khi ấy có lịnh chư tăng phải đi lính, sư trở về miền Nam nơi ở cũ, người học hâm mộ càng đông. ● 水 中 捉 月. Mò trăng đáy nước. Dụ chỉ hành vi hư vọng, uổng công. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “若 也 廣 尋 文 義。猶 如 鏡 裡 求 形。更 乃 息 念 觀 空。大 似 水 中 捉 月。衲 僧 到 此。須 有 轉 身 一 路。 – Nếu như nghiên cứu nhiều về nghĩa lý văn kinh, giống như tìm hình thật trong gương. Còn như dừng ý nghĩ để quán không thì giống hệt mò trăng đáy nước. Tăng nhân tham thiền đến chỗ nầy, cần có con đường chuyển thân. “ ● 諡 號. Tên hiệu của người đã mất, do vì cảm niệm đức hạnh của họ mà người đời truy tặng. Đối tượng được tặng thụy hiệu: Trên từ Vua chúa, Công khanh; dưới đến những người có đức hạnh. Thông thường, thụy hiệu được ban tặng cho các vị Cao Tăng, Đại Sư, Bồ Tát, Quốc Sư, Thiền Sư, Hòa Thượng, Pháp Sư, Thượng Nhân… Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư trong CĐTĐL q. 6 ghi: “元 和 九 年 正 月 十 七 日 歸 寂。壽 九 十 五。長 慶 元 年 敕 諡 大 智 禪 師。塔 曰 大 寶 勝 輪。 – Vào ngày 17 tháng giêng, niên hiệu Nguyên Hoà thứ 9 (814) sư thị tịch, thọ 95 tuổi. Niên hiệu Trường Khánh thứ nhất (821) được vua ban thuỵ hiệu là Đại TRí Thiền Sư, tháp hiệu Đại Bảo Thắng Luân”. ● 瑞 光 塔. Nằm bên trong Bàn Môn, phía tây nam thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Chỗ này vốn là Phổ Tế Thiền Viện. Được xây vào niên hiệu Xích Ô thứ 4 (241) đời Đông Ngô Tam Quốc, do Tôn Quyền xây cất cho tăng nhân Tính Khang. Niên hiệu Xích Ô thứ 10 (247) Tôn Quyền lại kiến tạo tháp Xá Lợi 13 tầng để báo ân mẹ. Niên hiệu Sùng Ninh thứ 4 (1105) đời Tống phụng chiếu tu sửa tháp, ban tên “Thiên Ninh Vạn Thọ Bảo Tháp”. Khoảng niên hiệu Tuyên Hòa (1119-1125) trùng tu tháp này, đổi thành 7 tầng. Tương truyền trên tháp thường phóng hào quang ngũ sắc cho nên đổi tên “Thụy Quang Tháp”, chùa cũng đổi tên là “Thụy Quang Thiền Tự”. Về sau, chùa tháp nhiều lần bị biến cố, theo Văn Hiến ghi chép thì trùng kiến trùng tu đến 18 lần. Niên hiệu Hàm Phong thứ 10 (1860) đời Thanh điện vũ bị chiến tranh phá hủy, chỉ còn một cái tháp. Tháp mặt bằng hình bát giác, 7 tầng, kết cấu hỗn hợp gạch gỗ. Thân tháp xây gạch do vách ngoài, hành lang gấp khúc lượn quanh, tâm tháp tạo thành; bên ngoài là mái cong và tòa bằng làm bằng gỗ, cao khoảng 43,2m, tháp thu nhỏ dần theo chiều cao, giữ gìn phong cách tháp cổ Đường Tống. Dưới tháp có một tòa Tu Di bằng đá điêu khắc trang sức hoa văn. Mỗi tầng tháp trụ tựa là cột tròn, cửa sổ mỗi tầng mở xen lẫn nhau. Trên trụ có mộc ngạch, cái đấu hình chữ nhật. Trong lòng tháp có trụ tâm tháp xây bằng gạch cấu thành kiểu hành lang gấp khúc lượn quanh. Năm 1978 từ tầng thứ 3 trong khám gạch bên trong lòng tháp phát hiện nhiều văn vật quý hiếm như 2 tòa tháp bằng đồng mạ vàng, 9 tượng Địa Tạng, Quán Âm, Như Lai Phật, Bồ tát, hơn 120 quyển kinh thư, 1 cột đá báu chân châu Xá Lợi. ● 禪 宗 寺. Chùa ở ấp Ngũ Tây, làng An Cựu, Thủy An, Việt Nam, cách thành phố Huế 7km về phía nam. Chùa do Thiền Sư Liễu Quán sáng lập. ● 船 子 和 尚. Hòa Thượng chèo đò. Thiền tăng Đức Thành đời Đường ở ẩn nơi bến Hoa Đình, bên bờ sông Ngô, đưa đò tiếp hóa người bốn phương qua lại, được người đời gọi là Thuyền tử Hòa Thượng (Hòa Thượng chèo đò). X. Đức Thành. ● 船 子 和 尚 拔 櫂 歌. Thi ca biệt tập, Chính tập 2 quyển, Tục tập 2 quyển, do Đức Thành (tức Thuyền Tử Hòa Thượng) soạn vào đời Đường, và được xếp vào “Thượng Hải Văn Hiến Tùng Thư”. Sách này được xếp vào 39 bài “Thuyền Tử Hòa Thượng Ngư Phủ Ca Từ”, và “Lịch Đại Tăng Tục Họa Vịnh”… Nội dung đều là những bài ngâm vịnh về sinh hoạt của ngư dân nhưng hàm chứa huyền lý nhà Phật. Đây là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về “thiền thi”, “thiền từ” vào thời kỳ sớm nhất. Sách này được ấn hành vào năm 1987 do nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm Hoa Đông. ● 說 規 矩. Chỉ dạy quy tắc lễ độ Thiền môn cho các ông tăng nhỏ tuổi, như trong Huấn Đồng Hạnh được ghi ở Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 說 似 一 物 即 不 中. Ý nói thiền pháp là một cái gì thì không đúng. Thiền pháp siêu việt tất cả hình tướng, số lượng, thời gian, không gian. Nếu nói là một vật gì, là một cái gì thì cái đó sẽ không hợp với thiền pháp. Chương Hoài Nhượng, đời thứ 1 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: “祖 云:作 麼 生?師 云:說 似 一 物 即 不 中。祖 云:還 者 修 證 也 無?師 云:修 證 即 不 無、污 染 即 不 得。 – Tổ hỏi: Là cái gì? Sư thưa: Nói giống một vật thì chẳng đúng. Tổ hỏi: Có tu chứng không? Sư thưa: Tu chứng thì chẳng không, nhiễm ô thì chẳng được. “ ● 書 記. Còn gọi: Thư Trạng, Ký Thất, Ngoại Sử, Ngoại Ký. Chức vụ phụ trách việc giao nhận, ghi chép và quản lý công văn, giấy tờ. Đây là 1 trong 6 vị Đầu thủ của một tự viện Thiền Tông. Cổ Thanh Quy gọi chức vụ này là Thư trạng. Về sau, trong thiền môn mới mượn từ Thư ký của triều đình Trung Quốc để dùng. Vốn là tên gọi người ghi chép sổ sách của quân đội thuộc phủ Nguyên nhung, chứ không phải do Thiền Sư Bách Trượng đặt ra. Như ngài Huệ Nam làm Thư ký dưới hội của thiền sư Hiền ở chùa Phúc Nghiêm. Truyền Đăng q. 8 ghi: “慈 明 笑 曰:書 記 已 領 徒 游 方 名 聞 叢 林。借 有 疑 不 以 喪 陋 鄙 棄 坐 而 商 略 顧 不 可 哉 呼。 – Từ Minh cười nói rằng: Thư ký đã lãnh đồ chúng du phương nổi tiếng khắp tùng lâm. Giả sử có nghi thì hãy bỏ chỗ hẹp hòi của mình, ngồi lại mà thương lượng, ta đâu thể chẳng chiếu cố đến ông”. ● 次. Trạng từ chỉ thời gian, đặt sau động từ hay kết cấu động từ, nhằm biểu thị hành động hay trạng thái đang xảy ra trong hiện tại hoặc tiếp tục. Có nghĩa là Đang. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “僧 侍 立 保 福 次、福 云:你 得 與 麼 粗 心。 – Tăng đang đứng hầu Thiền Sư Bảo Phúc, Phúc bảo: Ngươi sao sơ ý như thế!” ● 次 第. Tình hình, trạng huống, biểu hiện. Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q. 10 ghi: “長 慶 和 尚 嗣 雪 峰、在 福 州。師 諱 慧 棱、杭 州 海 鹽 人、姓 孫。年 十 三 出 家、初 參 見 雪 峰、學 業 辛 苦、不 多 得 靈 利。雪 峰 見 如 是 次 第、斷 他 云:我 與 儞 死 馬 醫 法、儞 還 甘 也 無? – Hòa Thượng Trường Khánh nối pháp Tuyết Phong ở Phúc Châu. Sư húy là Huệ Lăng, người Hải Diêm, Hàng Châu, họ Tôn. Xuất gia năm 13 tuổi. Ban đầu tham kiến Tuyết Phong, việc tu học trải nhiều cay đắng, không được linh lợi cho lắm. Tuyết Phong thấy tình hình như thế, nhận định rằng: Ta cho ngươi cách trị bệnh con ngựa chết, ngươi có chịu hay không?” ● 承 當. Còn gọi: Đảm Đương. Nghĩa thông thường là nhận lấy công việc khó khăn và làm với đầy đủ ý thức trách nhiệm. Thiền Tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho việc thiền tăng nhận lấy ý chỉ của Phật Tổ. Lăng Nghiêm Tông Thông (Vạn Tục 117, 13 hạ) ghi: “此 處 正 好 承 當 去、却 省 得 許 多 心 力。 – Chỗ này chính là chỗ tốt nhất để nhận lấy mà còn tiết kiệm được nhiều tâm lực”. ● 承 皓 (1011-1091). Thiền tăng đời Tống, họ Vương, người xứ Đơn Lăng, My Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Vào khoảng niên hiệu Thiên Thánh (1023-1031), sư vào viện Đại Lực xin xuất gia. Sau đó sư đi tham học các nơi, đến Phúc Châu tham Thiền Sư Bắc Tháp Tư Quảng, thể đạt huyền chỉ, được tam muội Đại tự tại. Sư từng làm một cái khố vải, trên viết tên của các vị Tổ sư, nên trong tùng lâm gọi sư là “Hạo Bố Côn” (Hạo khố vải). Khoảng niên hiệu Nguyên Phong (1078-1085) sư trụ núi Cốc ẩn ở Tương Dương (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc), sau dời đến chùa Ngọc Tuyền ở Kinh Môn (nay là Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc). ● 承 虚 接 響. Còn gọi: Thừa Hư Ảnh Hưởng. Nhận lãnh, tiếp lấy sự lý hư huyễn chẳng thật. Mật Am Ngữ Lục ghi: “達 磨 不 會 當 頭 句。卻 向 嵩 山。面 壁 九 年。後 代 兒 孫。承 虛 接 響。揚 眉 瞬 目。行 棒 行 喝。盡 是 黃 葉 止 啼。 – Đạt Ma đáp câu chẳng biết xong, liền đến Tung Sơn ngó vách chín năm. Con cháu đời sau tiếp lấy sự lý hư huyễn chẳng thật nên nhướng mày chớp mắt, sử dụng cây gậy, tiếng hét; đều là đem lá vàng để dỗ con nít khóc”. ● 承 領. Tiếp nhận cơ duyên lãnh hội thiền chỉ. Tiết Phúc Tiên Chiêu Khánh Hòa Thượng trong TĐT q. 13 ghi: “只 如 達 磨 當 時 分 付 二 祖、是 箇 甚 麼 意 旨?二 祖 於 達 磨 邊 承 領 得 箇 什 麼 事? – Còn như Đạt Ma đương thời giao phó cho Nhị Tổ, là ý chỉ gì? Nhị Tổ ở bên Đạt Ma thừa lãnh được việc gì?”. ● 乘 廣 禪 師 塔. Tháp ở trước núi Dương Kỳ, thành phố Bình Hương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đâ là mộ tháp của Thiền Sư Thừa Quảng, được xây vào đời Đường. Thân tháp khắc nổi theo phong cách thuần phác cổ xưa hùng hồn, trên thắt lưng của những nhân vật được khắc có dây xích kiểu xưa, là văn vật đời Đường hiếm thấy. ● 承 天 寺. Chùa nằm ở núi Anh Ca, cảng Thừa Thiên, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Là 1 trong 3 ngôi chùa lớn và xưa ở Tuyền Châu. Nền chùa vốn là khu vườn phía nam của Tiết độ sứ Lưu Song Hiệu đời Ngũ Đại. Cuối niên hiệu Bảo Đại đời Nam Đường đến đầu niên hiệu Trung Hưng thì xây dựng chùa, đầu tiên lấy tên là “Nam Thiền Tự”. Niên hiệu Cảnh Đức thứ 4 (1007) đời Tống, Chân Tông ban cho hiệu là “Thừa Thiên Tự” sau nhiều đời trùng tu mở rộng, quy mô gần bằng chùa Khai Nguyên, là một trong những ngôi chùa Phật nổi tiếng ở Mân Nam. Trên đầu cổng chùa có tấm biển ngang đề 2 chữ “Nguyệt Đài” nên còn gọi là Nguyệt Đài Tự. Đại điện hiện còn là kiến trúc đời Thanh. Kiến trúc của chùa này gồm có: cổng chùa, “Nhất trần bất nhiễm” đường, Khai Mân Vương thị từ đường (Nhà thờ của họ Khai Mân Vương), ao phóng sinh. Trong chùa vốn có: Mai hoa thạch, Hiếu tử tháp, Phi lai tháp, trải qua nhiều đời được gọi là 3 món báu của Thừa Thiên. ● 承 天 院. Nằm phía đông thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Được xây dựng vào thời kỳ Lương Võ Đế đời Nam Triều (502-549), sau bị phế. Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) đời Đường xây dựng lại. Đời Tống Thiền Sư Bạch Vân Thủ Đoan trụ trì chùa này. Niên hiệu Hồng Võ thứ 12 (1379) đời Minh mở rộng xây dựng. Niên hiệu Hoằng Trị thứ 2 (1489) đổi tên là “Năng Nhân Tự”, sau đó lại nhiều lần mở rộng xây dựng nữa. Kiến trúc hiện còn phần lớn là do trùng tu mở rộng vào niên hiệu Đồng Trị thứ 9 (1870) đời Thanh, là một trong ba đại tùng lâm ở Cửu Giang. Trong chùa có Đại hùng bảo điện, Kim Cang điện, Thiết Phật điện, Tả hữu thiền phòng, Tàng kinh lâu. Đại hùng bảo điện một tầng mái chồng, hành lang gấp khúc lượn quanh, khí thế hùng vĩ. Phía đông nam Đại hùng bảo điện có tháp Đại Thắng 7 tầng, cao 42,26m, kết cấu bằng gạch đá, toàn bộ giống như chiếc dùi hình lục giác. ● 承 受. Đáp ứng; đồng ý (làm); Nhận lời (làm). Tông Môn Võ Khố ghi: “撫 州 明 水 遜 禪 師、在 法 雲 侍 者 寮 時、道 林 琳 禪 師 掛 搭。方 丈 特 爲 新 到 茶、遜 躬 至 寮 請 之、适 琳 不 在。有 同 行 與 琳 联 案、曰:若 去、俟 渠 來、我 爲 汝 請。遜 去、僧 偶 忘 之。齋 後 鳴 鼓 會 茶、琳 不 到。圓 通 問 曰:新 到 在 否?趣 請 之、琳 到、圓 通 令 退 坐 搨 立、眾 前 責 曰:山 門 特 爲 茶、以 表 叢 林 禮 數、因 何 怠 慢、不 時 至?。。。同 行 僧 出 眾 曰:不 於 侍 者 與 新 到 事、是 某 不 合 承 受 爲 遽渠 請、偶 忘 記、某 當 代 二 人 出 院。圓 通 高 其 風 義、并 宥 之。 – Thiền Sư Minh Thủy Tốn là người Phủ Châu lúc còn ở liêu Thị giả tại chùa Pháp Vân có Thiền Sư Đạo Lâm Lâm đến xin tạm trú. Hòa Thượng Trụ trì đặc biệt muốn đãi trà vị khách tăng mới đến nên sai Tốn đến liêu mời, vừa gặp lúc Lâm đi khỏi. Có vị tăng cùng đi với Lâm, nói: Chú an tâm, khi nào ông ấy trở về, tôi sẽ nói lại giùm cho! Tốn quay về liêu thị giả, nhưng vị tăng ấy quên mất lời hứa. Khi dùng cơm xong có trống báo uống trà, song không thấy Lâm đến, ngài Viên Thông (Trụ trì Pháp Vân) hỏi: Vị khách tăng mới đến có mặt không? Rồi cho người đi mời. Khi Đạo Lâm đến, ngài bảo đứng dậy ra trước đại chúng, trách rằng: Sơn môn riêng mời ông uống trà để biểu hiện lòng tôn kính, sao ông lại thờ ơ chẳng đến đúng giờ?… Khi ấy người đồng hành bước ra khỏi chúng, nói: Chẳng can hệ gì đến việc thị giả và sư Đạo Lâm, lỗi tại tôi nhận chuyển lời mời nhưng lại quên nên tôi phải xuất viện thay hai vị đó. Ngài Viên Thông thấy phong cách cao thượng của họ nên tha thứ cho cả ba người”. ● 承 㞱. Thiền tăng đời Minh, họ Cận, vốn tên Liễu Phàm, người Đương Dương (nay thuộc Hồ Bắc) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư kinh Môn Chính Hối ở chùa Ngọc Tuyền Độ Môn, kế thế trụ trì chùa này. Tác phẩm: Lăng Nghiêm Kinh Giảng Lục. ● 承 長. Lâu dài. Đàn Kinh (bản Đôn Hoàng) ghi: “離 境 無 生 滅、如 水 承 長 流。 – Xa lìa cảnh không sinh diệt như sông chảy lâu dài”. ● 識 心. Nhận rõ tự tâm, nhận thức tâm là cội nguồn của muôn vật. Tối Thượng Thừa Luận ghi: “經 云。眾 生 識 心 自 度。佛 不 能 度 眾 生。若 佛 能 度 眾 生 者。過 去 諸 佛 恆 沙 無 量。何 故 我 等 不 成 佛 也。 – Kinh nói: Chúng sinh nhận thức tâm là cội nguồn của muôn vật liền tự độ, chứ Phật không thể độ chúng sinh. Nếu Phật hay độ chúng sinh thì trong quá khứ chư Phật xuất hiện rất nhiều, tại sao chúng ta không thành Phật đi?” ● 識 心 見 性. Nhận rõ tự tâm, thấy rõ Phật tính. Là mục đích của người tham thiền, cũng là thực chất của thiền ngộ. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “不 識 本 心、學 法 無 益。識 心 見 性、即 悟 大 意。 – Không biết bản tâm học pháp vô ích, nhận rõ tự tâm, thấy rõ Phật tính tức ngộ ý chính của Phật pháp. “ ● 識 神. Thần hồn phân biệt cái biết dối vọng và hư huyễn. Đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q. 1 ghi: “若 捨 此 心 別 求、則 心 中 變 起 種 種 無 量 夢 想 境 界、此 正 識 神 變 現、切 不 可 作 奇 特 想 也。 – Nếu bỏ tâm này mà chạy đi cầu tìm bên ngoài, thì trong tâm khởi ra vô lượng cảnh giới mộng tưởng. Đấy chính là thần thức biến hiện, quyết không cho là kỳ đặc. “ ● 識 情. Vọng thức tục tình. Đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q. 1 ghi: “以 心 體 如 鏡、妄 想 攀 緣 影 子、乃 眞 心 之 塵 垢 耳。故 曰 想 相 爲 塵、識 情 爲 垢。若 妄 念 消 融、本 體 嗣 現、譬 如 磨 鏡、垢 淨 明 現。 – Vì tâm thể như tấm gương, vọng tưởng phan duyên như bóng hình; làm nhiễm ô chân tâm, nên gọi tướng vọng tưởng là trần, thức tình là cấu. Nếu vọng tưởng tan mất, thì bản thể tự hiện. Ví như lau kiếng, sạch bụi bặm thì ánh sáng tự hiện ra. “ ● 食 指. Chỉ số người ăn cơm trong chùa. Khai thị Thù Thiền nhân trong MANL ghi: “回 觀 此 山。食 指 既 多。常 住 不 給。不 忍 坐 視 發 心。爲 眾 持 鉢。 – Nhớ lại chùa này, số người ăn cơm trong chùa thì đông mà thường trụ chẳng chu cấp thức ăn, tôi chẳng nỡ ngồi nhìn, phát tâm cấp phần ăn cho chúng. “ ● 植 福 之 地. Đất trồng cội phúc. Chỉ cho những người thế tục quyên góp dâng cúng đất đai, phòng nhà hoặc tiền của để lập thành chùa chiền. Tiết Thần Đảnh Hồng Nhân Thiền Sư trong NĐHN q. 11 ghi: “有 湘 陽 豪 貴、來 遊 福 嚴、即 師 之 室、見 其 氣 貌 閑 靜、一 缽 挂 壁、餘 無 長 物。傾 愛 之、遂 拜 跪、請 曰:神 鼎 乃 我 家 植 福 之 地、久 乏 宗 匠、願 師 俱 往、何 如?師 笑 而 諾 之。 – Có một người giàu sang quyền thế ở Tương Dương đi đến Phúc Nghiêm, là thất của sư đang ở, trông thấy sư dáng vẻ ung dung, chỉ có một cái bát treo trên vách ngoài ra không chứa vật gì. Người ấy hết lòng ái mộ sư nên quỳ lạy, thưa rằng: Thần Đảnh là đất trồng cội phúc của gia đình con, đã lâu thiếu bậc thầy giỏi, ngưỡng mong sư đến đấy, có được không? Sư mỉm cười ưng thuận”. ● 食 畢 破 鉢. Ăn xong đập bát, ý nói thiền sư làm xong việc không để lại dấu vết, nghĩa là hướng dẫn cho người tu xong rồi thôi, không để lại một cái gì khiến cho người ta dính mắc với pháp đã dạy. Bài tựa của Tỳ kheo Huệ Nguyên trong Trúc Lâm Tổ Sư Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục: “初 至 我 國、脫 體 無 依、執 竿 空 釣、入 于 京 城、食 畢 破 鉢 之 神 機 也。 – Khi đến nước ta, Thiền Sư Tiêu Dao hoàn toàn giác ngộ, thong dong tự tại đi vào kinh thành, triệt để không vướng mắc vào bất cứ cái gì”. ● 鵲 巢 和 尚. Đời Đường, thiền tăng Đạo Lâm của tông Ngưu Đầu ở trên cây tùng cao của núi Tần Vọng, kế chỗ sư ở có tổ chim thước (khách), nên sư được gọi là Thước Sào Hòa Thượng. X. Đạo Lâm. ● 商 量. Bàn bạc giá cả với nhau khi mua bán đồ vật. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho việc bàn luận hỏi đáp trong lúc tham thiền, biện đạo. Theo Tổ Đình Sự Uyển q. 1: Xét đoán chân ý của Phật tổ cũng giống như việc thẩm định, bàn bạc giá cả khi buôn bán. Tắc 12, Thung Dung Lục (Đại 48, 234 hạ) ghi: “地 藏 問 脩 山 主:甚 處 來?脩 云:南 方 來。藏 云:南 方 近 日 佛 法 如 何?脩 云:商 量 浩 浩 地。 – Địa Tạng hỏi Tu Sơn Chủ: Từ đâu đến? Tu đáp: Từ phương Nam đến. Tạng hỏi: Gần đây Phật pháp ở phương Nam ra sao? Tu đáp: Thương lượng sôi nổi!” Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 常 州 天 寧 寺. ở trong thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Xây vào khoảng niên hiệu Thiên Phục (901-904) đời Đường, ban đầu tên “Quảng Phúc Tự”, sau đổi tên là “Sùng Ninh Tự”. Niên hiệu Chính Hòa thứ 1 (1111) đời Tống đổi tên “Thiên Ninh Tự”. Đời Thanh có Thiền Sư Đại Hiểu trụ chùa này, pháp duyên đại thịnh, người theo học có hơn vạn, tập hợp tham thiền, hòa nhã nghiêm túc, đứng hàng đầu vào thời ấy. Từ đây về sau chùa này truyền ngọn đèn pháp tông Lâm Tế, cùng với chùa Kim Sơn, chùa Cao Mân được gọi là ba đại thiền lâm ở Giang Tô. Nguyên có 8 ngôi điện, 25 ngôi đường lâu, quần thể kiến trúc lớn nhỏ có 500 cột nhà, chiếm diện tích hơn 130 ha. Hiện còn điện vũ chủ yếu có Đại hùng bảo điện, Kim Cang điện, Phổ Hiền điện, Văn Thù điện, Quán Âm điện, La hán điện đều là kiến trúc đời Thanh. Trong Đại hùng bảo điện có chiếc cột gỗ to cao khoảng 30m. Trong La hán điện có 500 tượng La hán khắc bằng đá, hình thái rất giống, sinh động như sống. Chùa này kiến trúc hùng vĩ, điện vũ nguy nga, Phật tượng đầy đủ, pháp hội cực thịnh. Vốn có tên gọi “Đông Nam Đệ Nhất Tùng Lâm”. Tự Chí viết rằng: “Sự hưng thịnh của pháp hội nổi tiếng khắp nơi, trang nghiêm tuyệt diệu đứng hàng bậc nhất vùng Đông Nam”. ● 常 照. 1. Thiền tăng đời Lý (?-1203), thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 12, nối pháp Thiền Sư Quảng Nghiêm. Sư họ Phạm, quê làng Phù Ninh (thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Hà Bắc ngày nay). Triều Lý Cao Tông, sư làm quan Lệnh đô tào ở cung Quảng Từ. Sau sư từ quan theo pháp xuất thế với Thiền Sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả và được tâm ấn nơi ngài. Sau đó, sư tìm đến phường Ông Mạc, trụ trì một ngôi chùa cổ, mở mang giáo hóa môn đồ. Cuối cùng, sư dời về chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Tăng chúng tìm đến tu học càng ngày càng đông. Kệ thị tịch: 道 本 無 顏 色。新 鮮 日 日 誇 大 天 沙 界 外。何 處 不 爲 家 “Đạo bản vô nhan sắc Tân tiên nhật nhật khoa Đại thiên sa giới ngoại Hà xứ bất vi gia”. “Đạo vốn không màu sắc Ngày ngày lại mới tươi Ngoài đại thiên sa giới Chỗ nào chẳng là nhà”. Nói kệ xong, sư ngồi kiết già thị tịch. Tác phẩm: ― Thích Đạo Khoa Giáo 1 quyển, Nam Tông Tự Pháp Đồ 1 quyển. ● 2. Thiền viện tọa lạc tại cây số 71 thuộc ấp 1, xã Phúc Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam. Thiền viện mang tên một thiền sư Việt Nam đời Lý (thế kỷ XII) và do Hòa Thượng Thích Thanh Từ tạo lập vào năm 1974. Buổi đầu nơi đây chỉ là một ngôi thiền viện nhỏ. Trên một diện tích tổng thể (bao gồm các thiền viện khác hiện nay) là 52 mẫu, do Phật tử hiến cúng, chỉ trồng khoai mì trên diện tích nhỏ, phần lớn còn hoang hóa. Hòa Thượng Thích Thanh Từ đã giữ lại 10 mẫu xây dựng trung tâm thiền học Việt Nam đầu tiên và lớn nhất. Số đất còn lại chia cho Tăng Ni sinh hoạt riêng. Hơn phân nửa Tăng sĩ đã từ tu viện Chân Không (tiền thân của thiền viện Thường Chiếu) về đây sống tu, lúc ấy độ 20 vị. Trên một diện tích lớn 10 mẫu đất, thiền viện bao gồm nhiều tòa nhà rải rác, nhưng được thiết kế mỹ thuật: Chính điện, tổ đường, đông đường, tây đường, hậu đường, thất các tăng, bệnh xá, thư viện, phòng may mặc, nhà trù, khu thiền thất. Đặc biệt, trong khu thiền thất cũng dành riêng khu cho các thiền sinh lâu năm, muốn nhập thất hẳn hoặc từ 6 tháng đến 2 năm, và khu thiền thất dành cho thiền sinh mới, mỗi lần nhập một tuần lễ. Nội dung tu học dành cho 150 thiền sinh tại đây gồm 2 phần chính: buổi sáng lao động và học tập vào buổi chiều. Ban lãnh đạo gồm có: Trụ trì, phó Trụ trì, Tri sự, Trưởng chúng, Tri điền, Tri viên … Vị Trụ trì thiền viện hiện nay là Thượng tọa Thích Nhật Quang. Ngoài ra Thiền viện còn thành lập Tuệ Tĩnh đường nhằm phục vụ nhân sinh, giúp dân nghèo quanh vùng có điều kiện bảo đảm sức khoẻ và chữa lành bệnh tật. ● 常 覺 (896-971). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lý, người xứ Trần Lưu (nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Ban đầu sư đến yết kiến Thiền Sư Hoằng Chương, tông Tào Động ở chùa Quy Tông tại Lô Sơn, nghe pháp sư có tỉnh ngộ liền xin xuất gia. Niên hiệu Càn Hóa thứ hai (912) sư được cạo tóc, và năm kế thụ giới ở chùa Đông Lâm. Sư ở ngoài cửa Lệ Cảnh thành Lạc Dương 2 năm, lệnh quân là Trương Sinh dành riêng một căn nhà cho sư yên tu, đến niên hiệu Thiên Thành thứ 3 (928) nơi đây trở thành Viện lớn, được ban bảng hiệu “Phổ Tịnh”. Do thời cuộc hổn loạn, sư chẳng chú trọng đến việc khai pháp. Triều đình nhiều lần ban hiệu cho, nhưng sư đều chẳng nhận. ● 常 簡 (1015-1070). Thiền tăng đời Tống, họ Từ, tự Thuần Đức, người Vĩnh Gia (Ôn Châu, Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thiên Thai Long Nhất, thuộc tông Pháp Nhãn đời thứ 5, trụ trì thiền viện Diên Thọ, núi Bạch Vân, Thiều Châu. ● 常 興. Thiền tăng đời Đường, tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất đắc pháp. Sư trụ Lặc Đàm, Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây). Một hôm, có vị tăng hỏi: Thế nào là khách dưới cửa Tào Khê? Sư đáp: Chim én từ phương nam đến. Tăng nói: Học nhân chẳng hiểu. Sư bảo: Nuôi lông cánh chờ gió Thu. ● 常 流. Hạng bình thường, người bình thường. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “打 破 常 流 見 解、截 斷 得 失 是 非。 – Phá vỡ kiến giải của hạng bình thường, quét sạch phải quấy được mất. “ ● 常 潤 (1510-1585). Thiền tăng đời Minh, họ Vương, tự Đại Thiên, hiệu Huyễn Lâm (còn gọi Huyễn Hưu), người xứ Tiến Hiền, Giang Tây, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Tiểu Sơn Tông Thư, đời thứ 30 hệ Thanh Nguyên. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 2 (1574) sư trụ trì chùa Thiếu Lâm. ● 常 觀. Thiền tăng đời Đường, thờ Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải làm thầy, theo học và đắc pháp nơi Ngài. Về sau khi ra hoằng pháp sư ở núi Ngũ Phong, Thụy Châu (nay là huyện Cao An, tỉnh Giang Tây). ● 常 光 本 圓. Phật tính xưa nay đầy đủ trọn vẹn mà mọi người đều có. Thường quang: ở đây chỉ cho Phật tính, linh trí. Tiết Nghệ ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “公 能 於 此 勘 破、則 心 境 都 引、常 光 本 圓、於 無 境 界 中 有 眞 境 界。 – Ông hay nơi đây khám phá, thì tâm cảnh đều mất, Phật tính xưa nay đầy đủ trọn vẹn, ở chỗ không có cảnh giới mà có cảnh giới chân thật. “ ● 常 光 現 前. Ánh sáng của Phật tính hiển lộ ở trước mắt, ý nói nhận thức rõ tự tính. Thường quang: Dụ chỉ tự tính, Phật tính. Kiến (見) tức là hiện (現). Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “諸 人 要 知 眞 實 相 爲。但 以 上 無 攀 仰 下 絕 己 躬。自 然 常 光 見 前。 – Các vị muốn biết tướng chân thật thành hình, thì chỉ cần trên không xu nịnh, dưới không luồn cúi, tự nhiên ánh sáng của Phật tính hiển lộ ở trước mắt, mỗi mỗi không nương tựa, siêu thoát trần tục. “ ● 常 察 (?-961). Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư thờ Thiền Sư Cửu Phong Đạo Kiền và đắc pháp nơi ngài. Sư ở viện Đồng An, Phụng Thê tại Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây). Có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Tê giác ngắm trăng thì sừng nó mọc vằn. Con voi nghe tiếng sấm thì ngà nó có vân. Cơ dụng của sư phần lớn mang tính văn chương như thế. Sư thị tịch vào khoảng trên 90 tuổi. ● 常 通. X. Hằng Thông ● 常 總 (1025-1091). Thiền tăng đời Tống, họ Thí, tự Chiếu Giác, người Kiếm Châu (Kiếm Các, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Năm 11 tuổi sư theo Văn Triệu chùa Bảo Vân xuất gia, y chỉ Khế Tư thụ giới cụ túc. Sau đó theo Hoàng Long Huệ Nam tham cứu 20 năm, nối pháp chấn hưng tông phong Lâm Tế, nổi tiếng khắp tùng lâm. Huệ Nam tịch, sư trụ trì chùa Lặc Đàm đồ chúng kính ngưỡng tán dương gọi sư là “Mã Tổ tái lai”. Niên hiệu Nguyên Phong thứ 3 (1080) phụng sắc sửa đổi Đông Lâm Luật Tự ở Lô Sơn trở thành Thiền lâm, Thường Tổng phụng mệnh trụ tích thuyết pháp, từng giao du với Tô Thức. Năm thứ 5 (1082) vua Thần Tông ban sắc cho sư trụ trì Thiền viện Trí Hải chùa Tướng Quốc, sư từ chối không nhận, vua bèn ban tử y và hiệu “Quảng Huệ Thiền Sư”. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 3 (1088) ban hiệu “Chiếu Giác Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp có hơn 10 người như ấn Kiền, Hạnh Anh, Khả Tiên v. v… ● 常 忠 (1514-1588). Thiền tăng đời Minh, họ Thường hiệu Uẩn Không, người Kiến Xương (Nam Thành, Giang Tây) Trung Quốc. Thuở nhỏ theo Lý học, từng giảng học thuyết Trí lương tri của Vương Dương Minh. Năm 20 tuổi trọ ở Nam Kinh. Một hôm đi dạo Hạc Lâm gặp Cổ Khê, đàm đạo rất khế hợp. Cổ Khê chỉ dạy Phật pháp, Thường Trung rất cảm động liền theo Ngài xuất gia. Vâng lời thầy, sư đi khắp nơi tham các bậc Thiện tri thức. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 43 (1564) đến Tung Sơn tham kiến Tiểu Sơn Tông Thư, không khế ngộ liền từ giã Tông Thư đi du phương khắp nơi, sau đó dường như đối với lời nói của Tông Thư có tỉnh ngộ nên trở lại Tung Sơn, nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Lúc Tông Thư đến trụ am Tông Cảnh ở Bắc Kinh, sư theo hầu 3 năm, lãnh trọn huyền chỉ. Từ giã trở về Kiến Xương, ẩn cư núi Tùng Cô. Một hôm đi dạo đến Lẫm Sơn, Tân Thành, Hãn Giang Sư thích phong cảnh nơi đây bèn kết am ở lại 20 năm không tiếp người, chỉ riêng kết bạn phương ngoại với La Nhữ Phương và Đặng Nguyên Tích, cùng nhau đàm luận về học thuyết tính mệnh. ● 上 根. Căn khí thượng đẳng. Khai thị thiền nhân Đổng Văn Thừa trong HSLNMDT q. 1 ghi: “洞 聞 法 乘、夙 負 上 根、初 脫 塵 緣、遇 水 潦 鶴、頓 覺 非、遂 弃 去。 – Nghe suốt được pháp Thiền Tông, là có căn khí thượng đẳng từ đời trước. Mới thoát trần duyên gặp pháp sinh diệt, liền biết nó không đúng bèn vứt bỏ. “ ● 上 根 利 智. Người có căn khí thượng đẳng và trí huệ kiệt xuất. Tiết “Tục Nghệ Ngôn” trong NHQL q. 30 ghi: “是 知 上 根 利 智、決 非 三 時 之 所 可 局、況 佛 法 無 時 不 圓 明 超 絕、起 可 得 污 隆 哉! – Phải biết người có căn khí thượng đẳng và trí huệ kiệt xuất, quyết chẳng bị hạn cuộc trong ba thời (chính pháp tượng pháp và mạt pháp), huống là Phật pháp cao siêu, không thời nào mà chẳng tròn sáng siêu tuyệt, há có thể bị ô nhiễm ư!” ● 上 志 (1668-1732). Thiền tăng đời Thanh, họ An, tự Văn Trúc, hiệu Nhẫn Am, người xứ Gia Hòa, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Đế Huy Lộ, đời thứ 38 hệ Nam Nhạc. Trước trụ chùa Thiên Ninh, Gia Hòa; sau trụ chùa Vân Lâm, Hàng Châu. Tác phẩm: Nhẫn Am Tập. ● 上 頭 關. Cửa ải thiền huyền diệu hướng thượng, cửa ải thiền ngộ. Tiết Khai Thiện Đạo Khiêm Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “壁 立 千 仞 也 沒 交 涉、通 一 線 道 也 沒 交 涉。不 近 人 情、和 泥 合 水、總 沒 交 涉。只 這 沒 交 涉、也 則 沒 交 涉。是 則 是、又 無 佛 法 道 理。若 也 出 得 這 四 路 頭、管 取 乾 坤 獨 步。且 獨 步 一 句 作 麼 生 道?莫 怪 從 前 多 意 氣、他 家 曾 踏 上 頭 關。 – Vách đứng muôn trượng không dính dáng; một con đường thông suốt cũng không dính dáng; không hợp tình người, phương tiện dạy người đều không dính dáng. Chỉ cái không dính dáng này cũng không dính dáng. Phải thì phải, lại không có Phật pháp đạo lý. Nếu ông ra khỏi bốn con đường này thì trong khoảng đất trời riêng bước. Nhưng một câu riêng bước làm sao nói?Đừng ngại trước kia nhiều khí phách, nhà người từng đạp thượng đầu quan”. ● 上 堂. Chỉ cho việc đi lên điện đường để ăn cơm, nghe thuyết pháp, tham vấn v. v.. Tuy nhiên, từ này thường dùng để chỉ cho vị Trụ trì mỗi ngày 2 lần (sáng chiều) lên Pháp đường giải đáp thắc mắc về việc tham thiền của chư tăng. Tắc 38, Bích Nham Lục (Đại 48, 175 hạ) ghi: “風 穴 在 郢 州 衙 內、上 堂 云:祖 師 心 印、狀 似 鐵 牛 之 機。 – Phong Huyệt ở trong Nha môn Dĩnh Châu thượng đường nói: Tâm ấn của Tổ sư hình dáng giống như máy trâu sắt”. ● 尚 己 (1630-1711). Thiền tăng đời Minh, họ Dư, tự Vô Ngã, người xứ Đoan Châu (Triệu Khánh, Quảng Đông) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Kim Nhiễm ở Quảng Châu, đời thứ 36 hệ Thanh Nguyên. Trụ am Đàn Độ. Tác phẩm: Vô Ngã Tập (Thi Tập). ● 上 藍 院. ở đường Dân Đức, thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Được xây dựng vào khoảng niên hiệu Thiên Giám (502-519) đời Lương Nam Triều, ban đầu tên “Thượng Lam Tự”, sau đổi tên là “Đại Phật Tự”. Khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-741) đời Đường đổi tên là “Khai Nguyên Tự”. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 4 (769) Thiền Sư nổi tiếng Mã Tổ Đạo Nhất trụ chùa này tiếp hóa học nhân, các thiền khách tụ hội, chùa trở thành đạo tràng nổi tiếng hoằng dương thiền phong của Mã Tổ Đạo Nhất. Khoảng niên hiệu Đại Trung (847-860) đổi tên là “Thượng Lam Viện”. Khoảng niên hiệu Hàm Bình (998-1003) đời Tống đổi tên là “Thừa Thiên Tự”. Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1111-1118) đổi tên là “Năng Nhân Tự”. Khoảng niên hiệu Cảnh Thái (1450-1456) đời Minh đổi tên là “Hựu Thanh Tự”. Năm 1929 đổi tên là “Hựu Dân Tự”. Kiến trúc hiện cón là do đời Thanh trùng tu. Trong chùa thờ tượng Phật lớn bằng đồng, cao 18 thước Tàu, nặng 36000 cân. Còn có đại đồng chung đúc vào niên hiệu Càn Đức thứ 5 (967) đời Nam Đường, cao 7 thước Tàu, nặng 10064 cân, treo trên lâu các hình vuông bằng đá hoa cương xây vào năm 1929 phía bên phải chùa. ● 尚 理 篇. Sách, 1 quyển, do Cảnh Long soạn vào đời Minh. Vào niên hiệu Chính Thống thứ 5 (1440), đạo sĩ Liêu Thượng Thành ở miếu Ngũ Thánh phủ ứng Thiên có vẽ 1 bức tranh thiền sư Hoàng Long đang lễ bái thưa hỏi Lữ Động Tân với tựa đề là “Thần hóa đồ” và phụ phần giải thích rằng thiền sư Hoàng Long rất hâm mộ đạo pháp của Lữ Động Tân. Cảnh Long soạn “Thượng Lý Thiên” nhằm bác bỏ ngụy thuyết ấy, mục đích để nó không làm lầm mọi người. ● 上 門 上 戶. Chỉ cho tăng hành cước tham phỏng thiền sư các nơi. Tiết Chiêu Khánh Đạo Khuông Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “這 裡 無 物、諸 人 苦 恁 麼 相 促 相 拶 作 麼、擬 心 早 沒 交 涉、更 上 門 上 戶、千 里 萬 里。 – ở đây không một vật, các ông vất vả bức bách nhau thế ấy để làm gì? Vừa khỏi tâm sớm đã không dính dáng; lại còn hành cước tham phỏng thiền sư các nơi thật là cách xa ngàn dặm muôn dặm!”. ● 上 人. 1. Bậc Cao tăng có đầy đủ trí huệ và đạo đức, đủ sức làm thầy mọi người. Bài thơ Sơn Tự của Trạng Nguyên Nguyễn Trực (Việt Nam) ghi: 突 兀 雲 間 寺、人 生 幾 度 過 幽 巖 藏 佛 跡、峭 壁 倚 僧 家 地 遠 飛 塵 少、山 高 得 月 多 上 人 留 客 宿、煨 芋 又 烹 茶 “Đột ngột vân gian tự Nhân sinh kỷ độ qua! U nham tàng Phật tích Tiêu bích ỷ tăng gia Địa viễn phi trần thiểu Sơn cao đắc nguyệt đa Thượng nhân lưu khách túc ổi dụ hựu phanh trà”. “Mây biếc hiện bóng chùa Người đời mấy kẻ qua! Hẻm đá còn dấu Phật Sườn non ẩn mái nhà Xa đất càng ít bụi Non cao trăng thêm đầy Cao tăng giữ khách lại Lùi khoai với nấu trà”. ● 2. Người có căn khí thượng đẳng, đạo pháp tinh thâm và đạo đức cao thượng. Tiết Kính Sơn Trí Sách Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “上 人 不 耘 而 秀、不 扶 而 直。 – Bậc thượng nhân chẳng trau chuốt mà đẹp, (hay) chẳng đợi mài giũa mới giỏi, chẳng đợi uốn nắn mới thẳng. “ ● 上 士. Người căn khí thượng đẳng. “Chứng Đạo Ca” của Vĩnh Gia Huyền Giác Đại Sư trong CĐTĐL q. 30 ghi: “上 士 一 決 一 切 了、中 下 多 聞 多 不 信。 – Người căn khí bậc thượng nhờ có quyết tâm nên tất cả đều xong. Còn hàng trung hạ càng học nhiều càng chẳng tin nơi tự tâm. “ ● 上 禪 堂. ở phía dưới điện Nhục Thân, ngọn Thiền Quang, núi Cửu Hoa, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Nguyên tên là “Cảnh Đức Đường”, niên hiệu Khanh Hy thứ 6 (1667) đời Thanh, đệ tử của Quốc sư Ngọc Lâm là Tông Diễn sau khi mở rộng kiến thiết đổi tên là “Thượng Thiền Đường”. Khoảng niên hiêu Hàm Phong (1851-1861) chùa bị chiến tranh phá hủy. Đầu những năm Đồng Trị (1862-1874) xây dựng lại. Kết cấu tinh diệu, ngoằn ngoèo lung linh, mây rừng tôn vẻ đẹp cho nhau, suối đá vây quanh, bố cục tinh xảo. Người xưa khi đi du ngoạn Thượng Thiền Đường, khen nó có ba cái nhất: “Hương khói Cửu Hoa đứng đầu thiên hạ chỉ có Thượng Thiền Đường là thịnh nhất; phong cảnh chỉ có Thượng Thiền Đường là đẹp nhất; điện vũ chỉ có Thượng Thiền Đường là xinh nhất”. Những năm 60 của thế kỷ 20 bởi tăng nhân không cẩn thận để lửa thiêu cháy phần lớn lầu gác. Điện vũ hiện còn không nhiều, trong Đại hùng bảo điện thờ tượng đắp Thích Ca, Quán Âm, Địa Tạng. Vi Đà điện có rường hoa xà chạm, phía sau là khách đường, thiền phòng, tịnh thất. Xung quanh chùa đẹp đẽ tĩnh mịch, ben cạnh có suối Kim Sa. Bên suối có cây Kim Tiền, tương truyền là do tiền mua rượu của Lý Bạch hóa thành, là một trong ba báu của Cửu Hoa Sơn. ● 上 首. Bậc Thủ tọa trong tăng chúng tham thiền hoặc người có địa vị khá cao trong chùa. Tiết “Sở Thạch Hòa Thượng Hành trạng” trong PKKNL q. 20 ghi: “戊 申、舉 得 法 上 首 景 瓛 自 代、而 夏 老 於 西 齋 焉。 – Năm Mậu Thân, cử bậc Thượng thủ đắc pháp là Cảnh Hiến thay thế, nên mùa Hạ lão mới đến Tây Trai ở được. “ ● 上 首 弟 子. Thủ tọa, đệ tử lớn. Tổ thứ 14, Long Thọ tôn giả trong CĐTĐL q. 2 ghi: “後 告 上 首 弟 子 迦 那 提 婆 曰。如 來 大 法 眼 藏 今 當 付 汝。聽 吾 偈 言。。。 –…Sau đó, Tổ bảo vị đệ tử lớn là Ca Na Đề Bà rằng: Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay sẽ trao cho ngươi, lắng nghe ta nói kệ…” ● 上 上 根 機. Người có căn khí thượng đẳng. Tiết Bắc Viện Thông Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “諸 上 座 有 甚 麼 事、出 來 論 量 取。若 上 上 根 機、不 假 如 斯。若 是 中 下 之 流、直 須 鏟 削 門 頭 戶 底、教 索 索 地、莫 教 入 泥 水。 – Chư Thượng tọa có việc gì? Hãy bước ra bàn luận. Nếu là người có căn khí thượng đẳng, thì không cần như vậy. Nếu là hạng trung hạ thì cần phải dọn dẹp nhà cửa cho trống trơn đi, chứ đừng sa vào lời nói chữ nghĩa. “ ● 上 上 之 旨. Yếu chỉ thượng thượng, tức yếu chỉ của Thiền Tông. Bài tựa của Tỳ kheo Huệ Nguyên trong Trúc Lâm Tổ Sư Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: “超 三 乘、越 佛 乘、上 上 之 旨。 – Siêu tam thừa, vượt Phật thừa là yếu chỉ thượng thượng”. ● 上 上 機. 1. Bậc căn cơ thượng đẳng. Thung Dung Am Lục q. 1 ghi: “閉 門 打 睡 接 上 上 機。顧 鑑 頻 申。曲 爲 中 下。 – Đóng cửa ngủ khò là tiếp bậc căn cơ thượng đẳng; sử dụng ngữ cú để chỉ bày là phương tiện tiếp dẫn hàng trung hạ. “ ● 2. Thiền cơ vi diệu tột cùng, siêu việt lời nói tri thức. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “千 峰 列 翠 岸 柳 垂 金。樵 父 謳 歌 漁 人 鼓 棹。笙 簧 䀨 地 鳥 語 呢 喃。紅 粉 佳 人 風 流 公 子。一 一 爲 汝 諸 人。發 上 上 機 開 正 法 眼。若 向 者 裏 薦 得。金 色 頭 陀 無 容 身 處。若 也 不 會。喫 粥 喫 飯。許 儞 七 穿 八 穴。 – Ngàn non bày xanh ngát, liễu bờ rủ tóc vàng, tiều phu hát ca, ngư ông gõ nhịp mái chèo, khèn sáo ồn náo, chim kêu ríu rít, giai nhân má hồng, công tử thanh lịch, mỗi mỗi đều vì các ngươi mà phát thượng thượng cơ, mở Chính pháp nhãn. Nếu nơi đây lãnh hội được thì Đầu Đà Ca Diếp không có chỗ dung thân, còn như không lãnh hội thì ăn cơm ăn cháo đi, mong rằng các ngươi sẽ ngộ đạo thấu triệt rõ ràng. “ ● 上 上 利 根. Người có căn khí thượng đẳng, kiệt xuất. Thư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q. 1 ghi: “若 從 根 本 上 做 工 夫、打 破 八 識 窠 臼、頓 翻 無 明 窟 穴、一 超 直 入、更 無 利 法、此 乃 上 上 利 根、所 證 者 深。 – Nếu từ trên căn bản thực hiện công phu, phá vở hang ổ tám thức lật đổ sào huyệt vô minh, vượt qua những giai vị Bồ Tát, trực tiếp ngộ nhập Phật tính, lại không cần pháp nào khác. Đây là người có căn tính thượng đẳng, kiệt xuất, chỗ chứng ngộ của họ thì sâu. “ ● 上 足. Đệ tử kiệt xuất, học trò giỏi. Tông Môn Võ Khố ghi: “保 寧 勇 禪 師 二 上 足 處 清、處 凝、同 參 白 雲 端 禪 師。 – Thiền Sư Bảo Ninh Dũng có 2 vị đệ tử kiệt xuất là Xử Thanh và Xử Ngưng cùng tham học với Thiền Sư Bạch Vân Thủ Đoan”. Chương Trần Nhân Tông trong Tam Tổ Thực Lục ghi: “調 御 上 居 紫 霄 庵、爲 法 螺 講 傳 燈 錄、侍 者 稍 下 山 殆 盡、惟 上 足 弟 子 寶 剎 存 焉。 – Ngài lên ở am Tử Tiêu, vì Pháp Loa giảng Truyền Đăng Lục. Thị giả xuống núi gần hết, duy có đệ tử kiệt xuất là Bảo Sát còn ở thôi”. ● 上 淵 (1627-1679). Còn gọi: Hải Uyên. Thiền tăng đời Thanh, họ Tào, hiệu Ba Đình, người xứ Tân Hà, Ký Châu (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. Năm 16 tuổi sư đến Tam Phong, Hải Ngu (nay là huyện Thường Thục, tỉnh Giang Tô), vào làm đệ tử của ngài Tung ẩn, dường như tham học đến năm 19 tuổi thì được ngộ. Ít lâu sau, sư đến Linh Phong hoằng pháp, hết sức chấn chỉnh quy củ tùng lâm. ● 鷲 嶺. Còn gọi: Linh Thứu sơn, Linh sơn. Tên núi, ở Trung ấn Độ, vì ở trong núi có nhiều kên kên. Hơn nữa đỉnh núi có hình dáng giống con kên kên nên lấy đó làm tên gọi. Là nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp. Tông Môn Võ Khố ghi: “三 問 逆 摧。超 玄 機 於 鷲 嶺。一 拳 垂 示。露 赤 體 於 龍 峰。 – Ba câu hỏi khó phá, vượt cơ nhiệm mầu ở Thứu Lãnh. Một lời dạy nhỏ nhoi, bày thể chân thật nơi Long Phong. “ ● 鷲 峰 山. X. Hoàng Bá sơn. ● 錫. Cây tích trượng mà thiền tăng cầm nơi tay, gọi tắt là “Tích”. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung: “師 一 日 持 鍚 遶 方 丈。 – Một hôm, sư cầm tích đi nhiễu quanh phòng Trụ trì”. ● 析 木 成 金 塔. Trong khuôn viên chùa Tây Sơn Nguyên Đại Thiền Bảo Lâm, khe núi Dương Giác, phía tây bắc thành Tích Mộc, thành phố Hải Thành, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc. Tháp xây vào đời Liêu, hình bát giác xây gạch mái kín, 13 tầng, cao 31,5m. Nền tòa chia làm hai tầng trên dưới, nền tòa tầng dưới nơi góc quàng dùng sư tử nâng đỡ, phân nửa đã bị chôn vùi trong đất. Nền tòa tầng trên tám mặt đều có làm cửa khổn, trong cửa khổn chìa ra sư tử khắc nổi. Trên tòa còn làm 3 tầng tòa sen. Thân tháp tầng thứ nhất đặc biệt cao, tám mặt đều có làm cửa cuốn tò vò, phía trong cửa và hai bên cửa đều có đắp tượng Phật, trên cổng đắp tán cái, phi thiên. Tầng thứ hai trở lên là mái kín; mái kín của tầng thứ năm trở lên hiện đã bị tổn hoại. Đây là một tòa tháp đặc ruột mái kín tiêu chuẩn đời Liêu. ● 惜 取 眉 毛. Từ ngữ thường dùng trong nhà thiền. Có 2 nghĩa: 1. Phấn chấn tinh thần. Tiết Hà Ngọc Hòa Thượng trong TĐT q. 2 ghi: “問:。。未 審 古 人 意 如 何?師 云:惜 取 眉 毛 好。 – Hỏi: … Chẳng hay ý của người xưa thế nào? Sư đáp: Hãy phấn chấn tinh thần lên!”. ● 2. Lời nói chớ nhiều quá, chớ có trái ngược với thiền chỉ chẳng lập văn tự ngữ ngôn. Tiết Tào Sơn Quang Huệ Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “問:古 人 云:「如 紅 爐 上 一 點 雪。」 意 旨 如 何?師 曰:惜 取 眉 毛 好! – Hỏi: Người xưa nói như giọt tuyết trên lò lửa, ý chỉ thế nào? Sư đáp: Lời nói chớ nhiều quá”. ● 寂 音 尊 者. Hiệu của Thiền tăng Đức Hồng đời Tống. X. Đức Hồng. ● 〖⿰言尗〗 震 (1630-1705). Thiền tăng đời Minh, họ Đơn, tự Nhân Sơn, hiệu Nhân Tẩu, Hoa Tẩu, người xứ Vô Tích, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền Sư Phẫu Thạch Hoằng Bích, đời thứ 37 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Thiên Đài Hoa Đảnh. Tác phẩm: Hoa Tẩu Quảng Lục, Đăng Sử Kỷ Niên, Tam Phong Đăng Sử, Thiền Tông Chánh Tông Đăng Sử, Tế Tông Bổ Tục Đăng Sử, Tế Đăng Sử Tục Lược, Danh Túc Phân Hóa Đăng Sử, Pháp Uyển Hiến Trưng Lục. ● 寂 照 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Huệ Cầu đời Ngũ Đại. X. Huệ Cầu. ● 寂 滅. (Tăng sĩ) qua đời. Từ đồng nghĩa là Niết Bàn. Nguyên tiếng Phạn là Nirvāna, dịch âm là Niết Bàn, dịch ý là Tịch diệt. Chương Cưu Ma La Đa, tổ thứ 19 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “吾 今 寂 滅 時 至、汝 當 紹 行 化 迹 – Nay đã đến lúc ta tịch diệt, ngươi nên tiếp tục giáo hóa chúng sinh”. ● 席 下. Còn gọi: Thiền tịch (禪 席). Nơi mà người tu học tụ tập lại để tham thiền học đạo, hoặc nơi mà thiền sư thu nhận học trò để giảng đạo. Tương đương với từ Đạo tràng. Tiết Pháp Thường Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “從 此 之 後、學 禪 底 人 遂 漸 就 集 在 法 常 席 下、法 常 道 法 史 加 興 盛 了。 – Từ đó về sau, kẻ học thiền dần dần tụ tập tại đạo tràng của Thiền Sư Pháp Thường, đạo pháp của Pháp Thường càng thêm hưng thịnh. “ Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “後 聞 南 方 禪 席 頗 盛、師 氣 不 平、乃 曰:出 家 兒 千 劫 學 佛 威 儀、萬 劫 學 佛 細 行、不 得 成 佛。南 方 魔 子 敢 言 直 指 人 心、見 性 成 佛。 – Sau nghe đạo tràng phương Nam khá hưng thịnh, sư nổi cơn bất bình nói: Kẻ xuất gia ngàn kiếp học uy nghi của Phật, muôn kiếp học tế hạnh của Phật còn chưa thành được Phật. Bọn ma mị phương Nam dám buông lời trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật à!” ● 寂 室. Hiệu của thiền tăng Huệ Quang đời Tống. X: Huệ Quang. ● 寂 透 (1674-1710). Thiền tăng đời Thanh, họ Trần, mới đầu xưng là Huệ Triệt, tự Biệt Quang, người Vưu Khê (Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư theo Hằng Đào chùa Cổ Sơn xuất gia. Niên hiệu Khang Hy thứ 48 (1709) sư sang Nhật Bản tham học với Đại Hành Hải Quyền chùa Sùng Phúc ở Trường Kỳ, nối pháp trở thành đời thứ 8 chùa Sùng Phúc. Năm sau thị tịch. ● 寂 傳 (1664-1731). Thiền tăng đời Thanh, họ Trần, tự Đạo Bản, hiệu Chỉ Đình, người Phúc Thanh (Phúc Kiến) Trung Quốc. Lúc 56 tuổi sư vâng lời Thầy mình là Linh Nguyên Hải Mạch sang Nhật Bản trụ trì chùa Sùng Phúc núi Thánh Thọ ở Trường Kỳ. Sư giỏi thơ họa, thường giao du với văn nhân mặc khách. Tác phẩm: Tiêu Minh Thảo 1 quyển. ● 寂 圓 (1207-1299). Thiền tăng đời Nguyên Trung Quốc. Đời Tống niên hiệu Thiệu Định thứ 1 (1228) do ngưỡng mộ Thiền Sư Đạo Nguyên tông Tào Động mà sư sang Nhật Bản. Sau khi Đạo Nguyên tịch, sư tham kiến Cô Vân Hoài Trang được tâm ấn. Nơi huyện Phúc Tỉnh (Nhật Bản) Đại Dã, sư xây cất chùa Bảo Khánh và trở thành Tổ phái Tịch Viên, đây là một phái Đạo Nguyên tông Tào Động Nhật Bản. Niên hiệu Chính An thứ 1 (1299) sư thị tịch. ● 漸 契. Tu hành dần dần, chứng ngộ dần dần. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng: “法 無 頓 漸、人 有 利 鈍、迷 即 漸 契、悟 即 頓 修。 – Pháp không có đốn tiệm, người có mau chậm, kẻ mê thì tiệm khế, người ngộ thì đốn tu”. ● 漸 次. Theo thứ tự tiến dần. Mật Am Ngữ Lục ghi: “離 幻 即 覺、亦 無 漸 次。 – Lìa huyễn liền giác, cũng không theo thứ tự tiến dần. “ ● 漸 修. Tu hành từ từ, chứng ngộ dần dần. Đây là con đường đưa đến NGộ theo thứ tự từ cạn đến sâu, cũng là một môn phái lớn của Thiền Tông Trung Quốc. Vào thời kỳ đầu của Thiền Tông, phái này rất được triều đình đương thời xem trọng, cực thạnh một thời ở phương Bắc nên gọi là “Bắc Tông”. Về sau, với sự lớn mạnh của học thuyết “Đốn ngộ” khiến phái “tiệm” suy vi. Thư đáp Trịnh Côn Nham Trung thừa trong HSLNMDT q. 1 ghi: “此 之 證 悟、亦 有 深 淺 不 同。若 從 根 本 上 做 工 夫、打 破 八 識 窠 臼、頓 翻 無 明 窟 穴、一 超 直 入、更 無 剩 法、此 乃 上 上 利 根、所 證 者 深。其 余 漸 修、所 證 者 淺。 – Việc chứng ngộ này cũng có sâu cạn chẳng đồng. Nếu từ trên căn bản thực hiện công phu, đập tan hang ổ tám thức, lật đổ sào huyệt vô minh, trực tiếp ngộ nhập nên không cần pháp nào khác. Đây là bậc lợi căn thượng thượng, chỗ chứng ngộ sâu. Ngoài ra đều là tiệm tu, chỗ chứng ngộ cạn”. ● 鞭 影. Bóng roi, dụ chỉ thủ đoạn cao siêu của thiền sư tiếp dẫn người học mà không để lại dấu vết. Bài tựa của Dương ức trong CĐTĐL ghi: “機 緣 交 激、若 拄 於 箭 鋒;智 藏 發 光、旁 資 於 鞭 影。誘 導 後 學、敷 揚 玄 猷。 – Cơ duyên kích phát lẫn nhau như hai mũi tên chỏi nhau; kho trí huệ phát sáng là nhờ bóng roi giúp đỡ. Dẫn dắt kẻ hậu học, truyền bá mở mang đạo nhiệm mầu”. ● 仙 陀 客. Nghĩa đen là người đầy tớ khéo hiểu được ý của chủ. Thiền Tông muợn từ này để chỉ cho người lanh lợi, lãnh hội nhanh chóng cơ pháp của thiền sư. Tiên Đà là gọi tắt của Tiên Đà Bà (Phạn ngữ: Saindhava, Pāli: Sindhava). Tây ấn Độ thời cổ đại có 4 thứ sản phẩm nổi tiếng: Muối, khí giới, ngựa, nước; nguyên ý của Tiên Đà Bà là hình dung từ của “Tín Độ sở sản”, về sau chuyển chỉ 4 thứ sản phẩm nổi tiếng. Theo Kinh Niết Bàn bản Bắc và bản Nam q. 9 ghi: Xưa có quốc vương nọ, trong triều có vị đại thần lanh lợi, khi vua cần 1 món gì trong 4 thứ danh sản thì đều gọi “Tiên Đà Bà! Tiên Đà Bà!” Vị đại thần liền biết Vua muốn tìm vật gì. Thiền Tông mượn từ này chỉ cho người học thông minh lanh lợi, khéo hiểu ý người, hay nhậm vận tự tại khế nhập cơ pháp Thiền Sư. Tắc 92, Bích Nham Lục (Đại 48, 216 hạ) ghi: 會 中 若 有 仙 陀 客、何 必 文 殊 下 一 槌。 – Hội đây nếu có người lanh lợi, đâu nhọc Văn Thù đánh một dùi!”. ● 先 睹 (1265-1334). Thiền tăng đời Nguyên, họ Diệp, tự Vô Kiến, người xứTiên CưThai Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư ham thích đọc sách, chỉ cần nhìn qua là nhớ và đọc lại được. Sư theo ngài Cổ Điền Hậu xuất gia rồi tham học nơi Phương Sơn Bảo. Một hôm sư đang làm công tác, chợt băng tan sạch không (đốn ngộ). Phương Sơn dùng kệ ấn chứng rằng: 此 心 極 廣 大、虛 空 比 不 得 此 道 只 如 此、受 持 休 外 覓 “Tâm này rất rộng lớn Hư không chẳng sánh nổi Đạo này chỉ như thế Gìn giữ thôi tìm ngoài”. Sư vâng lời thầy xây dựng Thất Hoa Đảnh, ở chùa 40 năm chân không bước ra khỏi cổng. Người học nương ở, cất am che lều khiến nơi đây trở thành tùng lâm. Tác phẩm: Ngữ Lục 2 quyển. ● 先 覺 海 淨 (1788-1875). Thiền tăng đời cuối Lê đầu Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 37, nối pháp Thiền Sư Phật Ý Linh Nhạc. Sư tên Nguyễn Tâm Đoan, quê ở Gia Định, miền Nam Việt Nam. Năm sư 15 tuổi được cha dẫn vào chùa Từ Ân ở Gia Định làm lễ xin Hòa Thượng Phật Ý Linh Nhạc cho sư xuất gia tu hành. Hòa Thượng giao sư cho Thiền Sư Tổ Tông Viên Quang trụ trì chùa Giác Lâm dạy dỗ. Thiền Sư Tổ Tông đặt pháp danh cho sư là Tiên Giác, hiệu Hải Tịnh. Sư chí tâm tu học ở 2 chùa Giác Lâm và Từ Ân nên sau một thời gian, sư sớm trở thành một danh tăng uyên bác. Năm 1825, vua Minh Mạng cho dời sư ra trụ trì chùa Thiên Mụ ở kinh đô Huế. Năm 1841, sư được bổ trụ trì chùa Long Quang. Năm Tân Mùi (1871), sư hợp cùng chư Hòa Thượng ở các tỉnh Nam Kỳ tổ chức Đại giới đàn ở chùa Tây An, tại núi Sam, Châu Đốc (An Giang). Năm ất Hợi (1875), sư lại tổ chức Giới đàn ở chùa Thiên Ân (Gia Định). Đến ngày 8 tháng 11 năm ất Hợi, năm Tự Đức thứ 29 (1875), sư thị tịch, thọ 88 tuổi, tháp của sư được xây trong khuôn viên chùa Giác Lâm. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 先 覺 宗 乗. Sách, 5 quyển, do Ngộ Phong Viên Tín hiệu đính, Quách Ngưng Chi biên tập lại, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 455. Sách này là từ “Tiên Giác Tập” 2 quyển do Đào Minh Tiềm soạn vào đời Minh, được Quách Ngưng Chi cải biên mà thành. Nội dung thu thập cơ duyên Ngữ Yếu của 111 vị cư sĩ được chính thức truyền thừa và 73 vị cư sĩ vô danh. Trình bày một cơ một cảnh, một lời một câu của các bậc tiên giác để làm gương sáng cho người học đời sau. Sách này là tư liệu quan trọng để tham cứu về đạo nghiệp của giới cư sĩ. ● 先 師 禪 院. X. Thánh Thọ Tự. ● 煎 茶. Nấu trà. Người xưa muốn uống trà thì phải dùng lửa để nấu. Uống trà là một tập tục của thiền lâm. Tông Môn Võ Khố ghi: “掃 地 煎 茶 皆 躬 爲 之。 – Quét đất nấu trà đều đích thân làm lấy. “ ● 薦. 1. Lãnh ngộ, lãnh ngộ. Tiết Đại Quy Phật Tính Thái Thiền Sư trong GTPĐL q. 26 ghi: “平 常 心 地、穩 密 家 風、隨 時 應 用。越 格 超 宗、於 斯 薦 得、麦 裏 有 面、若 也 不 會、米 裏 有 蟲。 – Tâm địa bình thường, thói nhà điềm đạm kín đáo, tuỳ thời ứng dụng vượt thoát khuôn phép thông thường. ở đây lãnh hội được thì trong ngoài có mặt. Còn nếu chẳng hội thì trong gạo có sâu. “ ● 2. Biết, nhận thức. Tiết Hưng Hoá Tương Thiền Sư trong NĐHG q. 2 ghi: “皮 有 無 血、見 大 喫 痛 棒 薦 得 先 師。 – Kẻ không có khí phách gặp ngài Đại Giác cho ăn gậy đau điếng mới biết được tiên sư”. ● 進 堂. Hạ thủ công phu. ● 進 期. Bắt đầu lên đường, chỉ cho việc đề khởi thoại đầu. Sở Sơn Kỳ Thiền Sư giải chế trong Thiền Quan Sách Tiến ghi: “舉 起 話 頭 爲 進 期 – Đề khởi thoại đầu là tiến kỳ”. ● 薦 慈 塔. X. Từ Thọ Tháp. ● 進 云. Hỏi tiếp. Biểu thị người học tiếp tục đặt câu hỏi để thiền sư thuyết pháp, là dụng ngữ ghi chép việc hỏi đáp trong nhà thiền. Mật Am Ngữ Lục ghi: “解 夏 上 堂。僧 問 如 何 是 正 法 眼。師 云。草 鞋 無 爽。進 云。只 如 和 尚 道 破 破 盆。又 作 麼 生。師 云。老 僧 不 曾 動 著 舌 頭。 – Ngày giải hạ, sư thượng đường, tăng hỏi: Cái gì là Chính pháp nhãn? Sư đáp: Giày cỏ không nhẹ. Tăng hỏi tiếp: Cứ như việc Hòa Thượng nói lủng cái chậu bằng gỗ thì sao? Sư đáp: Lão tăng chưa từng động lưỡi. “ ● 進 院. Thiền Sư đến nhậm chức trụ trì tự viện. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “上 堂:進 院 得 住 便 住、退 院 要 行 便 行、還 相 委 悉 麼?箇 條 烏 拄 杖、莫 怪 太 生 獰。擲 拄 杖、下 座。 – Sư thượng đường nói: Nhậm chức trụ trì tự viện ở được liền ở, từ chức trụ trì cần đi liền đi. Có biết cho chăng? Cây gậy đen sì nầy, đừng trách nó rất dữ tợn. Sư ném gậy, bước xuống tòa. “ ● 前 不 搆 村、後 不 迭 店. Chưa đến nơi đến chốn. Trước chẳng đến xóm làng, sau chẳng ra khỏi cửa. Tắc 65, Bích Nham Lục (Tục 117,190, thượng) ghi: “前 不 搆 村。後 不 迭 店。拗 折 拄 杖 子。向 什 麼 處 去。雪 竇 雷 聲 甚 大。雨 點 全 無。 – Chưa đến nơi đến chốn mà bẻ gãy chiếc gậy là nhằm đi đâu? Lời nói của Tuyết Đậu như sấm nổ mà chẳng có một giọt mưa”. ● 前 頭. Trước mặt, phía bên kia. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。如 諸 方 有 學 人 來。主 客 相 見 了。便 有 一 句 子 語。辨 前 頭 善 知 識。 – Này Đạo lưu, như các thiền viện có người học tìm đến, chủ khách gặp nhau xong, liền đưa ra một câu để phân biệt bậc thiện tri thức trước mặt. “ ● 前 頭 人. Gọi tắt: Tiền Nhân. Người ở trước mặt, đối phương. Đàn Kinh (bản Đôn Hoàng) ghi: “前 頭 人 相 應、即 共 論 佛 義;若 實 不 相 應、合 掌 令 歡 喜。 – Nếu đối phương tương ứng thì cùng luận về Phật nghĩa. Nếu thật chẳng tương ứng thì ta chắp tay đểhọ được hoan hỷ” ● 前 堂 首 座. Tăng đường trong các thiền viện khá lớn được chia làm hai: Tiền và hậu đường. Mỗi nhà (đường) đặt một vị Thủ tọa, địa vị của Tiền đường Thủ tọa cao hơn Hậu đường thủ tọa, quyền hạn đứng sau vị Trụ trì. Mật Am Ngữ Lục ghi: “請 前 堂 首 座 鶴 林 印 和 尚 立 僧。 – Thỉnh Tiền đường thủ tọa Hạc Lâm ấn Hòa Thượng thủ tọa, thay thế vị Trụ trì thuyết pháp cho đại chúng nghe. “ ● 前 溪. Hiệu của thiền tăng Đức Minh đời Minh. X. Đức Minh. ● 前 人. Người trước mặt, đối phương. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “如 善 知 識。把 出 箇 境 塊 子。向 學 人 面 前 弄。前 人 辨 得 下 下 作 主。不 受 境 惑。 – Thiện tri thức đưa ra một cảnh, đùa trước mặt người học…, người trước mặt biện được, đã chẳng làm chủ, chẳng bị cảnh lừa. “ ● 前 三 三、後 三 三. Trước ba ba, sau ba ba. Công án này thấy ghi trong tiết Vô Trước Văn hỷ Thiền của sách NĐHN q. 9 như sau: “師 直 往 五 臺 山 華 嚴 寺、至 金 剛 窟 禮 謁、遇 一 老 翁 牽 牛 而 行、邀 師 入 寺。翁 呼 均 提、有 童 子 應 聲 出 迎。翁 縱 牛、引 師 陞 堂。堂 宇 皆 耀 金 色、翁 踞 床 指 繡 墩 命 坐。翁 曰:「近 自 何 來 ?」 師 曰:「南 方。」 翁 曰:「南 方 佛 法 如 何 住 持?」 師 曰:「末 法 比 丘、少 奉 戒 律。」 翁 曰:「多 少 眾?」 師 曰:「或 三 百、或 五 百。」 師 卻 問:「此 間 佛 法 如 何 住 持?」 翁 曰:「龍 蛇 混 雜、凡 聖 同 居。」 師 曰:「多 少 眾?」 翁 曰:「前 三 三、後 三 三。」 翁 呼 童 子 致 茶、并 進 酥 酪。師 納 其 味、心 意 豁 然。翁 拈 起 玻 璃 盞、問 曰:「南 方 還 有 這 箇 否?」 師 曰:「無。」 翁曰:「尋 常 將 甚 麼 喫 茶?」 師 無 對。師 睹 日 色 稍 晚、遂 問 翁:「擬 投 一 宿 得 否?」 翁 曰:「汝 有 執 心 在、不 得 宿。」 師 曰:「某 甲 無 執 心。」 翁 曰:「汝 曾 受 戒 否?」 師 曰:「受 戒 久 矣。」 翁 曰:「汝 若 無 執 心、何 用 受 戒?」 師 辭 退。翁 令 童 子 相 送、師 問 童 子:「前 三 三、後 三 三、是 多 少?」 童 召:「大 德!」 師 應 諾。童 曰:「是 多 少?」 師 復 問 曰:「此 爲 何 處?」 童 曰:「此 金 剛 窟 般 若 寺 也。」 師 悽 然、悟 彼 翁 者 即 文 殊 也。 – Sư đi thẳng đến chùa Hoa Nghiêm trên núi Ngũ Đài, đến hang Kim Cang lễ bái, gặp một ông già đang dắt trâu, mời sư vào chùa …. Ông già hỏi: Ngươi từ đâu đến? Sư đáp: Từ phương Nam đến. Ông già hỏi: Phật pháp phương Nam trụ trì ra sao? Sư thưa: Tỳ kheo đời mạt pháp, ít tuân theo giới luật. Ông già hỏi: Có bao nhiêu đồ chúng? Sư thưa: Hoặc ba trăm hoặc năm trăm. Sư hỏi lại: Phật pháp ở đây trụ trì ra sao? Ông già đáp: Rồng rắn chung lẫn, phàm thánh ở chung. Sư thưa: Được bao nhiêu chúng? Ông già đáp: Trước ba ba, sau ba ba… Sư từ giã ra về, ông già sai đồng tử đưa tiễn. Sư hỏi đồng tử: Trước ba ba, sau ba ba là bao nhiêu? Đồng tử gọi: Đại đức! Sư ứng thinh: Dạ. Đồng tử hỏi: Là bao nhiêu? Sư hỏi lại: Đây là chốn nào? Đồng tử đáp: Đây là chùa Bát Nhã trong hang Kim Cang. Sư xót xa vì biết ông già kia là đức Văn Thù. “ Công án này tình tiết khá phong phú, nghĩa lý bao hàm nhiều mặt, ý chính là phá trừ tâm chấp trước, phân biệt. “Tiền tam tam, hậu tam tam” là câu nói đặc biệt của nhà thiền, siêu việt khái niệm số lượng. ● 前 際. Quá khứ, đời trước. Là một trong ba mé (tam tế) mà Phật giáo thường gọi. Uyển Lăng Lục ghi: “前 際 無 去、今 際 無 住、後 際 無 來。 – Quá khứ không đi, hiện tại không trụ, vị lai chưa đến. “ ● 前 資. Tên gọi người từ trước đã từng trợ giúp công việc, tức chỉ cho người đã 3 lần nhậm chức Phó tự trở xuống mà nay đã thôi nghỉ. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 箭 鋒 相 拄. Mũi tên chỏi nhau, ý nói thiền cơ như 2 mũi tên bay rất nhanh và đụng vào nhau hết sức chính xác. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “這 般 公 案。久 參 者。一 舉 便 知 落 處。法 眼 下 謂 之 箭 鋒 相 拄。更 不 用 五 位 君 臣。四 料 簡。直 論 箭 鋒 相 拄。是 他 家 風 如 此。一 句 下 便 見。當 陽 便 透。 – Loại công án này, đối với người tham cứu lâu một khi nêu lên liền biết ý nghĩa của nó. Tông Pháp Nhãn cho rằng: Mũi tên chỏi nhau không cần đến công phu quân thần ngũ vị, Tứ liệu giản. Nói đến Mũi tên chỏi nhau đây là gia phong xưa nay của Pháp Nhãn, chỉ cần ngay nơi một câu nói có thể thấy được ý chỉ của Pháp Nhãn chỉ dạy, liền có thể ngộ nhập”. ● 便. 1. Giả sử, dù cho. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “若 不 被 他 喚。住 便 一 百 年。也 只 恁 麼。 – Nếu chẳng được người khác đánh thức, dù cho trải qua trăm năm cũng chỉ thế ấy. “ ● 2. Mà, nhưng, lại, biểu thị điều sắp nêu ra là không phù hợp với điều vừa nói đến. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “雖 是 五 蘊 漏 質。便 是 地 行 神 通。。。 – Mặc dù là thân năm uẩn thô lậu, nhưng là thần thông đi trên đất. “ Bích Nham Lục q. 1 ghi: “千 劫 學 佛 威 儀、萬 劫 學 佛 細 行、然 後 成 佛。他 南 方 魔 子 便 說 即 心 是 佛。 – Ngàn kiếp học oai nghi Phật, muôn kiếp học tế hạnh Phật, rồi sau mới thành Phật. Ma quỷ phương Nam lại nói chính tâm nầy là Phật. “ ● 便 饒. Giả sử, dù cho. Trung Phong Hòa Thượng Hành Lục trong TPQL ghi: “便 饒 知 得、亦 生 死 所 知、亦 是 生 死。 – Dù cho biết được cũng là cái biết do sinh tử, cũng là sinh tử. “ ● 接 引 之 辭. Lời nói tiếp độ, dẫn dắt người học. Dưới cái nhìn của Thiền Tông, đây chỉ là giáo thuyết quyền nghi, pháp môn phương tiện mà thôi. Kỳ thực nói như thế cũng là thừa thãi rồi. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “我 此 禪 宗 從 上 相 承 以 來、不 曾 教 人 求 知 求 解、只 云 學 道 早 是 接 引 之 辭。然道 亦 不 可 學、情 存 學 解、卻 成 迷 道。 – Thiền Tông của ta đây, sự truyền thừa từ trước đến nay, chẳng từng dạy người tìm cầu tri giải, chỉ nói “học đạo” sớm là lời nói tiếp độ, dẫn dắt người học. Nhưng đạo cũng chẳng thể học, nơi thức tình mà còn học giải, trở lại thành mê đạo. “ ● 接 人. Tiếp độ, dẫn dắt người học. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “此 是 大 手 宗 師。不 與 你 論 玄 論 妙 論 機 論 境、一 向 以 本 分 事 接 人。 – Đây là thiền sư có thủ đoạn cao siêu, không bàn huyền diệu, không luận cơ cảnh, một bề dùng việc siêu thoát sinh tử để tiếp độ người. “ ● 接 示. Tiếp dẫn, chỉ dạy. Tiết bảo Phúc Hòa Thượng trong TĐT q. 11 ghi: “弟 子 之 禮 纔 施、接 示 之 言 便 至。雪 峰 云:還 會 麼?師 欲 擬 近 前、雪 峰 以 杖 拄 之、師 頓 契 玄 要。 – Lễ chào hỏi của đệ tử vừa xong, lời chỉ dạy liền tiếp theo đó. Tuyết Phong nói: Có lãnh hội chăng? Sư định đến gần. Tuyết Phong lấy gậy chận lại. Sư tập tức khế ngộ yếu chỉ Thiền Tông. “ ● 接 竹 點 月. Còn gọi: Duyên Mộc Cầu Ngư (leo cây để bắt cá). Dùng cành tre để khều mặt trăng. Thiền Tông mượn thành ngữ này để chỉ cho việc làm phí công vô ích. Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục q. 1 (Đại 47, 984 trung) ghi: “若 要 扶 樹 臨 際 正 宗、大 似 接 竹 點 月。 – Nếu muốn gầy dựng Lâm Tế Chính Tông thì giống như dùng cành tre để khều mặt trăng”. ● 接 物 利 生. Tiếp dẫn người học, tạo phúc cho chúng sinh. Bài tựa của Dương ức viết trong CĐTĐL ghi: “隨 機 悟 理。爰 有 三 乘 之 差。接 物 利 生。乃 度 無 邊 之 眾。 – Tùy theo căn cơ mà ngộ được lý, do đó có sự sai biệt của tam thừa, tiếp dẫn người học, tạo phúc cho chúng sinh là độ chúng sinh vô biên. “ ● 截 斷 葛 藤. Chặt đứt tất cả những lời giải thích dài dòng. Đây là cách lập bày của nhà thiền nhằm tiếp dẫn người học. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “直 下 截 斷 葛 藤。後 學 初 機 難 爲 湊 泊。 – Lập tức chặt đứt tất cả lời giải thích dài dòng, phiền phức khiến cho kẻ hậu học sơ cơ khó có thể khế hội”. ● 截 斷 眾 流. Chặt đứt các dòng. Đây là 1 trong 3 câu nói nổi tiếng của Vân Môn trong khi tiếp dẫn người học. Ngài thường dùng một chữ hoặc một câu nói, ngay lúc đó chặt đứt tất cả trói buộc của ngôn ngữ khiến cho người học dứt hết các chuyển cơ, không khởi ý tưởng phân biệt, từ đó chiếu soi lại tự thân, trở về nguồn tâm. Tiết Cửu Đảnh Huệ Tuyền Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “昔 日 雲 門 有 三 句、謂 函 蓋 乾 坤 句、截 斷 眾 流 句、隨 波 逐 浪 句。 – Thuở xưa ngài Vân Môn có 3 câu nói, đó là: Hàm cái càn khôn (bao trùm trời đất); tiệt đoạn chúng lưu (chặt đứt các dòng); tùy ba trục lãng (theo mòi đuổi sóng)”. ● 截 斷 天 差. Trừ hết các thứ sai biệt, tức chẳng dùng vọng tâm phân biệt để nhìn muôn sự muôn vật. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “截 斷 千 差、單 提 一 著。那 邊 放 下 龜 毛、者 裏 拈 起 兔 角。 – Trừ hết các thứ sai biệt, chỉ đưa ra một nước cờ. Bên kia buông lông rùa xuống, ở đây đưa sừng thỏ lên”. ● 截 流 機. Cơ dụng chặt đứt dòng ý thức. Tiết Thị Tâm Nguyên Tụ Duy Na trong Duy Tắc Ngữ Lục q. 3 ghi: “夫 欲 達 識 心 源、別 無 奇 術、惟 於 念 慮 汹 涌 之 際、用 截 流 機、當 頭 坐 斷。 – Luận đến việc muốn rõ nguồn tâm, không có thuật lạ nào khác, mà chỉ ở nơi vọng niệm đang dâng trào, biết dùng cơ dụng chặt đứt dòng ý thức, lập tức quét sạch nó đi!”. ● 截 流 之 作. Hành vi cơ dụng chặt đứt dòng chảy của ý thức. Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q. 10 ghi: “太 傅 若 也 不 吝、則 顯 截 流 之 作 也。 – Nếu Thái Phó không phải là kẻ keo kiệt, thì hãy biểu lộ hành vi cơ dụng chặt đứt dòng chảy của ý thức”. ● 截 生 死 流. Chặt đứt dòng chảy luân hồi sinh tử, tức là siêu việt sinh tử luân hồi. Nhà thiền cho rằng đây là việc bản phận của người tu thiền, là mục đích của việc tham thiền, cảnh giới của diệu ngộ. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “但 以 上 無 攀 仰 下 絕 己 躬。自 然 常 光 見 前。箇 箇 壁 立 千 仞。還 辯 明 得 也 無。未 辯 辯 取。未 明 明 取。既 辯 明 得 能 截 生 死 流。同 踞 祖 佛 位。妙 圓 超 悟 正 在 此 時。 – Chỉ cần trên không dựa vào bậc tôn kính, dưới không tự khi mình thì tự nhiên Phật tính hiện tiền, mỗi mỗi như vách đứng ngàn trượng, có biện minh được hay không? Chưa biện thì hãy biện, chưa minh thì hãy minh đi! Đã biện được là có khả năng chặt đứt dòng chảy luân hồi sinh tử, cùng ngồi vào địa vị của Phật Tổ, diệu viên siêu ngộ chính là ở lúc này”. ● 消、銷. Hưởng dụng. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung: “有 人 跳 得 出。日 銷 萬 兩 黃 金。若 跳 不 出。有 處 著 脅 在。 – Người nào nhảy qua được, mỗi ngày hưởng dụng muôn lượng vàng ròng. Nếu nhảy chẳng qua thì có chỗ cho ngươi ở ư!”. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “瞎 漢 枉 消 他 十 方 信 施。道 我 是 出 家 兒。作 如 是 見 解。 – Đồ mù, luống hưởng dụng tín thí mười phương, nói rằng ta là kẻ xuất gia, khởi lên kiến giải như thế. “ ● 消 遙 湯. Nước tiêu dao. Tiêu dao là một thuật ngữ trong thiên “Tiêu dao du” trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử, ám chỉ con người vươn mình ra vũ trụ, rong chơi nhàn hạ, mọi quan niệm về không gian và thời gian đều trở nên tương đối. Thiền Tông mượn dùng để chỉ một thứ nước giúp con người giải cơn khát trần tục. Bài Phóng Cuồng Ca trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục có ghi: 倦 小 憩 兮 歡 喜 地、渴 飽 啜 兮 逍 遙 湯 “Quyện tiểu khệ hề hoan hỷ địa Khát bão xuyết hề tiêu dao thang”. “Mệt thì nghỉ tạm chừ đất hoan hỷ Khát thì uống no chừ nước tiêu dao”. ● 蕭 皇. Còn gọi: Tiêu Diễn. Vị hoàng đế họ Tiêu. Chỉ cho vua Lương Võ Đế, vì ông họ Tiêu tên Diễn. Hội thứ 9 Cư Trần Lạc Đạo Phú của Trần Nhân Tông ghi: 㐱 舍 吶 自 〖⿰婁車〗 馬 祖 乙 㐌 涓 課 〖⿰畧車〗 蕭 皇 “Chỉn xá nói từ sau Mã Tổ, ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng”. ● 蕭 山寺. Còn gọi: Chùa Thiền Tâm, chùa Trường Liêu. Chùa ở xã Tương Giang, huyện Tiêu Sơn, tỉnh Hà Bắc, Việt Nam, cách Hà Nội gần 20km về hướng đông bắc. Tương truyền trong công cuộc lấy ngôi nhà Lê, Lý Công Uẩn bảo sư Vạn Hạnh ẩn náu tại chùa này. Hiện nay nơi đây còn thờ Thiền Sư Vạn Hạnh. ● 消 息. Tin tức sắp kiến tính. Tiết Triệu Biện Thanh Hiến trong NĐHN ghi 腰 佩 黃 金 已 退 藏 箇 中 消 息 也 尋 常 世 人 欲 識 高 齋 老 祇 是 柯 村 趙 四 郎 Yêu bội hoàng kim dĩ thối tàng Cá trung tiêu tức dã tầm thường Thế nhân dục thức Cao Tề lão Chỉ thị Kha thôn Triệu tứ lang”. “Lưng mang vàng nén về ẩn thân Trong đây tin tức cũng bình thường Ai kia muốn biết Cao Tề lão, ở thôn Kha ấy Triệu tứ lang”. ● 笑 隠 大 訢 禪 師 語 錄. Còn gọi: Quảng Trí Toàn Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 4 quyển, do Tiếu ẩn Đại Hân soạn vào đời Nguyên, các vị Diên Tuấn, Huệ Đàm biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 201. Nội dung thu thập Ngữ Lục của sư Đại Hân ở các nơi: Điểu Hồi Thiền Tự, Thiền Tông Đại Báo Ân Quốc Tự, Trung Thiên Trúc Thiền Tự và Chân tán, Kệ tụng, lời tựa của Nguyệt Giang Hòa Thượng Ngữ Lục, lời tựa Chứng Đạo Ca, bình luận Trung Phong Hòa Thượng Ngữ Lục. ● 笑 具. Chuyện cười, chuyện khôi hài. Bài thơ “Tam cú” của Sở Viên Từ Minh Thiền Sư trong KTTQTĐL q. 29 ghi: “第 三 句、維 那 是 疾 文 殊 去。對 談 一 默 振 乾 坤、直 至 而 今 作 笑 具。 – Câu thứ ba, Duy Na bệnh nặng, Văn Thù đến thăm. Hai bên bàn luận, một phen im lặng chấn động đất trời, cho đến hôm nay trở thành chuyện cười. “ ● 笑 軒. Hiệu của thiền tăng Cảnh Hiến sống vào đời cuối Nguyên đầu Minh. X. Cảnh Hiến. ● 笑 巖. Hiệu của thiền tăng Đức Bảo sống vào đời Minh. X. Đức Bảo. ● 笑 翁. Hiệu của thiền tăng Diệu Kham sống vào đời Tống. X. Diệu Kham. ● 小 朗 禪 師. Thiền tăng Chấn Lãng đời Đường được người đời gọi là Tiểu lãng thiền sư. X. Chấn Lãng ● 小 南. Thiền tăng Hệ Nam đời Tống còn được gọi là Tiểu Nam, để phân biệt với Hoàng Long Huệ Nam. ● 小 宜. Tiểu tiện. Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “大 宜 東 北 角、小 宜 僧 堂 後。 – Đại tiện thì đến góc đông bắc, tiểu tiện thì ra mé sau tăng đường. “ ● 小 盡. Tháng thiếu âm lịch. Tông Môn Võ Khố ghi: “天 是 天 地 是 地。山 是 山 水 是 水。僧 是 僧 俗 是 俗。大 盡 三 十 日 小 盡 二 十 九。 – Trời là trời, đất là đất, núi là núi, sông là sông, tăng là tăng, tục là tục, tháng đủ là ba mươi ngày, tháng thiếu thì hai mươi chíng ngày. “ ● 小 參. Thời thuyết pháp, tham vấn ngoài thời gian đã được quy định trong các tự viện Thiền Tông. Về quy mô thì tiểu tham nhỏ hơn nghi thức Thượng đường. Tông Môn Võ Khố ghi: “眞 淨 和 尚 退 洞 山、游 浙 至 滁 州 琅 琊 起 和 尚 處、因 眾 請 小 參、眞 淨 貶 剝 諸 方 異 見 邪 解、無 所 忌 憚. – Hòa Thượng Chân Tịnh rời khỏi Động Sơn, đi từ Chiết Giang đến chỗ của Hòa Thượng Lang Da Khởi ở Trừ Châu. Nhân đại chúng thỉnh tiểu tham, Chân Tịnh không biết kiêng sợ chê bai thiền sư các nơi khác là dị kiến tà giải”. ● 信 學 (?-1190). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Đạo Huệ. Sư họ Tô, quê ở làng Chu Minh, phủ Thiên Đức, miền Bắc Việt Nam. Gia đình chuyên nghề khắc bản kinh. Thuở nhỏ sư theo học bởi thầy Thành Giới, không thích giao du. Năm 32 tuổi, sư thọ giáo nơi thiền sư Đạo Huệ ở núi Tiên Du. Sư hầu thầy được 3 năm, nhận sâu ý chỉ Thiền và nối pháp ngài. Sư chống gậy du phương, đến chùa Quán Đảnh núi Không Lộ huyện Thạch Thất, Sơn Tây dừng lại trụ trì. Sư chuyên tu tam quán theo trong kinh Viên Giác, ngày chỉ ăn một bữa, đến nỗi hình dung tiều tụy, trải nhiều năm như thế mà chẳng thối chí. Do đây thâm đắc chính định tam quán. Công khanh sĩ thứ ngưỡng mộ đến học rất đông. Kệ thị tịch: 山 林 虎 豹。橫 文 班 駁 若 欲 甄 別。子 啐 母 啄 “Sơn lâm hổ báo Hoành văn ban bác Nhược dục chân biệt Tử thốt mẫu trác”. “Núi rừng cọp beo Vằn vện lẫn lộn Nếu muốn phân rành Con kêu, mẹ mổ”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 信 心 銘. Thi ca, 1 thiên, do Tam Tổ Thiền Tông là Tăng Xán soạn, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 376. Toàn văn gồm 146 câu, 584 chữ, làm theo thể thơ tứ ngôn. Nội dung ca tụng cảnh giới Tín tâm bất nhị, Bất nhị tín tâm, nhấn mạnh chỗ xa lìa tất cả vọng niệm đối lập sai biệt, phải trái được mất, chính là chỗ bình đẳng tự tại. Tác giả đề xướng tư tưởng Hoa Nghiêm “Nhất tức nhất thiết, tương hỗ dung thông”. Thiên này cùng với “Tâm Vương Minh” của Phó Đại sĩ, “Tâm Minh” của Pháp Dung, Tổ tông Ngưu Đầu, đại ý gần giống nhau. Thiên sách này có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành tư tưởng Thiền Tông vào thời kỳ đầu. Sách chú thích về thiên này có: -Tín Tâm Minh Niêm Cổ của Thanh Liễu. -Tín Tâm Minh Nghĩa Giải của Minh Bản. ● 信 識 深 明. Tin sâu hiểu rõ. Thượng sĩ hành trạng trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: “其 談 玄 說 妙、明 月 風 清、當 時 諸 方 碩 德、咸 謂 上 士 信 識 深 明、逆 行 順 行、實 爲 難 測。 – Ngài bàn huyền nói diệu như gió mát trăng thanh, những hàng thạc đức đương thời đều bảo Thượng sĩ tin sâu hiểu rõ, thuận hạnh nghịch hạnh thật khó lường được”. ● 精 藍. Chùa Phật. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “今 日 四 月 八、我 佛 降 生 之 日、天 下 精 藍、皆 悉 浴 佛。 – Hôm nay là ngày mồng 8 tháng 4, là ngày đức Phật giáng sinh, các chùa Phật khắp nơi đều tổ chức lễ tắm Phật”. ● 精 彩. 1. Tinh thần, phong thái. Tiết Hoa Đình Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “觀 師 精 彩、甚 是 其 器、奈 緣 不 遇 其 人! – Xem phong thái của sư thật là người có đức độ tài năng, duyên do nào mà không gặp được người đó!” ● 2. Xuất sắc. TĐT q. 10 ghi: “何 不 抖 擻 眉 毛、著 些 子 精 彩 耶? – Sao chẳng phấn chấn lên để xuất sắc hơn một chút?”. ● 精 峭. Xuất sắc, lạ lùng. Tiết Bảo Phong Chuẩn Thiền Sư trong TBCTT q. 2 ghi: “四 百 人 盡 是 精 峭 衲 子。 – Bốn trăm người đều là những vị thiền tăng xuất sắc”. ● 性 音 (?-1726). Thiền tăng đời Thanh, tự Ca Lăng, hiệu Xuy Dư, người Trầm Dương Trung Quốc. Thuở nhỏ sư học Nho giáo chuyên về thuyết tính lý. Năm 24 tuổi theo Tỳ Lô Chân Nhất ở Cao Dương xuất gia, lại đến chùa Lý An tham kiến Mộng Am Siêu Cách đắc pháp. Ban đầu sư hoằng pháp nơi chùa Đại Thiên Phật ở Kinh Tây, chẳng bao lâu dời sang chùa Lý An, Quy Tông, Đại Giác. Niên hiệu Ung Chính thứ 1 (1723) sư từ chối các việc để nam du. Năm thứ 4 (1726) sư thị tịch nơi chùa Quy Tông. Thụy “Viên Thông Diệu Trí Thiền Sư”. Tác Phẩm: Tông Giám Pháp Lâm, Tông Thống Nhất Ty. Tạp Độc Hải và Ngữ Lục, Ngữ Yếu hơn 100 quyển. ● 性 機 (1609-1681). Thiền tăng đời Thanh, họ Trịnh, tự Huệ Lâm, người Phúc Thanh (Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư là người thông minh tài giỏi, xem công danh như mây bay, tâm mộ Phật pháp. Lúc 40 sư tuổi theo Hủy Công chùa Kỳ Viên xuất gia. Đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 6 (1649) sư lên núi Hoàng Bá tham kiến ẩn Nguyên Long Kỳ, sư được đề bạt giữ chức Ký sư. Năm thứ 11 (1654) sư theo ẩn Nguyên sang Nhật Bản, lần lượt giữ chức Ký thất, Duy Na các chùa Đông Minh, Thánh Thọ, Phổ Môn. Nhật Bản niên hiệu Khoan Văn (1661-1673) sư trụ trì chùa Phất Nhật. Niên hiệu Diên Bảo thứ 8 (1680) sư trụ trì chùa Vạn Phúc làm Tổ đời thứ ba. Về sau già yếu bệnh tật tự biết không còn sống bao lâu, bèn xây dựng Viện Long Hưng để dưỡng già và mở hội truyền giới, người đến thụ giới hơn 500 người. Tác phẩm: Nhị Hội Ngữ Lục, Thương Lãng Tập, Da Sơn Tập. ● 性 易 (1596-1672). Thiền tăng đời Thanh, họ Đái, tự Độc Lập, người Nhân Hòa (Hàng Châu) Trung Quốc. Lúc 25 tuổi nhân tị nạn chiến tranh mà sư đi du phương các nơi. Khi 50 tuổi sư đi sang Nhật Bản. Đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) ẩn Nguyên Long Kỳ đến Nhật Bản đạo pháp vang dội, sư đến tham kiến ẩn Nguyên được thế độ, đặt pháp danh Tính Dị, hiệu “Thiên hạ nhất nhàn nhân”. Nhật Bản, niên hiệu Minh Lịch thứ 1 (1655) theo ẩn Nguyên đến chùa Phổ Môn ở Nhiếp Tân giữ chức Thư ký. Nhật Bản, niên hiệu Khoan Văn thứ 5 (1665), Tức Phi Như Nhất khai sáng chùa Phúc Tụ ở Phong Tiền, sư đến trợ giúp hoằng hóa. Về sau muốn tái tham ẩn Nguyên, bởi trên đường đi bị bệnh nên trở về chùa Phúc Tụ. Sư giỏi thơ văn, khéo thư pháp, thông y thuật. Tác phẩm: Lưu Khấu Biên Niên Lục, Hữu Tiều Biệt Tự Ký, Tựu Am Độc Ngữ, Đông Hĩ Ngâm. ● 併 叠. Sửa sang, thu thập. Tông Môn Võ Khố ghi: “葉 縣 省 和 尚 嚴 冷 枯 淡、衲 子 敬 畏 之。浮 山 遠、天 衣 懷 在 眾 時、特 往 參 扣。正 值 雪 寒、省 訶 罵 驅 逐、以 至 將 水 潑 旦 過、衣 服 皆 濕。其 他 僧 皆 怒 而 去、惟 遠、懷 併 叠 敷 具、整 衣、復 坐 於 旦 過 中。 – Hòa Thượng Diệp Huyện Tỉnh tính tình nghiêm khắc khô khan, thiền tăng đều kính sợ. Hai vị Phù Sơn Viễn và Thiên Y Hoài lúc còn ở chúng có đến thưa hỏi Ngài về đạo Thiền. Gặp lúc tuyết rơi trời lạnh, Tỉnh quở trách xua đuổi đến nỗi lấy nước dội vào phòng trọ, khiến cho y phục của họ đều ướt sũng. Các vị tăng khác thảy đều nổi giận bỏ đi, chỉ có Viễn và Hoài thu thập tọa cụ, sửa sang áo xống ở lại phòng trọ”. ● 性 珽 (1598-1651). Thiền tăng đời cuối Minh đầu Thanh, họ Trần, tự Tượng Nhai, người Phúc Thanh (Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư từng đi chơi chùa Ngô Sơn nghe tụng “Thiền Tông Chính Mạch” mà ôm ấp chí xuất gia. Đến Trường Lạc (Phúc Kiến) theo Thiền Sư Thường Hi Phúc xuất gia. Năm 19 tuổi thọ nghiệp với Pháp sư Khắc Dung núi Bách Trượng. Lần lượt tham vấn các sư Vô Dị Nguyên Lai, Mật Vân Viên Ngộ. Lại đến Đông Tháp tham kiến Phá Sơn Hải Minh nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Lần lượt trụ trì Long Phan Thiền tự, Ngọc Phong Thiền Tự, Hoa Nghiêm Thiền tự ở huyện Ba (Tứ Xuyên). Tác phẩm: Tượng Nhai Đĩnh Thiền Sư Ngữ Lục 4 quyển. Sau khi sư tịch, Đạo Trí soạn hành trạng, Trần Bảo Thược soạn tháp minh. ● 性 潡 (1633-1695). Thiền tăng đời Thanh, họ Lâm, tự Cao Tuyền, hiệu Vân Ngoại, còn gọi là Đàm Hoa Đạo Nhân, người Phúc Thanh (Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 13 tuổi xuất gia, lên núi Hoàng Bá theo Thiền Sư Huệ Môn Như Bái nối pháp. Niên hiệu Thuận Trị thứ 18 (1661) sư vâng lời ẩn Nguyên Long Kỳ sang Nhật Bản, vào chùa Vạn Phúc ở Vũ Trị; chưa bao lâu, sư lại trụ trì chùa Pháp Vân ở Áo Châu và quản lý chùa Phật Nhật ở Nhiếp Tân, trùng hưng chùa Hiến Châu ở Gia Hạ, được Phiên Chủ Tiền Điền quy y. Về sau trở về Vũ Trị nhiều lần vào cung thuyết pháp. Nhật Bản, niên hiệu Diên Bảo thứ 3 (1675) sư soạn “Phù Tang Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện” 10 quyển. Năm sau lại biên tập “Đông Quốc Cao Tăng truyện” 10 quyển. Niên hiệu Nguyên Lộc thứ 5 (1692) kế thừa làm pháp tịch đời thứ 5 núi Hoàng Bá. Thụy là “Đại Viên Quảng Huệ Quốc Sư”, “Phật Trí Thường Chiếu Quốc Sư”. Hậu thế tôn xưng là Tổ trung hưng phái Hoàng Bá. Tác phẩm: Tẩy Vân Tập 10 quyển, Phật Quốc Cao Tuyền Thiền Sư Ngữ Lục 8 quyển, Sơn Đường Thanh Thoại 3 quyển, Đông Độ Chư Tổ truyện 1 quyển, Pháp Hoa Lược Tập 1 quyển, Hàn Mặc Thiền 1 quyển, Cao Tuyền Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển, Thích Môn Hiếu truyện 1 quyển. ● 併 當. Trừ bỏ, quét sạch. Tiết Ngũ Chi dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 2 ghi: “於 六 根 門 頭 刮 削 併 當 貪 愛。 – ở nơi cửa sáu căn nạo gọt, quét sạch tham ái”. ● 性 空 大 師. 1. Thụy hiệu của Thiền tăng Hoàn Trung, đời Đường. X. Hoàn Trung. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Chính Nguyên, đời Đường. X. Chính Nguyên ● 併 卻. Trừ bỏ, trừ sạch. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “從 前 所 有 一 切 解 處、盡 須 併 卻 令 空、更 無 分 別、即 是 空 如 來 藏。 – Tất cả chỗ hiểu biết có sẵn từ trước, thảy đều trừ sạch, ngay cái không cũng không còn phân biệt, tức là Không Như Lai Tạng”. ● 性 瑩 (1628-1706). Thiền tăng đời Thanh, họ Trần, tự Độc Trạm, người Bồ Điền (Phúc Kiến) Trung Quốc. Gia thế theo Nho học, sư một mình tụng Bát Nhã Tâm kinh mỗi ngày, mọi người trong nhà gọi là “Hòa Thượng tử”. Mẹ mất, sư vào chùa Tích Vân xuất gia, đọc các Ngữ Lục chư Tổ mới biết yếu chỉ tọa thiền. Niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) sư theo ẩn Nguyên Long Kỳ sang Nhật Bản. Nhật Bản, niên hiệu Khoan Văn thứ 4 (1664) sáng lập chùa Bảo Lâm trụ trì 18 năm, người hỏi đạo rất đông. Niên hiệu Thiên Hòa thứ 2 (1682) sư vâng mệnh thống lãnh phái Hoàng Bá. Niên hiệu Nguyên Lộc thứ 5 (1692) lui về ở ẩn. Tác phẩm: Ngữ Lục, 30 quyển. ● 性 派 (1631-16992). Thiền tăng đời Thanh, họ Lâm, tự Nam Nguyên, người Phúc Thanh (Phúc Kiến) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư vào cửa Vô Tịnh Chương Công núi Hoàng Bá làm Sa di, lại tham kiến Thiền Sư ẩn Nguyên Long Kỳ theo hầu nhiều năm. Đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) theo ẩn Nguyên sang Nhật Bản. Nhật Bản, niên hiệu Khoan Văn thứ 8 (1668) sau khai sáng Viện Hoa Tạng sát bên núi Hoàng Bá, xây cất Từ Quang Đường. Năm thứ 11 (1671) ẩn Nguyên âm thầm phó chúc kệ tụng, phất tử cho sư. Niên hiệu Diên Bảo thứ 1 (1673) ẩn Nguyên tịch, sư biên tập Quảng Lục và niên phổ cho Thầy mình. Niên hiệu Nguyên Lộc thứ 1 (1688) sư trùng hưng Đại Phật điện trong chùa Đông Đại, mở hội Thiên Tăng rồi giữ chức Pháp hội Đại sư. Năm thứ 5 (1692) trở về núi Hoàng Bá ẩn cư tại hiên Cao Thọ. Tác phẩm: Giám Cổ Lục 30 quyển, Chi Lâm Tập 24 quyển. ● 性 獅 (1624-1688). Thiền tăng đời Thanh, họ Chu, tự Độc Hống, người Phúc Châu, Trung Quốc. Thuở nhỏ sư theo hầu Vân Gian Hoằng Công chùa Gia Phúc. Năm 20 tuổi cùng Vân Giản đến núi Hoàng Bá tham kiến ẩn Nguyên Long Kỳ. Đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) sư theo ẩn Nguyên sang Nhật Bản, lại theo ẩn Nguyên dời sang trụ chùa Vạn Phúc ở Vũ Trị, sư được tuyển đảm nhiệm chức Đường ty. Chẳng bao lâu được cử làm Giám viện, ngày đêm nhiếp chúng chăm chăm phò giúp giáo hóa. Nhật Bản, niên hiệu Khoan Văn thứ 11 (1671) ở núi Ngũ Vân xây cất viện Hán Tùng. Trước khi thị tịch sư để lại bài kệ: “Ta là Hống Tỳ kheo , phò Thầy chấn tông phong, hóa duyên nay đã mãn, an nhiên siêu hư không”. Tác phẩm: Ngũ Vân Biệt Tập 4 quyển. ● 性 瑫 (1611-1684). Thiền tăng đời Thanh, họ Ngô, tự Mộc Am, người Tấn Giang (Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư bẩm tính thông minh hơn người, 10 tuổi đã có chí xuất gia, 19 tuổi đến chùa Khai Nguyên được Thiền Sư ấn Minh Hòa cạo tóc, Đời Minh, niên hiệu Sùng Trinh thứ 8 (1635) sư theo Cổ Sơn Nguyên Hiền thụ giới cụ túc. Sau đó du phương chùa Tiếp Đãi ở Hàng Châu yết kiến Tuyết Quan tham vấn thiền yếu, sư còn lên núi Thiên Đồng tham yết Mật Vân. Đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 4 (1647) sư ẩn cư tại Tử Vân. Năm sau sư đến núi Hoàng Bá tham kiến ẩn Nguyên Long Kỳ. Mùa đông năm thứ 11 (1654) sư hoằng pháp nơi chùa Huệ Minh ở Tượng Sơn, Vĩnh Xuân (Phúc Kiến). Năm thứ 12 (1655) sư sang Nhật Bản ngụ tại chùa Tung Phúc ở Trường Kỳ, rồi vào núi Hoàng Bá ở Sơn Thành, kế thừa ẩn Nguyên làm pháp tịch đời thứ hai núi Hoàng Bá. Nhật Bản, niên hiệu Diên Bảo thứ 2 (1674) một lần nữa trụ trì chùa Thụy Thánh ở Giang Hộ, mở Tam Đàn Đại Giới, người đến thọ rất đông. Năm thứ 8 (1680) vào mùa Xuân sư lui về ở ẩn Viện Tử Vân. Từng làm Thủy tổ khai sơn chùa Tượng Sơn ở Tín Châu, chùa Thiên Niên ở Tác Châu, chùa Cao Thắng ở Đậu Châu, chùa Vĩnh Phúc ở Sâm Châu, Nhật Bản. Tháng giêng niên hiệu Trinh Hưởng thứ 1 (1684) sư triệu thỉnh Nam Nhạc Tông Công phó chúc hậu sự rồi thản nhiên thị tịch. Tác phẩm: Quảng Lục 30 quyển, Hoàng Bá Mộc Am Thiền Sư Ngữ Lục 10 quyển, Mộc Am Thiền Sư Đông Lai Ngữ Lục 7 quyển, Tử Vân Sơn Thảo 1 quyển, Tượng Sơn Ngữ Lục 1 quyển, Tử Vân Khai Sĩ Truyện 1 quyển. ● 性 聰 (1610-1666). Thiền tăng đời Thanh, Trung Quốc, họ Liên, tự Hám Phác, vua Thế Tổ ban hiệu “Minh Giác”. Năm 15 tuổi sư xuất gia nơi chùa Thiên Vương, trước sau tham phỏng Bản Huy núi Chi Đề, Đại Vân núi Phổ Đà, Mặc Uyên núi Vũ Lâm, Nguyên Hiền ở Vĩnh Giác, Nhĩ Mật ở Đông Sơn, Ngư Đàm ở Ôn Châu, sau đó đến chùa Thái Bình ở Hàng Châu tham kiến Bách Si Hạnh Nguyên, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Lần lượt trụ trì chùa Quán Âm, chùa Pháp Hỉ, viện Quảng Phúc ở Hàng Châu; chùa Hải Hội, chùa Diên Thọ ở Thuận Thiên (Bắc Kinh); chùa An Quốc ở Thiệu Vũ (Phúc Kiến), Mẫn Trung Thiền Tự ở Thuận Thiên. Đệ tử nối pháp hơn 20 người. Tác phẩm: Minh Giác Thông Thiền Sư Ngữ Lục 16 quyển. ● 性 聰 覺 悟 (1755-1842). Thiền tăng đời cuối Lê đầu Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 39, nối pháp Hòa Thượng Đạo Dụng Đức Quảng. Sư họ Nguyễn tên Giác Ngộ, hiệu Sơn Nhân, quê ở phủ Gia Định, miền Nam Việt Nam. Sư trụ trì chùa Bát Nhã ở Long Sơn, là người tịnh tâm tu luyện, tịch cốc hơn 40 năm, được vua Minh Mạng phong chức Tăng cang. Sư là người cống hiến nhiều công sức trong việc khắc in kinh sách vào thời đó: Kinh Vô Lượng Nghĩa do thiền sư Toàn Nhựt Quang Đài in lại năm Kỷ Sửu (1829). Hứa Sử Vãn truyện là tập thơ chữ nôm gồm hơn 4. 000 câu thơ, Thiền Sư Toàn Nhựt san bổ và khắc in. Đệ tử của sư có nhiều vị nổi danh, trong đó có 3 vị thiền sư: Bảo Thanh, Bảo Tạng, Bảo Chân có nhiều đóng góp trong việc hoằng dương Phật pháp ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 性 統. Thiền tăng đời Thanh, họ Long, hiệu Biệt Am, người An Nhạc (Tứ Xuyên) Trung Quốc. Năm 11 tuổi mất cha, sư theo Tam Sơn Đăng Lai xuất gia; sau khi thụ giới cụ túc, sư yết kiến Hành Sơn Đăng Bỉnh. Sau đó trở về Đăng Lai nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Niên hiệu Khang Hy thứ 24 (1685) Tam Sơn thị tịch, sư kế thừa pháp tịch. Năm sau du Giang Nam, trụ chùa Thiên Đồng, Phổ Đà. Năm thứ 28 (1689) sư kiêm trụ trì chùa Vĩnh Thọ ở Đông Viên, Vũ Lâm. Năm thứ 30 (1691) biên tập Tục Đăng Chính Thống 42 quyển, lại biên tập Phổ Đà Biệt Am Thiền Sư Đồng Môn Lục 3 quyển. ● 性 靜 (1692-1773). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 38, nối pháp Thiền Sư Như Hiện. Sư họ Trần, quê ở Đông Khê, miền Bắc Việt Nam. Sau, sư kế thừa trụ trì ở chùa Nguyệt Quang, giáo hóa thịnh hành làm rỡ ràng cho tông môn Lâm Tế. Sư chỉ chuyên tịnh nhất tâm, mà đã xây dựng lại được các ngôi cổ tự, nào Long Động, Phúc Quang, Quỳnh Lâm. Sư đã từng làm Hòa Thượng Đàn đầu cho 8, 9 giới đàn. Đệ tử lớn của sư có đến 20 vị Đại đức trụ trì. Sư hằng giữ luật để bỏ trần về giác, chuyên trì kinh Lăng Nghiêm để thấy tính sáng tâm. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 性 泉 (1674-1744). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 39, nối pháp Thiền Sư Kim Quang Đoan. Sư họ Huỳnh, quê ở Đa Nhất, Võ Tiên, tỉnh Nam Định, miền Bắc Việt Nam. Năm 12 tuổi, sư đến chùa Liên Tông đảnh lễ Thượng sĩ xin thế phát xuất gia, thọ thập giới. ở đây 6 năm, sư chuyên cần học tập, siêng năng hầu hạ không lúc nào bê trễ. Khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740), theo lời khuyên của Thượng sĩ, sư trèo non vuợt biển chừng sáu tháng đến núi Đảnh Hồ ở Quảng Châu Trung Hoa, thọ giáo với Hòa Thượng Kim Quang Đoan ở chùa Khánh Vân Đại Thiền. Sư ở đây 3 năm, vừa công tác vừa tu niệm và gắng sức học tập. Năm 25 tuổi sư thụ giới Tỳ kheo , Bồ Tát. ở Trung Hoa 6 năm, sư xin phép trở về cố quốc. Khi về, sư thỉnh được 300 bộ kinh luật luận, cả thảy hơn 1. 000 quyển. Sư chở ba tạng kinh để ở chùa Càn An. Tăng ni trong nước đua nhau đến thỉnh sư truyền giới lại. Sư là người mở đầu hoằng dương luật Tứ Phần. Từ đây Phật giáo nước nhà được trùng hưng rạng rỡ. Kệ thị tịch: 至 道 無 言、入 不 二 門 法 門 無 量、誰 是 後 昆 “Chí đạo vô ngôn Nhập bất nhị môn Pháp môn vô lượng Thùy thị hậu côn”. “Đạo cả không lời Vào cửa chẳng hai Pháp môn vô lượng Ai là kẻ sau”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 情 解. Tục tình vọng giải. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “參 得 透 見 得 徹。自 然 如 醍 醐 上 味 相 似。若 是 情 解 未 忘。便 見 七 花 八 裂。決 定 不 能 會 如 此 說 話。 – Nếu tham thấu, thấy triệt, tự nhiên giống như ăn vị ngon đề hồ, còn nếu như tình giải chưa dứt liền thấy tinh thần rối loạn, quyết định chẳng thể biết nói như thế”. ● 情 見. Tục tình vọng kiến. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “竇 恐 怕 人 逐 情 見。所 以 撥 轉 關 捩 子。出 自 己 見 解 云:休 相 憶。清 風 匝 地 有 何 極。 – Tuyết Đậu sợ người ta chạy theo tình kiến vì thế rút hẳn chốt cửa, bày kiến giải của mình, nói: Thôi nhớ nhau, gió mát khắp nơi bao giờ ngưng”. ● 情 念. Tục tình vọng niệm. Tiết Bạch Dương Pháp Thuận Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “道 念 若 同 情 念、成 佛 多 時。爲 眾 一 似 爲 己、彼 此 事 辦。 – Nếu đạo niệm giống như tình niệm thì thành Phật không khó; vì mọi người cũng như vì mình thì đâu còn kia đây”. ● 情 識. Tục tình vọng thức. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “諸 方 陞 堂 入 室。說 箇 什 麼。盡 是 情 識 計 較。 – Các nơi thăng đường, nhập thất nói cái gì? Đều là đem tình thức để đoán mò”. 情 塵. Bụi nhơ của tục tình. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “無 計 較 情 塵。一 刀 截 斷。洒 洒 落 落。何 必 更 分 是 分 非。辨 得 辨 失。 – Không có những suy tính về tình trần, tất cả đều chặt đứt, sạch trọi trơn. Đâu cần phải phân thị phân phi, biện được biện mất”. ● 情 知. Đoán trước, sớm biết. Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “師 問 長 生:維 摩 觀 佛、前 際 不 來、後 際 不 去。今 則 無 住。汝 作 麼 生 觀?生 曰:放 皎 然 過、有 箇 道 處。師 曰:放 汝 過 作 麼 生 道?生 良 久、師 曰:教 阿 誰 委 悉。生 曰:徒 勞 側 耳。師 曰:情 知 汝 向 鬼 窟 裡 作 活 計。 – Sư hỏi Trường Sinh: Ngài Duy Ma quán tưởng Phật, mé trước không đến, mé sau không đi, hiện tại không dừng trụ. Còn ngươi quán tưởng ra sao? Sinh nói: Xin tha cho Kiểu Nhiên (tên của Trường Sinh Hòa Thượng), còn có chỗ nói. Sư bảo: Tha cho ngươi rồi, ngươi nói ra sao? Sinh lặng lẽ hồi lâu. Sư nói: Bảo người nào biết? Sinh thưa: Luống công lắng nghe. Sư nói: Sớm biết ngươi tìm kế sống trong hang quỷ”. ● 情 思. Dùng tục tình để suy xét. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “到 這 裹。須 是 箇 眞 實 漢。聊 聞 舉 著。徹 骨 徹 髓 見 得 透。且 不 落 情 思 意 想。 – ở đây phải là người chân tham thật chứng, vừa nghe nêu lên liền thấu xương thấu tủy, thấy thấu suốt mà không rơi vào tình tư ý tưởng”. ● 情 想. Đem tục tình để suy xét. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “如 擊 石 火。似 閃 電 光。這 箇 些 子。不 落 心 機 意 識 情 想。等 爾 開 口。堪 作 什 麼。 – Như lửa đá nháng, như ánh điện chớp, chỗ này không rơi vào tâm cơ, ý thức, tình tưởng chờ người mở miệng được sao?”. ● 省 僜. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Mân, Trung Quốc. Sư tham vấn Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp sư ở viện Chiêu Khánh tại Tuyền Châu. Sư giỏi làm thơ, kệ tụng được truyền bá chốn tùng lâm. Thụy hiệu: Tịnh Tu Thiền Sư. ● 省 行. Tên của một cơ sở trong tự viện, nơi an trí các vị tăng nhân bệnh nặng sắp chết. Tiết Long Môn Thanh Viễn Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “師 嘗 題 語 於 龍 門 延 壽 壁 間 曰:佛 許 有 病 者 當 療 治、容 有 將 息 所 也。禪 林 凡 有 數 名、或 曰 涅 槃、見 法 身 常 住、了 法 不 生 也。或 曰 省 行、知 此 違 緣、皆 從 行 苦 也。或 曰 延 壽、欲 得 慧 命、扶 持 色 身 也。其 實 使 人 了 生 死 處 也。多 見 少 覺、微 恙 便 入 此 堂、不 強 支 吾、便 有 補 益。 – Sư từng viết lên vách Diên Thọ Đường chùa Long Môn như sau: Phật cho phép người có bệnh phải trị liệu hoặc có chỗ nghỉ ngơi. Những chỗ nghỉ này trong chùa có vài tên gọi như: Niết Bàn, thấy pháp thân thường trụ, thấu rõ pháp bất sinh; hoặc gọi là Tỉnh hành nghĩa là biết thân này khi các duyên chống trái đều tuân theo hành khổ, hoặc gọi là Diên Thọ, nghĩa là muốn được thân trí huệ nên gìn giữ sắc thân, kỳ thực khiến người thấu rõ chỗ sinh tử, mà kiến giải thì nhiều, giác ngộ lại ít. Người bệnh nhẹ vào nhà này, chẳng ép buộc phải gắng sức, liền có bổ ích. “ ● 省 念 (926-993). Thiền tăng đời Tống, họ Địch, hiệu Thủ Sơn, người Lai Châu (huyện Dịch, Sơn Đông) Trung Quốc. Thuở bé sư xuất gia nơi chùa Nam Thiền, sau khi thụ giới cụ túc sư đi du phương các tùng lâm, thường tu hạnh đầu đà, vì tụng kinh Pháp Hoa mỗi ngày nên người đời gọi là “Niệm Pháp Hoa”. Sau tham kiến Thiền Sư Phong Huyệt Diên Chiểu được tâm truyền nối pháp, làm truyền nhân tông Lâm Tế. Về sau sư khai pháp tại Thủ Sơn Nhữ Châu (Lâm Nhữ, Hà Nam), lại trụ trì viện Quảng Giáo núi Bảo An và viện Bảo ứng ở Thành Hạ (Hà Nam). Khi lâm chung, sư nói kệ: “Thế giới bạch ngân Kim sắc thân Tình với vô tình đều nhất chân Sáng tối hết rồi không soi chiếu Vầng dương sau ngọ thấy toàn thân”. ● 省 徹. Triệt để tỉnh ngộ. Tiết Thạch Đầu Tự Hồi thiền sư trong NĐHN q. 20 ghi: “師 念 念 不 去 心。久 之、因 鑿 石、石 稍 堅、盡 力 一 鎚、瞥 見 火 光、忽 然 省 徹。 – Sư mỗi niệm chẳng rời tâm. Trải qua thời gian lâu, một hôm nhân chẻ đá, đá khá cứng, sư dùng hết sức giáng xuống một búa, chợt thấy toé lửa, bỗng nhiên triệt để tỉnh ngộ. “ ● 靜 照 (1210-1270). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Vô Tượng Tĩnh Chiếu. Niên hiệu Thuần Hựu thứ 12 (1252) sang nhà Tống (Trung Quốc) lên núi Kính Sơn thuộc Dư Hàng, Chiết Giang, tham học chùa Hưng Thánh Vạn Thọ, nối pháp Thiền Sư Thạch Khê Tâm Nguyệt, đời thứ 22 hệ Nam Nhạc, đời thứ 4 tông Lâm Tế Nhật Bản. Niên hiệu Cảnh Định thứ 3 (1262) sau khi trở về nước sư khai sáng chùa Phật Tâm. Tác phẩm có Hưng Thiền Ký. ● 靜 居 寺. ở núi Thanh Nguyên, cách thành phố Kiết An, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc 15km về phía đông nam. Pháp tự của Huệ Năng là Hành Tư nơi núi Thanh Nguyên cất chùa Tĩnh Cư cùng sáng lập một hệ Thiền Thanh Nguyên. Niên hiệu Trị Bình thứ 3 (1066) đời Tống ban tấm biển “An ổn Tự”. Cuối đời Nguyên chùa bị thiêu hủy, cuối đời Minh xây dựng lại thành tùng lâm, đặt lại tên “Tĩnh Cư Tự”, tục gọi “Đại Miếu”. Trên cửa chính có khắc ba chữ “Thanh Nguyên Sơn” do Văn Thiên Tường viết. Trong miếu Thiên vương điện, Đại hùng điện, Tỳ Lô các đứng đối xứng nhau. Trong điện các nhiều văn vật như 4 Đại Kim cang, 18 La hán, Bồ tát Quán Aâm, còn có nồi đồng ngàn người ăn, chuông lớn ngàn cân, lư hương trăm cân. Trên các kiến trúc gỗ của đại miếu điêu khắc chim bay thú chạy sinh động như sống. Các vị cao tăng trụ trì qua nhiều đời có Thanh Nguyên Duy Tín, Bản Tịch Chân Nguyên, Chuyên Ngu Quán Hành, My Am Hành Tú, Tiếu Phong Đại Nhiên. ● 靜 力 (1112-1175). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Đạo Huệ. Sư họ Ngô, tên Trạm, quê ở Cát Lăng, Vũ Bình, miền Bắc Việt Nam. Sư vâng lời thầy lên núi cất một am cỏ tên Vương Trì, làng Cương Việt, Vũ Ninh, rồi trụ trì nơi đây. Trong 12 giờ, sư lễ Phật sám hối, được niệm Phật tam muội Sư thường giảng kinh Viên Giác, nghĩa lý chỗ nào chẳng ổn, đích thân sư cải chính. Bấy giờ sư là người giỏi biện luận, có khả năng sửa chỗ sai lầm của người. Kệ thị tịch: 先 雖 言 吉 後 言 凶 自 是 太 祖 諱 不 從 爲 遇 見 龍 爲 佛 子 忽 遭 鼠 出 寂 無 窮 “Tiên tuy ngôn kiết, hậu ngôn hung Tự thị Thái Tổ húy bất tùng Vi ngộ kiến long vi Phật tử, Hốt tao thử xuất tịch vô cùng”. “Trước tuy nói kiết, sau gọi hung Từ đời Thái Tổ kiêng chẳng tùng Vì thế rồng lên làm Phật tử Chợt trông chuột hiện lặng vô cùng”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 并. Và, cùng, liên từ. Vô Môn Quan ghi: “俱 胝 并 童 子、悟 處 不 在 指 頭 上。若 向 者裡 見 得、天 龍 同 俱 胝 并 童 子、, 與 自 己 一 串 穿 卻。 – Chỗ ngộ của Câu Chi và đồng tử chẳng phải trên ngón tay. Nếu ở nơi đây nhận ra được thì Thiên Long, Câu Chi và đồng tử với chính mình sẽ xỏ cùng một xâu. “ ● 淨 寶 (1609-1675). Thiền tăng đời Thanh, họ Âu Dương, người đời gọi là “Thiên Ngu Tịnh Trụ Thiền Sư”, người xứ Kiến Xương (nay là huyện Vĩnh Tu tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Xuất gia năm 12 tuổi, sư nghe tiếng bảng kêu có chỗ tỉnh ngộ, sư đến Biện Sơn tham yết Cửu Mặc Đại Âm. Sau khi Đại Âm thị tịch, sư đến núi Bảo Thọ yết kiến Thạch Vũ Minh Phương được ấn khả và nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Năm 1656, sư ở Nam Sơn tại Vũ Hàng khai pháp. Sư từng trụ các nơi: Hiển Thánh tại Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang), Hưng Thiện tại Gia Lạc (nay là Gia Hưng tỉnh Chiết Giang), Tử Vân ở Hàng Châu để hoằng dương thiền pháp làm hưng thịnh Thiền Tông. ● 淨 琴. Thiền tăng đời Minh, họ Thái, tự Cổ Cầm, người Kiến Ninh(nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thọ Đường Tùng, làm truyền nhân Tâm Tế, trụ chùa Thụy Nham. ● 淨 照. Hiệu của thiền tăng Huệ Đồng, sống vào đời Ngũ Đại, do Nam Đường Hậu chủ ban cho. X: Huệ Đồng ● 淨 照 禪 師. 1. X: Sùng Tín. ● 2. Hiệu của thiền tăng Đạo Trăn, đời Tống. ● 并 頭. Hết thảy, đồng loạt. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “儞 來 去 爲 阿 誰?對 曰:替 佢 東 西。師 曰:何 不 教 伊 并 投 行。 – Sư bảo: Ngươi tới lui là vì ai? Đáp rằng: Thay y tới lui. Sư bảo: Sao chẳng dạy y cùng đi. ” ● 淨 頭. Còn gọi: Thanh Đầu, Trì Đầu. Trong thiền lâm, đây là chức vụ quét dọn nhà vệ sinh. Người làm nhiệm vụ này là do tự nguyện. Nếu không có người phát tâm, thì mỗi người trong chúng theo giới lạp mà tuần tự làm việc này. Điều Lệ Chức Tạp Vụ, chương Lưỡng Tự trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (Đại 48, 1133 thượng) ghi: “淨 頭、掃 地 裝 香、換 籌 洗 廁、燒 湯 添 水、須 是 及 時。 – Tịnh đầu quét dọn, khử uế, chùi rửa nhà vệ sinh, thêm nước nóng hoặc pha nước lạnh; cần phải làm cho đúng lúc”. ● 淨 地 迷 人. Cõi tịnh làm mê hoặc người. Nghĩa là dù đạt đến cảnh giới thanh thanh tịnh tịnh, song nếu mãi ở trong đó thì bị nó làm mê hoặc. Tắc 46, Thung Dung Lục (Đại 48, 256 trung) ghi: “萬 里 無 寸 草、淨 地 迷 人;八 方 無 片 雲、晴 空 賺 汝。雖 是 以 楔 去 楔、不 妨 拈 空 挂 空、腦 後 一 槌、別 看 方 便! – Muôn dặm không một tấc cỏ, cõi tịnh làm mê hoặc người, tám hướng không một áng mây, trời quang lừa gạt ông. Tuy là lấy nêm để khử nêm, cũng không ngại nắm lấy hư không treo lên hư không, đánh một dùi sau ót, chớ xem là phương tiện”. ● 淨 覺 善 持 (?-1785). Thiền tăng đời Lê trung hưng, húy Tính Ban, hiệu là Mộc Y Sơn Ông, thường được gọi là “Ông Núi” hay “Ông Núi mặc áo vỏ cây” (Mộc Y Sơn Ông), tên là Lê Ban, người Trung Hoa. Năm Nhâm Ngọ (1702) thời chúa Nguyễn Phúc Chu, sư đến núi Linh Phong ở vùng biển Phương Phi, Phương Thái, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, lập am tranh tu hành, đặt tên chùa là Dũng Tuyền. Năm Quý Sửu (1733), chúa Nguyễn Phúc Trú (1726-1738) nghe danh, quý trọng sư là một thiền sư chân chính nên ra lệnh xây cất chùa Dũng Tuyền lại thành một ngôi chùa lớn, đặt tên chùa là “Linh Phong Thiền Tự”, lại ban cho tấm hoành có viết bốn chữ như trên và ban cho câu đối, ban cho sư hiệu “Tịnh Giác Thiện Trì Đại Lão Thiền Sư”. Năm Tân Dậu (1741), chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát sắc triệu sư về đô thành Phú Xuân tham vấn Phật Pháp rồi ban cho sư Ca Sa có móc vàng, vòng ngọc. Sư thị tịch vào thời Tây Sơn, đồ chúng lập tháp thờ ở bên phải chùa Linh Phong. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 淨 戒. 1. Thiền tăng cuối đời Lý (?-1207) tên Chu Hải Ngung, quê Mão Hương, Ngung Giang, Lô Hải (nay thuộc tỉnh Thanh Hoá), miền Bắc Việt Nam. Tính tình thuần hậu, thuở bé theo học Nho. Năm 26 tuổi sư xuất gia, được thụ giới cụ túc và chuyên nghiên cứu về Lục tạng. Trải qua 7 năm tham học sư gặp được Thiền Sư Bảo Giác ở chùa Viên Minh, qua một câu nói, sư liền khế hội, nối pháp Ngài, thuộc đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông. Kệ thị tịch: 此 時 說 道 罕 知 音 只 爲 如 斯 散 道 心 奚 似 子 期 多 爽 滲 聽 來 一 達 伯 牙 琴 八 斗 才 高 對 月 吟 堪 笑 禪 家 癡 鈍 客 爲 何 將 語 以 傳 心 “Thử thời thuyết đạo hãn tri âm Chỉ vị như tư tán đạo tâm Hề tợ Tử Kỳ đa sảng sấm Thính lai nhất đạt Bá Nha cầm Thu lai lương khí sảng hung khâm Bát đấu tài cao đối nguyệt ngâm Kham tiếu thiền gia si độn khách, Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm?”. “Thời nay giảng đạo hiếm tri âm, Chỉ bởi vì người mất đạo tâm Nào khác Tử Kỳ, giỏi nghe nhạc Nghe qua đã suốt Bá Nha đàn Thu về mát mẻ thích trong lòng Tài ngang Tào Thực dưới trăng ngâm Cửa thiền những thẹn người si độn Sao đem lời lẽ để truyền tâm”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 2. Thiền tăng đời Minh, họ Vương, tự Định Nham, hiệu Huyễn Cư, người xứ Nam Tầm (nay là huyện Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư xuất gia ở viện Chủng Phúc rồi đi các chùa: Thiên Trúc, Hổ Bào, Linh Cốc để tham lễ các bậc danh sư. Sau đó, sư nhận chức Tả giác nghĩa ở Tăng lục ty rồi chuyển sang chức Tả giảng kinh. Vua ban cho sư hiệu “Huệ Tế Thiền Sư”. Sư có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 淨 戒 大 師. Hiệu của thiền tăng Nham Tuấn, sống vào đời Ngũ Đại. X: Nham Tuấn. ● 淨 慧 大 師. Hiệu của thiền tăng Văn Ích sống vào đời Ngũ Đại. X: Văn Ích. ● 淨 慧 禪 寺. X: Lục Dung tự. ● 淨 啟 (?-1674). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, người đời gọi là “Diệp Hiệp Tịnh Khải Thiền Sư”, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Gia đình sư 5 đời theo nghiệp Nho, thuở bé sư làm chư sinh. Khi nhà Thanh lên ngôi, sư nương Hòa Thượng Thạch Vũ xuất gia, sau đó tham yết Tam Nghi Minh Vu ở Vân Môn, có chỗ tỉnh ngộ, được nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Sư trụ trì chùa Đa Phúc tại Phụng Sơn Thiều Khê hơn 20 năm, hoằng dương thiền phong. Sư trứ thuật rất phong phú, hay thơ giỏi văn viết chữ khắc dấu cũng khéo. ● 淨 空 (1091-1170). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Đạo Huệ. Sư họ Ngô, quê ở Phúc Xuyên (tức huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay). Ban đầu đến viện Sùng Phúc trong bản châu xuất gia và thụ giới cụ túc. Năm 30 tuổi, sư đi hành cước phương Nam đến chùa Khai quốc, phủ Thiên Đức dừng lại trụ trì. Khoảng 5, 6 năm sư chuyên tu hạnh đầu đà. Ngoài bữa mè, bữa mạch hàng ngày, sư ngồi hoài không ngủ. Mỗi khi sư nhập định đến nhiều ngày mới xuất. Sau đó, sư đến tham vấn Thiền Sư Đạo Huệ ở núi Tiên Du, sư hỏi ngài rằng: ― Nơi này có tông chỉ Thiền Tông chăng? ― Đạo Huệ đáp: ― Nơi đây tông chỉ chẳng phải không, nhưng Xà Lê làm sao đảm nhận? Sư suy nghĩ trả lời. Đạo Huệ nạt: ― Ngay trước mặt đã lầm qua rồi! Sư liền lãnh hội yếu chỉ và ở lại đây hầu hạ thầy 3 năm, nối pháp Đạo Huệ, thuộc đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông. Kệ dạy chúng: 上 無 片 瓦 遮、下 無 卓 錘 地 或 易 服 直 詣、或 策 杖 而 至 轉 動 觸 處 間、似 龍 躍 吞 餌 “Thượng vô phiến ngõa giá Hạ vô trác chùy địa Hoặc dịch phục trực nghệ Hoặc sách trượng nhi chí Chuyển động xúc xứ gian Tợ long dước thôn nhĩ”. “Trên không miếng ngói che Dưới không đất cắm dùi Hoặc đổi áo thẳng đến Hoặc xách trượng mà đi Khoảng chuyển động xúc chạm Tợ rồng vẫy đớp mồi”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 淨 裸 裸. Còn gọi: Xích Lõa Lõa, Xích Sái Sái. Sạch trọi trơn. Chỉ cho buông bỏ mọi việc, thân tâm tự tại, thiên chân sáng chói, không còn mảy may tình trần. Cũng chính là nghĩa: Toàn chân lộ hiện, thoát thể hiện thành, hiện thành công án. Tắc 31, Thung Dung Lục (Đại 48, 248 thượng) ghi: “一 道 神 光(上 柱 天、下 柱 地)、初 不 覆 藏 (淨 裸 裸、赤 灑 灑);超 見 緣 也、是 而 無 是。 – Một luồng ánh sáng linh diệu (Trên chống trời, dưới chỏi đất) Đầu tiên không che đậy (sạch trọi trơn, trần trùng trục), vượt khỏi cái thấy tầm thường, phải mà chẳng phải”. ● 淨 倫 (1427-?). Thiền tăng đời Minh, họ Khang, tự Đại Nguy, hiệu Trúc Thất, người Côn Minh (Vân Nam) Trung Quốc. Niên hiệu Chính Thống thứ 5 (1440) sư xuất gia với Hòa Thượng Vô Cực chùa Phật Nghiêm núi Thái Hoa. Niên hiệu Thiên Thuận thứ 7 (1463) tham kiến Thiền Sư Cô Đình Thiện Kiên ở Phù Sơn được ấn chứng làm truyền nhân tông Lâm Tế. Niên hiệu Thành Hóa thứ 1 (1465) sư xây cất Vạn Phúc Thiền Tự nơi Kinh Đô, tiếng tăm vang dội, đạo phong lẫy lừng. Về già lui về ở Trúc Thất, Tây Hiên, đóng cửa đọc sách. Tác phẩm: Trúc Thất Tập và Ngữ Lục truyền lại đời sau. ● 淨 侶 (1607-1669). Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, người đời gọi Sư là “Bạn Ngã Tịnh Lữ Thiền Sư”, người xứ Đức Thanh Hồ Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Trước khi xuất gia, sư đã từng đến Biện Sơn ra mắt ngài Thụy Bạch Minh Tuyết, có ngộ, Minh Tuyết đặt pháp danh cho sư và tặng kệ rằng: 伴 我 非 他 物、淨 侶 亦 無 人 會 得 箇 中 意、金 魚 壁 上 行 “Bạn ngã (bạn ta) không ai khác Tịnh lữ (bạn tu) cũng không người Hội được ý trong ấy Cá vàng lội trên vách”. Sau đó Minh Tuyết trụ núi Bách Trượng cho đến khi thị tịch, sư theo lời phó chúc lặng lẽ rước khám ngài đến Biện Sơn, rồi sư ở trước khám ngài cạo tóc, thụ giới cụ túc, nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Sau đó, sư kế tục chủ trì pháp hội Biện Sơn ● 淨 悟. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư từng đến núi Bàn Long thuộc Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân tỉnh Giang Tây) theo học với Thiền Sư Khả Văn và nối pháp ngài. Khi ra hoằng pháp sư trụ chùa Vĩnh An ở Lô Sơn, thông kinh điển giỏi văn chương, khéo ngâm thơ, có thi tập lưu hành ở đời. ● 淨 悟 禪 師. Thụy hiệu của thiền tăng Thiện Tĩnh. X: Thiện Tĩnh. ● 淨 人. Người chưa xuất gia làm việc lặt vặt ở trong chùa. Huệ Năng truyện trong TCTT q. 8 ghi: “(弘 忍)曰:汝 作 何 功 德?(慧 能)曰:愿 竭 力 抱 石 而 舂、供 眾 而 已。如 是 勞 乎 井 臼、率 淨 人 而 在 先。 – (Hoằng Nhẫn) hỏi: Ngươi làm công đức gì? (Huệ Năng) đáp: Nguyện hết sức mang đá giã gạo, phục vụ đại chúng mà thôi. Ngài làm việc nặng nhọc như thế bên cái cối, dẫn đầu bọn tịnh nhân”. Theo câu chuyện này, Huệ Năng khi còn ở trong pháp hội của Tổ Hoằng Nhẫn chưa chính thức xuất gia thụ giới, chẳng hạn như trong câu ý nói Huệ Năng cùng bọn tịnh nhân giã gạo. ● 淨 因 寺. ở thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Niên hiệu Hoàng Hựu thứ 1 (1049) đời Tống, Nội thị Lý Doãn Ninh phá bỏ nhà mà xây chùa. Vua Nhân Tông ban cho tấm biển “Thập Phương Tịnh Nhân Tự”. Khi ấy Khai Phong là thủ đô, chỉ tu theo Nam Sơn Luật tông, vì Thiên Thai tông, Thiền Tông chưa hưng thịnh, vua nghe tiếng tăm Cư Nột (Thiền Sư Tổ ấn) bèn mời Cư Nột trụ tích bản tự. Cư Nột cáo bệnh không ra, tiến cử Hoài Liên trụ trì, thiền phong ở Kinh sư hưng thịnh ngay. ● 淨 訥 (1610-1673). Thiền tăng đời Thanh, họ Vương, hiệu Thả Chuyết, người đời gọi là “Vân Tông Tịnh Nột Thiền Sư”, người An Nhân, Hành Châu (Hồ Nam) Trung Quốc. Thuở nhỏ cha mẹ đều mất, vào chùa thấy tượng Phật mà cảm ngộ xuất gia. Năm 26 sư tuổi thụ giới cụ túc tại núi Kinh Tử thuộc Hành Sơn. Lại đến Tịnh Sơn Hồ Châu (Chiết Giang) tham kiến Thụy Bạch Minh Tuyết, ngay dưới lời sư được tỏ ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Ban đầu khai pháp ở núi Đại Nghĩa, sau đáp ứng lời thỉnh của tăng chúng, sư trụ trì Tịnh Sơn. Tác phẩm: Bảo Cảnh Tam Muội Nguyên Tông Biện Mậu Thuyết 1 quyển. ● 淨 瀅 (1612-1672). Thiền tăng đời Thanh, họ Trang, tự Nguyên Khiết, hiệu Mục Đường, người đời gọi là “Nguyên Khiết Tịnh Oánh Thiền Sư”, người xứ Giang Đô (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Xuất gia năm 20 tuổi, qua năm sau sư đến viện Báo Ân ở Hàng Châu ra mắt Thụy Bạch Minh Tuyết. Năm 24 tuổi, sư theo ngài Minh Tuyết dời sang chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai, thụ giới cụ túc, rồi được ấn khả nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Năm 1653, sư trụ chùa A Nậu rồi kế tiếp trụ các chùa: Thượng Phương, Long Hoa, Thê Linh, Vô Trụ, Từ Vân, Vân Môn Hiển Khánh. Thiên Thai Hộ Quốc. Tác phẩm: Nguyên Khiết Oánh Thiền Sư Ngữ Lục 10 quyển. ● 淨 符. Thiền tăng đời Thanh, họ Lưu, hiệu Vị Trung, người xứ Lô Lăng (nay là huyện Cát An tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Ban đầu, sư đến Biện Sơn tham vấn Thụy Bạch Minh Tuyết, chẳng khế hợp. Sư trở về làng, chợt thấy chim bay mỏ ngậm quả lê làm rơi xuống đất, hoát nhiên có ngộ. Sư còn đến núi Bảo Thọ tham vấn Thạch Vũ Minh Phương, trình bày chỗ ngộ của mình với ngài, được ấn khả, nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Năm 1641, do ưa thích vẻ đẹp u nhã của non nước Chiết Giang nên khi ra hoằng pháp sư trụ chùa Bạch Nham ở Tiền Đường; trong khoảng vài năm nơi đây trở thành một đại tòng lâm. Năm 1667, sư soạn “Pháp Môn Sừ Quỹ”. Năm 1672, sư soạn “Tổ Đăng Đại Thống” để tu chính các sai lầm về hệ thống truyền thừa của chư Tổ. Khi 2 quyển sách này ra đời, danh tiếng của sư truyền khắp thiên hạ, thiền tăng bốn phương tìm đến. Sư ở chùa Bạch Nham khai đường thuyết pháp 30 năm, hoằng dương thiền phong, giáo hóa được rất nhiều kẻ mê lầm. Sư truyền pháp cho Hương Mộc Trí Đàn rồi tịch. Tác phẩm: Nhân Thiền Nhãn Mục Khảo 1 quyển, Tụng Cổ Trích Châu 1 quyển, Tông Môn Niêm Cổ Vựng Tập 45 quyển. ● 淨 甫 (? – 1660). Thiền tăng đời Thanh, họ Lữ, người đời gọi sư là “Tam Tật Tịnh Phủ Thiền Sư; người Thiệu Hưng (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Tam Tuyên Minh Vu, làm truyền nhân tông Tào Động, trụ chùa Thanh Lương ở Ngô Hưng (nay là Hồ Châu, Chiết Giang). ● 淨 觀 禪. Thiền của Giáo môn, gồm 3 loại: Chỉ, Quán và Thiền. 1. Sa Ma Tha (Chỉ): Bồ Tát tu pháp cực tịnh, do sức tịnh được dứt hẳn phiền não, thành tựu rốt ráo nên chẳng rời chỗ liền vào Niết Bàn. 2. Tam Ma Bát Đề (Quán): Bồ Tát tu pháp quán như huyễn, dùng sức Phật tính biến hóa thế giới và đủ thứ tác dụng để thực hành diệu hạnh trong sạch của Bồ Tát, nơi pháp tổng trì chẳng lạc mất tịch niệm và tịnh huệ. 3. Thiền Na (Thiền): Bồ Tát chuyên diệt các huyễn, chẳng cần tác dụng mà tự dứt phiền não. Khi phiền não dứt sạch, liền chứng thật tướng. Theo: Kinh Viên Giác. ● 淨 財. Của cải vật chất của thí chủ cúng vào chùa. Động Sơn Ngữ Lục ghi: “有 宮 人 設 齋 施 淨 財、請 師 看 轉 大 藏 經。 – Có một vị quan thiết trai, bố thí tịnh tài, thỉnh sư đọc tụng kinh”. ● 淨 藏 禪 師 塔. Nằm phía tây sơn môn, chùa Hội Thiện, cách trung tâm huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc 6km về phía tây bắc. Thiền Sư Tịnh Tạng tịch tại chùa Hội Thiện vào niên hiệu thiên Bảo thứ 5 (746) đời Đường, xây tháp bên phải chùa. Tháp gạch hình bát giác, một tầng mái chồng, cao 9m. Nền tháp, thân tháp, đỉnh tháp đại thể đều chiếm 1/3. Cửa tháp hình cuốn tò vò, trong cửa xây thất ở giữa hình bát giác. Các mặt thân tháp đều có xây những cửa giả, phần điêu khắc cơ hồ phỏng theo kiểu kết cấu gỗ, đều là thủ pháp đời Đường, là hiện vật tư liệu cung cấp cho việc nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc kết cấu gỗ đời Đường. Tháp đời Đường phần lớn hình vuông, hình bát giác rất ít. Tháp này là tháp hình bát giác có sớm nhất hiện còn ở Trung Quốc. ● 淨 洗 濃 粧. Rửa sạch phấn son. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho phụng vị trong năm vị công huân của Động Sơn. Động Thượng Cổ Triệt, q. thượng (Vạn Tục 125, 358 hạ) ghi: 淨 洗 濃 粧 爲 阿 誰 子 規 聲 裏 勸 人 歸 “Tịnh tẩy nùng trang vi a thùy? Tử quy thinh lý khuyến nhân quy”. “Phấn son rửa sạch là ai? Đỗ quyên khắc khoải gọi người về quê”. ● 淨 禪 (1121-1193). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đời thứ17, nối pháp Thiền Sư Đạo Lâm. Sư họ Phí tên Hoàn, quê ở làng Cổ Giao, quận Long Biên, miền Bắc Việt Nam. Lúc đầu, sư cùng bạn đồng học là Tịnh Không thờ Thiền Sư Đạo Lâm chùa Long Vân làm thầy. Hàng ngày hai người cùng dùi mài nghiên cứu đạt đến huyền chỉ Thiền Tông. Đạo Lâm biết sư là pháp khí, ban cho pháp hiệu là Tịnh Thiền và ấn chứng rằng: Tịnh là trí tịnh tròn mầu, Thiền là tâm thiền lặng lẽ. Và sư nối pháp ngài Đạo Lâm qua đời, sư mới dạo khắp các thiền hội, tìm bạn đạo và học hỏi thêm. Đạo duyên thuần thục, sư về quê nhà trùng tu ngôi chùa Long Hoa rồi trụ trì tại đây. Văn bia nơi tháp sư: “Sư sinh đồng thời họ Lý trị đời Sáu độ đâu quên, tứ hoằng nào bỏ Chỗ uống trà là chỗ thập phương thí chủ dồn về Khi chống tích bốn bộ học đồ quy tụ Thần thông khó lường, huyền dụng khôn xét Tự chẳng đến trường Phật giác thì đâu thể nêu cao thắng nghiệp Thực là vầng trăng báu trong bầu trời, là hoa pháp của linh hồn xóm làng…” Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 淨 聰 (1591-1647). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Lý, người đời gọi là “Cô Nhai Tịnh Thông Thiền Sư”, người xứ Đức An (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Sư tham vấn ngài Thụy Bạch Minh Tuyết đắc ngộ, nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Sư có phong thái trang nghiêm, từ tâm tiếp vật. Ban đầu sư trụ Lô Sơn, suốt 18 năm chân không bước ra khỏi cổng chùa, hoằng dương thiền phong bằng hết sức mình. Về sau, sư trụ chùa Tân Xương Động Sơn ở Thụy Châu (nay là huyện Cao An, tỉnh Giang Tây). ● 淨 柱 (1601-1654). Thiền tăng cuối đời Minh, đầu đời Thanh, họ Trần, hiệu Viễn Môn, người đời gọi là “Viễn Môn Tịnh Trụ Thiền Sư”, người Long Khê (Phúc Kiến) Trung Quốc. Từ nhỏ sư đã thích Phật điển, không ưa thế tục. Sau khi xuất gia thụ giới cụ túc, nhân đọc Đăng sử có sự cảm ngộ bèn đến chùa Viên Thông yết kiến Giác Lãng Đạo Thạnh, lại đến Thúy Nham tham kiến Ngọ Tinh Tịnh Quýnh có chỗ tỉnh ngộ. Sau đó đến núi Bảo Thọ, Dư Hàng (Chiết Giang) tham kiến Thạch Vũ Minh Phương nhận được yếu chỉ, liền nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Ban đầu sư khai đường tại chùa Long Đường, Hàng Châu, về sau kế thừa pháp tịch núi Bảo Thọ. Sư có biên tập Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược 8 quyển. ● 淨 修 禪 師. Thụy hiệu của thiền tăng Tỉnh Đăng sống vào đời Ngũ Đại. X: Tỉnh Đăng ● 淨 慈 寺. Nằm dưới ngọn Huệ Nhật, núi Nam Bình, phía nam Tây Hồ, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, là một trong bốn đại cổ sát ở Hồ Tây. Niên hiệu Hiển Đức thứ 1 (954) đời Hậu Chu, Ngũ Đại, Ngô Việt Vương Tiền Thúc vì Thiền Sư Vĩnh Minh mà xây dựng, nguyên tên là “Huệ Nhật Vĩnh Minh Viện”. Đầu niên hiệu Kiến Long (960-963) đời Tống Thiền Sư Diên Thọ từ chùa Linh ẩn đến đây xây cất Tông Cảnh đường, vua Tống Thái Tông ban tên “Thọ An Thiền Viện”, Tô Đông Pha có làm thơ vịnh chùa này: “Ngọa văn Thiền lão nhập Nam Sơn, tịnh tảo thanh phong ngũ bách gian” (Nằm nghe Thiền lão vào Nam Sơn, gió mát quét sạch năm trăm gian). Sau đó chùa bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 9 (1139) đời Tống xây dựng lại, đổi tên là “Tịnh Từ Báo Aân Quang Hiếu Thiền Tự”, năm thứ 19 (1149) lại đổi tên là “Tịnh Từ Thiền Tự”. Vào đời Tống Thiền Sư Đạo Tế từng ở chùa này. Vào khoảng niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh bị hủy, Đại sư Pháp Tịnh xây dựng lại. Niên hiệu Chính Thống (1436-1449) lại bị hủy, Đại sư Tông Diệu lại xây dựng lại. Niên hiệu Khang Hy thứ 38 (1699) đời Thanh chùa được tu sửa lớn, ban tên “Sắc Kiến Tịnh Từ Thiền Tự”, đến nay vẫn còn. Trong chùa còn có một đại đồng chung nặng 20 tấn được đúc bằng đồng vào niên hiệu Hồng Vũ thứ 10 (1377) đời Minh, mỗi khi chiều xuống tiếng chuông vang vọng trong khói lam sương mù. Chùa Tịnh Từ nổi tiếng cũng là nhờ có Phật sống Tế Công ở trong chùa này, trong chùa có tượng khắc Phật sống Tế Công, phía đông chùa có “Thần Vận Tỉnh”, liên quan đến truyền thuyết Tế Công vận chuyển gỗ cất chùa. ● 淨 慈 寺 志. Chí, 28 quyển, do Tế Tường soạn vào đời Thanh, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Chùa Tịnh Từ từng được gọi là ngôi chùa đứng nhất Tây Hồ. Vào khoảng niên hiệu Thiên Khải (1621-1627) đời Minh, có vị tăng ở chùa này tên Đại Hách biên tập “Tịnh Từ Tự Chí” 10 quyển. Đầu niên hiệu Càn Long (1736), Triện Ngọc biên tập lại Chí này, chỉ có vài mươi hạng mục. Trong niên hiệu Gia Khánh (1796-1820), Tế Tường khảo cứu nhiều sách vở, sưu tập nhiều tư liệu, soạn riêng tân chí, nội dung gồm 12 loại: Hưng kiến, Chi viện, Tự sản, Trụ trì, Pháp tự, Tháp viện, Sơn thủy, Viên đình, Cổ tích, Nghệ văn, Tạp ký, Ngoại kỷ. ● 淨 璨 (1600-1658). Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Chu, hiệu Phiên Quang, người đời gọi sư là “Phiên Quang Tịnh Xán Thiền Sư”, người xứ Kim Lăng (nay là Nam Kinh) Trung Quốc. Lúc trẻ làm đạo sĩ, sau chuyển hướng theo Phật, xuất gia, đến tham học nơi ngài Thụy Bạch Minh Tuyết. Một hôm chợt nghe tiếng trái cây rơi xuống mái ngói, sư liền ngộ, được ngài ấn khả cho nối pháp, thuộc tông Tào Động. Năm 1646, sư kế tục trụ Biện Sơn. Về già, trụ trì chùa Kim Sơn, Tô Châu, sau đó làm vị Trụ trì đời thứ 5 của chùa Hoa Lâm. Đệ tử nối pháp sư hơn 20 người. ● 淨 域. Chỗ thanh tịnh, ý nói cửa Phật, chùa chiền. Huyền Tế truyện trong TCTT q. 9 ghi: “髫 齓 希 尚、求 歸 釋 門、父 母 從 之、出 依 淨 域。– Thuở bé sư đã mong mỏi những điều cao thượng, tìm về cửa Phật, cha mẹ thuận cho sư xuất gia nương chốn chùa chiền”. ● 坐. 1. ở, cư trú. Tiết Cửu Phong Kiền thị giả trong NĐHN q. 6 ghi: “無 家 可 坐、無 世 可 興。 – Không có nhà nào đáng ở, không có đời nào đáng hưng. “ ● 2. ở vào, nằm ở. Lục Tổ Đại sư Pháp Bảo Đàn Kinh lược tự trong Toàn Đường Văn q. 915 ghi: “吾 高 祖 墳 墓 淨 坐 此 地。 – Phần mộ của cao tổ ta đều nằm ở đất này. “ ● 坐 主. Có 2 nghĩa: 1. Người chỉ đạo, Trụ trì một tự viện. 2. Trong thiền viện, thường gọi Tọa chủ là vị tăng giảng kinh từ phương xa đến tham vấn. Chương Giang Tây Đạo Nhất Thiền Sư trong CĐTĐL q. 6 ghi: “有 一 講 僧 來 問 云:未 審 禪 宗 傳 持 何 法。師 卻 問 云:坐 主 傳 持 何 法? – Có một vị tăng giảng kinh đến hỏi sư: Chẳng biết Thiền Tông truyền dạy pháp gì? Sư hỏi ngược lại: Tọa chủ truyền dạy pháp gì?”. ●ỞNhật Bản, chỉ cho người chủ quản một chùa lớn, thông thường do chính phủ bổ nhiệm. ● 坐 地. Ngồi. Vân Môn Quảng Lục q. thượng ghi: “上 堂 云:諸 方 老 禿 奴。曲 木 禪 床 上 坐 地。求 名 求 利。問 佛 答 佛 問 祖 答 祖。屙 屎 送 尿 也。 – Lão trọc ở các nơi ngồi pháp tòa, cầu danh cầu lợi, hỏi Phật đáp Phật, hỏi Tổ đáp Tổ chính là đi ỉa đi đái”. ● 坐 斷. Còn gọi: Tọa Phá, Tiệt Đoạn, Tiệt Trừ. Là quét sạch, cắt đứt. Lâm Tế Nghĩa Huyền Thiền Sư Ngữ Lục (Đại 47, 479 hạ) ghi: “坐 斷 報 化 佛 頭。 – Quét sạch báo thân Phật và hóa thân Phật”. Tắc 32, Bích Nham Lục (Đại 48, 171 trung) ghi: “十 方 坐 斷 千 眼 頓 開。一 句 截 流 萬 機 寢 削。 – Mười phương quét sạch ngàn mắt liền mở, một câu có tác dụng chặt đứt tất cả tâm phân biệt vọng tưởng, chấm dứt muôn ngàn tính toán”. Ngoài ra, chữ “Tọa” còn có nghĩa “Tỏa”. Hình dung ngăn chặn lời nói vô dụng của người khác, chẳng cho nói bất cứ lời nào, gọi là “Tọa đoạn thiệt đầu”. Miêu tả không cho bất cứ ai phát biểu một lời, gọi là “Tọa đoạn thiên hạ nhân thiệt đầu”. Tắc 13, Bích Nham Lục (Đại 48, 153) ghi: “舉 一 明 三 即 且 止。坐 斷 天 下 人 舌 頭。作 麼 生 道。 – Việc thông minh lanh lợi tạm gác lại, câu làm líu lưỡi mọi người trong thiên hạ, thì làm sao nói đây?”. Lại, hình dung ngăn chặn cửa sông trọng yếu từ bờ này (phàm) sang bờ kia (Thánh), cũng tức là biểu thị đoạn tuyệt quan hệ đối đãi: Phàm Thánh, chúng sinh Phật, mê ngộ, tu chứng, gọi là “Tọa đoạn yếu tân bất thông phàm thánh”. Phần Giáp chú, tắc 52, Bích Nham Lục (Đại 48, 187 trung) ghi: “坐 斷 要 津 不 通 凡 聖。蝦 蜆 螺 蚌 不 足 問。 – Quét sạch địa vị không còn phàm thánh, hạng thiền sinh tầm thường không đáng hỏi đến”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 坐 斷 坐 斷 天 下 人 舌 頭. Làm líu lưỡi người đời. Ý nói chặt đứt con đường suy nghĩ, ngăn chận lời nói của người đời, khiến họ không còn cách nào phát sinh vọng tưởng phân biệt, Không thể dùng lời nói để hiểu rõ và giải thích. Đây là lời khen đối với cơ phong kiệt xuất, lạ lùng. Bích Nham Lục tắc 13 ghi: 擧 一 明 三 即 且 止。坐 斷 天 下 人 舌 頭。作 麼 生 道。 – Việc thông minh linh lợi tạm gác lại, câu làm líu lưỡi người đời thì làm sao nói đây. “ ● 坐 卻. Chặt đứt, quét sạch, ngăn chận. Tiết La Hán Quế Sâm Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “塞 卻 你 眼、教 你 覷 不 見。塞 卻 你 耳、教 你 聽 不 聞。坐 卻 你 意、教 你 分 別 不 得。 – Bịt mắt ngươi lại, khiến ngươi nhìn mà chẳng thấy; bịt tai ngươi lại, khiến ngươi lắng mà chẳng nghe; ngăn chận ý của ngươi khiến ngươi không còn phân biệt. “ ● 坐 參. Có 2 nghĩa: 1. Tức ngồi thiền trước khi tham, cũng là ngồi thiền lúc xế trưa (từ 2-4 giờ sau giờ Ngọ). Trong lúc chờ đợi tiểu tham và Vãn tham, mỗi ngày ở nơi Tăng đường ngồi thiền lắng tâm gọi là Tọa tham. Điều Tọa Tham trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 6 (Đại 48, 1143 trung) ghi: “蓋 古 者 每 晚 必 參 住 持 以 求 開 示、故 率 眾 齊 集 坐、待 鼓 鳴 而 往 參 之、名 曰:坐參。 – Bởi ngày xưa mỗi chiều phải tham kiến Trụ trì cầu khai thị, nên đại chúng tụ hội lại ngồi chờ đến giờ tham vấn, gọi đó là tọa tham”. 2. Tọa tham: Chỉ cho việc đi các nơi tham thiền. ― Tọa tham bài: Tấm thẻ treo trước Tăng đường, trước liêu của đại chúng trong lúc tọa tham. ● 坐 湯. Tắm nước nóng. Có lớn nhỏ khác biệt: ― Khố ty mời cả đại chúng trong chùa tắm nước nóng vào 4 tiết trong năm, gọi là Đại tọa thang. -Vào cuối Hạ, bày ra cho mọi người chấp dịch trong hạ tắm nước nóng, gọi là Tiểu tọa thang. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 坐 禪. Phương thức tu hành của tăng nhân, ngôi kiết gìa tĩnh tâm tư duy. Tiết Nam Nhạc Hoài Nhượng trong NĐHN q. 3 ghi: 開 元 中 有 沙 門 道 一、﹝即 馬 祖 也。﹞ 在 衡 嶽 山 常 習 坐 禪。 – Trong niên hiệu Khai Nguyên có sa môn Đạo Nhất, tức là Mã Tổ, ở núi Hành Nhạc thường tập tọa thiền. “ ● 全 機. Toàn bộ việc quán chiếu và cơ phong nắm lấy thật tướng của sự vật, là thiền cơ thật sự có bản sắc. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “若 要 見 他 全 機、除 非 是 一 棒 不 回 頭 底 漢、牙 如 劍 樹、口 似 血 盆、向 言 外 知 歸。方 有 少 分 相 應。 – Nếu muốn thấy toàn cơ của người khác, thì chỉ có kẻ cương quyết răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, ở ngoài lời nói mà kiến tính, mới có ít phần tương ưng. “ ● 全 提. Nêu ra hoàn toàn triệt để, đây là thiền cơ được lập bày có tính chất siêu việt ngôn cú nghĩa lý, chỉ thẳng tâm người. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “諸 上 座。翠 峰 若 也 全 提。盡 大 地 人。普 須 結 舌。 – Này các Thượng tọa! Nếu Thúy Phong (pháp hiệu của thiền sư Minh Giác) toàn đề, mọi người trên mặt đất phải câm họng”. Tiết Nam Phong Vĩnh Trình Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “教 分 三 藏、直 指 一 心。或 全 提 而 棒 喝 齊 施、或 縱 奪 而 賓 主 互 設。或 金 剛 按 劍、或 師 子 翻 身。或 照 用 雷 奔、或 機 鋒 電 掣。無 非 剪 除 邪 妄、開 廓 玄 微。直 下 明 宗、到 眞 實 地。 – Giáo chia ra ba tạng, chỉ thẳng nhất tâm. Hoặc nêu ra triệt để mà bày ra đánh và hét, hoặc túng đoạt mà đặt ra chủ khách. Hoặc vỗ kiếm Kim Cang, hoặc sư tử chuyển mình. Hoặc chiếu dụng như sấm rền, hoặc cơ phong như chớp giật. Tất cả đều nhằm trừ sạch tà vọng, mở rộng huyền vi, liền đó thấu rõ tông, đến được chỗ chân thật”. ● 全 提 正 令. Sự gợi ý hoàn toàn triệt để, giáo pháp chính tông bản sắc, chỉ cách truyền trao tâm ấn đặc biệt của nhà thiền. Vô Môn Quan ghi: “狗 子 佛 性、全 提 正 令、纔 涉 有 無、喪 身 失 命。– Công án ›Con chó có Phật tính‹ là sự gợi ý hoàn toàn triệt để, giáo pháp chính tông bản sắc, vừa dính vào hữu vô liền vùi thây mất mạng. “ ● 全 提 一 句. Lời nói gợi ý thiền pháp hoàn toàn triệt để. Đây là lời nói siêu việt ngôn ngữ nghĩa lý. Tiết Cổ Sơn An Vĩnh Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “到 這 裡 假 饒 見機 而 變、不 犯 鋒 鋩、全 身 獨 脫、猶 涉 泥 水。祇 如 本 分 全 提 一 句、又 作 麼 生 道 ? – Đến nơi đây dù cho tùy cơ ứng biến, chẳng chạm mũi nhọn, toàn thân ngộ nhập cũng còn vướng mắc ngôn từ nghĩa lý. Ngay như lời nói gợi ý thiền pháp hoàn toàn triệt để siêu thoát sinh tử, lại làm sao nói?” ● 全 慶. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Đạo Dung, tổ khai sơn Chân Như Thiền Tự trên núi Vân Cư. Khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) đời Đường, sư từng phụ giúp ngài Đạo Dung khai sáng thiền viện Vân Cư, có công hơn hết. Sau khi Đạo Dung tịch, sư kế vị và chủ trì mọi việc trong thiền viện. Khoảng giữa 2 niên hiệu Thái Hòa và Khai Thành (827-840) đời Đường, sư có cống hiến rất lớn vào việc củng cố và phát triển thiền viện Vân Cư. ● 全 肯. Thiền tăng đời Tống. Sư đến tham vấn Quốc sư Đức Thiều; Đức Thiều biết được pháp danh của sư là Toàn Khẳng, nên hỏi: Chấp nhận (khẳng) cái gì? Sư lập tức lãnh ngộ, nối pháp Ngài, thuộc tông Pháp Nhãn. Khi ra hoằng pháp sư trụ chùa Trí Giả ở Vụ Châu (nay là huyện Kim Hoa tỉnh Chiết Giang). Khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (976-983), sư chợt đem chức Trụ trì giao lại cho đệ tử là Kế Trung rồi thị tịch. ● 全 豁 (828-887). Thiền tăng đời Đuờng, họ Kha, người xứ Tuyền Châu, Trung Quốc. Thuở nhỏ sư lễ Thanh Nguyên Huyên Công, sau khi thụ giới cụ túc, sư trụ Bảo Thọ Tự ở Trường An học tập các bộ kinh luật, dạo khắp các thiền uyển, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Sư yết kiến Đức Sơn Tuyên Giám và nối pháp ngài. Khi ra hoằng pháp sư trụ viện Nham Đầu ở Ngạc Châu (nay là huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc) hoằng truyền Thiền Tông, thiền tăng khắp nơi kéo đến. Lúc mất sư được ban hiệu: Thanh Nghiêm Đại Sư. ● 全 一. Hiệu của Thiền tăng Chí Ôn đời Nguyên. X. Chí Ôn. ● 全 怤 (882-947). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Hà, tự Lai Thế người xứ Côn Sơn (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Thuở bé sư nghe các thiền hội thạnh hành liền xin xuất gia nơi Đại sư Thanh Bình ở Giang Hạ (nay là huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc). Sau sư đến Ngưỡng Sơn Nam Tháp ở Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân tỉnh Giang Tây) yết kiến Thiền Sư Quang Dũng, đối đáp qua lại, sư khế ngộ sâu cơ của Ngưỡng Sơn, nối pháp ngài, thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư trụ Thiền viện ứng Quốc ở An Phúc Lô Lăng (nay thuộc Giang Tây), sau đó dời về viện Thanh Hóa núi Vân Phong ở Việt Châu. Ngô Việt Trung Hiến Vương ban cho sư tử y phương bào nhưng sư từ chối chẳng nhận, vua liền đổi ban cho nạp y và ban cho hiệu “Thuần Nhất Thiền Sư”. ● 全 賓 是 主、全 主 是 賓. Toàn khách là chủ, toàn chủ là khách. Khách và chủ vốn là những gì đối đãi, nhưng theo sự xem xét toàn bộ, theo nhãn quang soi thấu toàn bộ của nhà thiền thì không có gì phân biệt và đối lập, vì thế khách tức là chủ, chủ tức là khách. Mật Am Ngữ Lục ghi: “全 賓 是 主、全 主 是 賓。賓 主 交 參。通 同 和 氣。 – Toàn khách là chủ, toàn chủ là khách, khách chủ xen nhau, có không khí hòa thuận. “ ● 全 室. Hiệu của Thiền tăng Tông Lặc đời Minh. X. Tông Lặc. ● 全 體. Xem xét và nắm lấy toàn bộ thực tướng sự vật. Là việc làm siêu việt chỗ nơi, số lượng, không có phân biệt đối lập, là cảnh giới của người tu thiền. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “十 方 空 索 索、全 體 露 堂 堂。貪 瞋 癡 從 那 裡 得 來?戒 定 慧 向 何 處 安 著? – Mười phương trống hoang hoác, toàn thể hiện rành rành, tham sân si từ đâu đến được? Giới định huệ nhằm chỗ nào sắp đặt?” 全 妄 即 眞、全 凡 即 聖. Ý nói từ trên tổng thể mà xem xét và nắm lấy thực tướng sự vật, tức không phân biệt, không đối lập, vọng tức là chân, phàm tức là thánh. Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 7 ghi: “諸 佛 出 世、祖 師 西 來、全 妄 即 眞、全 凡 即 聖。 – Chư Phật xuất hiện ở đời, Tổ sư từ ấn Độ sang, từ trên tổng thể mà xem xét và nắm lấy thực tướng sự vật thì vọng tức là chân, phàm tức là thánh. “ ● 鑽 故 紙. Dùi giấy cũ. Chế giễu những vị tăng chỉ biết một bề dùi mài kinh điển mà không biết cầu ngộ. Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục q. 27 (Đại 47, 928 trung) ghi: “杜 門 壁 觀、此 息 心 良 藥 也;若 更 鑽 故 紙、定 引 起 藏 識 中 無 始 時 來 生 死 根 苗。 – Đóng cửa ngó vách, đây là thuốc hay để dứt vọng tâm… Nếu chỉ dùi mài kinh sách thì ắt dẫn khởi mầm mống sinh tử từ vô thỉ đến nay trong tàng thức”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 穌 州 開 元 寺. ở phố Đông Đại trong Bàn Môn, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Xây dựng vào khoảng niên hiệu Xích Ô (238-251) đời Đông Ngô thời Tam Quốc, ban đầu gọi “Thông Huyền Tự”. Niên hiệu Khai Nguyên thứ 26 (738) đời Đường đổi tên là “Khai Nguyên Tự”, sau đó bị phá hủy. Niên hiệu Bảo Đại thứ 2 (925) đời Ngô Việt, Ngô Việt Vương Tiền Lưu xây dựng lại trên nền hiện nay. Qua ba đời Tống Nguyên Minh lần lượt xây cất thêm Thiên vương điện, Đại điện,Thạch Phật điện, Giới đàn, Địa Tạng điện, Tây phương điện, Tàng kinh các (Vô lương điện),Vạn Phật các. Những vị cao tăng Thiền Tông trụ chùa này qua nhiều đời có ấn Tông, Kinh Khê Trạm Nhiên, Trường Khánh Huệ Lăng, Hoàng Long Sở Nam, Thanh Lương Trừng Quán, Từ Vân Tuân Thức. Niên hiệu Hàm Phong thứ 10 (1860) đời Thanh chùa lại bị chiến tranh phá hủy, chỉ còn Tàng kinh các. Gác kinh này chọn dùng kết cấu gạch theo kiểu vòm cuốn, không dùng tấc gỗ cho nên tục gọi “Vô Lương Điện” (Điện không có xà). Gác được xây vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 46 (1618) đời Minh, theo kiểu lâu các hai tầng, rộng 7 gian, mái chồng đỉnh yết sơn. Chính giữa lâu các có khung trang trí trên trần nhà hình bát giác bằng gạch tinh xảo đẹp đẽ, bốn vách đều có khảm thạch khắc “Phạm Võng Kinh”, “Hoa Nghiêm Kinh” đời Minh. Mặt tường ngoài điện trên dưới đều có mở ra 5 cửa vòm, cột sát tường hình bán nguyệt và tòa Ti di khắc đá. Dưới mái điện thòng xuống liên trụ, tước thế, hoa bản, ngạch phương, đấu củng làm bằng gạch, tất cả hình dáng và cấu tạo đều mô phỏng theo kết cấu gỗ. Tầng hai lan can tòa bằng khắc bằng gạch tinh tế, đồ án trang nhã. Đỉnh nhà độ nghiêng không lớn, mái sát biên và bốn góc hơi vểnh ngược lên trời cho người cảm giác vừa vững vàng vừa lung linh. Năm 1977 trong khi dỡ bỏ bình phòng ở gần đó phát hiện một hòm đá, trong chứa một bộ “Khai Nguyên Tự Chí”ghi chép tường tận lịch sử chùa Khai Nguyên. ● 蘇 軾 (1037-1101). Cư sĩ đời Tống, tự Tử Chiêm, hiệu Đông Pha Cư Sĩ, người My Sơn (nay thuộc Tứ Xuyên) Trung Quốc. Niên hiệu Gia Hựu nguyên niên (1056) ông đỗ Tiến sĩ. Nhiều lần giữ chức quan địa phương, có khiếu về chính trị. Về sau ông làm quan đến Lễ bộ Thượng thư kiêm Đoan minh điện Hàn lâm thị độc Lưỡng học sĩ. Lúc tuổi già bị giáng chức làm quan ở Đam Châu. Tô Thức lúc trẻ không tin Phật, sau do chính trị không được như ý, mới tìm đến Phật giáo để an ủi tinh thần. Ông nghiên cứu sâu xa các kinh Lăng Già, Hoa Nghiêm, A Di Đà. Làm bạn với các vị tăng như Khế Tung, Huệ Biện… thích bàn về Tam giáo hợp nhất. Ông là nhân vật đại biểu phái Thục học chủ trương dung hợp Tam giáo đương thời. Người đời sau biên tập thành sách là “Đông Pha Thiền Hỉ Tập”. ● 蘇 轍 (1039-1112). Cư sĩ đời Tống, tự Tử Do, hiệu Dĩnh Tân Di Lão, người My Sơn (nay thuộc Tứ Xuyên) Trung Quốc. Lần lượt làm quan Hữu tư giám, Trung thư xá nhân, Hộ bộ Thị lang, Hàn lâm học sĩ Tri chế cáo, Ngự sử trung thừa. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 6 (1091) giữ chức Thượng thư hữu thừa, năm sau lên chức Môn hạ thị lang. Khi vua Triết Tông thân chính, ông xuống chức làm Tri phủ Nhữ Châu. Thời vua Huy Tông được đề cử chức Cung quan. Tại Quân Châu (nay là Cao An, Giang Tây) khi giám sát thuế muối, rượu, ông giao du với Thiền Sư Hoàng Bá Đạo Toàn, Đạo Toàn khuyên ông tham thiền. Sau đó yết kiến Thiền Sư Thượng Lam Thuận được tỉnh ngộ. Từ đây ông thường giao du với tăng nhân, hay lưu lại chùa vài tháng không về. Ông là nhân vật trọng yếu phái Thục học, chủ trương Tam giáo hợp nhất. Tác phẩm: Loan Thành Tập, Lão Tử Giải. ● 蘇 渊 雷 (1908-?). Học giả Phật giáo hiện đại. Còn có tên Trọng Tường, người Bình Dương, Chiết Giang Trung Quốc. Năm 1926 ông tốt nghiệp Trường Sư phạm thứ 10 xây dựng ở Chiết Giang. Từng giữ chức giáo sư kiêm Tổng Vụ trưởng Trường Trung Hoa Công Thương Chuyên Khoa. Sau giải phóng, lần lượt giữ chức Chuyên viên Bộ Kế hoạch thuộc Hoa Đông Tài ủy hội, Phó Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo thành phố Thượng Hải, hiện đang là giáo sư Sở Nghiên cứu sử học Trung Quốc thuộc Đại học Sư phạm Hoa Đông. Ông hiệu điểm “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, trước tác các luận văn “Thiền Tông Sử Lược”. “Đăng Lục dữ Ngũ Đăng Hội Nguyên”… ● 做 鬼 怪. Làm những việc quỷ quái để mê hoặc người khác khiến cho họ mất sáng suốt, lầm lẫn. Mật Am Ngữ Lục ghi: “有 箇 不 識 好 惡 漢。。。復 回 熊 耳 峰 前。做 許 多 鬼 怪。 – Có một gã chẳng biết tốt xấu… trở về trước núi Hùng Nhĩ làm nhiều việc quỷ quái để mê hoặc người khác”. ● 祖 印. Gọi đủ: Tổ Sư Tâm Ấn. Thiền pháp của Tổ sư Thiền Tông được truyền thừa thông qua phương thức tâm thầy in sang tâm trò. Mật Am Ngữ Lục ghi: “祖 師 心 印。不 涉 言 詮。問 訊 燒 香。早 成 多 事。行 棒 行 喝。開 眼 尿 床。舉 古 舉 今。泥 中 洗 土。 – Tâm ấn Tổ sư không dính líu đến ngôn thuyên. Vái chào, thắp hương đã thành phiền phức. Sử dụng phương pháp đánh hét cũng là mở mắt mà đái dầm. Nêu xưa bày nay giống như rửa đất trong bùn”. ● 祖 印 密 弘 (1735-1835). Thiền tăng đời cuối Lê đầu Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 36, nối pháp Thiền Sư Phật Ý Linh Nhạc. Sư họ Nguyễn, quê ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Trung Việt. Lúc 15 tuổi, sư từ Bình Định vào Gia Định, tu hành ở chùa Đại Giác, tại Đại phố Đồng Nai, huyện Phúc Long, dinh Trấn Biên (nay là cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai). Năm 1773, sư được cử làm Trụ trì chùa này. Khoảng thời gian 1778-1801, Nguyễn Vương có người con gái tên Ngọc Anh xin xuất gia thụ giới với thiền sư Mật Hoằng, nên khi thống nhất đất nước Nguyễn Vương ra lệnh quan địa phương trùng tu lại chùa Đại Giác, cho Tượng binh đem voi đến dậm nền chùa. Do đó, chùa này còn có tên là chùa Tượng. Năm Gia Long thứ 14 (1815) vua xuống chiếu triệu sư về kinh đô Huế, phong chức Tăng cang chùa Thiên Mụ, đồng thời thỉnh vào nội cung thuyết pháp cho Hoàng gia. Năm 1817, sư được sắc trụ trì chùa Quốc Ân và trùng tu lại chùa. Năm 1820, sư trùng tu lại chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình định, tổ đình của phái thiền Lâm Tế Đàng Trong do Tổ Nguyên Thiều thành lập. Năm 1835, sư thị tịch tại chùa Quốc Ân (Huế) thọ 101 tuổi, đồ chùng lập tháp thờ ở bên hông chùa. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 祖 印 禪 師. 1. Hiệu của Thiền tăng Hành Lâm, đời Ngũ Đại X. Hạnh Lâm. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Cư Nột đời Tống, do Tống Nhân Tông ban cho. X. Cư Nột. ● 祖 印 重 光. Thiền pháp của Tổ sư rạng ngời và được nối tiếp nhau mãi mãi như ánh sáng trùng điệp của mặt trời, mặt trăng. Trong bài phục nguyện có ghi: “宗 風 永 振、祖 印 重 光、佛 日 增 輝、法 輪 常 轉。 – Thiền Tông được hưng thịnh dài lâu, Thiền pháp của Tổ sư rạng ngời và được tiếp nối nhau không dứt. Mặt trời trí huệ càng thêm rực rỡ, bánh xe chính pháp lăn mãi không ngừng”. ● 祖 道. Đạo pháp Thiền Tông. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “若 以 世 諦 觀 之。曹 山 合 喫 二 十 棒。若 以 祖 道 觀 之。白 雲 合 喫 二 十 棒。 – Nếu đem thế đế xem xét việc này, thì Tào Sơn đáng ăn hai mươi gậy; nếu dùng đạo pháp Thiền Tông xem xét việc này thì Bạch Vân đáng ăn hai mươi gậy. “ ● 祖 燈. Đèn tổ, dụ cho thiền pháp mà Tổ sư truyền nhau. Bài thơ “Nhân việc đề ở chùa Cứu Lan của Huyền Quang (Thiền Sư Việt Nam) ghi: 德 薄 常 慚 繼 祖 燈 空 教 寒 拾 起 冤 憎 爭 如 逐 伴 歸 山 去 疊 嶂 重 巒 萬 萬 層 “Đức bạc thường tàm nối Tổ đăng Không giao Hàn Thập khởi oan tăng Tranh như trục bạn quy sơn khứ Điệp chướng trùng loan vạn vạn tầng”. “Đức mỏng thẹn mình nối Tổ đăng Luống cho Hàn Thập dấy hờn căm Chi bằng theo bạn về non quách Muôn lớp non xanh chất chập chùng”. Đăng Lục, 98 quyển, quyển thủ phụ “Tổ Đăng Biện Ngoa” 2 quyển, do Tịnh Phù soạn vào đời Thanh. Tác giả chủ trương hễ là thiền tăng thì đều thuộc pháp hệ Bồ Đề Đạt Ma, nên phế bỏ những tên gọi “dưới Thanh Nguyên”, “dưới Nam Nhạc” mà tất cả đều quy về hệ thống Thiếu Lâm. Sách này do tham khảo các sách Truyền Đăng Lục, sử truyện mà biên tập thành. Ghi lại sự truyền thừa từ Đạt Ma đến Thiếu Lâm đời thứ 40, không luận là ẩn hay hiển, nhất loạt đều không dùng bàng (phụ) hay chính để phân chia, Trong ấy sự trao truyền giữa thầy trò được gạn lọc từ gốc ngọn, chính xác không cho đồ giả lẫn lộn; thế hệ biên niên nối tiếp nhau san sát và có thứ tự lớp lang. ● 祖 庭. Hiệu của Thiền tăng Cổ Chuyết sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh. X. Cổ Chuyết. ● 祖 庭 鉗 錐 錄. Lục, 2 quyển, do Phí ẩn Thông Dung viết vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 745. Tác giả sưu tập các Ngữ Yếu rèn luyện người học đạo của các thiền sư: Linh Nguyên Duy Thanh, Hối Am Di Quang, Đại Huệ Tông Cảo… gồm trên 50 điều, cùng kể thêm kiến giải của mình. ● 祖 庭 事 苑. Sách, 8 quyển, do Mục Am Thiện Khanh soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 113, trang 1. Nội dung gồm có: Ngữ Lục của các vị thiền sư như: Vân Môn Văn Yển, Tuyết Đậu Trọng Hiển cùng phần giải thích ngữ nghĩa khó hiểu, nêu lên những điển cố mà các Ngữ Lục này dùng và đính chính những chữ bị sót mất, tổng cộng có hơn 2. 400 điều. Đây là quyển từ điển trong thiền lâm thời xưa giúp cho người sơ học tra cứu. Quyển thủ có lời tựa của Pháp Anh, kể lại lý do làm sách này. Quyển cuối có lời bạt của Tiết độ sứ Kiến Võ Quân vào niên hiệu Đại Quan thứ 2 (1108) đời Tống, lời bạt khi in lại của Tỳ kheo Sư Giám vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 24 (1154), còn có lời hậu tựa của Tỳ kheo Tử Vân ở chùa Ngọc Luật viết cùng năm. ● 祖 堂. Ngôi điện đường trong thiền viện có an trí, thờ phượng đức Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “師 乃 頌 云。太 阿 橫 按 祖 堂 寒。千 里 應 須 息 萬 端。莫 待 冷 光 輕 閃 爍。復 云 看 看。便 下 座。 – Sư liền tụng rằng: Lúc cầm ngang cây kiếm Thái A thì cả Tổ đường lạnh lẽo. Nơi ngàn dặm cần phải chặt đứt muôn mối. Đừng đợi ánh sáng lạnh toát ra nơi cây kiếm mà xem thường tia chớp từ lò rèn. Lại bảo: Xem! Xem! Rồi bước xuống tòa. “ ● 祖 堂 山. ở núi Ngưu Đầu Nam Sơn, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Chu vi 20km, cao khoảng 300m. Niên hiệu Đại Minh thứ 3 (459) đời Nam Tống, nơi núi Nam Sơn xây chùa U Thê cho nên còn gọi “U Thê Sơn”. Đầu năm Trinh Quán (627-649) đời Đường Thiền Sư Pháp Dung đắc đạo tại núi này, làm Tổ sư tông Ngưu Đầu, nên đổi tên “Tổ Đường Sơn”. Có những thắng cảnh như Phục hổ động, Tượng tị động, Thần xà động,Tức tuyền, Trường canh tuyền, Thái Bạch tuyền, Phi Lai thạch. Hang đá phía nam tương truyền là nơi Thiền Sư Pháp Dung nhập định, có truyền thuyết trăm chim hiến hoa cho nên được gọi là “Hiến Hoa Nham”. ● 祖 堂 集. Đăng Lục, 20 quyển, do 2 ngài: Thích Tịnh và Thích Quân viết. Vào niên hiệu Bảo Đại thứ 10 (952) thời Nam Đường thì biên thành. Sách này vốn có 1 quyển, người sau chia ra 20 quyển. Nội dung ghi lại sự tích chủ yếu trong cuộc đời và Ngữ Lục ứng đối của Phật Tổ và thiền sư kể từ ngài Ca Diếp đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại, gồm 256 vị. Đây là 1 quyển sách nói về lịch sử Thiền Tông được hoàn thành sớm hơn bộ “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” độ nửa thế kỷ, có giá trị sử liệu rất cao. Thể lệ biên tập của nó có ảnh hưởng rất lớn đối với các quyển Đăng Lục đời sau. Tổ Đường Tập ở Trung Quốc đã thất truyền, nhưng vào đời Tống nó được truyền sang Cao Ly nên bản hiện còn là do Cao Ly khắc bản vào đời Cao Tông (1245). Về sau, nó được truyền vào Nhật Bản, bản ảnh ấn do nhà xuất bản Trung Văn ở Kyoto, xuất bản vào năm 1972. ● 祖 堂 寺. X. U Thê Tự. ● 祖 鍳 (?-1206). Thiền tăng đời Tống, họ Từ, tự Hội Đường, người xứ Mân Trung, Trung Quốc. Sư vào núi Chung Sơn dưới Chân Môn cạo tóc rồi đến tham học nơi ngài Hạt Đường Viễn. Sau đó sư trở về Mân, tham lễ Thiền Sư Càn Nguyên Dĩnh được khai ngộ, nối pháp Ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư từng trụ các chùa: Tư Phúc, Thừa Thiên, Quang Hiếu, trụ chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn 7 năm rồi tịch. ● 祖 雄 (1285-1365). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Viễn Khê Tổ Hùng. Niên hiệu Đại Đức thứ 6 (1302) sang nhà Nguyên (Trung Quốc) lên núi Thiên Mục, sư theo học với Thiền Sư Trung Phong Diệu 7 năm, được truyền tâm ấn, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, đời thứ 7 tông Lâm Tế Nhật Bản. Niên hiệu Diên Hựu thứ 3 (1316) sư trở về nước khai sáng chùa Cao Thanh. ● 祖 欽 (1204-1287). Thiền tăng cuối đời Tống đầu đời Nguyên, họ Tổ, hiệu Tuyết Nham người đời gọi là “Tuyết Nham Tổ Khâm Thiền Sư”. Người Vụ Châu (Kim Hoa, Chiết Giang), một thuyết nói là người Chương Châu (Chương Phố, Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 5 tuổi làm Sa Di, 16 tuổi được độ, 18 tuổi vân du khắp nơi, trước sau tham yết Đoản Bồng Viễn chùa Song Lâm, Diệu Phong Chi Thiện, Diệt Ông Văn Lễ chùa Tịnh Từ, song đều không khế ngộ. Lại đến Kính Sơn tham kiến Vô Chuẩn Sư Phạm, thấy cây bách cổ ở núi Thiên Mục mà đại ngộ, được Sư Phạm ấn khả nối pháp làm truyền nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế. Đời Tống, niên hiệu Bảo Hựu thứ 1 (1253) khi ra hoằng pháp trụ trì chùa Long Hưng, Đàm Châu (Trường Sa, Hồ Nam), lần lượt trụ chùa Đạo Lâm ở Sơn Tây, Phật Nhật Thiền tự ở Nam Minh (Chiết Giang), Hộ Thánh Thiền Tự, Quang Hiếu Thiền Tự ở Tiên Cư (Chiết Giang). Đời Tống niên hiệu Hàm Thuần thứ 5 (1269) trụ trì Ngưỡng Sơn Thiền Tự ở Viên Châu (Nghi Xuân, Giang Tây) danh tiếng càng vang dội. Đến đời Nguyên, bởi niên lạp đều cao nên vua Nguyên Thế Tổ càng kính trọng sư hơn, ban tử y. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 24 (1287) sư thị tịch, hưởng thọ hơn 70 tuổi. Đệ tử nối pháp có Nguyên Diệu v. v… Tác phẩm: Tuyết Nham Hòa Thượng Ngữ Lục 4 quyển. ● 祖 令. Thiền cơ, nhân duyên cơ ngữ của Tổ sư Thiền Tông. Tiết Tư Thọ Ni Diệu Tổng trong NĐHN q. 20 ghi: “宗 乘 一 唱、三 藏 絕 詮。祖 令 當 行、十 方 坐 斷。 – Thiền Tông một phen cất tiếng thì hàng Giáo tông phải bặt lời. Một khi Tổ lệnh đang được thi hành thì mười phương khoáng đãng. “ ● 祖 銘. Thiền tăng đời Minh, họ ứng, tự Cổ Đảnh, hiệu Huệ Tính, người xứ Phụng Hóa (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư yết kiến Thiền Sư Hạnh Đoan, được ngài sai làm ký thất. Sư để tâm nơi Phật thừa, nghiên cứu huyền chỉ và được ấn chứng, thuộc tông Lâm Tế. Khi ra hoằng pháp sư trụ Xương Quốc Long Giáo Tự, tìm người để trụ trì chùa Kính Sơn ở Hàng Châu. Khi lâm chung, sư có viết bài kệ: 生 死 純 眞、太 虛 純 滿。 “Sinh tử thuần chân Thái hư thuần mãn”. Lúc mất, Sư được 79 tuổi. ● 祖 能 (1326-1396). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Đại Chuyết Tổ Năng. Niên hiệu Chí Chính thứ 2 (1342) sang nhà Nguyên (Trung Quốc) sư đến Phúc Châu tham kiến Vô Ngôn Tuyên, Đông Dương Huy. Sau đến núi Thiên Mục tham kiến Thiền Sư Đức Nhiên mà đắc pháp, đời thứ 26 hệ Nam Nhạc, đời thứ 9 tông Lâm Tế Nhật Bản. Niên hiệu Chí Chính thứ 11 (1351) trở về nước, người theo học rất đông. ● 祖 元 (1226-1286). Thiền tăng đời Tống, họ Hứa, tự Liễu Nguyên, biệt hiệu Vô Học, người huyện Ngân (Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 13 tuổi sư theo Bắc Giản Cư Giản chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu cạo tóc xuất gia, theo hầu 5 năm rồi đến Kính Sơn yết kiến Vô Chuẩn Sư Phạm nỗ lực tham cứu 5 năm. Sau khi Vô Chuẩn tịch, sư lần lượt tham kiến Thạch Khê Tâm Nguyệt chùa Linh ẩn, Yển Khê Quảng Văn núi Dục Vương, Hư Đường Trí Ngu, sau đó trở về quê trụ 2 năm. Một hôm sư lên thềm giếng kéo nước, xoay con lăn liền khai ngộ. Tháng 10 niên hiệu Hàm Thuần thứ 5 (1269) sư trụ trì chùa Chân Như ở Thai Châu (Lâm Hải, Chiết Giang). Niên hiệu Đức Hựu thứ 1 (1275) quân Nguyên đến, sư phải lánh nạn ở chùa Năng Nhân ở Ôn Châu (Chiết Giang). Niên hiệu Cảnh Viêm thứ 2 (1277) trở lại Tứ Minh đến núi Thiên Đồng tham kiến Hoàn Khê Duy Nhất, giữ chức Đệ nhất tọa. Niên hiệu Tường Hưng thứ 2 (1279) Bắc Điều Thời Tông Nhật Bản sai hai vị sư Đức Thuyên và Tông Anh thỉnh Tổ Nguyên sang Nhật Bản. Mùa thu niên hiệu Hoằng An thứ 2 (1279) sư đến Liêm Thương trụ chùa Kiến Trường. Về sau Bắc Điều Thời Tông xây cất chùa Viên Giác ở Liêm Thương thỉnh sư làm Tổ khai sơn thứ nhất. Sắc thụy “Phật Quang Thiền Sư”, “Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư”. Pháp hệ của Sư được gọi là “Phật Quang Phái”, là 1 trong 24 phái Thiền Tông Nhật Bản. ● 祖 法. Thiền pháp, đạo pháp của Tổ sư. Thần Hội Truyện trong TCTT q. 8 ghi: “會(指 神 會)也 稟 祖 法 則 有 餘、行 化 行 則 不 足。 – Hội (chỉ Thần Hội) có thừa năng khiếu về đạo pháp của Tổ sư, chỉ là chẳng đủ. “ Dụ chỉ Thiền Tông, Thiền pháp truyền bá khắp nơi giống như gió nơi nào cũng thổi đến được. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “進 退 全 機 變、從 行 振 祖 風。– Tiến thoái đủ cơ phong biến hóa, cầm cân nẩy mực làm hưng thạnh Thiền Tông. “ ● 祖 父 田 園. Còn gọi: Tự Gia Điền Viên. Ruộng vườn của ông cha ta. Thiền Tông dùng từ này để chỉ Phật tính, tự tâm. Bài thơ “Trú miên” của Huyền Quang (Thiền Sư Việt Nam) ghi: 祖 父 田 園 任 自 鋤 千 青 盤 屈 繞 吾 盧 木 犀 窻 外 千 鳩 寂 一 枕 清 風 晝 夢 餘 “Tổ phụ điền viên nhậm tự sừ Thiên thanh bàn khuất nhậm ngô lư Mộc tê song ngoại thiên cưu tịch Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư”. “Tự tay cày cấy ruộng cha ông Ruộng vườn, non biếc khắp bao quanh Ngoài song cửa gỗ chim im tiếng Gió mát, ban trưa đánh giấc nồng”. ● 祖 師. 1. Các bậc Thầy của các Tông phái, có đủ năng lực truyền pháp cho đệ tử, dựng lập đường lối tu hành rõ ràng, hóa độ được nhiều người. Chẳng hạn như: ― Bồ Đề Đạt Ma là Tông tổ của Thiền Tông Trung Quốc. ● 2. Người được truyền tâm ấn từ một thiền sư đắc đạo rồi lập ra một phái có cách tiếp hóa người học rất đặc biệt. Người này được gọi là Phái tổ. Chẳng hạn: ― Thiền Sư Nghĩa Huyền là Phái tổ của tông Lâm Tế, thường tiếp hóa người bằng tiếng hét. ― Thiền Sư Lương Giới là Phái tổ của tông Tào Động, thường tiếp hóa người học bằng Ngũ vị Quân Thần. Tắc “Hiểu Thông Tài Tùng” trong Thiền Uyển Mông Cầu ghi: 語 言 渾 不 滯、高 躡 祖 師 蹤 夜 坐 連 雲 石、晝 栽 帶 雨 松 “Ngữ ngôn hồn bất trệ Cao niếp tổ sư tung Dạ tọa liên vân thạch Trú tài đái vũ tùng”. “Chẳng kẹt vào lời nói Noi theo dấu Tổ sư Đêm ngồi (tòa) đá mây kết Ngày trồng tùng đẫm mưa”. ● 祖 師 巴 鼻. Chỉ đạo pháp, cơ phong của Tổ sư Thiền Tông. Tiết Ngọc Tuyền Tông Liễn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “今 時 人 不 能 一 徑 徹 證 根 源、祇 以 語 言 文 字 而 爲 至 道。一 句 來、一 句 去、喚 作 禪 道、喚 作 向 上 向 下、謂 之 菩 提 涅 槃、謂 之 祖 師 巴 鼻。 – Hôm nay mọi người không thể triệt để chứng nhập cội nguồn, chỉ cho ngôn ngữ văn tự là chí đạo. Nói tới nói lui cho đó là thiền đạo, Gọi việc hướng thượng hướng hạ là Bồ Đề Niết Bàn, là cơ phong của Tổ sư Thiền Tông. “ ● 祖 師 關. Còn gọi: Tổ Sư Quan Liệt. Cửa ải lãnh ngộ thiền cơ Tổ sư, cửa ải lãnh ngộ thiền pháp. Quan (cửa ải) dụ cho thiền cơ kín đáo, huyền diệu, chẳng dễ ngộ nhận. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng: “不 識 曲 彔 樹。爭 解 喫 果 子。不 過 祖 師 關。 – Chẳng biết cây khúc lục, đâu biết nếm trái của nó. Chẳng qua cửa ải lãnh ngộ thiền cơ Tổ sư, đâu biết đối địch sinh tử? Thế nào là cửa ải lãnh ngộ thiền cơ Tổ sư?” ● 祖 師 西 來 意. Còn gọi: Tây Lai Tổ Sư Ý, Tây Lai Ý, Tổ Ý. Cùng với cụm từ “Đại ý Phật pháp” đều biểu thị áo nghĩa của Phật pháp, chỉ ý của Thiền lý. Ngài Bồ Đề Đạt Ma, Sơ Tổ Thiền Tông, từ ấn Độ đến Trung Quốc hoằng truyền thiền pháp. Các thiền tăng đời sau dùng sự kiện này đặt thành câu hỏi “Tổ sư Tây lai ý?” để thưa hỏi các bậc thiền sư, mong các Ngài chỉ dạy, giúp mình khai ngộ. Tham Thiền Kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của thiền sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、祖 意 歷 歷 瞬 目 揚 眉、擬 議 不 及 “Tham thiền đệ nhất Tổ ý lịch lịch Thuấn mục dương my Nghĩ nghị bất cập”. “Pháp tham thiền bậc nhất Ý tổ rất rõ ràng Chớp mắt cùng nhướng mày Do dự thì chẳng kịp”. Chương Đạo Khuông Thiền Sư trong CĐTĐL q. 21 ghi: “問:如 何 是 西 來 意?師 曰:蚊 子 上 鐵 牛。 – Tăng hỏi: Thế nào là ý chỉ của Thiền Tông? Sư đáp: con muỗi đáp trên mình con trâu sắt”. ● 祖 師 禪. Thiền pháp không có thứ bậc, xông thẳng vào bản thể Phật tính, không có giải thích. Thiền Uyển Mông Cầu Thập Di (Vạn Tục 148, 149 thượng) ghi: “師 又 作 一 偈 云:我 有 一 機、瞬 目 視 伊。若 又 不 會、別 喚 沙 彌。仰 山 即 報 溈 山 云:且 喜、香 嚴 師 兄 會 祖 師 禪 也。 – Sư lại nói bài kệ khác: Ta có một cơ Nháy mắt nhìn y Nếu còn chẳng ngộ Chớ gọi Sa Di”. Ngưỡng Sơn bảo với Quy Sơn rằng: “Mừng cho sư huynh Hương Nghiêm đã ngộ Tổ Sư thiền”. ● 祖 心 (1205-1100). Thiền tăng đời Tống, họ Ô, hiệu Hối Đường, người xứ Thủy Hưng (nay thuộc Quảng Đông) Trung Quốc. Năm 19 tuổi, sư nương ngài Huệ Toàn ở chùa Long Sơn xuất gia, năm sau sư dự khoa thi kinh được độ làm tăng, ở viện Thọ Nghiệp phụng trì giới luật. Sư tham vấn nơi ngài Vân Phong Văn Duyệt, theo hầu ngài 3 năm. Sư còn đến núi Hoàng Bá ra mắt ngài Huệ Nam, được giữ lại làm thị giả 4 năm. Sau đó, sư y chỉ ngài Thạch Sương Sở Viên. Một hôm sư xem Truyền Đăng Lục, đọc đến Ngữ Lục của thiền sư Đa Phúc và đại ngộ, nhờ ngài Huệ Nam ấn chứng, nối pháp ngài, thuộc phái Hoàng Long tông Lâm Tế. Tính sư điềm tĩnh đôn hậu, học rộng biết nhiều, hành trì cẩn nghiêm, Sau khi ngài Huệ Nam tịch, sư tiếp nối trụ trì được 12 năm, khiến pháp môn hưng thạnh. Vua xuống chiếu triệu sư vào kinh sư, phò mã Đô úy là Vương Tiển kính lễ đón rước sư, nhưng Tổ Tâm chỉ ở am ngoài cửa thành. Về già, sư dời am vào chốn rừng sâu. Thụy hiệu: Bảo Giác Thiền Sư. ● 祖 席. Chỗ tuyên giảng, truyền bá thiền pháp. Pháp hội của nhà thiền, thiền viện. Minh Giác Ngữ Lục q. thượng ghi: “上 堂。僧 問。承 學 士 有 言。輟 翠 峰 之 祖 席。登 雪 竇 之 道 場。如 何 是 不 動 尊。 – Sư thượng đường, tăng hỏi: Nhân học sĩ có nói: Dừng chân ở thiền viện Thúy Phong, lên đạo tràng Tuyềt Đậu. vậy thì thế nào là bậc bất động?” ● 祖 先 (1136-1211). Thiền tăng đời Nam Tống, họ Vương, hiệu Phá Am, người xứ Quảng An, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Sư đắc pháp nơi Thiền Sư Hàm Kiệt, là truyền nhân trọng yếu của phái Mật Am, đời thứ 19 hệ Nam Nhạc. Trước trụ trì chùa Ngọa Long, sau trụ trì chùa Long ẩn. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 祖 宗. Thiền Tông, thiền pháp. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “造 化 之 功。祖 宗 門 下。作 天 地 發 生 之 氣。春 夏 秋 冬。決 含 靈 顛 倒 之 心。常 樂 我 淨。 – Công của tạo hóa là làm phát sinh khí hậu của trời đất: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đệ tử của Thiền Tông là quyết trạch tâm điên đảo của chúng sinh: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. “ ● 祖 宗 圓 光 (1758-1827). Thiền tăng đời cuối Lê đầu Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế, đời thứ 36, nối pháp Thiền Sư Phật Ý Linh Nhạc. Sư chưa rõ tên họ thật, có thể sư là người Minh Hương (người Việt lai Hoa), quê ở Biên Hòa, Đồng Nai Nam Việt. Lúc nhỏ, sư thường cùng Trịnh Hoài Đức đến chùa Đại Giác ở Đại phố Đồng Nai để lễ sám. Lúc lớn lên, sư tiếp tục tu hành còn Trịnh Hoài Đức theo Nho học và ra làm quan dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng, được thăng đến chức Hiệp biện Đại học sĩ, tước An toàn hầu. Khi lớn lên, sư Tổ Tông quy y thọ giáo với Thiền Sư Phật Ý Linh Nhạc. Sư chăm chỉ tu học, nghiên cứu nhiều kinh sách nên uyên thâm cả Phật học lẫn Nho học. Năm 1772, sư được cử làm Trụ trì chùa Giác Lâm xã Phú Thọ, huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Sư vừa giảng kinh thuyết pháp vừa lo tài chính cho chùa. Phật học xá do sư phụ trách, hoạt động suốt hai mươi mấy năm mà vẫn chu đáo, đầy đủ. Năm 1798, sư tạm cho học tăng nghỉ học một thời gian để lo đại trùng tu chùa Giác Lâm. Sau khi chùa hoàn tất (1804), sư tiếp tục khai giảng kinh luận trở lại, chư tăng ở các tỉnh tựu về học rất đông. Khoảng năm 1816-1820, Trịnh Hoài Đức được vua Gia Long cử làm Hiệp Tổng trấn “Gia Định Thành”, tình cờ quan Tổng trấn gặp lại sư trong một dịp lễ ở chùa Tập Phúc (xã Bình Hòa, Gia Định) và cảm hứng làm 1 bài thơ tặng sư như sau: “Tây giao thích nhàn hành Sơn môn ngẫu tương tri Ngã Hiệp biện Trấn công Sư Đại Hòa Thượng vị Chấp thủ nghĩ mộng hồn Đàm tâm tạp khinh quí Vãn sự hà tức luận Đại đạo hợp như thị”. “Nay bỗng nhiên nhàn hành Nơi thiền môn gặp gỡ Ta Hiệp biện Trấn công Sư Cao tăng Thượng sĩ Nhìn xưa như giấc mộng Tâm cùng tâm tương nghị. Chuyện xưa nói sao cùng, Đại đạo vốn như thị”. Năm 1819, sư mở giới đàn ở chùa Giác Lâm, tăng chúng và thiện nam tín nữ đến quy y thụ giới rất đông. Năm 1827, sư thị tịch tại chùa Giác Lâm, thọ 70 tuổi, đồ chúng lập tháp tại sân chùa. Theo: LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. ● 祖 渊 (1389-1449). Thiền tăng đời Minh, họ Dương, tự Thiên Tuyền, hiệu Vũ Am, người Lô Lăng (Kiết An, Giang Tây) Trung Quốc. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 1 (1403) sư đến núi Thanh Nguyên cạo tóc thụ giới cụ túc. Lại đến Nam Kinh yết kiến Huyễn Cư Giới Công có chỗ tỏ ngộ. Sư không lấy làm tự mãn, hết lòng cầu đạo chuyên tâm khổ cứu 5 năm mới được triệt ngộ. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 20 (1422) đến chùa Thiên Giới chích máu viết kinh Pháp Hoa. Niên hiệu Tuyên Đức thứ 1 (1426) Thiền Sư Nguyệt Sơn khen ngợi đức hạnh sư cho làm Thủ tọa quản lý đại chúng. Khi ra hoằng pháp sư trụ trì chùa Linh Phong, Thiên Đồng. Năm thứ 9 (1434) giữ chức Tả giác nghĩa trong Tăng lục ty kiêm trụ trì chùa Đại Công Đức. Sư cho rằng chư tăng lộn xộn nên khó chỉ dạy, bèn tâu vua phân biệt ba chùa Đại Công Đức, Đại Từ Ân, Đại Long Thiện làm ba chỗ giảng dạy ba tông Thiền học, cho chư tăng tự chọn rồi sắp xếp lại để dạy. Phụng mệnh làm tông sư truyền giới trong thiên hạ, ở trên giới đàn Vạn Thiện khai đàn thụ giới, đệ tử được độ trên vạn người. ● 祖 越 寺. Chùa ở phía dưới gác tây Vô Lượng Quán, phía bắc Thiên Sơn, cách thành phố Yên Sơn, tỉnh Liêu Ninh,Trung Quốc 20km về phía đông. Là một trong năm đại thiền lâm ở Thiên Sơn. Nổi tiếng vào đời Minh, đến đời Thanh thì dần dần bị Vô Lượng Quán thay thế. Hiện còn đại điện ba gian, lưng tựa vào vách núi, trên vách núi có khắc “Độc trấn quần nhạc” được khắc vào niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1568) đời Minh. Xung quanh chùa có 24 cảnh đẹp như Ngọc Hoàng các, La hán động, Bát bộ khẩn v. v… ● 最 後 句. Còn gọi: Mạt Hậu Cú. Câu nói cuối cùng, thúc đẩy người học thiền tỉnh ngộ triệt để, cũng là câu nói rất quan trọng của người tham thiền ngộ đạo. Tiết Quốc Thái Viện Đạo Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “不 離 當 處、咸 是 妙 明 眞 心。所 以 玄 沙 和 尚 道:會 我 最 後 句、出 世 少 人 知。 – Chẳng rời tại chỗ đều là diệu minh chân tâm. Thế nên Hòa Thượng Huyền Sa nói: Lãnh hội được câu nói cuối cùng của ta, quả là ít có người (ra hoằng pháp) biết được”. ● 最 初 句. Câu nói đầu tiên. Ngay nơi câu nói này người học lập tức khế nhập, triệt để tỉnh ngộ. Phần lớn nhà thiền ưa dùng “Mạt hậu cú”, giữa “Tối sơ cú” và “Mạt hậu cú” tuy cách nói chẳng đồng nhưng kỳ thực vẫn là một, đều là một câu nói quan trọng giúp người đạt dến chỗ tỉnh ngộ. Do vì câu nói này chẳng phải là câu nói thông thường, mà là câu nói vượt lên trên ngôn ngữ. Vô Môn Quan ghi: “識 得 最 初 句、便 會 末 後 句、末 後 與 最 初、不 是 者 一 句。 – Biết được câu nói đầu tiên liền biết câu nói cuối cùng. Câu cuối cùng và câu đầu tiên, chẳng phải là một câu này. ● 最 初 一 步. Một bước đầu tiên. Nghĩa là không một chút chần chờ, chẳng trải qua quá trình tu tập, lập tức lãnh ngộ. Tiết Năng Nhân Thiệu Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “最 初 一 步、十 方 世 界 現 全 身。末 後 一 言、一 微 塵 中 深 鎖 斷。有 時 提 起、如 倚 天 長 劍、光 耀 乾 坤。有 時 放 下、似 紅 爐 點 雪、虛 含 萬 象。得 到 恁 麼 田 地、夭 魔 外 道、拱 手 歸 降。三 世 諸 佛、一 時 稽 首。 – Một bước đầu tiên mười phương thế giới hiện toàn thân, một lời cuối cùng chặt đứt xiềng xích trong hạt bụi nhỏ. Có khi đưa lên giống như thanh ỷ thiên trường kiếm sáng rực khắp đất trời; có khi buông xuống in tuồng tuyết trắng trong lò lửa trùm khắp muôn tượng. Đến được trình độ như thế, thiên ma ngoại đạo đều bó tay quy hàng, ba đời chư Phật đồng loạt cúi đầu”. ● 宗 旨. Còn gọi: Huyền Chỉ, Chỉ Quy, Yếu Chỉ. Mục đích cùng ý nghĩa chủ yếu của kinh điển và các bộ luận. Tứ Biện Kinh Tôn Chỉ trong Pháp Hoa Huyền Đàm của ngài Gia Tường ghi: “關 於 法 華 宗 旨、有 十 三 家 之 說。 – Có 13 nhà nói về tôn chỉ của kinh Pháp Hoa”. ● 尊 宿. Lời tôn xưng các vị thiền sư lớn tuổi, có đạo đức. Tông Môn Võ Khố ghi: “諸 方 尊 宿 示 滅、全 身 火 浴、得 舍 利 極 多。 – Các bậc tôn túc trong các thiền viện sau khi thị tịch, toàn thân được hỏa táng, thu Xá Lợi rất nhiều”. ● 存 德. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. Khi ra hoằng pháp sư ở viện Đức Sơn Cổ Đức tại Đảnh Châu (nay là huyện Thường Đức tỉnh Hồ Nam), để lại tiếng “trong sạch giản dị” cho đời. Thự hiệu: Huệ Không Đại Sư. ● 存 樹. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Đầu tiên sư giảng kinh luận, sau sư hâm mộ các thiền hội, tham Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư và đắc pháp. Sư ở viện Đại Thông trên núi Thê Nham tại Hà Trung nay là Vĩnh Tế tỉnh Sơn Tây). Bình thường sư ít nói, có ai hỏi mới đáp. Khoảng thời Hậu Lương (907-922) sư thị tịch, thọ 93 tuổi. Thự hiệu: Chân Tịch Đại Sư. ● 存 漿 (840-925). Thiền tăng đời Đường, hậu duệ Khổng Tử, Tổ tịch ở Khúc Phụ (Sơn Đông) lưu ngụ nơi Cam Tuyền (Thiểm Tây) Trung Quốc. Ban đầu sư theo Nho nghiệp, học rộng hiểu nhiều. Đến Bàn Sơn theo Hữu Viện Hiểu Phương xuất gia. Sau khi thụ giới cụ túc, đến tham kiến Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, theo hầu hạ bên cạnh được nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sau trụ viện Hưng Hóa, Ngụy Phủ (Đại Danh, Hà Bắc) đồ chúng khắp nơi tụ hội, tông phong Lâm Tế từ đây đại thạnh, người đời gọi sư là “Hưng Hóa Tồn Tương”. Hậu Đường, niên hiệu Đồng Quang thứ 2 (924) hạ chiếu thỉnh sư vào cung thuyết pháp, ban tử y và hiệu, song sư từ chối không nhận. Năm sau lại thỉnh vào cung thuyết pháp, vua ban cho ngựa, sư cưỡi bị ngã té mà viên tịch. Thụy là “Quảng Tế Đại Sư”, tháp hiệu “Thông Tịch”. Đệ tử nối pháp có Tạng Huy, Hạnh Giản v. v… Tác phẩm: Hưng Hóa Thiền Sư Ngữ Lục được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục q. 5. ● 宗 白 頭. Thiền tăng Tự Tông sống vào đời Tống, người đời gọi sư là “Tông Bạch Đầu” (Tông đầu bạc). X. Tự Tông. ● 宗 寶. 1. Tăng nhân đời Nguyên, từng trụ chùa Phong Phan Báo Ân Quang Hiếu Tự (nay là Thiều Quan tỉnh Quảng Đông) Trung Quốc. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 28 (1291), sư hiệu đính ba thứ của Đàn Kinh là: Văn bản, đính chính những chỗ lầm lẫn, bổ sung những chỗ giản lược. Sư còn biên thêm cơ duyên thỉnh ích của đệ tử, biên thành Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Đạo Độc, sống vào đời Thanh. X. Đạo Độc. ● 宗 本 (1020-1099). Thiền tăng đời Tống, họ Quản, tự Vô Triết, người Vô Tích (Giang Tô) Trung Quốc. Năm 19 tuổi nhập môn Thiền Sư Đạo Thăng chùa Vĩnh An ở Thừa Thiên, Tô Châu, khổ tu 10 năm mới cạo tóc thụ giới cụ túc, lại siêng năng hầu hạ thêm ba năm. Sau bái biệt Đạo Thăng, sư đến chùa Cảnh Đức ở Trì Châu (Quý Trì, An Huy) tham kiến Thiên Y Nghĩa Hoài có chỗ khế ngộ. Được Nghĩa Hoài sai đến chùa Thụy Quang ở Tô Châu khai pháp, pháp tịch ngày một thạnh, đồ chúng lên đến năm trăm người. Sư dời sang chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu, đạo tục ở Tô Châu lại thỉnh sư đến hai chùa Vạn Thọ, Long Hoa hoằng pháp, kẻ ngưỡng mộ hơn ngàn người. Niên hiệu Nguyên Phong thứ 5 (1082) phụng chỉ làm Tổ thứ nhất Huệ Lâm Thiền sát chùa Tướng Quốc. Khai pháp ngày hôm sau vua Thần Tông triệu thỉnh đến cung Diên Hòa hỏi đạo. Vua Triết Tông ban hiệu “Viên Chiếu Thiền Sư”. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 1 (1086) sư lấy cớ già cả xin về quê, khi ra khỏi đô thành, người đưa tiễn đông vô kể. Lúc chia tay sư có lời dạy bảo người nghe cảm động rơi lệ. Tuổi về chiều sư trụ chùa Linh Quang ở Bình Giang (Tô Châu) đóng cửa tu thiền. Sư giữ giới thanh tịnh, học thức rộng giỏi văn chương. Đệ tử có Đại Thông, Thiện Ninh, Pháp Chân, Chân Ngộ v. v… Tác phẩm: Quy Nguyên Trực Chỉ Tập 2 quyển, Huệ Biện Lục 1 quyển. ● 宗 鏡 錄. Còn gọi: Tông Giám Lục, Tâm Cảnh Lục. Luận nghị, 100 quyển do Diên Thọ sống vào đời Ngũ Đại soạn, được xếp vào Đại chính Tạng tập 48, trang 415. Tác giả triệu tập các học giả của 3 tông: Pháp Tướng, Thiên Thai, Hoa Nghiêm để gạn hỏi những điều nghi. Sau cùng Diên Thọ lấy thiền lý làm chuẩn thêm vào lời phẩm bình, biên thành sách này. Mục đích sửa lại (cho đúng) khuynh hướng xem thường Kinh sách Phật Tổ của giới tu thiền. Trong quyển 43, tác giả chỉ ra “Sự truyền thừa cho nhau vào thời gần đây chẳng noi theo lời dạy xưa, chỉ tự ý mình, chẳng hợp với ý chỉ viên dung”. Lập luận của toàn sách đặt nặng nơi vấn đề đốn ngộ viên tu, đem thuyết “Đốn ngộ” của Thiền Tông Nam Tông đề xướng kết hợp với thuyết “Viên tu” của kinh Hoa Nghiêm đề xướng, nghĩa là về thiền thì suy tôn Tổ Đạt Ma, về giáo thì suy tôn Tổ Hiền Thủ, lấy đây làm tư tưởng trung tâm của toàn sách. Việc làm này hoàn toàn phù hợp với việc xem trọng lý luận trong kinh Hoa Nghiêm của Tổ tông Pháp Nhãn là thiền sư Văn Ích. Tông Cảnh Lục dẫn lý luận kinh Hoa Nghiêm để làm căn cứ, mục đích chứng thật nghĩa lý của Thiền Tông là sâu xa viên diệu, chính là mượn giáo để làm sáng tỏ thiền mà chẳng lẫn lộn giữa thiền và giáo. Nội dung chia làm 3 chương: 1. Tiêu tông chương (Nửa phần đầu của quyển 1) Ghi rõ tôn chỉ của toàn sách, chỉ ra ý nghĩa của tên bộ sách, đấy chính là “Nêu nhất tâm làm TÔNG, nhất tâm này chiếu soi vạn pháp như CảNH (gương)”, gom chép lời dạy của Phật tổ, trình bày và giải thích chính tông của Thiền môn. 2. Vấn đáp chương (nửa phần sau của quyển 1 đến quyển 93) là phần chính của toàn sách, dùng hình thức vấn đáp để thảo luận về TÂM có những điểm đồng dị thế nào với cách nhìn giữa thiền và giáo. 3. Dẫn chứng chương (từ quyển 94 đến 100): Dẫn hơn 300 điều pháp ngữ của Phật Tổ Thánh Hiền để làm căn cứ ấn chứng và nhấn mạnh đến những điều đã kể ở phần hai. Sách này chứa đựng một số tư liệu văn hiến quý báu, có giá trị sử liệu khá cao. Diên Thọ đề xướng người tham thiền nghiên cứu giáo điển, một mặt khiến thiền tăng nhờ vào sách này mà khỏi rơi vào chỗ ngu dốt, mặt khác cũng khó tránh khỏi là khiến thiền tăng rơi vào nghĩa lý tri kiến, khó có được tinh thần sáng tạo, khó phát minh tâm tính. Sau khi hoàn thành, sách này chưa được phổ biến ngay, mãi đến khoảng niên hiệu Nguyên Phong (1078-1085) mới có khắc bản lưu truyền. Sau đó lại xuất hiện bản cải đính. Cuối đời Minh, khi khắc bản in “Gia Hưng Tạng”, ngài Trí Húc san định lại bản cải đính. Vua Ung Chính đời Thanh từng rút gọn sách này thành “Tông Cảnh Đại Cương” để truyền bá rộng rãi. Sau khi “Tông Cảnh Lục” thành sách, đã được truyền đến Cao Ly và có ảnh hưởng nhất định đối với Phật giáo nước ngoài. ● 宗 杲 (1089-1163). Thiền tăng đời Tống, họ Hề, tự Đàm Hối, hiệu Diệu Hỉ, Vân Môn, người Ninh Quốc (An Huy) Trung Quốc. Năm 17 tuổi sư theo Thiền Sư Huệ Tề chùa Huệ Vân ở Đông Sơn cạo tóc xuất gia, năm sau thụ giới cụ túc. Tham kiến Viên Ngộ Khắc Cần đại ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Khắc Cần sai Tông Cảo phân tòa thuyết pháp, nhờ vậy danh tiếng khắp Kinh sư. Niên hiệu Tĩnh Khang thứ 1 (1126) Thừa tướng Lữ Thuấn Đồ tâu vua ban cho sư tử y và hiệu “Phật Nhật Đại Sư”. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 7 (1137) theo lời mời của Thừa tướng Trương Tuấn, sư trụ trì chùa Năng Nhân ở Kính Sơn, đạo tục khắp nơi tụ hội, tông phong cực thạnh. Tính tình Tông Cảo trung kiên quả cảm. Lúc ấy Tần Cối đang lộng quyền vì ganh ghét sư được sĩ đại phu ngưỡng mộ nên tâu vua lưu đày sư đến Hành Châu (Hành Dương, Hồ Nam), Tông Cảo vẫn kiên cường thuyết pháp độ chúng sinh nơi mới đến. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 25 (1155) sư được xá tội. Khi tuổi về già, sư trụ Kính Sơn, đạo tục bốn phương nghe danh tụ hội thường là vài ngàn người. Vua Hiếu Tông lên ngôi, xuống chiếu mời vào đại nội, sư tấu đối vừa lòng vua được ban hiệu “Đại Huệ Thiền Sư”. Tông Cảo biện tài vô ngại, ngày thường hết sức cổ súy công án thiền, nên được gọi là “Khán thoại thiền”. Thụy là “Phổ Giác Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp hơn 90 người, nổi tiếng hơn hết là Tư Nhạc, Đức Quang, Ngộ Bản, Đạo Nhan v. v… Kệ thị tịch: “Sinh cũng như thế Chết cũng như thế Có kệ không kệ Có gì quan hệ”. Tác phẩm: Đại Huệ Ngữ Lục, Chính Pháp Nhãn Tạng, Đại Huệ Võ Khố v. v… ● 宗 枝. Pháp hệ truyền thừa của tông phái. Tiết Hoa Đình Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “師 昔 與 雲 巖、道 吾、三 人 并 契 藥 山 秘 旨。藥 山 去 世 後、三 人 同 議、持 少 多 種 糧、家 具、擬 隱 於 澧 源 深 邃 絕 人 烟 處、避 世 養 道 過 生。。。至 中 夜、道 吾 具 三 衣、白 二 師 兄 曰:向 來 所 議、於 我 三 人、甚 适 本 志、然 莫 埋 沒 石 頭 宗 枝 也 無? – Thuở trước, sư cùng Vân Nham, Đạo Ngô lãnh hội được mật chỉ của Dược Sơn. Sau khi Dược Sơn thị tịch, ba người cùng bàn bạc: mang chút ít lương thực, đồ gia dụng rồi định ẩn nơi hoang liêu vắng vẻ tại Lễ Nguyên, lánh đời dưỡng đạo cho qua một đời… Đến nửa đêm, Đạo Ngô mang đủ 3 y, bạch cùng hai sư huynh rằng: Theo chỗ bàn bạc ba người chúng ta là làm sao cho thỏa chí của mình, nhưng đừng để mai một pháp hệ truyền thừa của tông Thạch Đầu, có phải?” ● 宗 旨. Còn gọi: Tông Thú. Ý chỉ Thiền Tông. Thiền pháp. Tiết “Tứ Châu Dụng Nguyên Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “一 日 問 建 隆 曰:臨 濟 在 黃 檗、三 回 問 佛 法 大 意、三 回 被 打。意 旨 如 何?語 猶 未 了、被 打 一 拂 子、師 頓 領 宗 旨。 – Một hôm sư hỏi ngài Kiến Long rằng: Lâm Tế ở pháp hội Hoàng Bá, ba phen thưa hỏi đại ý Phật pháp là ba phen bị đánh, ý chỉ ra sao?. Sư chưa dứt lời liền bị Ngài đánh cho một phất tử, sư liền lãnh ngộ tông chỉ”. ● 宗 照. Thiền tăng đời Nguyên, họ Đoạn, hiệu Liên Phong, người xứ Tấn Ninh (nay là phía đông bắc Tấn Ninh tỉnh Vân Nam) Trung Quốc. Xuất gia năm 18 tuổi, sư tham vấn Thiền Sư Trung Phong Minh Bản, nối pháp ngài thuộc tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Chí Chính (1341-1368) sư trở về Tấn Ninh, ở Đông Sơn cất chùa Bàn Long để ở. Cuối đời Minh, sư được truy thụy “Đại Huệ Thiền Sư” ● 宗 已 (1290-1370). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Phục Am Tông Dĩ. Niên hiệu Chí Chính thứ 3 (1310) sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Trung Phong Minh Bản, đời thứ 24 hệ Nam Nhạc, đời thứ 7 tông Lâm Tế Nhật Bản. Niên hiệu Chí Trị thứ 3 (1323) sư trở về nước hoằng pháp tại những chùa lớn nổi tiếng, tăng chúng đệ tử thường đến hai ngàn người. ● 宗 演 (1640-1711). Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Tào Động, đời thứ 37, nối pháp Thiền Sư Thông Giác, không biết tên tục, hiệu Chân Dung, quê quán có thể ở thôn Phú Quân, huyện Cẩm Giang, miền Bắc Việt Nam. Sau, sư trụ trì ở chùa Hồng Phúc, thường lui tới hoàng cung giảng đạo cho vua nghe. Khi sắp tịch, sư gọi đệ tử là Tĩnh Giác hiệu Hạnh Nhất lại dặn dò và nói kệ: 花 開 春 方 到。葉 落 便 知 秋 枝 頭 霜 瑩 玉。萼 上 雪 連 珠 清 晨 雲 散 產 龍 甲。白 日 霞 光 裸 象 軀 豹 文 雖 見 一。鳳 眾 體 全 俱 達 摩 西 來 傳 何 法。蘆 花 涉 海 水 浮 浮 “Hoa khai xuân phương đáo Diệp lạc tiện tri thu Chi đầu sương oánh ngọc Ngạc thượng tuyết liên châu Thanh thần vân tán sản long giáp Bạch nhật hà quang lỏa tượng khu Báo văn tuy kiến nhất Phụng chúng thể toàn câu Đạt Ma tây lai truyền hà pháp? Lô hoa thiệp hải thủy phù phù”. “Xuân đến hoa chớm nở Thu về lá vàng rơi Đầu cành sương lóng lánh Cánh hoa tuyết rạng ngời Buổi sáng trời trong rồng bày vảy Ngày trưa mây sáng voi hiện hình Vằn cọp tuy thấy một Bầy phụng thể toàn đồng Đạt Ma tây sang truyền pháp gì? Cành lau qua biển nổi phau phau”. ● 宗 妙 (1369-1443). Thiền tăng đời Minh, họ Triệu, tự Giác Am, hiệu Đôi Vân Tẩu, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Năm lên mười, sư theo ngài Huệ Vân Ngân Công xuất gia, thụ giới cụ túc. Sư đến chùa Linh ẩn ở Hàng Châu yết kiến Thiền Sư Không Tẩu, được ấn chứng. Khi ra hoằng pháp, sư trụ Quảng Pháp Thiền Tự ở Gia Hưng rồi dời đến ở Vạn Thọ Thiền Tự tại Hàng Châu, nhọc lòng sửa sang khiến cho điện gác đều được mới mẻ rực rỡ. Sư trụ trì chùa Đại Báo Quốc ở Hàng Châu, xây dựng Vạn Tùng môn và Ngọ Phong lâu. Về già, sư trụ trì chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu, xây dựng lại chính điện và làm 3 pho tượng Phật lớn, các tượng Thiên, Thần. Tính sư ôn hậu, đạo mạo, giới luật nghiêm mật, mỗi khi thăng tòa thuyết pháp, âm thanh như tiếng chuông lớn. ● 宗 猷. Thiền pháp. Tiết Báo Từ Ngôn Hạnh Đạo Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “江 南 國 主 建 報 慈 院、命 師 大 闡 宗 猷。 – Quốc chủ Giang Nam xây dựng viện Báo Từ, bảo sư xiển dương thiền pháp với quy mô lớn”. Tiết Song Khê ấn Thủ Tọa trong NĐHN q. 10 ghi: “自 見 眞 淨、徹 證 宗 猷、歸 遯 雙 溪。 – Từ khi sư gặp ngài Chân Tịnh, triệt chứng thiền pháp, trở về ẩn ở Song Khê”. ● 宗 玨 (1091-1162). Thiền tăng đời Tống, Trung Quốc, họ Tôn, hiệu Đại Hưu, người đời gọi là “Đại Hưu Thiền Sư”. Năm 16 tuổi sư xuất gia, 18 thụ giới cụ túc, tham Trường Lô Tổ Khâm Đạo Hòa. Sau khi Đạo Hòa lui về ẩn cư, sư tham kiến Chân Hiết Thanh Liễu, được tâm ấn nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 2 (1132) sư khai đường nơi chùa Nhạc Lâm. Năm thứ 25 (1155) sang trụ núi Tuyết Đậu. Năm thứ 29 (1159) dời sang núi Thiên Đồng hoằng hóa cực thịnh, học chúng hơn ba ngàn người, kẻ anh tài tụ hội, đa số có chỗ thành tựu, nổi bật nhất là Túc Am Trí Giám. ● 宗 鍳 法 林. Sách, 72 quyển, do Ca Lăng Tính Âm soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 116, trang 1. Toàn sách thu thập 2. 720 điều cổ tắc công án, niêm tụng của các thiền sư trải qua nhiều đời. Nội dung được sắp xếp theo thứ tự như sau: Thế tôn, Chư kinh, Thánh hiền ứng hóa, Tổ sư ấn Độ, Tổ sư Trung Hoa, các Tổ dòng phụ, những vị chưa rõ nối pháp ai, từ đời thứ 1 dưới ngài Đại Giám đến đời thứ 37 dưới Thanh Nguyên và Nam Nhạc, các bậc Tôn túc chưa rõ nối pháp vị nào. Sách được biên tập xong vào niên hiệu Khang Hy thứ 51 (1712), và được khắc bản xong tại Tông Giám Đường chùa Bách Lâm ở Kinh sư vào năm 1714, nên tựa sách có tên là “Tông Giám Pháp Lâm”. ● 宗 教 律 諸 家 演 派. Còn gọi: Tông Giáo Luật Chư Tông Diễn Phái. Sách, 1 quyển, do Thủ Nhất Không Thành biên vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 150, trang 524. Nội dung giới thiệu tóm tắt về tôn chỉ quan trọng và sự truyền thừa của các tông phái Phật giáo Trung Quốc. Sách này phân loại không được rõ ràng, đại khái có thể chia làm 9 tông như sau: Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Thánh Thọ, Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Nam Sơn Luật. Ngoài ra, còn có phụ lục 10 điều. ● 宗 顯. Thiền tăng đờiTống, họ Vương, hiệu Chính Giác, người xứ Đồng Châu (nay là huyện Tam Thai tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Ban đầu theo nghiệp Nho, đỗ tiến sĩ rất có tiếng tăm. Nhân vốc nước suối để đùa giởn mà ngộ lẽ vô thường và bỏ hết vinh hoa thế gian, nương Thiền Sư Thuần Bạch ở chùa Chiếu Giác xuất gia. Sau khi thụ giới cụ túc, sư theo đại chúng tham thiền. Một hôm Thuần Bạch hỏi Tông Hiển: “Đứng trên đỉnh núi cao ngất, đi dưới đáy biển sâu thẳm, ngươi làm sao hội?”. Tông Hiển ngay lời này có lãnh ngộ, nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sau đó, sư đi học các nơi, trải qua các thiền lâm. Về già, sư theo Ngũ Tổ Pháp Diễn học đạo, siêng năng khổ hạnh, ngộ được bản nguyên, tiếng lành đồn xa. Khi ra hoằng pháp, sư trụ các chùa: Trường Tùng, Bảo Phúc. ● 宗 慧 大 師. Hiệu của thiền tăng Hành Tu, cũng gọi Trường Nhĩ Hòa Thượng, sống vào đời Ngũ Đại. X. Trường Nhĩ Hòa Thượng. ● 宗 泐 (1318-1391). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, tự Quý Đàm, hiệu Toàn Thất, người Đài Châu (Lâm Hải, Chiết Giang) Trung Quốc. Do chán ghét vinh hoa nên 8 tuổi sư theo Tiếu ẩn Đại Hân ở chùa Tịnh Từ, Hàng Châu học đạo, 14 tuổi cạo tóc, 20 tuổi thụ giới cụ túc. Khi Đại Hân khai sơn chùa Tập Khánh ở Long Tường, Kim Lăng (Nam Kinh), sư theo hầu. Tham kiến Kính Sơn Nguyên Tẩu, giữ chức Ký thất. Ban đầu sư trụ trì chùa Thủy Tây, dời sang trụ Trung Thiên Trúc, Song Kính v. v… Đầu đời Minh được triệu thỉnh trụ trì chùa Thiên Giới, phụng sắc cùng Như Kỷ soạn “Lăng Nghiêm Kinh chú giải” 4 quyển, “Bát Nhã Tâm kinh chú giải” 1 quyển, “Kim Cang Bát nhã kinh chú giải” 1 quyển và hiệu đính “Đại Tạng Kinh”, sáng tác chương nhạc tán thán đức Phật. Đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ thứ 10 (1377) sang Tây Vực cầu pháp, được “Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh”, “Văn Thù Kinh”. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 15 (1382) trở về nước nhậm chức Hữu thiện thế ở Tăng lục ty. Do bị triều triều thần ghen ghét hãm hại nên sư lui về ở ẩn nơi am Viên Thông. ● 宗 隆 (?-1542). Thiền tăng đời Minh, họ Cổ, tự Mộc Hưu, người xứ Ích Đô (nay thuộc Sơn Đông) Trung Quốc. Sư nương chùa Thạch Phật ở bản quận xuất gia, sau ngụ ở Thành Đô Bắc Tự làm Điển tọa. Một hôm sư ra đường gánh nước mà quên mất bản phận ấy, chợt đụng đầu vào vách liền có tỉnh, thốt ra bài kệ như sau: 大 地 山 河 體 性 空 那 分 行 走 與 西 東 偶 然 撞 著 無 私 句 萬 水 千 山 總 一 同。 “Đất đai sông núi thể tính không Đâu phân xuôi ngược với tây đông Ngẫu nhiên đụng phải câu bình đẳng Ngàn núi muôn sông một thể đồng”. Sư đến chùa Càn Minh yết kiến Vô Tận, trình sở đắc của mình nhờ ngài ấn chứng, nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Khi ra hoằng pháp sư trụ Thất Tiêm Phong ở Tùy Châu (nay thuộc Hồ Bắc), đem Tam quan ngữ để dạy người học. ● 宗 脉. Thế hệ truyền thừa Thiền Tông. Huệ Năng truyện trong TCTT q. 8 ghi: “神 會 和 尚 序 宗 脉、從 如 來 下 西 域 諸 祖 外、震 旦 凡 六 祖、盡 图 繢 其 影。太 尉 房 琯 作 〔六 葉 图 序〕。 – Hòa Thượng Thần Hội sắp xếp thứ tự thế hệ truyền thừa Thiền Tông, ngoại trừ từ Như Lai trở xuống chư Tổ Tây Vực ra, 6 vị tổ Trung Hoa đều có vẽ hình của các ngài. Thái úy Phòng Quan có làm Lục diệp đồ tự”. ● 宗 密 (780-841). Thiền tăng đời Đường, họ Hà, người Tây Sung, Quả Châu (Tứ Xuyên) Trung Quốc. Thiếu niên sư thông kinh sử, có khí tiết, khảng khái có chí lớn. Năm 28 tuổi xuất gia, đến chùa Hoa Nghiêm ở Trường An theo Trừng Quán thọ giáo, học kinh nghĩa Hoa Nghiêm. Về sau trụ thảo đường Khuê Phong núi Chung Nam tụng kinh tu thiền, người đời gọi là “Khuê Phong Đại Sư”. Ngoài việc tuyên giảng giáo nghĩa Hoa Nghiêm sư còn giảng về Thiền Tông cùng các tông phái khác, nỗ lực dung hợp các phái. Niên hiệu Đại Hòa thứ 9 (835) vua Đường Văn Tông ban chiếu thỉnh sư vào cung giảng đại ý Phật pháp, được ban tử y. Thụy là “Định Huệ Thiền Sư”. Tác phẩm: Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập. ● 宗 門. Nhà Thiền tự gọi là Thiền Tông, là Tông môn, và gọi các Tông phái khác của Phật giáo là Giáo môn. Tiết Tứ Tổ Trọng Tuyên Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “但 能 一 言 了 悟、不 起 坐 而 即 證 無 生;一 念 回 光、不 舉 步 而 遍 周 沙 界。如 斯 要 徑 、可 曰 宗 門。 – Chỉ cần có khả năng liễu ngộ ngay nơi một lời nói, chẳng đợi toạ thiền chứng Vô sinh. Một niệm quán chiếu lại tự tâm, chẳng cất bước mà đi khắp các thế giới. Đường lối thẳng tắt như thế đáng gọi là Tông môn”. ● 宗 門 寶 積 錄. Lục, 93 quyển, do Sơn Hiểu Bản Chiết soạn vào đời Thanh. Trong Tục Tạng Kinh tập 127 chỉ có ghi lời tựa, phàm lệ và mục lục của sách này. Tác giả thu thập Ngữ Lục của 88 vị thiền sư trong 3 đời Tống Nguyên Minh chưa được ghi chép trong các sách: “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục”, mô phỏng theo thể lệ của “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” mà sưu tập và trình bày các phần: Thượng đường, Thị chúng, Tiểu tham, Cơ duyên, Niêm tụng, Pháp ngữ… ● 宗 門 摭 英 集. Truyện, 3 quyển, do Duy Giản (Trụ trì thiền viện Triệu Châu Siêu Hóa) tập lục vào niên hiệu Cảnh Hựu thứ 5 (1038) đời Tống. Khoảng niên hiệu Hoàng Hựu (1049-1053), sách này được khắc bản in ở Hàng Châu, sau đó truyền vào Cao Ly. Hơn nữa, do Đại Tạng Cao Ly được giám sát kỹ để cho in lại, sau đó chẳng thấy truyền bản của sách này. Đến tháng 7 năm 1981, học giả Nam Triều Tiên là Triệu Minh Cơ từ Hán Thành trở về đến hiệu sách, tình cờ phát hiện được mộc bản gốc Trung Hoa của sách này. Quyển thượng gồm 53 tấm mộc bản (bảng gỗ), đã mất hết 2 tấm. Hiện còn phần thu thập truyện của 180 người, phụ lục “Quy Sơn Cảnh Sách”. Quyển trung gồm 52 tấm mộc bản, thu thập truyện của 137 người. Quyển hạ gồm 48 tấm mộc bản, thu thập truyện của 107 người. Tác giả đã từng đi thưa hỏi các bậc thiền sư tài giỏi các nơi, đọc rộng các sách, sưu tập nhiều tư liệu để biên thành sách này, vì thế đây là văn hiến quan trọng để nghiên cứu lịch sử Thiền Tông Trung Quốc. Những truyện ký do sách này thu thập như: Hành giả Cam Chí ở Trì Xuyên, Thượng tọa Tế, Kê Sơn Chương ở Trì Châu, Khuông Hóa ở chùa Báo Tự Đàm Châu ứng Ngộ ở núi Vân Môn Thiều Châu, Phúc Hóa Nghiêu ở My Châu, Hụê Giám ở thành Thựơng Hóa Lô Sơn, 8 vị thiền tăng thường ở núi Bách Trượng Hồng Châu chẳng thấy nơi bất cứ quyển Truyền Đăng Lục, hay Tăng truyện nào. Đây là chỗ có giá trị nhất của sách nầy. ● 宗 門 正 燈 錄. Đăng Lục, 12 quyển, do Đông Dương Anh Triều (Tăng nhân Nhật Bản) soạn. Sách này là truyện ký về chư Tổ Thiền Tông, thu thập 24 vị kể từ các Tổ sư dưới pháp hệ Nam Nhạc như: Mã Tổ Đạo Nhất, Bách Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận cho đến các thiền sư Nhật Bản như: Đại ứng Thiệu Minh, Đại Đăng Diệu Siêu… Trừ truyện ký ra, còn có các phần: Ngữ yếu, Niêm hương, Kệ tán, Hành trạng v. v.. Tác giả là thiền tăng thuộc tông Lâm Tế, theo lời tự tự viết vào niên hiệu Văn Quy thứ 1 (1501) Nhật Bản, như sau: “Từ 5 ngọn đèn (Ngũ Đăng) truyền cho trăm ngàn ngọn đèn, trăm ngàn ngọn đèn họp làm một ngọn đèn, ánh sáng của chúng cháy sáng không tắt, nên dùng ý nghĩa này để đặt tên cho bộ sách”. ● 宗 門 或 問. Gọi đủ: Tông Môn Hiển Thánh Tự Tán Mộc Thiền Sư Tông Môn Hoặc Vấn. Còn gọi: Trạm Nhiên Thiền Sư Tông Môn Hoặc Vấn Sách, 1 quyển, do Trạm Nhiên Viên Trừng soạn vào đời Minh, Liễu Trinh và Chu Gia Mưu biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 126, trang 317. Nội dung gồm 52 mục về pháp môn tham thiền và yếu chỉ tu đạo do Thiền Sư Viên Trừng đáp lại lời hỏi của người học vào tháng 4 niên hiệu Vạn Lịch thứ 23 (1595). Cuối quyển phụ lục: “Tham Thiền Thích Nạn Hoặc Vấn Bổ Di”, “Đáp Minh Đảnh Tử Vấn”, “Đạt Quan Hòa Thượng Chiêu Ương truyện”. Sách này phụ vào sau bộ Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục. ● 宗 門 玄 鍳 圖. Sách, 1 quyển, do Hư Nhất Phương Giác biên vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 35 (1607) đời Minh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 112, trang 929. Tác giả xét thấy các tông phái trong thiền lâm, mỗi mỗi đều lập môn phái riêng, đua nhau đề xướng, khiến cho người học đời sau không biết theo ai, nên làm ra “Huyền Giám Đồ”, dẫn chứng huyền cơ vi diệu của Tiên thánh và nắm lấy những điểm cốt yếu rồi chia làm vài mươi mục như: Môn, Luận, Tụng, Đồ v. v.. để luận giải rõ ràng về nguồn gốc, sự phát triển cùng với tông chỉ của các tông: Tào Động, Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn. Nội dung bao gồm 12 môn: Phổ Hiền, Văn Thù, Quán Âm, Dĩ lý nhân hà, Thuận thật y ngũ, Pháp thể tự nhiên, Mật ứng tàng phong, Sự lý lý đối, Ký sự tiêu cơ, Lý tuyệt thuyên sự, Thuận chính quy thật, Toàn cơ tận pháp và 5 luận: Tam huyền, Tứ đại thức, Bát bổng, Ngũ cú, Bát đại thế cho đến các loại Ngũ vị đồ tụng v. v… ● 宗 門 拈 古. Sách, 4 quyển, do biên giả trích lục từ Huệ Cung Huýnh Thiền Sư Ngữ Lục từ quyển 2 đến quyển 5 để biên thành sách này. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 20 (1681). ● 宗 門 拈 古 匯 集. Lục, 45 quyển, do Bạch Nham Tịnh Phù biên vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 3 (1664) đời Thanh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 115, trang 514. Nội dung bao gồm niêm đề, cơ duyên của Phật Tổ đến các thiền sư đời thứ 33 dưới Nam Nhạc và đời thứ 36 dưới Thanh Nguyên. Sách này thu thập những lời niêm đề của các thiền sư từ đời Tống, Nguyên trở về trước đã được “Tông Môn Thống Yếu” đem vào rồi bổ sung những lời cơ duyên của họ. Đối với những thiền sư từ đời Tống, Nguyên về sau mà “Tông Môn Thống Yếu” chưa đem vào thì căn cứ theo thời gian mà sắp xếp thứ tự trước sau. Biên giả sưu tập nhiều Ngữ Lục, hành trạng, bi minh của các nơi, cứ một niêm thì một biệt, một đại thì một trưng, đều nương theo thể lệ của “Tông Môn Thống Yếu” mà biên chép sửa thêm, gồm 1. 700 bài. ● 宗 門 十 規 論. Còn gọi: Pháp Nhãn Thiền Sư Tông Môn Thập Quy luận, Tịnh Huệ Pháp Nhãn Thiền Sư Tông Môn Thập Quy luận. Luận, 1 quyển, do Thanh Lương Văn Ích soạn vào đời Ngũ Đại, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 110, trang 877. Đại ý của sách này là nêu ra những thông bệnh của thiền tăng đời Ngũ Đại, rồi ban cho những lời khuyên bảo, tất cả gồm có 10 điều: 1. Tự mình chưa sáng được tâm tính mà dối làm thầy mọi người. 2. Muốn cử dương môn phong mà chẳng thông nghị luận. 3. Muốn nêu chỗ mấu chốt mà chẳng biết huyết mạch. 4. Đối đáp không quán sát thời cơ lại không có tông nhãn. 5. Lý sự trái nhau, chẳng phân biệt đục trong. 6. Chẳng trải qua sự sàng lọc, ức đoán ngôn cú cổ kim. 7. Chỉ biết ghi nhớ cơ phong của cổ đức, gặp việc chẳng hiểu diệu dụng. 8. Chẳng thông giáo điển, dẫn chứng loạn xạ. 9. Chẳng kể đến thanh luật, chẳng đạt đạo lý mà thích làm kệ tụng. 10. Cố giữ sở đoản của mình, thích tranh hơn thua. Đời sau chú thích về sách này có quyển “Tăng Tiên Bàng Chú Tông Môn Thập Quy Luận”. ● 宗 門 十 勝 論. Luận Nghị, 1 quyển, do Hổ Quan Sư Luyện (Tăng nhân Nhật Bản) soạn, được xếp vào phần phê phán của Thiền Học Đại Hệ. Tác giả nêu ra 10 việc để phân tích và trình bày lý do tại sao Thiền Tông hơn hẳn các Tông phái khác. Bàn về 10 điểm ưu việt (Thập thắng Luận) như sau: 1. Thiền Tông chính thức kế thừa từ Thiên Trúc. 2. Địa vị cao quý của Bồ Đề Đạt Ma 3. Chư Tổ nổi tiếng ai ai cũng biết. 4. Lưu phái được truyền bá rộng rãi và lâu dài. 5. Dự đoán được sự phát triển của tương lai Thiền Tông. 6. Các tác phẩm Thiền Tông đều được nhập tạng. 7. Quy củ nghiêm chỉnh 8. Sự quy hướng đông đảo của Vua quan. 9. Sự ứng cơ giáo hóa người học rất khéo. 10. Các tông phái khác đều suy tôn Thiền Tông Trong quyển hạ của “Thiền Bạ chí” có phần phê bình như sau: ― Điều 1, 3, 7, 9, 10 luận rất xác đáng. ― Điều 2, 5 là chỗ thán phục của người theo Giáo môn. ― Điều 6 chưa phải là ưu việt. ― Điều 4, 8 còn hẹp hòi. ● 宗 門 設 難. Gọi đủ: Vân Môn Mạch Lãng Hoài Thiền Sư Tông Môn Thiết Nạn. Lục, 1 quyển, do Mạch Lãng Minh Hoài (Thiền tăng tông Tào Động) soạn vào đời Minh, Hứa Nguyên Chiêu lục, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 127, trang 1002. Vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 48 (1620) đời Minh, có vị tăng cho rằng: “Tâm pháp của Thiền Tông là quét sạch quán hạnh, chẳng lập văn tự, thế sao lại có thuyết của các thiền sư đời sau như: Tam huyền tam yếu, Ngũ vị tam quan”, rồi đem 25 điều nghi ngờ quan trọng trong Tông môn để hỏi Minh Hoài. Minh Hoài trình bày và giải thích mỗi điều thật rõ ràng bằnh hình thức vấn đáp để hoằng dương yếu nghĩa Thiền Tông. ● 宗 門 統 要 續 集. Còn gọi: Tục Tập Tông Môn Thống Yếu. Lục, 22 quyển, do Tông Vĩnh nguyên biên vào đời Tống, Nguyên Thanh Mậu tục biên. Theo lời tựa của Phùng Tử Chấn, chúng ta biết được “Tông Môn Thống Yếu” của Tông Vĩnh khắc bản lại vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 3 (1133) đời Tống, Nguyên Vĩnh Mậu đã thêm vào 2 quyển, nghĩa là bổ sung tất cả 406 vị kể từ đời thứ 12 đến đời thứ 18 dưới Nam Nhạc, đời thứ 11 đến đời thứ 14 dưới Thanh Nguyên, nhưng chỉ thu thập 259 bài Ngữ Yếu cơ duyên của 131 vị mà thôi. ● 宗 門 武 庫. Gọi đủ: Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Tông Môn Võ Khố. Còn gọi: Đại Huệ Tông Môn Võ Khố, Đại Huệ Võ Khố. Bút ký, 1 quyển, do Đại Huệ Tông Cảo soạn vào đời Tống, đệ tử của sư là Đạo Khiêm biên tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 943. Đại Huệ Tông Cảo thu thập các câu chuyện trong chùa vào các đời trước hoặc đương thời và cơ ngữ của cao tăng Thiền Tông. Cách hành văn gần giống như thi thoại, từ thoại, có thể gọi là Thiền thoại, gồm 121 điều. Các thiền ngữ được thu thập hoặc là cơ phong cao vút, hoặc là lời bình thường chân chất, đôi khi là những câu chuyện sinh động lý thú, cũng có khi là những câu chuyện thần thánh quỷ dị. Sách này là một tác phẩm Thiền Tông rất đặc sắc, được thiền tăng tông Lâm Tế truyền tụng. ● 宗 門 無 盡 燈 論. Luận, 2 quyển, do Đông Lãnh Viên Từ (Thiền tăng tông Lâm Tế Nhật Bản) viết, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 81, trang 581. Tác giả đem 10 điều dưới đây theo thứ tự giải thích về pháp môn tín tâm tu hành: 1. Tông do 2. Tín tu 3. Hiện cảnh 4. Thực chứng 5. Thấu quan 6. Hướng thượng 7. Lực dụng 8. Sư thừa 9. Trưởng dưỡng 10. Lưu thông. Quyển cuối có phụ lục 1 thiên “Hành Trì Luận”. Tên sách “Vô Tận Đăng” là do lấy ý nghĩa từ “Một ngọn đèn phân phát ra ngàn ngọn đèn ánh sáng không dứt”. ● 宗 元 (1100-1176). Thiền tăng đời Tống, họ Liên, hiệu Trúc Nguyên, người Kiến Dương (Phúc Kiến) Trung Quốc. Thuở nhỏ theo Nho học, được mọi người khen là tú kiệt trong Nho giới, 28 tuổi sư vào cửa Tây Phong Đạo Tủng xuất gia; sau tham kiến Đại Huệ Tông Cảo ở Kính Sơn được ấn khả mà nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Nơi chùa Tây Thiền Sư giữ chức Phân tọa, theo lời mời của Thừa tướng Trương Tuấn sư đi du phương các chùa hoằng dương Thiền phong. Cuối đời sư trở về quê ẩn cư, am tranh gọi là “Chúng Diệu Viên”. Tăng tục xen thỉnh khai pháp, sư mở hội giảng thuyết. Tác phẩm: Trúc Nguyên Nguyên Am Chủ Ngữ 1 quyển. ● 宗 眼. Giáo nghĩa Thiền Tông, giáo nghĩa tông phái. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “若 能 道 得。便 乃 性 平 生 光 揚 宗 眼。若 也 顢 頇。頂 上 一 槌 莫 言 不 道。 – Nếu có thể nói được mới là một đời lanh lẹ làm rực rỡ giáo nghĩa Thiền Tông; còn như mù mờ sẽ lãnh đủ một dùi trên đảnh, chớ bảo ta chẳng nói”. ● 宗 一 大 師. Hiệu của Thiền tăng Sư Bị đời Ngũ Đại. X. Sư Bị. ● 宗 一 禪 師. 1. Hiệu của Thiền tăng Thủ Oai, đời Ngũ Đại. X. Thủ Oai. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Pháp Đạo, đời Ngũ Đại. X. Pháp Đạo. ● 宗 范. Sách, 2 quyển, do Tiền Y Am soạn vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 567. Toàn sách chia làm 10 chương: Thiền nguyên, Triệt tham, Điều tập, Nhập thánh, Lợi nhân, Hiển dụ, Cơ dụng, Cương tông, Thị biện, Quán giáo nói về Diệu tâm của Thiền Tông. Nội dung viện dẫn cơ duyên tham ngộ của tiên thánh, y vào thứ tự trước sau để tham cứu, từng bước trình bày ý nghĩa giáo thiền hợp nhất, thiền tịnh song tu. ● 宗 風. Còn gọi: Phong nghi, Thiền phong. Phong cách riêng biệt của một tông. Chẳng hạn: Lâm Tế Tông phong, Tào Động Tông phong (phong cách riêng biệt của tông Lâm Tế, phong cách riêng biệt của tông Tào Động). Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “問:師 唱 誰 家 曲。宗 風 嗣 阿 誰。師 云:我 在 黄 蘗 處。三 度 發 問 三 度 被 打。 – Hỏi: Sư xướng gia khúc của ai, tiếp nối tông phong của vị nào? Sư đáp: Ta ở chỗ Hoàng Bá, 3 phen thưa hỏi là 3 phen bị đánh”. ● 宗 師. Pháp sư Thiền Tông. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “大 凡 扶 豎 宗 教。須 是 有 本 分 宗 師 眼 目。有 本 分 宗 師 作 用。 – Nói chung, nếu người nào muốn đỡ nâng Thiền và Giáo thì cần phải có con mắt và tác dụng của bậc Pháp sư Thiền Tông chân chính”. ● 宗 樹. Thiền tăng đời Tống, hiệu Vô Lượng, người đời gọi là “Vô Lượng Thọ Thiền Sư”, nối pháp Thiền Sư Tú Nham Sư Đoan, thuộc tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Thụy Nham ở Minh Châu (nay thuộc huyện Ninh Ba, Chiết Giang). Tác phẩm: Nhập Chúng Nhật Dụng Thanh Quy, được ấn hành vào niên hiệu Ninh Tông Gia Định thứ 2 (1209). ● 宗 統 編 年. Sách, 32 quyển, do Kỷ ấm biên tập vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 1. Kỷ ấm dùng hình thức biên niên thể để ghi chép về sự phát triển và diễn biến của Thiền Tông từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến niên hiệu Khang Hy thứ 28 (1689) đời Thanh. ― Quyển l, 2: Truyện Phật Thích Ca Mâu Ni ― Quyển 3-7: Truyện chư Tổ ấn Độ. ― Quyển 8: Truyện Sơ Tổ Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma ― Quyển 9-30: Truyện Nhị Tổ Trung Hoa là Huệ Khả cho đến các thiền sư của 5 tông phái, xuống tới truyện Vũ Môn đời thứ 29 của tông Lâm Tế, sách Tông Cảnh đời thứ 29 của tông Tào Động, gồm cả việc ghi về sự kiện lịch sử Phật giáo quan trọng, hễ có nghi vấn thì có phụ chú thêm để giải thích. ― Quyển 31, 32: Có tựa là “Chư Phương Lược Kỷ”. Nội dung thu thập những điều thấy nghe về pháp hệ Thiền Tông của các nơi từ niên hiệu Vạn Lịch thứ 43 (1615) đời Minh đến niên hiệu Khang Hy thứ 28 (1689) đời Thanh. Tác giả sưu tập tư liệu với phạm vi rất rộng, tài liệu được rút ra từ các loại Truyền Đăng Lục, Cao tăng truyện, gồm cả những sách vở ngoài Phật giáo. ● 宗 趣. Ý chỉ của thiền. Bài tựa trong kinh Lăng Già Tâm ấn do thiền sư Hàm Thị sớ giải ghi: “Táo Bá rất thâm hiểu tông thú kinh Lăng Già vậy”. ● 宗 書 (1500-1567). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, tự Tiểu Sơn, hiệu Đại Chương, người phủ Thuận Đức (thành phố Hình Đài, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. Đắc pháp nơi Thiền Sư Văn Tải ở Tổ đình Thiếu Thất, đời thứ 29 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì Tổ đình Thiếu Thất vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 36 (1557), vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 45 sư trụ trì am Tông Cảnh ở Bắc Kinh. Tác phẩm: Tiểu Sơn Biệt Tập, Tông Thư Ngữ Lục ● 宗 乘. 1. Tức là Thiền Tông, cũng gọi là Tổ sư Thiền, là pháp thiền trực tiếp do Phật Thích Ca truyền cho Tổ Ca Diếp. Tắc 22 Bích Nham Lục (Đại 48, 162 hạ) ghi: “後 到 德 山。問 從 上 宗 乘 中 事。學 人 還 有 分 也 無。山 打 一 棒。道 什 麼。我 當 時 如 桶 底 脫 相 似。 – Về sau tôi đến Đức Sơn hỏi: Việc trong Tông thừa xưa kia, người học có phần chăng? Sơn liền đánh cho một gậy, bảo: Nói cái gì? Lúc ấy tôi như thùng lủng đáy”. ● 2. Thiền pháp. Tiết Thượng Phong Bản Tài Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “宗 乘 提 唱、妙 絕 名 言。一 句 該 通、乾 坤 函 蓋。 – Thiền pháp đưa ra khéo dứt tên gọi và lời nói, một câu thông suốt thì muôn vàn sự vật đều là diệu thể chân như”. ● 宗 信. Thiền tăng đời Nguyên, họ Phương, hiệu Cập Am, người xứ Vụ Châu (nay thuộc huyện Kim Hoa, Chiết Giang) Trung Quốc. Sư tham vấn nơi ngài Tuyết Nham Tổ Khâm và đắc pháp rồi nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Ban đầu sư ở Tây Phong tại Kiến Dương để hoằng pháp, về sau sư trụ Đạo Tràng Sơn, Vạn Thọ Sơn tại Hồ Châu (nay thuộc Phúc Kiến). ● 宗 靖 (871-954). Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Thai Châu (nay là huyện Lâm Hải tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Ban đầu sư tham thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, sung chức Phạn đầu hơn 10 năm, sau trở về Chiết Giang ở viện Lục Thông. Ngô Việt Vương thỉnh sư ở chùa Long Hưng tại Hàng Châu, tuy số chúng có đến ngàn người, nhưng đều là hạng tam học giảng tụng. Ngô Việt Vương nhiều lần mời sư vào phủ để thưa hỏi yếu chỉ của Thiền và ban cho sư hiệu Đại Sư. ● 宗 靜 (1373-1448). Thiền tăng đời Minh, họ Cao, tự Chiếu Am, hiệu Điềm Hiên Tẩu, người xứ Vũ Lâm (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Sư nương ngài Nhạc Công ở chùa Tịnh Từ tại Hàng Châu để xuất gia và thụ giới cụ túc, nghiên cứu kinh điển, hiểu sâu áo nghĩa Chỉ Quán của tông Thiên Thai. Thiền Sư Tổ Phương Liên kế vị trụ trì chùa Tịnh Từ vừa gặp sư liền biết sư là pháp khí nên cho sư hầu hạ bên cạnh để trao cho pháp yếu. Một thời gian lâu sư có tỉnh, liền được ngài ấn chứng. Đầu niên hiệu Vĩnh Lạc (1403) sư theo Tổ Phương đến kinh đô, tham gia vào việc sửa chữa “Vĩnh Lạc Đại Điển”. Khi Tổ Phương bị đày đi Ngũ Đài, sư trước sau vẫn không rời Ngài, dù ở lều cỏ uống nước khe, lặn lội chốn hiểm nguy sư càng cung kính hầu hạ ngài. Năm 1411, sư ra hoằng pháp trụ chùa Hộ Quốc. Đầu niên hiệu Tuyên Đức (1426) sư dời đến chùa Tuyết Đậu ở Phụng Hóa (nay thuộc Chiết Giang), ít lâu sau lại dời sang chùa Tịnh Từ. ● 宗 淨 (1337-1442). Thiền tăng đời Minh, họ Nghê, tự Nguyệt Giang, hiệu Nguyệt Thanh, người xứ Lan Khê (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 17 tuổi theo ngài Văn Trạch xuất gia học đạo tại viện Chính Giác, tụng kinh Lăng Nghiêm có tỉnh. Sư đến Song Lâm tham Chính Am Ngân Thiền Sư. Chính Am vừa gặp sư liền sai làm Duy Na. Khi ra hoằng pháp sư trụ Kính Sơn, Hàng Châu, trong lúc giáo hóa mọi người, không ai chẳng khâm phục. Tác phẩm: Kính Sơn Tập, Nguyệt Thanh Ngữ Lục, Thạch Môn Ngữ Lục. ● 宗 賾. Thiền tăng đời Tống, họ Tôn, người Tương Dương (Hồ Bắc) Trung Quốc. Tuổi nhỏ sư mất cha, được mẹ nuôi dưỡng nên người. Chí khí hơn người học tập Nho nghiệp, bác thông kinh sử. Lúc 29 tuổi đến chùa Trường Lô, Chân Châu (Nghi Chân, Giang Tô) sư theo Viên Thông Pháp Tú cạo tóc xuất gia và thụ giới cụ túc. Sau sư theo Quảng Chiếu ứng Phu tham vấn thiền chỉ. Một hôm, sư vừa bước lên bực thềm chợt có tỉnh ngộ, liền làm bài kệ: 舉 足 上 磚 階、分 明 這 箇 法 黃 楊 木 畔 笑 呵 呵 萬 里 青 天 一 輪 月 “Nhấc chân bước lên thềm, Thấu rõ pháp này xong, Bên cây hoàng dương cười ha hả, Trời xanh muôn dặm một vầng trăng”. Được ứng Phu ấn khả, nối pháp làm truyền nhân tông Vân Môn. Niên hiệu Nguyên Hựu (1086-1093) sư trụ trì chùa Trường Lô đón mẹ về ở thất phía đông phương trượng, khuyên mẹ cạo tóc xuất gia và trì niệm Phật A Di Đà. Bảy năm sau mẹ mất, sư làm “Khuyến hiếu văn” 120 thiên nói về hiếu đạo thế gian và xuất thế gian. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 4 (1089) mô phỏng Bạch Liên xã ở Lô Sơn, sư lập Liên Hoa Thắng Hội khuyến khích đạo tục niệm Phật hiệu hồi hướng phát nguyện cầu sinh Tịnh độ. Niên hiệu Sùng Ninh (1102- 1105) đáp ứng lời thỉnh của Đải Chế Dương Úy, sư hoằng pháp tại phủ Chân Định (Chân Định, Hà Bắc). Tác phẩm: Thiền Xã Thanh Quy 10 quyển, Vi Giang tập, Tọa Thiền Châm, Niệm Phật Tham Thiền Cầu Tông Chỉ Thuyết, Liên Hoa Thắng Hội Lục Văn, Niệm Phật Hồi Hướng Phát Nguyện Văn. Thụy là “Từ Giác Đại Sư”. ● 宗 澤 (1640-1707). Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, tự Đông Lan, người xứ Tấn Giang (nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc. Xuất gia từ thuỏ bé, sư tu học ở chùa Khai Nguyên. Năm 1673, Sư vượt biển đến Trường Kỳ (Nagasaki) Nhật Bản tới chùa Phúc Tế ra mắt Từ Nhạc Định Sâm. Niên hiệu Nhật Bản Thiên Hòa thứ 1 (1681), nước Nhật bị thiên tai, Tông Trạch thống lãnh đồ chúng bưng bát cứu giúp hơn 10. 000 người. Về sau, sư nối pháp ngài Định Sâm, trở thành vị trụ trì đời thứ 3 của chùa Phúc Tế. Niên hiệu Nguyên Lộc thứ 6 (1693), sư xây dựng Linh Thứu Am. Đến năm 1696, sư lại ra trụ trì chùa Phúc Tế. Niên hiệu Bảo Vĩnh thứ 4 (1707), sư thị tịch. ● 宗 智. X. Viên Trí. ● 宗 徹 (?-919). Thiền tăng đời Đường, người xứ Hồ Châu (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Sư thờ Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận, về sau ra hoằng pháp ở viện La Hán Hàng Châu, lúc tiếp cơ thích dùng từ ngữ “Cốt tỏa dã”, nên lúc ấy sư có hiệu là “Cốt Tỏa Hòa Thượng”. ● 宗 匠. Còn gọi: Tông Sư, Tông Sư Gia, Thiện Tri Thức. Bậc thầy giỏi chuyên truyền dạy Thiền Tông. Đây là bậc Cao tăng đã thể đắc tông chỉ Thiền Tông, hay khéo dùng phương tiện để tiếp hóa đệ tử giúp họ tiến vào cảnh giới ngộ một cách đúng đắn. Thích Thị Yếu Lãm, q. thượng (Đại 54, 260 trung) ghi: “宗 師、傳 佛 心 宗 之 師、又 問 宗 者、尊 也、爲 此 人 開 空 法 道、爲 眾 所 尊 故。 – Tông tượng, là vị thầy truyền dạy Thiền Tông. Hơn nữa, chữ Tông còn có âm là Tôn, hàm ý tôn kính, nghĩa là người chuyên dạy về pháp KHÔNG, được mọi người tôn kính”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 宗 要. Yếu nghĩa Thiền Tông. Tiết Long Đàm Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “師 既 領 宗 要、觸 目 朗 然、猶 如 遠 客 還 家、頓 息 他 游 之 意、亦 如 貧 收 寶 藏、故 無 不 足 求。 – Sư đã lãnh hội được tông yếu, chạm mắt đều rõ ràng, giống như khách ở xa trở về quê nhà, bỏ ngay ý định đi lang thang và như kẻ nghèo được kho báu, không món gì cần dùng lại không có”. ● 送. 1. Đẩy. Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “臨 濟 聞 得、謂 洛 浦 曰:汝 去 問 他、道 得 爲 甚 麼 也 三 十 棒?待 伊 打 汝、接 住 棒 送 一 送、看 伊 作 麼 生?浦 如 教 而 問、師 便 打。浦 接 住 送 一 送、師 便 歸 方 丈。 – Lâm Tế nghe được bảo Lạc Phố rằng: Ngươi đi hỏi hắn, nói được vì sao cũng ăn ba mươi gậy? Đợi hắn đánh, ngươi nắm gậy đẩy cho một cái, để coi hắn làm sao? Phố hỏi như Tế đã dạy, sư (Đức Sơn) liền đánh. Phố nắm lấy gậy đẩy cho một cái. Sư trở về phương trượng. “ ● 2. Đưa ma, đưa đám. Vô Môn Quan ghi: “師 令 無 維 那 白 槌 告 眾、食 後 送 亡 僧。大 眾 言 議、一 眾 皆 安、涅 槃 堂 又 無 人 病、何 故 如 是。 – Sư sai Duy Na đánh kẻng báo cho chư tăng biết: ›Sau khi ăn đi đưa đám một vị tăng mới mất‹. Đại chúng bàn tán: Toàn chúng đều an ổn, Niết Bàn đường cũng không có người bệnh, vì sao như thế?” ● 3. Động tác đại tiện, tiểu tiện. Đi ỉa, đi đái. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。佛 法 無 用 功 處。秖 是 平 常 無 事。屙 屎 送 尿 著 衣 喫 飯。困 來 即 臥。 – Đạo lưu, Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ là bình thường vô sự, đi ỉa đi đái mặc áo ăn cơm, buồn ngủ liền đi nằm. “ ● 宋 高 僧 傳. Còn gọi: Đại Tống Cao Tăng Truyện. Truyện, 30 quyển, do Toản Ninh biên soạn vào đời Tống, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 50, trang 709. Nội dung bao gồm truyện ký của các bậc cao tăng trong vòng 300 năm, kể từ niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường đến niên hiệu Đoan Củng thứ 1 (988) đời Tống. Thu thập tổng cộng 531 truyện chính và 125 truyện phụ. “Tập Thiền Thiên” thu thập 103 truyện chính, 29 truyện phụ. Ngoài Vân Môn Văn Yển ra, những nhân vật quan trọng của các phái Thiền Tông đều có truyện riêng, Đối với những sự tích tranh luận trong nội bộ Thiền Tông cũng chẳng che giấu. Đây là một tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử Thiền Tông. Tư liệu sưu tập của tác giả rất phong phú, bi minh, tháp minh, loại dã sử đáng khảo chứng đều được đem vào sách này (là loại tỉ mỉ xác thực đáng tin cậy) có giá trị sử liệu rất cao, thế nên đây là một tác phẩm sử truyện Phật giáo nổi tiếng. Năm 1987, Trung Hoa Thư Cục có ấn hành sách này, bản có dấu câu rõ ràng. ● 卒 客 無 卒 主. Vị khách có thủ đoạn tài tình và chủ là người không có bản lĩnh. Thời Nam Triều, Sơ tổ Thiền Tông Đạt Ma từ Thiên Trúc sang Trung Quốc, lúc ấy dù Lương Võ Đế là bậc thượng trí lanh lợi song vẫn chưa thể khế hợp với vị khách có thủ đoạn đặc biệt này. Tắc 2, Thung Dung Lục (Đại 48, 228 trung) ghi: “夜 光 投 入、鮮 不 按 劍;卒 客 無 卒 主、宜 假 不 宜 眞;差 珍 異 寶 用 不 著、死 貓 兒 頭 拈 出。 – Rót chén ngọc mời người, ít có ai không để tay trên đóc gươm, vị khách có thủ đoạn tài tình mà người chủ lại không có bản lĩnh, ưng đồ giả mà chẳng chịu đồ thật; không dùng được đồ quý báu lại đưa đầu con mèo chết ra!”. ● 吒 沙. Còn gọi: Trác Sóc. Dựng đứng, giương lên. Mật Am Ngữ Lục ghi: “金 毛 獅 子 尾 吒 沙。 – Sư tử lông vàng đuôi dựng đứng”. ● 槎 槎 牙 牙 (532). Có vẻ so le không đều. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “Tra tra nha nha, lão mai thọ, hốt khai hoa. – Cội mai già cao thấp không đều, chợt nở hoa. “ ● 卓. 1. Xây dựng; kiến trúc, xây cất. Tiết Quy Tông Trí Thường Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “這 一 片 地 大 好 卓 庵。 – Miếng đất này có vị trí rất tốt để dựng am”. Tiết Sa Di Cao ở Lễ Châu trong NĐHN q. 5 ghi: “且 往 路 邊 卓 箇 草 菴、接 待 往 來 茶 湯 去。 – Hãy đến ven đường, cất một am tranh để tiếp đãi trà nước cho khách vãng lai đi!” ● 2. Đập, gõ. Tiết Từ Tế Thông Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “拈 拄 杖 曰:彼 自 無 瘡、勿 傷 之 也。卓 一 下、下 座。 – Sư giơ cây gậy lên nói: Người kia vốn lành lặn, đừng làm cho y bị thương. Sư dộng xuống đất một gậy rồi bước xuống tòa”. Tiết Tam Giác Huệ Trạch Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “師 卓 拄 杖 一 下。僧 曰:答 即 便 答、又 卓 箇 甚 麼? – Sư dộng xuống đất một gậy, Tăng nói: Đáp thì đáp ngay cho, còn dộng một cái để làm gì?”. ● 卓 朔. Căng ra, vểnh lên. Tiết Khai Nguyên Tử Kỳ Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “頭 髼 鬆、耳 卓 朔、箇 箇 男 兒 大 丈 夫、何 得 無 繩 而 自 縛? – Đầu rối bù, tai vểnh lên, mỗi vị đều là bậc đại trượng phu, sao lại không dây mà tự buộc?” ● 卓 錫 寺. Chùa nằm trên núi phía đông huyện Hồ Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 6 (790) đời Đường, Thiền Sư Đại Điên mở núi xây dựng. Trong khuôn viên chùa có suối Trác Tích do Đại Điên dùng tích trượng cắm xuống lấy nước vào thời ấy và có động “Bạch Ngưu Nham”, là nơi ngài Đại Điên ngồi xoay mặt vào vách tu thiền. Ba chữ “Trác Tích Tự” trên bảng chùa, do Thứ cát sĩ Tiêu Thụy Mông của viện Hàn Lâm, đời Minh viết. ● 澤 山 清 規. X. Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy. ● 齋 主. Thí chủ cúng dường bữa ăn trưa cho chư tăng. Kinh Lăng Nghiêm q. 1 (Đại 19, 106 hạ) ghi: “即 時 阿 難 執 持 應 器、於 所 遊 城 次 第 循 乞、心 中 初 求 最 後 檀 越、以 爲 齋 主。 – Ngay khi ấy, A Nan tay ôm bình bát đi từng nhà dọc theo đường phố để khất thực, trong tâm mong cầu được người đàn việt sau cùng vì mình mà làm trai chủ”. ● 齋 堂. Nhà ăn của các tự viện Thiền Tông. Môn Điện Đường trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên ghi: “齋 堂 即 食 堂 也、食 堂 即 僧 堂 也。今 日 本 黃 蘗 山 僧 堂 外 別 設 齋 堂、蓋 大 清 規 禪 林 如 是、非 古 也。 – Trai đường là nhà ăn, nhà ăn cũng là nhà ở của chư tăng. Ngày nay, tại núi Hoàng Bá này, ngoài nhà ở của chư tăng còn cất riêng nhà ăn; bởi theo thanh quy của Thiền lâm là như thế, chẳng phải như xưa”. ● 齋 退. Còn gọi: Trai bãi. Chỉ cho sau khi ăn trưa, khoảng thời gian sau ngọ 3 giờ. Chương Trụ Trì trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, q. thượng (Đại 48, 1126 trung) ghi: “齋 退、鳴 鼓 集 眾。 – Ăn trưa xong đánh trống tập hợp chúng”. ● 斬 頭 求 活. Còn gọi: Trảm Đầu Mịch Hoạt. Chặt đầu để tìm sự sống, dụ chỉ ngôn hạnh si mê ngu xuẩn. Vân Môn Quảng Lục q. trung: “若 言 即 心 即 佛。權 且 認 奴 作 郎。生 死 涅 槃 恰 似 斬 頭 覓 活。若 說 佛 說 祖。佛 意 祖 意 大 似 將 木 槵 子 換 卻 你 眼 睛 相 似。 – Nếu nói tức tâm tức Phật có khác chi nhận tớ làm chủ; sinh tử Niết Bàn giống như chặt đầu để tìm sự sống. Nếu nói Phật nói Tổ, Phật ý Tổ ý rất giống cho hạt chuỗi là con mắt”. ● 湛 盧 禪 庵. Niên hiệu Nguyên Phù thứ 2 (1099) đời Tống, đem “Thượng Ty” mở rộng xây dựng làm “Trạm Lô Thiền Am”. X. Thanh Lương Tự. ● 湛 祐 (1645-1710). Thiền tăng Cao Ly, họ Kim, tự Thiên Phu. Sau khi thọ giới sang nhà Thanh (Trung Quốc) tham học với Thiền Sư Thiên Thọ Bản Thực mà đắc pháp, đời thứ 37 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Quảng Tế, Bắc Kinh. Tác phẩm: Quảng Tế Tự Chí. ● 湛 然. Hiệu của Thiền tăng Tự Tính, sống vào đời Minh. X. Tự Tính. ● 湛 然 禪 師 慨 古 錄. X. Khái Cổ Lục. ● 湛 然 禪 師 宗 門 或 問. X. Tông Môn Hoặc Vấn. ● 湛 然 圓 澄. Thiền tăng Viên Trừng đời Minh, tự là Trạm Nhiên, nên người đời gọi là “Trạm Nhiên Viên Trừng”. X. Viên Trừng. ● 莊 主. Còn gọi: Đô Trang. Chức vụ quản lý về các việc đất đai của thiền viện, xử lý tất cả việc nhỏ trong trang ấp, như: xem xét ranh vườn ruộng, sửa sang nhà cửa, vỗ về tá điền. Thiền Lâm Loại Tụ q. 9 ghi: “南 泉 願 禪 師 一 日 不 赴 堂、侍 者 請 赴 堂、師 云:我 今 日 在 莊 上 喫 油 糍 飽。者 云:和 尚 不 曾 出 入。師 云:汝 去 問 莊 主。者 方 出 門 忽 見 莊 主、歸 謝 和 尚。 – Một hôm, Hòa Thượng Nam Tuyền Nguyện chẳng đi xuống trai đường để dùng cơm. Thị giả hỏi lý do. Sư đáp: Hôm nay ta ghé trang trại ăn bánh tiêu no nê rồi! Thị giả nói: Hòa Thượng không từng bước ra khỏi cửa mà! Sư nói: Ông đi hỏi Trang chủ xem. Thị giả vừa bước ra cửa chợt thấy Trang chủ, liền trở vào làm lễ tạ lỗi với Hòa Thượng”. ● 莊 嚴 門. Các Phật sự được tổ chức long trọng như: Thuyết pháp, tụng kinh, cầu đảo, được Thiền gia gọi là “Trang nghiêm môn”, nghĩa là pháp môn phương tiện, không phải là pháp căn bản chỉ thẳng tâm tính cho người triệt ngộ. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “如 諸 方 説 六 度 萬 行 以 爲 佛 法。我 道 是 莊 嚴 門 佛 事 門。非 是 佛 法。 – Ngay như các nơi thuyết lục độ vạn hạnh, gọi là Phật pháp, nhưng tôi nói là Trang nghiêm môn, Phật sự môn, chẳng phải là Phật pháp”. ● 噇. Ăn bừa bãi, hàm ý chê bai. Như Tịnh Ngữ Lục, q. thượng ghi: 石 上 迸 出 長 長 笋 今 日 將 來 剝 了 煎 海 底 泥 牛 噇 一 頓 鉆 天 鷂 子 肚 皮 穿 “Thạch thượng bính xuất trường trường duẫn. Kim nhật tương lai bác liễu tiên Hải để nê ngưu tràng nhất đốn Toản thiên diêu tử đỗ bì xuyên”. “Trên đá mọc lên mụt măng dài Ngày nay lột vỏ nấu đi thôi Trâu đất biển sâu ăn một bữa, Dùi trời chim Cắt phủng bụng rồi”. ● 撞 酒 糟 漢. Gã say sưa, gã ăn hèm. Lời quở mắng của Thiền Sư. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “我 當 時 若 入 得 老 觀 門。爾 者 一 隊 撞 酒 糟 漢。向 甚 處 摸 索。 – Nếu lúc ấy tôi vào được cửa của Hòa Thượng Quán thì bọn ăn hèm các ông nhằm chỗ nào mò bắt?”. ● 爭. Sao? Đâu? Nghi vấn từ, tương đương với chẩm (怎). Pháp Diễn Ngữ Lục ghi: “藥 山 久 不 上 堂。主 事 報 云:大 眾 久 思 和 尚 示 誨。山 云:打 鼓 著。大 眾 方 集。山 便 歸 方 丈。主 事 云:和 尚 許 爲 眾 說 法。何 故 一 言 不 措。山 云:經 有 經 師 論 有 論 師。爭 怪 得 老 僧。 – Đã lâu Dược Sơn không thăng đường, Chủ sự thưa rằng: Đại chúng từ lâu muốn Hòa Thượng chỉ dạy. Sơn bảo: Hãy đánh trống lên! Đại chúng vừa tụ tập, Sơn liền trở về phương trượng. Chủ sự nói: Hòa Thượng hứa thuyết pháp cho đại chúng nghe, vì sao chẳng nói lời nào? Sơn đáp: Kinh đã có Kinh sư, Luận đã có Luận sư, sao còn trách lão tăng?” ● 争 頭. Sôi nổi. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “三 玄 三 要。五 位 君 臣。四 種 藏 鋒。八 方 珠 玉。三 十 年 前。爭 頭 競 買。各 逞 機 鋒。而 今 道 泰 升 平、返 朴 還 淳。 – Tam huyền tam yếu, Ngũ Vị Quân Thần, Tứ chủng tạng phong, Bát phương châu ngọc, 30 năm trước sôi nổi giành mua, đều trổ cơ phong mà nay nói thái bình, tức là mỗi người khôi phục lại bản tính vậy”. ● 争 那。。何 ?. Không thể làm gì được… sao? Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “争 那 閑 名 在 世 何 ? – Không thể để danh suông ở đời được sao?”. ● 爭 人 我. Tranh giành nhân ngã. Khoe khoang háo thắng, tranh cao thấp. Theo nhà Phật mà nhìn, đây là biểu hiện của tâm chấp trước, phân biệt trầm trọng. Chương thứ 10, Thư khuyên bạn hữu trong TTVGT ghi: “世 人 崢 嶸、竸 爭 人 我。 – Người đời lao xao, tranh giành nhân ngã. “ ● 爭 唇 吻. Tranh luận, tranh cãi. Phần Dương Ngữ Lục q. trung ghi: “叢 林 浩 浩 爭 脣 吻。恰 似 虛 空 捉 幻 花。 – Chốn tùng lâm tranh luận sôi nổi giống như bắt lấy hoa đốm giữa hư không. “ ● 諍 論 僧. Chỉ cho vị tăng thích biện luận giành phần hơn, chấp trước ngôn ngữ tri giải. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 2 ghi: “况 乎 諍 論 覓 胜 負、說 我 能 我 解、旨 名 諍 論 僧、不 名 無 爲 僧。 – Huống hồ tranh luận tìm hơn thua, nói ta biết ta, chỉ được gọi là Tránh luận tăng, chứ không được gọi là Vô vi tăng”. ● 掉 棒 打 月. Tức quơ gậy để đập mặt trăng, cũng như cách giày gãi ngứa, bất luận thế nào cũng không đạt được mục đích. Trong Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho việc dùng ngữ ngôn văn tự để nắm bắt chân nghĩa Phật pháp, chỉ là luống công vô ích mà thôi. Bài tựa Vô Môn Quan (Đại 48, 292 trung) ghi: “何 況 滯 言 句、覓 解 會。掉 棒 打 月、隔 靴 爬 痒、有 甚 交 涉。 – Huống là kẹt vào lời nói mà tìm sự lãnh ngộ thì giống như quơ gậy đập trăng, cách giày gãi ngứa, nào có ăn thua gì!” ● 掉 舉. Trong lòng bực bội chẳng yên. Cao Phong Thiền yếu: “兄 弟 家、或 十 年 二 十 年 撥 草 瞻 風、不 見 佛 性、往 往 皆 謂 被 昏 沉 掉 舉 之 所 籠 罩。 – Này chư huynh đệ, hoặc mười năm hoặc hai mươi năm đoạn trừ vọng tưởng tham cứu chỗ huyền diệu mà không thấy Phật tính, luôn luôn bị hôn trầm trạo cử che phủ. “ ● 眨 上 眉 毛. Còn gọi: Tích thủ my mao, tích khởi my mao. Lời nói mà nhà thiền quen dùng để khuyên người phấn khởi tinh thần. , nhanh chóng lãnh hội thiền cơ. Tiết Pháp Xương ỷ Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “靈 利 漢 纔 聞 舉 著、眨 上 眉 毛、便 知 落 處。 – Kẻ linh lợi vừa nghe nêu lên công án liền phấn khởi tinh thần, nhanh chóng lãnh hội thiền cơ, biết được cứu cánh. “ ● 珍 重. 1. Bảo trọng, giữ gìn sức khỏe. Tiết Thiên Y Nghĩa Hoài Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “上 來 道 箇 不 審、能 銷 萬 兩 黃 金。下 去 道 箇 珍 重、亦 銷 得 四 天 下 供 養。 – Bước vào nói Xin chào tiêu được muôn lượng vàng ròng; lùi ra nói Bảo trọng cũng tiêu được bốn món cúng dường của mọi người”. ● 2. Cáo từ, xin từ giã. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “德 山 至 夜 間 入 室。侍 立 更 深 潭 云:何 不 下 去?山 遂 珍 重。揭 簾 而 出。 – Một đêm, Đức Sơn vào thất đứng hầu. Trời về khuya, Đàm nói: Sao ngươi chẳng lui ra? Sơn liền cáo từ, vén rèm bước ra”. ● 鎮. Thường. Tiết Song Lâm Thiện Huệ Đại Sĩ trong NĐHN q. 2 ghi: 夜 夜 抱 佛 眠 朝 朝 還 共 起 起 坐 鎮 相 隨 語 默 同 居 止。 “Dạ dạ bảo Phật miên Triêu triêu hoàn cộng khởi Khởi tọa trấn tương tùy Ngữ mặc đồng cư chỉ”. “Đêm đêm ôm Phật ngủ Ngày ngày cùng Phật dậy Đứng ngồi thường theo nhau Nói nín đồng chung ở”. ● 填 溝 塞 壑. Đè ngòi lấp hang, ẩn chỉthiền pháp có mặt khắp nơi. Mật Am Ngữ Lục ghi: “又。。。 一 槌 便 成。方 木 逗 圓 孔。不 假 一 槌。填 溝 塞 壑 少 人 知。 – Lại: sau một hồi bảng người học đại ngộ đến tột cùng là phương pháp sai lầm không sao đạt đến mục đích. Không cần đến một hồi bảng, thiền pháp có mặt khắp nơi mà ít có người biết. “ ● 鎮 州 臨 濟 慧 照 禪 師 語 錄. X. Lâm Tế Lục. ● 鎮 端 (1520-1592). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, tự Thủ Tâm, người xứ Trường Trị (nay thuộc Sơn Tây) Trung Quốc. Năm 12 tuổi sư xuất gia làm tăng, lớn lên đi tham học các nơi nổi tiếng, vào núi Ngũ Đài ra mắt thiền sư Nhị Hổ. Vừa gặp Ngài, sư liền khế cơ, hoát nhiên khai ngộ và nối pháp Ngài. Lúc sư trở về, Liêu Phiên Vương mời thỉnh sư trụ trì thiền viện Tư Phúc, ân cần cúng dường. Chẳng bao lâu, sư cáo từ, đi đến phía đông cầu Lô Câu, Bắc Kinh lập vài am tranh để khách thập phương có chỗ nghỉ ngơi. Trấn Đoan tính lạnh lùng, chẳng thích xu thời, dù bậc quyền quý đến chùa, sư cũng chẳng khúm núm nên ít có thí chủ, chùa viện thanh vắng. ● 鎮 蟒 塔. Nằm trên ngọn Tiểu Bạch, huyện Ngân, thành phốNinh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Tương truyền vào đời Đường ngọn núi này thường có mãng xà hại người, Thiền SưTâm Cảnh ởchùa Thiên Đồng thí thực dời chúng đi nơi khác và xây tháp đểtrấn áp khiến chúng không trở lại làm hại người. Tháp hiện còn là tháp xi măng cốt thép được xây cất lại vào thời cận đại, hình lục giác, 7 tầng, cao 35,4m. Trong tháp có cầu thang có tay vịn bằng gỗ có thể đi lên tầng đỉnh. ● 鎮 國 東 禪 寺. Còn gọi: Trấn Quốc Đông Thiền Thiếu Lâm Tự. ở thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, xây vào khoảng niên hiệu Càn Phù (874-879) đời Đường, tục gọi “Thiếu Lâm Tự”. Đương thời quy mô rộng lớn, tăng chùa rất đông, tương truyền là cái nôi của Thiếu Lâm quyền Nam phái Trung Quốc. Người đời Minh ghi chép sự việc chùa Thiếu Lâm ở Tuyền Châu, đời Nguyên trong quyển “Lệ Sử”. Đầu đời Thanh chùa bị phá hủy. Trước năm 1966 trước chùa có tấm biển “Thiếu Lâm Tự”, “Thiếu Lâm Cổ Tích”, trong chùa có bàn thờ ghi những chữ “Sắc Tứ Trấn Quốc Đông Thiền Thiếu Lâm Tự”, bị phá hủy trong cuộc cách mạng văn hóa, di chỉ hiện còn một ngôi miếu nhỏ. Có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến chùa này, nổi tiếng trong giới võ thuật. ● 鎮 國 禪 院. Khoảng niên hiệu Trường Hưng (930-933) đời Hậu Đường, Ngô Việt Vương đem viện Kính Sơn đổi thành “Trấn Quốc Thiền Viện” rồi cung thỉnh Thiền Sư Toàn Tể trụ trì. ● 鎮 國 寺. Chùa nằm trên hòn đảo Cá Vàng ở giữa Hồ Tây, Hà Nội, Việt Nam. Đây là nền cũ của cung Thúy Hoa đời Lý và điện Hàm Nguyên đời Trần. Đến đời Lê Hy Tông (1580-1705) đổi gọi là chùa Trấn Quốc. Năm 1842 vua Thiệu Trị tới thăm chùa đổi tên là Trấn Bắc nhưng nhân dân vẫn quen gọi là Trấn Quốc. Khoảng thế kỷ XV, do đắp đê Cổ Ngư nên mới có đường nối đê với đảo Cá Vàng. Chùa có kiến trúc độc đáo: Phía trước là nhà bái đường rồi đến nhà Tam Bảo, phía sau mới là 2 dãy hành lang thập điện và gác chuông. Trong chùa có một số tượng đẹp, nhất là pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng. Chùa cũng có nhiều bia, cổ nhất là tấm bia dựng năm 1639 do Trạng Nguyên Nguyễn Xuân Chinh soạn, nội dung ghi lại lịch sử xây dựng chùa. ● 鎮 常. Lâu dài, còn mãi. Tiết Thọ Ninh Đạo Hoàn Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “古 人 見 此 月、今 人 見 此 月、此 月 鎮 常 存、古 今 人 還 別。 – Người xưa thấy trăng này, người nay thấy trăng này. Trăng này thường còn mãi, mà người xưa người nay lại khác biệt”. ● 鎮 長. Lâu dài, vĩnh hằng, còn mãi. Vân Môn Quảng Lục, q. trung ghi: “百 骸 俱 潰 散。一 物 鎮 長 靈。 – Trăm xác đều tan rã, một vật mãi còn linh”. ● 塵. 1. Sự vật và vọng niệm hư huyễn chẳng thật, hay làm nhiễm ô chân tính. Tiết Huệ Lâm Tông Bản Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “拈 起 拄 杖 曰:這 箇 是 塵、作 麼 生 說 箇 轉 法 輪 底 道 理? – Sư giơ cây gậy lên nói: Cái này là trần, còn cái gì thuyết đạo lý chuyển pháp luân?” ● 2. Đối tượng của giác quan hay đối tượng của tâm. Chẳng hạn như: sắc trần, hương trần… Còn gọi là trần cảnh. ● 陳 寅 恪 (1890-1969). Học giả Phật giáo hiện đại, người xứ Tu Thủy, Giang Tây, Trung Quốc. Năm 1902, ông đến Nhật Bản lưu học. Năm 1910 đến 1924 ông học hỏi và nghiên cứu tại các Đại học: Berlin (Đức), Zurich (Thụy Sĩ), Paris (Pháp), Harvard (Hoa Kỳ), tinh thông các thứ tiếng: Phạn, Đột Quyết, Tây Hạ. Sau khi về nước, ông lần lượt nhậm chức Giáo sư tại các trường Đại học: Thanh Hoa, Tây Nam Liên Đại, Hong Kong, Quảng Tây, Yên Kinh, Trung Sơn và viện Nghiên cứu Quốc học Thanh Hoa. Đối với văn thư Đôn Hoàng, ông tiến hành so sánh nghiên cứu các kinh điển Phật giáo bằng nhiều loại văn tự. Ông luôn có sự lý giải mới mẻ về phương diện Phật giáo ảnh hưởng đến thể tài trước tác văn sử Trung Quốc, Phật giáo Phạn Bối ảnh hưởng đến Thanh Vận học Trung Quốc. Tác phẩm: Phân tích kệ truyền pháp của Lục Tổ Thiền Tông. ● 陳 慧 劍 (1925 -?). Học giả Phật giáo hiện đại, vốn có tên Trần Nhuệ, tự Kiếm Huệ, sau đổi thành Huệ Kiếm. Ông dạy học ở các trường trung học chuyên khoa. Năm 1949 quy y Phật giáo, siêng năng trứ thuật, hết lòng hoằng pháp. Tác phẩm: Hoằng Nhất Đại sư truyện, Hàn Sơn Tử nghiên cứu, Nhập thanh tự thiển luận, Đương đại Phật môn nhân vật. Ông còn xuất bản: Tĩnh tọa Tam Muội Tập, Hư Vân Hòa Thượng Niên Phổ. ● 陳 健 民 (1906-1987). Học giả Phật giáo hiện đại, người huyện Du, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Năm 1929 ông quy y với đại sư Thái Hư, nghiên cứu tu tập các kinh Tịnh độ và Tạng Mật của các phái Mật Tông như Hồng giáo, Bạch giáo, Hoàng giáo… Ông lại được Nặc Na Hô Đồ Khắc Đồ truyền cho mật pháp vô thượng và được hầu Phật gia bế quan ở chùa Hoàng Long. Từ năm 1935 ông dạy học ở viện Giáo Lý Hán Tạng, Thế Giới Phật Học Uyển tại Trùng Khánh. Sau khi kháng chiến thắng lợi, ông ẩn cư tại Ngũ Hòe Mao Bồng, nước Cát Lâm (Kirin) thuộc ấn Độ, bế quan hơn 10 năm. Bởi ông thường ở núi non, rừng rậm hơn 30 năm nên có hiệu là “Hoa Nham Xử Sĩ”. Ông song tu Thiền Mật, còn đối với nghi quỷ Du Già vô thượng của Mật Tông thì tu trì không biếng trễ. Năm 1974 ông đi Hoa Kỳ hoằng pháp, định cư tại Cali, còn đến Canada, Philippine, Hong Kong hoằng pháp. Năm 1987, ông mất tại San Francisco (Hoa Kỳ). Tác phẩm: Ông có hơn 20 đầu sách bằng Anh văn và Trung văn như: Thiền Hải Đăng Tháp, Tịnh Độ Tông Ngũ Kinh Hội Thông, Mật Tông Quán Đảnh Luận … ● 塵 劫. Vô số kiếp, cường điệu thời gian rất lâu. Kiếp: Đơn vị thời gian rất lớn. Phạm Kỳ Ngữ Lục q. 7 ghi: “猶 如 煮 沙、欲 成 加 饌、縱 經 塵 劫、終 不 能 得。 – Giống như nấu cát, muốn thành thức ăn ngon, dù trải qua vô số kiếp, rốt cuộc không thể được. “ ● 塵 勞. Sự vật, hành vi và vọng niệm hư huyễn làm nhiễm ô chân tính, nhiễu loạn thân tâm. Tiết Tham Chính Tiền Đoan Lễ Cư Sĩ trong NĐHN q20 ghi: “塵 勞 外 緣、一 時 掃 盡。 – Trần lao ngoại duyên đồng thời quét sạch”. ● 塵 累. Còn gọi: Trần Lao. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám ghi: “教 文 都 總 有 二 十 一 般 空、淘 擇 眾 生 塵 累。 – Chỉ dạy cho Văn Đô gồm có 21 loại KHÔNG, để quét sạch trần lụy chúng sinh”. ● 塵 蒙. Chỉ cho sự ngu tối do trần tục. Tào Sơn Ngữ Lục ghi: “人 問:古 人 曰:人 人 盡 有、弟 子 在 塵 蒙、還 有 也 無? – Có người hỏi Sư: Người xưa nói: Mọi người đều có, riêng đệ tử còn ngu tối do trần tục, thì có hay không?” ● 陳 仁 宗 (1258-1308). Sơ tổ phái thiền Trúc Lâm, vị vua anh hùng vào đời Trần của Việt Nam, tên Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Ngài tuy ở địa vị sang cả mà tâm hâm mộ Thiền Tông từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng thái tử, ngài cố từ để nhường lại cho em, mà vua cha không chịu. Vua cưới trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc mẫu cho ngài tức là Khâm Từ Thái Hậu sau này. Sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc ấy mà tâm ngài vẫn thích đi tu. Một hôm vào lúc nửa đêm, ngài trèo thành trốn đi, nhưng đến chùa tháp ở núi Đông Cứu thì vua cha sai các quan tìm thấy, ngài bất đắc dĩ phải trở về. Năm 21 tuổi, ngài lên ngôi Hoàng đế (1279). Tuy ở địa cửu trùng, mà ngài vẫn cố thu xếp thời gian để tu tập, ngài hay đến chùa Tư Phúc trong đại nội mỗi ngày. Con người ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển (kinh) và ngoại điển (sách đời). Những khi nhàn rỗi, ngài mời các thiền khách bàn giải về tâm tông, học thiền với Thượng sĩ Tuệ Trung, thâm đắc đến chổ thiền tủy. Đối với Thượng sĩ, ngài kính lễ làm thầy. Khi giặc Nguyên Mông sang quấy rối, ngài phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết quân dân, ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên, giữ gìn trọn vẹn đất nước. Năm Quý Tỵ (1293), ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Trên cương vị này, ngài cố vấn chỉ dạy cho con được 6 năm, rồi chuẩn bị xuất gia. Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi (1299), ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. ở đây, ngài chuyên cần tu hạnh Đầu Đà lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Sau đó, ngài lập chùa, cất tịnh xá, khai giảng để tiếp độ chúng tăng, lập giảng đường ở chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường để giảng dạy, lập am Tri Kiến ở trại Bố Chính… Đến năm Giáp Thìn (1304), ngài dạo khắp nơi khuyên dân dẹp bỏ những miếu thờ thần không chính đáng và dạy họ tu hành thập thiện. Vào mùa đông năm ấy, vua Anh Tông dâng biểu thỉnh ngài về đại nội để truyền giới Bồ Tát tại gia. Sau đó, ngài chống gậy đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn để truyền bá Thiền Tông. Với phái thiền Trúc Lâm mà ngài đứng đầu, thiền học Phật giáo Việt Nam đời Trần đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ Việt Nam. Về phương diện thi ca, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến thẳm sâu. Tác phẩm: Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục. Đại Hương Hải ấn Thi Tập. Tăng già Toái Sự. Thạch Thất Mị Ngữ. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 塵 氛. Thói rối ren ồn ào của trần tục. Tiết “Tục Nghệ Ngôn” trong NHQL q. 30 ghi: “僧 家 寄 迹 寰 中、栖 身 物 表、於 一 切 塵 氛 尚 當 謝 絕、況 可 貪 祿 位 乎? – Thiền tăng gởi dấu vết trong thế giới, thân ở ngoài vật. Đối với tất cả thói rối ren ồn náo của trần tục còn nên khước từ, huống là có thể tham bổng lộc địa vị. “ ● 陳 太 宗 (1218-1277). Vị vua thứ nhất của nhà Trần và là một vị thiền tăng Việt Nam, tên là Cảnh, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hà Nam Ninh), miền Bắc Việt Nam. Trần Cảnh là con thứ của Trần Thừa, một người nhiều mưu lược, dưới triều Lý từng giữ chức Nội thị khán thủ (đứng đầu các quan hầu cận vua Lý trong cung). Nhờ có Trần Thủ Độ là chú họ khi ấy làm Điện tiền chỉ huy sứ, Trần Cảnh thường xuyên được ra vào cung, sau lấy Lý Chiêu Hoàng. Năm 1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh và vương triều Trần được thành lập từ đấy. Lên làm vua, Trần Cảnh đổi niên hiệu là Kiến Trung; năm 1232, đổi là Thiên ứng Chính Bình; năm 1251 lại đổi là Nguyên Phong và niên hiệu Nguyên Phong đã đi vào lịch sử như cái mốc lớn ghi chiến công đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông hồi thế kỷ XIII mà trong thơ của Trần Nhân Tông ca ngợi: “Bạch đầu quân sĩ tại Vãng vãng thuyết Nguyên Phong”. “Lính bạc đầu còn đó Vẫn kể chuyện Nguyên Phong”. Ngày 17-1-1258 (niên hiệu Nguyên Phong thứ 7) quân Nguyên tràn tới cánh đồng Bình Lệ (phía nam Bạch Hạc), Trần Thái Tông chỉ huy cuộc chiến đấu chống giặc. Ngày 29-1-1258, Trần Thái Tông cùng thái tử Hoảng (sau là vua Trần Thánh Tông) đã phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất. Trần Thái Tông đã trở thành vị vua anh hùng cứu nước. Nhưng tên tuổi Trần Thái Tông được sử sách lưu truyền còn vì ngài là một nhà thiền học, một triết gia có những tư tưởng sâu sắc, độc đáo và một tính cách khá lạ lùng, tác giả sách Khóa Hư Lục, một tác phẩm cổ nhất, quan trọng nhất về phương diện thiền học của đời Trần. Trong Khóa Hư Lục có bài Tựa Thiền Tông Chỉ Nam của ngài viết, kể lại sự việc năm 1236 đang đêm ngài bỏ cung điện vào núi Yên Tử, định ở đó tu hành, nhưng Trần Thủ Độ đến nơi, cương quyết mời ngài trở lại ngôi vua, và câu chuyện này gắn liền với tiểu sử đời ngài, với đặc điểm của Phật Giáo Việt Nam đời Trần. Ngài quả là bó đuốc của Thiền học Việt Nam, gương mặt văn hóa đẹp và lạ đến khác thường trong lịch sử Việt Nam. Tác phẩm: Khóa Hư Lục Thiền Tông Chỉ Nam Kim Cang Tam Muội Kinh Chú Giải. Thi Tập. Theo: VHVNTH1989-1995, Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 陳 尊 宿 語 錄. X. Mục Châu Đạo Minh Thiền Sư Ngữ Lục. ● 塵 塵. Khắp nơi, đâu đâu cũng… Tiết Bạch Dương Pháp Thuận Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “佛 法 時 時 現 前、煩 惱 塵 塵 解 脫。 – Phật pháp luôn luôn hiện tiền, phiền não đâu đâu cũng giải thoát. “ Minh Chân Tụng trong PKNL q. 18 ghi: “在 在 逢 緣 利 益、塵 塵 救 渡 迷 情。 – Chốn chốn gặp duyên đều lợi ích, đâu đâu cũng cứu độ chúng sinh mê. “ ● 塵 塵 剎 剎. Tất cả đất đai, vô số cõi nước. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “若 這 裡 見 得。非 唯 住 山。盡 十 方 世 界。塵 塵 剎 剎。虎 穴 魔 宮。皆 是 住 處。 – Nếu thấy được chỗ này thì chẳng những được trụ trì mà đối với mười phương thế giới, vô số cõi nước, cung ma hang cọp đều là chỗ ở. “ ● 滯 殻 迷 封. Si mê ngu độn. NĐHN q. 11 ghi: “設 使 言 前 薦 得、猶 是 滯 殼 迷 封。 – Dù cho trước lời nói mà lãnh hội được cũng là si mê ngu độn”. ● 知 浴. Còn gọi: Dục ty, Dục chủ. Người trông coi nhà tắm, dụng cụ để tắm rửa, củi than dùng nấu nước, là 1 trong 6 vị Đầu thủ của ban Tây. Điều Tri Dục trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 4 (Đại 48, 1131 trung) ghi: “凡 遇 開 浴、齋 前 掛 開 浴 牌。(。。。)鋪 設 浴 室、掛 手 巾、出 面 盆、拖 鞋、腳 布。(。。 。)鳴 鼓 三 下、浴 聖 桶 內 皆 著 少 湯、燒 香 禮 拜、想 請 聖 浴。 – Lúc khai dục, trước trai đường cần treo bảng báo trước (…) Tri dục sửa soạn nhà tắm, treo khăn tay, chậu rửa mặt, giày dép, vải bó chân (…) Đánh 3 tiếng trống, đổ một ít nước nóng vào thùng tắm thánh, đốt nhang lễ lạy tưởng niệm mời các bậc thánh tắm”. ● 知 殿. Còn gọi: Điện chủ, Điện ty, Hương đăng. Người trông coi hương hoa, đèn đuốc và quét tước ở điện Phật, là 1 trong 6 vị Đầu thủ của ban Tây. Điều Tri Điện trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 4 (Đại 48, 1131 hạ) ghi: “掌 諸 殿 堂 香 燈、時 時 拂 拭 塵 埃、嚴 潔 几 案;。。。四 齋 日 開 殿 門、以 便 往 來 瞻 禮。 – Tri điện trông nom nhang đèn, lau chùi bụi bặm trong các điện đường mỗi ngày bàn ghế sạch sẽ trang nghiêm (…). Bốn ngày trai (mồng 1, 14, 15, 30) mở cửa các điện đường để khách thập phương đến chiêm lễ”. ● 知 幻. Thiền tăng đời Minh, họ Tưởng, người đời gọi là “Phi Bát Thiền Sư”. Năm 30 tuổi, sư xuất gia ở chùa Linh Cốc, Nam Kinh. Sau khi thụ giới cụ túc, sư đi thamvấn khắp nơi, thề rằng: “Đi chuyến này nếu chẳng đạp được nẻo Tào Khê (Ngộ), chẳng dám xoay đầu thấy quê cũ”. Sau khi ngộ, sư được Vua ban cho y hồng và khai pháp cho giới đàn. Trên đỉnh trán của sư gồ cao lên, Vua nhìn thấy cho là điều lạ, gọi đùa là “Phụng Đầu Tổ Sư”, còn Tri Huyễn thì nói: “Giống như tai con ngỗng, đâu dám cho mình là phụng?” Đế càng cảm mến đức khiêm tốn của Sư, lại ban cho sư hiệu “Vạn Thọ”, tên tuổi được trọng vọng một thời. ● 知 有. Biết, biết rõ. Phương Hội Ngữ Lục ghi: “上 堂:三 春 將 杪、四 海 廓 清、風 恬 浪 靜、是 人 知 有。且 道:將 長 就 短 一 句 作 麼 生 道? – Sư thượng đường: Ba tháng mùa xuân sắp hết, bốn biển lớn trong, gió yên sóng lặng, người ấy biết rõ. Thử hỏi một câu lấy dài làm ngắn làm sao nói?” ● 知 客. Còn gọi: Điển khách, Điển tân. Vị tăng phụ trách việc đối ngoại, giao tế, nghênh tiếp và tiễn đưa khách đến thiền viện. Đây là 1 trong 6 vị Đầu thủ của ban Tây. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “師 爲 黄 蘗 馳 書 去 溈 山。時 仰 山 作 知 客。接 得 書 便 問:這 箇 是 黄 蘗 底。那 箇 是 專 使 底。師 便 掌。 – Sư mang thư của Hoàng Bá đến Quy Sơn. Lúc ấy, Ngưỡng Sơn đang làm Tri khách tiếp nhận thư, liền hỏi: Cái này là của Hoàng Bá, còn cái nào là của người đưa thư đây? Sư liền bạt tai”. ● 知 庫. Còn gọi: Khố Đầu. Vị tăng trông coi kho lẫm trong thiền viện. Giữ chức vụ này phải là người thanh liêm, cẩn trọng và có năng lực kế toán. Đây là 1 trong 6 vị Đầu thủ của ban Tây. Điều Phó Tự trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 4 (Đại 48, 1132 trung) ghi: “庫 頭(。。。)掌 常 住 金 穀 錢 帛 米 麥 出 入、隨 時 上 曆 收 管 支 用、令 庫 子 每 日 具 收 支 若 干、僉 定 飛 單 呈 方 丈。 – Khố đầu (…) trông coi việc xuất nhập tiền bạc, lúa thóc, vải vóc. Tùy thời lên lịch quản lý việc chi thu, khiến người giúp việc cho mình mỗi ngày xuất nhập bao nhiêu rồi ghi sổ trình lên vị Trụ trì”. ● 知 空. Hiệu của Thiền tăng Học Uẩn, sống vào đời Thanh. X. Học Uẩn. ● 知 見. 1. Chỉ sự cảm ngộ thể nghiệm có được, do dùng trí huệ pháp nhãn để quan sát chân tướng của sự vật, nên còn gọi là Phật tri kiến, Giác tri kiến. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “心 開 何 物?開 佛 知 見。佛 猶 如 覺 也、分 爲 四 門:開 覺 知 見、示 覺 知 見、遇 覺 知 見、入 覺 知 見。 – Tâm khai mở vật gì? Khai mở Phật tri kiến. Phật cũng như là giác, chia làm bốn loại: Khai giác tri kiến, Thị giác tri kiến, Ngộ giác tri kiến, Nhập giác tri kiến. “ ● 2. Những tri thức, kiến giải trở thành chướng ngại của sự ngộ thiền. Đây là chúng sinh tri kiến, cũng gọi là Điên đảo tri kiến. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “世 人 心 邪、愚 迷 造 惡、自 開 眾 生 知 見。 – Người đời tâm thiên lệch, ngu mê làm ác, tự khai mở chúng sinh tri kiến. “ ● 知 默. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thúy Nham Linh Tham. Khi ra hoằng pháp, sư ở viện Phật Áo tại Vân Sơn thuộc Ôn Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). Có một vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Phật Áo? Sư đáp: Tiễn khách không rời xa ba bước. Mời người chỉ ở trước thảo đường. ● 知 儼. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Đăng Châu (nay là huyện Bồng Thái, tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc. Sư từng đến viện Cốc ẩn ở Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc) tham vấn thiền sư Trí Tĩnh, nối pháp ngài, kế vị Trụ trì, thuộc tông Tào Động. Có một vị tăng hỏi: Thầy xướng gia khúc người nào, nối tông phong ai? Sư đáp: Mây trắng phía Nam, lọng che phía Bắc. ● 知 歸. Trở về nguồn tâm, kiến tính. Tiết Dục Vương Đức Quang Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “臨 濟 三 遭 痛 棒、大 愚 言 下 知 歸。 – Lâm Tế ba phen bị đánh bằng gậy đau điếng, ngay nơi lời nói của Đại Ngu liền kiến tính”. ● 知 事. Còn gọi: Doanh Sự, Thụ Sự, Nhậm Sự, Tri Viện Sự. Chức vụ trông coi tạp sự cùng điều động nhân sự làm việc trong thiền viện. Ban lãnh đạo thiền viện gồm có 2 ban: Ban Tây: gồm có 6 vị Đầu thủ. Ban Đông: gồm có 6 vị Tri sự. Đó là Đô tự, Giám tự, Phó tự, Duy Na, Điển tọa, Trực tuế. Tông Môn Võ Khố ghi: “無 徳 禪 師 酌 酒 行 肉 化 紙 錢 訖、令 集 知 事 頭 首 散 其 餘 盤、知 事 輩 卻 之。 – Thiền Sư Vô Đức uống rượu, ăn thịt, đốt tiền giấy xong, ra lệnh nhóm các vị Tri sự, Đầu thủ lại để dọn dẹp đồ ăn còn thừa trên bàn. Các vị Tri sự đều từ chối lời của sư sai bảo”. ● 知 藏. Còn gọi: Tạng Chủ, Tạng Ty. Vị tăng trông coi hết thảy kinh luận sách vở cất trong thư viện của chùa. Đây là 1 trong 6 vị Đầu thủ của ban Tây trong các tự viện Thiền Tông. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 3 (Đại 48, 1036) thượng) ghi: “雪 堂 曰:高 菴 住 雲 居。普 雲 圓 爲 首 座。一 材 僧 爲 書 記。白 楊 順 爲 藏 主。 – Tuyết Đường nói: Khi ngài Cao Am trụ trì chùa Vân Cư thì có: Phổ Vân Viên làm Thủ tọa, Nhất Tài Tăng làm Thư ký, Bạch Dương Thuận làm Tạng chủ”. ● 知 聖 大 師. Hiệu của Thiền tăng Như Mẫn sống vào đời Ngũ Đại, do chúa Nam Hán ban cho. ● 知 識. Từ để gọi các bậc thiền sư. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “且 要 訪 尋 知 識。莫 因 循 逐 樂。光 陰 可 惜。念 念 無 常。 – Nếu muốn tìm cầu thưa hỏi bậc Tri thức, chớ nên lần lựa ham vui qua ngày, thì giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường”. ● 知 圓. Còn gọi: Viên Đầu. Vị tăng trông coi việc canh tác, vun bồi vườn rau của thiền viện. Điều Tình Nguyện Nhậm Chức Hành Đơn trong Tham Thiền Phổ Thuyết ghi: “潙 山 做 菜 頭、雪 峯 做 飯 頭、臨 濟 做 園 頭。 – Quy Sơn làm Thái đầu (rửa cải), Tuyết Phong làm Phạn đầu (nấu cơm), Lâm Tế làm Viên đầu”. ● 知 遠. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư đến chùa Hộ Quốc ở Tùy Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) để tham vấn Thiền Sư Thủ Trừng, nối pháp ngài, và kế vị Trụ trì thuộc tông Tào Động. Có vị tăng hỏi: Khi Càn Khôn thôi dừng ý, vũ trụ chẳng lưu tâm thì thế nào? Sư đáp: Đều là nhờ chiến tranh mà thu thập được, nhưng do ca vũ mà dẹp trừ điều tốt lành. Thự hiệu: Diễn Hóa Đại Sư. ● 智 安. Thiền tăng đời Minh, họ Thẩm, hiệu Lại Vân, người xứ Gia Hưng (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nương Thiền Sư Thiên Chân ở chùa Tịnh Diệu tại Hải Ninh (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) phát minh yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền. Từ đấy, sư ẩn mình giấu tên để bảo nhậm. Sau đó, sư vâng lời dạy của thiền sư Trúc Trượng ra hoằng pháp, trụ chùa Bạch Liên. Về già, sư trở về chùa Tịnh Diệu rồi tịch. Tác phẩm: Nam Cực Ngữ Yếu. ● 智 寶 (?-1190). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Đạo Huệ. Sư họ Nguyễn, quê ở Ô Diên, Vĩnh Khương (thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây ngày nay), miền Bắc Việt Nam, là cậu ruột của Tô Hiến Thành (một đại công thần ở đời Lý Anh Tông). Sư xuất gia vào tu ở chùa Thanh Tước trên núi Du Hý, làng Cát Lợi, đất Thường Lạc. Thường ngày mặc áo vá, ăn cơm hẩm, cả mười năm không đổi chiếc áo, đến ba ngày chẳng thổi lửa nấu cơm, tay chân chai cóp, thân thể khô khan. Thấy có người nghèo hèn đến thì khoanh tay đứng nép một bên, gặp bậc Sa Môn thì quỳ gối lễ bái. Sư chuyên tu như vậy 6 năm mới xuống núi. Xuống núi, sư chuyên tu phúc như: sửa đường, bắc cầu, cất chùa, xây tháp… Một hôm, chợt gặp một vị tăng hỏi sư về thiền lý. Sư mờ mịt nên quyết đi tìm Thầy học đạo. Nghe Thiền Sư Đạo Huệ giáo hóa ở Tiên Du, sư liền đến đó tham vấn. Cơ ngữ qua lại, sư liền lãnh ngộ, được ngài ấn chứng. Từ đây, sư nói ngang nói dọc như chọi đá nháng lửa. Sư có bài kệ dạy người: 菩 薩 資 財 知 止 足 於 他 慈 悲 不 淫 欲 草 葉 不 與 我 不 取 不 想 他 物 德 如 玉 菩 薩 自 妻 方 知 足 如 何 他 妻 起 貪 欲 於 他 妻 妾 他 所 護 安 忍 自 心 起 心 曲 “Bồ Tát tư tài tri chỉ túc, Ư tha từ bi bất dâm dục. Thảo diệp bất dữ ngã bất thủ, Bất tưởng tha vật đức như ngọc. Bồ Tát tự thê phương tri túc, Như hà tha thê khởi tham dục? Ư tha thê, thiếp, tha sở hộ, An nhẫn tự tâm khởi tâm khúc”. “Của dùng Bồ Tát biết vừa đủ, Đối người thương xót chẳng lấn tham. Vật mọn không cho ta chẳng lấy, Chẳng quản của người đức ngọc lành. Bồ Tát vợ nhà còn biết đủ, Tại sao vợ người lại khởi tham Thê thiếp của người người bảo hộ, Đâu nỡ lòng mình khởi vạy tà”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ ● 智 昺 (1078-1158). Thiền tăng đời Tống, họ Lý, người Vĩnh Khang (Sùng Khánh, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Huệ Cần, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 12, phái Dương Kỳ đời thứ 5. Người đời gọi sư là Thiết diện Bỉnh vì sư nghiêm trang, không cười nói tùy tiện. ● 智 勤 (915-990). Thiền tăng đời Tống, họ Cần, người xứ Bắc Địa, nối pháp Quốc sư Đức Thiều ở núi Thiên Thai, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ Tử Ngưng Phổ Văn Tự Tại Thai Châu (nay là huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang). Sư có bài kệ dạy chúng rằng: 今 年 五 十 五、腳 未 踏 寸 土 山 河 是 眼 睛、大 海 是 我 肚 “Năm nay năm mươi lăm (55) Chân chưa đạp tấc đất Núi sông là con mắt Biển lớn là bụng ta”. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 (979), có chiếu chỉ bắt buộc chư tăng phải thi Kinh nghiệp. Các bậc Lão túc trong các chùa đều viết pháp danh, trừ một mình sư. Viên Thông phán là Lý Hiến hỏi: Thế Tôn có biết viết hay không? Sư đáp: Thiên hạ đều biết. Niên hiệu Thuần Hóa thứ 1 (990) sư ngồi an nhiên thị tịch. ● 智 及 (1311-1378). Thiền tăng cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Cố, tự Dĩ Trung, hiệu Tây Lộc, Ngu Am, người huyện Ngô (Tô Châu) Trung Quốc. Thuở nhỏ vào chùa Hải Vân núi Khung Lung nơi bản ấp làm đồng tử, thông tuệ dĩnh ngộ, sách Phật lẫn sách Nho đều thông hiểu. Lớn lên, sư đến chùa Đại Long Tường ở Nam Kinh tham kiến Thiền Sư Tiếu ẩn, Tiếu ẩn vừa thấy liền coi trọng sư. Lại trở về chùa Hải Vân khổ công tham thiền, một hôm thấy lá vàng rơi trước đình, sư hoát nhiên có tỉnh. Đời Nguyên niên hiệu Chí Thánh thứ 2 (1342) trụ trì chùa Long Giáo, ở Xương Quốc (Định Hải, Chiết Giang). Năm thứ 5 (1345) sư sang trụ chùa Phổ Từ. Năm thứ 18 (1358) trụ trì chùa Tịnh Từ. Hàng Châu. Năm thứ 21, (1361) trụ trì Kính Sơn. Vua Nguyên Thuận Đế ban hiệu “Minh Biện Chính Tông Quảng Huệ Thiền Sư”. Đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ thứ 6 (1373) Vua ra chiếu chỉ tập họp mười vị cao tăng nơi chùa Đại Thiên Giới ở Nam Kinh, sư giữ chức thủ lãnh. Năm thứ 8 (1375) trở về chùa Hải Vân. Tác phẩm: Tứ Hội Ngữ Lục. ● 置 功. Dụng công, hạ thủ công phu. Tiết Vân Nham Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “切 囑 第 一 莫 向 舌 頭 上 取 辯、記 他 了 事 言 語 有 什 麼 用 處?這 箇 功 課 從 無 人 邊 得 不 由 聰 明 強 記、莫 向 閑 處 置 功。 – Điều dặn dò thứ nhất là chớ giải quyết sự việc trên đầu lưỡi, ghi nhớ sự việc và ngôn ngữ của người khác có ích gì? Công khóa này từ chỗ không người mà được, không do thông minh học rộng, đừng dụng công vào chỗ không dính dáng”. ● 智 眞 (782-865). Thiền tăng đời Đường, họ Liễu, người xứ Giang Đô (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Sư đến chùa Chương Kỉnh tham vấn ngài Hoài Huy và đắc pháp. Niên hiệu Khai Thành thứ 1 (836), sư sáng lập thiền viện ở Quy Sơn, Phúc Châu, tụ tập đồ chúng để giảng dạy, vừa gặp buổi Võ Tông phế Phật, sư liền ẩn trong dân gian. Đến khi vua Đường Tuyên Tông khôi phục Phật giáo, sư lại giảng thuyết như trước. Tốt hiệu: Quy Tịch Thiền Sư. ● 智 端. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thạch Môn Huệ Triệt, thuộc tông Tào Động. Sư ở núi Quảng Đức, Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Có vị tăng hỏi: Thế nào là núi Quảng Đức? Sư đáp: Trước mặt hoa dễ nở, sau lưng tuyết khó tan. Tăng còn hỏi: Thế nào là người trong núi? Sư đáp: Ráng sớm chẳng ra khỏi cửa, ráng chiều bay ngàn dặm. ● 智 覺 禪 師. 1. Hiệu của Thiền tăng Diên Thọ, sống vào đời Ngũ Đại, do Ngô Việt Vương ban tặng. X. Diên Thọ. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Minh Bản, sống vào đời Nguyên. X. Minh Bản. ● 智 鍳 (1105-1192). Thiền tăng đời Tống, họ Ngô tự Túc Am người xứ Trừ Châu (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc. Xuất gia vào thuở nhỏ. Đầu tiên sư học Kinh giáo kiêm sách vở đạo Nho. Lớn lên sư chuyển hướng học Thiền, tham yết Thiền Sư Chân Hiết Thanh Liễu ở núi Trường Lô được ngài xem trọng. Thủ tọa Tông Ngọc dạy phải dùng phương tiện, sư liền ở ẩn nơi Tượng Sơn (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) để chịu khó tham cứu. Trải một thời gian lâu, sư được ngộ, nhờ Tông Ngọc ấn khả, nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 24 (1154), sư trụ chùa Thê Chân rồi dời sang viện Định Thủy, chùa Hương Sơn, chùa Báo Ân. Niên hiệu Thuần Hy thứ 11 (1184), sư trụ núi Tuyết Đậu, đem bản sắc để tiếp người, thiền tăng bốn phương hướng về, môn phong hưng thịnh. Sau đó sư ẩn tu ở am phía đông chùa. Đệ tử nối pháp có Thiên Đồng Như Tịnh. ● 智 罕. X. Chí Hãn. ● 智 隍. Thiền tăng đời Đường, họ Từ người xứ Chân Định. Ban đầu tham vấn Ngũ Tổ, ở Hà Bắc sư cất am ngồi thiền trên 20 năm, luôn luôn tỏ vẻ siêng năng tu hành. Sư gặp Huyền Sách khuyến khích nên đến ra mắt Tổ Huệ Năng. Được Lục Tổ chỉ dạy, sư bỗng nhiên khế ngộ, nhận ra tâm sở đắc của 20 năm trước hoàn toàn không có ảnh hưởng. Sau đó, sư trở về Hà Bắc, khai hóa tứ chúng. ● 智 洪. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Bạch Triệu Chí viên. Khi ra hoằng pháp, sư trụ núi Đại Long, Lãng Châu (nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam). Có vị tăng hỏi: Thế nào là Phật? Sư đáp: Ngay nơi ngươi là phải. Thự hiệu: Hoằng Tế Đại Sư. ● 智 旭 (1599-1655). Thiền tăng cuối đời Minh đầu đời Thanh, họ Chung, tự Chấn Chi, hiệu Ngẫu Ích, Bát Bất Đạo Nhân, người huyện Ngô (Giang Tô) Trung Quốc. Lúc nhỏ sư theo Nho học, thề sẽ diệt Phật Lão. Nhân xem “Tự Tri Lục”, “Trúc Song Tùy Bút” của Châu Hoằng, sư biết rằng hiếu đạo thế tục chẳng phải chân thật, xuất gia thờ Phật mới thật sự đại hiếu, bèn quyết tâm theo Phật, đốt quách tác phẩm “Tịch Phật Luận” do sư sáng tác. Năm 24 tuổi theo Tuyết Lãnh môn nhân của Đại sư Hám Sơn cạo tóc xuất gia. Từ đây sư vân du đông nam, rộng học giáo nghĩa các tông Pháp Tướng, Thiền, Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ, Luật. Chủ trương dung hợp các tông, niệm Phật tức Thiền. Lại cho rằng người tham thiền cần phải học tập kinh điển, lấy giáo lý làm kẻ chỉ đạo. Sư từng trụ núi Cửu Hoa, tuổi già về ở chùa Linh Phong ở Hiếu Phong (An Kiết, Chiết Giang), người đời gọi là “Linh Phong Ngẫu Ích”. Trước thuật có hơn 40 thứ như “Duyệt Tạng tri tân”. v. v… Đệ tử là Thành Thời biên tập lại đề tựa là “Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận”. Sư là một trong 4 vị cao tăng đời Minh. ● 智 暉 (873-956). Thiền tăng đời Đường, họ Cao, người Hàn Dương, Thiểm Tây, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Khuê Phong Ôn, thuộc tông Hà Trạch đời thứ 7, trụ Trung Than Thiết Cốc viện ở Lạc Dương, viện Trường Hưng ở Nam Sơn. ● 智 誾 (1585-1637). Thiền tăng đời Minh, họ Phó, tự Lục Tuyết, hiệu Tuyết Quan, người Thượng Nhiêu (Giang Tây) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư mất cha, 8 tuổi theo pháp sư Cảnh Đức Thuyền xuất gia. Năm 26 tuổi tham kiến Thiền Sư Lai Tường ở Bác Sơn được ấn chứng làm truyền nhân tông Tào Động. Niên hiệu Thiên Khải thứ 7 (1627) sư ra hoằng pháp trụ trì Doanh Sơn, niên hiệu Sùng Trinh thứ 4 (1631) nối pháp tịch Bác Sơn. Sư bẩm tính khoan hậu, thuyết pháp không cần nghĩ ngợi, văn bút sáng sủa cho nên sĩ đại phu rất thích giao du với sư. Tác phẩm: Trích Đăng Lục, Xuy Hương Đường Thi Văn Tập và Ngữ Lục để lại cho đời. ● 智 愚 (1185-1269). Thiền tăng đời Tống, họ Trần, hiệu Hư Đường, tức Canh Tẩu, người Tượng Sơn (Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 16 tuổi sư theo Sư Uẩn chùa Phổ Minh xuất gia, du học khắp nơi, đến Kim Sơn yết kiến Vận Yểm Phổ Nham được tỏ ngộ, nối pháp làm truyền nhân phái Dương Kỳ tông Lâm Tế. Sau đó lần lượt tham kiến các bậc thiện tri thức. Niên hiệu Thiệu Định thứ 2 (1229), ban đầu sư trụ trì chùa Hưng Thánh, sau đó lần lượt trụ các chùa Báo Ân, Hiển Hiếu, Thụy Nham, Diên Phúc, Bảo Lâm, Dục Vương, Tịnh Từ, Kính Sơn. Sư được Tống Lý Tông, Độ Tông theo quy y, giáo hóa hưng thạnh. Tác phẩm: Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục 10 quyển lưu hành nơi đời. ● 智顒. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Hoàng Long Hối Cơ làm trụ trì đời thứ 3 của Hoàng Long Sơn tại Ngạc Châu (nay là huyện Võ Xương, tỉnh Hồ Bắc). Sư tính tình hòa ái, giữ giới tinh nghiêm, giỏi thơ văn, có Ngữ Lục lưu hành ở đời. ● 智 嚴. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư thờ Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến làm thầy và kế vị trụ trì. Nam Đường Trung Chủ ban cho sư hiệu “Liễu Giác Thiền Sư”. ● 智 岳. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Sư du phương tham vấn ngài Hoàng Long ở Ngạc Châu chẳng khế hợp, liền trở về đất Mân yết kiến Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến và đắc pháp rồi nương ở lại đây. Sau khi Thần Yến tịch, sư kế vị trụ trì, môn phong nghiêm cẩn. Thự hiệu: Liễu Tông Đại Sư. ● 智 岩 (600-677). Thiền tăng tông Ngưu Đầu, sống vào đời Đường, họ Hoa, người xứ Khúc A (nay là huyện Sơn Dương, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. Sư trí dũng hơn người, thân tướng khôi ngô. Trong niên hiệu Đại Nghiệp (605-618) đời Tùy, sư làm Lang tướng, thường lập chiến công. Năm 40 tuổi, sư vào núi Hoàn Công, Thư Châu (nay là Tiềm Sơn, tỉnh An Huy), lễ Thiền Sư Bảo Nguyệt làm thầy, sau đó yết kiến Thiền Sư Pháp Dung ở núi Ngưu Đầu và khai ngộ, nối pháp ngài, kế tục trụ trì, làm tổ thứ hai của tông này. Sư cũng ở qua các chùa Bạch Mã, Thê Huyền. Niên hiệu Nghi Phong thứ 2 (677) sư thị tịch ở thành Thạch Đầu. ● 智 閒 (閑). 1. Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đời thứ 16. Sư họ Lê tên Thước, dòng dõi Ngữ Man Vương triều Lê Đại Hành, quê ở Phong Châu (thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay), miền Bắc Việt Nam. Thuở nhỏ sư vẫn theo nghiệp trường ốc, thi đỗ tiến sĩ, sung chức Cung Hậu thư gia. Năm 27 tuổi, sư theo ông anh đến pháp hội của Thiền Sư Giới Không, nghe giảng kinh Kim Cang, đến bài kệ: “Tất cả pháp hữu vi, Như mộng huyễn bóng bọt. Như sương cũng như điện, Phải quán sát như thế”. Bỗng nhiên sư cảm ngộ và xin cạo tóc xuất gia. Sau khi được tâm ấn, sư vào núi Cao Dã tạm trú dưới gốc cây, ngày đêm thiền định chuyên tu khổ hạnh trọn 6 năm. Mãn 6 năm, sư xuống núi cất am tên Phù Môn, thu nhận đồ chúng và bắt đầu giáo hóa. Quanh núi có bọn man rợ tu tập nhau trộm cướp, được sư dạy dỗ trở về con đường lương thiện rất nhiều. Triều Lý, hai vua Anh Tông và Cao Tông nhiều lần vời sư về kinh mà sư đều từ chối. Quan Phụ quốc Thái úy Tô Hiến Thành và Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa đều xin làm đệ tử sư, mà suốt 10 năm chưa từng biết mặt thầy. Một hôm thầy trò bỗng gặp nhau, rất hoan hỷ. Vừa hỏi thăm xong, sư bèn nói kệ dặn dò. 既 懷 出 素 養 胸 中 聞 說 微 言 意 悅 從 貪 欲 黜 除 天 里 外 希 夷 之 里 日 包 容 淡 然 自 守。惟 德 是 務 善 言 卷 卷 一 句 心 無 彼 我。既 絕 昏 霾 日 夜 陟 降。無 形 可 住 如 影 如 響。無 跡 可 趣 “Ký hoài xuất tố dưỡng hung trung Văn thuyết vi ngôn ý duyệt tùng Tham dục truất trừ thiên lý ngoại Hy di chi lý nhựt bao dung Đạm nhiên tự thủ Duy đức thị vụ Thiện ngôn quyền quyền nhất cú Tâm vô bỉ ngã Ký tuyệt hôn mai Nhật dạ trắc giáng, Vô hình khả trụ Như ảnh như hưởng Vô tích khả thú”. “Đã mang giống Phật dưỡng trong lòng, Nghe nói lời mầu ý thích mong. Vất ngoài ngàn dặm niềm tham muốn, Lý nhiệm càng ngày càng bao dong, Đạm bạc tự giữ Chỉ đức là vụ. Lời lành tha thiết một câu: Lòng không bỉ ngã, Đã dứt bụi mù, Ngày đêm lên xuống, Không hình khá trụ. Như bóng như vang, Không vết khá đến”. Nói xong, sư chắp tay ngồi ngay thẳng, vui vẻ thị tịch. Các hàng công khanh và đệ tử gào khóc thảm thiết, tiếng vang cả núi. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 2. Thiền tăng đời Đường (智 閑, 810-898), họ Cao, tự Ngộ Chi người Thanh Châu (Ích Đô, Sơn Đông) Trung Quốc. Sư tính tình thông minh lanh lẹ, song ở chỗ Bách Trượng Hoài Hải tham thiền không thành. Lại tham yết Quy Sơn Linh Hựu cũng không khế hợp, buồn khóc giả từ Quy Sơn. Một hôm nhân ném hòn đá văng vào khóm trúc kêu lên một tiếng cốc bổng nhiên sư tỉnh ngộ huyền chỉ Quy Qơn. Liền trở về tắm gội thắp hương trông về Quy Sơn lễ bái, nói: “Khi ấy nếu thầy nói toạc ra cho con thì làm gì có việc hôm nay?” Sư liền làm truyền nhân tông Quy Ngưỡng. Sư ở núi Hương Nghiêm, Đặng Châu (Hà Nam), thiền lữ khắp nơi tụ hội, pháp hóa thịnh hành. Thụy là “Tập Đăng Thiền Sư”. ● 智 如 (749-834). Thiền tăng đời Đường, họ Cát, người Chính Bình, Giáng Quận, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Hoài Không, thuộc tông Hà Trạch đời thứ 3, trụ chùa Định An Sơn, chùa Thánh Thiện ở Đông Đô. Thụy Chân Ngộ. Bạch Cư Dị làm bài minh cho sư. ● 智 威 (646-722). Thiền tăng tông Ngưu Đầu, sống vào đời Đường, họ Trần, người xứ Giang Ninh (nay là Nam Kinh), Trung Quốc. Thuở bé, sư vào chùa Thiên Bảo, nương Pháp sư Thống xuất gia. Năm 20 tuổi, sư thụ giới cụ túc. Sau đó yết kiến Thiền Sư Pháp Trì và đắc pháp nơi ngài. Sư ở núi Ngưu Đầu tuyên dương tông phong, từ đây người học chốn Giang Tả đều tụ đến dưới cửa sư. Về sau, sư trao chức Trụ trì lại cho đệ tử giỏi là Huệ Trung, rồi tùy duyên hóa đạo và thị tịch tại chùa Diên Tộ. ● 智 封. Thiền tăng Bắc tông, sống vào đời Đường, họ Ngô, người xứ Hoài An (nay thuộc tỉnh Hà Bắc), Trung Quốc. Sư trung niên xuất gia, tu tập theo luận Duy Thức, mắc kẹt nơi danh tướng, bị một vị tăng có kiến thức vấn nạn, liền phát phẩn ngừng việc diễn giảng, du phương tham vấn ngài Thần Tú ở Võ Đang, thấu được tâm pháp của ngài, các điều nghi đều tan vỡ. Khi ra hoằng pháp, sư ở An Phong núi Trung Điều Bồ Tân (nay là huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây); Châu mục Tiết Văn Thăng xây dựng viện An Quốc rồi thỉnh sư ở đó. Hơn 20 năm, sư dạy người có đến số ngàn, người đắc đạo rất nhiều. ● 智 孚. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Phúc Châu Trung Quốc. Sư thờ Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn làm thầy, ở được vài năm được Ngài truyền tâm ấn. Khi ra hoằng pháp sư ở Nga Hồ, Tín Châu (nay là huyện Thượng Nhiêu, tỉnh Giang Tây), hoằng dương thiền pháp làm cho tông phong hưng thạnh. ● 智 光 (1345-1435). Thiền tăng đời Nguyên, họ Vương, tự Vô ẩn, người xứ Vũ Định, Sơn Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Thuấn Đô Tông, đời thứ 25 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Sùng Quốc ở Yên Kinh. ● 智 筠 (906-969). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Vương, người xứ Hà Trung (nay thuộc huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Ban đầu, sư trụ trì chùa Thê Hiền ở Lô Sơn. Nam Đường chủ xây dựng viện Tịnh Đức ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh) và thỉnh sư trụ trì. Sau đó sư tạ từ, trở về núi cũ rồi thị tịch. Thự hiệu: Đạt Quán Thiền Sư. ● 智 作. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Chu, người xứ Vĩnh Trinh (nay là phía Nam huyện La Nguyên, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. Sư tham yết Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến. Cổ Sơn thượng đường vạch áo để khai thị, đại chúng đều mờ mịt, chỉ có sư là ngộ được ý chỉ của ngài, và được ngài cho vào thất ấn chứng. Khi ra hoằng pháp, sư trụ viện Bạch Vân ở Kiến Châu (nay là huyện Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến). Sau đó, Nam Đường Trung Chủ rước sư đến viện Phụng Tiên ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh), ban cho y hồng và hiệu “Chân Tịch Thiền Sư”. ● 智 藏 (735-814). Thiền tăng đời Đường, họ Liệu, người Kiền Châu (huyện Cám, Giang Tây) Trung Quốc. Năm 8 tuổi xuất gia, 25 tuổi thụ giới cụ túc. Tại núi Phật Tích, Kiến Dương (Phúc Kiến) tham kiến Mã Tổ Đạo Nhất, cùng với Bách Trượng Hoài Hải được nhập thất và truyền tâm ấn. Thường vâng mệnh Thầy đi sứ khắp nơi, Sư đều hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp. Mã Tổ viên tịch, đồ chúng thỉnh sư kế thừa pháp tịch. Sau ra ngoài trụ Tây Sơn Đường, Kiền Châu, hoằng dương thiền phong Mã Tổ. Sau khi tịch Đường Hiến Tông ban thụy “Đại Tuyên Giáo Thiền Sư”, Đường Mục Tông ban thêm thụy “Đại Giác Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp có Kiền Vi, còn có các vị tăng Tân La như Đạo Nghĩa, Bản Như, Hồng Thiệp, Huệ Triệt v. v… Đạo Nghĩa về nước lập ra phái thiền ở núi Ca Trí, Hồng Thiệp cũng về nước lập ra phái thiền nơi chùa Thật Tướng, đều là một trong chín tông phái Tào Khê ở Triều Tiên. ● 智 通 (662-738). 1. Thiền tăng đời Đường, họ Đường, người xứ An Phong, Thọ Châu (nay là phía nam huyện Thọ, tỉnh An Huy) Trung Quốc. Ban đầu, sư xem kinh Lăng Già hơn một ngàn lần, chẳng hiểu ý chỉ “Tam thân, Tứ trí”. Sư đến tham lễ tổ Huệ Năng, cầu xin giải thích nghĩa ấy. Huệ Năng giải đáp rành rõ, sư ngay nơi lời nói đốn ngộ, dùng kệ ngợi khen: “Tam thân nguyên ngã thể, Tứ trí bản tâm minh”. (Thể ta sẵn tam thân Bản tâm đủ tứ trí) Sau đó, sư trở về Thọ Châu. ● 2. Thiền tăng đời Đường, tham vấn Quy Tông Trí Thường. Một đêm kia, sư chợt la lên: Tôi đại ngộ rồi. Trí Thường nghe nói liền hỏi sư. Sư đáp: Sư cô vốn là người nữ. Về sau, sư ở chùa Pháp Hoa, núi Ngũ Đài, tự xưng là “Đại Thiền Phật”. Kệ thị tịch: “Cử thủ phan Nam Đẩu Hồi thân ỷ Bắc Thần Xuất đầu thiên ngoại khán Thùy thị ngã ban nhân?”. “Giơ tay vin Nam Đẩu? Xoay mình dựa Bắc Thần Đứng ra xem trời rộng Ai là người như ta?” ● 智 通 禪 師. 1. Thụy hiệu của Thiền tăng Thiên Nhiên sống vào đời Đường. X. Thiên Nhiên. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Huệ Tịch sống vào đời Đường. X. Huệ Tịch. ● 智 通 禪 師 語 錄. X. Viên Châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền Sư Ngữ Lục. ● 智 常. Thiền tăng đời Đường, họ Trần, người Giang Lăng (Hồ Bắc) Trung Quốc. Yết kiến Mã Tổ Đạo Nhất được pháp. Vào niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) sư ở chùa Quy Tông, Lô Sơn giỏi bàn luận về thiền yếu. Lúc Bạch Cư Dị bị giáng chức Tư Mã Giang Châu vốn trọng sư. Bởi sư hai mắt đều đỏ nên người đời gọi sư là “Xích Nhãn Quy Tông”. Sau khi thị tịch, thụy là “Chí Chân Thiền Sư”. ● 智 靜. Thiền tăng đời Ngũ Đại, sư thờ Thiền Sư Lộc Môn Xử Chân làm thầy và nối pháp ngài, ở chùa Cốc ẩn, Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Tốt hiệu: Ngộ Không Đại Sư. ● 智 素. Thiền tăng đời Minh, họ Triệu, hiệu Tĩnh Am, người xứ Đông Thái (nay là huyện Dịch tỉnh Sơn Đông) Trung Quốc. Khi sư còn bé cha mẹ đều mất. Năm 15 tuổi sư lễ Thiền Sư Đại Dụng ở chùa Thiên Thành núi Thiên Thai để cạo tóc làm tăng và đắc pháp nơi Thiền Sư Vân Khê Anh, thuộc tông Lâm Tế. Khi ra hoằng pháp, sư trụ chùa Thiên Trì, lại nhận lời mời của Kinh Phiên Vương, trụ trì chùa Đông Sơn. ● 智 中. Thiền tăng đời Minh, tự Nhất Thiên, người huyện Bành (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên), Trung Quốc. Năm 20 tuổi, sư lễ ngài Nguyệt Tiên xuất gia, sau đó sư ở Tùng Phan (nay thuộc Tứ Xuyên). Lúc ấy, dân tộc thiểu số ở Tứ Xuyên hay gieo họa cướp bóc giết hại, sư đến nơi đó để vỗ về giáo hóa, không ai chẳng đầu phục. Khoảng niên hiệu Thiên Thuận (1457-1464) sư được phong làm Quốc sư và được ban cho y Kim lan. Khi Thiền Sư Thiệu Kỳ trở về đất Thục có đến am sư, sư trình sở ngộ, ngài khám biện hồi lâu rồi ấn khả cho sư, làm truyền nhân của tông Lâm Tế. ● 智 瑄 (?-1472). Thiền tăng đời Minh, họ Phạm, tự Bảo Phong, người xứ Ngô Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tô) Trung Quốc, lưu ngụ ở Tô Châu. Tuổi trẻ thất học, theo nghề thợ mộc làm thuê cho ngài Hải Chu Vĩnh Từ tại chùa Dực Thiện. Trong lúc dựng tháp viện, sư làm rơi búa trúng chân bị thương, có tỉnh, liền lễ thiền sư Vĩnh Từ xin xuất gia làm tăng. Ngài sai sư làm Hỏa đầu. Một hôm trong lúc nấu cháo, sư sơ ý để lửa cháy xém mặt mày; khi lấy gương soi mặt, sư chợt đại ngộ, trình kệ như sau: 負 薪 和 尚 喚 爲 棘 火 焰 燒 眉 面 皮 急 祖 師 妙 旨 鏡 中 明 一 鑒 令 人 元 要 得 “Phụ tân Hòa Thượng hoán vi cức Hỏa diệm thiêu my diện bì cấp Tổ sư diệu chỉ kính trung minh Nhất giám linh nhân nguyên yếu đắc”. “Vác củi Hòa Thượng gọi là gai Lò lửa cháy xém cả mặt mày Ý chỉ Tổ sư ở trong kính Một phen soi mặt nhận ra ngay”. Sư được ngài ấn khả. Từ đó, sư nổi tiếng khắp gần xa. Khi ra hoằng pháp, sư trụ chùa Cao Phong, Nam Kinh, sau dời sang chùa Dực Thiện. ● 智 遠 (895-977). 1. Thiền tăng đời Đường, họ Vương, người Thường Sơn (Chính Định, Hà Bắc) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thần Chiếu, thuộc tông Hà Trạch đời thứ 5, trụ trì chùa Minh Phúc tại Hoạt Châu (tại huyện Hoạt, Hà Nam), hoằng truyền thiền pháp Hà trạch cùng một đường lối với Khuê Phong Mật. ● 2. Thiền tăng đời Tống, người xứ Liên Giang, Phúc Châu (nay thuộc Phúc Kiến) Trung Quốc. Thuở bé sư theo ngài Pháp Tuyên xuất gia, chuyên tâm trì tụng kinh điển. Lớn lên, sư lại thích tu thiền, tham vấn Thiền Sư Cảnh Thanh Đạo Phó, phát ngộ huyền chỉ. Sư ở viện Tư Phúc, Phúc Châu, thuyết pháp trên 20 năm rồi mất. ● 智 昌 (?-1378). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Trần, tự Thọ Nham, hiệu Hữu Huyễn, người xứ Hoàng Nham (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Xuất gia từ thuở nhỏ, sư thụ giới cụ túc ở chùa Ngũ Đài, Ninh Ba (nay thuộc tỉnh Chiết Giang). Vì việc lớn chưa sáng nên sư từ bỏ duyên đời, ngồi ngay ngắn trên bồ đoàn, chân không bước ra khỏi nơi quy định. Sư đến chùa Đại Long Tường ở Nam Kinh tham vấn Tiếu ẩn Hân Công một thời gian khá lâu. Sư còn đến chùa Hoa Đảnh tham yết Vô Kiến Đổ Công. Khi ra hoằng pháp, sư trụ chùa Bảo Phúc ở Đại Mai. Khi ấy chùa này ở trong tình trạng bị hoang phế lâu ngày, sư chẳng nề gian lao, nhọc lòng sửa sang. Chẳng bao lâu chùa điện được khang trang mới mẻ. Sư còn sửa chữa đê điều, mở rộng thêm ruộng đất. Niên hiệu Hồng Võ thứ 2 (1369) đời Minh, sư lui về ở ẩn nơi am Đông Giản. Ba năm sau (1372), sư trụ trì Xương Quốc Cát Tường. Năm 1374 sư dời về chùa Thiên Đồng. Năm 1377, sư nhận lời mời đến Kinh sư, tham dự việc quy định chế độ “Ngày giảng, đêm tu thiền” của tăng sĩ. ● 智 依. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, tông Pháp Nhãn. Sư ở viện La Hán, Chương Châu (nay là huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến. Thự hiệu: Tuyên Pháp Đại Sư. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Bảo Thọ? Sư đáp: Mặc tình cho ngươi xem xét. ● 持 鉢 (1049-1117). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đời thứ 12, nối pháp Thiền Sư Sùng Phạm. Sư họ Vạn, quê ở Luy Lâu (thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay), miền Bắc Việt Nam. Sau khi Sùng Phạm tịch, sư dạo khắp các thiền tịch, tham yết các vị Tôn túc và đến trụ trì chùa Tổ Phong ở núi Thạch Thất, làng Đại Cầu, Tân Trại. Tướng quốc Lý Thường Kiệt là một thí chủ của sư. Những tài vật tín thí cung cấp, sư đều để hết vào Phật sự trùng tu các ngôi chùa: Pháp vân, Thiền Cư, Thê Tâm, Quảng An… để báo đáp phần nào công ơn Phật Tổ. Kệ thị tịch: 有 死 必 有 生。有 生 必 有 死 死 爲 世 所 悲。生 爲 世 所 喜 悲 喜 兩 無 窮。忽 然 成 彼 此 於 諸 生 死 不 關 懷 唵 囌 嚕 囌 嚕 悉 哩 “Hữu tử tất hữu sinh Hữu sinh tất hữu tử Tử vi thế sở bi Sinh vi thế sở hỷ Bi hỷ lưỡng vô cùng Hốt nhiên thành bỉ thử Ư chư sinh tử bất quan hoài Án tố rô tố rô tất rị”. “Có tử ắt có sinh Có sinh ắt có tử Tử bị người đời buồn Sinh được thế gian vui Buồn vui thật không cùng Chợt thành có kia đây Đối với sinh tử chẳng để lòng Án tố rô tố rô tất rị”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 持 逼. Đe dọa, uy hiếp. Mật Am Ngữ Lục q. 2 ghi: “文 殊 大 智 士。深 達 法 源 底。自 手 握 利 劍。持 逼 如 來 身。 – Bồ Tát Đại trí Văn Thù, thâm đạt cội nguồn Phật pháp, tự tay cầm kiếm bén, uy hiếp thân Như Lai. “ ● 遲 回. Trì độn; Chậm chạp. Tiết Phụng Hoàng Tùng Thâm Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “學 人 根 思 遲 回、方 便 門 中 乞 師 傍 瞥。 – Học nhân căn tính chậm chạp, trong môn phương tiện thỉnh sư chỉ dạy thêm”. ● 馳 書. Đưa thư, gửi thư. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “思 和 尚 令 石 頭 馳 書 上 南 嶽 讓 和 尚。 – Hòa Thượng Hành Tư sai Thạch Đầu đưa thư cho Hòa Thượng Hoài Nhượng ở Nam Nhạc”. ● 滴 水 難 消. Giọt nước cũng khó tiêu. Đồ vật thí chủ bố thí, dù một giọt nước cũng không thể hưởng thọ, là lời phê bình đối với vị tăng không đủ tư cách. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “阿 難 三 十 年 爲 侍 者、秖 爲 多 聞 智 慧 被 佛 訶。云:汝 千 日 學 慧、不 如 一 日 學 道。若 不 學 道、滴 水 難 消。 – A Nan ba mươi năm làm thị giả, chỉ là thông minh trí huệ nên bị đức Phật quở: Ông ngàn ngày học huệ không bằng một ngày học đạo; nếu không học đạo thì giọt nước cũng khó tiêu!” ● 展 單. Trải giường tọa thiền. Nếu không có vãn tham thì đánh 3 tiếng “Phỏng tham chung”, khi ấy chúng tăng cả chùa phải trải giường ngủ tọa thiền. Lần lần về sau dùng từ “Triển đơn” để thay cho từ “Phỏng tham chung”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 冁 然. Vẻ mặt tươi cười. Tiết Long Nha Trí Tài Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “師 喝 曰:苦!苦!復 曰:白 雲 湧 地、明 月 當 天。言 訖 囅 然 而 逝。 – Sư hét một tiếng, nói: Khổ! Khổ! Lại nói: Mây trắng đùn lên, trăng sáng ở giữa trời. Nói xong sư tươi cười mà qua đời. “ ● 篆 玉 (1704-1767). Thiền tăng đời Thanh, họ Vạn, tự Nhượng Sơn, hiệu Lĩnh Vân, người xứ Cù Châu, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Lôi Nham Đạo An, đời thứ 37 hệ Thanh Nguyên. Lần lượt trụ chùa Phương Thiện ở Thê Thủy, chùa Long Tường ở Tú Khê. Tác phẩm: Nam Bình tục chí, Lĩnh Vân Thi Thảo. ● 輒 不 得. Quyết chẳng được. Triếp: Dùng để tăng thêm ngữ khí. Mật Am Ngữ Lục ghi: “果 是 得 入。一 任 四 方 八 面。若 也 未 然。輒 不 得 離 卻 遮 裏。 – Nếu là vào được, mặc cho ngươi đi khắp nơi. Nếu chưa vào, quyết chẳng được rời khỏi nơi đây. “ ● 徹. Thấu rõ, tỉnh ngộ. Tiết Trường Khánh Hòa Thượng trong TĐT q. 10 ghi: “Bất đắc vô sinh chung bất chỉ, thủ triệt vi kỳ. – Chẳng được vô sinh sẽ không dừng, lấy chỗ thấu rõ làm kỳ hạn. “ ● 徹 庵. Hiệu của Thiền tăng Đạo Nguyên đời Tống. X. Đạo Nguyên. ● 徹 證. Thấu suốt hoàn toàn, lãnh ngộ hoàn toàn. Tiết Ngọc Tuyền Tông Liễn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “今 時 人 不 能 一 徑 徹 證 根 源、祇 以 語 言 文 字 而 爲 至 道。 – Ngày nay người ta chẳng thể trực tiếp thấu suốt hoàn toàn, chỉ vì cho lời nói chữ nghĩa là chí đạo. “ ● 徹 骨 徹 髓. Triệt để, hoàn toàn. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “到 這 裏 須 是 箇 眞 實 漢、聊 聞 舉 著 徹 骨 徹 髓 見 得 透、且 不 落 情 思 意 想。 – Đến chỗ nầy, phải là kẻ chân thật, vừa nghe nêu công án lên, hoàn toàn thấy thấu được, mà không rơi vào tình tư ý tưởng. “ ● 徹 綱 (1626-?). Thiền tăng đời Thanh, họ Lý, hiệu Phật Oan, người Nội Giang (Tứ Xuyên) Trung Quốc. Năm 23 tuổi sư theo Trượng Tuyết Thông Túy ở Ngưu Sơn xuất gia. Niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) sư theo Thông Túy tham kiến Phá Sơn Hải Minh. Năm thứ 13 (1656) vâng lệnh yết kiến Phí ẩn Thông Dung ở Nghiêu Phong, lại y chỉ Thiền Sư Đạo Phong Mộc ở Thiều Khê rồi trở về Thông Túy, chưa bao lâu lại vâng lệnh lễ Thông Dung lần nữa, thụ giới cụ túc và tham kiến Nhị ẩn Hạnh Mật chùa Long Uyên, làm truyền nhân tông Lâm Tế. Niên hiệu Khang Hi thứ 9 (1670) trụ trì viện Chư Cổ núi Cổ Tự ở Nội Giang, rồi dời sang viện Chiêu Giác ở Thành Đô, viện Triều Âm núi Lạc Già, viện Bát Nhã núi Thiên Trì. Tác phẩm: Phật Oan Cương Thiền Sư Ngữ Lục 12 quyển. Hiệu của thiền tăng Chu Lý sống vào đời cuối Minh đầu Thanh. X. Chu Lý. ● 徹 頭. Thấu rõ, thấu suốt. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “若 未 有 箇 入 頭 處、遇 著 本 色 咬 豬 狗 手 腳、不 惜 性 命、入 泥 入 水 相 爲。有 可 咬 嚼、眨 上 眉 毛、高 挂 缽 囊、拗 折 拄 杖。十 年 二 十 年、辦 取 徹 頭。 – Nếu chưa có chỗ vào, gặp được thiền sư kiệt xuất chẳng tiếc tính mạng, tận tình khuyên bảo, khơi gợi, dìu dắt, có gì nhai nuốt được liền phấn chấn tinh thần, treo cao túi bát, bẻ gãy cây gậy, không quản là mười năm hay hai mươi năm, làm cho thấu suốt đi. “ ● 徹 底. Còn gọi: Triệt Địa, Triệt Để Đại Ngộ. Thấu đáy. Thiền Tông dùng từ này để chỉ việc đại ngộ. Chương Thiên Thai Đức Thiều trong CĐTĐL q. 25 (Đại 51, 410 thượng) ghi: “諸 上 坐 經 塵 沙 劫 不 說。亦 未 曾 欠 少 半 句。應 須 徹 底 會 去 始 得。 – Chư Thượng tọa trải qua số kiếp như cát bụi chẳng nói, nhưng cũng chưa từng thiếu mất nửa câu, cần phải đại ngộ mới được”. ● 徹 顛 徹 狂. Như điên như dại, mô tả cử chỉ chẳng hợp trạng thái bình thường. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “金 粟 大 士 升 玉 麟 堂、親 從 毛 錐 子 上、吹 一 陣 業 風、使 其 變 作 水 牯 牛、徹 顛 徹 狂、東 撐 西 拄、南 倒 北 擂、未 免 犯 太 平 水 草、破 清 涼 田 地。 – Kim Túc đại sĩ (Bồ Tát Duy Ma Cật) khai mở Ngọc Lân đường, từ trên cây phất tử đích thân thổi một trận gió nghiệp làm cho nó biến thành con trâu đực, như điên như dại, húc đông báng tây, lùi nam xông bắc, chưa khỏi nước cỏ thái bình, khai phá ruộng đất mát mẻ. “ ● 徹 了. Thấu rõ hoàn toàn, nhận thức triệt để. Đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q. 1 ghi: “忽 然 一 念 頓 歇、徹 了 自 心、如 十 字 街 頭 見 親 父 一 般、更 無 可 疑、如 人 飲 水、冷 暖 自 知、亦 不 能 吐 露 向 人、此 乃 眞 參 實 悟。 – Bỗng nhiên một niệm chóng dừng, thấu rõ hoàn toàn tự tâm, như giữa ngã tư đường gặp lại cha mình. Lại nữa, không thể nghi ngờ như người uống nước nóng lạnh tự biết, cũng chẳng thể thố lộ với người; đó mới là tham cứu chân thật và liễu ngộ chân thật. “ ● 徹 心. Thấu rõ, thấu suốt. Phần Dương Ngữ Lục q. trung ghi: “拄 杖 將 來 便 徹 心。淚 流 不 覺 思 沈 吟。 – Đem cây gậy đến đây liền thấu rõ, kịp đến dòng bất giác ngập ngừng. “ ● 朝 陽 寺. ở trên Thiên Sơn, thành phố Liêu Dương, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc. Xây dựng vào thời Tùy Đường, đời Liêu lại tu sửa thêm, chùa chiền rộng lớn đẹp đẽ, một thời đứng đầu vùng Đông Bắc. Khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) đời Minh trùng tu. Đầu niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) đời Thanh, Thiền Sư Thặng Nhân Hàm Khả ở Quảng Đông trụ tích nơi đây. ● 朝 打 三 千 暮 打 八 百. Sáng đánh ba ngàn, chiều đánh tám trăm. Lời quở trách của thiền sư đối với tăng đồ tham học sai lầm. Minh Giác Ngữ Lục, q. 1 ghi: “問:如 何 是 第 一 句?師 云:袖 裹 金 槌。僧 便 喝。師 云:朝 打 三 千 暮 打 八 百。 – Hỏi: Thế nào là câu thứ nhất? Sư đáp: Dùi vàng trong tay áo. Tăng liền hét. Sư nói: Sáng đánh ba ngàn, chiều đánh tám trăm”. ● 朝 元 禪 寺. ở thị trấn Mỹ Nồng, thành phố Cao Hùng, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1916, Pháp sư Năng Tịnh gom góp của cải sáng lập. Năm 1927 xây dựng lại, năm 1928 hoàn thành chính điện. Năm 1952, Năng Nhân thoái ẩn, Pháp sư Huệ Định kế nhiệm trụ trì. Năm 1959 xây cất thêm tháp Hoa Tạng, đình Tịnh Tư. Năm 1961 khởi công xây dựng Tịnh Từ Hạ Viện tại khu chợ thị trấn Mỹ Nồng. Năm 1982 khởi công xây dựng Triêu Sơn Hội Quán. Sau đó lại cải tạo và xây dựng Đại Hùng bảo điện, cảnh tương mới hoàn toàn. ● 朝 蓋. Xe cộ của quan viên triều đình, mượn dùng chỉ cho quan viên triều đình. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. trung ghi: “朝 蓋 臨 筵 清 風 匝 座。 – Quan viên triều đình đến dự pháp hội, gió mát thổi khắp chỗ ngồi”. ● 潮 州 開 元 寺. ở phường Cam Lộ, thành phố Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Xây dựng vào niên hiệu Khai Nguyên thứ 26 (738) đời Đường. Đời Nguyên gọi là “Khai Nguyên Vạn Thọ Thiền Tự”, đời Minh gọi là “Khai Nguyên Trấn Quốc Thiền Tự”. Chùa quy mô rộng lớn. Là một quần thể kiến trúc tứ hợp viện kiểu cung điện khá hoàn chỉnh, có Đại sơn môn, Nhị sơn môn, Thiên vương điện, Đại hùng bảo điện, Tàng kinh lâu. Đông lang có Tri khách đường, Thần nông đường, Địa Tạng các; tây lang có Quán Âm các, Sơ Tổ đường, Lục Tổ đường, Phương trượng thất. Hình dáng và cấu tạo của Đại hùng bảo điện, Quán Âm các, Địa Tạng các đều là mái 4 lớp, 2 lớp ngói trích thủy. Xung quanh có 78 khối đá khắc vào đời Đường làm lan can, trên có đồ án hoa văn tượng Phật, khỉ, nai v. v… Trong chùa còn giữ nhiều văn vật, trước bàn Thần có chiếc lư hương lớn điêu khắc bằng vẫn thạch vào niên hiệu Thái Định thứ 2 (1325) đời Nguyên, cao 1,5m do 6 khớp lớn nhỏ chồng thành, chung quanh có khắc đồ án “thiên nhân hiến hoa”, thú chạy, rồng cuộn, hoa sen, còn có chuông đồng đúc vào niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1114) đời Tông, tấm bảng gõ bằng đồng của đời Nguyên, tháp Thiên Phật khắc bằng gỗ của đời Minh, một bộ Đại tạng kinh khắc bản vào niên hiệu Ung Chính đời Thanh. Năm 1980 tiến hành trùng tu đại quy mô. ● 朝 宗. Khế hợp ý chỉ Thiền Tông. Tiết “Chính Pháp Hi Minh Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “若 深 明 此 旨、洞 達 其 源、乃 知 動 靜 施 爲、經 行 坐 臥、頭 頭 合 道、念 念 朝 宗。 – Nếu thấu tỏ ý chỉ, đạt đến uyên nguyên thì biết mọi động tĩnh, đi đứng ngồi nằm đều hiển bày thiền cơ, niệm niệm khế hợp ý chỉ Thiền Tông”. ● 朝 宗 通 忍 禪 師. Thiền tăng Thông Nhẫn sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh hiệu là Triều Tông, người đời gọi sư là Triều Tông Thông Nhẫn Thiền Sư. X. Thông Nhẫn. ● 肇 安 (1872-1932). Tăng nhân cận đại, họ Dương, tên Truyền Húc, người huyện Kiên Vi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Năm 17 tuổi, sư đến động Cửu Lão, núi Nga My xuống tóc làm tăng, rồi đến chùa Thánh Thủy ở Nội Giang để thụ giới cụ túc. Sau khi ra khỏi Tứ Xuyên, sư thưa hỏi khắp các bậc danh sư đại đức. Mùa Xuân năm 1932, sư giảng kinh Kim Cang ở Phật học xã Trùng Khánh. Đến tháng 11 năm ấy sư thọ bệnh rồi mất. Cả đời sư xem trọng việc tu thiền tập định. ● 趙 州 狗 子. Công án nổi tiếng này được thấy nơi tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 như sau: “問:狗 子 還 有 佛 性 也 無?師 曰:無。曰:上 至 諸 佛、下 至 螻 蟻、皆 有 佛 性、狗 子 爲 甚 麼 卻 無?師 曰:爲 伊 有 業 識 在。 – Có vị tăng hỏi: Con chó có Phật tánh không? Triệu Châu đáp: Không. Tăng thưa: Trên từ chư Phật dưới đến loài kiến dế đều có Phật tánh, con chó vì sao lại không? Sư bảo: Vì nó còn nghiệp thức. “ Vào đời Tống, Thiền Sư Huệ Khai biên tập Vô Môn Quan, xếp công án này vào tắc thứ nhất và yêu cầu người tham thiền, tham chữ “VÔ” này. Ngày đêm đều đề khởi, chớ có hiểu như hư vô, chớ có hiểu như hữu vô. ● 趙 州 眞 濟 禪 師 語 錄. Còn gọi: Triệu Châu Hoà Thượng Ngữ Lục, Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư Ngữ Lục, Chân Tế Đại Sư Ngữ Lục, Triệu Châu Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Triệu Châu Tùng Thẩm soạn vào đời Đường, Văn Viễn biên, được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục quyển 14 và Tục Tạng Kinh tập 118, trang 304. Nội dung bao gồm: Hành trạng, Thượng đường, Thị chúng, Vấn đáp, Đối cơ, Khám biện, Kệ tụng v. v… của thiền sư Tùng Thẩm. Sách này được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục quyển 30, còn có 1 quyển Triệu Châu Chân Tế Thiền Sư Ngữ Lục Chi Dư, trong ấy thu thập các Ngữ yếu thượng đường thị chúng, Thập nhị thời ca, Kệ tụng, Chân tán v. v… ● 趙 州 古 佛. Vào đời Đường, huyền ngôn pháp ngữ của thiền tăng Tùng Thẩm được truyền bá khắp thiên hạ, đôi khi được gọi là Triệu Châu pháp đạo. Thiên hạ đều sợ hãi tin phục, gọi sư là Triệu Châu Cổ Phật. X. Tùng Thẩm. ● 趙 州 勘 婆. Công án này được thấy nơi tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 như sau: “有 僧 遊 五 臺、問 一 婆 子 曰:臺 山 路 向 甚 麼 處 去?婆 曰:驀 直 去。僧 便 去。婆 曰:好 箇 師 僧 又 恁 麼 去。後 有 僧 舉 似 師、師 曰:待 我 去 勘 過。明 日、師 便 去 問:臺 山 路 向 甚 麼 處 去?婆 曰:驀 直 去。師 便 去。婆 曰:好 箇 師 僧 又 恁 麼 去。師 歸 院 謂 僧 曰:臺 山 婆 子 爲 汝 勘 破 了 也。 – Có vị tăng muốn đi đến Ngũ Đài, hỏi một bà già rằng: Lên Đài Sơn đi ngả nào? Bà già đáp: Cứ đi thẳng. Tăng liền đi. Bà già nói: Ô hay, cái ông thầy này lại đi thế ấy. Sau đó có vị tăng thuật lại cho sư nghe chuyện này, sư bảo: Đợi ta đi khám qua cái đã. Hôm sau, sư liền đi hỏi: Lên Đài Sơn đi ngả nào? Bà già đáp: Cứ đi thẳng. Sư liền đi. Bà già bảo: Ô hay, cái ông thầy này lại đi như thế. Sư liền trở về viện bảo với tăng rằng: Bà già Đài Sơn đã bị ta khám phá. ” Công án này trong cái tầm thường có ngụ ý đặc biệt, thể hiện ý nếu muốn ngộ thiền ắt cần phải siêu việt ngôn ngữ tri giải, dẹp bỏ sự phân biệt đối lập. ● 趙 州 洗 鉢 盂. Triệu Châu bảo rửa bát. Công án nổi tiếng này được thấy nơi tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 như sau: “問:學 人 乍 入 叢 林、乞 師 指 示。 師 曰:喫 粥 了 也 未?曰 喫 粥 了 也。師 曰:洗 缽 盂 去。其 僧 忽 然 省 悟。 – Có vị tăng hỏi: Con mới vào chùa xin thầy chỉ dạy. Sư bảo: Ăn cháo chưa? Vị tăng đáp: Ăn cháo rồi. Sư bảo: Rửa bát đi. Vị tăng chợt tỉnh ngộ. “ Mũi nhọn của công án này ở chỗ hiển bày trong việc ăn cháo rửa bát hàng ngày, mỗi chỗ đều có thể lãnh hội đạo pháp, thể hiện được câu nói: “Tâm bình thường là đạo” của nhà thiền đề xướng. ● 趙 州 茶. Công án này được thấy ghi ở Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 như sau: “師 問 新 到:曾 到 此 間 麼?曰:曾 到:師 曰:喫 茶 去。又 問 僧、僧 曰:不 曾 到。師 曰:喫 茶 去。後 院 主 問 曰:爲 甚 麼 曾 到 也 云 喫 茶 去、不 曾 到 也 云 喫 茶 去?師 召 院 主、主 應 喏。師 曰:喫 茶 去。 – Sư hỏi vị tăng mới đến: Từng đến đây chưa ? Đáp: Từng đến. Sư bảo: Uống trà đi. Sư lại hỏi một vị tăng khác, Tăng đáp: Chưa từng đến. Sư bảo: Uống trà đi. Sau đó, Viện chủ hỏi sư rằng: Vì sao đã từng đến dạy uống trà, chưa từng đến cũng dạy uống trà ? Sư gọi: Viện chủ. Viện chủ đáp: Dạ. Sư bảo: Uống trà đi!” Uống trà là việc bình thường của thiền tăng, ở đây có thể cho là tham ngộ đạo pháp, tức chỗ nói bình thường là đạo. Công án này cũng khơi gợi người học không nên vọng sanh phân biệt sự vật. ● 肇 慈 (1850-1920). Thiền tăng đời Thanh, họ Dương, tự Phổ Tịnh, người xứ Cao Yếu, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Xương Đạo, đời thứ 49 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Định Huệ ở Tiêu Sơn. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 貞 邃. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư đến chùa Tư Phúc ở Cát Châu (nay là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây) ra mắt thiền sư Như Bảo. Sau này nối pháp ngài và kế vị trụ trì, thuộc tông Quy Ngưỡng. Có vị tăng hỏi: Thế nào là tâm cổ Phật? Sư đáp: Núi sông đất đai. ● 呈 機. Trình bày cơ phong. Bích Nham Lục tắc 9, q. 1 ghi: “他 既 呈 機 來。趙 州 也 不 辜 負 他 問 頭。所 以 亦 呈 機 答。不 是 他 特 地 如 此。蓋 爲 透 底 人 自 然 合 轍。一 似 安 排 來 相 似。 – Ông ta đã trình bày cơ phong ra, Triệu Châu cũng chẳng làm ông ta thất vọng liền dùng cơ phong để đáp lại. Chẳng phải ông ta cố tình làm ra vẻ như thế, mà hễ ai thấu triệt thì tự nhiên phù hợp, dường như có sự sắp đặt sẵn rồi”. ● 鄭 娘. Thiền giả đời Đường. Là con gái nhà họ Trịnh. Còn gọi là Trịnh Thập Tam Nương. Lúc 12 tuổi cô tham học với Thiền Sư Trường Khánh Đại An, quyết học tâm yếu kế thừa đại pháp của ngài. Cơ pháp của cô bén nhọn dường gươm, nổi tiếng khắp thiền lâm. ● 捉 敗. Thất bại, đánh bại. Tiết Long Khánh Khánh Nhàn Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “師 拊 掌 曰:三 十 年 用 底、今 朝 捉 敗。 – Sư vỗ tay nói: Ba mươi năm dùng đến mức, hôm nay lại thất bại”. Tiết Tịnh Từ Ngạn Sung Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “今 日 捉 敗 這 老 賊! – Hôm nay đánh bại tên giặc này!” ● 重 辯 (1030-1108). Thiền tăng đời Tống, người Thủy Hưng, Quảng Đông, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài, thuộc tông Vân Môn đời thứ 6, trụ trì chùa Nam Hoa ở Kinh Nam, Huệ Châu. ● 重 顯 (980-1052). Thiền tăng đời Tống, tự ẩn Chi, người Toại Ninh (Đồng Nam, Tứ Xuyên), Trung Quốc. Gia thế giàu có, sư theo Nho giáo. Thuở nhỏ sư kế thừa gia học song chí lại xuất thế, nên lúc tuổi thanh xuân đã bỏ tục vào đạo theo Nhân Sắn viện Phổ An xuất gia. Ban đầu học kinh luật và xen cả thế pháp. Sau khi thụ giới cụ túc sư chuyên tu định nghiệp. Sư đến Bắc Tháp, Phục Châu (Thiên Môn, Hồ Bắc) tham kiến Thiền Sư Trí Môn Quang Tộ, y chỉ 5 năm được nối pháp làm truyền nhân tông Vân Môn. Sau sư ẩn cư chùa Linh ẩn, Hàng Châu 3 năm, khi ra hoằng pháp trụ trì chùa Thúy Phong, Tô Châu. Năm sau sư chuyển sang chùa Tư Thánh núi Tuyết Đậu, học chúng vân tập rất đông, tông phong cực thịnh nên được tôn xưng “Tổ trung hưng tông Vân Môn”. Bởi sư ở lâu nơi núi Tuyết Đậu nên người đời sau gọi sư là “Tuyết Đậu Thiền Sư”. Sau khi mất, thụy là “Minh Giác Đại Sư”. Đệ tử có 84 người, đứng đầu là Thiên Y Nghĩa Hoài. Tác phẩm: Minh Giác Thiền Sư Ngữ Lục 6 quyển. ● 智 仲 興. Thiền tăng đời Đường, là thị giả của Đạo Ngô Tông Trí. Một hôm đang hỏi pháp, sư chợt đánh Tông Trí. Sau đó, Tông Trí bảo sư đi nơi khác. Sư ẩn trong nhân gian 3 năm. Sau khi Tông Trí tịch, sư chợt ngộ duyên trước nên đến Thạch Sương cầu chính giải, Thạch Sương thiết trai để sư sám hối. Về sau sư ở Tiệm Nguyên, Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam). ● 仲 謙 (1174-1244). Thiền tăng đời Tống, họ ứng, người xứ Nghĩa Điểu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền Sư Tùng Nguyên Sùng Nhạc, thuộc tông Lâm Tế. Sư trụ trì chùa Tư Thánh, núi Tuyết Đậu trên 10 năm. ● 重 元 (1010-1081). Thiền tăng đời Tống, họ Tôn, người Thiên Thừa Thanh Châu (Quảng Nhiêu, Sơn Đông) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư ThiênY Nghĩa Hoài, thuộc tông Vân Môn đời thứ 6, trụ trì chùa Thiên Bát (tại Đại Danh Hà Bắc). Hiệu: Văn Huệ Thiền Sư, có Ngữ Lục truyền bá ở đời. ● 籌 策. Bàn bạc tính toán, chỉ cho rơi vào vọng niệm. Theo Thiền gia, đây là điều đại kỵ của việc tham thiền ngộ đạo. Tiết Bác Sơn Hòa Thượng truyện trong Nguyên Lai Quảng Lục q. 35 ghi: “和 尚 曰:向 後 還 有 事 也 無?壽 昌 曰:老 僧 只 知 二 時 鬻 飯、不 復 知 有 向 後 事。又 問、壽 昌 曰:汝 後 得 坐 披 衣、幸 無 籌 策 足 矣。遂 命 秉 拂。 – Hòa Thượng hỏi: Có việc sau này chăng? Thọ Xương đáp: Lão tăng chỉ biết hai thời cơm cháo, không còn nghĩ đến việc sau này. Lại hỏi, Thọ Xương đáp: Về sau ông được ngồi mặc áo, mong ông không rơi vào vọng niệm. Nghe nói rồi Hòa Thượng vâng lệnh lên tòa thuyết pháp”. ● 住. Trụ trì tự viện. Tiết Ngọc Tuyền Đàm Ý Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “紹 興 初、出 住 興 化 祥 雲、法 席 頗 盛。 – Đầu niên hiệu Thiệu Hưng, sư ra hoằng pháp, trụ chùa Hưng Hóa Tường Vân, pháp hội rất thạnh”. ● 住 岸 卻 迷 人. Cảnh đẹp làm mê hoặc người. Trong Thiền Tông dùng từ này chỉ cho dù đã bước vào cảnh giới tỏ ngộ, nhưng nếu bám lấy cảnh ấy liền bị nó trói buộc. Tắc 11, Thung Dung Lục (Đại 48, 234 trung) ghi: “船 橫 野 渡 涵 秋 碧(死 水 浸 卻)、棹 入 蘆 花 照 雪 明 (住 岸 卻 迷 人)。 – Thuyền qua bến nước ngậm trời thu (ngâm trong nước chết). Bơi đến hoa lau ngời tuyết trắng (cảnh đẹp làm mê hoặc người)”. ● 住 山. Điều hành tự viện. Thuở xưa, các tự viện đều tọa lạc ở trong núi nên có từ ngữ này. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong NĐHN q. 5 ghi: “祖 曰:子 之 所 得、可 謂 協 於 心 體、布 於 四 肢。既 然 如 是、將 三 條 篾 束 取 肚 皮、隨 處 住 山 去。 – Tổ (chỉ cho Hòa Thượng Đạo Nhất) nói: Sở đắc của ngươi có thể nói là hợp nơi tâm thể bày ra ở tứ chi. Ngươi đã được như thế, hãy đem ba lạt tre cột nơi bụng tùy chỗ trụ sơn đi!” ● 住 世. Phật hoặc các bậc cao tăng ở thế gian giáo hóa chúng sinh. Tiết Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “江 西 馬 祖 今 現 住 世 說 法、悟 道 者 不 可 胜 記。 – Giang Tây Mã Tổ hiện đang trụ thế thuyết pháp, người ngộ đạo nhiều đến mức chẳng thể ghi chép hết”. ● 住 持. 1. Đảm nhận phương trượng, điều khiển tự viện. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “學 士 解 印 後。師 送 到 越 州。住 數 日 乃 辭。士 堅 留。師 云:歸 山 住 持 不 忘 學 士 此 日。 – Sau khi Học sĩ cởi ngọc đái để lại, sư đưa tiễn đến cửa Triệu Châu, ở vài hôm rồi từ biệt. Học sĩ cố giữ sư lại, sư nói: Tôi trở về núi trụ trì, chẳng quên Học sĩ ngày hôm nay”. ● 2. Hòa Thượng chủ trì tự viện. Tông Môn Võ Khố ghi: “坦 首 座 道 眼 明 白、堪 任 住 持。 – Thủ tọa Thản đạo nhãn đã sáng, kham nhận Trụ trì”. ● 住 院. Đảm nhận phương trượng, chủ trì tự viện. Tông Môn Võ Khố ghi: “大 凡 住 院、爲 已 戒 者 有 四:第 一 勢 不 可 使 盡、第 二 福 不 可 受 盡、第 三 規 矩 不 可 行 盡、第 四 好 語 不 可 說 盡。 – Nói chung về việc trụ viện có 4 điều răn: 1. Có quyền thế chẳng nên sử dụng hết. 2. Có phúc chẳng nên hưởng hết 3. Quy củ chẳng nên thi hành hết. 4. Lời lẽ hay chẳng nên nói ra hết”. ● 迍. Còn gọi: Độn Trí. Gian nan, lao khổ. Tông Môn Võ Khố ghi: 無 端 被 譖 枉 遭 迍 半 年 有 餘 作 俗 人 今 日 再 歸 三 峽 寺 幾 多 歡 喜 幾 多 瞋 “Vô đoan bị tiếm uổng tao truân Bán niên hữu dư tác tục nhân Kim nhật tái quy Tam Giáp tự Kỷ đa hoan hỷ kỷ đa sân”. “Bị gièm vô cớ, gặp gian nan Làm người thế tục hơn nửa năm Chùa Tam Giáp cũ nay về lại. Bao nổi buồn vui lẫn lộn thầm”. ● 築. Đánh. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “師 於 大 愚 脅 下 築 三 拳。 – Sư đánh ba thoi vào hông Đại Ngu”. ● 竹 庵. Hiệu của Thiền tăng Khả Quán, sống vào đời Tống. X. Khả Quán. ● 竹 篦. Còn gọi: Tỉnh Thức Côn. Cây bê làm bằng tre hoặc gỗ, cán tròn, đầu dẹt, giống như mái dầm dài 80-100cm. Đây là công cụ của thiền sư dùng để đánh thức người tọa thiền ngủ gật hoặc điều chỉnh sống lưng của họ cho ngay ngắn. Thủ Sơn Tỉnh Niệm Thiền Sư trong NĐHN q. 2 ghi: “山 一 日 舉 竹 篦、問 曰:喚 作 竹 篦 即 觸、不 喚 作 竹 篦 即 背。喚 作 甚 麼? – Một hôm, Thủ Sơn giơ cây trúc bề lên hỏi tăng: Gọi là cây trúc bề phạm, chẳng gọi là cây trúc bề thì sai trái. Vậy thì gọi là cái gì?” ● 竹 簡 和 尚. Thiền tăng Đức Bằng sống vào đời Tống, nhân nghe tiếng chày gỗ nện vào ống tre mà triệt ngộ, nên được gọi là “Trúc Giản Hòa Thượng”. X. Đức Bằng. ● 竹 林 宗 指 原 聲. Lục, 1 quyển do Ngô Thì Nhậm (Hải Lượng Thiền Sư) soạn vào cuối đời Hậu Lê, Việt Nam. Đây là những bài thuyết pháp tại thiền viện ở phường Bích Câu, Thăng Long, là một tổng hợp Nho Thích khá độc đáo, với khuynh hướng quy thú về Phật giáo Trúc Lâm. Sách gồm có 2 phần: Phần đầu nói về hành trạng của 3 vị Tổ Trúc Lâm, nhan đề là Tam Tổ Hành Trạng. Phần hai là Đại Chân Viên Giác Thanh, nội dung gồm có 24 chương trình bày về 24 đề tài thiền quán, mỗi đề tài là một thứ âm thanh. 24 âm thanh là: Không thanh, Ngộ thanh Kiến thanh, Hoán thanh Định thanh, Tịch nhiên vô thanh Hành thanh, Đổng thanh Túc thanh, Bất quả thanh Lưu động thanh, Dư thanh ẩn thanh, Phát tưởng thanh Thuyết thanh, Ngụ thanh Trác thanh, Biểu lý thanh Minh thanh, Phán thanh Tàng thanh, Hưởng thanh Nhất thanh, Tiểu khấu hoán thanh Mỗi chương có 3 phần: 1. Nêu lên đặc tính của một thanh, tương đương với Niêm 2. Đưa ra những lời nhận xét của Hải Lượng, tương đương với Tụng. 3. Lời bàn của Hải Âu và Hải Hòa, tương đương với Kệ. Tư tưởng trong “Đại Chân Viên Giác Thanh” có thể được tóm tắt như sau: Đề cao tinh thần thiết thực của Nho giáo trong các chương: Không thanh, Định thanh, Nhất thanh. Phát huy phạm trù KHÔNG (Śūnyata) của Phật giáo trong các chương: Không thanh, Trác thanh, Tiểu Khấu Hoán thanh. Nói về vấn đề tốt xấu trong Ngụ thanh, vấn đề ân oán trong Phán thanh, vấn đề vô hữu trong Trác thanh… Trong tác phẩm này, Ngô thì Nhậm đứng trên lập trường Nho giáo để nghiên cứu và tiếp thu Thiền Tông, xúc tiến việc hòa đồng tam giáo. Hai kinh điển cơ bản của Phật giáo Thiền Tông là kinh Lăng Già và kinh Kim Cương cũng được thể hiện rõ nét trong “Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh”. ● 竹 林 禪 院. 1. Thiền viện ở núi Phù Dung, vịnh Tân Giới Thuyên, Hong Kong, do Hòa Thượng Dung Thu xây dựng vào năm 1929. Hai thời công phu sớm chiều điều mô phỏng nghi thức của chùa Đảnh Hồ, Quảng Châu. Chùa này có chỗ nghỉ lại đêm cho hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia. ● 2. Thiền viện nằm trên sườn ngọn núi Phụng Hoàng, cách chợ Đà Lạt khoảng 5km, thuộc tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Được khởi công từ tháng 4 âl năm 1993, không đầy một năm sau, thiền viện Trúc Lâm đã làm lễ lạc thành vào ngày mùng 8 tháng 2 âl 1994. Thiền viện do Hòa Thượng Thích Thanh Từ sáng lập, mang tên một dòng thiền xuất hiện dưới thời vua Trần Nhân Tông, do chính nhà vua khai sáng: Thiền phái Trúc Lâm. Qua 3 cổng tam quan, từ phía dưới hồ Tuyền Lâm, du khách bước vào chính điện. Đây là khu ngoại viện, bao gồm một quần thể kiến trúc trang nhã: Nhà khách, Chính điện, Tham vấn đường, lầu chuông. Chính điện là tòa nhà nhỏ, vuông vắn. Hai lớp mái chồng lên nhau với các đầu mái đao hơi cong và hàng mái ngói đỏ che chở cho những hàng cột nâu tròn chống đỡ phía dưới, tạo cảm giác nhẹ nhàng thanh thoát. Bên trong an trí pho tượng Thích Ca ngồi trên tòa sen, tay phải cầm đóa sen giơ lên. Lầu chuông nhỏ nhắn, được trang trí bằng phù điêu chạm hình ảnh của Bồ Đề Đạt Ma đạp cành lau; Tổ Huệ Khả chặt tay, Tổ Huệ Năng giã gạo; Sơ tổ Trúc Lâm giảng kinh. Nơi đây đặt một đại hồng chung từ Huế mang vào. Ngăn cách hoàn toàn với khu ngoại viện là khu nội viện bao gồm nội viện Tăng và nội viện Ni. Mỗi bên đều có Tăng đường, thiền đường, nhà bếp riêng biệt. Bên Ni còn có thêm nhà khách nữ dành cho các cư sĩ nữ tu tập. Thất của HT. Thanh Từ nằm giữa giao lộ hai nội viện. ● 竹 林 寺. ở đông bắc đầm Hắc Long, phía tây sườn núi Thái Sơn, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, sáng lập vào năm nào không rõ. Chùa này từ đời Đường đến nay nhiều lần hưng nhiều lần phế. Đời Nguyên cao tăng Pháp Hải từng trùng tu thêm. Niên hiệu Tuyên Đức thứ 3 (1428) đời Minh, tăng người Triều Tiên là Thiền Sư Mãn Không lại xây dựng thêm, trở thành một ngôi chùa lớn hùng vĩ tráng lệ ở Thái Sơn. Sau bị lửa thiêu hủy. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 30 (1602) đời Minh trùng tu. Hiện còn miếu Vô Cực là do Trấn thủ Duyễn Châu thuộc Quốc Dân Đảng sai Trương Bồi Vinh phong cho vợ làm “Vô Cực Chân Nhân” mà xây cất. ● 竺 原. Hiệu của Thiền tăng Tông Nguyên, sống vào đời Tống. X. Tông Nguyên. ● 竺 元. Hiệu của Thiền tăng Diệu Đạo, sống vào đời Nguyên. X. Diệu Đạo. ● 竹 岩. Hiệu của Thiền tăng Diệu ấn, sống vào đời Tống. X. Diệu Ấn. ● 竹 室. Hiệu của Thiền tăng Tịnh Luân, sống vào đời Minh. X. Tịnh Luân. ● 竹 先 和 尚 語 錄. Còn gọi: Trúc Tiên Thiền Sư Ngữ Lục, Trúc Tiên Lục. Ngữ Lục, 4 quyển, do Trúc Tiên soạn vào đời Nguyên, Duệ Nghiêu v. v.. biên, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 80, trang 334. Sách này thu thập Ngữ Lục của Trúc Tiên lúc hoằng pháp ở Nhật Bản, tại các chùa: Tịnh Diệu, Nam Thiền, Chân Như, Kiến Trường, Tịnh Trí, Vô Lượng Thọ và các phần: Pháp ngữ, Kệ tụng, Tán ngữ, Hành đạo ký, Tháp minh v. v… Phần sau của quyển cuối có phụ lục 1 quyển “Thiên Trụ Tập”. ● 築 著 磕 著. Đụng nhằm chạm phải một cách bất ngờ, ngầm chỉ nhanh chóng lãnh ngộ thiền pháp. Mật Am Ngữ Lục ghi: “府 中 歸 上 堂。一 出 一 入。一 動 一 靜。酒 肆 茶 坊、紅 塵 鬧 市。豬 肉 案 頭。驀 然 築 著 磕 著。如 虎 戴 角。凜 凜 風 生。 – Sư từ phủ trở về, thượng đường: Mỗi một động tác ra vào, mỗi một hành vi động tịnh, hoặc ở quán rượu phòng trà hoặc ở chợ búa náo nhiệt hoặc ở nơi thớt thịt, chợt lãnh ngộ thiền pháp. Khi ấy giống như cọp mọc thêm sừng, oai phong lẫm liệt”. ● 逐 類 隨 形. Tùy theo hình sắc và chủng loại. Bậc tu hành sau khi đắc đạo, sẽ tùy theo hình sắc và chủng loại của chúng sinh mà ứng hiện sắc thân để cứu giúp họ. Bài sám Quy Mạng của thiền sư Di Nhiên ghi: 他 方 此 界、逐 類 隨 形 應 現 色 身、演 揚 妙 法 “Tha phương thử giới Trục loại tùy hình ứng hiện sắc thân Diễn dương diệu pháp”. “ở cõi này hay phương khác Tùy theo hình sắc, chủng loại Ta sẽ ứng hiện sắc thân Diễn dương thiền pháp vi diệu”. ● 中 邑 恩. Thiền tăng Hồng Ân, đời Đường, ở Trung ấp tại Lãng Châu, người đời gọi là Trung ấp Ân. X. Hồng Ân. ● 中 度. Thiền tăng đời Ngũ Đại, sư thờ thiền sư Lạc Phố Nguyên An làm thầy và đắc pháp nơi ngài. Khi ra hoằng pháp sư trụ chùa Đại An Quốc tại Đặng Châu (nay thuộc tỉnh Hà Nam). ● 中 洞 山. Thiền tăng Đạo Toàn, đời Đường, ở Động Sơn làm Trụ trì đời thứ 2 nên mọi người gọi là “Trung Động Sơn”. X. Đạo Toàn. ● 中 夏. Trong thời kỳ an cư. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “中 夏 上 堂:結 夏 已 過 了、解 夏 猶 未 來、中 間 一 句 子、蓮 花 照 水 開。 – Trong thời kỳ an cư, sư thượng đường: Kiết hạ đã qua rồi, giải hạ còn chưa đến, một câu ở khoảng giữa, hoa sen nở soi mặt nước. “ ● 中 和 禪 寺. ở núi Phúc Thọ, khu Bắc Đầu, thành phố Đài Bắc, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Năm 1924 Thiện Phúc ở tại đường Diên Bình Bắc, thành phố Đài Bắc hai chặng kiến thiết Bố Giáo Sở tông Tào Động, pháp duyên thù thắng, tín chúng ngày càng tăng. Vì mưu cầu sự phát triển sự nghiệp bèn mua núi Phúc Thọ, khu Bắc Đầu khai sơn cất chùa. Năm 1931 chùa cất xong, ban đầu gọi là “Thanh Tuyền Tự”, sau đổi tên là “Trung Hòa Thiền Tự”. Chùa nằm ở lưng chừng núi Phúc Thọ, quang cảnh ưu mỹ. ● 中 會 寺. ở phía đông Thiên Sơn, cách thành phố Yên Sơn, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc 20km về phía đông, là một trong năm đại thiền lâm của Thiên Sơn. Được xây dựng vào đời Đường, trước chùa có tấm bia khắc vào niên hiệu Gia Tĩnh thứ 4 (1525) đời Minh ghi: “Trên núi Thiên Sơn phía nam Tương Bình, từ đời Đường sắc chỉ xây dựng năm ngôi cổ sát, trong đó có chùa Trung Hội”. Đây chính là nguồn gốc tên “Trung Hội Tự”. Trong chùa có Tiền điện, Chính điện, Thiền đường, Hậu các, Thủy đình. Trong chùa nguyên còn giữ 11 tấm bia khắc đời Minh Thanh, như tấm bia trùng tu vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 8 (1580) đời Minh, hiện còn 2 tấm. ● 忠 彥. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Vân Cư Hoài Nhạc, thuộc tông Tào Động. Sư ở Dược Sơn, Lễ Châu (nay là huyện Lễ, tỉnh Hồ Nam). Có vị tăng hỏi: Thầy xướng gia khúc của ai, nối pháp người nào? Sư đáp: Vân Lãnh long xướng nguyệt. Thần Phong động thượng tuyền (trăng soi sáng rồng Vân Lãnh, suối chảy qua động Thần Phong). ● 中 仁 (?-1179). Thiền tăng đời Tống, tự Mông Đường, người xứ Lạc Dương (nay thuộc Hà Nam), Trung Quốc. Thuở bé sư vào viện Phụng Tiên ở Đông Kinh xuất gia. Niên hiệu Tuyên Hòa thứ 1 (1119) sư được cấp độ điệp, xuống tóc ở viện Khánh Cơ. Sau khi thụ giới cụ túc, sư thường lui tới nơi phiên dịch Tam tạng, nghiên cứu đến chỗ tột cùng, song đối với Thiền Tông thì sư chưa tin. Khi ấy, Thiền Sư Viên Ngộ Khắc Cần ở chùa Thiên Ninh, tiếng tăm vang dội, sư liền đến tham yết. Trong lúc thưa hỏi, Khắc Cần vả miệng sư một cái, làm rụng một cái răng. Sư chợt đại ngộ, xin ở lại hầu ngài, tiếp tục thưa hỏi thêm. Về sau, sư khai pháp ở chùa Đại Giác, rồi dời sang chùa Trung Trúc, lại dời đến chùa Linh Phong. Niên hiệu Thuần Hy thứ 1 (1174), sư được vua triệu vào nội điện hỏi pháp, sư liền xiển dương tông chỉ. Sư tịch vào niên hiệu Thuần Hy thứ 6 (1179), có thuyết khác nói sư mất vào niên hiệu Gia Thái thứ 3 (1203). ● 中 峰 和 尚 廣 錄. Gọi đủ: Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục. Ngữ Lục, 30 quyển, do Trung Phong Minh Bản soạn, Từ Tịch biên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 122. Quyển thủ có bài “Tiến Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục Biểu”. Nội dung toàn sách gồm có: Thị chúng, Tiểu tham, Sơn phòng dạ thoại, Tín Tâm Minh tịch nghĩa giải, Lăng Nghiêm trưng tâm biện kiến hoặc kiến, Biệt truyền giác tâm, Kim Cương Bát Nhã lược nghĩa, Huyễn Trụ gia huấn, Nghĩ Hàn Sơn Thi, Đông ngữ tây thoại, Tạp trước, Kệ tụng v. v… Trung Phong Minh Bản trưng dẫn nhiều yếu chỉ kinh điển như: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Viên Giác, Duy Ma Cật, Lăng Nghiêm, còn dẫn thoại đầu của các thiền sư: Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Hoàng Bá Hy Vận, Bách Trượng Hoài Hải, Quy Sơn Linh Hựu, Động Sơn Lương Giới để làm căn cứ dung hòa các thuyết và chủ trương: Thiền Tịnh dung nhiếp lẫn nhau, Giáo Thiền nhất trí, nên có bài tán khen Phật pháp hưng thạnh là nhờ Trung Phong Minh Bản. Sư còn chủ trương Nho Phật nhất trí: Đạo đức, nhân nghĩa, lễ nhạc, san chính của Nho gia tức là hiển hiện diệu dụng nhất tâm của Phật giáo. Dương Nhân Sơn phê bình sách này như sau: “Bỏ văn hoa lấy chân thật, nhân sự rõ lý, trong ấy chỉ dạy sự rèn luyện vững vàng và miên mật, khám biện minh xác, không vay mượn, không bao che, oai phong lẫm liệt như mặt trời giữa sương mù, đúng là tác phẩm nổi bật trong tông môn”. ● 中 峰 和 尚 雜 錄. Còn gọi: Thiên Mục Minh Bản Thiền Sư Tạp Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, thu thập những phần chưa đem vào Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục như: Thị chúng, Pháp ngữ, Kệ tụng, Đầu đà khổ hạnh ca, Thác bát ca v. v… và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 122, trang 724. Quyển cuối có phụ lục phần đề bạt của Thử Sơn Huyền Uyên (vị tăng Nhật Bản). Sách được biên tập xong vào khoảng niên hiệu Minh Hòa thứ 6 (1769). ● 中 山 和 尚. Thiền tăng Đạo Toàn, sống vào đời Đường, ở Tuyến Thủy thuộc Trung Sơn nên người đời gọi là Trung Sơn Hòa Thượng. X. Đạo Toàn. ● 中 津 (1336-1401). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Tuyệt Hải Trung Tân, họ Đằng Nguyên Thị, người xứ Thổ Tả Châu. Niên hiệu Chí Chính thứ 28 (1368) sư vượt biển sang Nam Kinh (Trung Quốc). Nối pháp Thiền Sư Tông Lặc đời thứ 26 hệ Nam Nhạc, đời thứ 9 tông Lâm Tế Nhật Bản. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 9 (1376) trở về nước làm Tổ khai sơn chùa Bảo Quan, sau được mời trụ trì các chùa Đẳng Trì, Tướng Quốc. ● 中 天 竺 寺. ở trong núi Thiên Trúc, thành phố Hàng Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Chùa xây vào niên hiệu Khai Hoàng thứ 17 (597) đời Tùy, cao tăng ấn Độ đến nơi này thấy núi sông xinh đẹp, khen rằng: “Đi hết Trung Quốc 400 châu, chỉ có nơi này xứng đáng để đạo nhân vân du”. Ngài bèn xây dựng đạo tràng nơi đây. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 1 (976) đời Tống, Ngô Việt Vương đổi tên là “Sùng Thọ Viện”. Niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1114) đời Tống ban tên “Thiên Ninh Vạn Thọ Vĩnh Tộ Thiền Tự”. Đầu những năm đời Nam Tống, tương truyền trong chùa Bồ tát hiển linh, Tống Cao Tông sắc chỉ mở rộng điện vũ, còn ban cho Phật tượng trong cung đặt tại Hoa Nham Bảo Các, chùa dần dần hưng thịnh. Khoảng niên hiệu Thuần Hy (1174-1189) theo truyền thuyết chùa này cầu mưa linh nghiệm, một thời hương khói tấp nập, vua quan đến cầu cúng không dứt. Niên hiệu Thiên Lịch thứ 1 (1328) đời Nguyên đổi tên là “Thiên Lịch Vĩnh Tộ Thiền Tự”. Đầu niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh ban hiệu “Trung Thiên Trúc Thiền Tự”, ba chữ “Trung Thiên Trúc” trên sơn môn là do Trung Sơn Vương Từ Đạt viết. Chùa này bị phá hủy vào khoảng niên hiệu Chính Đức (1506-1521) đời Minh, sau đó xây cất lại. Niên hiệu Khang Hy thứ 42 (1703) đời Thanh ban tấm biển “Linh Trúc Từ Duyên”, niên hiệu Càn Long thứ 30 (1765) đổi tên là “Pháp Tịnh Tự”, niên hiệu Quang Tự thứ 18 (1892) trùng tu. ● 重 編 曹 洞 五 位 顯 訣. Còn gọi: Tào Động Ngũ Vị Hiển Quyết. Trùng Biên Tào Động Ngũ Vị. Sách, 3 quyển, do Huệ Hà biên vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 228. Nội dung thu thập: Lời tựa của Hòa Thượng Hối Nhiên, tựa của Huệ Hà, và bài tựa “Trùng Tập Động Sơn Thiên Chính Ngũ Vị Tào Sơn Giản Ngữ” của Quảng Huy, Động Sơn Ngũ Vị Hiển Quyết, Thiên Đồng Tứ Tá Tụng, Toại Vị Tụng, Bảo Cảnh Tam Muội, Phần Dương Quảng Trí Ca, Tào Sơn Tam Chủng Đọa Tứ Chủng Dị Loại v. v… ● 重 門 擊 柝. Làm cửa ải, điểm mõ canh. Nghĩa là có phòng bị thì được an ổn, vui vẻ. Thiền Lâm Bảo Huấn (Đại 48, 1017 trung) ghi: “圓 通 謂 大 覺 曰:古 聖 治 心 於 未 萌。防 情 於 未 亂。蓋 預 備 則 無 患。所 以 重 門 擊 柝 以 待 暴 客。 – Thiền Sư Viên Thông bảo ngài Đại Giác rằng: Bậc thánh xưa trị tâm ở lúc chưa manh nha, ngừa tình ở lúc chưa rối loạn. Vì lẽ nếu có dự bị thì được an vui, thế nên làm cửa ải, điểm mõ canh để phòng ngừa trộm cướp”. ● 重 修 普 陀 山 志. Chí, 6 quyển, do Chu ứng Tân soạn vào đời Minh, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Núi Phổ Đà vốn có “Bổ Đà Lạc Ca truyện” do Thạnh Hy Minh, người xứ Quy Tư soạn vào đời Nguyên, hiện còn 1 quyển. Đến đời Minh, Hầu Kế Cao tiếp tục soạn Sơn chí. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) Chu ứng Tân đem quyển Sơn Chí (của Hầu Kế Cao soạn) lược bớt phần chùa mà thêm phần núi, làm thành 6 quyển, chia ra 14 môn: Thần hàn (văn chương của Vua), Đồ khảo, Sơn thủy, Điện vũ, Quy chế, Kiến chế, Linh dị, Ban tứ, Mạng sứ, Thích tứ, Vật sản, Nghệ văn, Sự lược, Thi. Sách này nội dung phong phú, thể lệ nghiêm cẩn, dù đời sau có biên quyển sơn chí khác cũng không hơn nổi, và được ấn hành vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch, lưu truyền không rộng. ● 緇 白. Còn gọi: Truy tố. Truy = Hắc: Chỉ cho người xuất gia. Bạch = Tố: Chỉ cho người thế tục. Chúng xuất gia thường mặc áo đen hoặc áo hoại sắc nên được gọi là Truy y. Kẻ tại gia thường mặc áo trắng nên được gọi là Bạch y. Từ ngữ Truy bạch chỉ chung cho hàng tăng tục, đạo tục. ● 緇 門 世 譜. Gọi đủ: Chung Nam Sơn Thiên Long Hội Tập Truy Môn Thế Phổ. Còn gọi: Thích Thị Nguyên Lưu Ngũ Tông Thế Phổ Định Tổ Đồ. Sách, 1 quyển, do Tấn Lôi và Minh Hỷ cùng biên tập vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 42 (1703), sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 677. Nội dung thuật lại hệ phổ chính và phụ của các tông: Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn; nguồn gốc và sự phát triển cùng với tông phong đặc biệt của các tông ấy. ● 緇 素. Phân biệt rõ. Tiết Thanh Nguyên Duy Tín Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “上 堂:老 僧 三 十 年 前 未 參 禪 時、見 山 是 山、見 水 是 水。及 至 後 來、親 見 知 識、有 箇 入 處。見 山 不 是 山、見 水 不 是 水。而 今 得 箇 休 歇 處、依 前 見 山 祇 是 山、見 水 祇 是 水。大 眾、這 三 般 見 解、是 同 是 別?有 人 緇 素 得 出、許 汝 親 見 老 僧。 – Sư thượng đường, nói: Ba mươi năm trước, lúc lão tăng chưa tham thiền, thấy núi sông là núi sông. Sau khi gặp Thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, thấy núi sông không phải là núi sông. Hôm nay đến được chỗ hoàn toàn thôi nghỉ, thấy núi sông là núi sông. Đại chúng, ba thứ kiến giải này là đồng hay khác? Có người nào phân biệt rõ được thì ta thừa nhận rằng chính mắt thấy được lão tăng”. ● 傳 布. Truyền bá. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “獨 出 城 外 自 入 棺 内。倩 路 行 人 釘 之。即 時 傳 布。市 人 競 往 開 棺。乃 見 全 身 脱 去。只 聞 空 中 鈴 響 隱 隱 而 去。 – (Thiền Sư Phổ Hóa) đi ra ngoài thành một mình, tự chui vào trong áo quan, nhờ người đi đường đậy nắp lại. Tức thì tin ấy được truyền bá, người trong chợ đua nhau đến mở nắp quan tài lên thì thấy toàn thân sư biến mất, chỉ nghe tiếng linh văng vẳng trên không, xa dần rồi mất”. ● 傳 昱 (1638-1685). Thiền tăng đời Thanh, họ Trương, người xứ Kim Lăng (nay là Nam Kinh) Trung Quốc. Năm 23 tuổi xuất gia. Một hôm, sư xem sách “Trượng Nhân Lục” của thiền sư Giác Lãng Đạo Thạnh, đến câu nói “Buông dao xuống liền thôi, đâu cần bảo ta là một trong ngàn đức Phật” trong truyện Đồ tể Quảng Ngạch, sư liền đốn ngộ, thân tâm sảng khoái. Sau đó, sư tham yết Hòa Thượng Thê Hà Y được đại ngộ, nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Ban đầu sư đến Mộng Bút Sơn tại Phúc Kiến khai pháp, rồi dời đến chùa Hồ Tâm. Niên hiệu Khang Hy thứ 14 (1685), sư trụ chùa Báo Ân ở Kiến Châu (nay là huyện Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến). ● 傳 燈. Còn gọi: Truyền Pháp. Trong Thiền Tông, chư Tổ tiếp nối truyền thừa, giống như cây đèn này mồi qua cây đèn kia, một ngọn đèn có thể mồi được rất nhiều ngọn đèn, các ngọn đèn ấy đều sáng tỏ. Ngọn đèn đầu tiên không vì thế mà giảm bớt một tí ánh sáng nào. Truyện Thiền Sư Thủy Nguyệt Thông Giác trong Thiền Sư Việt Nam ghi: 桂 巖 吹 複 續 傳 燈 秋 入 長 空 桂 壁 曾 特 爾 遠 來 開 寶 鏡 辭 子 歸 去 是 金 繩 “Quế nham suy phức tục truyền đăng Thu nhập trường không quế bích tằng Trì nhĩ viên lai khai bảo kính Từ dư quy khứ thị kim thằng”. “Rừng quế phun hương tiếp mồi đèn, Thu về đâu đấy ngát hương thêm Vì người xa đến bày tự tính Giã biệt ta về chỉ đạo Thiền”. ● 傳 化. Truyền bá đạo pháp, giáo hóa chúng sinh. Chương “Phú Na Da Xa, tổ thứ 11” trong CĐTĐL q. 1 ghi: “如 來 記 云:吾 滅 度 後 六 百 年、當 有 賢 者 馬 鳴 於 波 羅 柰 國 摧 伏 異 道。度 人 無 量 繼 吾 傳 化。 – Như Lai thọ ký rằng: Sau khi ta diệt độ 600 năm, sẽ có hiền giả Mã Minh ở nước Ba La Nại (Bārānasi) hàng phục ngoại đạo, độ người vô lượng, tiếp nối ta truyền hóa”. ● 傳 明 大 師. 1. Thụy hiệu của Thiền tăng Như Hội, đời Đường. X. Như Hội. ● 2. Thụy hiệu của Thiền tăng Thiện Hội, đời Đường. X. Thiện Hội. ● 傳 法 正 宗 記. Gọi tắt: Chính Tông Ký. Đăng Lục, 9 quyển, do ngài Khế Tung viết vào đời Tống, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 51, trang 715. Sách này là kế tiếp sau Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, kể về truyện ký các Tổ sư từ ấn Độ đến thứ tự trao pháp kế thừa nhau của các Thiền Sư Trung Quốc. Quyển 1: Kể truyện Phật Thích ca Mâu Ni Quyển 2-6: Kể truyện từ Tổ Ca Diếp đến Tổ Huệ Năng Quyển 7-8: Kể vắn tắt truyện của 1304 vị đệ tử của Tổ Huệ Năng. Quyển 9: Sự tích của 205 vị thuộc hệ phái phụ thuộc, từ ngài Huệ Năng trở về trước. Ngoài ra, còn có phần phụ lục sau sách này gồm: Truyền pháp Chính Tông Định Tổ Đồ, 1 quyển. Truyền pháp Chính Tông Luận, 2 quyển. ● 傳 法 正 宗 論. Luận, 2 quyển, do Khế Tung soạn vào đời Tống, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 51, trang 773. Tác giả tra cứu để sửa lại cho đúng pháp thống chính mạch của Tổ sư Thiền môn, trình bày và phân tích vấn đề truyền trao trực tiếp giữa thầy trò, kế thừa thiền pháp. Sách này là chị em với thiên “Truyền Pháp Chính Tông Ký”. Đại ý này nhằm làm sáng tỏ pháp thống của 33 vị Tổ đích truyền pháp hệ kể từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến Tổ Huệ Năng và trả lời những câu chất vấn về Thiền Tông như: “Dĩ tâm truyền tâm”, “Giáo chứng nhất như”. v. v… ● 傳 楚. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Kinh Châu (nay là huyện Kinh Xuyên, tỉnh Cam Túc) Trung Quốc. Sư thờ Thiền Sư Lạc Phố Nguyên An làm thầy và đắc pháp nơi ngài. Khi ra hoằng pháp, sư trụ viện Thanh Phong tại Phong Tường, người học bốn phương tụ hội, tiếng tăm lan xa. Về sau sư truyền pháp cho Thanh Miễn rồi thị tịch. ● 傳 心. Truyền bá thiền pháp. Thiền Tông còn gọi là Tâm Tông nên truyền bá thiền pháp được gọi là truyền tâm. Tiết Lâm Tế Hòa Thượng trong TĐT q. 19 ghi: “師 因 此 侍 奉 大 愚、經 十 餘 年。大 愚 臨 遷 化 時 囑 師 云:子 自 不 負 平 生、又 乃 終 吾 一 世。已 後 出 世 傳 心、第 一 莫 忘 黃 蘗。 – Sư nhân đây hầu hạ Đại Ngu, trải qua thời gian hơn 10 năm. Đại Ngu lúc sắp thị tịch, dặn dò Sư rằng: Con tự chẳng cô phụ chí bình sinh. Rồi thì sẽ hết một đời ta. Sau này khi ra hoằng pháp truyền tâm, điều thứ nhất là con chớ quên ngài Hoàng Bá”. ● 傳 心 大 師. Hiệu của Thiền tăng Sư Hạo, đời Tống. X. Sư Hạo. ● 傳 心 法 要. 1. Yếu chỉ tham thiền do Tổ sư của Thiền Tông truyền cho thiền giả. ● 2. Lục, 1 quyển, do Thiền Sư Hy Vận ở núi Hoàng Bá thuộc Hồng Châu tùy cơ thuyết pháp, được đệ tử của ngài là Bùi Hưu gom góp ghi chép lại vào năm 857. Quyển lục này được xếp vào Đại Chánh Tạng tập 48. ● 傳 持. Truyền trao và nhận giữ. Tiết Đạo Nhất, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: “有 講 師 來 問 曰:未 審 禪 宗 傳 持 何 法?師 卻 問 曰:座 主 傳 持 何 法? – Có vị giảng sư đến hỏi rằng: Chưa biết Thiền Tông truyền trì pháp gì? Sư vặn lại: Giảng sư truyền trì pháp gì?” ● 傳 衣. Thiền Tông Trung Quốc từ Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục tổ Huệ Năng đều được gọi là “Đơn truyền” (chỉ truyền cho một người). Đồng thời với việc truyền trao thiền pháp, còn giao cho y (casa) để làm pháp tín, sự kiện này gọi là “Truyền y”. Trùng Tẩm Tào Khê Nguyên Bản Pháp Bảo Đàn Kinh Duyên Khởi: “考 祖 (指 六 祖 慧 能)二 十 四 傳 衣、三 十 九 祝 髮、說 法 利 生 三 十 七 載。 – Khảo tổ (chỉ Lục Tổ Huệ Năng) 24 tuổi được truyền y, 39 tuổi được cạo tóc, thuyết pháp lợi sinh 37 năm”. ● (Thiền Tông). 傳 記 (禪 宗). Loại hình văn học, tập trung vào việc trần thuật một số nhân vật trong nhà Thiền. Trong truyện ký tổng hợp của Phật Giáo Trung Quốc luôn luôn bao gồm truyện ký của thiền tăng. Như Cao Tăng truyện do Thiền tăng Huệ Kiểu (sống vào đời Lương, Nam Triều) soạn, gom chép 10 khoa truyện ký của Phật tăng, trong đó có một khoa “Tập Thiền” ghi lại truyện của 12 vị thiền tăng nổi tiếng. Tùy theo sự phát triển của Thiền Tông, trong truyện ký tổng hợp vào những thời kỳ sau, số thiền tăng chiếm tỷ lệ tăng dần. Như trong Tục Cao Tăng truyện do Đạo Tuyên (vị tăng sống vào thời sơ đường) soạn, khoa “Tập Thiền” gồm có truyện ký của 98 vị thiền tăng. Về sau, Thiền Tông phát triển mạnh, liên tục xuất hiện các tác phẩm chuyên viết về truyện ký của Thiền tăng, như Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện do Huệ Hồng (vị tăng sống vào đời Tống) soạn, ghi được 81 vị, Tăng Bảo Chính Tục Truyện do Tổ Tú soạn, ghi được 28 vị. Ngoài ra còn có một loại tác phẩm chuyên viết về truyện ký của một người, như Tào Khê Đại Sư Biệt truyện do Vô Danh soạn, Minh Châu Định ứng Đại Sư Bố Đại Hòa Thượng truyện do Vô danh soạn. Cho đến nay, nếu nhận xét bằng nhãn quang của nhà nghiên cứu lịch sử Thiền Tông thì các tác phẩm Truyện ký trong văn hiến Thiền Tông dường như chỉ là một số ít, đại đa số thiền tăng bao gồm một số thiền tăng quan trọng đều không có truyện ký chuyên biệt. ● 直. 1. ắt phải. Nhất thiết phải. Tiết Từ Vân Ngạn Long Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “直 要 眞 買、不 得 信 口 掠 虛。 – Nhất thiết phải là thật sự muốn mua, chứ không được giả vờ trả giá”. ● 2. Giả sử. Dù cho. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “有 人 問 洞 山:時 時 勤 拂 拭、大 剎 好、因 什 麼 不 得 衣 鉢?洞 山 答 曰:直 道 本 來 無 一 物、也 未 得 衣 鉢 在。 – Có người hỏi Động Sơn: Luôn luôn chăm lau chùi là rất tốt, do đâu mà chẳng được y bát? Động Sơn đáp rằng: Dù cho nói xưa nay không một vật, cũng chưa được y bát nữa là!” 3. Vậy mà, mà. Phó từ, biểu thị sự bất ngờ. Phần tựa của Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư Tháp Minh trong PKNL q. 20 ghi: “不 意 儒 者 所 造、直 至 於 此! – Chẳng ngờ là chỗ nhà Nho đạt đến, vậy mà đến được nơi ấy”. ● 直 指 人 心. Trực tiếp chỉ rõ bản tâm của mọi người. Chẳng thông qua lời nói chữ nghĩa, chẳng thông qua trình tự tiến hành, chỉ rõ bản tâm của người là Phật, ai nhận ra được bản tâm liền thành Phật. Đây là ý chỉ trọng yếu của Thiền Tông, cũng là nguyên tắc quan trọng trong sự truyền pháp, dạy dỗ của thiền gia. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “如 祖 師 西 來。單 傳 心 印。直 指 人 心。見 性 成 佛。 – Tổ sư từ ấn Độ sang, chỉ truyền tâm ấn, trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật”. 1. Đến nỗi. Từ biểu thị hành vi, động tác và tình huống tạo thành kết quả nào đó ở tương lai. Tiết Hoài Hải đời thứ 3 dưới Đại Giám (Hoài Hải) trong CTTNL q. 1 ghi: “祖(即 馬 祖)便 喝、師 直 得 三 日 耳 聾。 – Tổ (tức Mã Tổ) liền hét đến nỗi sư bị điếc tai ba ngày”. 2. Giả sử; cho dù. Từ biểu thị giả thiết. Tiết Tân La Thanh Viện Thiền Sư trong NĐHN q. 6 ghi: “直 得 不 爭、亦 有 過 在。 – Giả sử ngươi không tranh đấu cũng là có lỗi!” ● 直 殿. Người quản lý điện, đường trong tự viện. Tông Môn Võ Khố ghi: “回 身 取 時、見 殿 門 扃 鈅、遂 喚 直 殿 行 者 取 舜 開 門。 – Sư xoay người lại, tìm cách vào, thấy cửa điện đã đóng, liền gọi vị hành giả trực điện là Thủ Thuấn ra mở của”. ● 直 下. 1. Xuống phía dưới; hướng phía dưới. Tiết Giang Tây Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “龐 居 士 問:不 昧 本 來 人、請 師 高 著 眼。師 直 下 覷。 – Bàng cư sĩ hỏi: Chẳng lầm người xưa nay, thỉnh sư để mắt nhìn lên. Sư nhìn xuống dưới”. Tiết Thuyền Tử Đức Thành Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: 千 尺 絲 綸 直 下 垂 一 波 纔 動 萬 波 隨 夜 靜 水 寒 魚 不 食 滿 船 空 載 月 明 歸 “Thiên xích ty luân trực hạ thùy. Nhất ba tài động vạn ba tùy Dạ tĩnh thủy hàn ngư bất thực Mãn thuyền không tải nguyệt minh quy”. “Nhợ câu ngàn thước vừa buông xuống Một sóng vừa gợn, muôn sóng sinh Nước lạnh đêm thanh câu chẳng dính Đầy thuyền chỉ chở ánh trăng suông”. ● 2. Lập tức. Tiết Cốc Sơn Sùng Thiền Sư trong TLTBT q. 14 ghi: “到 遮 裏 更 能 翻 擲 自 由、開 合 不 成 痕 縫、如 水 入 水、如 火 入 火、如 風 入 風、如 空 入 空。若 能 如 是、直 下 提 一 口 劍、刺 斷 天 下 人 疑 网、一 如 不 作 相 似。 – Đến chỗ này mới có thể lật đổ, vứt bỏ tự do, đóng mở mà chẳng để lại dấu vết, như nước đổ vào nước, như lửa bỏ vào lửa, như gió hòa vào gió, như hư không nhập vào hư không. Nếu có khả năng như thế, lập tức giơ thanh kiếm bén chặt đứt lưới nghi cho thiên hạ, mà hoàn toàn giống như chẳng làm gì cả”. ● 3. Quả là; thật là. Phó từ, biểu thị hoàn toàn như vậy. Tiết Trường Sa Cảnh Sầm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “師 與 仰 山 翫 月 次、山 曰:人 人 盡 有 這 箇、秖 是 用 不 得。師 曰:恰 是 請 汝 用。山 曰:你 作 麼 生 用?師 劈 胸 與 一 踏。山 曰:㘞!直 下 似 箇 大 蟲。 – Sư cùng với Ngưỡng Sơn đang ngắm trăng. Sơn nói: Mọi người đều có cái ấy, có điều dùng chẳng được. Sư nói: Đúng lúc mời huynh dùng. Sơn nói: Huynh làm sao dùng? Sư liền thộp ngực, cho Sơn một đạp. Sơn nói: ồ! Thật là giống như cọp”. ● 直 下 事. Chỉ cho việc đốn ngộ, việc bản phận quan trọng của thiền giả. Tiết Tiên Tông Hành Đạo Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “問:直 下 事 乞 師 方 便。師 曰:不 因 汝 問、我 亦 不 道。 – Hỏi: Xin Thầy phương tiện chỉ cho việc bản phận quan trọng của thiền giả? Sư đáp: Chẳng nhờ ngươi hỏi thì ta cũng chẳng nói”. ● 直 漢. Người thực hành trực tâm, không có chấp trước, đốn ngộ thiền pháp. Tiết Thị lang Trương Cửu Thành Cư Sĩ trong NĐHN q. 20 ghi: 卷 席 因 緣 也 大 奇 諸 方 聞 舉 盡 攢 眉 臺 盤 趯 倒 人 星 散 直 漢 從 來 不 受 欺 “Quyển tịch nhân duyên dã đại kỳ Chư phương văn cử tận toản my Đài bàn địch đảo nhân tinh tán Trực hán tùng lai bất thọ khi”. “Nhân duyên cuốn chiếu thật lạ kỳ Các nơi nghe cử thảy chau mày Lật đổ mâm bàn, người tứ tán Trực hán từ nay chẳng bị lừa”. ● 直 了. Lập tức thấu rõ. Đốn ngộ. Phẩm thứ nhất, Hành do, trong Đàn Kinh của Tông Bảo ghi: “菩 提 自 性、本 來 清 淨、但 用 此 心、直 了 成 佛。 – Tự tính Bồ Đề xưa nay thanh tịnh, chỉ cần đốn ngộ tâm này liền thành Phật”. ● 值 木 盲. Rùa mù gặp phải bọng cây nổi, dụ cho cơ hội khó gặp vô cùng. Tiết Trác Châu Chỉ Y Hòa Thượng trong NĐHN q. 11 ghi: “擬 犯 吹 毛 劍、還 如 值 木 盲。進 前 求 妙 會、特 地 斬 精 靈。 – Muốn chạm vào kiếm thổi lông cũng như rùa mù gặp phải bọng cây nổi, bắt chước người xưa cầu diệu hội khác nào chém loài tinh linh”. ● 直 饒. Giả sử, dù cho. Tiết “Thị Như Duy Na” trong DTNL q. 3 ghi: “苟 非 道 在 其 中、直 饒 學 解 過 人、清 名 蓋 世、亦 未 免 遭 先 聖 訶 斥。 – Nếu ở bên trong ngươi không có đạo, thì dù cho ngươi có học hiểu hơn người, danh tiếng trùm đời, cũng chưa khỏi bị tiên thánh quở trách”. ● 直 心. Tâm chính trực, không cong vạy, không chấp trước. Đàn Kinh, bản Đôn Hoàng ghi: “但 行 直 心、於 一 切 法、無 有 執 著、名 一 行 三 昧。 – Chỉ thực hành trực tâm, đối với tất cả pháp không có chấp trước, gọi là Nhất hạnh tam muội”. ● 直 草 不 踏 橫 草 不 拈. Chẳng đạp cỏ đứng, chẳng nhổ cỏ nằm, chỉ cho chẳng theo việc của người làm ruộng. Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL 30 ghi: “今 吾 輩 直 草 不 踏、橫 草 不 拈、安 坐 享 用、每 思 及 此、便 覺 藏 身 無 地。 – Ngày nay bọn ta chẳng có làm ruộng mà ngồi yên ổn hưởng dụng. Mỗi khi nghĩ đến việc này, liền biết không có đất để ẩn thân (liền biết mình có tội)”. ● 直 是. 1. Đích thực; quả tình. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “雲 門 初 參 睦 州。州 旋 機 電 轉。直 是 難 湊 泊。 – Ban đầu Vân Môn tham vấn Ngài Mục Châu. Cơ phong của Mục Châu nhanh như điện chớp, quả tình khó khế hợp”. ● 2. Giả sử; dù cho. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q. 6 ghi: “直 是 今 生 不 得 徹 頭、來 生 亦 不 失 人 身。 – Dù cho đời này chẳng được triệt ngộ, song đời sau cũng chẳng mất thân người”. ● 直 上. Về phía trên. Tiết Giang Tây Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “龐 居 士 問:不 昧 本 來 人、請 師 高 著 眼。師 直 下 覷。士 曰:一 等 沒 絃 琴、唯 師 彈 得 妙。師 直 上 覷。 – Bàng cư sĩ hỏi: Chẳng lầm người xưa nay, thỉnh sư để mắt nhìn lên. Sư nhìn xuống dưới. Cư sĩ nói: Loại đàn không dây chỉ có sư đàn mới tuyệt. Sư nhìn lên trên”. ● 直 須. ắt phải; nhất thiết phải. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “若 意 根 尚 滯。直 須 向 前 決 擇。 – Nếu ý căn còn trệ ngại, nhất thiết phải hướng về phía trước quyết trạch”. ● 直 歳. Vị tăng chuyên môn trông nom công việc lặt vặt, trực theo phiên làm việc để bảo đảm công tác liên tục, mỗi phiên là 1 năm. Đây là 1 trong 6 vị Tri sự của ban Đông. Điều Đông Tự Tri Sự trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy q. 4 ghi: “直 歲 之 職 掌 範 圍、舉 凡 殿 堂 寮 舍 損 漏 之 修 葺、雜 物 之 管 理、役 作 人 力 之 編 派、工 程 之 稽 察、乃 至 田 園 莊 舍、碾 磨 碓 坊、頭 匹 舟 車、火 燭 盜 賊、巡 護 防 警 等 之 差 撥 使 令 及 賞 罰 等 均 屬 之。 – Phạm vi trông coi của chức Trực tuế gồm: Tu bổ điện đường liêu xá bị hư dột, quản lý các món lặt vặt, điều phối nhân lực, khảo sát các công trình cho đến sai khiến và thưởng phạt các việc trong vườn ruộng trang trại, chỗ giã gạo, thuyền xe, đèn đóm, đi tuần canh gác trộm cướp…” ● 徵 草 鞋 錢. Đòi tiền giày cỏ. Một đời hành cước tham học mà không được kết quả gì, sau khi chết bị đòi tiền giày cỏ. Đây là lời chê bai, trong nhà thiền thường dùng. Trí Môn Tộ Thiền Sư trong Ngũ Gia Chính Tông Tán q. 4 ghi: “若 無 安 身 立 命 處、虛 踏 破 草 鞋、閻 羅 王 徵 你 草 鞋 錢 有 日 在。 – Nếu không có chỗ an thân lập mạng, uổng đi rách giày cỏ, Vua Diêm La có ngày đòi tiền giày cỏ của ngươi”. ● 澄 照 (1780-1850). Thiền tăng đời Thanh, họ Bồ, tên Trừng Lãng, tự Thu Phố, người xứ Thanh Phố, Thượng Hải, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Chuyết Tiều Tường Kiên, đời thứ 41 hệ Thanh Nguyên. Trụ am Thanh Liên ở Thượng Hải. Tác phẩm: Thu Phố Tập. ● 澄 慧 禪 師 塔. ở dưới núi Bát Bảo, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Niên hiệu Chí Chính thứ 26 (1366) đời Nguyên, Tổ sư đời thứ 1 chùa Sùng Quốc Thiền Sư Trừng Huệ thị tịch được an táng nơi này. Đây là một ngôi tháp hình bát giác 7 tầng mái kín theo kiểu lâu các, có chỗ khác biệt với những tháp thời kỳ Kim Nguyên, đó là hoa văn trang sức những phần nhỏ nhặt đều được xử lý to khỏe, toàn thể tạo dáng vô cùng uyển chuyển. Trên dưới thân tháp bày ra hình thức mặt lõm cong, mái tháp cũng lõm cong, cả tháp thể hiển bày sự vững vàng thư thái. Trên tám góc của thân tháp đều có một ngôi tháp nhỏ 5 tầng mái kín, dùng thay thế những chiếc cột ở góc thông thường. Tám ngôi tháp nhỏ này tượng trưng 8 địa phương hoặc sự kiện rất quan trọng đã trải qua trong đời Phật Thích Ca. Những hoa văn trang sức trên cửa sổ tháp cũng được điêu khắc tinh tế, hình tượng rất giống. ● 澄 湜. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Bách Trượng Đạo Hằng, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ chùa Thê Hiền ở Lô Sơn. Có vị tăng hỏi: Phật là gì? Sư đáp: Trương Tam, Lý Tứ. ● 澄 靜. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa Thượng? Sư đáp: Đệ tử làm Bình chương sự vào cung điện đọ sức nặng bao nhiêu? ● 澄 遠 (908-987). Thiền tăng đời Tống, họ Thượng Quan, người xứ Miên Trúc (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Thuở bé vào viện Chân Tướng ở Thành Đô xuất gia, 16 tuổi thụ giới cụ túc. Sau đó, sư rời Thục vào Tần, du phương khắp nơi, rồi nương ngài Vân Môn Văn Yển, được hết sạch mọi điều nghi và nối pháp ngài, hầu hạ bên cạnh ngài đến 18 năm, là truyền nhân tông Vân Môn. Sư trở về Thành Đô, trụ viện Thiên Vương tại chùa Nghênh Tường, người thời ấy gọi là “Thủy Tinh Cung”. Niên hiệu Càn Đức thứ 2 (964) đời Tống, sư dời đến viện Hương Lâm, núi Thanh Thành, hoằng dương tông phong Vân Môn, thuyết pháp trên 20 năm. ● 澄 忋. Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Quảng Châu, Trung Quốc. Xuất gia từ thuở bé, sư tham vấn Thiền Sư Chiêu Khánh Đạo Khuông, ngộ triệt tâm địa. Sư ở chùa Sơn Cốc, Thư Châu (nay là huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy). Về già, sư dời đến viện Long Quang tại Kim Lăng (nay là Nam Kinh). Sư thị tịch vào năm cuối đời Tống Thái Tổ. ● 著. 1. Cố chấp, câu nệ, mắc kẹt. Đàn Kinh, bản Đôn Hoàng ghi: “見 一 切 法 不 著 一 切 法、徧 一 切 處 不 著 一 切 處。 – Thấy tất cả pháp mà không chấp tất cả pháp, khắp mọi chỗ mà không kẹt mọi chỗ”. ● 2. Đặt để. Tiết Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 4 ghi: “這 裡 不 著 客 作 漢。 – ở đây không đặt khách làm chủ”. ● 3. Dùng, đem. Thập Nhị Thời Ca của Hòa Thượng Triệu Châu trong Liên Đăng Hội Yếu q. 30 ghi: “人 定 亥、門 前 明 月 誰 人 愛?向 裏 惟 愁 臥 去 時、勿 箇 衣 裳 著 甚 蓋? – Giờ Hợi, kẻ nào thích trăng sáng trước cửa, ở đây chỉ buồn khi đi ngủ, không có áo quần thì dùng cái gì che?” ● 4. Cần phải. Tiết Vân Cái Thủ Chi Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “若 向 這 裡 薦 得、不 著 還 草 鞋 錢。 – Nếu lãnh hội được chỗ này thì không cần trả lại tiền giày cỏ”. ● 5. Bị. Tiết Dụng Nguyên Tứ Châu Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “你 鼻 孔 因 甚 麼 著 拄 杖 子 穿 卻? – Lỗ mũi ông vì sao bị chiếc gậy xỏ?” ● 6. Hướng về. Tiết Bạch Mã Quy Hỉ Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “不 著 佛 求、不 著 法 求。 – Chẳng hướng Phật cầu, chẳng hướng pháp cầu”. ● 7. Trợ từ cuối câu, biểu thị sự sai khiến. Minh Giác Ngữ Lục, q. 2 ghi: “一 日 侍 者 報。有 三 人 新 到。從 端 巖 來。師 云:教 伊 大 展 坐 具 禮 拜 著。 – Một hôm thị giả báo: Có ba người từ Đoan Nham mới đến. Sư bảo: Biểu họ trải tọa cụ lễ bái đi!” ● 8. Trợ từ cuối câu, tương đương với “xong”. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “且 道 作 麼 生 看。開 眼 也 著。合 眼 也 著。還 有 人 免 得 麼? – Thử hỏi làm sao xem? Mở mắt cũng xong, nhắm mắt cũng xong, có ai được miễn không?” ● 著 不 得. 1. Không thể chứa, không chịu được. Tiết Nam Tuyền Hòa Thượng trong TĐT q. 16 ghi: “金 屑 雖 貴、眼 裏 著 不 得。 – Mạt vàng dù quý song con mắt không chịu được”. ● 2. Không đồng ý. Tiết Quang Hiếu Huệ Giác Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “師 問 相 國 宋 齊 止 曰:還 會 道 麼?宋 曰:若 是 道 也 著 不 得。 – Sư hỏi Tướng quốc Tống Tề Chỉ: Có hiểu đạo chăng? Tống nói: Nếu là đạo cũng không đồng ý”. ● 著 筋 骨. Còn gọi: Trước Tinh Thần, Trước Tinh Thái. Chú ý, nỗ lực. Tiết Vân Môn Văn Yển Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “古 德 一 期。爲 汝 諸 人 不 奈 何、所 以 方 便 垂 一 言 半 句、通 汝 入 路。知 是 般 事 拈 放 一 邊、自 著 些 子 筋 骨。豈 不 是 有 少 許 相 親 處? – Cổ đức vì thấy các ông không biết làm gì trong một đời, cho nên phương tiện buông ra một lời nửa câu mở đường cho các ông. Biết là việc này nên để qua một bên, tự mình nỗ lực một chút há không phải có chỗ gần sao?” ● 著 功. Còn gọi: Trước Công Phu. Dụng công, hạ thủ công phu. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。有 一 般 禿 子。便 向 裏 許 著 功。擬 求 出 世 之 法。錯了 也。 – Này đạo lưu! Có một lũ trọc nhằm vào đây dụng công mà muốn cầu pháp xuất thế, thật là sai lầm!” ● 著 脚. Đặt chân, hạ chân. Bài thơ “Dạy chúng” của thiền sư Tiêu Sơn Am Thể trong GTPĐL q. 29 ghi: 著 腳 孤 危 草 不 生 沒 栖 泊 處 等 閑 行 “Trước cước cô nguy thảo bất sinh, Một thê bạc xứ đẳng nhàn hành”. “Đặt chân đỉnh núi không ngọn cỏ. Tùy tiện đi về chốn thênh thang”. ● 著 到. Còn gọi: Trước Đảo. Cố chấp, dính vào những việc không có thật, không thể thoát ly và siêu việt. Vô Môn Quan ghi: “一 夜 在 是 非 海 裡 著 倒、直 待 天 明 再 來、又 與 他 注 破。 – Một đêm nọ, Động Sơn dính vào chuyện thị phi, đợi đến trời sáng Vân Môn mới phá trừ dùm sư”. ● 著 火. Nhóm lửa, đốt lửa. Tiết Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư trong NĐHN q. 14 ghi: “人 工 淘 米 著 火、行 者 煮 粥 蒸 飯。 – Người vo gạo nhóm lửa, người nấu cháo thổi cơm”. ● 著 氣 力. Hăng hái, nỗ lực. Tiết Bảo Hoa Phổ Giám Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “臥 雲 門 下、有 箇 鐵 門 限、更 須 猛 著 氣 力、跳 過 始 得。擬 議 之 間、墮 坑 落 塹。 – Dưới cửa Ngọa Vân có ngưỡng cửa bằng sắt cần phải nỗ lực nhảy qua mới được. Nếu còn chần chừ thì rơi hầm lọt hố”. ● 著 力. Dùng khí lực, đủ công lực. Tiết Vân Nham Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “師 與 道 吾、船 子 三 人 受 山 下 人 請 齋。一 人 問:齋 去、日 晚。一 人 云:近 那、動 步 便 到。師 云:有 一 人 不 動 步 便 到、作 麼 生?後 洞 山 聞 舉 云:此 語 最 著 力、如 人 入 鑊 湯 爐 炭、不 被 燒 煮 始 得。 – Sư cùng Đạo Ngô, Thuyền Tử nhận lời mời thọ trai dưới núi. Một người nói: Đi đi muộn rồi! Một người nói: Gần à! Vài bước là đến. Sư nói: Có một người không bước mà đến thì thế nào? Về sau Động Sơn nghe kể lại, nói: Lời nói này rất đủ công lực, như người nhảy vào vạc sôi lò lửa mà không bị phỏng mới được”. ● 著 語. Thêm lời bình ngắn ngọn vào trong lời nói cơ duyên của người khác. Tiết Tri Phủ Cát Đàm Cư Sĩ trong NĐHN q. 20 ghi: “嘗 問 諸 禪 曰:夫 婦 二 人 相 打、通 兒 子 作 證。且 道 證 父 即 是、證 母 即 是?或 庵 體 禪 師 著 語 曰:小 出 大 遇。 – Ông từng hỏi các vị tham thiền rằng: Hai vợ chồng nhà nọ đánh nhau có đứa con làm chứng. Hãy nói là nó làm chứng cho người cha phải hay người mẹ phải? Thiền Sư Hoặc Am Thể bình rằng: Việc bé xé ra to”. Bài tựa của Thung Dung Am Lục ghi: “至 於 著 語 出 眼、筆 削 之 際、亦 臨 機 不 讓。 – Trong khi trước ngữ đến chỗ then chốt hoặc trong khi nhuận sắc cũng tùy thời cơ không nhân nhượng”. ● 著 眼. Mở to mắt nhìn, trong Thiền Tông phần lớn chỉ cho mở pháp nhãn. Tiết Ngưỡng Sơn Hạnh Phật Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “設 使 石 匠 錐 頭、鑽 出 群 羊 走 獸、也 祇 是 相 似 模 樣。若 是 眞 模 樣、任 是 處 士 石 匠、無 你 下 手 處。諸 人 要 見、須 是 著 眼 始 得。 – Cho dù họa sĩ xuất sắc vẽ ra non xanh nước biếc cũng chỉ là kiểu dáng tương tự; giả sử thợ đá tài ba đục đẻo thành bầy dê chạy cũng chỉ là kiểu dáng tương tự. Nếu là kiểu dáng chân thật thì dù là họa sĩ, thợ đá tài ba không có chỗ để hạ thủ. Các ông muốn thấy cần phải mở to mắt mới được”. ● 著 方 便. Tùy theo người mà chỉ dạy, bày phương tiện. Bích Nham Lục, q. 1 ghi: “他 又 怕 人 執 在 這 裏。再 著 方 便 高 聲 云:這 裹 還 有 祖 師 麼。自 云:有。雪 竇 到 這 裏。不 妨 爲 人。赤 心 片 片。又 自 云:喚 來 與 老 僧 洗 腳。 – Sư lại sợ người mắc kẹt nơi đây nên bày phương tiện, lớn tiếng hỏi: ở đây có Tổ sư không? Tự đáp: Có. Tuyết Đậu đến chỗ này chẳng ngại vì người chân thành bày tỏ. Sư lại tự nói: Bảo ông ta đến rửa chân cho lão tăng!” ● 著 龜. Khắc bản ấn hành. Bài sớ phụ lục ở cuối quyển của Hoằng Trí trong CĐTĐL q. 30 ghi: “紀 之 編 簡、如 見 古 人;將 以 著 龜、可 格 後 學。 – Ghi chép những sáng tác đơn giản như thấy người xưa; định đem khắc bản để làm quy cách cho kẻ hậu học”. ● 著 些 子 眼 睛. Lưu ý một chút. ● 著 槽 廠. Sắp đặt chỗ cho chư tăng hành cước mới xin vào thiền viện. Trước: sắp đặt. Tào xưởng vốn là chỗ xay thóc giã gạo, dụ cho liêu dành cho người công quả trong Thiền viện. NĐHN q. 5 ghi: “如 唐 代 丹 霞 天 然 禪 師 當 初 投 奔 石 頭 希 遷 禪 師 法 席。希 遷 見 他 充 滿 靈 氣、一 見 面 就 說:著 槽 廠 去! – Như vào đời Đường, Thiền Sư Đan Hà Thiên Nhiên ban đầu đến pháp hội của Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên. Hy Thiên thấy sư thần khí sung mãn nên chỉ qua một lần gặp mặt mà đã bảo rằng: Hãy sắp đặt chỗ ở cho y!” ● 著 手 脚. Lén lút sắp đặt, làm việc phi pháp. Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “大 似 臨 嫁 醫 癭、卒 著 手 腳 不 辦。 – Rất giống đến lúc đi lấy chông mới lo trị bệnh bướu cổ, vội vàng cũng không kịp làm việc lén lút ấy”. ● 著 鞭. Giơ roi thúc ngựa, dụ cho sự nỗ lực liên tục. Tiết Nam Phong Vân Biện Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “子 雖 得 入、未 至 當 也、切 宜 著 鞭。 – Ông tuy được vào, song chưa đến đích cần phải nỗ lực liên tục”. ● 著 便. Gặp may mắn. Vân Môn Quảng Lục, q. hạ: “今 日 上 堂 大 眾 著 便。 – Hôm nay thượng đường, đại chúng gặp may”. ● 著 精 彩. Phấn chấn tinh thần, lưu ý, xuất sắc. Tiết Thiên Trúc Chứng Ngộ Pháp sư trong NĐHN q. 6 ghi: “卻 祗 從 這 裡 猛 著 精 彩 覷 捕 看。若 覷 捕 得 他 破、則 亦 知 本 命 元 辰 落 著 處。 – Lại chỉ từ nơi đây lưu ý rình bắt xem! Nếu rình bắt trúng được nó rồi thì cũng biết chỗ cứu cánh của bản mạng nguyên thần. “ ● 著 精 神. Còn gọi: Trước tinh thái. Phấn chấn tinh thần, lưu ý. Chương Tuyết Phong Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “和 尚 子、若 實 未 得 悟 入、直 須 悟 入 水 得、不 虛 度 時 光。莫 只 是 傍 家 相 徼、掠 虛 嫌 說。悟 入 且 是 阿 誰 分 上 事?亦 須 著 精 神 好! – Này các Hòa Thượng, nếu thật chưa ngộ nhập thì cần phải ngộ nhập mới được, chẳng để thời gian luống qua. Chỉ là đừng cầu người bên cạnh, tìm kiếm lời giả dối. Thế thì ngộ nhập việc hướng thượng là ai? Cũng cần phải phấn chấn tinh thần lên!” ● 著 著. Mỗi một hành vi hoặc động tác. Vô Môn Quan ghi: “未 舉 步 時 先 已 到、未 動 舌 時 先 說 了、直 饒 著 著 在 機 先、更 須 知 有 向 上 竅。 – Chưa dở chân đã đến, chưa động lưỡi đã nói: Cho dù mỗi một hành vi ở trạng thái chưa khởi niệm lại cần biết có bí quyết hướng thượng”. Vô Môn Quan ghi: “衲 僧 家 騎 聲 蓋 色、頭 頭 上 明、著 著 上 妙。 – Nạp tăng vốn phải cỡi âm thanh, đạp màu sắc, mỗi chỗ nơi đều rõ, mỗi hành vi đều hay”. ● 著 意 路. Mắc kẹt vào tư duy, ý niệm thông thường. Bích Nham Lục, q. 1 ghi: “所 以 吐 一 言 半 句。自 然 坐 斷 天 下 人 舌 頭。無 爾 著 意 路 作 情 解。 – Do đó cổ nhân buông ra một lời nửa câu tự nhiên quét sạch ngôn ngữ thiên hạ, không cho ông kẹt ý niệm, khởi tình giải, sinh đạo lý”. ● 張 拙. Cư sĩ sống vào đời đầu nhà Tống, Ngũ Đại Trung Quốc. Từng đỗ Tú Tài, nhờ Quán Hưu chỉ điểm ông đến tham kiến Thiền Sư Thạch Sương Khánh Chư. Khánh Chư hỏi: Tú Tài tên họ gì? Trương Chuyết đáp: Họ Trương tên Chuyết”. Khánh Chư nói: Tìm xảo (khéo) còn không được, chuyết (vụng) tự đâu có? Trương Chuyết chợt tỉnh ngộ, liền trình kệ: “Quang minh tịch chiếu biến hà sa, Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia. Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện Lục căn tài động bị vân già Đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh Thú hướng chân như diệc thị tà Tùy thuận thế duyên vô quái ngại Niết Bàn sinh tử đẳng không hoa”. Nhờ Khánh Chư ấn khả, và ông nối pháp của ngài. ● 張 公 喫 酒 李 公 醉. Còn gọi: Trương Tam Khiết Thiết Bổng, Lý Tứ Nhẫn Đông Thống (Trương Tam ăn gậy sắt, Lý Tứ chịu đớn đau). Ông Trương uống rượu, ông Lý say. Họ Trương, họ Lý là hai họ thường thấy ở Trung Quốc, nên được dùng để đại diện cho những người dân bình thường. Ông Trương, ông Lý tuy hình dáng khác nhau nhưng bản chất lại giống nhau. Thiền Tông mượn cụm từ này để chỉ cho cảnh giới vạn pháp nhất như. Vân Môn Khuông Chân Thiền Sư Quảng Lục, q. trung (Đại 47, 558 hạ) ghi: “僧 問:祇 如 師 意 作 麼 生?師 云:張 公 喫 酒 李 公 醉。 – Tăng hỏi: ở trường hợp đó thì ý Sư như thế nào? Sư nói: Ông Trương uống rượu, ông Lý say”. ● 張 九 成 (1092-1159). Cư sĩ đời Tống, tự Tử Thiều, hiệu Hoành Phố Cư sĩ, cũng có hiệu Vô Cấu Cư sĩ, người Tiền Đường (nay là Hàng Châu Chiết Giang) Trung Quốc. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 2 (1132) đỗ Tiến sĩ. Làm quan đến Lễ Bộ, Hình bộ thị lang. Bởi phản đối nghị hòa nên bị Tần Cối ghét bỏ. Bị vu cùng Thiền Sư Tông Cảo chê trách triều chính, bị đày đến Nam An nhà lao 14 năm. Tần Cối chết, ông được làm Tri phủ Ôn Châu. Ông rất hợp với Thiền Sư Tông Cảo, chịu ảnh hưởng của sư, tư tưởng học thuật của ông chủ yếu là lý học của Trình Y Xuyên, nhưng phần nhiều có ý dẫn Phật vào Nho, như “Nhân (lòng nhân từ) tức là giác, giác tức là nhân, do tâm sinh giác, do giác có nhân”. (Theo “Hoành Phố Tâm Truyền” quyển thượng). Bị Chu Hi công kích là “Dương Nho âm Thích”, “Hồng thủy mãnh thú”. Tác phẩm: Hoành Phố Văn Tập, Hoành Phố Tâm Truyền, Hoành Phố Nhật Tân. ● 張 幔 天 網. Còn gọi: Bố Mạn Thiên Võng, Cái Thiên Cái Địa, Duệ Khước Mạn Thiên Võng. Bủa giăng tấm lưới trên trời. Thiền Tông dùng tỷ dụ này để chỉ cho bậc Thầy tiếp dẫn dạy dỗ người học đến nơi đến chốn. Gia Thái Phổ Đăng Lục q. 26 (Vạn Tục 137, 187 thượng) ghi: “雲 門 大 師 張 幔 天 網、撈 龍 打 鳳。 – Đại sư Vân Môn bủa giăng tấm lưới trên trời để đón rồng bắt phụng”. ● 張 商 英 (1043-1121). Cư sĩ đời Tống, tự Thiên Giác, hiệu Vô Tận cư sĩ, người Tân Tân (nay thuộc Tứ Xuyên) Trung Quốc. Lúc trẻ nhậm chức quan nhỏ ở địa phương. Thời vua Tống Thần Tông (1068-1085) nhờ Vương An Thạch tiến cử ông làm chức Giám sát Ngự sử, tham dự biến pháp. Khoảng niên hiệu Nguyên Hựu (1086-1094) nhậm chức Đề Điểm hành ngục ở Hà Đông, từng đến Ngũ Đài Sơn lễ bái Bồ Tát Văn Thù, ở trước tượng Văn Thù sáng tác “Phát Nguyện Văn”, đối trước Phật “ngũ thể quy y”. Về sau giữ chức Chuyển vận sứ ở Giang Tây, đến Lô Sơn yết kiến Thiền Sư Đông Lâm Tổng, lại gặp Thiền Sư Đâu Suất Duyệt nhiều phen thỉnh giáo, tặng kệ tụng cho nhau. Đầu niên hiệu Thiệu Thánh (1094-1098) làm quan Tả tư giám. Khoảng niên hiệu Sùng Trử (1102-1106) lên đến chức Thượng thư tả thừa. Bởi không hợp với Tể tướng Thái Kinh nên xuống làm Tri phủ Hào Châu. Còn bị an trí ở Giáp Châu, yết kiến Thiền Sư Giác Phạm Huệ Hồng nhận lãnh giáo huấn, tin Phật càng sâu. Niên hiệu Đại Quan thứ 4 (1110) nhậm chức Thượng thư hữu bộc xạ. Bị Tương Du Niên gạt bỏ ra khỏi kinh, làm Tri phủ Hà Nam. Từng trước tác “Hộ Pháp Luận” luận chiến với quan điểm bài Phật đương thời. ● 長 歌. Thơ cổ phong có khuôn khổ khá dài. Bài Nhất bát ca trong CĐTĐL q. 30 ghi: “直 語 向 君 君 未 達。更 作 長 歌 歌 一 缽。 – Nói thẳng với anh mà anh chẳng rõ, mới làm một bài trường ca tên Nhất bát. “ ● 長 慶 院. Còn gọi: Di Sơn Thiền Viện. Thiền viện ở núi Di Sơn gần Tây Thành, huyện Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc; do Thiền Sư Đại An xây dựng vào đầu niên hiệu Hàm Thông (860-873) đời Đường, ban đầu có tên là Di Sơn Thiền Viện. Cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại, Thiền Sư Huệ Lăng nhậm chức trụ trì chùa này, đổi tên là “Trường Khánh Viện”. Đến đời Tống là thời kỳ cực thạnh. Đời Minh đổi viện thành tự (chùa). Khoảng niên hiệu Sùng Trinh (1628-1643), Thiền Sư Đạo Độc quê ở Quảng Đông,nhậm chức trụ trì. Từ đó về sau phần lớn là do các thiền tăng người Quảng Đông trụ trì, lập thành một trường phái riêng tại xứ Mân. Niên hiệu Quang Tự thứ 2 đến thứ 17 (1876-1891) đời Thanh, vị trụ trì là Vi Diệu đích thân đến Đài Loan, Đông Nam Á để quyên góp, rồi đối chiếu với bố cục đương thời xây dựng lại và xây thêm Tàng kinh các ở sau Pháp đường. Năm 1928, vị Trụ trì là Trí Thủy và Giám viện Chứng Lượng trùng tu, cho xây thêm Minh viễn các. Sau năm 1979, Hoa kiều yêu nước chung vốn trùng tu mới hẳn. Còn cho đắp thêm tượng Phật, toàn bộ đều thếp vàng. Xây cất lầu Ngọc Phật, rồi đem 2 pho tượng Phật lớn bằng ngọc từ Miến Điện về, an trí trong lầu. ● 長 劫. Lâu dài, vĩnh viễn. Kiếp: Đơn vị thời gian rất lớn, gồm vô số năm. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “悟 即 元 無 差 別、不 悟 即 長 劫 輪 回。 – Ngộ thì vốn không có sai khác, không ngộ thì vĩnh viễn luân hồi. “ ● 長 連 床. Còn gọi: Y Bát Hạ. Sập dài nằm nghỉ tập thể trong tăng đường, được chư tăng cùng sử dụng những khi ngồi thiền hay nghỉ ngơi. Tiết Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “楊 歧 一 句、急 著 眼 覷、長 連 床 上、拈 匙 把 箸。 – Một câu của Dương Kỳ, mau để mắt nhìn, ngồi trên giường thiền, cầm muỗng cầm đủa”. ● 長 靈 守 卓 禪 師 語 錄. Còn gọi: Trường Linh Hoà Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Trường Linh Thủ Trác soạn vào đời Tống, Vô Thị Giới Thâm biên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 307. Nội dung bao gồm những lời niêm hương chúc, thượng đường của thiền sư Thủ Trác khi trụ các nơi. ― Cam Lộ Thiền Viện ở Thư Châu. ― Từ Phúc Thiền Viện ở Lô Châu. Phụ lục 1 thiên hành trạng của sư. ● 長 元 (1110-1165). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 10, nối pháp Thiền Sư Đạo Huệ. Sư họ Phan, quê ở Trường Nguyên, Tiên Du (nay là huyện Tiên Du, tỉnh Hà Bắc), miền Bắc Việt Nam. Trong núi, hàng ngày sư mặc áo cỏ, ăn trái giẻ, làm bạn cùng suối, đá, khỉ, vượn. Trong suốt 12 giờ, sư thu xếp, an định thân tâm nhất như, không còn phân biệt đối đãi để trì kinh. Vua Lý Anh Tông nghe tiếng ái mộ, muốn gặp sư mà không thể được. Vua thầm sai Phiên thần họ Lê là bạn cũ của sư khéo dẫn dụ về triều. Họ Lê dụ sư về đến nhà trọ chùa Hương Sát. Sư tự hối hận, liền trốn về núi xưa. Kệ thị tịch: 在 光 在 塵。常 離 光 塵 心 腑 澄 徹。與 物 無 親 體 於 自 然。應 物 無 垠 宗 匠 二 儀。淘 汰 人 倫 亭 毒 萬 物。與 物 爲 春 作 舞 鐵 女。打 鼓 木 人 “Tại quang tại trần, thường ly quang trần, Tâm phủ trừng triệt, dữ vật vô thân. Thể ư tự nhiên, ứng vật vô ngân, Tôn tượng nhị nghi, đào thải nhân luân. Đình độc vạn vật, dữ vật vi xuân, Tác vũ thiết nữ, đả cổ mộc nhân”. “ở chỗ sáng (và) bụi Thường lìa sáng (và) bụi Tâm phủ lóng tột, Cùng vật không thân, Thể vốn tự nhiên, Hiện vật không tỳ (vết) Hun đúc lưỡng nghi (âm dương), Gạn lọc đạo làm người. Dưỡng nuôi muôn vật, Cùng vật làm xuân, Người gỗ đánh trống Gái sắt múa may”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 長 耳 和 尚 (?-951). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, pháp danh Hạnh Tu, người Tuyền Châu, Trung Quốc. Tướng mạo kỳ lạ, hai tai dài chấm vai, người đời gọi sư là “Trường Nhĩ Hòa Thượng”. Thuở nhỏ xuất gia nơi viện Bắc Nham, 13 tuổi cạo tóc lên giới đàn Trường Lạc (Phúc Kiến) thọ luật nghi thượng phẩm. Năm 18 tuổi yết kiến Tuyết Phong Nghĩa Tồn được tâm ấn nối pháp Nghĩa Tồn. Niên hiệu Thiên Thành thứ 2 (927) vào Triết Giang khắp nơi đều đến quy y, sư liền kết am nơi núi Cao Phong, Tây Quan kẻ thọ giáo càng đông. Lại mở rộng xây cất am đường, gọi là “Hàng Châu Nhĩ Tướng Viện”. Ngô Việt Vương từng hỏi Vĩnh Minh lúc này có chân tăng không? Vĩnh Minh đề cử sư, nói rằng đây là thân của đức Phật Định Quang. Ban hiệu “Tông Huệ Đại Sư”. ● 長 翁. Thiền tăng Như Tịnh, đời Tống, thân tướng to lớn mà tánh tình ngay thẳng phóng khoáng. Người thời ấy gọi sư là Tịnh Trường. Đời sau gọi sư là Trường Ông. X. Như Tịnh. ● 長 壽 寺. ở hang Đảng Tử, núi Bạch Nhai, thành phố Đặng Châu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ban đầu do hai Thiền Sư Nhất Hạnh và Hổ Nhân sáng lập, tên là “Hương Nghiêm Tự”. Khoảng niên hiệu Thượng Nguyên (760-762) đời Đường, lúc Thiền Sư Huệ Trung trụ chùa này, gọi là “Hương Nghiêm Trường Thọ Tự”. Cuối đời Đường Ngũ Đại chùa trở thành một đại thiền sát. Đời Tống thường gọi “Hương Nghiêm Tự”. Đời Nguyên là đạo tràng tông Tào Động, cao tăng lớp lớp xuất hiện giáo hóa khắp nơi. Cuối đời Nguyên chùa bị chiến tranh phá hủy. Đời Minh xây dựng lại, quy mô đã không bằng như xưa. X. “Hương Nghiêm Tự”. ● 長 往. Tạ thế. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “師 自 咸 通 十 年 己 丑 歲 三 月 一 日 剃 髮 被 衣、令 擊 鐘、儼 然 而 往、大 眾 號 慟、師 復 覺、。。。至 八 日、使 開 浴、浴 訖、端 坐 長 往。春 秋 六 十 二、僧 夏 四 十 一。 – Vào ngày mồng một tháng ba năm Kỷ Sửu, niên hiệu Hàm Thông thứ 10 (869), Sư cạo tóc mặc áo, sai người đánh chuông, rồi ngồi thị tịch rất nghiêm trang, đại chúng thương khóc quá độ nên sư tỉnh dậy… Đến ngày mồng tám, sư bảo sửa soạn tắm. Tắm xong, sư ngồi ngay ngắn mà tạ thế. Sư thọ 62 tuổi, 41 tuổi hạ”. ● 長 物. Vật dư thừa. Tiết Nhị Linh Tri Hòa Am chủ trong NĐHN q. 18 ghi: “三 十 年 間、居 無 長 物、唯 二 虎 侍 其 右。 – Trong ba mươi năm, sư sống không có vật gì dư thừa, chỉ có hai con cọp hầu bên cạnh. “ ● 長 老. Vị tỳ kheo có tuổi đời lớn và tuổi hạ cao, trí huệ và đức hạnh vượt lên các vị tăng khác trong tùng lâm. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 3 (Đại 48, 1031 hạ) ghi: “妙 喜 曰:諸 方 舉 長 老、須 舉 守 道 而 恬 退 者。 – Diệu Hỷ nói: Các thiền viện nếu muốn suy cử các bậc Trưởng lão, thì cần phải suy cử người biết giữ đạo, tính khí điềm đạm, không ham danh lợi”. ● 丈 雪 通 醉. Thiền tăng Thông Túy đời Thanh, tự Trượng Tuyết, người đời gọi sư là Trượng Tuyết Thông Túy. X. Thông Túy. ● 抽 釘 拔 橛. Nhổ đinh tháo chốt, tỷ dụ trừ bỏ vọng tưởng nghi hoặc, thoát khỏi tục tình mê chướng. Bích Nham Lục, q. 1 ghi: “達 磨 本 來 玆 土。與 人 解 粘 去 縛。抽 釘 拔 楔。 – Đạt Ma vốn đến đất này vì người gỡ niêm cởi trói, nhổ đinh tháo chốt”. Bích Nham Lục q. 8 ghi: “這 箇 拄 杖 子。三 世 諸 佛 也 用。歷 代 祖 師 也 用。宗 師 家 也 用。與 人 抽 釘 拔 楔。解 粘 去 縛。 – Một cây gậy này, tam thế chư Phật cũng sử dụng, lịch đại Tổ sư cũng sử dụng, các thiền sư cũng sử dụng để nhổ đinh tháo chốt, gỡ niêm cởi trói cho người”. ● 抽 單. Thiền tăng chính thức ra khỏi một thiền viện nào đó. Chương Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi: “王 山 體 久 依 大 明 寶 爲 侍 者、一 日 抽 單 去、眾 疑 之、問 曰:體 侍 者 何 往?寶 曰:諸 方 來、諸 方 去密問 他 作 麼! – Vương Sơn Thể làm thị giả cho ngài Đại Minh Bảo đã lâu. Một hôm, sư chính thức xin ra khỏi thiền viện của Ngài. Đại chúng sinh nghi, hỏi Ngài: Bạch thầy, thị giả Thể xin đi đâu thế? Bảo nói: Đi tới đi lui các thiền hội, hỏi đến hắn ta nữa làm gì!” ● 抽 解. Nghỉ ngơi (từ ngữ của chư tăng thường sử dụng). Tiết Bảo Ninh Viên Cơ Pháp Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “僧 問:生 死 到 來、如 何 回 避?師 曰:堂 中 瞌 睡、寮 裡 抽 解。 – Tăng hỏi: Lúc sinh tử đến làm sao trốn tránh? Sư đáp: Ngủ gục trong thiền đường, nghỉ ngơi trong liêu”. ● 抽 身. Thoái lui, rứt ra. Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “師 夜 不 點 火、僧 立 次、師 乃 曰:我 有 一 句 子、怠待 特 牛 生 兒、即 爲 汝 說!僧 曰:特 牛 生 兒 了 也、只 是 和 尚 不 說。師 便 索 火、火 來、僧 便 抽 身 入 眾。 – Ban đêm sư không đốt đèn, thấy một vị tăng đang đứng, sư liền nói: Ta có một câu, đợi khi nào bò đực sinh con sẽ nói cho ngươi nghe! Tăng thưa: Bò đực sinh con rồi, có điều là Hòa Thượng chẳng nói. Sư liền tìm lửa đốt đèn. Đèn sáng. Vị tăng thoái lui vào trong chúng”. ● 抽 脫. Đi tiêu, đi tiểu (từ ngữ của chư tăng thường sử dụng). Tông Môn Võ Khố ghi: “湛 堂 游 浙 回、充 首 座、聞 其 事(指 廁 所 鬧 鬼 怪 事)、中 夜 故 入 延 壽 堂 東 司 抽 脫。 – Trạm Đường đi Chiết Giang vừa trở về, được cử làm Thủ tọa; nghe việc ấy (chỉ việc quỷ quái làm loạn nhà xí) nên đợi đến nửa đêm, sư vào nhà xí của Diên thọ đường để đi tiêu, tiểu”. ● 肘 後 符. Còn gọi: Trửu Hậu Ấn, Trửu Hậu Huyền Phù. Lá bùa hộ thân, Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho tâm ấn Phật Tổ, Phật tính sẵn có của mọi người. Tắc 52, Thung Dung Lục (Đại 48, 260 thượng) ghi: “叢 林 又 有 肘 後 符。 – Chốn chùa chiền lại có lá bùa hộ thân”. ● 修 一 大 師. Thụy hiệu của thiền tăng Viên Trí, sống vào đời Đường. X. Viên Trí. ● 秀 野. Hiệu của thiền tăng Minh Lâm, sống vào đời Thanh. X. Minh Lâm ● 秀 峰 寺. X. Khai Tiên Tự ● 秀 宗. Thiền Tông bắc tông lấy ngài Thần Tú làm vị đại biểu chủ yếu. Thần Tú truyện trong TCCTT q. 8 ghi: “天 下 贊 傳 其 道、謂 秀 宗 爲 北、能 宗 爲 南。 – Người đời rao truyền đạo này bảo Tú Tông ở phương Bắc, Năng tông ở phương Nam. “ ● 聚 頭. Tụ tập. Họp lại một nhóm. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “如 今 禪 和 子。三 箇 五 箇 聚 頭 口 喃 喃 地。便 道。這 箇 是 上 才 語 句。那 箇 是 就 身 處 打 出 語。 – Hôm nay, năm ba vị thiền sinh họp lại một nhóm, trong miệng lẩm bẩm: “Cái này là ngữ cú của bậc căn khí thượng đẳng nói, cái kia là ngữ cú do thể nghiệm mà có được””. ● 聚 沫. Bóng bọt tụ tập lại, hàm nghĩa tạm thời tụ tập rồi phút chốc rã rời. Chương A Nan, Tổ thứ 2 trong CĐTĐL q. 1 ghi: “我 身 危 脆 猶 如 聚 沫。肉 復 衰 老 豈 堪 長 久。 – Thân của ta không bền chắc giống như bóng bọt tụ tập lại, huống là còn già yếu, đâu thể lâu dài?” ● 岫 雲 禪 寺. X. Đàm Chá Tự. ● 俊 快. Thông minh nhanh nhẹn. Tiết Tuyết Phong Huệ Không Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “俊 快 底 點 著 便 行、癡 鈍 底 推 挽 不 動。便 行 則 人 人 歡 喜、不 動 則 箇 箇 生 嫌。山 僧 而 今 轉 此 癡 鈍 爲 俊 快 去 也。 – Sư thượng đường nói: Hạng thông minh nhanh nhẹn một phen chạm phải liền hành động, hạng si độn dù có đẩy kéo cũng không nhúc nhích. Hành động thì mọi người đều vui mừng, không nhúc nhích thì ai nấy cũng không thích ý. Hôm nay sơn tăng tôi sẽ chuyển cái si độn nầy làm thành thông minh nhanh nhẹn. “ ● 俊 流. Từ gọi chung các bậc tài trí kiệt xuất. Tiết Tư Thọ Ni Diệu Tổng Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “宗 乘 一 唱、三 藏 絕 詮。祖 令 當 行、十 方 坐 斷。二 乘 聞 之 怖 走、十 地 到 此 猶 疑。若 是 俊 流、未 言 而 諭。 – Thiền Tông một phen cất tiếng thì hàng Giáo tông phải bặt lời. Một khi Tổ lệnh đang được thi hành thì mười phương khoáng đãng. Hàng Nhị thừa nghe qua liền sợ hãi bỏ chạy. Bồ Tát Thập địa đến chỗ này còn nghi. Nếu là kẻ anh kiệt thì chưa nói đã tỏ bày. “ ● 俊 明 (1317-1407). Thiền tăng đời Nguyên, họ Chương, tự Cổ Chuyết, người xứ Tùng Lăng, Cô Tô (Ngô Giang, Giang Tô) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Phúc Lâm Trí Độ, đời thứ 25 hệ Nam Nhạc. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 11 (1378) trụ trì chùa Thiên Giới ở Nam Kinh. Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 俊 芿 (1166-1227). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Bất Khả Khí Tuấn Nhận, người xứ Cửu Châu Phì Hậu. Niên hiệu Khánh Nguyên thứ 5 (1199) sang nhà Tống (Trung Quốc) trước lên núi Thiên Đài học giáo nghĩa Thiên Đài, sau lại đến Kính Sơn, Hàng Châu đắc pháp nơi Thiền Sư Nguyên Thông, đời thứ 18 hệ Nam Nhạc. Niên hiệu Gia Định thứ 4 (1211) sư trở về nước mang theo rất nhiều kinh luận chương sớ, sáng lập chùa Tuyền Dũng nơi Kinh Đô. Sư là Sơ Tổ tông Dương Kỳ Nhật Bản. ● 巡 人 犯 夜. Kẻ đi tuần trở thành tội phạm. Nguyên ý là người đi tuần ban đêm coi chừng hỏa hoạn, trộm cướp, nhưng chính mình lại trở thành trộm cướp. Trong Thiền lâm dùng để phê bình tông phong của tông Pháp Nhãn. Tiết Bạch Vân Đoan Thiền Sư Pháp Tự trong NĐHN q. 19 ghi: “師 曰:何 不 問 法 眼 下 事?曰:留 與 和 尚。師 曰:巡 人 犯 夜。 – Sư nói: Sao chẳng hỏi việc của tông Pháp Nhãn? Đáp: Xin để dành cho Hòa Thượng. Sư nói: Kẻ đi tuần trở thành tội phạm”. Bởi tông Pháp Nhãn là một trong Ngũ gia thất tông của Thiền Tông Trung Quốc, là pháp hệ từ Pháp Nhãn Văn Ích, Thiên Thai Đức Thiều… lần lượt truyền nhau. Sau khi Pháp Nhãn đắc pháp, Ngài trụ viện Thanh Lương, Tăng Châu (Giang Ninh, Giang Tô) mở mang Thiền phong, có rất nhiều đệ tử và lấy Chiết Giang, Phúc Kiến làm trung tâm, triển khai giáo pháp tông Pháp Nhãn. Theo tông phong này, thường đặc biệt lấy việc niêm lộng công án để tiếp hóa người học Thiền. Về mặt giáo học thì dung hợp với tư tưởng Tịnh Độ. Luận rõ về tông phong ấy, Nhân Thiên Nhãn Mục q. 4 (Đại 48, 325 thượng) ghi: “法 眼 宗 者、箭 鋒 相 拄、句 意 合 機、始 則 行 行 如 也、終 則 激 發、漸 服 人 心、削 除 情 解、調 機 順 物、斥 滯 磨 昏。(。。。)法 眼 家 風、對 病 施 藥、相 身 裁 縫、隨 其 器 量、掃 除 情 解。 – Tông Pháp Nhãn ấy, mũi tên chạm nhau, câu ý hợp cơ, ban đầu thì hành cái hạnh như như, sau cùng thì khơi gợi, lần điều phục lòng người, diệt trừ tình giải, điều cơ thuận vật, bài trừ hôn trệ (…). Gia phong của Pháp Nhãn đối bệnh cho thuốc, coi thân may áo, tùy theo trình độ của họ mà dẹp trừ tình giải”. ● 循 文 逐 句. Y theo câu văn, lời nói mà tìm cầu ý nghĩa, đạo lý. Là một lối tham học mà nhà Thiền phản đối. Truyện Bác Sơn Hòa Thượng trong NLQL q. 35 ghi: “年 十 六、矢 志 出 家、之 金 陵 瓦 棺 寺、听 講 法 華、慨 然 曰:求 之 在 我、起 可 循 文 逐 句 哉?遂 去。 – Năm 16 tuổi, sư thề quyết chí xuất gia, đi đến chùa Ngõa Quan ở Kim Lăng nghe giảng kinh Pháp Hoa, sư khảng khái nói: Tìm việc ấy ở nơi mình, đâu thể y theo câu văn, lời nói mà tìm cầu ý nghĩa, đạo lý. Nói xong, sư liền ra đi”. ● 足 下 雲 生. Mây trắng dưới chân, chỉ cho cảnh giới tự do tự tại. Bài kệ của thiền sư Đạo Nguyên (đời 41, dòng thiền Tào Động ở Việt Nam) ghi: 光 放 眉 間 無 道 佛、雲 生 足 下 未 言 仙 饒 君 保 養 牛 兒 壯、朝 夕 孰 耕 彼 寸 田 “Quang phóng mi gian vô đạo Phật Vân sinh túc hạ vị ngôn tiên Nhiêu quân bảo dưỡng ngưu nhi tráng Triêu tịch thục canh bỉ thốn điền”. “Quang phóng giữa mày không phải Phật Dưới chân mây trắng chửa là tiên Bảo anh nuôi dưỡng trâu cường tráng Hôm sớm cày sâu mảnh ruộng thiền”. ● 足 陌 錢. Đối lại: Tỉnh Số Tiền. Túc mạch: đủ số trăm. Tỉnh số: không đủ số trăm như: 70, 80, 90. Thiền Tông dùng từ Túc Mạch Tiền để dụ cho pháp Thiền của ngài Đại Huệ Tông Cảo, và dùng từ Tỉnh Số Tiền để dụ cho pháp Thiền của ngài Hổ Khâu Thiệu Long. Hư Đường Lục q. 10 (Đại 47, 1061 trung) ghi: “大 慧 下 尊 宿、尚 多 足 陌;虎 丘 下 子 孫、尚 多 省 數。足 陌 使 之 有 限、省 數 用 之 無 窮。 – Các bậc tôn túc theo ngài Đại Huệ phần nhiều chuộng túc mạch, còn con cháu của Hổ Khâu đa số chuộng tỉnh số. Túc mạch dùng thì hữu hạn, tỉnh số dùng thì vô cùng”. ● 足 成. Họp đủ, họp thành. Vô Môn Quan ghi: “安 晚 欲 就 渠 熱 爐 熬 上、再 打 一 枚、足 成 大 衍 之 數、卻 仍 前 送 似。 – Bởi thế buổi chiều muốn đặt nó vào lò để nấu lại một cái, cho đủ số năm mươi, rồi cứ như trước mà đem tặng. “ ● 續 指 月 錄. Đăng Lục, 20 quyển, do Niếp Tiên biên soạn vào đời Thanh, kế tiếp sau bộ “Chỉ Nguyệt Lục” của Cù Nhữ Tắc, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 143, trang 744. Nội dung thu thập tiểu sử và cơ duyên ngữ cú của các vị thiền sư từ đời thứ 17 dưới Lục Tổ thuộc niên hiệu Long Hưng thứ 2 (1164) đời Tống đến đời thứ 38 thuộc niên hiệu Khang Hy thứ 18 (1679) đời Thanh. Quyển thủ có lời tựa của Giang Tương và Phủ Dương Dư Hoài, lời tùy hỷ của cư sĩ Như Thị. Biên giả còn ra sức bổ sung phần cơ duyên ngữ cú bị bỏ sót trong quyển trung của bộ “Chỉ Nguyệt Lục”, biên thành “Cù Lục Bổ Di” 1 quyển, xếp ở quyển thủ. Hơn nữa, ông còn đem những vị tăng chưa rõ kế thừa ai thuộc sau đời Nam Tống, biên riêng thành 1 quyển “Tôn Túc Tập”, đặt ở quyển cuối. ● 續 焰 聯 芳. Tiếp ánh sáng, nối mùi hương. Nghĩa là mồi sáng ngọn đèn Tổ, làm cho đạo đức được lưu truyền khắp nơi. Bài tựa của Tỳ kheo Huệ Nguyên trong Trúc Lâm Tổ Sư Tuệ Trung Thượng Sĩ ghi: 理 無 一 物、事 有 萬 般 續 焰 聯 芳、光 前 振 後 “Lý không một vật Sự có muôn thứ Tiếp ánh sáng Nối mùi hương Làm rạng rỡ đời trước Làm hay đẹp đời sau”. ● 續 燈 正 統. Đăng Lục, 42 quyển, có riêng 1 quyển mục lục, do Biệt Am Tính Thống biên vào đời Thanh, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 30 (1691) đời Thanh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 144, trang 500. Nội dung bao gồm lược truyện và cơ duyên vấn đáp của các bậc kỳ túc trong thiền lâm vào cuối đời Tống đến đời Minh. Thu thập truyện ký của hơn 2. 300 vị dưới Tổ Huệ Năng như sau: ― Tông Lâm Tế từ đời thứ 16 đến đời thứ 35. ― Tông Tào Động từ đời thứ 16 đến đời thứ 37 cùng với những vị không rõ nối pháp ai. ● 續 燈 存 稿. Đăng Lục, 12 quyển, có riêng 1 quyển mục lục, do cư sĩ Thi Bái sưu tập tư liệu, Nhược Am Thông Vấn biên vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 4 (1665) đời Thanh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 145, trang 21. Sách này do Thi Bái sưu tập các Ngữ Lục, truyện ký, tháp minh v. v.. của các thiền sư từ cuối đời Tống đến đời Minh rồi được Thông Vấn biên tập thành. Nội dung thu thập truyện ký của khoảng 500 vị dưới Lục Tổ Huệ Năng như sau: ― Tông Lâm Tế từ đời thứ 18 đến đời thứ 34. ― Tông Tào Động từ đời thứ 16 đến đời thứ 36 và các vị không rõ nối pháp ai. ● 續 金 山 志. Chí, 2 quyển, do Thu Ngạn biên tập vào đời Thanh, và được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Chí Toàn Tập. Chùa Kim Sơn là một tự viện nổi tiếng của Thiền Tông. Vào niên hiệu Quang Tự thứ 26 (1900) đời Thanh, Trụ trì chùa Kim Sơn là Thu Ngạn sưu tập nhiều sách vở, bia cũ còn sót lại, tiếp tục bổ sung cho quyển “Kim Sơn Chí” của Lô Kiến Tằng. ― Quyển thượng kể về hình thắng, kế đến ghi chép về Kiến trí, Bi khắc, Liễn, Ngạch, Tạng bảo. ― Quyển hạ ghi chép hành trạng các vị cao tăng Thiền Tông trụ trì chùa này. Sách này tư liệu phong phú, có thể bổ sung chỗ thiếu sót trong quyển chí của họ Lô, cùng được ấn hành vào niên hiệu Quang Tự thứ 26 (1900) đời Thanh. ● 續 傳 燈 錄. Đăng Lục, 36 quyển, có thêm 3 quyển mục lục do Viên Cực Cư Đảnh biên soạn vào đời Minh, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 51, trang 469. Cư Đảnh tiếp tục bổ sung vào Cảnh Đức Truyền Đăng Lục từ các sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, Phật Tổ Huệ Mạng, Tăng Bảo Truyện, Thiền Môn Tông Phái Đồ, Ngữ Lục của chư Tổ, góp nhặt các tài liệu có liên quan, gom chép các thế hệ truyền pháp từ Lục Tổ Huệ Năng trở xuống, đời thứ 10 đến đời thứ 20. Chủ yếu là ghi về cơ ngữ, cũng có chép sự tích của 1203 vị; nếu thêm vào những người được truyền trao không chính thức thì được 3110 vị. ● 慧 通 (giữa thế kỷ 14). Ni sư đời cuối Trần đầu Lê, họ Phạm, con gái nhà quan. Ni sư xuất gia tu trên núi Thanh Lương, tu khổ hạnh, trì giới chuyên cần, tuệ giải thông suốt, thường ngồi thiền định, diện mạo giống hệt La Hán. Kẻ đạo người tục đều kính mộ, danh tiếng Ni sư lừng lẫy, là bậc tông sư của ni chúng cả nước, tên tuổi ngang hàng với các bậc cao tăng. Vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) ban hiệu là “Tuệ Thông Đại Sư”. Về già, Ni sư dời về ở Đông Sơn. Một hôm, Ni sư bảo đệ tử rằng: “Ta muốn đem thân hư ảo này thí cho hổ lang một bữa no”. Ni sư bèn vào giữa núi sâu ngồi kiết già, không ăn uống 21 ngày, hổ lang ngày ngày tới ngồi chung quanh mà không dám đến gần. Đồ đệ nài nỉ Ni sư trở về am. Về am, Ni sư đóng cửa nhập định qua một mùa hè, rồi tập hợp đệ tử lại giảng đạo, bỗng nhiên ngồi tịch, tuổi ngoài 80. Lúc hỏa táng có rất nhiều Xá Lợi. Quan địa phương xây tháp cho Ni sư ngay trên núi ấy. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 慧 忠 上 士 (1230-1291). Thiền Sư cư sĩ đời Trần, tên thật là Trần Tung, con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương (Trần Liễu), là anh cả của Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại vương mất, hoàng đế Trần Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng sĩ tước Hưng Ninh Vương. Lúc nhỏ, Thượng sĩ nổi tiếng bẩm chất cao sáng thuần hậu, khí lượng uyên thâm, phong thái nhàn nhã. Tuổi còn để chỏm, ngài đã mến mộ cửa không. Sau ngài đến tham vấn Thiền Sư Tiêu Dao ở Tinh xá Phúc Đường và lãnh hội được yếu chỉ. Hằng ngày, ngài lấy thiền duyệt làm vui, không lấy công danh làm sở thích. Ngài lui về ở phong ấp Tịnh Bang, đổi tên là làng Vạn Niên. Hòa ánh sáng lẫn với thế tục, dạy dỗ hàng sơ cơ, người học đến thưa hỏi, ngài đều chỉ dạy cương yếu, khiến họ trụ tâm tính. Vua Thánh Tông nghe danh ngài đã lâu, bèn sai sứ mời vào cửa khuyết. Ngài đối đáp với Vua đều là những lời siêu thoát thế tục. Nhân đó, vua tôn ngài làm sư huynh, tặng hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Về sau, ngài thị tịch ở Dưỡng Chân trang, thọ 62 tuổi. Tác phẩm: Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục 1 quyển. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 慧 忠 上 士 語 錄. Ngữ Lục, 1 quyển do Trần Tung (Thiền Sư Việt Nam) nói. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông khảo đính, Pháp Loa biên tập. Nội dung bao gồm: 1. Bài tựa “Trần Triều Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục” của Trần Nhân Tông. 2. Đối cơ 3. Cử công án 4. Thơ tụng 5. Thượng sĩ hành trạng 6. Chư nhân tán tụng. 7. Lời bạt của tướng Trần Khắc Chung. Bản khắc xưa nhất của sách này vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 24 (1763), với lời tựa của Tỳ kheo Tuệ Nguyên (phái Trúc Lâm) tu tại chùa Long Động trên núi Yên Tử. Đây là một quyển Ngữ Lục mang một bản sắc độc lập của Phật giáo Việt Nam, nhưng độc lập không có nghĩa là cô lập mà phải nằm trong tiến trình văn hóa giao lưu giữa Phật giáo ấn Độ và Trung Hoa. Nó tổng hợp một số tư tưởng Phật giáo Đại Thừa của ấn Hoa Việt và góp phần vào kho tàng văn hóa của Phật giáo và dân tộc Việt Nam. ● 嵩 山. Thuộc mạch núi Phục Ngưu, phía tây bắc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, do núi Thái Thất và Thiếu Thất họp thành, nằm theo hướng đông tây dài dằng dặc chừng 60km, đồi núi nhấp nhô, núi cao dốc đứng lạ thường. Căn cứ trên lịch sử, hình trạng phương vị mà ngọn núi tọa lạc và di tích danh nhân, chia làm 72 ngọn như Thái dương, Thiếu dương, Minh nguyệt, Ngọc trụ, Vạn tuế, Phụng hoàng, Huyền luyện, Ngọa long, Ngọc cảnh, Thanh đồng, Hoàng cái, Sư tử, Kê minh, Tùng đào, Thạch mạn, Thái bạch, La hán, Bạch lộc v. v…Ngoài ra còn có ngọn Tuấn Cực và ngọn Ngũ Nhũ. Ngọn Tuấn Cực còn gọi là Tung đỉnh, là ngọn núi cao nhất ở Tung Sơn. Niên hiệu Phổ Thông thứ 1 (520) đời Lương Nam Triều, Bồ Đề Đạt Ma đến núi Ngũ Nhũ ở trong hang đá ngồi nhìn vào vách im lặng 9 năm, người đời gọi là “Bích Quán Bà La Môn”. Động này được gọi là “Đạt Ma diện bích động”, sâu khoảng 7m, rộng 3m. Trước động có một tòa thạch phường song trụ đơn khổng được khắc vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 32 (1604) đời Minh, trên ngạch động mặt nam khắc 3 chữ “Mặc huyền xứ”, mặt bắc khắc 4 chữ “Đông lai triệu tích”. Cổ tích văn vật Thiền Tông còn có chùa Thiếu Lâm, rừng tháp, am Sơ Tổ, am Nhị Tổ, tháp Thiền Sư Tịnh Tạng. ● 嵩 少 祖. Thiền tăng Văn tải đời Minh, trụ trì chùa Thiếu lâm 16 năm, đệ tử có đến vài ngàn người. Người đời gọi sư là Tung Thiếu Tổ. X. Văn Tải ● 縱 饒. Mặc dù, giả sử. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “設 使 言 前 薦 得。猶 是 滯 殼 迷 封。縱 饒 句 下 精 通。未 免 觸 途 狂 見。 – Dù cho trước lời nói lãnh ngộ được, cũng là si mê đần độn; Già sử ngay lời nói thông suốt, chưa khỏi nơi nơi sinh ra kiến giải cuồng loạn. ” ● 樅 然. Còn gọi: Túng túng 摐 摐, Túng nhiên 摐 然. Dẫy đầy, tưng bừng, xôn xao. Đầy dẫy, sự vật nhiều đến mức gây cảm giác chỗ nào cũng thấy có. Tiết Khai thị Ưu Bà Tắc kết Niệm Phật Xã trong HSLNMDT q. 2 ghi: “是 則 一 念 惡 心 起、刀 林 劍 樹 樅 然、一 念 善 心 生、寶 地 華 池 宛 爾。 – Thế nên một niệm ác nổi lên thì núi đao rừng kiếm đầy dẫy; một niệm phát sinh thì đất báu ao sen.” Tiết La Hán Quế Sâm Thiền Sư trong NĐHN q. 8 ghi: “即 今 聲 色 摐 摐 地、爲 當 相 及 不 相 及? – Bây giờ thanh sắc đầy dẫy thế nên ghé hợp hay không ghé hợp. ” Tiết Văn Thù Tâm Đạo Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “三 界 唯 心、萬 法 唯 識。今 目 前 萬 象 摐 然、心 識 安 在? – Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Nay trước mắt muôn tượng dẫy đầy, tâm thức ở đâu?” ● 從. Mặc cho, mặc kệ. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “灰 頭 土 面 從 他 笑。贏 得 白 雲 堆 裏 閑。 – Đầu mặt dính tro đất mặc cho người khác cười, thì chỉ có được nỗi khốn khổ trong đồi Bạch Vân. “ Tông Môn Võ Khố ghi: “已 後 從 他 眼 寺 開、棒 了 罰 錢 趁 出 院。 – Về sau mặc kệ người khác miễn là mắt mình sáng, ăn gậy xong, bị phạt tiền và bị đuổi khỏi viện. ” ● 松 隱 塔. Do ở thị trấn Tùng ẩn, huyện Kim Sơn, tỉnh Thượng Hải, Trung Quốc nên có tên. Trong tháp chứa Kinh Hoa Nghiêm do tăng nhân ở Thiền viện Tùng ẩn đời Nguyên viết, nên còn gọi “Hoa Nghiêm Tháp”. X. “Hoa Nghiêm Tháp”. ● 松 波. Thiền tăng đời Thanh, họ Đoàn, người xứ Hạc Dương, Trung Quốc. Xuất gia từ thuở bé, sư theo Đức Chu Thượng nhân tham cứu Thiền Tông, sau đó được Dã Trúc Lão nhân ấn khả. Sư đến chùa Thạch Chung hoằng pháp, nhẫn nhục gánh vác trách nhiệm nặng, trăm công ngàn việc khiến cho chùa này trở thành chùa đứng đầu núi Kê Túc. Người đời quen gọi sư là “Thạch Chung Tùng Ba Thiền Sư”. ● 松 抱 塔. Nằm trong tháp viện chùa Giới Đài, trên sườn núi Mã Yên, khu Môn Đầu Câu, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Là mộ tháp của Hòa Thượng Pháp Quân, cao tăng đời Liêu. Bởi trên gò đất cao bên cạnh tháp một cây tùng đổ rạp xuống nằm ngang duỗi ra cong vòng giống như ôm lấy tháp, nhân đó mà đặt tên. Pháp Quân (1021-1075) thuở nhỏ theo Luật sư Phi Nhục chùa Tử Kim ở Kinh Tây làm thư đồng, giữ luật nghiêm cẩn bác thông nội ngoại. Khi lớn chí thích thiền duyệt, tham phỏng hơn 10 năm, hình như có phát minh. Khoảng niên hiệu Hàm Ung (1065-1074) được tôn làm Đại Hòa Thượng, lên đàn truyền giới, vua lễ sư làm thầy và ban hiệu”Truyền Giới Đại Sư”. Về sau sư chỉ lấy việc truyền giới làm nhiệm vụ, đắc giới tử 500 vạn người. Sư tịch vào niên hiệu Đại Khang thứ 1 (1075), cho nên tháp Tùng Bảo phải là tháp đời Liêu. ● 從 瑾 (1117-1200). Thiền tăng đời Tống, họ Trịnh, hiệu Tuyết Am, người xứ Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư yết kiến Thiền Sư Tâm Văn Đàm Bôn có tỉnh ngộ và nối pháp Ngài thuộc tông Lâm Tế. Sư trụ trì các chùa: Linh Nham ở Giang Tô, Thiên Đồng ở Chiết Giang. Sau khi thị tịch, toàn thân sư được an táng mé bên trái tháp của ngài Tâm Văn. Tác phẩm: Tuyết Nham Tùng Cẩn Thiền Sư Tụng Cổ Tập 1 quyển. ● 松 谷. Hiệu của Thiền tăng Như Thiên, sống vào đời Minh. X. Như Thiên. ● 從 悅 (1044-1091). Thiền tăng đời Tống, họ Hùng, người Kiền Châu (Cám Châu, Giang Tây), Trung Quốc. Năm 15 tuổi sư xuất gia, 16 tuổi thụ giới cụ túc, tham kiến thiền sư Bảo Phong Khắc Văn đắc pháp làm truyền nhân phái Hoàng Long tông Lâm Tế. Sư trụ viện Đâu Suất, Long Hưng (Nam Xương, Giang Tây) học thông nội ngoại, giỏi văn hay thơ, đạo tục gần xa đều ngưỡng mộ. Niên hiệu Tuyên Hòa thứ 3 (1121) Thừa tướng Trương Thương Anh tấu thỉnh ban thụy “Chân Tịch Thiền Sư”. Tác phẩm: Đâu Suất Duyệt Thiền Sư Ngữ Lục 1 quyển lưu hành cho đời. ● 從 頭. Mỗi mỗi, toàn bộ. Tông Môn Võ Khố ghi: “今 時 參 禪 人。如 蠅 子 相 似。有 些 腥 羶 氣 味 便 泊。須 是 從 頭 與 他 拈 卻 到 無 氣 味 處 泊 在 平 地 上。 – Người tham thiền đời này, giống như bầy ruồi, hễ có chút mùi tanh hôi liền bu lại. Phải quét sạch toàn bộ cho các ông ấy, quét đến chỗ không còn mùi vị để các ông ấy chỉ bu đậu trên đất bình thường. ” ● 松 庭. Hiệu của Thiền tăng Tử Nghiêm, sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh. X. Tử Nghiêm. ● 從 欣. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng. Khi ra hoằng pháp sư trụ Thúy Nham ở Xử Châu (nay là Lệ Thủy tỉnh Chiết Giang), người đời gọi sư là “Thúy Nham Hân”. ● 從 教. Để mặc, tùy ý, mặc cho. Tông Môn Võ Khố ghi: 年 老 浩 歌 歸 去 樂 從 教 人 喚 住 山 翁 “Niên lão hạo ca quy khứ lạc Tùng giao nhân hoán trụ sơn ông”. “Lớn tuổi ưa ca bài vui trở về Mặc cho người gọi lão ở non”. ● 從 顯 (906-983). Thiền tăng đời Tống, người xứ Bồ Điền Tuyền Châu (nay thuộc Phúc Kiến), nối pháp Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ viện Quán Âm ở Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây). Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Quán Âm?. Sư đáp: Hãy xem trước mắt. ● 從 瑰 (?-973). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Xuất gia từ thuở nhỏ. Sư tham vấn nhiều vị nhưng không khế hợp, sau yết kiến Thiền Sư Trường Khánh Huệ Lăng, ngay lời nói liền đốn ngộ và nối pháp Ngài. Khi ra hoằng pháp sư ở chùa Xưng Tâm tại Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang) khai pháp giảng thuyết khiến cho thiền phong hưng thạnh. Về già dời về viện Báo Ân tại Hàng Châu. ● 從 朗. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm. Khi ra hoằng pháp, sư trụ Mộc Trần ở Vụ Châu (nay là huyện Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang). Kệ thị tịch: 三 十 年 來 住 木 陳 時 中 無 一 假 功 成 有 人 問 我 西 來 意 展 似 眉 毛 作 麼 生。 “Tam thập niên lai trụ Mộc Trần Thời trung vô nhất giả công thành Hữu nhân vấn ngã Tây Lai ý Triển tợ my mao tác ma sinh”. “Ba chục năm qua ở Mộc Trần Giờ giờ không bận chút thân sơ Ai kia có hỏi Tây lai ý Mở hoát my mao là cái gì”. ● 叢 林. 1. Giới Phật giáo. Tiết Thượng Phong Bản Tài Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “掃 佛 祖 見 知、作 叢 林 殃 害。 – Dẹp bỏ tri kiến Phật Tổ gây tai họa cho giới Phật giáo”. ● 2. Tự viện, thiền tự. Tông Môn Võ Khố ghi: “如 此 三 十 年、風 雨 不 易、鼎 新 創 佛 殿、輪 藏、羅 漢 堂、凡 叢 林 所 宜 有 者、咸 修 备 焉。 – Suốt 30 năm như thế, dù mưa gió vẫn không đổi chí, sư thay cũ đổi mới các kiến trúc: Phật điện, Luân tạng, La Hán đường; hễ tự viện cần có vật gì, sư đều sắm sửa đầy đủ”. ● 3. Từ mà chư tăng dùng để gọi các Thiền Sư. Tiết Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: 傑 出 叢 林 是 趙 州 老 婆 勘 破 有 來 由。 “Kiệt xuất tùng lâm thị Triệu Châu Lão bà khám phá hữu lai do”. “Thiền Sư trổi nhất là Triệu Châu Bà già bị khám (phá) có cội nguồn”. ● 叢 林 祗 對. Sự ứng đối của nhà Thiền, hàm ý mặc dù có vẻ siêu thoát lạ lùng, nhưng vẫn chưa lìa khỏi lời nói. Tiết Từ Thị Thụy Tiên Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “棄 謁 諸 方、後 至 投 子、廣 鑑 問:鄉 里 甚 處?師 曰:兩 浙 東 越。鑑 曰:東 越 事 作 麼 生?師 曰:秦 望 峰 高、鑑 湖 水 闊。鑑 曰:秦 望 峰 與 你 自 己 是 同 是 別?師 曰:西 天 梵 語、此 土 唐 言。鑑 曰:此 猶 是 叢 林 祗 對、畢 竟 是 同 是 別?師 便 喝。 – Sư không yết kiến thiền sư các nơi, về sau đến Đầu Tử. Quảng Giám hỏi: Quê ông ở đâu? Sư đáp: Đông Việt, Lưỡng Chiết. Giám hỏi: Việc của Đông Việt là gì? Sư đáp: Núi Tần Vọng cao, sông Giám Hồ rộng. Giám hỏi: Núi Tần Vọng cao cùng với bản thân ông là đồng hay khác?. Sư đáp: Tây Thiên dùng tiếng Phạn, xứ này nói tiếng Đường. Giám nói: Đây còn là sự ứng đối của nhà thiền, rốt cuộc là đồng hay khác? Sư liền hét”. ● 叢 林 公 論. Luận, 1 quyển, do Giả Am Huệ Bân soạn vào đời Tống, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 16 (1189) đời Thanh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 113, trang 899. Tác giả bình luận về những việc xưa nay trong thiền lâm, gồm hơn 70 điều, trên một vạn lời. Nội dung xác đáng, luận nghị công bằng. Lời tựa của Tông Huệ có kiến giải rất sáng suốt, nhưng có đôi chỗ trong sách bàn về chỗ đắc thất của văn chương tiên Nho không được đúng lắm. ● 叢 林 校 定 清 規 總 要. Còn gọi: Hàm Thuần Thanh Quy, Vụ Châu Thanh Quy, Hiệu Định Thanh Quy. Sách, 2 quyển, do Hậu Triều Duy Miễn biên vào đời Tống, đến niên hiệu Hàm Thuần thứ 10 (1274) thì hoàn thành, được ấn hành vào niên hiệu Chí Nguyên thứ 30 (1293) đời Nguyên, và sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 112, trang 1. Biên giả đem các loại thanh quy của thiền môn từ “Bách Trượng Thanh Quy” về sau, tham khảo hiệu định những chỗ dị đồng, chắt lọc tinh hoa của chúng rồi biên tập lại. Quyển thượng bao gồm 39 mục: “Biểu đồ: cáo hương, Y giới, Xuất ban thiêu hương “, “Biểu đồ: cáo hương, Phổ thuyết, Lập bang “… Quyển hạ bao gồm 20 mục: “Thượng đường, Phổ thuyết, Tiểu tham”, “Cáo hương, Nhập thất, Thỉnh ích”… ● 叢 林 盛 事. Bút ký, 2 quyển, do Cổ Minh Đạo Dung soạn vào đời Tống, được ấn hành vào niên hiệu Khánh Nguyên thứ 5 (1199) đời Tống, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 52. Soạn giả tuyên bố sách này làm ra vì chí hướng bảo vệ Thiền Tông và hoằng pháp. Nội dung bao gồm những điều thấy nghe hàng ngày chốn tùng lâm, cùng với lời hay ý đẹp của các thiền sư xưa nay. Tất cả là 141 điều trình bày về: Đại Khanh tham vấn Hoàng Long, Phật ấn cởi ngọc đái của Tô Đông Pha, Bảo Phong Tường khoanh tay, Phổ Từ Văn, Tối Am ấn, Vinh Dương Quận v. v… ● 從 倫. Thiền tăng đời Nguyên, Trung Quốc, hiệu Lâm Tuyền. Đến chùa Báo Ân ở Yên Kinh tham kiến Vạn Tùng Hành Tú khai ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Ban đầu trụ chùa Vạn thọ sau đó kế thừa pháp tịch của thầy, trụ trì chùa Báo Ân. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 9 (1272) Nguyên Thế Tổ hạ chỉ mời sư vào nội điện, từng luận đạo với Đế sư, phát huy đại yếu thiền học, dâng lên vua cuốn “Thiền Nguyên Chư Thuyên tập” của Tông Mật. Đế sư còn hỏi về công án Tổ sư, phân tích bàn bạc đến tối mới tan. Năm thứ 18 (1281) Tùng Luân thiêu đốt ngụy kinh “Đạo Tạng” nơi chùa Mẫn Trung ở Đại Đô (Bắc Kinh), ngoại trừ “Đạo Đức Kinh” ra, sư thiêu hủy tất cả. Sư lại trước ngữ và bình xuớng một trăm tắc tụng cổ của Đầu Tử Nghĩa Thanh và một trăm tắc tụng cổ của Đơn Hà Tử Thuần, biên tập thành “Không Cốc tập”, “Hư Đường Tập”. Truyền pháp cho Đồng Tân rồi tịch. ● 從 門 入 者 不 是 家 珍. Vật gì đem từ ngoài cửa vào chẳng phải là của báu ở trong nhà mình. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho Phật tính sẵn có của mình, mình cần phải tu tập để hiển lộ và thọ dụng, nếu đi tìm cái gì khác nữa thì chẳng phải. Tắc 5, Bích Nham Lục (Đại 48, 145 thượng) ghi: “巖 頭 喝 云。爾 不 見 道。從 門 入 者。不 是 家 珍。須 是 自 己 胸 中 流 出。蓋 天 蓋 地。方 有 少 分 相 應。 – Nham Đầu hét một tiếng rồi nói: Ông chẳng nghe nói vật gì đem từ ngoài cửa vào chẳng phải là của báu trong nhà, phải là từ trong ngực của chính mình tuôn ra để giáo hóa mọi loài mới có chút phần tương ưng”. ● 松 源 崇 岳 禪 師 語 錄. Còn gọi: Tùng Nguyên Hòa Thượng Ngữ Lục, Tùng Nguyên Ngữ Lục, Tùng Nguyên Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Tùng Nguyên Sùng Nhạc soạn vào đời Tống, nhóm ông Thiện Khai… biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 570. Nội dung bao gồm Ngữ Lục của Sư Tùng Nguyên trong 8 hội ở các thiền viện: Trừng Chiếu, Thật Tế, Tiến Phúc và Báo Ân Quang Hiếu Thiền Tự, v. v… cùng với các phần: Bỉnh phất phổ thuyết, Pháp ngữ, Tụng cổ, Tán Phật Tổ, Kệ tụng v. v… Sau sách có phụ lục 1 thiên Tháp minh của Lục Du. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Gia Thái thứ 3 (1203) đời Tống. ● 松 源. Hiệu của Thiền tăng Sùng Nhạc, sống vào đời Tống. X. Sùng Nhạc. ● 松 月 翁. Thiền tăng Chính ấn, sống vào đời Nguyên, tự xưng là “Tùng Nguyệt Ông”. X. Chính Ấn. ● 從 范. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Nham Đầu Toàn Khoát. Khi ra hoằng pháp, sư trụ Hương Khê ở Phúc Châu. Sư từng nói kệ rằng: 迦 葉 上 行 衣、披 來 須 捷 機 才 分 招 的 箭、密 露 不 藏 龜 “Áo đi đường của Ca Diếp Mặc vào liền hợp cơ (ky) Phân biệt thì thọ tiễn Khuôn xưa chẳng giấu chi”. ● 從 貴. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Hoằng Đạo, kế tục trụ trì viện An Quốc ở Phúc Châu. Có vị tăng hỏi: Thỉnh sư tuyên bày Thiền Tông. Sư đáp: Hôm nay đập lúa, ngày mai bửa củi. ● 從 琛. Thiền tăng đời Ngũ Đại, theo học với Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp sư trụ núi Phụng Hoàng tại Tuyền Châu. Có vị tăng hỏi: Thế nào là cảnh của Phụng Hoàng?. Sư đáp: Đêm tuyết xem trăng sáng. Thự hiệu: Hồng Nhẫn Thiền Sư. ● 松 山 子. Hiệu của Thiền tăng Diệu Luân, sống vào đời Tống. X. Diệu Luân. ● 從 襲. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người xứ Mân, Trung Quốc. Là học trò giỏi của Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, nhờ bản sư ấn giải nên thông suốt được tông yếu. Sư thường nói: Đánh trống Quan Nam, hát bài ca Tuyết Phong. Về sau, sư ra giáo hóa ở vùng Chiết Giang, Ngô Việt Vương khâm phục đạo đức của sư, thỉnh sư ở núi Đại Tiễn tại Hàng Châu để xiển dương chính pháp, nên người đời gọi sư là “Đại Tiễn Thiền Sư”. ● 松 石. Hiệu của Thiền tăng Pháp Hưng sống vào đời Minh. X. Pháp Hưng. ● 從 盛. Thiền tăng đời Ngũ Đại, người huyện Mân (nay là Phúc Châu) Trung Quốc. Sư xuất gia ở núi Trường Sinh, sau khi thụ giới liền du phương, tham vấn Thiền Sư La Sơn Đạo Nhàn, đốn khế huyền cơ và nối pháp Ngài. Ban đầu sư ở chùa Long Hồi tại Cao An (nay thuộc Giang Tây) cử dương tông phong. Có vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Long Hồi? Sư đáp: Dọc ngang bắn thủng. Về sau, sư dời đến núi Đạo Ngô tại Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam) để tiếp hóa chúng sinh. ● 從 諗 (778-897). Thiền tăng đời Đường, họ Hác, người Tào Châu (Hà Trạch, Sơn Đông) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư xuất gia nơi viện Hỗ Thông, Tào Châu (một thuyết nói viện Long Hưng, Thanh Châu). Đến tham kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện, Phổ Nguyện rất trọng sư. Lại đến Tung Sơn thụ giới cụ túc. Rồi trở về chỗ Nam Tuyền y chỉ 20 năm, chuyên tâm tham cứu huyền ngộ, được ấn chứng tâm pháp. Sau đó lần lượt tham yết các bậc đại đức như Hoàng Bá, Bảo Thọ, Diêm Quan, Giáp Sơn, Ngũ Đài v. v… Lúc 80 tuổi đại chúng thỉnh sư trụ viện Quán Âm phía đông thành Triệu Châu (huyện Triệu, Hà Bắc) đại dương thiền phong, pháp ngữ huyền ngôn của Sư phổ biến khắp thiên hạ như các câu “Phật tính con chó”. “Cây bách trước sân” v. v… Người đời gọi sư là “Triệu Châu Cổ Phật”. Thụy là “Chân Tế Đại Sư”. Tác phẩm: Chân Tế Đại Sư Ngữ Lục 3 quyển. ● 從 上 來. Từ xưa đến nay. Tông Môn Võ khố ghi: “從 上 來 作 家 宗 師 能 爲 人。惟 睦 州。見 爾 有 坐 地 處。便 剗 卻。從 頭 秖 是 剗 將 去。 – Từ xưa đến nay, các bậc pháp sư Thiền Tông cao tay hay vì người, chỉ có ngài Mục Châu hễ thấy người có chỗ để ngồi liền xúc bỏ, mỗi mỗi chỉ là xúc bỏ đi. “ ● 叢 席. Nơi giảng nói thiền pháp. Thiền viện. Tiết Hồng Đảnh Nhân Thiền Sư trong NĐHN q. 11 ghi: “有 湘 陰 豪 貴、來 遊 福 嚴、即 師 之 室、見 其 氣 貌 閑 靜、一 缽 挂 壁、餘 無 長 物。傾 愛 之、遂 拜 跪、請 曰:神 鼎 乃 我 家 植 福 之 地、久 乏 宗 匠、願 師 俱 往、何 如?師 笑 而 諾 之。即 以 己 馬 負 師 至、十 年 始 成 叢 席。 – Có người giàu có ở Tương Dương dạo chơi ở Phúc Nghiêm, đến ngay nơi thất của sư, Thấy sắc mặt của sư thanh thản, chỉ có một bát treo trên vách không có một vật nào khác nên rất bội phục sư, liền quỳ xuống làm lệ thỉnh rằng: Thần Đảnh là chỗ mà gia đình con thường trồng cội phúc, từ lâu không có thiền sư, mong sư đến đó, không rõ ý sư thế nào? Sư mỉm cười ưng thuận. Người ấy liền đem ngựa đến rước sư. Mười năm sau mới trở thành thiền viện. “ ● 從 展 (?-928). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Phúc Châu. Năm 15 tuổi lễ Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn làm thầy rồi xuất gia theo Ngài tu học. Niên hiệu Trinh Minh thứ 4 (918) thời Hậu Lương, Thứ sử Đàm Châu sáng lập Bảo Phúc Thiền Uyển, rước sư về ở. Niên hiệu Thiên Thành thứ 3 (928) thời Hậu Lương, sư thuyết pháp xong, ngồi ngay thẳng thị tịch. ● 叢 社. Đoàn thể thiền tăng, thiền viện, chùa chiền. Tiết Vô Vi Tông Thái Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “漢 州 無 爲 宗 泰 禪 師、涪 城 人。自 出 關、遍 遊 叢 社。 – Thiền Sư Tông Thái ở viện Vô Vi hán Châu, người Phù Thành. Từ khi sư ra khỏi thất (mãn hạn nhập thất), bèn đi khắp các thiền viện. “ ● 從 漪. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thanh Khê Hồng Tiến. Sư trụ núi Thiên Bình ở Tương Châu (nay là huyện An Dương tỉnh Hà Nam. Có vị tăng hỏi: Phật là gì?. Sư đáp: Chẳng phải chỉ trời chỉ đất, duy NGà là tôn quý. ● 從 弇. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư ở viện Báo Ân, Đàm Châu (nay là huyện Chương Phố tỉnh Phúc Kiến), nối pháp Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Mân Vương ngưỡng mộ đạo đức của sư nên rước sư vào viện Vĩnh Phúc, núi Liên Hoa, Phúc Châu. Thự hiệu: Siêu Chứng Đại Sư. ● 頌 古. Dùng các câu thơ có âm vận đế bình luận về công án Thiền Tông đã được nêu ra. Phần Giải thích của tắc 96, Bích Nham Lục q. 10 (Đại 48, 219 thượng) ghi: “雪 竇 一 百 則 頌 古。計 較 葛 藤。唯 此 三 頌 直 下 有 衲 僧 氣 息。 – Một trăm bài tụng cổ của Tuyết Đậu quả là tính toán nhiều lời, chỉ được ba bài tụng này là có hơi hám của Thiền tăng”. ● 隨 波 逐 浪. Theo mòi đuổi sóng tức là tùy duyên tiếp vật, ứng bệnh cho thuốc, là nguyên tắc tiếp dẫn người học của tông Vân Môn. Một trong ba câu nói của Vân Môn. Tiết Cửu Đảnh Huệ Tuyền Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “昔 日 雲 門 有 三 句、謂 函 蓋 乾 坤 句、截 斷 眾 流 句、隨 波 逐 浪 句。 – Ngày trước Vân Môn có ba câu là: Hàm cái càn khôn (Cho trùm trời đất), Tiệt đoạn chúng lưu (Chặt đứt các dòng). Tùy ba trục lãng (Theo mòi đuổi sóng)” ● 隨 機 應 變. Tùy theo căn cơ của người học đạo mà thay đổi biện pháp tiếp dẫn. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “見 性 成 佛 賺 剎 多 少 人!都 道 成 佛 要 緊、見 性 不 要 緊;成 佛 念 頭 急、見 性 念 頭 寬。其 奈 轉 寬 轉 遠、轉 急 轉 遲。只 貪 飯 好 喫、不 信 是 米 做。山 僧 今 日 隨 機 應 變、爲 他 掇 轉 話 頭、改 作 見 佛 成 性、又 不 然 改 作 成 佛 見 性、豈 不 快 哉! – Một câu ›Kiến tính thành Phật‹ lường gạt biết bao hiêu người! Tất cả nói thành Phật là quan trọng và cấp bách còn kiến tính thì không sao. Nghĩ rằng phải mau mau thành Phật còn thủng thẳng hãy kiến tính. Việc ấy khổ nỗi càng hưỡn thì càng xa, càng gấp thì càng muộn. Chỉ ham ăn thích uống mà chẳng biết nấu cơm. Hôm nay Sơn tăng sẽ tùy cơ ứng biến vì mọi người đổi lại thoại đầu, sửa thành ›Kiến Phật thành tính‹, còn chẳng đúng thì sửa thành ›Thành phật kiến tính‹, đâu chẳng thích thay!” Châu Đại Hồng Sơn Thuần Thiền Sư Ngữ Lục ● 隨 州 大 洪 山 淳 禪 師 語 錄. X. Đan Hà Tử Thuần Thiền Sư Ngữ Lục. ● 隨 眾. Đi theo tăng chúng cùng nhau tham học. Vô Môn Quan ghi: “明 云:某 甲 雖 在 黃 梅 隨 眾、實 未 省 自 己 面 目。今 蒙 指 授 入 處、如 人 飲 水、冷 暖 自 知。今 行 者 即 是 某 甲 師 也。 – Đạo Minh nói: Tôi tuy ở Hoàng Mai tùy chúng, thật chưa tỉnh được diện mục chính mình. Nay nhờ hành giả chỉ dạy chỗ vào như người uống nước, nóng lạnh tự biết, nên hành giả (Huệ Năng) chính là Thầy của tôi vậy”. ● 隨 緣. Thuận theo cơ duyên, thích ứng với hoàn cảnh không phải cố sức. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “若 是 眞 正 道 人。終 不 如 是。但 能 隨 緣 消 舊 業。任 運 著 衣 裳。要 行 即 行。要 坐 即 坐。無 一 念 心 希 求 佛 果。 – Nếu là bậc đạo nhân chân chính tất cả đều chẳng phải như vậy, chỉ hay thuận theo cơ duyên mà tiêu nghiệp cũ, cứ mặc tình mặc áo quần, muốn đi thì đi muốn ngồi thì ngồi, tâm không một niệm mong cầu Phật quả. “ ● 隨 方 就 圓. Gặp vuông liền vuông, gặp tròn liền tròn. Tùy chỗ thích ứng. Phương Hội Ngữ Lục ghi: “上 堂:楊 岐(系 方 會 禪 師 之 法 號)一 言、隨 方 就 圓。若 也 擬 議、十 萬 八 千。 – Sư thượng đường, nói: Dương Kỳ có một lời, tùy chỗ mà thích ứng. Nếu như còn do dự, cách muời muôn tám ngàn”. ● 隨 山. Hiệu của thiền tăng Chính Nham sống vào đời Thanh. X. Chính Nham ● 隨 時. Tùy theo chương trình làm việc hàng ngày mà sắp đặt. Minh chơn tụng trong PKNL q. 18 ghi: “禪 師 不 假 多 知、饑 餐 渴 飲 隨 時、將 心 用 心 大 錯、在 道 修 道 堪 悲。 – Thiền Sư đâu cần biết nhiều, đói ăn khát uống tùy thời, đem tâm dụng tâm (là) lầm to, nơi đạo tu đạo là việc đang buồn. “ ● 隨 时 及 節. Hợp theo thời tiết, sống bình thường qua ngày. Đây là thể hiện “Bình thường tâm” của nhà thiền. Văn Ích Ngữ Lục ghi: “出 家 人、但 隨 時 及 節 便 得、寒 即 寒、熱 即 熱。欲 知 佛 性 義、當 觀 時 節 因 緣。 – Người xuất gia chỉ cần hợp theo thời tiết liền được, lạnh thì biết lạnh, nóng thì biết nóng. Muốn biết nghĩa Phật tính, phải xem xét thời tiết nhân duyên”. ● 隨 處 解 脫. Ý nói chỗ chỗ đều hiển bày cơ duyên giải thoát, nơi nơi thảy có thể đạt được tỉnh ngộ siêu thoát. Tiết Định Sơn Duy Tố Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “法 無 異 轍、殊 途 同 歸。若 要 省 力 易 會、但 識 取 自 家 桑 梓、便 能 紹 得 家 業、隨 處 解 脫、應 用 現 前、天 地 同 根、萬 物 一 體、喚 作 衲 僧 眼 睛、綿 綿 不 漏 絲 髮。 – Pháp không có cách gì lạ, chỉ là khác nẻo mà cùng về một chỗ. Nếu muốn dễ lãnh hội mà ít phí sức thì chỉ cần biết giữ lấy bản tính, liền có thể tiếp nối gia nghiệp, tùy chỗ giải thoát, ứng dụng hiện tiền, đất trời cùng một gốc, vạn vật đồng một thể, gọi là con mắt của thiền tăng không bao giờ sót lọt một mảy tơ. “ ● 隨 處 任 緣. Chẳng câu nệ chỗ ở, ứng duyên mà làm. Tiết Huệ Khả Thiền Sư trong TĐT q. 2 ghi: “或 在 城 市、隨 處 任 緣。或 爲 人 所 使、事 畢 去 還。 – Hoặc ở phố chợ ứng duyên mà làm; hoặc bị người sai khiến làm xong công việc rồi trở về”. ● 隨 處 作 主. ở đâu cũng làm chủ được, là cảnh giới của người ngộ thiền. Vô Môn Quan ghi: “若 能 下 得 此 三 轉 語、便 可 以 隨 處 作 主、遇 緣 即 宗。其 或 未 然、麤 餐 易 飽、細 嚼 難 飢。 – Nếu nơi đây mà hạ được ba câu chuyển ngữ thì ở đâu cũng làm chủ được, nơi nào cũng là nhà được. Còn nếu chưa được thì ăn vội dễ no, nhai kỹ khó đói”. ● 宣 鍳 (782-865). Thiền tăng đời Đường, họ Chu, người Giản Châu (Giản Dương, Tứ Xuyên) Trung Quốc. Xuất gia từ nhỏ, 20 tuổi thụ giới cụ túc, sư thông suốt chỉ thú các kinh điển Đại, Tiểu thừa; bởi thường giảng kinh Kim Cang Bát Nhã nên thời nhân gọi là “Chu Kim Cang”. Từng nghe pháp thiền phương nam thạnh hành, đề xướng “trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”, khác biệt với sở học của mình nên sư muốn tranh biện dẹp trừ học thuyết kia. Liền mang theo bộ “Kim Cang Kinh Sớ Sao” của Đạo Nhân rời khỏi Tứ Xuyên. Trước tiên đến chỗ Thiền Sư Long Đàm Sùng Tín, trong khi hỏi đáp, sư hoát nhiên đốn ngộ được nối pháp và đốt bộ “Kim Cang Kinh Sớ Sao”. Sư trụ Đức Sơn, Lễ Dương (huyện Lễ, Hồ Nam) 30 năm. Khi vua Đường Võ Tông phế Phật, sư tị nạn nơi thạch thất núi Độc Phù. Vào khoảng đầu năm Đại Trung (847-859) Thái thú Vũ Lăng là Tiết Đình Vọng thỉnh sư trở lại Đức Sơn, xây cất Thiền viện Cổ Đức, mở rộng tông phong trở thành đại tùng lâm. Sau khi mất, thụy là “Kiến Tính Đại Sư”. Đệ tử có Nham Đầu Toàn Khoát, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Thụy Long Huệ Cung, Tuyền Châu Ngỏa Quan v. v… ● 宣 法 大 師. Hiệu của Thiền tăng Trí Y, đời Ngũ Đại. X. Trí Y. ● 泉 州 開 元 寺. Phố Tây, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến,Trung Quốc, là một trong bốn đại thiền lâm Phúc Kiến. Xây dựng vào niên hiệu Thùy Củng thứ 2 (686) đời Đường, ban đầu tên “Liên Hoa Tự”. Niên hiệu Trường Thọ thứ 1 (692) đổi tên “Hưng Giáo Tự”. Niên hiệu Thần Long thứ 1 (705) lại đổi tên “Long Hưng Tự”. Niên hiệu Khai Nguyên thứ 26 (738) ban tên “Khai Nguyên Tự”. Thời Ngũ Đại, Lưỡng Tống là thời kỳ cực thịnh, xung quanh có chi viện 120 sở, tăng chúng hơn ngàn người. Tống Chu Hi có cặp đối liễn: “Thử địa cổ xưng Phật quốc, mãn nhai giai thị thánh nhân. “ (Đất này xưa xưng nước Phật, đầy đường đều là thánh nhân). Niên hiệu Chí Nguyên thứ 22 (1285) đời Nguyên, hợp lại thành một chùa ban tên là “Đại Khai Nguyên Vạn Thọ Thiền Tự”, nhưng vẫn gọi là “Khai Nguyên Tự”. Cuối đời Nguyên bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 22 (1389) đời Minh xây dựng lại. Cuối đời Minh, Trịnh Chi Long có xây cất thêm. Toàn chùa hiện chiếm diện tích hơn 50 ha. Mặt chính, mặt tây bên ngoài chùa có lan can đá cẩm thạch bao bọc. Trong chùa trên tuyến trục giữa điện vũ liền nhau. Sơn môn Thiên vương điện hai bên đều có tượng Thiên vương ngồi. Phía sau có Đại thạch đình, gọi là “Bái đình”. Trong đình có các loại hình như tấm đá khắc kinh, tháp đá nhỏ, lò đốt hương. Còn có vài cây cổ dung cành nhánh đan xen rậm rạp che kín mặt trời. Đại hùng bảo điện ở phía sau thạch đình, toàn điện dùng cả trăm cây cột trụ, còn gọi “Bách trụ điện”. Điện làm theo kiểu mái chồng đỉnh yết sơn, cao 20m, mặt rộng 9 gian, sâu 6 gian, diện tích hơn 1000㎡, cao lớn hùng vĩ. Trong điện hình thức trụ đá đa dạng, kết cấu xà kép tinh xảo lạ thường. Trong đấu củng có khắc 24 tượng “kỷ nhạc phi thiên”. Năm pho tượng Đại Phật ở tiền điện cùng với 18 tượng La hán ở hậu điện, thần thái sinh động, nghệ thuật siêu phàm. Trước Đại hùng bảo điện là một nguyệt đài, ba mặt đông nam bắc của đài trên thắt lưng có 72 khối đá xanh khắc nổi mặt người thân sư tử. Đây là do Tùng Khuynh Di vận chuyển từ chùa bên ấn Độ về Tuyền Châu bằng đường biển, là một vật quý hiếm của chùa Khai Nguyên. Sau đại điện có “Cam lộ giới đàn”, đàn chia làm 5 bậc, bên trong thờ tượng Phật Lô Xá Na, Phật Thích Ca, Phật A Di Đà khắc bằng gỗ vào đời Minh. Bốn bên Phật tượng có Bồ tát đứng hầu, Kim Cang hộ vệ. Hai viện đông tây còn có các chùa nhỏ trực thuộc như Chuẩn Đề Thiền Lâm, Thủy Lục Thiền Tự. Trong chùa còn có Công Đức Đường thờ phụng tượng đắp Thiền Sư Khuông Hộ người sáng lập chùa Khai Nguyên và Thiền Sư Đàn Bác từng trụ tích chùa này vào đời Đường. ● 泉 州 開 元 寺 寶 篋 印 經 塔. ở giữa hai hàng cây đại dung, đông tây đình viện trước Đại hùng bảo điện chùa Khai Nguyên, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Xây cất vào khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162) đời Tống. Tháp xây bằng đá cao khoảng 5m. Mặt dưới là một bệ vuông làm bằng khối đá, trên bệ có úp một tòa thắt lưng hình vuông, trên tòa đặt thân tháp. Bốn mặt thân tháp điêu khắc tượng Phật và sự tích Phật. Đỉnh tháp làm hình hoa núi lá chuối, giữa lắp đặt tướng luân. Ngoại trừ nền tòa, cả tháp cùng với tháp A Dục Vương đào được ở huyện Thanh Dương, tỉnh An Huy na ná nhau. Tháp này tạo dáng kì đặc mỹ quan, điêu khắc tinh tế, là kiệt tác của kiểu tháp A Dục Vương. ● 泉 州 開 元 寺 球 形 塔. Nằm trong chùa Khai Nguyên, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tháp xây bằng đá, nền tháp là một bệ đá hình vuông, trên bệ đá là tòa Tu Di hình bát giác. Trên tòa còn xây một tầng tòa Tu Di hoa sen nở xòe hình tròn, trên đó đặt thân tháp hình cầu. Đỉnh tháp được che bằng mái tháp hình bát giác, trên cùng là tháp sát của năm lớp tướng luân cao khoảng 4m. Loại tháp hình cầu này chủ yếu phát triển theo kiểu đình các, thân tháp hình cái đình đổi thành hình dáng quả cầu, những bộ phận khác cũng tương ứng đổi thành hình tròn hoặc hình đa giác, song ngay cả thân tháp không theo nó mà tròn. Loại tháp hình cầu này phần nhiều là mộ tháp, khu vực Mân Nam, Việt Đông tương đối thấy nhiều. ● 泉 州 開 元 寺 仁 壽 塔. Phía tây đại điện Tử Vân, chùa Khai Nguyên, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, đứng đối diện với tháp Trấn Quốc, cách nhau khoảng 200m. Niên hiệu Trinh Minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương Ngũ Đại, Mân vương là Vương Thẩm Tri xây dựng tháp gỗ, hiệu “Vô Lượng Thọ Tháp”, sau đó ban tên “Nhân Thọ Tháp”. Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1111-1118) đời Tống đổi thành tháp gạch. Niên hiệu Thiệu Định thứ 6 đến niên hiệu Gia Hy thứ 1 (1228-1237) đổi thành tháp đá hiện còn cao 44m, hình bát giác năm tầng, phỏng theo kiểu lâu các kết cấu gỗ. Ngoại trừ tòa Tu Di bằng đá khắc nổi hoa chim, quy mô và cấu tạo đại khái giống như tháp Trấn Quốc. Thể hình song tháp của chùa Khai Nguyên rộng lớn, mái vươn xa, lan can bao quanh, cửa ngõ mở ra, trông giống như do gỗ tạo thành, tỏ rõ kiến trúc do đá làm thành và nghệ thuật khắc đá ở Tuyền Châu đời Tống đã đạt đến trình độ rất cao. Song tháp tạo dáng ưu mỹ, kết cấu tinh xảo, quy mô hùng vĩ, có thể phải kể đến đầu tiên trong các tháp đá ở Trung Quốc, là một cặp tháp tối cao trong tháp đá toàn quốc, trở thành tiêu chí của thành phố Tuyền Châu. ● 泉 州 開 元 寺 鎮 國 塔. Phía đông đại điện Tử Vân, chùa Khai Nguyên, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Xây dựng vào niên hiệu HàmThông thứ 6 (865) đời Đường, nguyên là một tòa tháp gỗ 5 tầng. Khoảng niên hiệu Bảo Khánh (1225-1227) đời Tống xây lại thành tháp gạch. Niên hiệu Gia Hy thứ 2 đến niên hiệu Thuần Hưu thứ 10 (1238-1250) đổi thành tháp đá hoa cương hình bát giác 5 tầng, mô phỏng theo kiểu lâu các kết cấu gỗ, cao 48,24m nguy nga tráng lệ. Thân tháp mỗi tầng đều có mái che, bốn mặt có cửa, có khám. Hai bên cửa, khám có khắc tượng Bồ tát, A la hán, hình thái sinh động, vị trí các tượng này thay nhau xen kẻ cách tầng. Nơi góc quàng mỗi tầng thân tháp điêu khắc thành cột tựa hình tròn, chế tác đặc biệt, là một loại kiến trúc xưa hiếm thấy. Ngoài mỗi tầng thân tháp đều có lắp đặt lan can tòa bằng tạo thành hành lang bao bên ngoài, người ta có thể bước ra ngoài tháp tựa lan can nhìn ra xa. Phần thắt lưng của tòa Tu Di nền tháp xây bằng đá xanh có khắc nổi 39 bức nói về sự tích Phật Thích Ca vô cùng tinh xảo đẹp đẽ. Trong tháp hiện còn nhiều tấm bia khắc đời Nguyên Minh, là tư liệu quý giá để nghiên cứu tháp này. ● 泉 大 道. Thiền tăng Cốc Tuyền hiệu Đại Đạo, sống vào đời Tống, người đời gọi là Tuyền Đại Đạo. X. Cốc Tuyền. ● 選 佛 塲. Chỉ tự viện, pháp hội của nhà thiền. Thời đại Đường Tống dùng khoa cử khảo thí để tuyển người làm quan mượn cách nói này, Thiền Tông gọi ái việc mà mọi người học Phật tham thiền là tuyển Phật. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “問 選 佛 場 開。還 許 學 人 選 也 無。師 云。切 忌 點 額。學 云。恁 麼 則 心 空 及 第 歸 也。 – Hỏi: Trường tuyển Phật mở cửa, có cho người học dự tuyển hay không? Sư đáp: Tôi kỵ điểm trán. Học nói: Thế ấy thì tâm không thi đậu về. “ ● 雪 庵. Hiệu của Thiền tăng Tùng Cẩn đời Tống. X. Tùng Cẩn. ● 雪 庵 克 文 禪 師 語 錄. Còn gọi: Vân Am Tịnh Thiền Sư Ngữ Lục, Chân Tịnh Đại Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 6 quyển, do Chân Tịnh Khắc Văn soạn vào đời Tống, các vị Pháp Thâm, Phúc Thâm biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 210. Nội dung thu thập Ngữ Lục, kệ tụng của Khắc Văn ở các nơi: Quân Châu, Động Sơn, Kim Lăng Bảo Ninh, Lô Sơn Quy Tông, Bảo Phong Thiền Viện, và phụ lục sớ mời của Vương An Thạch, lời tựa của Tô Triệt. Sách này được xếp vào “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” quyển 42 đến 45. Riêng có một thứ Tuyết Am Khắc Văn Thiền Sư Ngữ Lục, trong đó gom chép các Thỉnh sớ, Hành trạng, Tế văn, Chân tán, Thủ thiếp, Bạt v. v… có thể bổ sung cho bộ Ngữ Lục trên. ● 雪 庵 從 瑾 禪 師 頌 古. Còn gọi: Tuyết Am Tùng Cẩn Thiền Sư Tụng Cổ Tập. Tụng cổ, 1 quyển, do Tuyết Am Tùng Cẩn soạn vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 336. Nội dung bao gồm 38 cổ tắc công án cử dương tông thừa như: Nữ tử xuất định, Ca Diếp môn tiền sát can, Đạt Ma kiến Lương Võ Đế, Nhị Tổ an tâm, Nam Tuyền bình thường tâm thị đạo, Hoàng Long tam quan v. v.. ● 雪 舟 (1420-1506). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Tuyết Chu Đẳng Dương. Niên hiệu Thành Hóa thứ 4 (1468) sang Nhà Minh (Trung Quốc) bái Hòa Thượng Tuyết Khê làm thầy, đời thứ 30 hệ Nam Nhạc, đời thứ 13 tông Lâm Tế Nhật Bản. Năm sau trở về nước vẫn trụ trì chùa Tướng Quốc, sư thường dùng nét họa để biểu thuật thiền ý, những bức họa của ngài được khen là quốc bảo. ● 雪 惟 韜 (1602-1682). Thiền tăng đời Minh, họ Dư, tên Thao, tự Tuyết Duy, người xứ Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Hám Sơn Đức Thanh, đời thứ 33 hệ Nam Nhạc. Trụ trì chùa Phúc Phổ ở Triều Châu. Tác phẩm: Tuyết Duy Thao Ngoại Tập. ● 雪 竇 明 覺 禪 師 語 錄. X. Minh Giác Thiền Sư Ngữ Lục. ● 雪 竇 重 顯. Thiền tăng Trọng Hiển đời Tống trụ trì núi Tuyết Đậu, người đời gọi là Tuyết Đậu Trọng Hiển. X. Trọng Hiển. ● 雪 竇 頌 古 直 註. Gọi đủ: Quỳnh Tuyệt Lão Nhân Thiên Kỳ Trực Chú Tuyết Đậu Hiển Hòa Thượng Tụng Cổ. Sách, 1 quyển, do Thiên Kỳ Bản Thụy chú vào đời Minh, Đạo Lâm Tính Phúc biên, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 117, trang 506. Nội dung là do Bản Thụy chú thích 100 tắc tụng cổ của Tuyết Đậu, từ tắc thứ 1 “Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa” do Lương Võ Đế hỏi Tổ Đạt Ma cho đến tắc “Thế nào là Xuy mao kiếm” do vị tăng hỏi Thiền Sư Ba Lăng, mỗi tắc đều có thêm lời giải thích để hướng dẫn người học trực ngộ linh cơ, thông đạt bản diệu. ● 雪 竇 寺. Chùa nằm trên núi Tuyết Đậu, cách trấn Khê Khẩu 5km về phía tây bắc,thuộc thành phố Phụng Hóa, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Tương truyền vào đời Tấn có tỳ kheo ni cất am ở đây. Niên hiệu Cảnh Phúc thứ 1 (892) đời Đường, Tuyên Thành Thường Thông phục hưng chùa này, đổi tên là Thập Phương Thiền Viện. Niên hiệu Quảng Thuận thứ 2 (952) đời Hậu Chu, ngài Vĩnh Minh Diên Thọ trụ trì chùa này. Đầu đời Bắc Tống, hai sư Thanh Giản, Hạnh Duyên ở đây. Khoảng niên hiệu Thuần Hóa đến Hàm Bình (990-1003), chùa được ban bảng hiệu Tư Thánh Tự. Niên hiệu Càn Hưng thứ 1 (1022), Tuyết Đậu Trọng Hiển ở chùa này đến 30 năm, mở rộng cơ sở, hoằng dương tông phong Vân Môn. Tống Nhân Tông từng nằm mộng đi đến núi này, nên sắc tứ bảng hiệu “ứng Mộng Danh Sơn”. Lại được Như Trạm xây dựng lại rất quy mô, được Tống Ninh Tông chọn làm 1 trong 10 ngôi chùa lớn trong nước. Niên hiệu Trung Hiệp đời Nam Tống, Thiền Sư Thạch Thất Tổ Anh cử dương tông phong Lâm Tế ở đây. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 27 (1290) đời Nguyên, ngài Thiện Lai trụ trì chùa này, Hốt Tất Liệt ban khen chùa là một trong 10 ngôi chùa Thiền Tông trong nước. Khoảng năm Dân Quốc, Đại sư Thái Hư từng trụ trì chùa này, đặt tên là Di Lặc Đạo tràng, cùng với Phổ Đà, Cửu Hoa, Nga My, Ngũ Đài được gọi là 5 ngôi đạo tràng nổi tiếng trong nước. Trong chùa có thờ 3 pho tượng Tổ bằng gỗ: Bách Trượng, Hoàng Bá, Lâm Tế. Trong cuộc cách mạng văn hóa chùa bị phá hủy, đến năm 1988 mới được trùng tu. ● 雪 庭. Hiệu của Thiền tăng Phúc Dụ, đời Nguyên. X. Phúc Dụ. ● 雪 堂. Thiền Tăng Đạo Hạnh đời Tống, được người đời gọi là Tuyết Đường. X. Đạo Hạnh. ● 雪 堂 拾 遺 錄. Gọi đủ: Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Thập Di Lục. Còn gọi: Thiền Môn Thập Di Lục, Tuyết Đường Hạnh Thập Di Lục, Tuyết Đường Đạo Hạnh Thiền Sư Thập Di Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Tuyết Đường Đạo Hạnh biên vào đời Tống, và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 142, trang 950. Sách này thu thập cơ duyên Ngữ Yếu của hơn 30 vị tăng và cư sĩ Thiền Tông như: Hoàng Long Ngộ Tân, Thúy Nham Viên Cơ, Hoàng Long Cung, Văn Thù Tuyên Năng, Bạch Dương Pháp Thuận, Trương Vô Tận, Hoàng Sơn Cốc v. v.. Nội dung sách này cùng một loại hình với “Tông Môn Võ Khố”. ● 雪 軒. Hiệu của Thiền tăng Đạo Thành, đời Minh. X. Đạo Thành. ● 雪 嶠. Hiệu của Thiền tăng Viên Tín, đời Minh. X. Viên Tín. ● 雪 岩 慧 滿. Thiền tăng Huệ Mãn đời Tống hiệu Tuyết Nham, người đời gọi sư là Tuyết Nham Huệ Mãn, Tuyết Nham Mãn. X. Huệ Mãn. ● 雪 岩 祖 欽. Thiền tăng Tổ Khâm sống vào cuối đời Tống đầu đời Nguyên hiệu Tuyết Nham, người đời gọi sư là Tuyết Nham Tổ Khâm. X. Tổ Khâm. ● 雪 峰 輥 毬. Công án “Tuyết Phong ném banh gỗ”. Bài Hậu tự trong quyển cuối của sách CĐTĐL q. 30 ghi: “百 丈 卷 席。雪 峰 輥 毬。魯 祖 面 壁。石 鞏 駕 箭。 – Bách Trượng cuốn chiếu, Tuyết Phong ném banh gỗ, Lỗ Tổ ngó vách, Thạch Củng lắp tên. “ ● 雪 峰 慧 空 禪 師 語 錄. Còn gọi: Phúc Châu Tuyết Phong Đông Sơn Hòa Thượng Ngữ Lục, Đông Sơn Huệ Không Thiền Sư Ngữ Lục, Đông Sơn Hòa Thượng Ngữ Lục, Tuyết Phong Không Hòa Thượng Ngữ Lục, Đông Sơn Tuyết Phong Không Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Tuyết Phong Huệ Không soạn vào đời Tống, đệ tử là Huệ Bật biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Thuần Hy thứ 5 (1178) đời Tống, và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 274. Nội dung bao gồm lời thượng đường từ giã chúng, Nhập viện thăng tòa, Thượng đường, Tiểu tham, Bỉnh cự, Pháp ngữ, Niêm cổ, Tụng cổ, Chân tán, Kệ ngữ. Quyển cuối phụ lục bài tán Đảnh tướng, một đoạn Ngữ Lục trong thư gởi cho Cổ sơn, và phần ghi chép có quan hệ đến Huệ Không trong “La Hồ Dã Lục”. ● 雪 峰 義 存. Thiền tăng Nghĩa Tồn sống vào đời Đường ở ngọn Tuyết Phong, núi Tượng Cốt sáng lập ra viện Quảng Phúc, người đời gọi là Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Tuyết Phong Hòa Thượng. X. Nghĩa Tồn. ● 雪 義 存 禪 師 語 錄. Còn gọi: Tuyết Phong Thiền Sư Ngữ Lục, Chân Giác Thiền Sư Ngữ Lục, Tuyết Phong Chân Giác Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Tuyết Phong Nghĩa Tồn soạn vào đời Đường, Lâm Hoằng Viễn biên tập vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 12 (1639) đời Minh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 119, trang 942. Nội dung bao gồm: Những lời thị chúng, Cơ phong vấn đáp, Kệ tụng, Quy tắc, Di giới. Quyển cuối phụ lục: “Tuyết Phong Chân Giác Đại Sư Niên Phổ”, “Tuyết Phong Sùng Thánh Thiền Tự Bi Ký,” “Tuyết Phong Thiền Tự Nhị Thập Tứ Chương Thi”, còn có lời tựa bạt của các vị: Tôn Giác, Phương Sơn Huệ Chân. ● 雪 峰 山. Còn gọi: Tượng Cốt Sơn. Núi ở huyện Mân Hầu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Cách mặt biển hơn 800m. Nhóm núi nhỏ quanh co liền nhau hàng hàng lớp lớp, rừng cây um tùm xanh ngắt, khe động âm u, nước suối róc rách. Phong cảnh kỳ diệu của núi này cùng với Kỳ Sơn, Cổ Sơn của Phúc Châu được gọi chung là Tam Tuyệt. Riêng núi này được khen là “Mân Việt thần tú” (cảnh đẹp thần tiên của vùng Mân Việt), “Quỳnh dao đệ nhất phong” (Núi hạng nhất, như viên ngọc quý). Núi này vốn có tên là Tượng Cốt. Thiền Sư Nghĩa Tồn từng vào núi này gặp tuyết rơi nhiều nên tạm ngụ lại trên đỉnh. Mân Vương là Vương Thẩm Tri hỏi ngài: ở trên núi Tượng Cốt có gì lạ? Nghĩa Tồn đáp: Đỉnh núi đến tháng nóng vẫn còn tuyết. Thế nên Vương Thẩm Tri đổi tên núi là “Tuyết Phong Sơn”. Núi Tuyết Phong có 24 cảnh đẹp, có người đem 24 cảnh này họp lại làm thành 1 bài thơ thất ngôn như sau: “Tuyết phong, Bảo sát, cận Lam điền Khô mộc, Tam cầu, Nhất đổng thiên Bán lĩnh, Hóa thành, Vô tự thạch Vạn tùng, Tuyết kiệu, Hữu long miên Văn Thù, Cổ cảnh, Kim ngao bạn La Hán, Thê vân, Tượng cốt điên Hương thạch, Phóng sinh trì, Triêm nguyệt Vọng châu, Trác tích, ứng Triều tuyền”. 24 cảnh này được phân bố trong một chu vi rất rộng. Vào núi liền gặp cảnh thứ nhất là “Trân sơn hóa thành” đứng sừng sững, kế đến “La Hán nham”, “Cổ cảnh đài”, “Tượng cốt điên”, “Trác tích tuyền”; đình, đài, hang, núi, chốn chốn đều có cảnh đẹp, ngọn ngọn đều là núi xanh. ● 雪 峰 寺. Nằm trên sườn núi Tuyết Phong Phụng Hoàng, phía tây bắc huyện Mân Hầu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, cách thành phố Phúc Châu 77km. Tuyết Phong cách mặt biện hơn 800 m, nguyên tên là “Tượng Cốt Phong”, bởi bốn mùa nhiều tuyết nên Mân vương là Vương Thẩm Tri đổi tên là “Tuyết Phong”. Niên hiệu Hàm Thông thứ 11(870) đời Đường, Tuyết Phong Nghĩa Tồn vào núi đặt kế hoạch xây dựng, 6 năm sau mới đầy đủ quy mô, ban tên “ứng Thiên Tuyết Phong Thiền Viện”. Niên hiệu Càn Ninh thứ 1 (894) dời chùa đến địa chỉ hiện nay. Mân vương là Vương Thẩm Tri góp của cải trợ giúp, chùa chiền mọc lên khắp núi. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 3 (978) đời Tống, đổi tên “Tuyết Phong Sùng Thánh Thiền Tự”, tục gọi “Tuyết Phong Tự”. Kiến trúc hiện còn phần lớn là được xây dựng lại vào niên hiệu Quang Tự (1875-1908) đời Thanh, quy mô rộng lớn, là một trong năm đại thiền tự ở Phúc Kiến. Thời kỳ cực thịnh có hơn 1500 tăng chúng. Năm 1980 Hoa kiều ở Singapore bỏ tiền ra trùng tu, điện vũ rực rỡ hẳn lên. Một khi tiến vào sơn môn là đến Thiên vương điện mái cong vểnh lên trời, hai bên là lầu chuông, lầu trống. Trong đại hùng bảo điện thờ Tam Bảo Như Lai Ngọc Phật mang từ Mianma về. Xung quanh pháp đường hoa và cây cảnh xanh tươi, quang cảnh đẹp đẽ tĩnh mịch. Bên phải có mộ tháp của Tổ sư Nghĩa Tồn, là tháp đá hình chuông. Trong chùa chứa họa tượng Phật Tổ, “Tâm kinh”, “Bối diệp kinh” viết bằng máu. ● 雪 關. Hiệu của Thiền tăng Trí Ngân, đời Minh. X. Trí Ngân. ● 雪 窗. Hiệu của Thiền tăng Phổ Minh đời Nguyên. X. Phổ Minh. ● 絶 邊. Hoàn toàn không có giáp giới, giới hạn, cũng chính là không có trong, ngoài, chặng giữa, siêu việt tất cả khái niệm về không gian như lớn nhỏ, trong ngoài v. v… Bài “Ngoạn châu ngân” của Hòa Thượng Đan Hà trong TĐT q. 4 ghi: “識 得 衣 中 寶、無 明 醉 自 醒。百 骸 俱 潰 散、一 物 鎮 長 靈。。。絕 邊 彌 瀚 漫、三 際 等 空 平。 – Biết được viên ngọc trong chéo áo, liền tỉnh ngay cơn say vô minh. Một khi thân thể đều tan rã, một vật mãi còn linh… Hoàn toàn không có giới hạn nên càng thêm rộng lớn, ba mé đều rỗng không như nhau. “ ● 絶 待. Hoàn toàn không có đối đãi, đối với muôn sự muôn vật đều không sinh tâm phân biệt, chủ thể và đối tượng quán chiếu hòa làm một. Đây là cách nhận thức thế giới của người giác ngộ, là dấu hiệu của việc tham thiền tỉnh ngộ. Tư đáp Trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q. 1 ghi: “不 得 將 心 待 悟、以 吾 人 妙 圓 眞 心、本 來 絕 待、向 因 妄 想 凝 結、心 境 根 塵、對 待 角 立、故 起 惑 造 業。 – Chẳng được đem tâm đợi ngộ. Chân tâm vi diệu tròn đầy, xưa nay vốn không có đối đãi, nhân vì vọng tưởng kết tụ, khiến tâm cảnh căn trần đối đãi, nên khởi mê hoặc tạo nghiệp. “ ● 毳 徒. Tăng đồ; Tăng chúng. Văn Ích Ngữ Lục ghi: “子 向 後 有 五 百 毳 徒、爲 王 侯 所 重 在。 – Về sau, con sẽ có 500 tăng chúng và còn được hàng Vương hầu kính trọng”. Chương Hoằng Đạo Thiền Sư trong CĐTĐL q. 18 ghi: “師 受 請 止 囷 山 毳 徒 臻 集。 – Sư nhận lời mời trụ Khuân Sơn, tăng chúng đến tụ hội quanh sư”. ● 絶 毫 釐. Hoàn toàn không còn một mảy may vọng niệm, lo nghĩ trần tục. Tiết Pháp Luân Ngạn Tư Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “若 是 諦 當 漢、通 身 無 隔 礙。舉 措 絕 毫 釐、把 手 出 紅 塵。 – Nếu là bậc tài giỏi, toàn thân tự tại, hành động hoàn toàn không còn một mảy may vọng niệm, dắt tay bước ra khỏi cõi bụi hồng. “ ● 絕 後 再 甦. Chết đi sống lại. Người tham thiền đến chỗ sạch hết mọi phiền não chấp trước, tịch diệt không còn, luôn cả cái không còn cũng chẳng còn, ấy là chết đi (tuyệt hậu), rồi sử dụng một cách hoạt bát cái tâm chân thật sẵn có của mình (tái tô). Thiền Quan Sách Tiến (Đại 48, 1101 hạ) ghi: “若 要 超 凡 入 聖、永 脫 塵 勞、直 須 皮 換 骨、絕 後 再 甦、如 寒 灰 發 燄、枯 木 重 榮、豈 可 作 容 易 想。 – Nếu muốn siêu phàm nhập thánh, thoát khỏi trần lao, cần phải thay xương đổi thịt, chết đi sống lại, như trong tro lạnh phát lửa, cây khô nẩy chồi, đâu nên tưởng là việc dễ dàng!”. ● 毳 和. Thiền tăng. Nghĩ Hàn Sơn Thi trong Phần Dương Ngữ Lục q. hạ ghi: 獨 坐 思 知 己、聲 鐘 聚 毳 和。 “Độc tọa tư tri kỷ Thanh chung tụ tuyệt hòa”. “Riêng ngồi nhớ tri kỷ Chuông vang nhóm thiền tăng”. ● 絶 學. 1. Hoàn toàn thôi hết việc học, bao hàm ý nghĩa tự tâm sẵn đủ, không cần cái học bên ngoài, tìm cầu bên ngoài. Đoạn Tế Tâm Yếu: “沙 門 果 者、息 慮 而 成、不 從 學 得。汝 如 今 將 心 求 心、傍 他 家 舍、只 擬 學 取、有 什 麼 得 時?古 人 心 利、纔 聞 一 言、便 乃 絕 學、所 以 喚 作 絕 學 無 爲 閑 道 人。 – Quả vị sa môn là do dừng vọng tưởng mà thành chứ không từ nơi học mà được. Hôm nay ngươi đem tâm tìm tâm, chỉ định học lấy bên nhà hàng xóm, có bao giờ được? Người xưa tâm tính bén nhạy, vừa nghe một lời, liền hoàn toàn thôi hết việc học cho nên nói: Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân. “ 2. Hiệu của thiền tăng Thế Thành đời Nguyên. X. Thế Thành. 3. Hiệu của thiền tăng Minh Thông đời Minh. X. Minh Thông. ● 絶 來 由. Hoàn toàn không còn mọi dấu vết, chỉ cho không còn mảy may chấp trước, hết sức siêu thoát. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng: “打 破 黑 漆 桶、十 方 空 豁 豁、爆 雷 一 喝 變 通、掣 電 千 機 頓 發、便 可 以 東 行 撑 架 門 庭、西 班 怒 罵 佛 祖、收 放 絕 來 由、縱 橫 透 今 古。 – Đập vỡ thùng sơn đen, mười phương sạch sành sinh, tiếng hét như sấm nổ trở thành thông suốt, ngàn cơ chóng phát như là điện chớp, mới có thể sang bên Đông chóng đỡ môn đình, sang bên Tây giận mắng Phật Tổ, buông bắt hết sức siêu thoát, vẫy vùng suốt qua xưa nay. “ ● 毳 侶. Tăng nhân; vị tăng; tăng sĩ. Tiết Vân Cư Hòa Thượng trong TĐT q. 8 ghi: “果 有 毳 侶 自 洪 湖 而 至、舉 洞 山 大 師 當 世 宗 匠。 – Cuối cùng có vị tăng từ Hồng Hồ đến nhắc lại rằng Đại sư Động Sơn là bậc thầy giỏi đương thời”. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: 松 間 臨 水 坐。解 帶 同 歡 奲 毳 侶 弄 荷 花。賓 朋 傾 玉 斝. “Tùng gian lâm thủy tọa Giải đái đồng hoan đả Tuyệt lữ lộng hà hoa Tân bằng khuynh ngọc giác”. “Bên rừng thông khe suối Cùng vui quên chức tước Tăng sĩ ngắm hoa sen Khách quan nghiêng bầu rót”. ● 絶 慮 忘 緣. Trừ sạch vọng lự tục tình, siêu việt nhân duyên sự vật. Đây là cảnh giới thiền ngộ. Tiết Lại Toản Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “我 有 一 言、絶 慮 忘 緣、巧 說 不 得、只 用 心 傳。– Ta có một lời trừ sạch vọng lự tục tình siêu việt nhân duyên sự vật, nói khéo chẳng được, chỉ dùng tâm truyền. “ ● 毳 流. Từ gọi chung tăng nhân, tăng lữ. Phần Dương Ngữ Lục, q. trung ghi: 三 聖 令 僧 問 同 人 長 沙 輕 輕 爲 指 陳 多 少 毳 流 言 下 覓 從 來 疑 著 走 如 塵 “Tam Thánh lệnh tăng vấn đồng nhân, Trường Sa khinh khinh vị chỉ trần Đa thiểu tuyệt lưu ngôn hạ mịch Tùng lai nghi trước tẩu như trần”. “Tam Thánh bảo tăng hỏi người kia, Trường Sa mềm mỏng chỉ bày cho, Bao nhiêu tăng lữ theo lời nói. Nghi vấn từ đây nổi bụi mù”. ● 絶 惱. Hoàn toàn không còn phiền não, triệt để thoát khỏi phiền não trần tục. Tín Tâm minh ghi: “放 之 自 然、體 無 去 住。任 性 合 道、逍 遙 絕 惱。 – Buông (vô trụ) thì bảm thể tự nhiên, vốn chẳng có đi và ở. “ ● 絶 岸. Hiệu của thiền tăng Khả Tương sống vào đời cuối Tống đầu Nguyên. X. Khả Tương. Hoàn toàn không giải thích, hết cách giải thích. Tiết Tư Phúc Ni Diệu Tổng Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “宗 乘 一 唱、三 藏 絕 詮。祖 令 當 行、十 方 坐 斷。 – Thiền Tông một phen cất tiếng thì hàng Giáo tông hết cách giải thích, Tổ lệnh đang được thi hành thì mười phương khoáng đãng. “ ● 絶 纖 塵. Hoàn toàn không còn mảy may vọng niệm trần lự, siêu việt tục trần. Bài “Ly Long châu ngâm” của Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “虛 用 意、損 精 神、不 如 閑 處 絕 纖 塵、停 心 息 意 珠 常 在、莫 向 途 中 問 別 人。 – Dối dụng ý, tổn tinh thần; không bằng ở chốn rảnh rang sạch hết vọng niệm trần lự. Dừng tâm dứt ý thì hạt châu thường có mặt, chớ nên chạy đi hỏi kẻ khác. “ ● 絶 思 量. Hoàn toàn không còn nghĩ ngợi, không theo suy nghĩ. Ý nói thiền chỉ huyền áo, siêu việt ý niệm đắn đo. Bài thơ “Đạt đạo trường dữ Thành Âm hành giả” của Hương Nghiêm Tập Đăng Đại sư trong CĐTĐL q. 29 ghi: “理 奧 絕 思 量。根 尋 徑 路 長。 – Lý đạo sâu kín siêu việt ý niệm đắn đo, căn cơ luôn tìm con đường thẳng tắt. “ ● 絕 塵. Hoàn toàn không còn những suy nghĩ về thế gian, siêu việt tục trần. Bác Sơn Hòa Thượng truyện trong NLQL q. 35 ghi: “ 庶 子 始 心 服、愿 厠 弟 子 列、受 菩 薩 毘 尼 焉、鞭 影 頻 加、絕 塵 而 犇 矣。 – Người ấy mới phục từ đáy lòng, nguyện dự vào hàng đệ tử, thọ giới Bồ Tát ở đấy, luôn luôn cần đến thủ đoạn cao siêu của thiền sư tiếp dẫn, hoàn toàn không còn những suy nghĩ gì về thế gian để tìm kiếm. “ ● 資 化 禪 師. Hiệu của thiền tăng Thanh Vận sống vào đời Ngũ Đại. X. Thanh Vận. ● 斯 學. Thiền tăng đời Minh, tự Duyệt Chi, hiệu Dữu Sơn, người xứ Hải Diêm (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư xuất gia ở chùa Từ Hội thuộc ấp nhà. Tính sáng suốt bác thông kinh giáo lại giỏi Nho học. Sư còn giỏi làm thơ, lời hay đẹp tự nhiên phát ra, chứa đựng nhiều thiền cơ. Các người bạn phương ngoại của sư là: Thẩm Gia Tắc, Diêu Thúc Tường. Về sau, sư ẩn cư nơi am Đạo Lâm. ● 司 空 山 禪 師. Thiền tăng Bản Tịnh đời Đường ở chùa Vô tướng tại núi Tư Không, người đời gọi là “Tư Không Sơn Thiền Sư”. X. Bản Tịnh. ● 司 馬 頭 陀. Thiền tăng sống vào đời Đường, họ Mã, là con cháu của danh thần Tư Mã Ý, không rõ nối pháp ai và thuộc tông phái nào. Thuở bé, sư xuất gia ở Hành Sơn, rặng Nam Nhạc thuộc Tương Nam. Về sau, sư vào chùa Vĩnh An, núi Hoàng Long, phủ Long Hưng (nay ở phía tây bắc huyện Vĩnh Tu, tỉnh Giang Tây), tu theo hạnh Đầu Đà. Sư giữ chức Điển tọa trông coi nhà bếp, lo việc ăn uống cho đại chúng. Nhân bố thí cơm thừa cho con linh quy, nên được con vật này đền ơn khiến cho đôi mắt của sư rất tinh tường, trên xem xét thiên văn, dưới biết rõ địa lý. Vì giỏi xem địa thế đất đai nên được người thời ấy gọi sư là “Thần Nhãn Đầu Đà Tiên”. Sư xem xét các núi ở Hồng Đô, rồi đến núi Bách Trượng ở Phụng Tân ra mắt Thiền Sư Đại Trí Hoài Hải, chỉ bảo cho Điển tọa Linh Hựu đi đến trụ Quy Sơn tại Đàm Châu, Hồ Nam. Theo lời sư thì đó là một vùng đất rất ● 明. Thiền tăng đời Ngũ Đại, nối pháp Thiền Sư Bảo Thọ Chiểu, thuộc tông Lâm Tế. Sư trụ Tây Viện tại Nhữ Châu (nay là Lâm An tỉnh Hà Nam). Một hôm tăng hỏi: Thế nào là một tiếng hét của Lâm Tế? Sư đáp: Cây nỏ ngàn cân không phải dùng để bắn chuột nhắt. ● 厮 兒. Trẻ con. Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q. 3 ghi: “座 主 解 經 解 論、與 此 厮 兒 見 解 何 殊? – Tọa chủ hiểu kinh luận đâu có khác gì với cái thấy biết của đứa trẻ con?”. ● 資 聖 寺. X. Tuyết Đậu tự. ● 資 善 院. X. Phật Quật Tự. ● 思 并 古 人. Tưởng rằng học được như người xưa. Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 3 ghi: “諸 人 既 稱 禪 衲、下 視 流 俗、豈 可 不 思 并 古 人 哉? – Các vị đã xưng là thiền tăng, mà còn bắt chước thói tục, há tưởng đâu học được như người xưa rồi sao?” ● 思 并 古 人. tốt để cất chùa, khiến cho tông phong hưng thạnh. Quả nhiên, sau khi Thiền Sư Linh Hựu ở đấy, Ngài cùng với đệ tử là Huệ Tịch khai sáng tông phái Quy Ngưỡng nổi tiếng một thời. Tương truyền sau khi lựa chọn chỗ đất để làm sinh phần cho Thiền Sư Hoài Hải, sư thị tịch và được chôn ở núi Bách Trượng. Thiền Sư Hoài Hải sai người lập đền thờ và cúng tế cho sư. Tấm bảng treo ngang trên đền thờ sư đề “Thần Nhãn Đầu Đà”. Hai hàng câu đối, mỗi bên đề: “Sinh ký Hoàng Long”, “Tử quy Bách Trượng”. Theo Vân Cư Sơn Chí. ● 四 句. Bốn câu: Có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không. Những gì tương đối đều ở trong tứ cú. Tất cả tri kiến, tư tưởng đều chẳng ra ngoài tứ cú này. ● 泗 州 院. Chùa Nam Phổ Đà ban đầu tên là Phổ Chiếu tự, vào đời Ngũ Đại thiền sư Thanh Khoát xây dựng lại lấy tên là Tứ Châu viện. X. Nam Phổ Đà Tự. ● 四 照 用. Bốn phương pháp tiếp dẫn người học của Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Đó là: 1. Trước chiếu sau dụng: Còn có người. 2. Trước dụng sau chiếu: Còn có pháp. 3. Chiếu dụng đồng thời: Đuổi trâu của người cày, cướp cơm của kẻ đói; Gõ xương lấy tủy, kim dùi đâm đau. 4. Chiếu dụng chẳng đồng thời: Có hỏi có đáp, lập chủ lập khách, hòa bùn lẫn nước, ứng cơ tiếp vật. Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “臨 濟 下、三 玄 三 要 四 料 揀、一 喝 分 賓 主、照 用 一 時 行。要 會 箇 中 意、日 午 打 三 更。 – Lâm Tế dùng: Tam huyền tam yếu, tứ liệu giản, một tiếng hét phân làm chủ và khách, chiếu dụng hành cùng một lúc. Muốn hội được ý này, giữa trưa là canh ba”. ● 四 家 語 錄. Còn gọi: Mã Tổ Bách Trượng Hoàng Bá Lâm Tế Tứ Gia Lục, Mã Tổ Tứ Gia Lục. Ngữ Lục, 6 quyển, không rõ người biên tập. Nội dung do biên tập lại Ngữ Lục của 4 vị Tổ sư: Mã Tổ Đạo Nhất, Bách Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận, Lâm Tế Nghĩa Huyền mà thành. Quyển 1 là: Giang Tây Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư Ngữ Lục của Mã Tổ Đạo Nhất. Quyển 2 là: Hồng Châu Bách Trượng Sơn Đại Trí Thiền Sư Ngữ Lục của Bách Trượng Hoài Hải. Quyển 3 là: Bách Trượng Quảng Lục của Bách Trượng Hoài Hải. Quyển 4 là: Quân Châu Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu. Quyển 5 là: Hoàng Bá Đoạn Tế Thiền Sư Uyển Lăng Lục của Hoàng Bá Hy Vận, phụ Bùi Tướng Quốc Truyền Tâm Kệ. Quyển 6 là: Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục của Lâm Tế Nghĩa Huyền. ● 四 稜 踏 地. Bốn góc đạp đất, chỉ tự tính, không thiếu không lệch. Bài Phật Tâm Ca trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 醒 醒 著、著 醒 醒 四 稜 踏 地 勿 欹 傾 阿 誰 於 此 信 得 及 高 步 毘 盧 頂 上 行 喝! “Tỉnh tỉnh trước, trước tỉnh tỉnh Tứ lăng đạp địa vật khi khuynh A thùy ư thử tín đắc cập Cao bộ Tỳ Lô đảnh thượng hành, Hát”. “Tỉnh tỉnh đi, hãy tỉnh tỉnh Bốn góc đạp đất chớ chinh nghiêng Người nào nơi đây tin được đến Trên đỉnh Tỳ Lô cất bước đi. Hét!” ● 四 料 簡. Bốn cách phán định hay Bốn biện pháp do Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền lựa chọn để tiếp dẫn người học khi đã nắm được trình độ lãnh ngộ thiền pháp của họ. Đó là: 1. Đoạt nhân không đoạt cảnh: (Dẹp người mà không dẹp cảnh). 煦 日 發 生 鋪 地 錦 嬰 孩 垂 髮 白 如 絲 Mặt trời phát sinh lụa trải khắp. Hài nhi tóc rủ trắng như tơ. 2. Đoạt cảnh không đoạt nhân: (Dẹp cảnh mà không dẹp người) 王 令 已 行 遍 天 下 將 軍 塞 外 絕 煙 塵 Lệnh vua đã ban khắp thiên hạ. Tướng quân biên thùy chẳng thấy nghe. 3. Nhân cảnh đều đoạt: (Tâm cảnh đều dẹp). 汴 汾 絕 信。獨 處 一 方 Biện Phần (địa danh) bặt tin tức. Một mình ở một nơi. 4. Nhân cảnh đều không đoạt: (Tâm cảnh đều không dẹp). 王 登 寶 殿。野 老 謳 歌 Vua lên ngôi bảo điện. Lão ẩn dật ca ngợi. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “更 不 用 五 位 君 臣。四 料 簡。直 論 箭 鋒 相 拄。是 他 家 風 如 此。一 句 下 便 見。當 陽 便 透。 – Lại chẳng dùng Ngũ Vị Quân Thần, Tứ liệu giản, mà chỉ luận thẳng về mũi tên chỏi nhau, gia phong của tông Pháp Nhãn là như thế. Ngay nơi câu nói liền thấy, trước mặt liền thấu suốt”. ● 四 目 相 顧. Bốn mắt nhìn nhau. Chỉ cho sự truyền tâm ấn giữa thầy và trò. Phần Sư Đệ Vấn Đáp trong Thạch Thất Mỵ Ngữ của Trần Nhân Tông (Tổ Trúc Lâm) ghi: “又 問:如 何 是 傳 付?示 云:師 弟 四 目 交 相 顧。 – Lại hỏi: Truyền phó là thế nào? Đáp: Thầy trò bốn mắt dõi nhìn nhau”. Truyện Thiền Sư Chân Nguyên Tuệ Đăng trong Thiền Sư Việt Nam ghi: 一 點 心 燈 佛 眼 生、相 傳 四 目 顧 分 明 聯 芳 續 焰 光 無 盡、普 付 禪 林 受 有 情 “Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh Tương truyền tứ mục cố phân minh Liên phương tục diệm quang vô tận Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình”. “Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh Truyền nhau bốn mắt ngó phân minh Ngọn đèn mồi mãi sáng không dứt Trao gửi thiền lâm dạy hữu tình”. ● 四 賓 主. Cách lập bày để đo lường cơ phong, tiếp dẫn người học của Thiền Sư Nghĩa Huyền, người khai sáng tông Lâm Tế. Trong đó, tân là vị khách đến tham vấn, chủ là vị Thầy. Tứ tân chủ gồm có: 1. Tân khán chủ: là người khách xem xét thấy rõ ông chủ, như tiếng hét của người học chân chính là đưa ra cái chậu đựng keo, thiện tri thức chẳng biết là cảnh bèn dính mắc cảnh đó mà làm dáng làm điệu, liền bị người học hét thêm tiếng nữa, thiện tri thức chẳng chịu buông xuống, ấy là bệnh tuyệt vọng chẳng thể trị. 2. Chủ khán tân: là người chủ nhìn tường tận được kẻ khách, như thiện tri thức chẳng đưa ra vật gì, tùy chỗ hỏi của người học liền đoạt, người học bị đoạt thà chết chẳng chịu buông. 3. Chủ khán chủ: là người chủ nhìn lại thấu suốt nơi mình, như có người học một cảnh thanh tịnh ra trước mắt thiện tri thức, thiện tri thức biết là cảnh, liền quăng vào hầm sâu, người học nói: “Tốt lắm, thiện tri thức”. Thiện tri thức liền nói “Ngốc thay! Chẳng biết tốt xấu”. Người học bèn lễ bái. 4. Tân khán tân là người khách nhìn rõ ràng về họ, như có người học bị còng tay còng cổ ra trước mặt thiện tri thức. Thiện tri thức lại còng thêm cho một lớp, người học hoan hỷ, hai bên đều chẳng biết. Tông Môn Võ Khố ghi: “圓 悟 和 尚 請 益 五 祖:臨 濟 四 賓 主 怎 生?祖 云:也 只 箇 程 限、是 什 麼 閑 事? – Hòa Thượng Viên Ngộ thỉnh ích Ngũ Tổ: Tứ tân chủ của tông Lâm Tế ra sao? Tổ nói: Cũng định theo thể thức và giới hạn là cái việc vớ vẩn gì thế?” ● 四 十 九 年. Bốn mươi chín năm. Chỉ cho thời gian đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc tại thế truyền bá đạo pháp. Tiết Hoa Tạng Trí Thâm Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “兜 率 降 生、雙 林 示 滅。掘 地 討 天、虛 空 釘 橛。四 十 九 年、播 土 揚 塵。三 百 餘 會、納 盡 敗 缺。 – (Đức Phật) giáng sinh từ cung trời Đâu suất, thị tịch ở giữa hai cây SA La là việc đào đất để tìm trời, đóng đinh trong hư không. Trong bốn mươi chín năm vãi đất tung bụi, hơn ba trăm hội bị thua mất rồi. “ ● 四 禪 病. Tác (làm), Chỉ (ngưng), Nhậm (mặc kệ), Diệt. Sự kiến tính chẳng do tác, chỉ, nhậm, diệt. Nếu chấp vào thì thành bệnh, nhưng người chưa kiến tính thì có thể dùng làm thuốc. ● 四 寸 佛 法. Phật pháp chỉ có 4 tấc. Thiền lâm thường dùng cụm từ này để chế giễu kẻ tu Thiền chưa thấu hiểu Phật pháp đầy đủ. ● 四 祖 山. Còn gọi: Phá Đầu Sơn, Phá Ngạch Sơn. Nằm cách trung tâm huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc 15km về phía tây. Lúc Tứ Tổ Đạo Tín trụ núi này, đổi tên là “Song Phong Sơn”. Thế núi ôm lấy nhau, hai ngọn đứng sừng sững, phía trước có núi Dao Phụng, núi Sư Tử, núi Đại Diệp, núi cao sừng sững, khí thế hào hùng. Có nhiều cổ tích danh thắng như chùa Tứ Tổ, hang Thọ Pháp, suối Trác Tích, ao Tẩy Bút, mỏm đá Thạch Ngư, đài Điếu Ngư, thác nước tung tóe. Đã là thắng địa Phật giáo mà còn là khu phong cảnh ưu mỹ. Có nhiều vịnh thi đề từ của danh nhân các thời đại được khắc vào đá như bài thơ “Phá Ngạch Sơn” của Liễu Tông Nguyên đời Đường: “Phá Ngạch sơn tiền bích ngọc lưu, tao nhân dao trụ mộc lan chu, xuân phong vô hạn Tiêu Tương ý, dục thái bình hoa bất tự do. “ (Trước non Phá Ngạch dòng Bích Ngọc, tao nhân dừng lại thuyền mộc lan, gió xuân vô hạn Tiêu Tương ý, muốn hái hoa bèo chẳng được đâu). ● 四 祖 寺. Trên núi Tứ Tổ cách trung tâm huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc 15km về phia tây. Niên hiệu Vũ Đức thứ 7 (624) đời Đường, Tứ Tổ Đạo Tín đến núi này xây cất am thất, gọi là “Chính Giác Tự”. Đạo Tín trụ chùa này 30 năm hết lòng hoằng dương tông phong. Nguyên chùa quy mô rất lớn nhưng nhiều lần bị chiến tranh phá hủy, hiện còn tháp Tỳ lô, đình Lỗ ban đời Đường, cầu Linh Nhuận đời Nguyên, điện Tứ Tổ và gác Từ Vân được trùng tu vào đời Thanh. Cầu Linh Nhuận nằm trên khe Nham Tuyền chùa Tứ Tổ, xây dựng vào niên hiệu Chí Chính thứ 10 (1350) đời Nguyên, làm bằng đá một lỗ. Trên hòn đá dưới cầu có khắc ba chữ “Bích Ngọc Lưu” do Liễu Tông Nguyên đề. Đặc biệt có Hoàng My sơn nhân đời Nguyên đề thơ: “Bích Ngọc kham tẩy thể, Bạch Thạch khả tham thiền, tọa đáo Thạch Cơ xứ, Vương Hầu mạc tịnh kiên. “ (Bích Ngọc có thể tắm rửa, Bạch Thạch đáng để tham thiền, đến ngồi nơi mỏm Thạch Ngư, Vương Hầu khó thể sánh vai). ● 慈 照 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Uẩn Thông, đời ống. X. Uẩn Thông. ● 詞 鐸 (925-995). Thiền tăng đời cuối Ngũ Đại đầu Tống, họ Phạm, tự Thiên Lý, người Chính Định, Hà Bắc, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Đức Thiều ở viện Báo Từ Hàng Châu, thuộc tông Quy Ngưỡng đời thứ 6, trụ núi Hưng Dương Hồ Bắc, do sư không giữ vững tông phong Quy Ngưỡng, chỉ giỏi dung hội các tông nên tông Quy Ngưỡng đến đời sư thì dừng. ● 慈 曇 寺. Tên cổ là chùa ấn Tông ở ấp Bình An, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên nay là thuộc thành phố Huế, Việt Nam. Chùa do Hòa Thượng Minh Hoằng Tử Dung tạo dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII, từng được chúa Nguyễn Phúc Chu ban tấm biển đề “Sắc tứ ấn Tông Tự”. Năm Thiệu Trị thứ 1 (1841) vua Thiệu Trị đổi tên chùa là Từ Đàm. Theo: DTLSVHVN do Ngô Đức Thọ chủ biên. ● 慈 覺 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Tông Trách, đời Tống. X. Tông Trách. ● 慈 孝 寺. Chùa ở núi Dương Xuân, xã Thủy Xuân, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam, cách thành phố Huế 5km về phía tây nam. Chùa do Hòa Thượng Nhất Định dựng năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) ở xã Dương Xuân, huyện Hương Thủy, nay thuộc địa chỉ trên. Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am. Sau vua Tự Đức cho trùng tu tôn tạo, ban tên là Từ Hiếu Tự. Năm Thành Thái thứ 5 (1893) lại một lần tu sửa lớn, thiết trí trang nghiêm lộng lẫy. Mé phải chùa có tháp Bồ Đề, trên khắc sắc văn của Thành Thái (1889-1907) lệnh cho các chùa và tư nhân mang kinh Phật tới tháp trong chùa. Theo: DTLSVHVN do Ngô Đức Thọ chủ biên. ● 慈 慧. Thiền tăng đời Đường. Ban đầu sư tham vấn Quy Sơn Linh Hựu. Linh Hựu thượng đường nói: “Các vị được đại cơ mà chẳng được đại dụng”. Từ Huệ liền bỏ đi ra. Linh Hựu gọi sư nhưng sư chẳng ngó lại. Linh Hựu nói: “Gã này có thể làm pháp khí”. Về sau, sư trụ Cửu Phong ở Phúc Châu. ● 徐 六 擔 片 板. Từ Lục vác tấm bảng, dụ cho người có tầm nhìn phiến diện. Từ Lục: Khẩu ngữ đời Đường Tống, chỉ chung cho họ tên người như nay gọi Trương Tam, Lý Tứ. Bài thơ “Tán Đại Huệ Hòa Thượng” trong Mật Am Ngữ Lục ghi: “戵 瞎 頂 門 三 隻 眼。是 非 佛 法 一 齊 剗。竹 篦 頭 上 放 無 端。正 是 徐 六 擔 片 板。 – Chọc mù con mắt thư ba trên vầng trán, Phật pháp thị phi đồng loạt trừ. Trên đầu trúc bề giả ngu ngơ, chính là Từ Lục vác bảng rồi”. ● 慈 明 四 家 錄. Ngữ Lục, 4 quyển do Chính Đường biên tập vào đời Tống. Nội dung bao gồm: Từ Minh Viên Thiền Sư Ngữ Lục của Từ Minh Sở Viên. Dương Kỳ Phương Hội Thiền Sư Ngữ Lục của Dương Kỳ Phương Hội. Bạch Vân Đoan Thiền Sư Ngữ Lục của Bạch Vân Thủ Đoan Ngũ Tổ Diễn Thiền Sư Ngữ Lục của Ngũ Tổ Pháp Diễn. Ngoại trừ Bạch Vân Đoan Thiền Sư Ngữ Lục, ba Ngữ Lục còn lại được xếp vào Cổ Tôn Túc Ngữ Lục. Sách này nay đã bị thất lạc. ● 慈 明 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Sở Viên, đời Tống. X. Sở Viên. ● 慈 明 禪 師 五 会 住 持 語 彔. X. Thạch Sương Sở Viên Thiền Sư Ngữ Lục. ● 慈 悟 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Hữu Thiềm, đời Ngũ Đại. X. Hữu Thiềm. ● 慈 翁. Hiệu của Thiền tăng Hạnh Sâm sống vào đời Thanh, do vua Thuận Trị ban cho. X. Hạnh Sâm. ● 慈 濟. Thụy hiệu của Thiền tăng Nghĩa Thanh đời Tống. X. Nghĩa Thanh. ● 慈 濟 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Đại Đồng, đời Đường. X. Đại Đồng. ● 慈 濟 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Văn Thắng, đời Tống. X. Văn Thắng. ● 慈 濟 禪 師 語 錄. X. Đầu Tử Đại Đồng Thiền Sư Ngữ Lục. ● 慈 壽 寺. Nằm trên núi Cổ Tương, thị trấn Giang Khẩu, thành phố Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Niên hiệu Càn Phù thứ 3 (876) đời Đường do Thiền Sư Diệu ứng khai sơn cất chùa, ban đầu gọi “Phục Hổ Am”, sau đổi tên là “Diên Phúc Viện”. Niên hiệu Quang Khải thứ 2 (886) Mân vương là Vương Thẩm Tri mở rộng miếu vũ, cùng dâng biểu tâu lên triều đình, ban cho tấm biển “Từ Thọ Thiền Tự”. Niên hiệu Càn Đức thứ 2 (964) đời Tống, Thái phó Trần Trung Thuận tâu với vua ban cho chùa Từ Thọ 20 khoảnh ruộng, làm tài sản cho chùa. Niên hiệu Cảnh Hựu thứ 1 (1034) toàn bộ tự viện xây dựng xong, tăng chúng hơn ngàn người. Khói hương lượn lờ, phạm âm không dứt. Niên hiệu Chí Nguyên thứ 24 (1287) đời Nguyên chùa bị lửa thiêu hủy. Sau đó xây dựng lại điện vũ. Niên hiệu Chí Chính thứ 21 (1361) lại bị chiến tranh phá hủy. Niên hiệu Chí Chính thứ 25 (1365) do tăng nhân quyên góp xây cất tăng xá, an trụ tăng chúng sau khi tản lạc bởi chiến tranh. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 30 (1397) đời Minh xây lại Pháp đường, Trai đường, Đại hùng bảo điện khôi phục như cũ. Về sau lại bị giặc Oa thiêu hủy. Niên hiệu Quang Tự thứ 11 (1885) đời Thanh do tăng nhân đi hóa duyên xây cất lại Đại điện, trước chùa có cặp đối liễn: “Phục Hổ sơ hưng Từ Thọ tự, Sao Ngư trùng chấn Cổ Tương sơn. “ (Phục Hổ khởi đầu xây dựng chùa Từ Thọ, Sao Ngư chấn hưng thêm nữa núi Cổ Tương). Niên hiệu Quang Tự thứ 34 (1908) tiếp tục xây Thiền đường, Trai đường, Nhà kho, Nhà khách, Lầu chuông trống, Già lam điện, Tổ sư điện, Công đức lâm thất và hành lang trái phải. Thời Dân Quốc lại cất thêm Phương trượng thất, cổng chùa, mới trở thành một tự viện hoàn chỉnh. ● 慈 壽 塔. Còn gọi: Tiến Từ Tháp. Nằm trên đỉnh Kim Sơn, thành phố Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nguyên là song tháp, bắc nam đứng đối diện nhau, xây vào đời Đường. Khoảng niên hiệu Nguyên Phù (1098-1100) đời Tống trùng tu. Đầu đời Minh song tháp sụp đổ, niên hiệu Long Khánh thứ 3 (1569) xây cất lại trên di chỉ của Tiến Từ Bắc Tháp, sau bị hủy. Tháp hiện còn là được xây lại vào niên hiệu Quang Tự thứ 26 (1900) đời Thanh. Hình dáng và cấu tạo tháp là kết cấu hổn hợp gạch gỗ, thân tháp xây gạch, mái tháp và lan can tòa bằng thì dùng gỗ. Bình diện hình bát giác, 7 tầng, cao khoảng 40m. Bốn mặt mỗi tầng mở ra cửa, trong có cầu thang vòng vèo đi lên. Đứng trên tháp nhìn về phía bắc có thể thấy sông dài ngàn dặm, nhìn về phía nam có thể thấy núi trải dài trăm dặm. Cổ nhân có cảm khái: “Một khi lên tháp này, thiên hạ đều thỏa thích”. Vương An Thạch lên Kim Sơn cũng có làm thơ: “Sổ tằng lâu chẩm tằng tằng thạch, tứ bích song khai diện diện phong. Hốt kiến điểu phi bình địa khởi, thủy tri thân tại bán không trung. “ (Mấy tầng lầu gác chồng lớp đá, cửa sổ bốn bên mở gió vào. Chợt thấy chim bay từ mặt đất, mới hay thân này giữa hư không). ● 慈 受 禪 師. Thiền tăng Hoài Thâm, tự Từ Thọ, sống vào đời Tống, được người đời gọi là Từ Thọ Thiền Sư. X. Hoài Thâm. ● 慈 沾 禪 師 塔. ở ngoài cổng chùa Hoa Nghiêm, Lao Sơn, thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, là mộ tháp của Thiền Sư Từ Triêm, cao tăng trụ trì chùa này đời thứ nhất. Tháp 9 tầng bằng gạch. Bên cạnh tháp có hai cây tùng xanh uốn lượn ôm lấy thân tháp cho nên còn có tên “Tùng Bảo Tháp”. ● 慈 雲 塔. X. Tỳ Lô Tháp. ● 辭 違. Từ biệt, chia tay. Đàn Kinh (bản Đôn Hoàng): “能(指 慧 能)得 衣 法、三 更 發 去、五 祖 自 送 能 於 九 江 驛。。。辭 違 已 了、便 發 向 南。 – Năng (chỉ Huệ Năng) được y pháp, canh ba bắt đầu ra đi, đích thân Ngũ Tổ tiển đưa Năng đến trạm Cửu Giang… Sau khi từ biệt, Năng cất bước về hướng Nam”. ● 辞 确. Thiền tăng đời Ngũ Đại, sư thờ Thiền Sư Huệ Thanh núi Ba Tiêu làm thầy và nối pháp ngài, thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư ở viện Thừa Thiên tại Bành Châu (nay là huyện Bành tỉnh Tứ Xuyên). Có vị tăng hỏi: Thế nào là đệ nhất nghĩa? Sư đáp: Nhóm núi đi xuyên qua biển, giọt nước dưới mái hiên đến. ● 紫 柏 大 師. Hiệu của thiền tăng Chân Khả sống vào đời Minh. X. Chân Khả. ● 死 句. Lời nói, hành vi của người tiếp dẫn mà người nghe có thể hiểu được bằng ý thức gọi là Tử cú. Còn lời nói, hành vi lạ lùng của người tiếp dẫn mà người nghe mặc dù dùng ý thức nhưng không sao hiểu nổi, vượt thoát sự suy nghĩ phân biệt của thế gian thì gọi là hoạt cú. Tiết Đức Sơn Duyên Mật Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “但 參 活 句、莫 參 死 句。活 句 下 薦 得、永 劫 無 滯。 – Chỉ nên tham hoạt cú, đừng nên tham tử cú, trong hoạt cú lãnh hội được sẽ thông suốt mãi mãi. “ ● 子 融 明 宏. Thiền tăng đời Lê trung hưng, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 34. Chẳng rõ họ tên thật, chỉ biết sư là người tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, theo Thiền Sư Nguyên Thiều sang An Nam, ở Thuận Hóa. Sau lập chùa ấn Tông (tức là chùa Từ Đàm ở Huế hiện nay) rồi trụ trì ở đây, thuộc đời thứ 34 tông Lâm Tế. Cũng không rõ sư tịch lúc nào, chỉ biết sư truyền tâm ấn cho thiền sư Liễu Quán là người làm nổi bật tông Lâm Tế ở xứ này. ● 子 曇 (1249-1306). Thiền tăng đời Nguyên, họ Hoàng, người xứ Tiên Cư (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé đến chùa Quảng Đệ núi Tử Thác xuất gia, trí nhớ mẫn tiệp, giỏi văn chương. Niên hiệu Hàm Thuần thứ 1 (1265) đời Tống, sư đến chùa Thừa Thiên ở Tô Châu hầu ngài Thạch Lâu Minh, giữ việc ghi chép. Sư còn đến Hàng Châu tham vấn Thiền Sư Thạch Phàm Duy Diễn. Khi Duy Diễn dời sang núi Thiên Đồng, sư cũng theo ngài đến đó; sau nối pháp ngài thuộc tông Lâm Tế. Năm 1271, sư vượt biển đến Nhật Bản trụ chùa Kiến Trường (Kenchū Ji), chùa Đông Phúc (Tōfuku ji). Đến năm 1278, sư trở về nước. Năm 1299, sư cùng Thiền Sư Nhất Sơn Nhất Đinh trở lại Nhật Bản, trụ chùa Viên Giác (Engaku ji); Mạc Phủ và triều đình đều dùng lễ tiếp rước hai vị. Khi mất, sư được ban hiệu “Đại Thông Thiền Sư”. Pháp hệ của sư được gọi là “Tây Gian Phái”, là 1 trong 24 phái Thiền Tông Nhật Bản. ● (1302-1376). Thiền tăng đời Nguyên, họ Mã, tự Tung Khê, người xứ Yển Sư, Hà Nam, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Tức Am (Am chủ Bạch Mao Xuân), đời thứ 24 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Không Tướng núi Hùng Nhĩ. ● 死 漢. Còn gọi: Tử Lang Đang, Tử Hà Mô, Tử Xà. Gã chết. Chỉ cho người trơ trơ, lạnh lùng. Tắc 75, Bích Nham Lục (Đại 48, 202 trung) ghi: “僧 云:不 別(死 漢 中 有 活 底、一 箇 半 箇、鐵 橛 子 一 般、踏 著 實 地)。 – Tăng nói: Chẳng khác (Trong gã chết có cái linh hoạt, một con người ưu tú giống như cây cọc sắt, dẫm lên chỗ chân thật)”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 子 賢. Thiền tăng đời Nguyên, tự Nhất Ngu, người xứ Thiên Thai (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư tạm ẩn trong núi Thiên Thai, tự giữ lấy chỗ tĩnh lặng. Ngoài việc thiền định ra sư còn phóng chí làm thơ, được Dương Duy Trinh rất tán thưởng. Tác phẩm: Nhất Ngu Tập. ● 子 湖 狗. Con chó của Tử Hồ. Công án, thấy chép trong tiết Tử Hồ Lợi Tung Thiền Sư trong Ngũ Đăng Hội Nguyên q. 4 như sau: “邑 人 翁 遷 貴 施 山 下 子 湖 創 院、師 於 門 下 立 牌 曰:子 湖 有 一 隻 狗、上 取 人 頭、中 取 人 心、下 取 人 足。擬 議 即 喪 身 失 命。臨 濟 會 下 二 僧 參、方 揭 簾、師 喝 曰:看 狗!僧 回 顧、師 便 歸 方 丈。 – Người trong ấp là Ông Thiên Quý cho đất dưới chân núi để sư lập nên viện Tử Hồ. ở dưới cổng sư dựng một tấm bia ghi: Tử Hồ có nuôi một con chó, trên cắn đầu người giữa cắn lòng người, dưới cắn chân người, hễ do dự thì bỏ mạng. Trong pháp hội Lâm Tế có hai vị tăng tham thiền, mới vừa vạch rèm, sư liền hét, bảo: Coi chừng chó! Tăng quay đầu lại nhìn, sư liền trở về phương trượng. “ Công án này nhấn mạnh thiền cơ nhanh chóng, rất dễ vượt qua mất, chẳng cho trù trừ suy tính, sa vào trong tình niệm dùng ý thức để hiểu. Người sau thường niêm đề công án này. ● 子 湖 狗 子. Con chó của Tử Hồ, tức “Tử Hồ Cẩu”. Tiết Trí Giả Thiệu Tiên Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “上 堂:根 塵 同 源、縳 脫 無 二。不 動 絲 毫、十 方 游 戲。子 湖 犬 子 雖 獰、爭 似 南 山 鱉 鼻。遂 高 聲 曰:大 眾 看 腳 下。 – Sư thượng đường: Căn trần cùng nguồn, trói mở không hai, chẳng động mảy may, thì dạo chơi khắp mười phương, con chó của Tử Hồ mặc dù dữ tợn, đâu bằng con rắn lớn ở Nam Sơn? Sư liền lớn tiếng, bảo: Đại chúng! Coi chừng dưới chân!” ● 子 興. Thiền tăng đời Tống, Sư thờ Thiền Sư Thúy Nham Linh Tham làm thầy và đắc pháp nơi ngài. Khi ra hoằng pháp sư trụ chùa Long Sách tại Hàng Châu. Thự hiệu: Minh Ngộ Thiền Sư. ● 紫 羅 悵. Trướng gấm. Nguyên chỉ cho tấm màn làm bằng gấm mỏng màu tía, căng treo ở nơi cửa quan lớn, cửa nhà kẻ giàu sang. Trong Thiền lâm mượn cụm từ này để chỉ cho một cửa ải hướng thượng. Tắc 10, Bích Nham Lục (Đại 48, 150 hạ) ghi: “興 化 未 曾 向 紫 羅 帳 裹 撤 眞 珠。與 爾 諸 人 在。只 管 胡 喝 亂 喝 作 什 麼? – Từ trong trướng gấm, Hưng Hóa chưa từng ném chân châu cho các ông, các ông cứ hét loạn xạ làm cái gì?” ● 子 儀 (?-986). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trần, người xứ Lạc Thanh, Ôn Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư du phương, đến tham vấn Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến, ngay lời nói sư đại ngộ và nối pháp ngài. Sau đó, sư trở về địa phận Chiết Giang, Ngô Việt Trung Ý Vương Tiền Thích mời sư khai pháp ở viện La Hán và Quang Phúc. Thự hiệu: Tâm ấn Thủy Nguyệt Thiền Sư. Sư giỏi về thi thư, các sĩ tử đều thích thân cận. ● 子 嚴 (1309-1382). Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Phàn, hiệu Tùng Đình, người đời gọi là “Tùng Đình Tử Nghiêm Thiền Sư”, người xứ Câu Thị (nay là Yển Sư tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc. Tuổi trẻ nhiều bệnh, nên cha mẹ mong muốn cho xuất gia; khi lên 9 sư theo ngài Tề Vân ở chùa Thiếu Lâm, 18 tuổi thụ giới cụ túc. Sư thông suốt sách vở “Bách gia” và thi văn thư họa, các bậc cự Nho đều nể phục. Ban đầu sư tham vấn nơi ngài Giang Nguyệt Chiếu, Tức Am Nghĩa Nhượng, đều có chỗ tỉnh ngộ. Sau đó sư yết kiến Thiền Sư Thuần Chuyết Văn Tài được đại ngộ và nối pháp Ngài, thuộc tông Tào Động. Sư trụ trì các chùa: Vạn An, Phổ Chiếu, Thiên Ninh, Thiên Khánh. Năm 1369, sư kế vị trụ trì chùa Thiếu Lâm. Mùa đông năm 1380, sư thăng tòa thuyết pháp cho Quốc mẫu Từ Hiếu Hoàng Hậu (mẹ của Chu Vương). Sau đó, sư lui về ở ẩn và mất năm 70 tuổi. ● 死 心 悟 新 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 1 quyển, do Tử Tâm Ngộ Tân soạn vào đời Tống, được xếp vào Hoàng Long Tứ Gia Ngữ Lục và Tục Tạng Kinh tập 120, trang 244. Nội dung thu thập Ngữ Lục khai đường lúc sư trụ Vân Nham, pháp ngữ quảng hóa lúc trụ Thúy Nham, Ngữ Lục lúc trụ Vân Nham lần thứ hai, Ngữ Lục lúc trụ Hoàng Long cùng với Tiểu tham thị chúng, Kệ tụng v. v.. ● 死 禪 和 子. Thiền hòa tử, còn gọi thiền hòa, tức chỉ cho thiền tăng. Tử thiền hòa tử là quở trách thiền tăng thiếu mất chính kiến mà chấp trước tà tư, tà kiến. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 子 淳 (1064-1117). Thiền tăng đời Tống, họ Giả, người Tử Đồng, Kiếm Châu (Tứ Xuyên) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư đã hướng theo chính đạo chuyên cần tham phỏng, yết kiến Phù Dung Đạo Giai được tỏ ngộ, nối pháp làm truyền nhân tông Tào Động. Ban đầu trụ núi Đơn Hà, Đặng Châu (Hà Nam), sau sang trụ núi Đại Thừa, núi Đại Hồng, Đường Châu (Đường Hà, Hà Nam) cử dương thiền phong, học chúng cả ngàn người, nổi tiếng khắp nơi. Đệ tử nối pháp là Chân Hiết Thanh Liễu, Thiên Đồng Chính Giác, Đại Thừa Lợi Thăng, Đại Hồng Khánh Dự. Tác phẩm: Hư Đường Tập 3 quyển, Đơn Hà Thuần Thiền Sư Ngữ Lục 2 quyển. ● 死 中 發 活. Trong cái chết phát ra cái sống, ý nói trừ sạch tình niệm trần tục, hiển bày bản tính chân như. Tử Bá lão nhân tập q. 1 ghi: “古 德 有 云:不 是 死 中 發 活 一 番、終 是 葯 汞 銀、觸 火 必 飛 去 矣。又 曰:不 是 一 番 寒 徹 骨、怎 得 梅 花 扑 鼻 香。此 皆 親 證 實 悟 之 樣 子 也。 – Người xưa có nói: Chẳng phải một phen chết rồi sống lại, tất cả chỉ là thủy ngân, gặp lửa sẽ bốc hơi. Lại nói: Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương? Đây là loại thân chứng thật ngộ vậy. “ ● 子 祥 (885-960). Thiền tăng đời Đường, họ Trần, ban đầu tên Chí Tường, pháp danh Tử Tường, tự Tính Thật (còn gọi Thật Tính), người Phong Châu (Phong Khai, Quảng Đông) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Văn Yển, thuộc tông Vân Môn đời thứ 2, trụ viện Từ Quang ở Quảng Châu. Về sau vâng lệnh vua khai sơn núi Bạch Vân tại Thiều Châu, người đời gọi là Bạch Vân Thiền Sư. ● 嗣. Kế thừa. Tiết Nham Đầu Hòa Thượng trong TĐT q. 7 ghi: “巖 頭 和 尚 嗣 德 山、在 鄂 州 唐 寧 住。 – Hòa Thượng Nham Đầu kế thừa Đức Sơn, trụ chùa Đường Ninh ở Ngạc Châu. “ ● 似 (k. ng). Được đặt sau động từ hoặc kết cấu động tân, biểu thị phương hướng của động tác hoặc đối tượng của động tác liên tiếp. Phần Dương Ngữ Lục, q. trung ghi: “向 後 遇 明 眼 人 舉 似。 – Về sau ông nói lại cho người kiến tính nghe”. Tông Môn Võ Khố ghi: “何 不 呈 似 老 僧? – Sao chẳng trình qua lão tăng”. Đại Huệ Ngữ Lục, q. 19 ghi: “故 書 此 二 十 六 段 似 之。 – Cho nên tôi viết giùm ông ta 26 đoạn này”. ● 自 寶 (978-1054). Thiền tăng đời Tống, họ Ngô, người Lô Châu (Hợp Phì, An Huy) Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Sư Giới chùa Ngũ Tổ, thuộc tông Vân Môn đời thứ 4, trụ Động Sơn. Hiệu Diệu Viên Đại Sư. Tác phẩm: Đạt Ma Tụng. ● 自 融 (1615-1691). Thiền tăng đời Thanh, họ Trình, tự Huyễn Luật, hiệu Cự Linh, người xứ Tân An (nay là huyện Bảo An tỉnh Quảng Đông), Trung Quốc. Năm 18 tuổi xuất gia, sau khi thọ đại giới, sư đi tham học khắp nơi, thưa hỏi thiền pháp nhưng đều không khế hợp. Về sau yết kiến Sơn Ông Đạo Mân, được ấn ký, nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư ẩn cư nơi chùa Quảng Nhuận, cùng với đệ tử là Tính Lỗi biên soạn “Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện”, gồm 15 quyển. ● 自 緣 (1310-1368). Thiền tăng đời Nguyên, họ Trần, hiệu Hội Đường, người xứ Lâm Hải (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 17 tuổi, sư thụ giới cụ túc; hàng ngày lấy việc tham thiền làm chính. Sư yết kiến ngài Nhật Khê Vịnh Công ở Thiên Ninh. Vịnh Công bảo sư làm thị giả, kế quản lý Tạng kinh. Lý Tư Dân, người huyện Lâm Hải sửa sang Viên Thông Các, thỉnh sư làm trụ trì. Tự Duyên còn quyên góp thêm để xây dựng Hoa Nghiêm Các, mỗi ngày hướng dẫn cư sĩ xem kinh Hoa Nghiêm. Sư còn xây dựng Di Đà các, kiến tạo Tịnh Độ thập lục quán tướng. Tiếng tăm của sư vang đến triều đình, Nguyên Thuận Đế ban cho y Kim Lan và hiệu “Phật Tâm Bản Tế Thiền Sư”. ● 自 得 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Huệ Huy đời Tống. X. Huệ Huy. ● 自 家 底. Của cải trong nhà mình. Của cải ông cha để lại, chỉ tự tính. Bài tụng “Nhất khẩu hấp tận Tây Giang thủy” của Ngũ Tổ Pháp Diễn ghi: 一 口 吸 盡 西 江 水 洛 陽 牡 丹 吐 新 蕊 簸 土 揚 塵 無 處 尋 抬 〖⿰目午〗 撞 著 自 家 底 Một hơi hút hết nước Tây Giang, Mẫu đơn Lạc Dương trổ búp mới. Bụi bay mịt mù không chỗ tìm, Ngước mắt chạm phải kho báu nhà. ● 自 家 活 計. Việc làm bên trong của chính mình, việc quan trọng của bản thân, chỉ cho việc ngộ thiền làm Phật, siêu thoát sinh tử. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “直 須 會 取 古 人 意 旨。然 後 自 心 明 去。便 得 通 變 自 在。受 用 無 窮。喚 作 自 受 用 身。佛 不 從 他 教。便 識 得 自 家 活 計。 – Cần phải hội lấy ý chỉ người xưa rồi sau tự tâm sẽ sáng tỏ, mới được thông biến tự tại, thọ dụng vô cùng gọi là tự thọ dụng thân. Phật chẳng từ người khác dạy mà phải biết được việc làm bên trong của chính mình. “ ● 自 家 桑 梓. Cây dâu, cây tử của nhà mình, dụ chỉ cho bản tính của tự thân, cũng tức là Phật tính mà mọi người đều sẵn có. Tiết Định Sơn Duy Tố Sơn Chủ trong NĐHN q. 10 ghi: “法 無 異 轍、殊 途 同 歸。若 要 省 力 易 會、但 識 取 自 家 桑 梓、便 能 紹 得 家 業、隨 處 解 脫、應 用 現 前、天 地 同 根、萬 物 一 體、喚 作 衲 僧 眼 睛、綿 綿 不 漏 絲 髮。 – Pháp không có cách lạ, chỉ là khác nẻo mà cùng về một chỗ. Nếu muốn dễ lãnh hội mà ít phí sức thì chỉ cần biết giữ lấy bản tính, liền có thể tiếp nối gia nghiệp, tùy chỗ giải thoát, ứng dụng hiện tiền, đất trời cùng một gốc, vạn vật đồng một thể, gọi là con mắt của thiền tăng không bao giờ lọt sót một mảy tơ”. ● 似 海 之 深 如 山 之 固. Sâu tợ biển, vững như núi. Chỉ cho Phật tính và Pháp tính; nghĩa là chân lý của Phật tính, Pháp tính như như bất động tựa như biển sâu, núi vững. Tắc 57, Bích Nham Lục (Đại 48, 191 thượng) ghi: “似 海 之 深、如 山 之 固、蚊 虻 弄 空 裹 猛 風、螻 蟻 撼 於 鐵 柱。 – Sâu tợ biển, vững như núi, muỗi mòng đùa gió mạnh, mối kiến lay cọc sắt”. ● 似 虎 奔 山. Còn gọi: Tự Hổ Kháo Sơn, Như Long Đắc Thủy. Nghĩa là uy phong vốn có của cọp, nếu không nương ở núi rừng thì khó phát huy được. Trong Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho người tu học nếu có thể chứng ngộ việc lớn sinh tử thì giống như cọp vào núi, rồng gặp nước, phối hợp duyên lành liền có thể phát huy bản tính tự nhiên, hiển hiện những hành vi hoạt bát. Nghi thức Tọa Thiền trong Thiền Uyển Thanh Quy q. 8 (Vạn Tục 111, 460 hạ) ghi: “若 已 有 發 明 者、可 謂 如 龍 得 水、似 虎 奔 山。 – Nếu người đã phát minh thì có thể gọi là như rồng gặp nước, như cọp vào núi”. ● 自 回. Thiền tăng đời Tống, người xứ Thai Châu (nay là huyện Lâm Hải tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư vốn là thợ chẻ đá, không biết chữ nhưng rất mộ đạo, nên nhờ người tụng kinh Pháp Hoa, rồi tụng theo. Về sau, sư theo Thiền Sư Đại Tùy Nguyên Tĩnh thuộc tông Lâm Tế xuất gia. Một hôm, sư đang chẻ một tảng đá, ánh lửa tóe ra, sư chợt đại ngộ, trình kệ như sau: “Dùng hết sức mình Trọn không chỗ bám Ánh lửa tóe ra Vốn ở chỗ này”. Người thời ấy gọi sư là “Thạch Đầu Hoà thượng”, “Hồi Thạch Đầu”. Sư ở Điếu ngư đài (Đài câu cá) ở Thai Châu, thượng đường thuyết pháp huyền diệu vượt thiên hạ, bốn chúng đều ngưỡng mộ, xem sư như hiền thánh. ● 自 己 主 人 公. Ông chủ của chính mình. Nhà thiền cho rằng tự tính của chúng sinh là Phật, chẳng nên tìm bên ngoài, gọi là Tự kỷ chủ nhân công (Ông chủ của chính mình). Tiết Thị Dục Tạng chủ trong DTNL q. 3 ghi: “佛 祖 無 上 妙 道、初 非 強 生 節 目、且 非 異 端 捏 怪、又 非 甚 高 難 行 之 事、只 是 儞 日 用 常 行、見 成 受 用 底。強 而 名 之、喚 作 自 性 天 眞 佛、又 喚 作 自 己 主 人 公。 – Diệu đạo vô thượng của Phật Tổ, ban đầu chẳng phải vô sự sinh sự cũng chẳng phải trò dị đoan lạ lùng, cũng chẳng phải việc cao tột khó làm, chỉ là trong việc thường làm hàng ngày của người sẵn sàng thọ dụng. Gượng gạo mà đặt tên, tạm gọi là Tự tính thiên chân Phật, cũng gọi là Tự kỷ chủ nhân công. “ ● 自 了 漢. Gã tự độ, đồ ích kỷ. Lời chê trách người tu hành có căn khí Tiểu thừa. Tắc 11, Bích Nham Lục (Đại 48, 151 trung) ghi: “師 曰。請 渡。彼 即 褰 衣。躡 波 如 履 平 地。回 顧 云 渡 來 渡 來。師 咄 云。這 自 了 漢。 – Sư nói: Mời thầy qua. Vị tăng kia liền vén y dẫm lên sóng như đi trên đất bằng, xong xoay lại nói: Qua đây, qua đây! Sư quở rằng: Cái gã tự độ này!” ● 自 滿. Thiền tăng đời Đường, tham học nơi Mã Tổ Đạo Nhất và đắc pháp nơi đây. Sư trụ Hân Châu (nay thuộc Sơn Tây). Một hôm, Sư thượng đường nói: Trừ ngày sáng đêm tối ra, hãy nói cái gì liền được, trân trọng! Nói xong, sư trở về thất. Phần lớn cơ dụng của sư đều như thế. ● 自 明 (1361-1370). Thiền tăng đời Nguyên, họ Quách, tự Độc Am, người xứ Lâm Hải (nay thuộc Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 15 tuổi, sư lễ ngài Duy Đại ở chùa Tây Thọ Xương tại Tứ Minh làm thầy. Năm 1334, sư thụ giới cụ túc và tham học với các vị Ngã Am Vô Công, Đông Minh Nhật Công. Đầu niên hiệu Chí Chính (1341), sư đến chùa Bảo Công mượn tòa để giảng kinh, người theo học càng lúc càng đông. Niên hiệu Hồng Võ thứ 3 (1370) đời Minh, trước khi lâm chung sư viết kệ: 平 生 出 處 只 隨 緣 夢 幻 空 花 任 變 遷 廓 示 融 通 三 觀 理 夕 暘 依 舊 在 西 天。 “Cả đời xuất xử chỉ tùy duyên Mộng huyễn không hoa mặc đổi dời Tỏ rõ dung thông lý tam quán Bóng chiều như cũ ở trời Tây”. ● 自 嚴 (910-992). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Trịnh, người Đồng An, Phúc Kiến, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Sư Khoan, thuộc tông Vân Môn đời thứ 3, trụ núi Bàn Cổ. ● 嗣 元. Thiền tăng đời Tống, tham học nơi Thiền Sư Thụy Nham Nghĩa Hải, đắc pháp và nối pháp Ngài, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư trụ Thúy Nham ở Minh Châu (nay là huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang). Một hôm có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ ấn Độ sang? Đáp rằng: Thấy tiền mua bán chẳng từng xa xỉ. ● 自 超 (1325-1405). Thiền tăng Cao Ly (Triều Tiên) họ Kim. Niên hiệu Chí Chính thứ 13 (1353) vào nhà Nguyên (Trung Quốc) nối pháp Thiền Sư Huệ Cần chùa Quảng Tế ở Yên Kinh (Bắc Kinh), đời thứ 26 hệ Nam Nhạc. Niên hiệu Chí Chính thứ 16 sư trở về nước hoằng pháp, là một trong những Tổ sư tông Tào Khê Triều Tiên. ● 自 在 (741-821). Thiền tăng đời Đường, họ Lý, người xứ Ngô Hưng (nay là Hồ Châu tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Ban đầu sư nương Thiền Sư Quốc Nhất thụ giới Cụ túc, sau đó tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất, phát minh tâm địa. Về sau, sư ở núi Phục Ngưu, thiền tăng ở bốn phương nghe danh sư tụ hội về. Trong niên hiệu Nguyên Hòa (806-820), sư ở Hương Sơn thuộc Lạc Dương, có Thiền Sư Thiên Nhiên là bạn tâm đầu ý hợp với sư. Niên hiệu Trường Khánh thứ 1 (821), sư tịch ở chùa Khai Nguyên thuộc Tùy châu (nay thuộc Hồ Bắc). ● 似 則 似 是 則 未 是. Nghĩa là thoạt nhìn tuy rất giống, nhưng thật ra chẳng phải vật nguyên bản. Dùng để chỉ người học Thiền chưa thể chân chính triệt ngộ Thiền cảnh của bậc Tôn túc mà chỉ một bề bắt chước cơ pháp của các ngài như nói, nín, đánh, hét… Tắc 10, Bích Nham Lục (Đại 48, 150 thượng) ghi: “州 云。老 僧 被 汝 一 喝。僧 又 喝(看 取 頭 角。似 則 似。是 則 未 是。只 恐 龍 頭 蛇 尾) – Mục Châu nói: Lão tăng bị ông hét môt tiếng. Vị tăng lại hét (Xem qua sừng đầu, giống thì giống lắm nhưng phải thì chưa phải, chỉ e đầu rồng đuôi rắn)”. ● 嗣 書. Bức thư của thiền sư viết gởi cho Thầy mình sau khi nhậm chức trụ trì. Tiết Linh Nham Trung An Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “(仲 安 禪 師)後 謁 圓 悟 於 蔣 山、時 佛 性 爲 座 元、師 扣 之、即 領 旨。逮 性 住 德 山、遣 師 至 鍾 阜 通 嗣 書 – (Thiền Sư Trung An) sau yết kiến ngài Viên Ngộ ở Tưởng Sơn, khi ấy Phật Tính làm Tọa nguyên, sư thưa hỏi ngài, liền lãnh ngộ ý chí. Đến khi Phật Tính trụ Đức Sơn có sai sư đem tự thư đến Chung Phụ. “ ● 自 性. 1. Bản thể của tâm vô hình vô thanh cùng khắp thời gian không gian, cái dụng cũng cùng khắp như thế, chẳng cần qua tác ý mà ứng dụng tự động. Tự tính này ở nơi chúng sinh và chư Phật bình đẳng bất nhị. Đàn Kinh ghi: 欲 擬 化 他 人、自 須 有 方 便 勿 令 彼 有 疑、即 是 自 性 現 “Dục nghĩ hóa tha nhân Tự tu hữu phương tiện Vật linh bỉ hữu nghi, Tức thị tự tính hiện”. “Muốn hóa độ chúng sinh, Tự phải có phương tiện Khiến họ hết nghi ngờ, Tức là tự tính hiện”. ● 2. Thiền tăng đời Minh, họ Hàn, hiệu Trạm Nhiên, người xứ Vân Dương (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư theo ngài Huệ Hải ở Hoằng Huệ Chiếu Am tại Lật Châu xuất gia, vốn thích pháp thiền phát minh nhiều điều. Sư kết bạn với Thảo Am Huyễn Sinh, cùng nhau khích lệ mài giũa. Một hôm, sư cử công án “Hữu cú vô cú” để hỏi Huệ Hải, ngài sai Huyễn Sinh đánh vào sống lưng sư, sư phát phẩn đến tột độ, suốt đêm không ngủ, đến sáng hôm sau nghe tiếng bảng ăn cơm, Sư chợt đại ngộ. Sư yết kiến Toàn Thất Tông Lặc, nhờ ngài ấn khả, làm người tiếp nối tông Lâm Tế. Khi ra hoằng pháp, sư trụ chùa Phổ Quang ở Vân Dương. Năm 1377 sư dời đến chùa Vĩnh Khánh ở Thường Châu (nay thuộc Giang Tô), rồi lại dời đến chùa Sơ Sơn ở Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Ít lâu sau, có chiếu trụ chùa Thiên Đồng ở Ninh Ba (nay thuộc Chiết Giang). Vua ban hiệu “Phật Lãng Thiền Sư”. Về già, sư lui về ở chùa Phổ Quang. ● 自 性 彌 陀. Chúng sinh tự có Phật tính, xưa nay là Phật, gọi là Tự tính Di Đà. Di Đà tức A Di Dà Phật. Khai thị Ưu Bà Tắc niệm Phật xã trong HSLNMDT q. 2 ghi: “然 佛 者 角 也、即 眾 生 之 佛 性、以 迷 之 而 爲 眾 生、悟 之 即 名 爲 佛。今 所 念 之 佛、即 自 性 彌 陀。 – Nhưng Phật có nghĩa là Giác, tức Phật tính (tính giác) của chúng sinh. Vì mê tính giác nên làm chúng sinh, ngộ tính giác được gọi là Phật. Hôm nay danh từ Phật mà quý vị niệm đó, tức Tự tính Di Đà. “ ● 自 性 天 眞 佛. Chúng sinh tự có Phật tính, xưa nay là Phật. Thị Dục Tạng Chủ trong DTNL q. 3 ghi: “佛 祖 無 上 妙 道、初 非 強 生 節 目、且 非 異 端 捏 怪、又 非 甚 高 難 行 之 事、只 是 儞 日 用 常 行、見 成 受 用 底。強 而 名 之、喚 作 自 性 天 眞 佛、又 喚 作 自 己 主 人 公。 – Diệu đạo vô thượng của Phật Tổ, ban đầu chẳng phải khi không bày ra lắm việc, cũng chẳng phải trò dị đoan lạ lùng, cũng chẳng phải việc cao tột khó làm, chỉ là trong việc thường làm hàng ngày của người sẵn sàng thọ dụng. Gượng gạo mà đặt tên, tạm gọi là Tự tính Thiên chân Phật, cũng gọi là Tự kỷ chủ nhân công. “ ● 嗣 宗 (1085-1153). Thiền tăng đời Tống, họ Trần, tự Văn Am, người xứ Huy Châu (nay là huyện Hấp tỉnh An Huy) Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở bé, đầu tiên học kinh luận. Lớn lên, sư dự khoa thi kinh điển được độ làm tăng. Sau khi thụ giới cụ túc, sư nỗ lực nghiên cứu giới luật, trì giới nghiêm cẩn. Sư bỗng hâm mộ thiền pháp biệt truyền, nương theo thiền sư Diệu Trạm Huệ tham cứu, có sở đắc. Sư thuật lại việc này cho ngài Hoằng Trí Chính Giác, được ngài ấn khả và nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Khi ra hoằng pháp sư trụ chùa Phổ Chiếu, sau đó dời đến các chùa: Thiện Quyền, Thúy Nham, Tuyết Đậu. Do sư đầu bạc nên được gọi là “Tông Bạch Đầu”. ● 息. Lãnh ngộ ý chỉ của thiền, tỉnh ngộ triệt để. Tắc Lạc Bình Tiêu Tức trong TUMC q. 5 ghi: “洛 瓶 和 尚 參、師 問:甚 處 來?瓶 曰:南 溪。師 曰:還 將 南 溪 消 息 來 麼?曰:消 即 消 已、息 即 未 息。師 曰:最 苦 是 未 息。 – Lạc Bình đến Thiên Tiên. Tiên hỏi: Từ đâu đến? Bình nói: Từ Nam Khê đến. Tiên hỏi: Có đem được tin tức Nam Khê đến chăng? Bình nói: Hưởng dụng thì có hưởng dụng, nhưng lãnh ngộ thì chưa lãnh ngộ. Tiên nói: Khổ nhất là chưa lãnh ngộ”. ● 即. Đặt ở đầu câu phán đoán, làm tăng ngữ khí phán đoán. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “即 煩 惱 是 菩 提。 – Chính phiền não là Bồ đề. “ Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “從 上 來 皆 云:即 心 是 佛。 – Từ xưa đến nay đều nói: Chính tâm là Phật. “ ● 即 今. Hiện nay, bây giờ. Tiết Thiên Trụ Sùng Huệ Thiền Sư trong NĐHN q. 2 ghi: “問:達 磨 未 來 此 土 時、還 有 佛 法 也 無?師 曰:未 來 且 置、即 今 事 作 麼 生。 – Hỏi: Lúc Đạt Ma chưa đến Trung Quốc, có Phật pháp hay không? Sư đáp: Chưa đến hãy gác lại, việc hiện nay là gì?” Vô Môn Quan ghi: “即 今 上 人 性 在 何 處? – Tính của thượng nhân bây giờ ở đâu?” ● 息 慮. Thiền tăng đời cuối Lý đầu Trần thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 14. Sư quê ở Chu Minh (tức làng Phù Cầm, huyện Từ Sơn, tỉnh Hà Bắc hiện nay), lúc nhỏ đọc hết các sách thế tục. Một hôm sư bỏ hết sở học, theo làm đồ đệ Thông Thiền đại sĩ để thưa hỏi chỗ huyền yếu. Ngay nơi lời nói của Thông Thiền, sư liền lãnh ngộ và nối pháp ngài thuộc đời thứ 14, dòng Vô Ngôn Thông. Sau sư trở về chùa Thông Thánh làng Chu Minh, phủ Thiên Đức trụ trì. ở đây sư giảng dạy tông chỉ Thiền cho môn đồ. Có vị đệ tử cư sĩ là ứng Thuận kế thừa tông phái của sư. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 即 言 定 旨. Theo lời nói mà biện rõ, xác định ý chỉ. Đây là phương pháp tham thiền chấp trước ở lời nói. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “上 士 相 見。一 言 半 句 如 擊 石 出 火。瞥 爾 便 過 應 非 即 言 定 旨 滯 句 迷 源。 – Bậc thượng sĩ gặp nhau, một lời nửa câu giống như đập đá nháng lửa, chớp mắt liền vù qua, nên chẳng phải là theo lời nói mà biện rõ, xác định ý chỉ, mắc kẹt vào câu nói mà mê mất cội nguồn”. ● 即 心 即 佛. Còn gọi: Tức Tâm Thị Phật. Tâm chính là Phật. Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q. 3 ghi: “伏 牛 和 尚 與 馬 大 師 送 書 到 師 處、師 問:馬 大 師 說 何 法 示 人?對 曰:即 心 即 佛。 – Hòa Thượng Phục Ngưu mang thư của Mã Đại sư đến chỗ Quốc sư. Quốc sư hỏi: Mã Đại sư nói pháp gì để dạy người? Phục Ngưu nói: Tức tâm tức Phật”. Tiết Đạo Nhất, đời thứ 2 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: 問:如 何 是 佛?曰:即 心 即 佛。 – Hỏi: Phật là gì? Sư đáp: Tức tâm thị Phật”. ● 即 且 置. Còn gọi: Tức thả chỉ 即 且 止, tức thả tùng 即 且 從. Hãy gác lại, tạm gác lại. Đặt ở cuối phân câu trước trong câu phức, biểu thị gạt bỏ nội dung của điều nào đó không phải là chủ đề của câu chính. Phân câu sau thông thường là câu nghi vấn. Tiết Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “僧 問 西 堂:有 問 有 答 即 且 置、無 問 無 答 時 如 何? – Tăng hỏi ngài Tây Đường: Có hỏi có đáp hãy gác lại, lúc không hỏi không đáp thì sao?” Tiết Pháp Xương ỷ Ngộ Thiền Sư trong NĐHN q. 16 ghi: “以 拄 杖 畫 一 畫、曰:這 箇 即 且 止、宗 門 事 作 麼 生? – Sư lấy cây gậy vạch một đường, nói: Cái này hãy gác lại, việc của tông môn là gì?” Tiết Hàm Châu Thẩm Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “問 僧:張 王 李 趙 不 是 汝 本 來 姓、汝 本 來 姓 箇 甚 麼?曰:與 和 尚 同 姓。師 曰:同 姓 即 且 從 汝、本 來 姓 箇 甚 麼? – Hỏi tăng: Trương Vương, Lý, Triệu chẳng phải tính xưa nay của ông, tính xưa nay của ông là gì? Đáp: Đồng tính với Hòa Thượng. Sư bảo: Đồng tính hãy gác lại, tính xưa nay của ông là gì?” ● 即 是. 1. Là phải? Đặt ở cuối câu nghi vấn, biểu thị ngữ khí lực chọn. Tiết Nam Nhạc Hoài Nhượng Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “如 牛 駕 車。車 若 不 行、打 車 即 是、打 牛 即 是? – Như trâu kéo xe, nếu xe không chạy thì đánh xe là phải hay đánh trâu là phải?” ● 2. Dù cho, giả như, biểu thị giả thiết nhượng bộ. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “者 箇 是 祖 師 拈 弄 底、諸 人 也 知。知 則 許 你 知、還 曾 得 便 休 也 未?即 是 未 得 便 休、且 莫 等 閑 放 過、也 修 向 冷 地 裏 猛 著 精 神、自 家 摸 索 看。 – Cái này là Tổ sư đưa ra nhận xét về những điều tóm tắt quan trọng của tông môn mà các vị đã biết. Biết thì cho quý vị biết, song có từng lãnh ngộ hat chưa? Giá như chưa lãnh ngộ, chớ nên dễ dãi bỏ qua, cần phải ở chỗ vắng vẻ phấn chấn tinh thần tự mình mò tìm xem!” ● 嚼 飯 餧 小 兒. Nhai cơm mớm cho trẻ nít, dụ chỉ lòng mẹ thương con; trong Thiền Tông còn gọi là Lão bà tâm, ngầm chứa ý nghĩa vì lòng từ bi nên thiền sư lập bày ra lời nói rườm rà để tiếp dẫn người học. Tiết Từ Vân Ngạn Long Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “上 堂、舉 玄 沙 示 眾 曰:「盡 大 地 都 來 是 一 顆 明 珠。」 時 有 僧 問:「既 是 一 顆 明 珠、學 人 爲 甚 不 識?」 沙 曰:「全 體 是 珠、更 教 誰 識?」 曰:「雖 然 全 體 是 珠、爭 奈 學 人 不 識。」 沙 曰:「問 取 你 眼。」 師 曰:「諸 禪 德、這 箇 公 案、喚 作 嚼 飯 餧 小 兒、把 手 更 與 杖。 – Sư thượng đường nêu ra công án Ngài Huyền Sa dạy chúng rằng: Khắp mặt đất đều là một hạt minh châu. Khi ấy có một vị tăng hỏi: Đã là một hạt minh châu, vì sao học nhân chẳng biết? Sa nói: Toàn thể là châu, còn bảo ai biết? Tăng nói: Mặc dù toàn thể là châu, hiềm vì học nhân chẳng biết? Sa nói: Hãy hỏi con mắt của ngươi. Sư bảo: Này chư thiền đức, công án này được gọi là Nhai cơm mớm cho trẻ nít, đã lấy tay dìu dắt còn đưa thêm gậy”. ● 將. Trợ từ được đặt sau động từ, không dịch, đằng sau nó là cụm từ mang xu hướng động từ. Vân Môn Quảng Lục q. thượng ghi: “對 眾 問 將 來! – Đối trước đại chúng hỏi đi!” Mật Am Ngữ Lục ghi: “到 遮 裏。如 何 對 他 即 是。棒 將 去 得 麼。喝 將 去 得 麼。莫 是 跳 下 禪 床。歸 方 丈 得 麼。不 然。別 將 兩 轉 新 鮮 語。答 將 去 得 麼。 – Đến đây đối với người khác thế nào mới phải? Đánh được chăng? Hét được chăng? Không ai nhảy xuống giường thiền, trở về phương trượng chăng? Không, riêng đem hai lời đáp này đổi mới được chăng?” ● 將 功 用 功. Đem công phu tu hành cầu thành công. Tự tâm là Phật, mọi người sẵn đủ, xưa nay thành công trọn vẹn. Người ngu chẳng biết lý này, hướng ra ngoài dụng công phu, câu nệ vào văn tự ngữ ngôn, chấp trước nghĩa lý tri giải, khắp nơi tìm cầu. Cách làm như thế, nhà thiền gọi là tương công dụng công. Lại Toản Hòa Thượng trong TĐT q. 3 ghi: “將 功 用 功、展 轉 冥 朦、取 則 不 得、不 取 自 通。 – Đem công phu tu hành để cầu thành công là việc làm quanh co mờ mịt, chấp trước thì chẳng được, không chấp thì tự thông suốt. “ ● 將 鹽 止 渴. Uống nước muối để giải khát, dụ cho hành vi cực kỳ sai lầm, chẳng những không đạt đến mục đích mà còn chuốc lấy hậu quả ngược lại. Tiết Tây Thiền Thủ Tịnh Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “談 玄 說 妙、撒 屎 撒 尿。行 棒 行 喝、將 鹽 止 渴。 – Bàn huyền nói diệu giống như tụng cứt vãi đái. Sử dụng đánh hét khác nào uống nước muối để giải khát. “ ● 將 頭 覓 頭. Mang đầu đi tìm đầu. Đầu ở trên vai của thân mình mà lại đi tìm kiếm nó khắp nơi. Dụ cho không biết chân tính nhà mình lầm cho vật hư giả của thế giới bên ngoài là thật. Ngầm dùng điển cố “Nhận bóng quên đầu” của Diễn Nhã Đạt Đa. X. Nhận ảnh mê đầu. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爲 爾 向 一 切 處 馳 求 心 不 能 歇。所 以 祖 師 言。咄 哉 丈 夫。將 頭 覓 頭。儞 言 下 便 自 回 光 返 照。更 不 別 求。知 身 心 與 祖 佛 不 別。當 下 無 事。方 名 得 法。 – Vì ngươi tìm tâm ở khắp nơi chẳng thôi cho nên Tổ sư nói: Dốt thay trượng phu, mang đầu đi tìm đầu. Ngay lời nói ngươi tự hồi quang phản chiếu, lại không tìm gì khác, biết thân tâm cùng Tổ Phật không khác, lập tức vô sự, mới gọi là đắc pháp. “ ● 相 當. Còn gọi: Tương ưng 相 應. Khế hợp (thiền pháp). Vân Môn Quảng Lục q. thượng: “莫 教 老 僧 見。捉 來 勘。不 相 當 槌 折 腰。莫 言 不 道。 – Đừng để lão tăng gặp, bắt lại để khám nghiệm, nếu chẳng khế hợp thiền pháp sẽ nện cho gãy lưng. Chớ bảo ta chẳng nói. “ Tín Tâm Minh ghi: “多 言 多 慮、轉 不 相 應。絕 言 絕 慮、無 處 不 通。 – Nói nhiều lo nhiều, càng chẳng khế hợp thiền pháp. Bặt nói bặt lo, chỗ nào cũng thông suốt. “ ● 將 當. Coi là, coi như. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “苦 哉、苦 哉!今 時 學 者、例 皆 如 此、只 認 得 驢 前 馬 後、將 當 自 己 眼 目。佛 法 平 沉、即 此 便 是。 – Khổ thay! Khổ thay! Người học thời nay tất cả đều như thế. Chỉ biết nô lệ người khác mà coi như được pháp nhãn thiền tăng. Phật pháp chìm mất chính là đây vậy. “ ● 相 喚 打 秋 千. Thu thiên là cây đu, một trò chơi của trẻ con. Tương hoán đả thu thiên nghĩa là kêu gọi nhau chơi đánh đu; trong Thiền Tông dụ cho cảnh giới vô tâm như trẻ con, hoặc dạo chơi cảnh tự tại tiêu diêu. Tắc 73, Thung Dung Lục (Đại 48, 273 trung) ghi: 新 滿 孝、便 逢 春(相 喚 打 秋 千) 醉 步 狂 歌 任 墮 巾 “Tân mãn hiếu, tiện phùng xuân, (Tương hoán đả thu thiên) Túy bộ cuồng ca nhậm đọa cân”. “Mới mãn tang, gặp mùa xuân đến, (Gọi nhau chơi đánh đu) Ngất ngưỡng ca ngông để rớt khăn”. ● 將 空 覓 空. Mang Không tìm không. Phật giáo cho rằng muôn vàn sự vật trên thế gian bao gồm thân người đều là hư huyễn đều là không, vì thế còn hướng ra bên ngoài tìm kiếm chính là “Mang không tìm không”. Mê ngộ bất nhị, thập tứ khoa tụng trong CĐTĐL q. 29 ghi: “陽 焰 本 非 其 水。渴 鹿 狂 趁 匆 匆。自 身 虛 假 不 實。將 空 更 欲 覓 空。世 人 迷 倒 至 甚。如 犬 吠 雷 叿 叿。 – Sóng nắng vốn chẳng phải nước, nai khát hớt hải chạy cuồng. Thân mình giả dối chẳng thật, mang không lại muốn tìm không. Người đời ngu mê quá mức, như chó sủa vang mặt trời. “ ● 將 法 求 法. Còn gọi: Tương đạo mịch đạo. Đem pháp tìm pháp. Tự tâm là Phật, Phật pháp không hai vì thế tâm chính là Pháp. Người ngu mê không biết lý này lại tìm pháp ở bên ngoài, nhà thiền gọi hành động đó là Đem pháp tìm pháp. Đại Châu Ngữ Lục q. hạ: “心 是 法、不 用 將 法 求 法。 – Tâm là pháp, chẳng cần đem pháp tìm pháp. “ Đại Thừa Tán của Bảo Chí Hòa Thượng trong CĐTĐL q. 29 ghi: “世 間 幾 許 癡 人。將 道 復 欲 求 道。廣 尋 諸 義 紛 紜。自 救 己 身 不 了。 – Thế gian có vài người ngu, đem đạo tìm đạo, tìm nhiều nghĩa lý thêm rối ren, tự cứu thân mình chẳng xong. “ ● 將 佛 求 佛. Đem Phật tìm Phật. Ý nói người ngu chẳng biết tâm mình là Phật mà hướng bên ngoài tìm cách làm Phật. Đại Châu Ngữ Lục q. hạ ghi: “心 是 佛、不 用 將 佛 求 佛。 – Tâm là Phật, chẳng cần đem Phật tìm Phật. “ ● 山 寺. ở núi Tương Sơn, thành phố Tuân Nghĩa, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Đại Đức (1297-1307) đời Nguyên sáng lập, gọi là “Hộ Quốc Tự”, sau bị hủy. Đời Thanh xây lại trên nền cũ đổi tên là “Tương Sơn Tự”. Có tiền điện, trung điện, hậu điện và sương phòng trái phải,hành lang gấp khúc bao quanh. Hai bên sơn môn có 5 tòa tháp 7 tầng đều đặc sắc. Quận thủ Triệu Tôn Luật đổi tên chùa là “Song Tuyền Thiền Viện”. ● 將 心 求 心. Đem tâm tìm tâm. Ý nói mọi người tự có bảo tâm thanh tịnh, người si mê lại hướng ra ngoài tìm lấy tâm nầy. Đoạn Tế Tâm Yếu: “識 心 達 本 源 故 號 爲 沙 門。沙 門 果 者、息 慮 而 成、不 從 學 得。汝 如 今 將 心 求 心、傍 他 家 舍、只 擬 學 取、有 什 麼 得 時? – Biết tâm đạt cội nguồn nên gọi là Sa môn. Quả vị sa môn do dừng vọng tưởng mà thành, chẳng từ nơi học được. Hiện nay ngươi đem tâm tìm tâm bên nhà hàng xóm, chỉ định học lấy, có bao giờ được!” ● 將 心 用 心. Đem tâm dụng tâm. Ý nói bản tâm thanh tịnh, tự có Phật tính, người mê lại vọng sinh ý nghĩ rơi vào tri giải. Thế là mê mất bản tâm. Tín tâm Minh ghi: “智 者 無 爲、愚 人 自 縛。法 無 異 法、妄 自 愛 著。將 心 用 心、豈 非 大 錯。 – Người trí tự tại vô tác, kẻ ngu dụng tâm tự trói. Pháp chẳng là pháp, vọng tự chấp trước cho là pháp. Đem tâm dụng tâm, há chẳng phải lầm lớn. “ ● 將 心 待 悟. Đem tâm mong đợi ngộ. Cho bản tâm đối đãi với thiền ngộ, là biểu hiện của vọng tâm phân biệt, đối lập. Đáp trung thừa Trịnh Côn Nham trong HSLNMDT q. 1 ghi: “又:若 將 心 待 悟、即 此 待 心、便 是 生 死 根 株、待 至 窮 劫、亦 不 能 悟、以 不 了 絕 待 眞 心、將 謂 別 有 故 耳。 – Lại: Nếu đem tâm mong đợi ngộ, tức nó là gốc rễ của sinh tử. Đợi đến cùng kiếp cũng không thể ngộ, vì chẳng rõ chơn tâm hoàn toàn sạch hết mọi đối đãi, tưởng đâu riêng có việc này. “ ● 將 心 捉 心. Đem tâm tìm bắt tâm. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “唯 此 一 心 即 是 佛、佛 與 眾 生 更 無 別 異。但 是 眾 生 著 相 處 求、求 之 轉 失、使 佛 覓 佛、將 心 捉 心、窮 劫 盡 形、終 不 能 得。 – Chỉ nhất tâm này tức là Phật, Phật cùng chúng sinh không có gì khác. Ngặt vì chúng sinh chấp tướng tìm bên ngoài, càng tìm càng mất. Khiến Phật đi tìm Phật, đem tâm tìm bắt tâm, cùng kiếp hết đời đều chẳng thể được. “ ● 相 親. Gần gũi, tiếp cận, phù hợp (thiền pháp). Tiết Dược Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: Sư viết: “海(指 懷 海 禪 師)師 兄 一 日 十 二 時 中、爲 師 僧 說 什 麼 法?對 曰:或 曰 三 句 外 省 去、或 曰 六 句 內 會 取、或 曰 未 得 玄 鑒 者、且 依 了 義 教、猶 有 將 親 分。 – Sư bảo: Hải (chỉ Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư) sư huynh trong suốt một ngày dạy pháp gì cho đại chúng? Tăng đáp: Có khi dạy ngoài ba câu hãy tỉnh ngộ, có khi dạy ngoài sáu câu hãy lãnh hội, có khi nói nếu chưa được tông chỉ thiền hãy nương vào Liễu nghĩa giáo sẽ có phần gần gũi thiền pháp. “ ● 相 親 處. Nghĩa là cảnh giới thể đắc diệu đạo. Chương Vân Môn Văn Yển trong CĐTĐL q. 19 (Đại 51, 357 thượng) ghi: “所 以 方 便 垂 一 言 半 句 通 汝 入 路。遮 般 事 拈 放 一 邊。獨 自 著 些 子 筋 骨。豈 不 是 有 少 許 相 親 處。 – Sở dĩ lập phương tiện buông ra một lời nửa câu là mở lối cho các ông vào. Việc này hãy gác qua một bên. Nếu ông đem hết sức ra để tham cứu thì đâu chẳng phải có ít cảnh giới thể đắc diệu đạo?” ● 相 唾 饒 爾 潑 水. Còn gọi: Tương Mạ Nhiêu Nhĩ Tiếp Chủy. Tiếp nước cho ông phun nhau. Khi hai người tranh luận kịch liệt thì nước bọt văng tung tóe. Nếu nước bọt không đủ thì có thể phun nước để trợ giúp uy thế. Thiền Tông thường dùng cụm từ này để chỉ dụ cho cảnh giới tự do tự tại không bị hạn cuộc câu nệ. Tắc 58, Bích Nham Lục (Đại 48, 191 hạ) ghi: “塞 斷 人 口(相 唾 饒 爾 潑 水。咦 闍 黎 道 甚 麼)。 – Lấp bít miệng người (Tiếp nước cho ông phun nhau, ôi! Xà Lê nói cái gì?)”. ● 相 錯 就 錯. Phóng lao phải theo lao. Tắc 32, Bích Nham Lục (Tục 117, 162, hạ) ghi: “如 暗 得 燈。如 貧 得 寶。將 錯 就 錯。且 道 定 上 座 見 箇 什 麼 便 禮 拜。 – Như tối gặp đèn, như nghèo được của, phóng lao phải theo lao. Thử hỏi Thượng tọa ● 相 次. Nghĩa là sơ suất, vội vàng. Tắc 54, Bích Nham Lục (Đại 48, 186 hạ) ghi: “卻 問 不 知 何 太 嶮(不 可 盲 枷 瞎 棒。雪 竇 元 來 未 知 在。闍 黎 相 次 著 也)。 – Lại hỏi chẳng biết sao quá hiểm? (Không thể cùm mù gậy đui, Tuyết Đậu té ra còn chưa biết, mà Xà Lê đã vội vàng bám lấy)”. ● 將 死 雀 就 地 彈. Bắn cin chim sẻ đã chết, dụ cho hành vi hết sức dễ dàng không có mảy may giá trị. Khiến người tức cười. Tiết Hưng Hóa Tồn Tương Thiền Sư trong NĐHN q. 11 ghi: “我 今 日 問 新 到、是 將 死 雀 就 地 彈、就 窠 子 裡 打? 及 至 你 出 得 語、又 喝 起 了 向 青 雲 裡 打。 – Hôm nay ta hỏi vị khách mới đến như sau: Bắn con chim sẻ đã chết là bắn ngay trong ổ, đến khi ngươi nói ra được. Lại kêu to lên là bắn nó trong mây xanh. “ ● 相 似 般 若. Trí huệ chân thật gọi là Bát Nhã. Tương tự Bát Nhã là chỉ cho trí giống như phải mà chẳng phải, như: Tương tự thiền, tương tự Thiền đồ, tương tự ngôn ngữ… , những dụng từ thường thấy nơi Ngữ Lục Thiền Tông. Tắc 78, Bích Nham Lục (Đại 48, 205 thượng) ghi: “若 會 得 去。中 間 安 然。得 無 所 有。千 箇 萬 箇。更 近 傍 不 得。所 謂 以 無 所 得 是 眞 般 若。若 有 所 得。是 相 似 般 若。 – Nếu ông ngộ rồi thì có thể an nhiên được vô sở hữu, ngàn muôn chẳng dính vào ông được. Vì thế nói rằng không có sở đắc là chân Bát Nhã, nếu có sở đắc là Tương tự Bát Nhã”. ● 相 似 般 若. Định thấy cái gì mà lễ bái?” ● 將 謂. Tưởng đâu, ngỡ rằng. Huệ Tịch Ngữ Lục ghi: “這 箇 老 師、我 將 謂 被 故 紙 埋 卻、元 來 由 在。 – Cái ông Thầy này, ta tường đâu đã bị giấy cũ chôn vùi, té ra vẫn còn đây. “ ● 將 謂 眾 生 苦、更 有 苦 眾 生. Tưởng đâu cái khổ của chúng sinh, ai dè lại có chúng sinh khổ. Ý nói trong khổ có khổ. Tiết Cảnh Thanh Đạo Phó Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “問 僧:外 面 是 甚 麼 聲?曰:蛇 咬 蝦 蟆 聲。師 曰:將 謂 眾 生 苦、更 有 苦 眾 生。 – Sư hỏi tăng: Phía ngoài là tiếng gì? Tăng thưa: Tiến con rắn bắt ễnh ương. Sư bảo: Tưởng đâu chúng sinh khổ, lại có kẻ khổ hơn chúng sinh. “ ● 將 謂 胡 鬚 赤 更 有 赤 鬚 胡. Tưởng đâu râu tên Hồ thì đỏ lại gặp tên Hồ đỏ râu, ý nói tưởng đâu mình mạnh thế mà còn có kẻ mạnh hơn. NĐHN q. 3 ghi: “檗 近 前、打 師 一 掌。師 拍 手 笑 曰:將 謂 胡 鬚 赤 、更 有 赤 鬚 胡。 – Hoàng Bá bước đến gần tát sư (Thiền Sư Hoài Hải) một tát. Sư vỗ tay cười nói: Tưởng đâu râu tên Hồ thì đỏ, lại gặp tên Hồ đỏ râu”. ● 祥 潔 (1750-1825). Thiền tăng đời Thanh, họ Lưu, tự Chủ Vân, hiệu Bích Nham, người xứ Dư Hàng, Chiết Giang, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Phúc Nghị, đời thứ 40 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Diễn Giáo ở Quy An. ● 祥 邁. Thiền tăng đời Nguyên, họ Hô Diên, tự Như Ý, người đời thường gọi sư là “Như Ý Thiền Sư”, người xứ Thái Nguyên (nay thuộc Sơn Tây) Trung Quốc. Xuất gia năm lên 9, từng ở chùa Cam Tuyền Phổ Tế Bắc Bàn Sơn tại Kế Châu (nay là huyện Tế tỉnh Thiên Tân). Sư chuyên nghiên cứu sách trong đạo ngoài đời, yếu chỉ của 5 nhà trong Thiền Tông, cái học của đạo Nho, giỏi văn chương. Sau đó sư trụ chùa Vân Phong núi Đạo Giả tại Đại Đô (nay là Bắc Kinh), vừa gặp lúc tranh luận kịch liệt giữa 3 giáo: Nho, Phật, Đạo vào buổi giao thời cuối đời Tống đầu đời Nguyên. Năm 1291, sư vâng lệnh Vua soạn “Biện Ngụy Lục” 5 quyển, đứng trên lập trường của Thiền Tông chỉ bày và quở trách Đạo giáo lập Thiên Tôn, lập kiếp vận niên hiệu, du hóa cửu thiền, hợp khí làm đạo v. v… đều là giả dối. Sách này được phổ biến ở đời. ● 祥 光 (1741-1830). Thiền tăng đời cuối Lê đầu Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 42. Sư họ Nguyễn, quê ở bến đò Trình Viên, Hà Nội, miền Bắc Việt Nam. Thuở bé, sư đến chùa Vân Trai đảnh lễ Hòa Thượng Kim Liên xin xuất gia. Sau khi được thu nhận là môn đồ ở chùa Vân Trai, sư rất cần mẫn tu tập. Đến lớn lên được thụ giới cụ túc xong, sư thường tu tập theo hạnh Đầu Đà, tịch cốc 3 năm, mỗi ngày ăn một bữa trong 6 năm. Cả ngày sư chỉ tụng kinh, lễ Phật nhiễu tháp và luôn thúc liễm thân tâm. Sư rất khiêm hạ, nếu gặp vị tăng nào đến là sư ra đảnh lễ, chẳng phân cao thấp. Kệ thị tịch: 一 等 人 修 無 爲 法 二 等 人 福 慧 雙 修 三 等 人 行 善 阻 惡 四 等 人 三 藏 精 通 Nhất đẳng nhân tu vô vi pháp Nhị đẳng nhân phúc huệ song tu Tam đẳng nhân hành thiện trở ác Tứ đẳng nhân tam tạng tinh thông “Người bậc nhất tu pháp vô vi Người bậc nhì phúc huệ cùng tu Người bậc ba làm thiện chừa ác Người bậc bốn tam tạng tinh thông”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 蔣 山. X. Chung Sơn. ● 就 語 接 人. Căn cứ vào câu hỏi hoặc cơ ngữ của người học, thấy có lợi cho việc dẫn dắt, thiền sư mới chỉ dạy khiến cho họ khai ngộ. Đây là một thứ lập bày của nhà thiền. Duy Tắc Ngữ Lục q. 9 ghi: “曹 洞 宗 就 語 接 人、隨 機 應 物。 – Tông Tào Động tựu ngữ tiếp nhân, tùy cơ ứng vật”. ● 就 身 打 劫. Trả đũa. Tắc 7, Bích Nham Lục (Tục 117, 135, hạ) ghi: “依 模 脫 出。鐵 餕 饀。就 身 打 劫。 – Thoát khỏi khuôn mẫu, đem nhân bánh bằng sắt để trả đũa”. ● 就 手. Thuận tay. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “黄 蘗 竪 起 钁 頭 云:只 這 箇。天 下 人 拈 掇 不 起。師 就 手 掣 得 竪 起 云:爲 什 麼 却 在 某 甲 手 裏。 – Hoàng Bá dựng đứng cây cuốc, bảo: Chỉ một cái này, tất cả mọi người trong thiên hạ đều nhấc lên không nổi. Sư liền thuận tay giựt lấy cây cuốc, đưa lên nói: Tại sao bây giờ ở trong tay con?”. ● 就 上. Ngay tại chỗ. Tiết Thiên Đồng Liễu Phác Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: 殿 脊 老 蚩 物 聞 得 呵 呵 笑 三 門 側 耳 聽 就 上 打 之 遶 “Điện tích lão xi vật Văn đắc ha ha tiếu Tam môn trắc nhĩ thính Tựu thượng đả chi nhiễu”. “Cây đòn dông ngu dốt Nghe được cười hô hố Cổng tam quan lắng nghe Đi loanh quanh tại chỗ”. ● 毘 耶 老 古 槌. Chỉ cho cư sĩ Duy Ma ở nơi thành Tỳ Da Ly. Lão cổ chùy là chỉ cho Thiền Sư lão luyện. Tắc 6, Thung Dung Lục (Đại 48, 231 thượng) ghi: “藥 之 作 病、鑑 乎 前 聖;病 之 作 醫、必 也 其 誰?白 頭 黑 頭 兮、克 家 之 子;有 句 無 句 兮、截 流 之 機。堂 堂 坐 斷 舌 頭 路、應 笑 毘 耶 老 古 錐。 – Do thuốc mà làm thành bệnh, hãy xem các bậc Thánh trước kia. Lấy bệnh để trị bệnh, hẳn là người nào? Đầu bạc đầu xanh đều là những đứa con làm nên nhà cửa. Câu Hữu câu Vô thảy là cơ pháp cắt đứt vọng tưởng. Rành rành cắt đứt chót lưỡi mọi người, đáng cuời thay lão Duy Ma lão luyện”. ● 毘 盧 塔. Còn gọi: Từ Vân Tháp, Chân Thân Tháp. Nằm trên sườn núi phía tây chùa Tứ Tổ núi Phá Ngạch, cách trung tâm huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc 15km về phía tây. Là mộ tháp của Tứ Tổ Đạo Tín được xây vào niên hiệu Vĩnh Huy thứ 2 (651) đời Đường. Sườn núi bằng phẳng như sân phơi, tháp được xây trên đó bằng gạch đá mô phỏng kết cấu gỗ, theo kiểu đình mái chồng, cao khoảng 15m. Phía dưới là nền đài rộng 10m, sâu 9,5m gần thành hình vuông. Trên nền đài xây một tòa Tu Di cao lớn điêu khắc những hoa văn cánh sen đường nét thô thiển. Ba mặt đông tây nam của thân tháp xây cửa vòng cung hoa sen mở ra rộng thoáng, dưới mái tô điểm bằng đấu củng, xà nhà, rường nhà khắc gạch mô phỏng theo cấu kiện gỗ. Còn có khảm gạch có khắc chữ, phía trên có khắc danh hiệu chư Phật. Đỉnh tháp là một vòm cầu hình trứng, đây là hình thức hiếm thấy trong tháp cổ. Tháp này trong tròn ngoài vuông, hình dáng vững vàng, khí thế hiên ngang. ● 毘 盧 禪 寺. ở Hậu Lý, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc. Vọng tộc Phong Nguyên là Lữ Hậu Am lúc sinh tiền thích làm việc thiện hay bố thí, sùng tín Phật pháp. Sau khi ông tạ thế, vợ của ông là Lâm Thị ngộ trần thế vô thường, bèn cho bốn người con gái: Diệu Trần, Diệu Quán, Diệu Thức, Diệu Trạm, và hai người cháu gái là Diệu Bổn, Diệu Thiên lễ Hòa Thượng Giác Lực chùa Pháp Vân ở Đại Hồ làm thầy, cùng lúc xuất tiền bạc khởi công xây dựng đạo tràng. Chùa cất xong đặt tên là “Tỳ Lô Thiền Tự”, Hòa Thượng Giác Lực làm trụ trì khai sơn. Sau khi ngài tịch, do Diệu Trần, Diệu Thức kế nhiệm. Năm 1955 do Diệu Bản kế nhiệm trụ trì. ● 比 尼 多 留 支 (?-594). Thiền tổ thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người Nam Thiên Trúc (Nam ấn Độ) dòng Bà La Môn tên Vinītaruci. Thuở nhỏ đi khắp miền Tây Trúc (Tây ấn Độ) để tham khảo Thiền Tông, nhưng cơ duyên chưa gặp, nên sư lại sang Đông Nam. Sư đến Trường An, Trung Quốc vào niên hiệu Đại Kiến thứ 6 (574) đời Trần Tuyên Đế, gặp thời Chu Võ Đế phá diệt Phật pháp, sư lại phải sang đất Nghiệp (Hồ Nam). Lúc ấy, tổ Tăng Xán đang mang y bát ở ẩn trong núi Tư Không, bỗng nhiên sư tìm gặp được Tổ; sau khi được tâm ấn, sư từ biệt Tổ sang Quảng Châu trụ trì tại chùa Chế Chỉ. Thời gian sáu năm ở đây, sư dịch xong bộ kinh “Tượng Đầu Tinh Xá” chữ Phạn ra chữ Hán. Đến niên hiệu Đại Tường thứ 2 (580) đời Chu, sư sang Việt Nam trụ trì tại chùa Pháp Vân (Hà Đông). Nơi đây, sư dịch xong bộ kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì. Niên hiệu Khai Hoàng thứ 14 (594) đời Tùy, sau khi truyền pháp cho Pháp Hiền xong, sư chắp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng, lượm Xá Lợi năm sắc, xây tháp cúng dường. Về sau, vua Lý Thái Tông có làm bài kệ truy tán: 創 寺 南 來 國、聞 君 久 習 禪 應 開 諸 佛 性、遠 合 一 心 源 浩 浩 楞 伽 月、芬 芬 般 若 蓮 何 時 幸 相 見、相 與 話 重 玄 Sáng tự Nam lai quốc. Văn quân cửu tập thiền ứng khai chư Phật tính Viễn hợp nhất tâm nguyên Hạo hạo Lăng Già nguyệt Phân phân Bát Nhã liên Hà thời hạnh tương kiến Tương dữ thoại trùng huyền “Mở lối nước Nam đến Nghe sư giỏi tập thiền Mở bày chư Phật tính Xa hợp một nguồn tâm Rực rỡ Lăng Già nguyệt Ngào ngạt Bát Nhã sen Bao giờ được gặp mặt Cùng nhau luận đạo huyền”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 比. Vốn, xưa nay. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “某 比 欲 林 泉 樹 下、依 眾 過 時。 – Ta vốn muốn ở nơi suối rừng, nương chúng qua ngày”. ● 比 來. Vốn là, sẵn có. Tiết Triệu Châu Hòa Thượng trong TĐT q. 18 ghi: “院 主 請 上 堂、師 升 座 唱 如 來 梵。院 主 曰:比 來 請 上 堂、這 箇 是 如 來 梵。 – Viện chủ thỉnh thượng đường, sư thăng tòa xướng bài ca tụng đức tướng của Phật. Viện chủ nói: Vốn là thỉnh thượng đường, cái này là bài ca tụng Như Lai”. ● 比 今. Bây giờ. Tông Môn Võ Khố ghi: “我 與 汝 相 別 才 逾 月、比 今 相 見 時 如 何? – Ta với ông chia tay vừa hơn một tháng, bây giờ gặp nhau thì thế nào?” ● 比 遂. So sánh. Tiết Sơ Sơn Khuông Nhân Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “饒 你 雄 信 解 拈 鎗、猶 較 秦 王 百 步 在。 – Dù ngươi như Hùng Tín đỡ được ngọn giáo, nhưng vẫn còn thua hơn Tần Vương trăm bước”. Cũng gọi Tỷ tinh 比 并. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “丫 鬟 女 子 畫 娥 眉、彎 鏡 臺 前 語 似 痴、自 說 玉 顏 難 比 并、却 來 架 上 著 羅 衣。 – Bé gái ở đợ vẽ lông mày trước đài gương cong, nói lời như ngu ngốc, tự cho rằng gương mặt người đẹp khó sánh (với bé), trên giá lại còn treo chiếc áo lụa. “. ● 鼻 孔. Lỗ mũi, dụ chỉ chỗ then chốt của việc tham thiền, con đường đốn ngộ. Như Tịnh Tục Ngữ Lục ghi: “老 僧 見 今 時 師 僧、皆 是 無 鼻 孔、而 誇 名 誇 利、未 曾 休 歇。 – Lão tăng xem thấy các bậc thầy ngày nay đều không có lỗ mũi mà hay khoe danh khoe lợi, chưa từng thôi nghỉ”. ● 鼻 孔 端 正. Lỗ mũi ngay ngắn. Thiền Tông muợn hình tượng này để chỉ cho người tỏ ngộ được pháp thân một cách triệt để. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 3 ghi: “用 姪 尋 常 廉 約 不 點 常 住 油。華 姪 因 戲 之 曰:異 時 做 長 老。須 是 鼻 孔 端 正 始 得。豈 可 以 此 爲 得 耶。 – Dụng Điệt là người luôn luôn thanh liêm kiệm ước, không thắp đèn dầu của thường trụ. Hoa Điệt thấy thế nói bỡn rằng: Một ngày kia ông làm Trưởng lão, cần phải là người có lỗ mũi ngay ngắn mới được, đâu thể lấy việc nhỏ này làm chỗ sở đắc vậy ư?” ● 鼻 孔 遼 天. Lỗ mũi chọc trời, chỉ cho người triệt ngộ. Gia Thái Phổ Đăng Lục q. 28 ghi: 眼 空 四 海 四 樅 橫 鼻 孔 遼 天 信 腳 行 “Nhãn không tứ hải tứ tung hoành Tỵ khổng liêu thiên tín cước hành”. “Mắt trùm bốn biển dọc ngang, Mũi xuyên trời thẳm bước chân vững vàng”. ● 避 溺 投 火. Tránh chết chìm lại bị chết cháy, tỷ dụ cho tâm thủ xả chưa trừ, từ cực đoan này sang cực đoan khác. Chương Chứng Đạo Ca trong CĐTĐL q. 30 ghi: 棄 有 著 空 病 亦 然 還 如 避 溺 而 投 火 “Khí hữu trước không bệnh diệc nhiên Hoàn như tỵ nịch nhi đầu hỏa”. “Bỏ có, níu không, bệnh vẫn nguyên, Khác nào trốn nước sa vào lửa”. ● 幽 州 空. Thiền Sư Đàm Không là người xứ U Châu (nay là Bắc Kinh), người đời gọi là “U Châu Không”. X. Đàm Không. ● 幽 棲 寺. Chùa nằm cách Phật Quật Tự trong núi Nam Tổ Đường, huyện Giang Ninh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc 8km, được xây dựng khoảng niên hiệu Đại Minh (457-464) đời Lưu Tống. Vào niên hiệu Trinh Quán thứ 18 (644) đời Đường, ngài Pháp Dung dựng thiền thất ở dưới gộp núi phía bắc của chùa và ẩn tu nơi đó. Sau khi ngài thị tịch, môn nhân xây tháp tại đây. Về sau chùa được đổi tên là: Tổ Đường Tự, Diên Thọ Tự. Sau đó lại dùng tên cũ “U Thê Tự”. Các vị: Trí Oai, Huệ Trung, Huyền Tố đều ở chùa này. Niên hiệu Khang Hy thứ 6 (1667) đời Thanh, chùa được trùng tu. Bên trái chùa có Tổ động, tương truyền là chỗ ngài Pháp Dung hàng phục rắn thần. Mé sau chùa có: Hiến hoa nham, tương truyền là chỗ trăm con chim dâng hoa khi ngài Pháp Dung giảng kinh Pháp Hoa. ● 雍 正 御 選 語 錄. X. Ngự Tuyển Ngữ Lục. ● 雍 熙 寺. Chùa Chi Đề vào đời Tống gọi là Ung Hy Tự. X. Chi Đề Tự. ● 甕 中 走 龞. Còn gọi: Úng Trung Tróc Miết. Con ba ba chạy trong lu, chỉ cho việc làm dễ dàng, nắm chắc trong tay. Tắc 13, Thiền Sư Cương Nhuyến đáp thư của thiền nhân trong Thiền Quan Sách Tiến ghi: “終 日 如 呆 的 漢 子 相 似。到 恁 麼 時。不 怕 甕 中 走 鱉。 – Trọn ngày như kẻ ngây khờ. Khi thời tiết đến, không còn sợ con ba ba chạy trong lu”. ● 蘊 空. Hiệu của Thiền tăng Thường Trung đời Minh. X. Thường Trung. ● 蘊 能. Thiền tăng đời Tống, họ Xương, hiệu Huệ Mục, người xứ My Châu (nay là huyện My Sơn tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư theo Nho học, nghiên cứu nhiều kinh điển. Năm 22 tuổi, trong lúc đối chiếu sách, sư chợt xem được sách thiền, giống như có sở đắc, liền xuất gia. Ban đầu sư tham vấn Thiền Sư Bảo Thắng Trừng Phủ, chẳng khế hợp; sư liền đến Kinh Hồ tham khắp các bậc đại đức. Cuối cùng sư tham Thiền Sư Đại Quy Xuân và đắc pháp. Sư từng đối cơ với ngài, khi ngài hỏi về nhân duyên thâu kiếm, sư trả lời rất hợp với ý chỉ, Thiền Sư Xuân cười nói: “Ba mươi năm qua ta cưỡi ngựa, hôm nay bị lừa đá”. Từ đó, sư nổi tiếng. Sau khi trở về Tứ Xuyên, đầu tiên sư trụ trì chùa Báo Ân, rồi dời về chùa Trung Nham trụ trì trên 30 năm, thuyết pháp chẳng chịu cho người ghi chép; lúc lâm chung sư viết kệ xong, ngồi thị tịch. ● 蘊 聰 (965-1032). Thiền tăng đời Tống, họ Trương, người xứ Nam Hải (nay là Quảng Châu) Trung Quốc. Sau khi xuất gia, sư tham vấn ngài Bách Trượng Đạo Thường rồi tham Thủ Sơn Tỉnh Niệm được đại ngộ và nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sau đó sư du phương tham vấn các ngài: Động Sơn Thủ Sơ, Đại Dương Cảnh Huyền, Trí Môn Sư Giới. Niên hiệu Cảnh Đức thứ 3 (1006), sư trụ Thạch Môn Sơn, Tương Châu (nay là huyện Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Niên hiệu Thiên Hy thứ 4 (1020), sư dời đến trụ trì Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự ở núi Cốc ẩn. Đồ chúng của 2 chùa đông hơn ngàn người và sư còn giao du với các vị như: Hàn lâm Dương văn ức. Thụy hiệu: Từ Chiếu Thiền Sư. Phò mã Lý Tuân Úc soạn văn bia cho sư. Tác phẩm: Thạch Môn Sơn Từ Chiếu Thiền Sư Phụng Nham Tập 1 quyển. ● 心. Dốc lòng. Thượng sĩ Hành trạng trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: “參 福 堂 逍 遙 禪 師 領 旨、委 心 事 之。 – Ngài đến tham vấn thiền sư Tiêu Dao ở tinh xá Phúc Đường, lãnh hội được yếu chỉ, dốc lòng thờ Tiêu Dao làm thầy”. ● 委 悉. Biết. Như Tịnh Ngữ Lục, q. thượng ghi: “林 下 臣 僧、如 何 舉 唱? 還 相 委 悉 麼? – Nạp tăng tôi ở chốn núi rừng làm sao tuyên bày với đức vua? Có biết cho chăng?” ● 委 順. Tạ thế. Tiết Nhị Tổ Huệ Khả Đại Tổ Thiền Sư trong NĐHN q. 1 ghi: “祖 怡 然 委 順、識 眞 者 謂 之 償 債。時 年 一 百 七 歲。 – Tổ, vui vẻ tạ thế, bậc thức giả cho rằng Tổ trả nợ kiếp trước, năm ấy Tổ được 107 tuổi”. ● 萎 萎 隨 隨. Dáng vẻ uể oải, thấp hèn. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 若 欲 得 如 法。直 須 是 大 丈 夫 兒 始 得。若 萎 萎 隨 隨 地。則 不 得 也。 – Nếu ông muốn được như pháp thì cần phải là bậc đại trượng phu mới được; còn nếu thấp hèn uể oải thì không thể được”. ● 鴛 湖. Hiệu của Thiền tăng Diệu Dụng đời Minh. X. Diệu Dụng. ● 苑 陵 錄. Gọi đủ: Hoàng Bá Đoạn Tế Thiền Sư Uyển Lăng Lục. Còn gọi: Đoạn Tế Thiền Sư Uyển Lăng Lục. Sách, 1 quyển, do Bùi Hưu biên vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 384. Nội dung bao gồm những mẩu đối thoại giữa Hoàng Bá Hy Vận và các vị như Bùi Hưu lúc ở Uyển Lăng về cơ duyên Tông thừa. Hy Vận kế thừa tư tưởng “Tức tâm tức Phật” của Mã Tổ Đạo Nhất, ra sức đề xướng thuyết “Tâm tức là Phật” chẳng hạn như: “Tâm ông là Phật. Phật tức là tâm. Tâm Phật chẳng khác”. Tư tưởng “Tâm Phật nhất như” này, có thể thấy nhiều chỗ trong Uyển Lăng Lục. ● 應 庵 曇 花 禪 師 語 錄. Còn gọi: ứng Am Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 10 quyển, do ứng Am Đàm Hoa soạn vào đời Tống, các vị Thủ Thuyên… biên, được ấn hành vào niên hiệu Càn Đạo thứ 2 (1166) đời Tống, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 120, trang 804. Quyển 1-6: Ngữ Lục của 14 hội thuyết pháp khi Đàm Hoa ở thiền viện Diệu Nghiêm, Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự v. v… uyển 7-9: Pháp ngữ, Thư. Quyển 10: Tụng cổ, Chân tán, Kệ tụng, Phật sự. Cuối quyển 10 có phụ lục Tháp minh, Tế văn, Tùng Nguyên Hòa Thượng Phổ thuyết. ● 應 乾 (1034-1096). Thiền tăng đời Tống, họ Bành, người xứ Bình Hương (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Sau khi xuất gia và thụ giới cụ túc, sư đi tham vấn khắp nơi, đến ngài Đông Lâm Thường Tổng thì sư đại ngộ và nối pháp ngài, thuộc phái Hoàng Long tông Lâm Tế. Niên hiệu Nguyên Phong thứ 3 (1080), trong thời gian Thường Tổng trụ trì chùa Đông Lâm ở Lô Sơn, sư kế vị trụ trì Bảo Phong Thiền Viện ở Lặc Đàm. ● 應 機. Còn gọi: Phát Dụng. Ra tiếp hóa cứu giúp mọi người, chẳng hạn như làm Trụ trì… sau khi kiến tính triệt để. Chứng Đạo Ca của Thiền Sư Huyền Giác ghi: 無 價 珍、用 無 盡 利 物 應 機 終 不 悋 三 身 四 智 體 中 圓 八 解 六 通 心 地 印 “Vô giá trân dụng vô tận Lợi vật ứng cơ chung bất lận Tam thân tứ trí thể trung viên Bát giải lục thông tâm địa ấn”. “Châu báu vô giá dùng chẳng hết Cứu giúp mọi người không sẻn tiếc Ba thân bốn trí thể tròn nguyên Tám giải sáu thông tấm ấn hiệp”. ● 應 眞. Thiền tăng đời Đường. Sư thờ Nam Dương Quốc sư Huệ Trung làm thầy. Sau khi Huệ Trung tịch, sư ra hoằng pháp trụ Đam Nguyên Sơn ở Cát Châu (nay là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây) ngày giỗ của Huệ Trung, sư thiết trai cúng dường, có một vị tăng hỏi: Quốc sư có đến không? ứng Chân đáp: Chưa đủ tha tâm thông. Tăng còn hỏi: Còn bày việc thiết trai để làm gì? Sư đáp: Không bỏ thế đế. ● 應 端 (1069-1129). Thiền tăng đời Tống, họ Từ, người xứ Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Thuở nhỏ, sư nương ngài Thiện Tự ở chùa Hóa Độ xuất gia, tinh thông yếu chỉ Hoa Nghiêm. Sư từng tham vấn ngài Chân Tịnh Khắc Văn, nhưng cơ duyên chẳng khế hợp. Sau đó sư tham vấn ngài Linh Nguyên Duy Thanh ở Hoàng Long, được ấn khả và nối pháp ngài, thuộc phái Hoàng Long, tông Lâm Tế. Khoảng niên hiệu Kiến Viêm (1127-1130) sư trụ chùa Pháp Luân. ● 應 縣 木 塔 (283). Còn gọi: Phật Cung Tự Thích Ca Tháp. ở trong chùa Phật Cung, phía tây bắc trong thành huyện ứng, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Chùa Phật Cung vào đời Kim Nguyên gọi là “Bảo Cung Thiền Tự”, quy mô rất lớn. Bảo Cung Thiền Tự vào đời Kim có đất đai hơn 40 khoảnh. Đời Minh Thanh về sau quy mô của tự viện bị thu hẹp, chỉ còn 9 gian Đại điện, Sơn môn, Chung cổ lâu và vài Tăng phòng. Niên hiệu Đồng Trị thứ 5 (1866) về sau, 9 gian Đại điện cũng bị hủy, chỉ còn tháp gỗ. Tháp gỗ huyện ứng xây vào niên hiệu Thanh Ninh thứ 2 (1056) đời Liêu, Hòa Thượng Vi Điền phụng sắc quyên góp xây cất tại trung tâm phía trước chùa, Đại điện ở phía sau, giữ gìn hình thức bố cục tự tháp của thời kỳ đầu lấy tháp làm chủ. Tháp hình bát giác, tường bên ngoài thân tháp 5 tầng, chen lẫn có tầng ngầm 4 bậc, trên thực tế là 9 tầng. Tháp cao 67m, tầng đáy đường kính 30m, là kiến trúc bằng gỗ cổ xưa nhất, cao lớn nhất ở Trung Quốc. Tháp xây trên cái bệ đá 2 tầng cao 4m. Trong ngoài thân tháp hai chiếc trụ đứng tạo thành kết cấu mô phỏng theo kiểu ống hai tầng, đầu trụ và chân trụ đều có cấu kiện thủy bình. Trong tầng ngầm số lượng lớn chọn dùng chống nghiêng tương đương với khuyên lương ngày nay để tăng cường tính chỉnh thể của tháp gỗ. Mặt nam tầng thứ 1 của tháp có cửa mở, nghinh môn có tượng Phật Thích Ca cao khoảng 10m, phần đỉnh có phần trang trí tinh mỹ hoa lệ. Trên vách tường có vẽ một bức Như Lai Phật tượng, tỷ lệ thích hợp, sắc thái tươi đẹp. Phi thiên hai bên Như Lai lại càng sinh động hoạt bát. Tầng thứ 3 thân tháp có 4 tượng Phật khắc gỗ nhìn ra 4 phía. ở giữa tầng thứ 5 là tượng gỗ Phật Thích Ca ngồi kiết già, 8 Đại Bồ tát chia ngồi 8 phương, bố cục vừa tài tình vừa khéo léo. Lợi dụng lòng tháp không có không gian rộng lớn của tầng ngầm mà bố trí tượng đắp để tăng cường trang nghiêm Phật tượng, là mẫu mực của sự kết hợp giữa kết cấu kiến trúc với nghệ thuật kiến trúc. Niên hiệu Chí Trị thứ 3 (1323) đời Nguyên, vua Nguyên Anh Tông đến Ngũ Đài Sơn khi đi qua ứng Châu từng lên tháp này. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) đời Minh khi Minh Thành Tổ bắc chinh cũng từng lên tháp này, và viết tấm biển “Tuấn Cực Thần Công”. Niên hiệu Chính Đức thứ 3 (1508) Minh Vũ Tông lúc đãi yến tiệc trên tháp có đề tấm biển “Thiên Hạ Kỳ Quan”, hiện tại còn treo dưới mái tháp tầng thứ 3,4. Gần ngàn năm qua tháp gỗ này bị nhiều lần địa chấn dữ dội, nhưng vẫn đứng sừng sững bất động, nói lên được năng lực kháng chấn rất mạnh. Năm 1974 lúc duy tu tháp này phát hiện kinh quyển và bức họa Phật tượng lồng màu bằng bảng gỗ. ● 應 客 侍 者. Thị giả hầu chuyện tiếp khách, là 1 trong 6 vị thị giả của Hòa Thượng Trụ trì. Điều Lục Thị Giả, môn Chức Vị trong Thiền Lâm Tượng Khí tiên ghi: “Sư Trụ trì có 6 vị thị giả: 1. Cân bình thị giả: Thị giả chuyên lo về khăn lau và ống nhổ. 2. ứng khách thị giả: Thị giả tiếp khách. 3. Thư lục thị giả: Thị giả ghi chép. 4. Y bát thị giả: Thị giả chuyên lo về y và bát. 5. Trà phạn thị giả: Thị giả chuyên lo về cơm nước. 6. Cán biên thị giả: Thị giả giỏi về việc lo toan sắp đặt công việc”. ● 應 夫. Thiền tăng đời Tống, họ Tưởng, người xứ Trừ Châu (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc. Ban đầu, sư vào Thiền viện Bảo Ninh ở Giang Ninh (nay là Nam Kinh) xuất gia, và thụ giới Cụ túc. Sau đó yết kiến Thiên Y Nghĩa Hoài, được tông yếu của Vân Môn, nối pháp ngài, thuộc tông Vân Môn. Sư từng trụ các nơi: Cam Lộ Thiền Viện ở Nhuận Châu (nay là huyện Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), Trường Lô Sùng Phúc Thiền Viện ở Chân Châu (nay là huyện Nghi Trưng tỉnh Giang Tô). Hiệu: Quảng Chiếu Thiền Sư. Đệ tử nối pháp có 25 vị như: Trường Lô Tông Trách, Tuyết Đậu Đạo Vinh, Huệ Nhật Trí Giác v. v… ● 應 順 王. Thiền nhân cư sĩ, đời cuối Lý đầu Trần, thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 15, nối pháp Thiền Sư Tức Lự. Ông tên Đỗ Văn, quê phường Hoa Thị, kinh đô Thăng Long, miền Bắc Việt Nam. Tính tình khoáng đạt không chịu theo đuổi việc đời. Ban đầu làm chức Chiêu Mục trong triều, sau lên hàng Trung phẩm Phụng ngự. Khi rảnh việc, ông học thiền, sưu tầm cùng tận ý Tổ, thấu suốt Tâm tông. Ông làm đệ tử Thiền Sư Tức Lự ở chùa Thông Thánh. Sau khi được ngài Tức Lự truyền tâm ấn, ông là người tai mắt trong tùng lâm, đồng loạt với Quốc sư Nhất Tông và các Thiền Sư: Tiêu Dao, Giới Minh, Giới Viên… Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 約. 1. Động tác ra hiệu bảo người lui ra phía sau hoặc bảo người dừng lại. Minh Giác Ngữ Lục q. 2 ghi: “復 問 第 二 人。求 朋 須 勝 己。似 我 不 如 無。師 以 拄 杖 指 參 頭 云:爾 爲 什 麼 隨 者 漆 桶。僧 云:某 甲 新 戒。師 亦 約 云:過 者 邊 立。 – Lại hỏi người thứ hai rằng: Tìm bạn phải giỏi hơn mình, nếu giống như mình thì cũng bằng không. Sư lấy cây gậy chỉ vị Tham đầu, nói: Vì sao ngươi theo cái thùng sơn này? Tăng nói: Con mới thụ giới. Sư làm động tác bảo ông tăng dừng lại rồi nói: Qua bên này đứng!” Tiết Kính Sơn Tông Cảo Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “及 冬 至、秉 拂 昭 覺 元 禪 師 出 眾 問 云:眉 間 挂 劍 時 如 何?師 曰:血 濺 梵 天。圜 悟 於 座 下、以 手 約 云:住!住!問 得 極 好、答 得 更 奇。 – Ngày đông chí, sư được cử làm Thủ tọa, thiền sư Chiêu Giác Nguyên bước ra khỏi chúng, thưa rằng: Lúc treo kiếm giữa chặng mày thì thế nào? Sư (tức Tông Cảo) đáp: Máu bắn tung toé trời Phạm thiên. Viên Ngộ đang ngồi dưới tòa giơ tay ra hiệu dừng lại bảo: Hãy dừng lại! Người hỏi rất hay, người đáp càng hay hơn nữa!” ● 2. Theo, chiếu theo. Uyển Lăng Lục ghi: “若 約 三 乘 教、即 說 有 佛 性 有 眾 生 性、遂 有 三 乘 因 果、即 有 同 異。若 約 佛 乘 及 祖 師 相 傳、即 不 說 如 是 事、唯 有 一 心、非 同 非 異、非 因 非 果。 – Nếu theo giáo lý Tam thừa thì nói có Phật tính, có chúng sinh tính liền có nhân quả Tam thừa, tức có đồng dị. Nếu theo Phật thừa và Tổ sư truyền nhau thì chẳng nói việc như thế, chỉ có Nhất tâm, phi đồng phi dị, phi nhân phi quả”. ● 殃 殃 祥 祥. ỉu xìu. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “山 僧 自 幼 便 知 有 參 禪 學 道、可 惜 不 遇 人、殃 殃 祥 祥 弄 了 一 二 十 年。 – Sơn tăng tự thuở nhỏ đã biết tham thiền học đạo, song đáng tiếc chẳng gặp người chỉ dạy làm cho ỉu xìu trong một hai mươi năm”. ● 晚 參. Đối lại: Triêu tham. Việc khai thị pháp yếu, tham thiền hoặc niệm tụng vào buổi chiều. Điều Vãn Tham trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (Đại 48, 119 trung) ghi: “凡 集 眾 開 示 皆 謂 之 參。古 人 匡 徒、使 之 朝 夕 咨 扣、無 時 而 不 激 揚 此 道、故 每 晚 必 參、則 在 晡 時。 – Việc nhóm chúng lại để khai thị gọi là tham. Người xưa giúp đỡ đệ tử bằng cách khiến họ sớm chiều phải thưa hỏi, không lúc nào chẳng đề cao đạo này, thế nên mỗi buỗi phải tham, tức là vào khoảng 3-5 giờ chiều”. Chỗ để vãn tham: Nhà ngủ, phương trượng, pháp đường. Đến giờ báo hiệu bằng cách đánh trống hoặc đánh chuông như Thiền Sư Phương Hội đánh trống thỉnh ngài Từ Minh cử hành vãn tham. ● 卍 庵. Hiệu của thiền tăng Đạo Nhan đời Tống. X. Đạo Nhan ● 萬 古 長 空 一 朝 風 月. Trăng gió thay đổi mỗi ngày, còn hư không thì còn mãi đến muôn đời, ẩn chỉ Phật pháp lâu dài, còn thiền ngộ là việc tự kỷ của mỗi người, cần phải mở to pháp nhãn, thì ngộ tại trước mắt. Tiết Thiên Trụ Sùng Huệ Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “達 磨 未 來 此 土 時、還 有 佛 法 也 無?師 曰:未 來 且 置、即 今 事 作 麼 生?曰:某 甲 不 會、乞 師 指 示。師 曰:萬 古 長 空、一 朝 風 月。 – Hỏi: Lúc Đạt Ma chưa đến đất này, đã có Phật pháp hay chưa? Sư nói: Việc chưa đến hãy gác lại. Việc bây giờ thế nào? Đáp: Con chẳng biết, xin thầy chỉ dạy. Sư nói: Trăng gió thay đổi mỗi ngày, còn hư không còn mãi đến muôn đời”. ● 萬 機 之 餘. Còn gọi: Vạn cơ chi hạ. Khi rãnh rổi việc triều chính. CĐTĐL q 5 ghi: “中 宗 神 龍 元 年 降 詔 云。朕 請 安 秀 二 師 宮 中 供 養。萬 機 之 暇 每 究 一 乘。 – Niên hiệu Thần Long thứ nhất (705), Vua Đường Trung Tông xuống chiếu: Trẫm vời An và Tú hai vị thiền sư vào cung cúng dường để khi rãnh rổi việc triều chính, thường nghiên cứu pháp nhất thừa. “ ● 萬 家 生 佛. Phật sống của muôn nhà. Chỉ cho vị quan có đức độ, có lòng nhân ái. Theo điển tích: Đời Tống Triết Tông, lúc Thái hậu Cao Thị Tuyên Nhân nhiếp chính, dùng Tư Mã Quang làm Tể tướng. Trong tám tháng cầm quyền, ông bãi bỏ tân pháp của Vương An Thạch, cải đổi triều chính, trong nước được thái bình, nên người đời gọi ông là “Vạn gia sinh Phật”. Đoạn thứ 210 trong truyện Sãi Vãi, tác phẩm chữ Nôm của Nguyễn Cư Trinh, có câu: Dầu chẳng vạn gia sinh Phật cũng là Nhất lộ phúc tinh. X. Nhất Lộ Phúc Tinh. ● 萬 行 (?-1018). Thiền tăng đời Lý, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đời thứ 12, nối pháp Thiền Ông đạo giả. Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp, miền Bắc Việt Nam. Thuở nhỏ sư thông minh khác thường, học khắp Tam học và nghiên cứu Bách luận, mà vẫn xem thường công danh phú quý. Năm 21 tuổi, sư cùng Định Huệ, thờ Thiền Ông ở chùa Lục Tổ làm thầy. Lúc rảnh rỗi công việc hầu hạ thầy, sư học hỏi không biết mỏi mệt. Sư chuyên tập pháp “Tổng trì Tam Ma Địa” lấy đó làm sự nghiệp. Bấy giờ sư có nói ra lời gì dân chúng đều cho là lời sấm ký. Vua Lê Đại hành rất tôn kính sư. Kệ thị tịch: 身 如 電 影 有 還 無 萬 木 春 禜 秋 又 枯 任 運 盛 衰 無 怖 畏 盛 衰 如 露 草 頭 鋪 “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thạnh suy như lộ thảo đầu phô”. “Thân như bóng chớp có rồi không Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi Thạnh suy như cỏ hạt sương đông”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 萬 金 (1327-1373). Còn gọi: Lực Kim. Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Diêu, tự Tây Bạch, hiệu Thông Viên, Bạch Am Thiền Sư, người ở huyện Ngô (nay là Tô Châu) Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở nhỏ, chuyên nghiên cứu về ý chỉ Tam quán Thập thừa của tông Thiên Thai, nắm được chỗ then chốt. Sau đó, sư hâm mộ thiền pháp, đến Kính Sơn tham yết Hổ Lâm Cổ Đỉnh Danh Công, ngay dưới lời nói khế ngộ, nối pháp ngài và được ngài phân tòa thuyết pháp. Niên hiệu Chí Chính thứ 17 (1357), sư trụ trì chùa Thụy Quang ở Tô Châu, lại dời về chùa Thiên Ninh ở Gia Hưng (nay thuộc Chiết Giang), đạo đức vang xa. Nguyên Thuận Đế ban cho sư hiệu “Viên Thông Phổ Tế Thiền Sư”. Niên hiệu Hồng Võ thứ 1 (1368) sư vâng lời vua trụ trì chùa Thiên Giới ở Nam Kinh, thường được triệu vào cung thuyết pháp, ân sủng thêm nhiều. Mùa xuân năm 1371, vua xuống chiếu triệu tập 10 vị danh tăng của 3 tông, lập pháp hội ở Chung Sơn và thỉnh sư chủ trì trai sự. Năm 1373, lập pháp hội ở Tưởng Sơn, có Minh Thái Tổ đến dự, xuống chiếu mời sư làm Chủ tịch, xiển dương nghĩa đệ nhất. ● 萬 里 崖 州. Muôn dặm Nhai Châu, ý nói cùng với thiền nghĩa cách nhau rất xa. Nhai Châu: Địa danh, nay thuộc khi vực huyện Hải Ngạn Nhai, miền Nam tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Tiết Quảng Huệ Nguyên Liễn Thiền Sư trong NĐHN q. 11 ghi: “臨 濟 兩 堂 首 座 相 見、同 時 下 喝、諸 人 且 道 還 有 賓 主 也 無?若 道 有、祇 是 箇 瞎 漢。若 道 無、亦 是 箇 瞎 漢。不 有 不 無、萬 里 崖 州。 – Trong viện Lâm Tế, hai vị Thủ tọa của nhà Đông và nhà Tây gặp nhau, đồng thời hét lên. Thử hỏi các vị là có chủ khách hay không ? Nếu nói có, chỉ là kẻ mù. Nếu nói không cũng là kẻ mù nốt. Nếu nói chẳng có chẳng không thì muôn dặm Nhai Châu.” ● 萬 里 望 鄉 關. ở ngoài muôn dặm xa xôi trông về cố hương, dụ cho cách ý chỉ Thiền rất xa. CĐTĐL q. 14 ghi: “若 馳 求 知 解 義 句。即 萬 里 望 鄉 關 去 也。 – Nếu chạy tìm tri giải nghĩa cú thì cách ý chỉ Thiền rất xa”. ● 萬 年 禪 寺. Nằm giữa vách cao dốc đứng ngọn Nhai Đỉnh, núi Cửu Hoa, tỉnh An huy, Trung Quốc. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1615) đời Minh, tăng ở Hà Bắc là Thiền Sư Vô Hà vân du đến đây kết am tranh ở dưới đình Trích Tinh gọi là “Trích Tinh Am”. Thiền Sư Vô Hà khổ nhọc tu hành nơi đây, dùng máu lưỡi và phấn vàng sao chép “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh” 81 quyển trải qua 28 năm mới xong. Vô Hà sống đến 126 tuổi mới tịch, người thời ấy gọi ngài là “Bách Tuế Công”, đổi tên am là “Bách Tuế Cung”. Tăng đồ đem di thể ngài ngồi kiết già trong cái chậu, ba năm sau mở chậu ra thấy sắc mặt không khác lúc sống, khi ấy trang sức nhục thân thành kim tượng, xây tháp thờ phụng. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 3 (1630) sắc phong là “ứng Thân Bồ tát”, và ban tên tháp “Liên Hoa Bảo Tạng”, từ đây hương khói càng thịnh. Niên hiệu Khanh Hy thứ 56 (1717) đời Thanh bị lửa thiêu hủy. Niên hiệu Khang Hy thứ 60 (1721) khởi công xây dựng lại. Niên hiệu Đạo Quang thứ 6 (1826) trùng tu, năm thứ 19 (1839) mở rộng xây dựng, đổi tên là “Vạn Niên Thiền Tự”, trở thành thập phương tùng lâm, nhục thân của Thiền Sư Vô Hà cũng được di dời đến thờ trong điện. Tự viện vào cuối đời Thanh đầu thời Dân Quốc lại nhiều lần tu sửa, mở rộng xây dựng đến quy mô ngày nay. Chùa trên dưới liền nhau, trái phải thông suốt, là một chỉnh thể kiến trúc. Trong Đại hùng bảo điện thờ tượng Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền; phía đông điện là tượng Đạt Ma ngồi, phía tây điện là khám thờ nhục thân Thiền Sư Vô Hà, trước khám có treo trướng long phụng. Nhục thân Vô Hà đầu đội mũ Ngũ Phật, thân mặc áo ca sa hồng, ngồi kiết già trên tòa Tu Di. Từ phía đông bắc điện có thể bước lên lầu. Lầu điện tựa theo thế núi mà cất, có ba dãy thiên tỉnh (giếng trời) trên dưới có 3 tầng, 4 tầng cho đến 5 tầng, xen kẻ không đều, trước sau trên dưới tầng tầng đều thông, có Thiền đường, Giới đường, Pháp đường, Trai đường, Phật đường tổng cộng 99 gian rưỡi. ● 萬 年 寺. 1. Nằm ở dưới sườn Quán Tâm, phía đông ngọn Chủ Phong, núi Nga My, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Xây dựng vào đời Đông Tấn, ban đầu tên “Phổ Hiền Tự”. Niên hiệu Càn Phù thứ 3 (876) đời Đường đổi tên là “Bạch Thủy Tự”. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) đời Tống tu sửa, đổi tên là “Bạch Thủy Phổ Hiền Tự”. Tống Thái Tông ban cho vị Trụ trì làThiền Sư Mậu Chân ca sa, mũ bảy báu, vòng báu, kinh thư, còn hạ chiếu đúc tượng đồng Bồ tát Phổ Hiền để tăng chúng lễ bái. Tượng cao 7,4m nặng khoảng 62 tấn. Hình tượng ngồi trang nghiêm, đầu đội mũ vàng Ngũ Phật, tay cầm cây Như Ý, dáng vẻ đẫy đà khoan thai. Tượng đồng nguyên đặt trong điện đường cao lớn bằng gỗ, sau điện bị lửa thiêu hủy. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 28 (1600) đời Minh xây dựng lại, điện trên tròn dưới vuông, hoàn toàn dùng gạch đá xây thành không dùng đến gỗ, đỉnh tròn có hình vòm, gọi là “Vô Lương Điện”. Đỉnh tháp sừng sững 5 tòa bạch tháp và 4 con thú kiết tường, trong điện đỉnh hình tròn xung quanh vách tường đặt ngầm khám nhỏ, thờ rất nhiều tượng Phật nhỏ bằng sắt, gọi là “Thiên Phật triều Phổ Hiền”. Về sau vua Vạn Lịch hạ chiếu mở rộng xây dựng, đem Tỳ lô điện, Tiếp dẫn diện, Quán Âm điện hợp thành một khối, gọi chung là “Vạn Niên Tự”. Năm 1946 ngoại trừ Vô Lương điện, các điện đường khác đều thành ngói vụn. Hiện có hai dãy điện vũ là do xây dựng lại vào năm 1953. Trong chùa cổ thụ cao vút, trúc xanh mọc thành bụi càng tăng thêm không khí tĩnh mịch của ngôi cổ sát. ● 2. Nằm cách huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc 35km về phía tây bắc. Thiền Sư Phổ Ngạn sáng lập vào khoảng niên hiệu Thái Hòa (827-835) đời Đường, nguyên gọi là “Bình Điền Thiền Viện”. Tám ngọn núi bao quanh chùa, đây là cổ sát nổi tiếng ở núi Thiên Thai. Đời Thanh từng tiến hành tu sửa lớn, sau bị lửa thiêu hủy. ● 萬 法 一 如. Muôn pháp bình đẳng bất nhị. Phật giáo cho rằng muôn sự vật trên thế gian chẳng phải chân thật tồn tại, đều không có sai biệt và đối lập, chân tướng bình đẳng vô nhị. Tín Tâm Minh ghi: 眼 若 不 眠、諸 夢 自 除 心 若 不 異、萬 法 一 如 “Nhãn nhược bất miên Chư mộng tự trừ; Tâm nhược bất dị, Vạn pháp nhất như”. “Mắt nếu chẳng ngủ, Các mộng tự trừ; Tâm nếu chẳng khác Muôn pháp bình đẳng bất nhị”. ● 萬 法 齊 觀. Dùng nhãn quang bất nhị để xem xét muôn sự muôn vật ở thế gian. Nhà Phật cho rằng muôn sự vật vốn không phải chân thật tồn tại, do đó không thể bảo rằng chúng sai biệt và đối lập. Tín Tâm Minh ghi: 一 如 體 玄、兀 爾 忘 緣 萬 法 齊 觀、歸 復 自 然 “Nhất như thể huyền Ngột nhĩ vong duyên Vạn pháp tề quán Quy phục tự nhiên”. “Một chữ NHƯ thể tính huyền diệu, Cùng tột bình đẳng, bặt nhân duyên đối đãi Muôn pháp được xem xét với nhãn quang bất nhị Thì tất cả trở về tự nhiên”. ● 萬 法 無 差. Còn gọi: “Vạn pháp nhất như”. Muôn pháp bình đẳng bất nhị. Mật Am Ngữ Lục ghi: “坐 見 聲 和 響 順。萬 法 無 差。舉 一 明 三。目 機 銖 兩。 – Ngồi thấy tiếng hòa vang thuận, muôn pháp bình đẳng bất nhị, bậc lanh lợi vừa thấy qua là đánh giá đúng sự việc”. ● 萬 佛 石 塔. Còn gọi: Thiền Sư Tháp. ở thôn Tây Kinh, làng Trấn Hồ, phía tây thị trấn Quang Phúc, huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Tháp xây vào niên hiệu Đại Đức thứ 10 (1306) đời Nguyên, hình vuông toàn dùng đá xanh xây cất, cao 11,4m. Cửa khổn có hình dáng ngọn lửa, trên ngạch cửa khắc đá 4 chữ lớn “Cổ tháp trùng tân”, hai bên đông tây đều khắc 4 chữ “A Di Đà Phật”. Phần trên thân tháp là tòa Tu Di xây bằng đá, hình trụ vuông, bốn mặt điêu khắc tượng Phật, phần đỉnh là mái tháp và tháp sát bằng đá. Trong tháp vách hình tròn, trên vách mặt phía bắc có khắc một tượng Phật ngồi rất lớn cao khoảng một thước Tàu, những mặt còn lại khắc những tượng Phật nhỏ cao không quá một tấc Tàu, nếp áo rõ ràng, mặt mũi phân rõ, ngồi kiết già ngay ngắn trên tòa sen úp. Mỗi tầng có 180 tượng, cộng 60 tầng thành ra 10. 800 tượng, nên gọi là “Vạn Phật Thạch Tháp”. Tháp này tự thành một thể có phong cách riêng, đối với việc nghiên cứu tạo hình nghệ thuật kiến trúc thời cổ đại Trung Quốc có giá trị rất lớn. ● 萬 佛 禪 寺. ở làng Đông Sơn, thành phố Tân Trúc, tỉnh Đài Loan, Trung Quốc, Năm 1936 Diệu Nghĩa sai hai đệ tử là Đạt Quả và Đạt Thiện đến nơi này khai sơn, ban đầu quy mô rất thô sơ. Sau năm 1956 lần lượt xây dựng thêm Đại hùng bảo điện, Trai đường, Khách phòng và hai chái nhà trái phải. Năm 1973 do Đạt Quả kế nhiệm trụ trì. ● 萬 福 寺. ở núi Hoàng Bá, huyện Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Vào niên hiệu Trinh Nguyên thứ5 (789) đời Đường Thiền Sư Chính Can ở nơi đây khai sơn cất chùa, ban đầu tên “Bát Nhã Đường”, sau đổi tên là “Kiến Phúc Thiền Tự”. Do vì ở giữa chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn, Phúc Châu và chùa Khai Nguyên ở Tuyền Châu, vân du rất tiện lợi, cao tăng vân tập, từng nhờ vào đạo tràng Thiền Tông mà nổi tiếng khắp nơi. Tương truyền Thiền Sư Hy Vận từng trụ trì chùa này. Đời Tống là thời kỳ hưng thịnh nhất, đến đời Nguyên suy vi. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 42 (1614) đời Minh, vua Thần Tông ban tạng kinh cùng tặng cho tấm biển “Vạn Phúc Thiền Tự”, xây cất lại điện đường, liền được phục hưng. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 10 (1637) Thiền Sư ẩn Nguyên trụ trì chùa này thi công một lần nữa, quy mô rộng lớn. Những văn nhân nổi tiếng đương thời như Hoàng Đạo Chu, Trương Thụy Đồ, Phạm Tước cùng với tăng trong chùa qua lại mật thiết, đàm luận thi văn và văn hóa Phật giáo. Niên hiệu Thuận Trị thứ 11 (1654) đời Thanh, ẩn Nguyên thể theo lời mời của Trụ trì chùa Sùng Phúc ở Trường Kỳ, Nhật Bản, sai tăng chúng đi sang Nhật Bản. Bảy năm sau, ở ngoại ô đông nam Tokyo xây dựng một ngôi chùa lớn, tên là “Hoàng Bá Sơn Vạn Phúc Tự”, trở thành cái nôi của tông Hoàng Bá Phật giáo Nhật Bản. Năm 1973 để kỷ niệm 300 năm ngày giỗ ẩn Nguyên, tại Nhật Bản xuất bản bộ “Hoàng Bá Văn Hóa”. Hiện Vạn Phúc Tự đã được sửa chữa mới hoàn toàn. Xung quanh chùa núi non trùng điệp có 15 ngọn núi cao, 36 cảnh đẹp như ngọn Sư tử, ngọn Hương lô, ngọn Thiên trụ v. v…đều nổi tiếng bởi phong cảnh thanh tú đẹp đẽ. ● 萬 善 同 歸 集. Sách, 3 quyển, do Diên Thọ soạn vào đời Tống, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 957. Tác phẩm này nêu lên nhiều sách tâm yếu của Thiền gia như Kinh luận, Tổ thích. Mỗi quyển đều có phần khởi đầu, đầu tiên thuật khái quát về ý nghĩa, sau đó mới dùng hình thức vấn đáp để làm sáng tỏ ý chỉ, tổng cộng gồm 114 điều. Trong ấy, điều 112 ghi: Hỏi: Những điều mà tập sách này trình bày, có danh mục gì? Đáp: Nếu hỏi về giả danh thì có đến hằng sa. Nay nói tóm lược, tên chung là Vạn Thiện Đồng Quy, chia ra làm 10 nghĩa: 1. Lý sự vô cai, 2. Quyền thật song hành, 3. Nhị đế tinh trần, 4. Tính tướng dung tức, 5. Thể dụng tự tại, 6. Không hữu tương thành, 7. Chính trợ kiêm tu, 8. Đồng dị nhất tế, 9. Tu tính bất nhị, 10. Nhân quả vô sai. Chúng ta có thể biết khái quát về sách này nhờ vào các điều đã tự nói lên được ý nghĩa của nó, nhưng trong thực tế ghi chép không nhất định phải theo thứ tự kể trên. Phần đầu của quyển thượng nói về nghĩa Lý sự tương tức, muôn hạnh do tâm v. v… Kế đến là 33 câu hỏi đáp, giải thích về ý này. Phần đầu của quyển trung là chỉ bày tóm tắt cách tu thực tiễn các Ba La Mật, sau đó là 27 câu hỏi đáp để giải thích về ý này. Phần đầu của quyển hạ nêu lên đường lối của diệu hạnh viên mãn rồi dùng 54 câu hỏi đáp để trình bày và phân tích ý nghĩa của nó. Toàn sách tuy lấy việc tuyên dương thiền chỉ làm chính, song đã dung hợp tư tưởng các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ; tùy nơi trong sách ta thấy được chỗ trích dẫn rất nhiều kinh sách của các tông kể trên để làm căn cứ. ● 萬 歲 寺. ở núi Cửu Tiên, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Nguyên là tháp 7 tầng do Lang Nha Vương là Vương Thẩm Tri xây cất vào niên hiệu Thiên Hựu thứ 1 (904) đời Đường Mạt, ban đầu gọi là “Báo Ân Định Quang Tháp”, đầu niên hiệu Khai Bình (907-910) đời Hậu Lương đổi tên là “Vạn Thọ Tháp Tự”. Niên hiệu Hy Ninh thứ 8 (1075) đời Tống kiến lập “Thiên Thu Đường”. Vương Thẩm Tri từng đưa ra nhiều của cải để xây cất chùa chiền, vừa cất giữ Đại Tạng kinh hơn 5000 quyển. Mỗi ngày ông đều tổ chức buổi trai hội lớn long trọng, những vị cao tăng trong thiền lâm đương thời như Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Huyền Sa Sư Bị, An Quốc Hoằng Thao, An Quốc Huệ Cầu đều tham dự hội này. ● 萬 松 老 人. Thiền tăng Hành Tú sống vào khoảng đời Kim Nguyên. Sư xây dựng Vạn Tùng Hiên ở Hình Châu (nay là huyện Hình Đài, tỉnh Hà Bắc), nghiên cứu thiền học, giảng dạy và thu nhận học trò, nhân đó có hiệu là “Vạn Tùng Lão Nhân”. X. Hành Tú. ● 萬 松 老 人 塔. Tháp gạch nằm ở phía Tây khu Tây thành, thủ đô Bắc Kinh. Vào thời Kim, Nguyên, Cao tăng Thiền Tông là Vạn Tùng Hành Tú được an táng tại nơi này nên người thời ấy xây tháp kỹ niệm. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 33 (1605) đời Minh, niên hiệu Càn Long thứ 18 (1753) đời Thanh đều phụng sắc trùng tu. Năm 1926, ông Diệp Cung Xước chủ trì trùng tu tháp gạch, và trước tháp ông xây thêm một tòa cửa gạch nhỏ và tiền điện. Tháp cao khoảng 5m6, hình bát giác bảy cấp mái liền kề. Dưới vành tháp không bày ra thanh đỡ mái che, vành tháp làm theo lối chồng khít. Đỉnh tháp là đỉnh ngói rỗng hình bát giác nhọn, phần trên đỉnh ngói là tòa tháp hai tầng hình bát giác bằng ngọc quý làm thành. Ngói tháp này xinh xắn tinh vi, giản dị không hoa hòe, đặc biệt đoan trang. Đường viền của vành tháp đơn giản khiến toàn tháp thêm phần thanh tú phẳng đứng. Đời Minh, ông Lưu Mộng Khiêm làm bài thơ Vạn Tùng Lão Nhân Tháp. “Rõ ràng di tháp còn Trải qua buổi nhiễu hương Dây leo quấn quanh tháp Vi vút tiếng thông đàn, Truyền đăng qua Phật Tổ Lưu lại cho cháu con Không đọc Thung Dung Lục Đâu biết lão Túc tôn”. ● 萬 松 寺 塔. ở phía bắc chùa Thiên Thành, núi Bàn Sơn, huyện Kế, thành phố Thiên Tân, Trung Quốc. Nguyên gọi là “Lý Tịnh Am”, tương truyền là do danh tướng đời Đường Lý Tịnh sáng lập, sau đổi tên là “Vạn Tùng Tự”. Chùa bị phá hủy vào thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, hiện còn hai tòa cổ tháp. Một tòa là tháp Thiền Sư Thái Bình xây vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 43 (1615) đời Minh; một tòa là tháp Thiền Sư Phổ Chiếu xây vào khoảng niên hiệu Khang Hi (1662-1722) đời Thanh. Hai tòa tháp này ruột đặc, xây bằng gạch, chấn song cửa sổ điêu khắc tinh tế. Tương truyền ở phía tây chùa có ngọn núi Vũ Kiếm là đài múa gươm của Lý Tịnh, có đề bảng “Lý tùng giản lai du”. ● 往. Tạ thế. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “師 自 咸 通 十 年 己 丑 歲 三 月 一 日 剃 髮 被 衣、令 擊 鐘、儼 然 而 往、大 眾 號 慟。 – Ngày mồng một tháng ba năm Kỷ sửu, niên hiệu Hàm Thông thứ 10 (869), sư cạo tóc đắp y, sai nguời đánh chuông rồi nghiêm trang tạ thế; đại chúng kêu khóc xót thương”. ● 文 矩 (?-897). Thiền tăng đời Đường, họ Hoàng, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Ban đầu sư làm lính canh ngục. Sau yết kiến Thiền Sư Đàm Không, được ngài cạo tóc cho nhưng không mặc áo ca sa, không thụ giới cụ túc, thường mặc áo choàng nhiều màu sặc sỡ, giả điên ngoài đường phố, có lắm điều linh dị, người đời không thể lường được sư. Sư ở Quốc Hoan Sùng Phúc viện tại Tuyền Châu. ● 文 悦 (997-1062). Thiền tăng đời Tống, họ Từ, người Hồng Châu (Nam Xương, Giang Tây) Trung Quốc. Năm 7 tuổi sư cạo tóc nơi chùa Long Hưng, 19 tuổi du phương các nơi, đến Quân Châu (Cao An, Giang Tây) tham kiến Thiền Sư Đại Ngu Thủ Chi, hầu hạ tám năm được nối pháp. Thủ Chi tịch, lại du phương tham yết Huệ Nam viện Đồng An, lãnh chức Thủ tọa. Lần lượt trụ chùa Thúy Nham, chùa Pháp Luân ở Hành sơn, dời sang Vân Phong, đời gọi là “Vân Phong Văn Duyệt”. Sư thuyết pháp 40 năm, đệ tử ở khắp nơi. Có Ngữ Lục 2 quyển lưu hành nơi đời. ● 文 喜 (821-900). Thiền tăng đời Đường, họ Chu, người Ngữ Khê, Gia Hòa (đông nam Sùng Đức, Chiết Giang) Trung Quốc. Năm 7 tuổi sư theo Quốc Thanh chùa Thường Lạc nơi bản ấp cạo tóc xuất gia, đến chùa Khai Nguyên ở Việt Châu (Thiệu Hưng, Chiết Giang) học kinh Pháp Hoa. Khi vua Võ Tông hủy Phật, sư trở lại thế gian mà vẫn giấu kín chí xuất trần. Đầu năm Đại Trung (847-859) sám hối xin xuất gia lại. Niên hiệu Hàm Thông thứ 3 (862) đến Viện Quán Âm ở Hồng Châu (Nam Xương, Giang Tây) tham kiến Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, đốn liễu tâm khế liền nối pháp làm truyền nhân tông Quy Ngưỡng, nhận chức Điển tọa. Niên hiệu Quang Khải thứ 3 (887) Quan mục Hàng Châu là Tiền Lưu thỉnh sư về ở dinh thự Long Tuyền (viện Từ Quang). Sau khi Tiền Lưu xưng vương, ban tặng cho tử y, ban hiệu “Vô Trước Thiền Sư”. ● 文 益 (885-958). Thiền tăng đời Ngũ Đại, Tổ của tông Pháp Nhãn, họ Lỗ, người Dư Hàng (Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư xuất gia, 20 tuổi thụ giới tại chùa Khai Nguyên, Việt Châu (Thiệu Hưng, Chiết Giang). Lại đến chùa Dục Vương ở Mậu Sơn (phía đông huyện Ngân, Chiết Giang) học luật với Luật sư Hi Giác, cùng tìm hiểu Nho điển, được khen ngợi là Tử Du, Tử Hạ của nhà Phật. Lại theo Trường Khánh Huệ Lăng học thiền pháp, song không khế ngộ. Sau theo hầu Thiền Sư Quế Sâm viện La Hán ở Chương Châu (Chương Phố, Phúc Kiến) nối pháp ngài. Khi ra hoằng pháp sư trụ trì viện Sùng Thọ ở Lâm Xuyên (Giang Tây). Tuổi già, sư truyền pháp tại viện Thanh Lương, Kim Lăng (Nam Kinh), nhân đó xưng là “Thanh Lương Văn Ích”. Môn nhân rất đông, kẻ học đạo cả ngàn người. Nam Đường Chủ lễ sư làm thầy, ban hiệu “Tịnh Huệ Đại Sư”. Sư sáng lập tông Pháp Nhãn chịu ảnh hưởng sâu xa tông Hoa Nghiêm. Sau khi mất, Nam Đường Trung Chủ ban thụy “Đại Pháp Nhãn Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp có Đức Thiều, Văn Toại v. v… 63 người. Tác phẩm: Tông Môn Thập Quy Luận. Ngôn Hạnh thu góp lại làm thành quyển Kim Lăng Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư Ngữ Lục. ● 文 欽. Thiền tăng đời Ngũ Đại, tham học nơi Thiền Sư Bảo Phúc Tùng Triển, đắc ngộ và nối pháp Ngài. Khi ra hoằng pháp sư trụ viện Báo Từ ở Phúc Châu. Sư giỏi thơ văn, nổi tiếng một phương. ● 文 義. Thiền tăng đời Ngũ Đại, sư thờ Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến làm thầy và đắc pháp với Ngài. Khi ra hoằng pháp, sư trụ Long Sơn, Phúc Châu. Có một vị tăng hỏi: Thế nào là Nhân vương? Sư đáp: Oai phong mọi người đều sợ. Tăng hỏi tiếp: Thế nào là Pháp vương? Sư đáp: Một câu ban ra được mọi người thực hành. ● 文 果. Thiền tăng đời Thanh, pháp danh Siêu Quỹ, hiệu Luân Am, là cháu của Văn Trưng Minh ở Trường Châu (nay là Tô Châu) Trung Quốc. Năm 17 tuổi Sư còn là cư sĩ ở chùa Linh Nham tham vấn ngài Thối Ông Hoằng Trữ, có tỉnh. Sau đó sư tòng quân, ở núi Hạ Lan săn bắn, chợt gặp ngài Tuyết Nham Như Ngân, bỗng nhiên tỉnh ngộ. Hoằng Trữ sắp tịch, gởi kệ truyền pháp cho sư làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sư từng trụ các nơi: Chùa Đại Năng Nhân ở Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang). Chùa Chiêu Giác ở Thành Đô. Viện Văn Thù ở Vân Nam. Chùa Linh Nham ở Ngô Giang (nay thuộc Giang Tô). Trong niên hiệu Khang Hy, sư vâng chiếu trụ chùa Phổ Đà, núi Ngọc Tuyền, rồi dời đến vườn Trừng Tâm của chùa Cổ Hoa Nghiêm. Về già, sư trở về Nam Trung, từng hiệu duyệt Ngũ Đăng Toàn Thư. Sư thị tịch lúc trên 70 tuổi. ● 文 載 (1452-1524). Thiền tăng đời Minh, tự Nguyệt Chu, hiệu Hư Bạch, người Úy Châu (huyện Úy, Sơn Tây) Trung Quốc. Năm 12 tuổi sư xuất gia. Sau khi thụ giới cụ túc, bế quan tham thiền, đọc Vạn Tùng Ngữ Lục chợt tỏ ngộ tông chỉ Tào Động, bèn xuất quan tham kiến Thiền Sư Khả Trừng trình bày kiến giải được ấn chứng. Niên hiệu Hoằng Trị thứ 15 (1502) sư khai pháp nơi chùa Hoa Nghiêm, Đăng Phong (Hà Nam). Niên hiệu Chính Đức thứ 1 (1506) phụng sắc kế tục trụ trì tổ đình Thiếu Lâm 16 năm, môn nhân cả ngàn người. Hậu nhân gọi sư là “Tung Thiếu Tổ”. Tác phẩm: Động Sơn Tự Dư. ● 文 才 (1273-1352). Thiền tăng đời Nguyên, họ Diêu, tự Thuần Chuyết, người xứ Bình Dương, Sơn Tây, Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Phúc Ngộ ở Thiếu Thất, đời thứ 23 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Thiếu Lâm, Có Ngữ Lục truyền lại đời. ● 文 勝 (?-1026). Thiền tăng đời Tống, họ Lưu, người xứ Vụ Châu (nay là huyện Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé xuất gia, sau khi thụ giới sư đến núi Vân Cư ở Hồng Châu (nay là huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây) tham vấn Thiền Sư Đạo Tế, tông Pháp Nhãn. Một hôm, Đạo Tế hỏi: Kẻ chẳng cùng muôn pháp làm bạn, thử hỏi là người nào? Sư do đây khế ngộ, nối pháp ngài. Sau đó sư trụ Nam viện, chùa Linh ẩn tại Hàng Châu hoằng dương thiền pháp. Về già sư lui về ở ẩn nơi am Hưng Khánh tại Hàng Châu. Niên hiệu Thiên Thánh thứ 4 (1206) vua xuống chiếu gọi sư trụ trì chùa Từ Hiếu, nhưng sư vùa đi đến Sở Châu (nay là huyện Hoài An, tỉnh Giang Tô) thì thọ bệnh và qua đời. Thự hiệu: Từ Tế Thiền Sư. ● 文 述 (1296-1373). Thiền tăng đời Nguyên, họ Tôn, tự Vô Tác, người xứ từ Khê (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở bé theo nghiệp Nho. Năm 18 tuổi sư xuất gia, du phương đến các chùa nổi tiếng, đều được các bậc Tôn túc khen ngợi. Sư tham học nơi Thiền Sư Quái Thạch Kỳ và đắc pháp, được ngài cho giữ chức Ký thất. Hành Tuyên Chính Viện xuống chiếu bảo sư trụ chùa Hộ Thánh ở núi Đại Mai, chấn hưng lại sự suy đồi, chỉnh lại thanh quy khiến sư càng nổi tiếng. Vua ban cho sư hiệu “Giác Trí Viên Minh”. ● 文 邃 (915-990). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Lục, người Hàng Châu, Trung Quốc. Xuất gia từ thuở nhỏ, tu học cả thiền giáo. Từng chú kinh Lăng Nghiêm, trình lên Thiền Sư Thanh Lương Văn Ích cầu xin sửa chữa. Văn Ích đem “nghĩa bát hoàn” hỏi: Ban ngày hoàn cái gì? Sư bối rối không đáp được, bèn đốt trụi bản chú giải kia, từ đây hết lòng tin phục thỉnh ích, mới quên hết tri giải mà nối pháp làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Ban đầu ở viện Chỉ Quán, Kiết Châu (Kiết An, Giang Tây) niên hiệu Càn Đức thứ 2 (964) dời qua chùa Trường Khánh, sau đó dời sang chùa Báo Từ ở Kim Lăng (Nam Kinh). Nam Đường Chủ ban hiệu “Lôi Âm Giác Hải Đại Đạo Sư”. ● 文 琇 (1345-1418). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, tự Nam Thạch, người Côn Sơn (Giang Tô) Trung Quốc. Nho Phật gồm tu, tông thuyết đều diệu. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 4 (1371) tại chùa Linh Nham ở Tô Châu yết kiến Thiền Sư Hạnh Trung được ấn chứng. Khi ra hoằng pháp trụ chùa Phổ Môn ở huyện Ngô (Giang Tô), dời sang chùa Linh Nham, chùa Vạn Thọ ở Tô Châu. Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) sư vâng chiếu biên soạn “Vĩnh Lạc Đại Điển”, ở lại kinh ba năm. Sau đó ra trụ chùa Kính Sơn ở Hàng Châu, dời sang chùa Hưng Thánh cử dương tông phong. Tác phẩm: Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên Bổ Di. ● 蚊 子 上 鐵 牛. Còn gọi: Văn Toản Thiết Ngưu. Con muỗi đậu trên con trâu sắt. Dụ cho chỗ chẳng thể mở miệng, chỗ chẳng thể nói đến được. Chương Thiền Sư Đạo Khuông trong CĐTĐL q. 21 ghi: “僧 問:如 何 是 西 來 意?師 曰:蚊 子 上 鐵 牛。 – Tăng hỏi: Thế nào là ý chỉ Tổ sư từ ấn Độ sang? Sư đáp: Con muỗi đáp trên mình trâu sắt để đốt”. ● 文 偃 (864-949). Thiền tăng đời Ngũ Đại, Tổ của tông Vân Môn, họ Trương, người Gia Hưng (Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở nhỏ đã có chí xuất trần, sư theo Chí Trừng chùa Không Chủ ở bản ấp xuất gia, lại đến Tỳ Lăng thụ giới cụ túc. Đọc khắp các kinh, nghiên cứu Tứ phần luật. Đến Mục Châu (Kiến Đức, Chiết Giang) tham kiến Đạo Minh (đời gọi là Trần Tôn Túc) sau vài năm nhận hết pháp đạo. Lại yết kiến Tuyết Phong Nghĩa Tồn y chỉ ba năm được lãnh tông ấn. Sau đó đi du phương hành cước các nơi, tham cứu huyền yếu, thanh danh nổi dần. Đến chỗ Linh Thọ Như Mẫn ở Phúc Châu làm Thượng thủ. Niên hiệu Trinh Minh thứ 4 (918) Như Mẫn tịch, kế thừa pháp tịch chủ trì chùa Linh Thọ. Niên hiệu Đồng Quang thứ 1 (923) nơi núi Vân Môn, Thiều Châu (Thiều Quan, Quảng Đông) sáng lập Quang Thái Thiền Viện, thiền lữ trong nước tụ tập, đạo phong càng sáng tỏ. Sư sáng lập tông Vân Môn, người đời gọi l “Vân Môn Văn Yển”. Dùng ba câu “bao trùm trời đất, cắt đứt các dòng, theo mòi đuổi sóng” khái quát tông chỉ, đời gọi là “Vân Môn Tam Cú”. Còn thường dùng 1 chữ để quét sạch vọng thức của kẻ học đạo nên thiền lâm gọi là “Vân Môn nhất tự quan”. Nam Hán Chủ sắc tứ “Khuông Chân Thiền Sư”, Tống Thái Tổ truy thụy “Đại Từ Vân Khuông Chân Hoằng Minh Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp có Trừng Viễn, Duyên Mật, Tử Dạng v. v… 61 người. Tác phẩm: Vân Môn Khuông Chân Thiền Sư Quảng Lục 3 quyển, Ngữ Lục 1 quyển lưu hành nơi đời. ● 雲 庵. Hiệu của Thiền tăng Khắc Văn đời Tống. X. Khắc Văn. ● 雲 庵 眞 淨 禪 師 語 錄. X. Tuyết Am Khắc Văn Thiền Sư Ngữ Lục. ● 雲 蓋 山. Núi nằm về phía nam hồ Động Đình, phía tây thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Thiền Sư Phương Hội, tổ khai sáng thiền phái Dương Kỳ, về già ở núi này. Các thiền tăng như Chí Nguyên, Chí Hãn cũng từng ở đây. ● 雲 谷. Thiền tăng đời Tống, nối pháp Thiền Sư Thạch Khê Tâm Nguyệt, thuộc tông Lâm Tế. Niên hiệu Bảo Hựu thứ 4 (1256), sư trụ chùa Thánh Thọ tại phủ Bình Giang (nay là Tô Châu). Sau đó, sư lần lượt trụ các nơi: Bản Giác Thiền Tự tại Gia Hưng (nay thuộc Chiết Giang) Khai Nguyên Thiền Tự tại Kiến Ninh (nay là huyện Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến). Vân Nham Thiền tự tại núi Hổ Khâu, phủ Bình Giang. Tác phẩm: Vân Cốc Hòa Thượng Ngữ Lục 2 quyển. ● 雲 居. Thiền tăng đời Đường, nối pháp Thiền Sư Phật Quật Duy Tắc. Sư từng trụ chùa Vân Cư trên núi Thiên Thai, tuyên dương thiền pháp của thầy mình. Tác phẩm: Tâm Cảnh Bất Nhị Thiên, Vân Cư Tập (còn gọi: Phổ Trí Tập). ● 雲 居 道 應膺. Thiền tăng Đạo Ưng sống vào đời Đường, ở núi Vân Cư giảng thiền trên 30 năm, người đời gọi sư là “Vân Cư Đạo Ưng Thiền Sư”. X. Đạo Ưng. ● 雲 居 山. 1. Núi nằm ở phía tây nam thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Trên núi có chùa Vân Cư Thánh Thủy. Khoảng niên hiệu Nguyên Hựu (1086-1093) đời Tống, Phật ấn Liễu Nguyên mới lập am Vân Cư; đến đời Nguyên, Trung Phong Minh Bản lập riêng ra chùa Thánh Thủy. Niên hiệu Hồng Võ thứ 24 (1391) đời Minh, hai chùa nhập lại làm một, Vua ban bảng hiệu là “Vân Cư Thánh Thủy Tự”. ● 2. Núi thuộc tỉnh Giang Tây, nằm cách huyện Vĩnh Tu 17km về phía tây nam. Núi này cao chớn chở, trên đỉnh thường có mây chắn ngang nên gọi là Vân Cư. Tương truyền Âu Ngập đắc đạo tại núi này nên còn gọi là Âu Sơn. Trên núi có chùa Vân Cư, bia đá cổng Triệu Châu, hang núi khắc chữ hồ Minh Nguyệt, bia đá Đàm Tâm. ● 雲 居 聖 水 寺 志. Chí, 6 quyển và 1 quyển bổ di, do Minh Luân soạn vào đời Thanh, có bản in vào đời Thanh. Toàn chí chia ra làm 11 bộ loại: Hình thắng, Kiến trí, Tổ sư, Kỳ túc, Kiều ngụ, Linh dị, Cổ tích, Đề vịnh, Pháp phổ, Tán kệ, Thanh quy, cuối cùng phụ phần bổ di. ● 雲 居 寺. Còn gọi: Phi Bạch Tự, Chân Như Tự, Long Xương Tự. ở trên núi Vân Cư, huyện Vĩnh Tu, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Do Đạo Dung xây dựng vào niên hiệu Nguyên Hòa thứ 8 (813) đời Đường, khoảng niên hiệu Trung Hòa (881-884) Chung Vương ban cho tấm biển “Long Xương Thiền Viện”. Khoảng niên hiệu Đại Trung Tường Phù (1008-1016) đời Tống được ban tên “Chân Như Thiền Viện”. Sau bị phế hủy. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh xây dựng lại, từng được sắc tứ tượng Phật, hòm kinh, bức hoành. Thiền Sư Đạo Ưng trụ nơi đây cử dương tông phong Tào Động, Đạo Giản, Hoài Nhạc, Phật ấn Liễu Nguyên cũng từng trụ chùa này. ● 雲 門. 1. Thiền Sư Văn Yển sống vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại, trụ Vân Môn Sơn, Thiều Châu, nhân đó có hiệu là Vân Môn. X. Văn Yển. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Tông Cảo sống vào đời Tống. X. Tông Cảo. ● 雲 門 匡 眞 禪 師 廣 錄. Còn gọi: Đại Từ Vân Khuông Chân Hoằng Minh Thiền Sư Ngữ Lục, Vân Môn Văn Yển Thiền Sư Quảng Lục, Vân Môn Quảng Lục. Ngữ Lục, 3 quyển, do Vân Môn Văn Yển soạn vào đời Đường, Thủ Kiên biên, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 544. Sách này thu thập Pháp ngữ, Kệ tụng v. v… của Thiền Sư Vân Môn Văn Yển. Cơ phong của Vân Môn Văn Yển cao vút, hay lạ, dụng ngữ giản dị trong sáng mà bất ngờ, hiển bày tông phong siêu việt. Các tắc “Vân Môn lộ trụ”, “Vân Môn càn thỉ quyết” trong sách này khiến cho mọi người cảm thấy thích đọc. Phần hành lục của quyển hạ là truyện ký chân thật của thiền sư do Tập hiền điện Lôi Nhạc soạn. Cuối quyển có phụ lục “Tụng Vân Môn Tam Cú Ngữ” 8 bài tụng còn sót lại của Duyên Mật (đệ tử Vân Môn). ● 雲 門 麥 浪 懷 禪 師 宗 門 設 難. X. Tông Môn Thiết Nạn. ● 雲 門 三 句. Ba câu nói của Vân Môn khái quát được tư tưởng thiền pháp và phương pháp tiếp hóa người học của tông Vân Môn. Đó là: 1. Hàm cái càn khôn: Muôn vàn sự vật đều là diệu thể chân như. 2. Tiệt đoạn chúng lưu: Chặt đứt con đường ngôn ngữ, trừ dẹp cơ dụng của vọng niệm phân biệt. 3. Tùy ba trục lãng: Khi ứng cơ tiếp vật, căn cứ vào trình độ của họ mà sử dụng thủ đoạn tiếp dẫn khác nhau. Kỳ thực, ba câu này là do sư Duyên Mật (đệ tử của Vân Môn) tổng hợp giáo thuyết của ngài rồi khát quát thêm mà thành. Tiết Ô Cự Đạo Hành Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “臨 濟 三 玄、雲 門 三 句、洞 山 五 位。癡 人 面 前、不 得 說 夢。 – Tam huyền của Lâm Tế, Tam cú của Vân Môn, Ngũ vị của Động Sơn, trước mặt người mê chẳng nên nói mộng”. ● 雲 門 天 子. Phong thức tiếp hóa người học của tông Vân Môn giống như chiếu sắc của Thiên tử (nhà vua), một phen đưa ra liền quyết định được muôn cơ, chẳng được hỏi đi hỏi lại, chẳng cho phép người học do dự chút nào hết. Đây là thí dụ để chỉ gia phong của tông Vân Môn. ● 雲 門 宗. Một trong năm tông phái của Thiền Tông Trung Quốc, thuộc hệ Thanh Nguyên. Người sáng lập là thiền sư Văn Yển, sống vào cuối đời Đường – đầu đời Ngũ Đại (864-949), vì ngài trụ núi Vân Môn tỉnh Quảng Đông nên gọi là Vân Môn tông. Tông này lấy “Vân Môn tam cú” (Ba câu của Vân môn) là: Bao trùm trời đất, chặt đứt các dòng, Theo mòi đuổi sóng và “Nhất tự thiền” (Thiền một chữ) làm phương tiện tiếp dẫn người học, cao chót vót, hiểm trở, không dễ lãnh hội. Vào đời Ngũ Đại, Bắc Tống, Tông Vân Môn rất hưng htịnh, đến đời Nam Tống dần dần suy vi, vào sau đời Nguyên thì chìm mất, không nghe nói đến. Pháp mạch của tông này kéo dài khoảng 200 năm. Tiết Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL ghi: “雲 門 宗 格 別 縱 擒、言 前 定 奪、稱 提 三 句 關 鍵、拈 掇 一 寺 機 鋒、截 斷 眾 流、聖 凡 無 路。人 咸 謂 其 孤 危 聳 峻、難 乎 湊 泊、非 上 根 利 器、不 是 以 窺 其 仿 佛。 – Tông Vân Môn đặc biệt tha bắt, định đoạt trước khi mở miệng, nêu lên then chốt “ba câu”, đưa ra cơ phong ›một chữ‹, chặt đứt các dòng, không còn lối thoát nẻo phàm. Mọi người đều nói tông ấy cao vút, hiểm trở, rất khó khế hợp. Nếu chẳng phải là bậc thượng căn lợi khí, hình như không thể ghé mắt đến. “ ● 雲 門 寺. Chùa ở chân núi Vân Môn, nằm cách ngoại thành huyện Nhũ Nguyên (khu tự trị của dân tộc Dao), tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc 6km. Là cái nôi của tông Vân Môn. Vào niên hiệu Đồng Quang thứ 1 (923) triều vua Hậu Đường thời Ngũ Đại, ngài Văn Yển là Tổ tông Vân Môn xây dựng Quang Thái Thiền Tự ở nơi đây, thiền tăng đông đảo, môn phong cực thạnh. Chính ngài lấy tên núi để đặt tên cho tông phái. Về sau chùa được đổi tên là Chứng Chân Tự, Đại Giác Tự, Vân Môn Tự. Hiện tại chùa vẫn còn là nhờ ngài Hư Vân quyên góp trùng tu từ năm 1943 đến năm 1950. Vách trong cổng chùa hiện còn 2 tấm bia cổ: 1. Đại Hán Thiều Châu Vân Môn Sơn Quang Thái thiền viện cố Khuông Chân đại sư Thật Tính bi (Bia Thật Tính của cố đại sư Khuông Chân ở thiền viện Quang Thái, núi Vân Môn, Thiều Châu, nước Đại Hán) được dựng vào niên hiệu Đại Bảo thứ 1 (958) đời Nam Hán. 2. Đại Hán Thiều Châu Vân Môn sơn Đại Gíác thiền tự Đại Từ Vân Khuông Thánh Hoằng Minh đại sư bi ký. (Bia ghi về tiểu sử đại sư Đại Từ Vân Khuông Thánh Hoằng Minh ở Đại Giác thiền tự, núi Vân Môn, Thiều Châu, nuớc Đại Hán), vào niên hiệu Đại Bảo thứ 7 (964). Trước chùa có núi Quán Âm, sau chùa có đầm Hoa Quế, hang Cửu Tiên, đá Chung Cổ là những cảnh đẹp thiên nhiên. ● 雲 臥 紀 談. Còn gọi: Cảm Sơn Vân Ngọa Kỷ Đàm. Bút ký, 2 quyển, do Trọng Ôn Hiểu Oánh viết vào đời Tống, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 148, trang 1. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162), Hiểu Oánh ở ẩn trong am Vân Ngọa, Cảm Sơn Khúc Giang Phong Thành (nay thuộc tỉnh Giang Tây) theo thể tùy bút ghi chép lại những lời di huấn và hành vi siêu thoát của các bậc Tôn túc khắp nơi, lời hay hạnh tốt của giới quan lại trí thức, hễ gặp sự việc gì có thể giúp cho việc tu hành cảnh sách, làm gương mẫu cho người học thì sư đều thu thập. Nội dung gồm 90 điều như: Từ Phú Bật tụng thư, Tú Tử Chi văn, Đông sơn cát đến Tô Thức nạp y, Vô Trước Đạo Nhàn, Chính Thư ký thi v. v… Cuối quyển có phụ “Vân Ngọa Am Chủ Thư” ghi lại cơ duyên vấn đáp giữa Đại Huệ Tông Cảo (Thầy của Sư) với người học. ● 雲 外. Hiệu của Thiền tăng Tính Đôn đời Thanh. X. Tính Đôn. ● 雲 巖 寺. ở phía đông nam huyện Du, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Thiền Sư Đàm Thạnh đời Đường là người khai sơn. Người khai sáng tông Tào Động là Lương Giới từng tu tập nơi đây và được tâm ấn của Đàm Thạnh. ● 雲 峰 (?-956). Thiền tăng đời Ngô Đinh, thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đời thứ 3, nối pháp Thiền Sư Thiện Hội. Sư họ Nguyễn, quê ở Từ Liêm quận Vĩnh Khương (nay thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây), miền Bắc Việt Nam. Khi mẹ mang thai sư, thường trai giới tụng kinh, lúc sinh ra có hào quang chiếu sáng cả nhà. Bởi cha mẹ nhận thấy sự kinh dị ấy nên cho sư đi xuất gia. Đến lớn, sư theo hầu Thiền Sư Thiện Hội ở Siêu Loại. Sư thuộc hàng cao đệ, được thầy truyền dạy thiền yếu, nối pháp Thiện Hội, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 3. Sau, sư trụ trì chùa Khai Quốc trong kinh đô Thăng Long. Đến niên hiệu Hiển Đức thứ 3 (956) đời Châu, sư thị tịch. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 雲 峰 文 悦. Thiền tăng Văn Duyệt đời Tống, trụ Vân Phong tại Hành Sơn, thuyết pháp 40 năm, đệ tử rất nhiều, người đời gọi sư là Vân Phong Văn Duyệt. X. Văn Duyệt. ● 雲 棲 袾 宏. Thiền tăng Liên Trì (tên Châu Hoằng) sống vào đời Minh, ở chùa Vân Thê tại Hàng Châu thuyết pháp, người đời gọi sư là “Vân Thê Châu Hoằng”. X. Liên Trì. ● 雲 棲 山. Núi ở phía tây Ngũ Vân Sơn, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Trên núi vốn có 3 chùa: Chân Tế, Vân Thê, Thiên Trì. Về sau chỉ còn 1 chùa Vân Thê, nhờ Đại sư Liên Trì Châu Hoằng ở đây vào đời Minh nên chùa nổi tiếng. Ban đầu do trên đỉnh Ngũ Vân Sơn có đám mây ngũ sắc bao phủ, nên gọi là Vân Thê Sơn. Niên hiệu Càn Đức thứ 5 (976) đời Tống, có vị tăng Đại Thiên Chí Phùng kết am ở; trong núi có lắm cọp, nhưng khi Chí Phùng đến, cọp đều chịu phục, nên người đời gọi sư là “Phục Hổ Thiền Sư”. Ngô Việt Vương cất chùa Vân Thê cho sư ở. Niên hiệu Trị Bình thứ 2 (1065) đời Tống, chùa được đổi tên là Thê Chân Viện. Về sau, dùng lại tên Vân Thê Tự. ● 雲 霄 庵. Tên chùa trên núi Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh, miền Bắc Việt nam. Vì chùa này nhỏ nên gọi là am. Chùa nằm trên đường từ chùa Hoa Yên lên đỉnh núi Yên Tử. Vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, lấy pháp hiệu Điều Ngự Giác Hoàng và trụ trì ở chùa Hoa Yên. Điều Ngự thường đến chùa Vân Tiêu để ngồi thiền và tiếp các học trò của mình. Sau khi Ngài mất, hàng tháng các vị tăng thường đến am Vân Tiêu dâng hương lễ Phật rồi xuống nghỉ ở chùa Hoa Yên. ● 雲 岫 (1242-1324). Thiền tăng đời Nguyên, họ Lý, tự Vân Ngoại, biệt hiệu Phương Phẩm, người xứ Xương Quốc (nay là huyện Định Hải tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Sư nối pháp ngài Trực Ông Đức Cử, thuộc tông Tào Động, từng trụ các chùa: Thạch Môn, Tượng Sơn, Trí Môn, Thiên Ninh, Thiên Đồng. Sư rất có biện tài, nhiều người từ Nhật Bản, Triều Tiên hâm mộ danh tiếng sư, tìm đến thưa hỏi. Tác phẩm: Ngữ Lục, Thi Kệ v. v… ● 雲 煙 寺. Còn gọi: Hoa Yên tự. Tên chùa Hoa Yên ngày xưa. Là chùa Tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên tử. Đời Hậu lê, vua Lê Thánh Tông đến thăm chùa, thấy sân chùa đầy hoa, bèn đổi tên là Hoa Yên. ● 問. Hướng về (giới từ), nhằm vào. Vân Môn Quảng Lục, q. trung ghi: “南 泉 水 牯 牛。隨 處 納 些 些。你 道 在 牛 內 納 牛 外 納。直 饒 你 向 這 裡 說 得 納 處 分 明。我 更 問 你。索 牛 在 後。 – Nam Tuyền con trâu đực, tùy phần nạp chút ít. Ngươi hãy nói ở bên trong trâu nạp hay ở ngoài trâu nạp? Dù cho ngươi hướng về chỗ này nói được chỗ nạp phân minh đi, Ta liền nhằm vào ngươi mà đòi trâu”. Chương Huyền Sa Sư Bị Đại Sư trong CĐTĐL q. 18 ghi: “汝 諸 人 如 似 在 大 海 裏 坐。沒 頭 水 浸 卻 了。更 展 手 問 人 乞 水 喫。還 會 麼? – Các ngươi giống như người ngồi ngập đầu trong biển lớn, nước lút đầu, mà còn giơ tay hướng về người khác xin nước, có hiểu chăng?” ● 問 頭. Còn gọi: Vấn Đoan. Vấn Đề. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “這 僧 致 箇 問 頭。也 不 妨 奇 特。若 不 是 趙 州。也 難 抵 對 他。 – Ông tăng này đưa ra vấn đề cũng có thể nói là lạ. Nếu chẳng phải là Triệu Châu thì khó mà đáp với hắn”. Như Tịnh Ngữ Lục ghi: “策 起 眉 毛 答 問 端、親 曾 見 佛 不 相 瞞。 – Nhíu đôi mày lại đáp vấn đề, đích thân thấy Phật chẳng dối nhau”. ● 問 過. Lời chất vấn của bậc Thầy kiến tính đưa ra nhằm thử nghiệm đối phương. Tắc 41, Bích Nham Lục (Đại 48, 179 thượng) ghi: “藥 忌 何 須 鑒 作 家(若 不 驗 過。爭 辨 端 的。遇 著 試 與 一 鑒。又 且 何 妨。也 要 問 過)。 – Thuốc kị đâu cần thử bậc tác gia. (Nếu chẳng nghiệm qua, đâu phân biệt được manh mối? Nếu gặp được thì cũng để cho ông xem xét, có ngại gì đâu? Cũng cần phải chất vấn để thử nghiệm)”. ● 問 訊. Làm lễ hỏi thăm sức khỏe. Tiết Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “師 有 時 到 山 院 寄 宿、見 老 僧 共 行 者 同 床 坐。師 放 下 衣 鉢 便 問 訊 二 人、二 人 都 不 頋 視。 – Đôi khi Sư đến sơn viện xin ngủ nhờ, gặp vị tăng già cùng hành giả đang ngồi chung một giường. Sư liền đặt y bát xuống để làm lễ hỏi thăm sức khỏe mà hai vị chẳng để ý đến”. ● 問 禪. Còn gọi: Vấn Thoại. Hỏi đáp về việc tham thiền. Từ đời Tống về sau, mỗi khi đàn việt hoặc quan chức đến thiền viện thỉnh Trụ trì thăng tòa thuyết pháp; trong chúng đặc biệt cử ra 1 vị tăng để chất vấn vị Trụ trì về việc tham thiền (vị tăng chất vấn này được gọi là Thiền khách). Môn Chức Vị trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên ghi: “蓋 官 人 入 寺、屢 請 陞 座 說 法、及 時 禪 客 出 眾 問 答、名 之 曰 問 禪。 – Bởi có quan chức vào chùa thường thỉnh vị Trụ trì thăng tòa thuyết pháp, đến lúc ấy vị thiền khách bước ra thưa hỏi vị Trụ trì. Sự việc này gọi là vấn thiền”. Thông thường, Thiền khách dùng văn vần để hỏi, đôi khi dùng tụng để hỏi. Về sau, loại “vấn thiền” này dần dần nghiêng về hình thức nói suông, cách xa lãnh vực hỏi đáp thiền đã có từ trước. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 問 王 老 師 作 什 麼?. Hỏi Thầy Vương làm gì? Nơi chính mình vốn sẵn có Bản lai diện mục, đâu cần phải hỏi các bậc Thầy ở bên ngoài. Tắc 21, Bích Nham Lục (Đại 48, 162 trung) ghi: “江 北 江 南 問 王 老(主 人 公 在 什 麼 處。問 王 老 師 作 什 麼。爾 自 踏 破 草 鞋)。 – Giang Bắc, Giang Nam đều thưa hỏi Thầy Vương (Ông chủ chỗ nào, hỏi Thầy Vương làm gì? Chính ngươi đã đi rách đôi giày cỏ đó mà!)” ● 勿. Không có. Tiết Đạo Tín Hòa Thượng trong TĐT q. 2 ghi: “師 乃 問 子(指 少 年 時 代 的 弘 忍)何 姓、子 答 曰:姓 非 常 姓。師 曰:是 何 姓?子 答:是 佛 性。師 曰:汝 勿 姓 也。子 答 曰:其 姓 空 故。 – Sư mới hỏi đứa bé (chỉ cho Hoằng Nhẫn lúc còn nhỏ) họ gì. Đứa bé đáp: Họ thì có mà không phải họ thường. Sư nói: Là họ gì? Đáp: Là họ Phật (Phật tính). Sư bảo: Vậy là ngươi không có họ. Đứa bé đáp: Vì họ ấy là không”. ● 勿 交 涉. Còn gọi: Vô Giao Thiệp. Không dính dáng. Chỉ cho không quan hệ đến thiền pháp, căn bản không hợp thiền pháp. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 纔 開 口。早 勿 交 渉 也。何 以 如 此。不 見 釋 尊 云:法 離 文 字。不 屬 因 不 在 縁 故。 – Ngươi vừa mở miệng, sớm đã không dính dáng. Vì sao như thế? Chẳng thấy đức Thích Tôn nói: Pháp lìa văn tự, vì chẳng thuộc nhân chẳng tại duyên”. ● 物 初. Hiệu của Thiền tăng Đại Quan đời Tống. X. Đại Quan. ● 爲 對 爲 待. Dùng nhãn quang phân biệt đối lập, tức là đem cái nhìn thông thường của tục đế để xem vạn vật, thế giới. Tiết Báo Ân Khuông Dật Thiền Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “迷 時 即 有 窒 礙、爲 對 爲 待、種 種 不 同。忽 然 惺 去、亦 無 所 得。 – Khi mê thì có trở ngại, dùng nhãn quang phân biệt đối lập, các thứ chẳng đồng. Bỗng nhiên tỉnh ngộ thì cũng vô sở đắc”. ● 爲 林 道 霈. Thiền tăng Đạo Bái tự Vi Lâm, sống vào đời Thanh, người đời gọi sư là “Vi Lâm Đạo Bái”. X. Đạo Bái. ● 爲 人. Tính cách, tính tình, vóc dáng của con người. Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “所 以 山 僧 嘗 有 頌 云:他 人 住 處 我 不 住、他 人 行 處 我 不 行。不 是 爲 人 難 共 聚、大 都 緇 素 要 分 明。 – Do đó sơn tăng từng có tụng rằng: Chỗ người khác ở ta chẳng ở. Chỗ người khác đi ta chẳng đi. Chẳng phải tính tình khó hòa hợp. Vì muốn tăng tục phải phân minh”. ● 爲 服. Từ biểu thị quan hệ lựa chọn trong câu nghi vấn. Tiết Huệ Trung Quốc Sư trong TĐT q. 3 ghi: “爲 服 是 心、爲 服 不 是 心? – Có phải là tâm, có phải không là tâm?” ● 爲. 1. Thiền Sư tiếp dẫn, dẫn dắt người học. Tông Môn Võ Khố ghi: “雪 竇 抖 擻 屎 膓 說 禪 爲 爾、爾 得 恁 麼 辜 恩 負 德? – Tuyết Đậu vắt óc nói thiền để tiếp dẫn ngươi, sao ngươi lại cô phụ ân đức như thế?” ● 2. Cho là, nhận rằng. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 且 莫 錯。道 流。爾 取 這 一 般 老 師 口 裏 語。爲 是 眞 道。是 善 知 識 不 思 議。我 是 凡 夫 心。不 敢 測 度 他 老 宿。瞎 屡 生。爾 一 生 只 作 這 箇 見 解。辜 負 這 一 雙 眼。 – Chớ có lầm lẫn! Đạo lưu! Ngươi lấy lời nói của loại Thầy này cho là chân đạo, là Thiện tri thức chẳng thể nghĩ bàn, còn mình là phàm phu chẳng dám đo lường các bậc lão túc. Đồ ngu si! Cả đời ngươi chỉ có một kiến giải này, thật là cô phụ đôi mắt này”. ● 爲 眾 持 鉢. Vì chúng trì bát. Chư tăng vì muốn duy trì sinh hoạt vật chất trong tự viện nên ra ngoài chùa hóa duyên. Tiết Khai thị Thiền nhân Thù trong MANL ghi: “回 觀 此 山。食 指 既 多。常 住 不 給。不 忍 坐 視 發 心。爲 眾 持 砵。 – Xem lại trong chùa này, số miệng ăn đã nhiều mà Thường trụ lại chẳng cấp đủ, ngồi nhìn sự việc như thế thật không chịu được, nên tôi phát tâm vì chúng trì bát”. ● 爲 人. Thiền Sư tiếp dẫn người học. Tiết U Châu Đàm Không Hòa Thượng trong NĐHN q. 11 ghi: “鎮 州 牧 有 姑 爲 尼、行 腳 回、欲 開 堂 爲 人。 – Vị quan cai quản Trấn Châu có người cô làm ni. Sau khi hành cước trở về, Sư cô này muốn thuyết pháp tiếp dẫn người học”. ● 未 在. Chẳng đúng, chẳng khế ngộ (thiền pháp). Tại (在): Trợ từ cuối câu. Tiết Vĩnh Khánh Quang Phổ Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “師 入 室 次、隱 曰:適 來 因 緣 汝 作 麼 生 會?師 曰:會 則 途 中 受 用、不 會 則 世 諦 流 布。曰:未 在 更 道。 – Sư đi vào thất, ẩn (tức chỉ thiền sư Cốc ẩn) hỏi: Nhân duyên vừa rồi ngươi làm sao hội? Sư đáp: Hội thì giữa đường thọ dụng, chẳng hội thì thế đế lưu bố. ẩn bảo: Chẳng đúng, hãy nói lại!” Tiết Ngũ Tổ Pháp Diễn Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “有 數 禪 客 自 廬 山 來、皆 有 悟 入 處。教 伊 說、亦 說 得 有 來 由。舉 因 緣、問 伊 亦 明 得、教 伊 下 語 亦 下 得。祇 是 未 在。 – Có vài thiền khách từ Lô Sơn đến. Họ đều có chỗ ngộ nhập. Bảo họ nói, họ cũng nói được nguyên do; Cử nhân duyên hỏi họ, họ cũng làm sáng tỏ được; bảo họ hạ ngữ, họ cũng hạ được. Có điều là chẳng khế ngộ (thiền pháp)”. ● 炎 天 破 絮. Chỉ cho vật vô dụng, không cần thiết. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “根 塵 既 落、則 靈 光 自 露;靈 光 既 露、則 回 視 有 義 句、無 義 句、皆 如 炎 天 破 絮 矣。 – Căn trần đã dứt thì linh quang tự bày; linh quang đã bày thì nhìn lại câu có nghĩa, câu không nghĩa đều như vật vô dụng”. ● 圓 庵. Hiệu của Thiền tăng Cư Đảnh đời Minh. X. Cư Đảnh. ● 圓 瑛 (1878-1953). Tăng nhân hiện đại, họ Ngô, pháp danh Hoằng Ngộ, biệt hiệu Thao Quang, Nhất Hống Đường Chủ Nhân, người xứ Cổ Điền, Phúc Châu, Trung Quốc. Niên hiệu Quang Tự thứ 22 (1896) đời Thanh, sư xuất gia ở chùa Dũng Tuyền, Cổ Sơn, Phúc Châu, Năm kế, sư thọ cụ túc giới nơi Hòa Thượng Diệu Liên tại chùa Dũng Tuyền. Năm 1898 sư mới vân du bốn phương, tham phỏng các bậc cao tăng trong những ngôi chùa nổi tiếng. Trước nhất đến tập thiền với ngài Dã Khai tại chùa Thiên Ninh, Thường Châu trong 5 năm. Kế đến tham thiền với ngài Kính An tại chùa Thiên Đồng, Ninh Ba trong 6 năm. Năm 1914, sư nhận chức Tham nghị trưởng của Tổng hội Phật giáo Trung Hoa. Sau đó sư từng trụ trì các nơi: Ninh Ba Thất Tháp Tự, Thiên Đồng Tự, Pháp Hải Tự, Lâm Dương Tự. Năm 1917, sư lại ra nhận chức Hội trưởng Hội Phật giáo Ninh Ba. Năm 1929, sư cùng với những người trong hội như Pháp sư Thái Hư đề xướng thành lập Hội Phật giáo Trung Quốc và sư được bầu làm Hội trưởng liên tiếp 7 kỳ. Mùa thu năm 1935, sư sáng lập Viên Minh Giảng Đường tại Thượng Hải, là đạo tràng Tịnh Độ. Năm 1945 sư sáng lập Viên Minh Lăng Nghiêm Chuyên Tông Học Viện. Năm 1953, sư được bầu làm Hội trưởng nhiệm kỳ thứ 1 của Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc. Cả đời sư chủ trương Thiền Tịnh Song Tu, đặc biệt chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm. Tác phẩm: Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, Viên Giác Kinh Giảng Nghĩa, Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa. ● 圓 音. Tiếng nói của Phật, về nội dung, vừa hợp với chân lý, vừa hợp với trình độ người nghe; về hình thức thì vừa hùng hồn, vừa êm dịu dễ nghe. ● 圓 州 仰 山 慧 寂 禪 師 語 錄. Còn gọi: Ngưỡng Sơn Tịch Thiền Sư Ngữ Lục, Trí Thông Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Huệ Tịch soạn vào đời Đường, Ngộ Phong Viên Tín và Quách Ngưng Chi biên tập vào đời Minh, được xếp vào Ngự Tuyển Ngữ Lục quyển 4 và Tục Tạng Kinh tập 119, trang 860. Bản thảo Ngưỡng Sơn Ngữ Lục đã có rất sớm, nhưng từ lâu không có người chỉnh lý, mãi đến lúc các vị như Viên Tín v. v… biên tập Ngũ Gia Ngữ Lục mới đem bản thảo này làm thành sách. Nội dung bao gồm trên 70 mục về: Hành thật, Pháp môn cơ duyên vấn đáp, Thị chúng, Du phương Ngữ Yếu v. v.. Trong ấy tinh thần đề khởi của pháp môn đều là cử dương tông phong của Quy Sơn, nên người đời thường đem Ngữ Lục này hợp chung với Quy Sơn Ngữ Lục và gọi là Phụ Tử Ngữ Lục. Ngữ Lục này được biên tập xong vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 3 (1630), được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 4 (1665). ● 圓 照. 1. Thiền tăng đời Đường, họ Trương, người Lam Điền, Thiểm Tây, Trung Quốc. Sư nối pháp thiền sư Trí Viễn, thuộc tông Hà Trạch đời thứ 6, trụ chùa Tứ Minh ở Kinh Sư. Sư tham dự soạn bộ “Tứ Phần Luật sao” theo lệnh vua, được vua ban tử y, bái làm “Lưỡng nhai Thập vọng Đại đức”. Tác phẩm: Trinh Nguyên Tục Thích Giáo Lục”. ● 2. Thiền tăng Việt Nam (999-1090), họ Mai tên Trực, quê ở Phúc Đường huyện Long Đàm (nay là huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội), là con người anh bà Linh Cảm Thái hậu (vợ vua Lý Thái Tông). Thuở nhỏ sư rất thông minh hiếu học, đến ấp Tiêu Sơn thọ giáo với Định Hương Trưởng Lão. Sư ở đây phục dịch nhiều năm để nghiên cứu sâu thiền học và nối pháp ngài thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 7. Sư thường trì kinh Viên Giác, tinh thông pháp tam quán, được ngôn ngữ tam muội, biện tài vô ngại. Về sau, sư tìm đến phía tả kinh đô Thăng Long dựng một ngôi chùa để hiệu là Cát Tường và trụ trì ở đó. Người học bốn phương tìm đến tham vấn rất đông. Sư có soạn “Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn” vua Lý Nhân Tông đưa bản thảo cho sứ thần sang Trung Hoa dâng vua Triết Tông nhà Tống. Vua Triết Tông trao cho các vị Cao tọa pháp sư ở chùa Tướng Quốc xem. Xem xong, các ngài tâu với vua Tống rằng: ― Đây là nhục thân Bồ Tát ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào. Vua Tống liền sắc sao lại một bản, bản chính trả lại cho vua ta. Sứ thần về kinh tâu lại, triều đình càng kính nể và khen thưởng sư. Kệ thị tịch: 身 如 牆 壁 已 頹 時 舉 世 匆 匆 熟 不 悲 若 達 心 空 無 色 相 色 空 隱 顯 任 推 移 “Thân như tường bích dĩ đồi thì Cử thế thông thông thục bất bi Nhược đạt tâm không vô sắc tướng Sắc không ẩn hiện nhậm suy di”. “Thân như tường vách đã lung lay, Đau đáu người đời luống xót thay. Nếu đạt tâm không, không tướng sắc, Sắc không ẩn hiện mặc vần xoay”. Tác phẩm: Tán Viên Giác Kinh Thập Nhị Bồ Tát Hạnh Tu Chứng Đạo Tràng. Tham Đồ Hiển Quyết 1 quyển. 3. Thiền viện tọa lạc tại ấp 2 xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam. Thiền viện mang tên một thiền sư Việt Nam đời Lý và do Hòa Thượng Thích Thanh Từ tạo lập vào năm 1975. Buổi đầu nơi đây chỉ là một căn trại để cho 34 ni cô tạm trú làm ruộng, rẫy; trải qua 3 lần trùng tu: 1976, 1983, 1994 chùa mới được khang trang như ngày nay. Từ cây số 73 trên quốc lộ 15 về bên trái, du khách sẽ theo một con đường đất dẫn đến thiền viện khoảng 2km. Qua cổng tam quan, du khách sẽ lần lượt tham quan: Nhà khách, Chính điện, Tổ đường, Thiền đường, nhà kho, nhà trù và khu thiền thất. Tất cả các kiến trúc trên được phân bố hài hòa trong một khuôn viên xanh mát bóng cây của vườn tược và đồng ruộng. ● 圓 照 大 師. Hiệu của Thiền tăng Thủ Khâm đời Ngũ Đại. X. Thủ Khâm. ● 圓 照 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Tông Bản đời Tống do vua Tống Triết Tông ban cho. X. Tông Bản. ● 圓 證. Thiền tăng đời Trần, Việt Nam. Sư trụ trì tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, đã đón vua Trần Thái Tông, khi vua trốn lên núi để tu. Sư đã dạy vua bằng những lời bất tử như sau: Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết thì đó là Phật thật… ● 圓 機 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Đạo Mân đời Tống. X. Đạo Mân. ● 圓 容. Dung hợp hài hòa, không còn mâu thuẫn đối lập nữa: Sinh tử tức Niết Bàn, Chúng sinh tức Phật, phiền não tức Bồ Đề. Cảnh giới của người giác ngộ, cũng chính là thuyết Trung đạo. ● 圓圓 覺 禪 師. Thụy hiệu của Tổ Bồ Đề Đạt Ma do vua Đường Đại Tông truy tặng. X. Bồ Đề Đạt Ma. ● 圓 鍳 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Pháp Viễn đời Tống. X. Pháp Viễn. ● 圓 顯 (1449-?). Thiền tăng đời Minh, họ Trần, hiệu Ngọa Vân, Tri Vi Tử; người xứ Phú An (nay là huyện Vân, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư vào chùa Huệ Sơn xuất gia. Niên hiệu Thành Hóa thứ 2 (1466) sư được cạo tóc làm tăng. Sư đọc nhiều kinh sách nhà Phật, giói hạnh tinh cần, nối pháp Thiền Sư Sở Thạch. Chẳng bao lâu sư ở am Cao Mai học đại ý các sách Luận Ngữ, Mạnh Tử do Tần Hạnh Nghĩa truyền dạy và ngâm vịnh. Niên hiệu Hoằng Trị thứ 10 (1497) sư trụ trì chùa Huệ Sơn, sưu khảo sự tích để soạn sách “Huệ Sơn Ký” gồm 20 quyển. ● 圓 學 (1053-1116). Thiền tăng đời Lý, họ Hoàng, quê làng Như Nguyệt, tu ở chùa Đại An Quốc, huyện Tế Giang (tức huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày nay), miền Bắc Việt Nam. Thuở nhỏ sư đọc hết các loại sách ngoài đời, đến năm 20 tuổi mới nghiên tầm nội điển. Nhân nghe một câu nói của Thiền Sư Chân Không mà tâm sư được mở sáng. Sư nối pháp Thiền Sư Chân Không, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 17. Suốt năm, sư chỉ khoác một áo nạp, dù mưa gió lạnh nóng. Bình bát, tích trượng chẳng rời thân, sư tùy phương giáo hóa. Cho đến việc sửa cầu, đắp đường… chẳng việc nào sư không đứng ra làm trước, rồi mới khuyến bảo người. Sư có làm bài kệ hóa duyên: 六 識 常 昏 終 夜 苦 無 明 被 覆 久 迷 慵 晝 夜 聞 鐘 開 覺 悟 懶 神 淨 剎 得 神 通 “Lục thức thường hôn chung dạ khổ Vô minh bị phú cửu mê dung Trú dạ văn chung khai giác ngộ Lãn thần tịnh sát đắc thần thông”. “Sáu thức tối tăm khổ đêm dài, Vô minh che đậy mãi mê say. Sớm tối nghe chuông lòng tỉnh giác An nhiên cõi tịnh đắc thần thông”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 圓 旭. Thiền tăng đời Minh, tự Vạn Tùng, người xứ Thông Hải (nay thuộc Vân Nam) Trung Quốc. Sư xuất gia từ bé, chuyên tinh nơi thiền lý. Khoảng niên hiệu Sùng Trinh (1628-1644) sư ở chùa Cung Trúc tại Côn Minh (nay thuộc Vân Nam). Sư cố ý bắt chước Hòa Thượng Tế Điên đời Nam Tống, thường vào quán rượu ca hát, say sưa, nói việc vị lai phần nhiều rất trúng. Sư thường nhập định ở ven đường, ngày đêm đều ngồi xếp bằng, dù trời có mưa gió nhưng sư vẫn bất động. Một hôm tắm gội, lễ Phật xong, sư nói kệ rồi thị tịch. ● 圓 寬. Thiền tăng đời Trịnh Nguyễn phân tranh. Sư là người Trung Quốc đến đàng trong vào thế kỷ 17. Khi thiền sư Việt Nam là Hương Hải còn làm Tri phủ ở Triệu Phong (Quảng Trị) năm 1652, ông đã theo học Phật pháp với vị sư Trung Quốc này. ● 圓 滿 常 照 國 師 語 錄. X. Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục. ● 圓 明 (855-990). Thiền tăng đời Tống, họ Trần, người Phúc Châu, Trung Quốc. Sư tham Quy Sơn Linh Hựu được ý chỉ, còn thỉnh ích nơi ngài Tuyết Phong. Sư từng đến núi Ngũ Đài thấy Văn Thù hóa hiện. Các chùa do sư lập ra đều lấy Văn Thù làm tên. ● 圓 銀 (?-1580). Thiền tăng đời Minh, họ Lý, người xứ Vũ Thanh (nay thuộc hà Bắc) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư hầu hạ trong cung, những khi rảnh rỗi sư lưu tâm vào Phật điển. Sư tham vấn nhiều chùa nổi tiếng ở Nam Hải, đến chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, theo ngài Vô Ngôn Đạo Công cạo tóc làm tăng. Sau đó ở ẩn nơi am Triêu Dương tại núi Thượng Phương, nghĩ rằng đường sá đến núi Thượng Phương xa xôi, khó khăn nên sư quyên góp và xây dựng Phổ Tế Thiền Tự tại Cô Sơn khẩu để tiện lợi cho khách hành hương. ● 圓 悟 (1566-1642). Thiền tăng đời Minh, họ Tưởng, tự Giác Sơ, hiệu Mật Vân, người Nghi Hưng (Giang Tô) Trung Quốc. Năm 29 tuổi sư theo Chính Truyền chùa Vũ Môn ở Long Trì xuất gia, sau đó theo thầy đến kinh đô truyền pháp, qua đỉnh núi Đồng Quan vô ý trợt té hoát nhiên đại ngộ. Chính Truyền trao cho pháp y làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sư đi du phương Cửu Hoa, Phổ Đà, Thiên Thai, khắp cả Ngô Việt. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 45 (1617) sư trụ trì chùa Long Trì, lần lượt trụ các chùa Thông Huyền, Kim Túc, Hoàng Bá, Thiên Đồng. Từng ở 6 đạo tràng, sư thuyết pháp hơn 30 năm. Phục hưng Thiên Đồng Thiền Tự làm cho tông Lâm Tế được trung hưng. Người quy y hơn ba vạn, đệ tử đắc pháp 12 người đều là những vị trụ trì các chùa nổi tiếng. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 15 (1642) sư trở về ở chùa Thông Huyền, Thiên Thai mà tịch. Đời Thanh, vua Khang Hi truy tặng hiệu “Huệ Định Thiền Sư”. Tác phẩm: Mật Vân Ngữ Lục. Tịch Vọng Cứu Lược Thuyết. ● 圓 悟 克 勤. Vua Tống Cao Tông ban cho Thiền tăng Khắc Cần đời Tống hiệu Viên Ngộ, nên người đời gọi sư là Viên Ngộ Khắc Cần. X. Khắc Cần. ● 圓 悟 佛 果 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 20 quyển, do Viên Ngộ Khắc Cần soạn vào đời Tống, nhóm Hổ Khâu Thiệu Long… biên tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 47, trang 713. Sách này được biên tập trước khi Thiền Sư Viên Ngộ Khắc Cần thị tịch 2 năm, tức vào niên hiệu Thiệu Hưng thứ 3 (1133). Nội dung bao gồm các loại Ngữ Lục trong một đời của Thiền Sư Khắc Cần như: Thượng đường, Tiểu tham, Phổ thuyết, Pháp ngữ, Niêm cổ, Tụng cổ, Kệ tụng, Chân tán, Tạp trước, Phật sự v. v.. Từ sách này chúng ta biết được tông phong Lâm Tế vào đời Tống cùng với trình độ và sự tích của thiền tăng. ● 圓 月 (1300-1378). Thiền tăng Nhật Bản, gọi đủ là Trung Nham Viên Nguyệt, niên hiệu Thái Định thứ 2 (1325) sang nhà Nguyên đắc pháp nơi Thiền Sư Cổ Lâm Thanh Mậu, Thiên Ninh Cảnh Đàm, đời thứ 23 hệ Nam Nhạc, đời thứ 6 tông Lâm Tế. Niên hiệu Chí Thuận thứ 3 (1332) sư trở về nước, trụ trì chùa Kiết Tường. Có Thi Tập, Ngữ Lục truyền lại đời. ● 圓 果 (1484-1573). Thiền tăng đời Minh, họ Đinh, tự Chỉ Viên, hiệu Huyễn Không, Hương Lâm, người xứ Trấn Giang (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Ban đầu sư giữ chức Chỉ huy sứ Vệ thủ lăng ở Phụng Dương. Sau đó bỏ quan chức cạo tóc làm tăng. Sư ở núi Ngũ Đài tụng kinh Viên Giác có tỉnh. Năm 34 tuổi, sư đến Hàng Châu, lên tuyệt đỉnh phía bắc Cao Phong, chuyên tọa thiền đến 6 năm, thông suốt trong ngoài, thấu rõ thiền pháp. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 34 (1555), sư dâng kế đánh Nhật cho Tổng đốc Hồ Tôn Hiến và đẩy lui được giặc. Về già sư đến Ngô Việt, ra hoằng pháp trụ chùa Phật Huệ ở Hàng Châu. sư rất trọng thiền luật, ngưng thần nơi vắng lặng, mỗi buổi sớm đều tụng kinh Kim Cang. Tác phẩm: Kim Cang Kinh Âm Thích Trực Giải. ● 圓 通 妙 覺 禪 師. Thự hiệu của Thiền tăng Thanh Dục đời Ngũ Đại do Ngô Việt Vương ban cho. X. Thanh Dục. ● 圓 通 明 廣 禪 師. Thiền tăng Minh Quảng đời Thanh, người đời gọi là “Viên Thông Minh Quảng Thiền Sư”. X. Minh Quảng. ● 圓 通 訥. Thiền tăng Cư Nột sống vào đời Tống, ở chùa Viên Thông, Lô Sơn, người đời gọi sư là “Viên Thông Nột”. X. Cư Nột. ● 圓 通 國 師 (1080-1151). Thiền tăng đời Lý, tục danh Nguyễn Nguyên ức, quê làng Cổ Hiền (nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông), miền Bắc Việt Nam. Sư nối pháp ngài Viên Học thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 18. Sau, sư dời về phường Thái Bạch, kinh đô Thăng Long, lập nghiệp luôn tại đây. Thế tộc làm tăng quan, cha tên Huệ Dục làm quan dưới triều Lý đến chức Tả hữu nhai Tăng lục. Sư tư chất thông minh, học hiểu đến chỗ tinh diệu, có chí xuất gia lúc còn nhỏ. Sư từng gặp Thiền Sư Viên Học chùa An Quốc và nhân đó được khế chỉ. Niên hiệu Hội Phong thứ 6 (1097), sư đậu thủ khoa kỳ thi Tam Giáo, được sung vào chức Đại văn. Đến niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa, triều đình mở khoa thi để cất nhắc kẻ có tài lớn trong thiên hạ, để bổ sung cho các chức quan vừa tăng vừa đạo còn thiếu sót, sư lại đỗ đầu. Nhà vua quá quý kính muốn đem chính sự giao phó cho sư, sư cố từ chối chẳng dám nhận. Vua bèn tiến chức Nội Cung phụng Truyền giảng pháp sư. Bấy giờ, sư tùy cơ giảng giải giáo lý, khiến người giác ngộ, Sư giải hoặc, phá ngu cho học nhân một cách chớp nhoáng, sắc bén. Những người thụ giáo nơi sư đều nổi tiếng sau này. Niên hiệu Đại Khánh thứ 3 (1112) sau khi trùng hưng ngôi chùa Diên Thọ, vua sắc sư làm bài văn bia. Vua mến phục tài, phong sư lên chức Tả nhai Tăng lục. Sư có trình bày việc trị loạn, hưng vong của đất nước; Vua nghe qua rất hài lòng, lại thăng sư chức Hữu nhai Tăng thống, Tri giáo môn công sự. Sư giữ thái độ thung dung, tuy nghiêm trang nhưng thân gần để dâng hiến lời khuyên nhủ bảo ban vua, chưa từng bê trễ thiếu sót. Niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ 5 (1137) vua sắp băng, sư có dự vào hàng Cổ mệnh thảo tờ di chiếu. Vua phó thác mọi việc cho sư. Sau, sư về làng Cổ Hiền tỉnh Nam Định lập ngôi chùa hiệu Quốc Ân trụ trì đến già. Niên hiệu Đại Định thứ 4 (1143) nhà vua vinh thăng sư chức Tả hữu nhai Tăng thống, Nội cung phụng Tri giáo môn công sự, Truyền giảng Văn chương, ứng chế hộ quốc Quốc sư và ban cho y hồng. Tác phẩm: Chư Phật Tích Duyên Sự, 30 quyển. Hồng Chung Văn Bi Ký. Tăng Già Tạp Lục, hơn 50 quyển. Viên Thông Tập, hơn 1000 bài thơ. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 圓 通 寺. Còn gọi: Đông Lâm Tự. Chùa ở chân núi phía tây Lô Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, do Nam Đường Hậu Chủ xây dựng. Lúc ấy do ngài Duyên Đức đứng ra chăm sóc việc cất chùa. Khoảng niên hiệu Khánh Lịch (1041-1048) đời Tống, Thiền Sư Cư Nột từ chùa Quy Tông dời sang chùa này, cùng với Âu Dương Tu lập ra “Thanh Tùng Xã”, làm cho thiền pháp hưng thạnh, đệ tử được 3. 000 vị. Khoảng niên hiệu Nguyên Phong (1078-1085), Vua Thần Tông ban cho bảng hiệu “Đông Lâm Tự”; ít lâu sau đổi thành “Đông Lâm Thái Bình Hưng Quốc Thiền Viện”, phái ngài Hoàng Long Huệ Nam trụ trì, giáo hóa rất thạnh. Dưới 2 đời Nguyên, Minh chùa trở thành đạo tràng Tịnh Độ, đến đời Thanh thì chùa dần dần suy đồi. Trong một bài thơ từ giã bạn bè, nhà sư Thương Hạo có làm bài thơ có đề cập đến chùa Đông Lâm như sau: “Nhất tọa Đông Lâm tự Tùng lai vi hạ san Bất nhân tầm trưởng giả Vô sự đáo nhân gian Túc vũ sầu vi khách Hàn cầm tán vị hoàn Không hoài cựu sơn nguyệt Đồng tử tụng kinh nhàn”. “Một bận lên chùa học Hôm nay mới hạ san Chẳng mong tìm trưởng giả Bởi rảnh tới nhân gian Mưa tối cho buồn khách Chim côi chửa họp đàn Nhớ hoài trăng núi cũ Lúc nhỏ tụng kinh nhàn”. (Cao Tự Thanh dịch). ● 圓 信 (1571-1647). Thiền tăng đời Minh, họ Chu, ban đầu lấy hiệu Tuyết Đình, sau đổi lại Tuyết Kiệu. Về già tự xưng Ngữ Phong Lão Nhân. Năm 29 tuổi xuất gia, hành cước bốn phương, sư tham kiến Diệu Trinh chùa Phổ Tế núi Tần Vọng có tỏ ngộ, trở về Thiên Thai tìm người ấn chứng, chợt ngẩng đầu thấy ba chữ “Cổ Vân Môn” hoát nhiên đại ngộ đến tham kiến Huyễn Hữu Chính Tuyền được ấn khả nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 43 (1615) ra hoằng pháp trụ am Thiên Chỉ ở Kính Sơn, sau trụ chùa Khai tiên ở Lô Sơn, chùa Đông Tháp ở Chiết Giang. Tác phẩm: Tuyết Kiệu Viên Tín Thiền Sư Ngữ Lục 4 quyển. ● 圓 淨 (1588-1639). Thiền tăng đời Minh, họ Lục, tự Trúc Phan, người xứ Trường Châu (nay là Tô Châu) Trung Quốc. Năm lên 9, sư theo Thiền Sư Bảo Nguyệt ở chùa Thụy Quang xuất gia, đến 18 tuổi được cạo tóc làm tăng. Sư phát phẩn tham cứu, tham vấn khắp nơi. Chùa Thụy Quang bị hủy hoại hơn trăm năm, chỉ là 1 ngôi chùa hoang phế. Sư thệ nguyện sửa sang, ban ngày cổ động quyên góp, đến đêm quỳ gối mặc nguyện. Vào năm Thiên Khải thứ 4 (1624) sư xây Thất Phật các, rồi thỉnh ngài Hoằng Triệt trụ trì. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 2 (1629) sư sửa Thiên Ninh Phù đồ cảm tháp. Sư có thân tướng lùn thấp nhưng giới pháp tinh nghiêm, càng tinh chuyên về lập đạo tràng. ● 圓 淨 大 師. Hiệu của Thiền tăng Chí Nguyên đời Ngũ Đại. X. Chí Nguyên. ● 圓 智 (769-835). Còn gọi: Tông Trí. Thiền tăng đời Đường, họ Trương, người Dự Chương (Nam Xương, Giang Tây) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư theo Hòa Thượng Niết Bàn xuất gia, sau đó theo Dược Sơn Duy Nghiễm được tâm ấn và nối pháp. Đi tham phỏng các nơi, đến núi Đạo Ngô, Đàm Châu (Trường Sa, Hồ Nam) tụ hội đồ chúng đại chấn thiền phong. Thụy là “Tu Nhất Đại Sư”. ● 圓 智 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Đại An đời Đường. X. Đại An. ● 圓 智 禪 師. 1. Hiệu của Thiền tăng Hoằng Biện đời Đường. X. Hoằng Biện. ● 2. Hiệu của Thiền tăng Thiệu Tông đời Ngũ Đại. X. Thiệu Tông. ● 圓 澄 (1561-1626). Thiền tăng đời Minh, họ Hạ, tự Trạm Nhiên, hiệu Tán Thủy Đạo Nhân, người xứ Cối Kê (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc. Ban đầu sư làm lính đưa thư, do vì đưa lầm công văn nên bị phạt trượng. Sau sự việc đó, sư theo Hòa Thượng Diệu Phong cạo tóc làm tăng. Tuy chẳng biết chữ nhưng sư thông sáng hơn người; nghe các sư tăng biện luận, sư thầm nhớ văn kinh tìm hiểu chân lý. Sư đến lễ ngài Vân Thê Châu Hoằng xin thụ giới cụ túc; Châu Hoằng xem trọng sư như bậc tái lai. Sư còn tham vấn Thiền Sư Phương Niệm, được ngài ấn khả làm truyền nhân tông Tào Động. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 42 (1614) sư trụ trì chùa Quảng Hiếu, năm kế trụ trì chùa Kính Sơn; năm sau nữa (1616) trụ trì chùa Đông Tháp. Sư có thái độ rất bình thản đối với người sang hay kẻ hèn. Lúc thăng tòa chỉ nói những lời bình dị, giảng kinh thuyết pháp đều có diệu lý. Tác phẩm: Niết Bàn Hội Sớ, Khái Cổ Lục, Vân Môn Trạm Thiền Sư Ngữ Lục, Ngũ Đăng Pháp Ngữ, Pháp Hoa Ý Ngữ, Lăng Nghiêm Kinh ức Thuyết, Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh Giản Chú, Kim Cang Tam Muội Kinh Chú Giải, Tông Môn Hoặc Vấn. ● 圓 修 (1575-1635). Thiền tăng đời Minh, họ Mẫn, tự Vô ẩn, người xứ Kinh Khê (nay là huyện Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô) Trung Quốc. Năm 20 tuổi sư vào chùa Long Trì cạo tóc làm tăng, năm 24 tuổi được độ. Sư đóng cửa tĩnh tu, một hôm nghe tiếng lừa kêu sư liền đại ngộ. Sư đến chùa Phổ Chiếu ở Bắc Kinh, tham vấn Thiền Sư Chính Truyền, được ngài ấn chứng làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sư còn yết kiến nhiều vị Tôn túc, rồi trở về giữ chức Ký thất ở chùa Long Trì, thông suốt được tâm tủy của Chính Truyền. Niên hiệu Thái Xương thứ 1 (1620), sư ẩn cư trong Khánh Sơn tại Thường Châu, sáng lập chùa Khánh Sơn. Sư có phong nghi lỗi lạc, bẩm tính điềm đạm, lấy việc phục hưng môn phong của thầy làm nhiệm vụ của mình. Kẻ sĩ mộ đạo bốn phương nghe danh tìm đến, rộn rịp cả chùa. ● 圓 修 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Đạo Lâm, thuộc tông Ngưu Đầu, sống vào đời Đường. X. Đạo Lâm. ● 圓 出 (1605-1645). Thiền tăng đời Minh, họ Thùy, hiệu Ngọa Long, được sinh ra bên chằm Hán Nhạc, chân núi Dương Sơn, Trung Quốc. Xuất gia năm 13 tuổi, thông giáo học, thường tham học nơi các pháp hội Ngưu Sơn, Hoàng Long ở Tứ Xuyên. Một hôm, sư đọc Cảnh Đức Truyền Đăng Lục có cảm ngộ liền đến tham vấn Phá Sơn Hải Minh, nối pháp Ngài, thuộc tông Lâm Tế. Niên hiệu Sùng Trinh thứ 1 (1638), sư trụ trì viện Chỉ Nguyệt ở Tứ Xuyên. Về sau từng trụ các chùa: Thê Linh ở Tứ Xuyên, Thiên Hoàng ở Hà Nam, Hoa Nghiêm ở Hà Bắc, Ngọa Long ở Tứ Xuyên. Sư vốn có 20 quyển Ngữ Lục nhưng nay chỉ còn Nao Châu Ngọa Long Thiền Sư Ngữ Lục 3 quyển. ● 遠 門 淨 柱 禪 師. Thiền tăng Tịnh Trụ sống vào đời cuối Minh đầu Thanh, có hiệu là Viễn Môn, người đời gọi là “Viễn Môn Tịnh Trụ Thiền Sư”. X. Tịnh Trụ. ● 院 主. Vị tăng chủ nhiệm một ngôi điện đường của một tự viện. Chức vụ này ở dưới quyền vị Trụ trì trong tùng lâm Trung Quốc thuở xưa. Ngày nay thường gọi vị Trụ trì là Viện chủ, còn vị chủ nhiệm một ngôi điện đường là Giám sự. Tiết Đan Hà Thiêu Phật trong TĐL q. 14 ghi: “後 於 慧 林 寺、遇 天 大 寒、取 木 佛 燒 火 向。院 主 訶 之。 – Về sau sư đến chùa Huệ Lâm, gặp lúc trời thật giá rét, sư đem tượng Phật gỗ xuống đốt để sưởi ấm. Viện chủ quở trách sư”. ● 越 山 吉 祥 禪 院. X. Hoa Lâm tự. ● 榮 西 (1141-1215). Thiền tăng Nhật Bản tông Lâm Tế, dòng Hoàng Long, được xem là vị Tổ khai sáng Thiền Tông tại Nhật Bản. Sư đến Trung Quốc hai lần và lần thứ hai, sư được Thiền Sư Hư Am Hoài Thưởng ở chùa Vạn Niên trên núi Thiên hai ấn chứng. Sư cũng là người thầy đầu tiên của Đạo Nguyên Hy Huyền, người khai sáng dòng Thiền Tào Động tại Nhật. Trong những năm cuối đời, sư hoằng hóa tại hai trung tâm Kinh Đô và Liêm Thương (Nhật Bản). Tác Phẩm: Hưng Thiền Hộ Quốc Luận. ● 永 安 (911-974). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Ông, người Ôn Châu (Chiết Giang) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư theo Đại sư Hối Trưng ở bản quận xuất gia, định đến Mân, Xuyên tham phỏng các thiền sư. do đường sá hiểm trở nên chưa thể, bèn trở lại núi Thiên Thai kết am cỏ tu hành, được Quốc sư Đức Thiều khai thị, sư đốn ngộ bản tâm, nối pháp làm truyền nhân tông Pháp Nhãn. Sau đó xuất sơn, Ngô Việt vương bảo sư trụ trì viện Thanh Thái ở Việt Châu (Thiệu Hưng, Chiết Giang), lại triệu thỉnh ở chùa Báo Ân, Hàng Châu, ban hiệu “Chính Giác Không Huệ Thiền Sư”. ● 永 安 院. Viện Vĩnh An. X. Bách Lâm tự. ● 永 璵 (?-1365). Thiền tăng đời Nguyên, hiệu Đông Lăng, người Tứ Minh, Trung Quốc. Tuổi thanh niên sư du phương tham yết các bậc lão túc. Sau lên núi Thiên Đồng tham học với Vân Ngoại Vân Tụ nhận được tông yếu Tào Động. Sau đó khai pháp tại chùa Thiên Ninh. Niên hiệu Chí Thánh thứ 11 (1351) sang Nhật Bản tham yết Mộng Song Sơ Thạch. Lần lượt trụ các chùa Thiên Long, Nam Thiền, Kiến Trường, Viên Giác, pháp hóa rất thịnh. Nhật Bản niên hiệu Trinh Trị thứ 4 (1365) sư thị tịch. Đệ tử xây tháp sư tại am Tây Vân, Nam Thiền. Được ban thụy “Diệu ứng Quang Quốc Huệ Hải Từ Tế Thiền Sư”. Pháp hệ đời sau gọi là “Phái Đông Lăng”, là 1 trong 24 phái Thiền Nhật Bản. ● 永 嘉 證 道 歌. Còn gọi: Vĩnh Gia Chân Giác Thiền Sư Chứng Đạo Ca, Chứng Đạo Ca. Thi ca, 1 quyển, do Vĩnh Gia Huyền Giác soạn vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 395. Toàn văn gồm 247 câu, phần lớn là mỗi câu 7 chữ, tổng cộng là 1814 chữ, hình thức thơ cổ thể. Một đoạn gồm 4 câu hoặc 6 câu, tất cả gồm 51 đoạn (khổ). Sách này được viết vào khoảng niên hiệu Thần Long thứ 1 (705). Tác giả cho rằng mỗi người đều có Phật tính Như Lai tạng, nếu như triệt ngộ thì sẽ giải thoát; ý chính của tác giả nhằm tuyên dương pháp môn đốn ngộ của Huệ Năng như: 頓 覺 了、如 來 禪 六 度 萬 行 體 中 圓 夢 裏 冥 冥 有 六 趣 覺 後 空 空 無 大 千 “Đốn giác liễu, Như Lai Thiền Lục độ vạn hạnh thể trung viên Mộng lý minh minh hữu lục thú Giác hậu không không vô đại thiên”. Và: 自 從 認 得 曹 溪 路 了 知 生 死 不 相 干 “Tự tòng nhận đắc Tào Khê lộ Liễu tri sinh tử bất tương can”. Chứng Đạo Ca là tác phẩm đại biểu cho văn học thiền, dùng ngôn từ tao nhã để trình bày và phân tích chân thể của Thiền Tông, không những được truyền tụng trong thiền môn mà còn được giới trí thức quan lại yêu thích. Chu Hy trực tiếp dẫn dụng ngôn ngữ thi ca của tác phẩm này để luận chứng cho quan điểm của mình. Các sách chú thích cho tác phẩm này có: Chứng Đạo Ca Chú, 1 quyển của Ngạn Kỳ. Chứng Đạo Ca Chú, 1 quyển của Tri Nột, 2 quyển này được viết vào đời Tống. Chứng Đạo Ca Chú Tụng của Vĩnh Thạnh đời Nguyên. ● 永 嘉 集. Gọi đủ: Thiền Tông Vĩnh Gia Tập. Còn gọi: Vĩnh Gia Thiền Tập, Vĩnh Gia Thiền Tông Tập, Huyền Giác Vĩnh Gia Tập. Luận Nghị, 1 quyển, do Vĩnh Gia Huyền Giác soạn vào đời Đường, Thứ sử Khánh Châu là Ngụy Tĩnh biên tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 378. Thời trẻ Huyền Giác học Thiên Thai, sau khi tham lễ Huệ Năng sư chuyển sang Thiền Tông. Sách này đem ý nghĩa chỉ quán của Tông Thiên Thai để giải thích thiền của Thiền Tông, nêu ra dụng ý và lịch trình tu hành thiền định. Toàn sách gồm có 10 thiên: 1. Nghi thức lập chí mộ đạo, 2. Răn ý kiêu sa, 3. Tịnh tu ba nghiệp, 4. Bài tụng về Xa Ma Tha, 5. Bài tụng về Tỳ Bà Xá Na, 6. Bài tụng về Ưu Tất Xoa, 7. Thứ lớp của tam thừa, 8. Lý sự bất nhị, 9. Thư khuyên bạn hữu, 10. Văn phát nguyện. Ba thiên trước là phần tựa, năm thiên kế là phần chính tông, hai thiên sau là phần lưu thông. Đầu quyển có lời tựa của Ngụy Tĩnh. Sách này là tác phẩm dung hợp Thiên Thai Tông và Thiền Tông xuất hiện sớm nhất, rất được đời sau xem trọng. Các sách chú thích về tác phẩm này có: Vĩnh Gia Tập Chú, 2 quyển của Hành Tĩnh đời Tống. Vĩnh Gia Thiền Tông Tập Chú, 2 quyển của Truyền Đăng đời Minh. Vĩnh Gia Tập Thuyết Nghị, 2 quyển của Kỷ Hòa, vị tăng Cao Ly. ● 永 嘉 禪 宗 集 註. Sách, 2 quyển, do Vĩnh Gia Huyền Giác soạn vào đời Đường, Vô Tận Truyền Đăng trùng biên và chú thích vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Thiên Khải thứ 2 (1622), sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 111, trang 399. Vào đời Đường, Thứ sử Khánh Châu là Ngụy Tĩnh từng biên “Vĩnh Gia Tập” nêu lên yếu nghĩa tu thiền và quá trình ngộ đạo của Vĩnh Gia Huyền Giác. Vô Tận Truyền Đăng cho rằng “Vĩnh Gia Tập” do Ngụy Tĩnh biên nội dung lộn xộn, có chỗ sai lầm, khác xa với bản ý của ngài Vĩnh Gia Huyền Giác. Do đó ông đem thứ tự và nội dung của 10 thiên vốn có, sửa lại làm: Quy kính tam bảo, Phát hoằng thệ nguyện, Thân cận sư hữu, Y thực giới cảnh, Tịnh tu tam nghiệp, Tam thừa tiệm thứ, Sự lý bất nhị, Giản thị thiên viên, Chính tu chỉ quán, Quán tâm thập môn. Hơn nữa, ông còn chú thích tỉ mỉ và phụ lục phần chú thích “Vĩnh Gia Tập Chú” của Hành Tĩnh đời Tống để làm sáng tỏ tông chỉ Chỉ Quán quán tâm của Vĩnh Gia Huyền Giác. ● 永 覺 和 尚 同 上 古 轍. X. Động Thượng Cổ Triệt. ● 永 覺 元 賢 禪 師 廣 錄. Còn gọi: Vĩnh Giác Hòa Thượng Quảng Lục. Ngữ Lục, 30 quyển, do Nguyên Hiền soạn vào đời Minh, Vi Lâm Đạo Bái trùng biên, được ấn hành vào niên hiệu Thuận Trị thứ 14 (1657) đời Thanh, sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 125, trang 401. Nội dung thu thập Ngữ Lục của Nguyên Hiền khi ở các nơi: chùa Dũng Tuyền Cổ Sơn Phúc Châu, chùa Khai Nguyên Tuyền Châu, Chân Tịch Thiền Viện ở Hàng Châu, am Bảo Thiện Kiếm Châu, và các phần: Tiểu tham, Phổ thuyết, Trà thoại, Niêm cổ, Tụng cổ, Phật sự, Thư vấn, Tự, Ký, Văn, Thư, Sớ Minh, Chư Tổ đạo ảnh tán, Kệ tụng v. v… ● 永 佑 寺 舍 利 塔. Nằm bên cạnh vườn Vạn Thọ, sơn trang Tị Thử (tránh nắng), thành phố Thừa Đức, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Tục gọi “Lục Hòa Tháp”. Chùa xây vào niên hiệu Càn Long thứ 16 (1751) đời Thanh, hiện không còn nữa, chỉ còn 4 tấm bia khắc và tháp. Tháp vốn nằm giữa tiền điện, hậu điện của chùa, khi vua Càn Long đi Nam tuần, thấy tháp chùa Báo Ân ở Nam Kinh và tháp Lục Hòa ở Hàng Châu vững vàng thanh tú đẹp đẽ, bèn vào niên hiệu Càn Long thứ 19 (1754) sai bề tôi cùng một lúc mô phỏng theo xây tháp ở Bắc Kinh và sơn trang Tị Thử ở Thừa Đức. Do vì tháp xây tại Bắc Kinh bị lửa thiêu hủy, vua Càn Long sợ rằng tháp chùa Vĩnh Hựu cũng sẽ bị như thế nên hạ lệnh dùng gạch đá kết cấu, đấu củng dùng đồ trang sức bằng lưu ly, trong lúc thi công cũng từng làm lại hai lần, đến niên hiệu Càn Long thứ 29 (1764) mới hoàn thành. Tháp hình bát giác, 9 tầng, cao 67m. Tầng thứ 1 vốn có hành lang bao quanh tám mặt, hiện đã sụp đổ. Tầng thứ 2 trở lên mỗi tầng mỗi mặt đều có mở một cửa cuốn, mái tháp mỗi tầng làm bằng đấu củng giản đơn, mái vươn ra rất ngắn. Đỉnh tháp tám mặt nghiêng, cao mà dốc, được che phủ bằng ngói lưu ly màu vàng, trên đỉnh tháp là tháp sát bằng vàng ròng. Toàn bộ tháp cao lớn hùng vĩ, tạo dáng đơn giản mà khéo léo đẹp đẽ, màu sắc sáng sủa, thấp thoáng trong đám cây xanh, trở thành tiêu chí nổi bật của sơn trang Tị Thử. Đây là một ngôi tháp mỹ quan hơn hết trong các tháp gạch đời Thanh. Sau tháp có một tấm bia, mặt trước khắc “Cao Tông Ngự Chế Vĩnh Hựu Tự Xá Lợi Tháp”, mặt sau khắc “Tị Thử Sơn Trang Bách Vận Thi”. Lầu Ngự Dung ở phía sau tháp là một tòa lầu 2 tầng, di tượng của vua Khang Hy được thờ phụng nơi đây. Vua Càn Long mỗi lần đến sơn trang Tị Thử, trước tiên phải đến đây bái tế. Về sau di tượng các vua Ung Chính và Càn Long cũng được thờ tại lầu này. ● 永 樂 禪 寺. ở mỏm núi Thiên Tâm, núi Vũ Di, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Nguyên tên là “Sơn Tâm Vĩnh Lạc Am”. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 7 (1528) đời Minh sau khi xây cất lại đổi tên là “Thiên Tâm Am”. Vốn là tự quán của Đạo giáo, sau làm chỗ ở cho Phật giáo đồ, đổi tên là “Vĩnh Lạc Thiền Tự”. Tự viện rộng thoáng hùng vĩ, lâu các hiên ngang, quang cảnh đẹp đẽ tĩnh mịch. Trong cuộc cách mạng văn hóa cũng từng bị phá hoại, về sau tu sửa lại. ● 永 明 禪 師. Hiệu của thiền tăng Linh Tham đời Ngũ Đại, X. Linh Tham. ● 永 明 智 覺 禪 師 唯 心 訣. Gọi tắt: Duy Tâm Quyết. Luận nghị, 1 quyển, do Vĩnh Minh Diên Thọ soạn vào đời Tống, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 993. Sách này là tác phẩm mà qua đó Vĩnh Minh Diên Thọ làm sáng tỏ tư tưởng duy tâm của sư. Diên Thọ chủ trương dù có nhiều học thuyết song đều quy về nhất pháp, và muôn pháp đều quy về nhất tâm. Các kinh: Pháp Hoa, Bát Nhã, Tư Ích, Hoa Nghiêm, Viên Giác, Lăng Nghiêm, Đại Tập cũng là ngàn tên gọi của nhất pháp mà thôi, quan trọng ở chỗ quán tâm để đạt nhất tâm. Thế nên trong sách nêu ra 120 thứ tà tông kiến giải, dùng pháp quán tâm để cởi mở mọi mê lầm, chiếu phá tối tăm và cho rằng khi quán triệt một chân tâm này thì tất cả thị phi thủ xả liền tiêu, rỗng rang thanh tịnh và đạt đến cảnh giới giải thoát viên dung. Cuối quyển có phụ lục “Định Huệ Tương Tư Ca”. ● 永 寧 (1292-1369). Thiền tăng đời Nguyên, họ Chu, tự Nhất Nguyên, hiệu Hư Huyễn Tử, Hư Đường, người Thông Châu (Nam Thông, Giang Tô) Trung Quốc. Năm 9 tuổi sư xuất gia theo Thượng nhân Nhân Mô chùa Quảng Huệ ở Lợi Hòa. Sau đó du phương tham kiến các bậc thiền lão, năm năm sau đến Thái Hồ yết kiến Thiền Sư Vô Dụng, liễu ngộ huyền chỉ nối pháp. Khoảng niên hiệu Diên Hựu (1314-1320) sư ẩn cư trong núi Quảng Đức. Niên hiệu Chí Trị thứ 3 (1323) trụ trì chùa Long Trì, Nghi Hưng (Giang Tô), xây cất vài chục gian điện vũ mệnh danh là Am Vũ Môn Hưng Hóa. Lại lần lượt chủ trì các chùa Lý Sơn, Thiên Ninh, tiếng tăm đồn xa. Niên hiệu Chí Chính thứ 8 (1348) phụng chỉ vào nội cung thuyết pháp, vua Nguyên Thuận Đế ban Kim lan pháp y, vòng ngọc, ban hiệu “Phật Tâm Liễu Ngộ Bản Giác Diệu Minh Chân Tịnh Đại Thiền Sư”. Đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ thứ 1 (1368) lui về ở chùa Long Trì. Tác phẩm: Tứ Hội Ngữ Lục. ● 永 寧 寺. Chùa Vĩnh Ninh. X. Thượng Lam Viện. ● 永 光 (660-730). Thiền tăng đời Đường, họ Phòng, người Nam An Quân (Đại Dữu, Giang Tây), Trung Quốc. Sư vốn là thợ săn. Khi Lục Tổ Huệ Năng từ Hoàng Mai trở về Nam, đến núi Đại Dữu gặp cọp, Quang hàng phục được cọp, muốn theo Tổ cùng đi về phương Nam, nhưng Tổ bảo chờ 20 năm sau. Đúng hẹn, Quang dắt cọp về đến Tào Khê, được tổ truyền giới cho. Cọp chết trước, sư lập “Hổ tăng chi cơ” để biểu dương công lao giúp đỡ Thiền Tông của cọp. Quang đến chùa Viên Minh ở Thiều quận để hoằng pháp và viên tịch tại đây. ● 永 慈 (1393-1461). Thiền tăng đời Minh, họ Dư, tự Hải Chu, người Thành Đô (Tứ Xuyên) Trung Quốc. Thuở nhỏ sư đến chùa Cảnh Đức ở huyện Bành (Tứ Xuyên) theo Chiếu Nguyệt xuất gia. Sau khi Chiếu Nguyệt tịch, sư vào Tây Sơn ẩn cư 8 năm. Niên hiệu Tuyên Đức thứ 2 (1427) đến Kinh đô tìm cầu tâm pháp, song ít khi khế ngộ. Trở lại Kim Lăng (Nam Kinh) yết kiến Thiền Sư Đông Minh. Niên hiệu Chính Thống thứ 2 (1437) đáp ứng lời thỉnh của Thái Giám Viên Thành, sư khai pháp tại chùa Dực Thiên ở Kim Lăng. ● 永 昌 禪 寺. X. Nghênh Giang Tự. ● 望 空. 1. Hướng lên không trung. Thần Hội Truyện trong TCTT q. 8 ghi: “上 元 元 年 囑 別 門 人、避 座、望 空 頂 禮、歸 方 丈。其 夜 示 滅。 – Vào niên hiệu Thượng Nguyên thứ 1 (674), sư dặn dò đệ tử xong rời khỏi tòa, hướng lên không trung đảnh lễ rồi trở về phương trượng. Đêm ấy, sư thị tịch”. ● 2. Không căn cứ; không có cơ sở. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “作 麼 生 是 三 玄 底 旨 趣?直 教 決 擇 分 明、莫 只 麼 望 空 裏 妄 解。 – Cái gì là chỉ thú của Tam huyền? Giả sử ông có quyết trạch được rõ ràng cũng đều là kiến giải không có cơ sở”. ● 妄 生 節 目. Giả dối, luống cuống bày ra sự việc. Phần Dương Ngữ Lục ghi: “鐘 聲 雀 噪。可 契 眞 源。別 處 馳 求。妄 生 節 目。 – Tiếng chuông vang, chim sẻ kêu còn có thể khế ngộ nguồn chân; tìm cầu nơi khác chính là vọng sinh tiết mục”. ● 無 殷 (884-960). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Ngô, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Năm lên bảy, sư theo ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn xuất gia, đến 20 tuổi thụ giới cụ túc. Sau đó, tham yết Cửu Phong Đạo Kiền và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp sư trụ viện Hòa Sơn Đại Trí ở Cát Châu (nay là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây). Nam Đường Trung Chủ triệu sư vào cung lễ kính. Tốt hiệu: Pháp Tính Thiền Sư. ● 無 吧 鼻. 1. Không có chỗ để nắm bắt bởi vì thiền pháp của Tổ sư (Tự tính) vượt thoát mọi phân biệt tình tưởng. Mật Am Ngữ Lục ghi: “今 夜 如 此 提 持。全 無 巴 鼻。全 無 滋 味。如 蚊 子 上 鐵 牛 相 似。直 是 無 下 嘴 處。 – Đêm nay đưa ra như thế, hoàn toàn không có chỗ nắm lấy, hoàn toàn không có mùi vị, như con muỗi đậu trên con trâu sắt, thì đâu có chỗ nào để cắm mỏ”. ● 2. Chỉ cho thiền pháp của Tổ sư. Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh tự của Đức Dị ghi: “大 師 始 於 氾 羊 終 至 曹 溪、說 法 三 十 七 年。。。惟 南 嶽、青 原 執 持 最 久、盡 得 無 巴 鼻、故 出 馬 祖、石 頭、機 智 圓 明、玄 風 大 震。 – Đại sư gốc gác ở Phạm Dương, cuối đời mất ở Tào Khê, nói pháp 37 năm… Chỉ có Nam Nhạc và Thanh Nguyên là hầu hạ Ngài lâu nhất, nhận được rốt ráo thiền pháp của Tổ sư nên mới sản xuất ra Mã Tổ, Thạch Đầu, cơ trí đầy đủ khiến cho Thiền Tông hưng thạnh”. ● 無 邊 (?-1588). Thiền tăng đời Minh, họ Tào, người xứ Đại Châu (nay là huyện Đại, tỉnh Sơn Tây) Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở nhỏ, đến yết kiến Thiền Sư Không An ở Phần Châu (nay là Phần Dương tỉnh Sơn Tây). Ngài bảo sư tham câu “Vạn pháp quy về một”. Sư chịu khó tham cứu lâu ngày. Một hôm lội ngang sông, sư chợt có sở ngộ. Sau đó, sư tụng kinh A Di Đà bỗng triệt ngộ, được Không An ấn chứng. Sau khi Không An tịch, sư tham Long Thọ Sở Phong, được ngài thọ ký. Khi ra hoằng pháp sư trụ am Bác Sơn ở núi Ngũ Đài, sư giữ cuộc sống thanh đạm: ăn uống và lao tác giống như đại chúng, có phong cách như cổ nhân khiến xa gần đều khen ngợi. ● 無 准. Hiệu của Thiền tăng Sư Phạm đời Tống. X. Sư Phạm. ● 無 准 師 范 禪 師 語 錄. Còn gọi: Phật Giám Thiền Sư Ngữ Lục, Phật Giám Lục, Vô Chuẩn Thiền Sư Ngữ Lục. Ngữ Lục, 6 quyển, do Vô Chuẩn Sư Phạm soạn vào đời Tống, 2 vị Tông Hội và Trí Chiết cùng biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Thuần Hựu thứ 11 (1251), và sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 121, trang 853. Quyển 1, 2: Thu thập Ngữ Lục trong 5 hội của Sư Phạm tại các chùa: Thanh Lương, Phổ Tế, Tư Thánh. Quyển 3-6: Tiểu tham, Pháp ngữ, Phổ thuyết, Niêm cổ, Kệ tụng, Tự tán, Tiểu Phật sự, Tế Phật Giám Thiền Sư văn, Nhập nội dẫn đối thăng tòa Ngữ Lục (Tấu đối lục), Hành trạng v. v… ● 無 固 無 必. Không có một khuôn phép nhất định. Minh Giác Ngữ Lục q. 1 ghi: “况 僧 家 也 無 固 無 必。住 則 孤 鶴 冷 翹 松 頂。去 則 片 雲 忽 過 人 間。 – Huống là nhà thiền không có một khuôn phép nhất định: ở thì giống con hạc lẻ loi sống trên ngọn tùng. Đi thì như phiến mây trôi qua thế gian”. ● 無 功 之 功. Công đức siêu việt nhân quả báo ứng. Đây là sự vận dụng thực tiễn của người ngộ thiền. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “問:一 切 處 不 乖 時 如 何?師 曰:此 猶 是 功 勳 邊 事。有 無 功 之 功、子 何 不 問? – Hỏi: Khi tất cả chỗ chẳng chống trái thì thế nào? Sư đáp: Đây cũng còn là việc tích lũy công đức dẫn đến việc hưởng phúc báu về sau. Có công đức siêu việt nhân quả sao ngươi chẳng hỏi?” ● 無 名 (722-793). Thiền tăng đời Đường, họ Cao, người Bột Hải (Phía Tây Lợi Tân, Sơn Đông), di cư sang Lạc Dương Trung Quốc. Năm 28 tuổi sư xuất gia nơi chùa Đồng Đức, ban đầu học Luật tạng sang theo học với Hà Trạch Thần Hội nối pháp, đổi tên là Vô Danh, du phương các nơi. Đường Đức Tông muốn sa thải tăng ni, chỉ giữ lại những bậc cao tăng, Sư dâng tấu can gián, vua liền bãi bỏ. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 6 (790) đi du ngoạn núi Ngũ Đài, năm thứ 9 sư thị tịch nơi chùa Phật Quang. Tác phẩm: Di Đà Kinh Sớ. ● 無 逸. Thiền tăng đời Tống. Sư tham học nơi Thiền Sư Bảo Phúc Khả Thọ và đắc pháp. Sư ở viện Long Thọ tại Chương Châu (nay là huyện Chương Phố, tỉnh Phúc Kiến). ● 無 異. Hiệu của Thiền tăng Nguyên Lai, sống vào đời Minh. X. Nguyên Lai. ● 無 異 元 來 禪 師 廣 錄. Còn gọi: Bác Sơn Đại Nghĩ Hòa Thượng Quảng Lục. Ngữ Lục, 35 quyển, do Vô Dị Nguyên Lai soạn vào đời Minh, 2 vị pháp tôn là Hoằng Hãn và Hoằng Dụ cùng biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Khang Hy thứ 10 (1671) và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 125, trang 109. Sách này là 1 bộ sưu tập hoàn mỹ về Ngữ Lục trong một đời của thiền sư Vô Dị Nguyên Lai. Nội dung bao gồm: Bài tựa Ngữ Lục của thiền sư Vô Dị, bài tựa của Tích Loại Pháp Đàn, Thích Lục tự, bài tựa sách Tham Thiền Cảnh Ngữ, bài tựa sách Tông Giáo Đáp Hưởng. Ngữ Lục trong 5 hội tại chùa Bác Sơn Năng Nhân, Trà thoại, Phổ thuyết, Niêm cổ, Tụng cổ, Phật sự hương ngữ, Tham thiền cảnh ngữ, Khai thị kệ, Tịnh độ kệ, Tông Giáo Đáp Hưởng, Tông Giáo Đẳng Tích, Thư, Khải, Tự, Thọ ngôn, Vãn từ (lời phúng viếng), Bác Sơn Hòa Thượng truyện, Tháp minh và tự… Trong ấy, từ quyển 21 đến 25 là “Tông Giáo Đáp Hưởng” bao gồm các lời đáp của Vô Dị Nguyên Lai về những câu chất vấn của người học. Phần 1, phần 2 của sách Đáp Hưởng lại chia ra 10 phẩm là: Tham ngữ, Tịnh độ, Chỉ quán, Giới luật, Bố thí, Nguyện lực, Sám hối, Phúc báo, Thích nghi, Hồi hướng. Phần “Thích Lục” mà sách này đem vào, chính là 6 quyển “Bác Sơn Lão Nhân Thích Lục” do Đạo Tung Bích Như Biên, tương đương với phần Bổ di của Nguyên Lai Ngữ Lục, nội dung gồm có: Thượng đường, Trà thoại, Tụng cổ, Thi, Tán v. v… Tham Thiền Cảnh Ngữ do Thành Chính biên tập, cũng được xếp vào trong “Thiền Môn Toát Yếu” do Thể Tịnh (vị tăng Triều Tiên) biên, thu thập 10 bài cảnh ngữ về: Dạy người sơ tâm thực hiện công phu, Bình luận lời dạy của Cổ đức, Chỉ dạy khi nghi tình đề chẳng khởi, Chỉ dạy khi đã đề khởi được nghi tình, chỉ dạy thiền nhân tham công án, kệ chỉ dạy tham thiền v. v… ● 無 用 賢 寬 禪 師. Thiền tăng Hiền Khoan đời Nguyên, người đời gọi sư là “Vô Dụng Hiền Khoan Thiền Sư”. X. Hiền Khoan. ● 無 等 (749-830). Thiền tăng đời Đường, họ Lý, người xứ Úy Thị (nay thuộc Hà Nam) Trung Quốc. Sư xuất gia ở Cung Công Sơn, tham học nơi ngài Mã Tổ Đạo Nhất và đắc pháp, thầm nhận tâm yếu. Khi ra hoằng pháp sư trụ Thổ Môn, Tùy Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc). Sau đó, đến núi Hoàng Hạc tại Vũ Xương cất am ở. Những người ưa chuộng huyền lý ở Kinh Tương, Ba Thục tụ hội về. Ngưu Tăng Nhụ tâu sự việc của sư lên vua, vua sai lập viện Đại Tịch nơi sư ở để sư an trụ hoằng hóa. ● 無 端. 1. Tệ quá, kỳ cục quá. CĐTĐL q. 22 ghi: “安 國 院 祥 和 尚。師 上 堂 頃 間 乃 失 聲 云。大 是 無 端。雖 然 如 此 事 不 得 已。於 中 若 有 未 覯 者 更 開 方 便。 – Hòa Thượng Tường ở viện An Quốc thượng đường giây lát bèn lớn tiếng nói: Thật là kỳ cục quá! Tuy nhiên dù là như vậy, cũng chỉ là chuyện bất đắc dĩ thôi. Trong pháp đường đây nếu có các vị chưa từng gặp gỡ thì lão tăng cũng xin mở bày phương tiện. “ ● 2. Hết ý, không có ý kiến. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “指 佛 殿:黃 金 妙 相、著 衣 喫 飯、因 我 禮 爾、早 眠 晏 起。咦!談 玄 說 妙 太 無 端、切 忌 拈 花 自 熱 瞞。 – Sư chỉ điện Phật, nói: Tướng đẹp sắc vàng, mặc áo ăn cơm. Bởi vì tôi lễ lạy ông cho nên ngủ sớm dậy trễ. ối! Nói diệu bàn huyền thật hết ý, rất kỵ đưa cành hoa lên để tự dối gạt. “ ● 無 德 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Thiện Chiêu đời Tống. X. Thiện Chiêu. ● 無 交 涉. Còn gọi: Một Giao Thiệp, Vật Giao Thiệp. Không dính dáng. Chỉ cho không mảy may quan hệ đến thiền pháp, căn bản không hợp với thiền pháp. Uyển Lăng Lục ghi: “若 言 佛 道 是 修 學 而 得、如 此 見 解 全 無 交 涉。 – Nếu nói Phật đạo là do tu học mới đắc, kiến giải như thế hoàn toàn không dính dáng”. ● 無 瑕 明 智. Hiệu của Thiền tăng Định Thâm đời Thanh. X. Định Thâm. ● 無 學. 1. Thiền tăng đời Đường. Sư thờ Thiền Sư Đan Hà Thiên Nhiên làm thầy, đốn ngộ huyền chỉ, thông triệt tâm nguyên. Về sau, sư ở chùa Thúy Vi, núi Chung Nam. ● 2. Biệt hiệu của Thiền tăng Tổ Nguyên, sống vào đời Tống. X. Tổ Nguyên. ● 無 絃 琴. Đàn không dây, dụ cho tự tính. Phổ Thuyết Hướng Thượng Nhất Lộ trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông ghi: “沒 孔 笛、奏 無 生 曲、無 絃 琴、撫 快 活 謌。 – Một khổng địch, tấu vô sinh khúc, vô huyền cầm, phủ khoái hoạt ca – Sáo không lỗ tấu khúc vô sinh; đàn không dây dạo bài vui sướng”. ● 無 休. Thiền tăng đời Ngũ Đại. Sư thờ Thiền Sư Hoài Trung, Tiêu Dao sơn ở Phủ Châu (nay thuộc Chiết Giang) làm thầy. Do sư ở chùa Bạch Vân tại Kinh Triệu (nay là huyện Lạc Dương tỉnh Hà Nam) nên ngươi đời gọi sư là “Bạch Vân Hưu”. Có vị tăng hỏi: Thế nào là cảnh Bạch Vân? Sư đáp: Bên lầu trăng lên, người khách miền biển sầu lo. ● 無 口. Không thể diễn đạt bằng lời nói. Có miệng mà không nói được, không khai thị bằng ngôn ngữ được, đó mới là chân thuyết. ● 無 空. Hiệu của Thiền tăng Biển Độn, sống vào đời Minh. X. Biển Độn. ● 無 孔 笛. 1. Sáo không lỗ. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho cảnh giới chứng ngộ, không thể nào dùng tâm suy nghĩ ra hoặc dùng lời nói để biểu đạt cảnh giới này được; giống như không có cách nào thổi ống sáo không lỗ cho nó kêu được. Tham Huyền Ca trong Gia Thái Phổ Đăng Lục (Vạn Tục 137, 216 hạ) ghi: 一 喝 唯 言 三 日 聾 誰 憐 大 辯 翻 成 訥 無 孔 笛、最 難 吹 角 徵 宮 商 和 不 齊 “Nhất hát duy ngôn tam nhật lung. Thùy lân đại biện phiên thành nột? Vô khổng địch, tối nan xuy Giốc, chủy cung thương hòa bất tề”. “Một tiếng hét thôi, điếc ba ngày Thương ai lưu loát trở thành ngây, Sáo không lỗ, quá khó thổi Giốc, chủy, cung, thương hòa chẳng nổi”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 2. Gọi đủ: Thiếu Lâm Vô Khổng Địch. Tác phẩm, 6 quyển, do Động Dương Anh Triều (1428-1504), là vị tăng thuộc Tông Lâm Tế Nhật Bản soạn, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 81, trang 347. ● 無 孔 鐵 槌. Chùy sắt không lỗ. Vốn là một thứ binh khí bằng sắt có một đầu tròn và to, nhưng lại không có cán. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cho người tham học đần độn, khiến cho bậc Thầy phải khó khăn khi khải phát, dẫn dắt họ. Đôi khi còn dùng từ này để chỉ cho sự câu nệ vào ngôn ngữ mà bỏ mất cơ duyên khai ngộ. Tắc 14, Bích Nham Lục (Đại 48, 154 hạ) ghi: 對 一 說、太 孤 絕 無 孔 鐵 鎚 重 下 楔 “Đối nhất thuyết, thái cô tuyệt Vô khổng thiết chùy trùng hạ tiết”. “Lời nói đúng, rất tuyệt vời Chùy sắt không lỗ còn tra cán”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 無 記 空. Trạng thái của tâm khi tham thiền chẳng có nghi tình, cũng chẳng có vọng tưởng. Đây là thiền bệnh. Tham Thiền Kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của thiền sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、那 守 枯 寂 認 無 記 空、迷 雲 遮 日 “Tham thiền đệ nhất Na thủ khô tịch Nhận vô ký không Mê vân già nhật”. “Pháp tham thiền bậc nhất Đâu nên giữ khô tịch Nếu nhận vô ký không Mặt trời mây che khuất”. Theo: Danh Từ Thiền Học Chú Giải của HT Duy Lực. ● 無 了 (787-867). Thiền tăng đời Đường, họ Thẩm, người xứ Bồ Điền, Tuyền Châu (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 18 tuổi xuất gia, sư thụ giới cụ túc ở chùa Linh ẩn. Sau đó, sư tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất, liễu đạt Tổ thừa, đắc ngộ tâm nguyên. Sư trở về quê hương, đến núi Quy Dương cất am tu hành, người đời gọi Sư là “Quy Dương Hòa Thượng”. Thự hiệu: Chân Tịch Đại Sư. ● 無 量. Hiệu của Thiền tăng Tông Thọ đời Tống. X. Tông Thọ. ● 無 明. Mờ tối, mê lầm. Vô minh được chia làm 3 bậc: a. Vô minh thượng: Ngu si chấp ngã. b. Vô minh trung: Niệm khởi. c. Vô minh hạ: Mê tính giác. Tham thiền kệ trong Thiền Tịnh Hợp yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、破 無 明 窟 生 死 涅 槃、二 俱 賸 法 “Tham thiền đệ nhất Phá vô minh quật Sinh tử Niết Bàn Nhị câu thặng pháp”. “Pháp tham thiền bậc nhất Phá hang ổ vô minh Sinh tử cùng Niết Bàn Đều là pháp thừa thải”. Theo: Yếu chỉ Thiền Tông của HT. Thanh Từ. ● 無 門 慧 開. Thiền tăng Huệ Khai đời Tống, tự Vô Môn, nên người đời gọi sư là “Vô Môn Huệ Khai”. X. Huệ Khai. ● 無 門 開 禪 師 語 錄. Còn gọi: Phật Nhãn Thiền Sư Ngữ Lục, Vô Môn Khai Hòa Thượng Ngữ Lục, Vô Môn Hòa Thượng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 2 quyển, do Vô Môn Huệ Khai soạn vào đời Tống, 2 vị Phổ Kính và Phổ Thông cùng biên tập, được ấn hành vào niên hiệu Thuần Hựu thứ 9 (1249), sau đó được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 12, trang 500. Quyển thượng: Lời thượng đường của Huệ Khai trong 10 hội: Vào niên hiệu Gia Định thứ 11 (1218) từ buổi khai pháp tại Báo Ân Thiền Tự trở về sau trải qua các chùa: Thiên Ninh, Hoàng Long Sùng Ân, Hiển Thân Sùng Báo, Quảng Hóa v. v… Quyển hạ: Cáo hương phổ thuyết, Tiểu tham, Tán Phật Tổ, Kệ tụng, Chân tán v. v… ● 無 門 關. Gọi đủ: Thiền Tông Vô Môn Quan. Niêm tụng biệt tập, 1 quyển, do Vô Môn Huệ Khai soạn vào đời Tống, Di Diễn Tông Thiệu biên, được ấn hành vào niên hiệu Thiệu Định thứ 1 (1228), đến niên hiệu Thuần Hựu thứ 5 (1245) được in lại. Năm kế, cư sĩ An Vãng thêm vào sau sách tắc thứ 49, sau đó sách được xếp vào Đại Chính Tạng tập 48, trang 292. Sách này thể lệ gần giống với “Bích Nham Lục”, thu thập 48 tắc công án nổi tiếng xưa nay, như “Triệu Châu cẩu tử”, “Bách Trượng dã hồ”, “Câu Chi thụ chỉ”, “Thế Tôn niêm hoa” v. v… Đầu mỗi tắc nêu lên Phật Tổ cơ duyên (tức công án), rồi mới đến phần Vô Môn nói (dùng thể văn xuôi để bình luận), cuối cùng là Tụng ghi (dùng thi kệ 4 câu, mỗi câu 4, 5, 6 hoặc 7 chữ) để kết luận. Sau tắc thứ 1 “Triệu Châu cẩu tử” Huệ Khai nói: “Hãy nói thế nào là Tổ sư quan (cửa ải của Tổ sư)? Chỉ một chữ Vô này chính là một cửa ải ấy, nên gọi là Vô Môn Quan của Thiền Tông vậy”. Huệ Khai viết trong bài tựa như sau: “Phật dạy tâm là chủ, không cửa là cửa pháp”. Từ xưa đến nay, sách này và Bích Nham Lục, Thung Dung Lục cùng được lưu hành rộng rãi chốn thiền lâm, rất được thiền tăng tông Lâm Tế xem trọng. Hiện có bản dịch tiếng Anh lưu hành ở Âu Mỹ. ● 義 句. Câu vô nghĩa, chỉ cho lời nói đặc biệt không có cách giải thích theo tình lý thông thường. Phần “Nghệ ngôn” trong NHQL q. 29 ghi: “大 都 六 祖 以 前、多 是 佑 義 句、六 祖 以 後 多 是 無 義 句。方 便 各 異、實 無 優 劣。學 人 參 看、須 是 深 求 其1實。。。若 不 深 求 其 實、唯 在 文 字 中 領 略、則 雖 無 義 句、如 麻 三 斤、干 屎 橛 等、若 佑 義 可 通。 – Nói chung, từ Lục Tổ về trước phần lớn là câu có nghĩa, từ Lục Tổn về sau, phần lớn là câu vô nghĩa. Mỗi vị đều có phương tiện khác nhau thực ra không có hơn kém. Người học tham cứu cần phải tìm cho ra cái thật của nó… Nếu không tìm ra cái thật của nó, chỉ ở trên chữ nghĩa lãnh hội thì dù là câu vô nghĩa như: Ba cân mè, que chùi phân v. v… thì cũng trở thành có nghĩa để hiểu. “ ● 無 業 (760-821). Thiền tăng đời Đường, họ Đỗ, người Thượng Lạc, Thương Châu (huyện Thương, Thiểm Tây) Trung Quốc. Năm 9 tuổi sư theo Thiền Sư Chí Bản chùa Khai Nguyên ở bản quận học kinh Đại thừa, 12 tuổi cạo tóc, 20 tuổi thụ giới cụ túc nơi Luật sư U ở Tương Châu (Tương Phàn, Hồ Bắc) học “Tứ Phần Luật Sớ” cùng giảng Kinh Niết Bàn cho tăng chúng. Sau yết kiến Mã Tổ Đạo Nhất được truyền tâm ấn, du phương Kinh sư mọi nguời ngưỡng mộ tiếng tăm muốn đề cử sư làm Lưỡng nhai Đại đức, Vô Nghiệp nói: “Thân cận Quốc Vương đại thần không phải là chí của tôi”. Sư đến Phần Châu (Phần Dương, Sơn Tây) trụ trì chùa Khai Nguyên. Đường Hiến Tông nhiều lần triệu thỉnh, sư đều từ chối, lấy cớ bệnh tật không đi. Thụy là “Đại Đạt Quốc Sư”. ● 無 言 通 (?-826). Thiền tăng Trung Quốc, tổ khai sáng dòng Thiền Vô Ngôn Thông ở Việt Nam, họ Trinh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm xứ Vũ Châu. Tính sư điềm đạm ít nói mà thông minh, nên người thời ấy gọi sư là Vô Ngôn Thông. Ban đầu, sư nghe lời một thiền khách đến tham vấn Mã Tổ. Đi đến Giang Tây nghe tin Mã Tổ đã tịch, bèn đến yết kiến Bách Trượng Hoài Hải. Một hôm trong giờ tham vấn có vị tăng hỏi Bách Trượng: Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa? Bách Trượng đáp: Tâm địa nếu không, mặt trời trí huệ tự hiện. Nghe câu này, sư hoát nhiên đại ngộ. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 (820) đời Đường, sư sang An Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh. ở đây trọn ngày, sư ngồi xây mặt vào vách suốt mấy năm mà không ai biết, chỉ có Thiền Sư Cảm Thành (Trụ trì chùa này) biết sư là vị cao tăng đắc đạo trong nhà thiền. Cảm Thành hết lòng kính trọng tôn thờ sư làm thầy. Một hôm, sư gọi Cảm Thành đến bảo: ― Ngày xưa Tổ sư là Nam Nhạc (Hoài Nhượng) khi sắp tịch có dặn mấy lời: 一 切 諸 法 皆 從 心 生 心 無 所 生 法 無 所 住 若 達 心 地 所 住 無 礙 非 遇 上 根 慎 勿 輕 許 “Nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sinh Tâm vô sở sinh pháp vô sở trụ Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa”. “Tất cả các pháp đều từ tâm sinh Tâm không chỗ sinh, pháp không chỗ trụ Nếu đạt tâm địa chỗ trụ không ngại Chẳng gặp thượng căn dè dặt chớ dạy”. Nói xong, sư chắp tay thị tịch, nhằm niên hiệu Bảo Lịch thứ 2 (826) đời Đường. Cảm Thành rước sư lên hỏa đàn, thu hài cốt xây tháp thờ ở núi Tiên Du. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 無 染 (800-888). Thiền tăng đời Đường, họ Kim, người Tân La (Triều Tiên). Vào niên hiệu Trường Khánh thứ 1 (821), sư theo sứ giả Tân La vào Trung Quốc, tham vấn các bậc danh túc. Sư nối pháp thiền sư Ma Cốc Bảo Triệt, thuộc hệ nam Nhạc đời thứ 4, Thánh Trụ Sơn đời thứ 1 (Triều Tiên). Niên hiệu Hội Xương thứ 5 (845) sư trở về nước, trụ trì Thánh Trụ Sơn Đại Lãng Tự, hoằng truyền thiền pháp Tào Khê. ● 無 念. Bản niệm sẵn có, chẳng khởi một niệm nào khác. Nghĩa là nơi thế lưu bố tưởng chẳng sinh ra trước tưởng. Phẩm Định Huệ trong Kinh Pháp Bảo Đàn (Đại 48, 353 thượng) ghi: “善 知 識、於 諸 境 上 心 不 染、於 自 念 上 常 離 諸 境。不 於 境 上 生 心、曰 無 念。 – Thiện tri thức, đối với mọi cảnh tâm chẳng nhiễm, trong niệm thường tự lìa mọi cảnh, chẳng ở trên cảnh sinh tâm gọi là Vô Niệm”. Theo: Danh Từ Thiền Học Chú Giải của HT. Duy Lực. ● 無 縫 塔. Tháp không có mối nối. Vốn chỉ tháp được làm bằng nguyên khối đá lớn. Nhà thiền dùng để chỉ thiền pháp kín đáo vi diệu, khó dùng lời nói biểu đạt, cũng chỉ cơ ngữ miên mật, không có kẽ hở. Tiết Huệ Trung Quốc sư trong TĐT q. 3 ghi: “代 宗 皇 帝 問:師 百 年 後 要 箇 什 麼?師 曰:與 老 僧 造 一 箇 無 縫 塔。帝 乃 䠒 跪 曰:請 師 塔 樣。師 良 久、帝 罔 措。 – Vua Đại Tông hỏi: Sau khi Thầy trăm tuổi, Thầy cần cái gì? Sư bảo: Làm cho lão tăng cái tháp không có mối nối. Vua liền quỳ xuống thưa: Thỉnh thầy ra kiểu tháp. Sư lặng lẽ không nói. Vua mờ mịt không hiểu. “ ● 無 方. Hiệu của Thiền tăng Khả Tùng, sống vào đời Minh. X. Khả Tùng. ● 無 關 則. Không kẹt mắc. Bài tán của cư sĩ Vương Như Pháp, hiệu Thiên Nhiên trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 也 奇 特、也 奇 特! 泥 牛 吼 月 無 關 則 寫 開 六 七 智 慧 門 莫 道 筆 山 兼 海 墨 “Dã kỳ đặc, dã kỳ đặc! Nê ngưu hống nguyệt vô quan tắc Tả khai lục thất trí huệ môn Mạc đạo bút sơn kiêm hải mặc”. “Thật kỳ đặc! Thật kỳ đặc! Trâu đất rống trăng không kẹt mắc Viết ra sáu bảy trí huệ môn Chớ nói núi bút cùng rừng mực”. ● 無 生. Vô sinh tức vô thủy, vô thủy tức vô sinh, như con gà với trứng gà đều chẳng có sự bắt đầu, tức là hiển bày nghĩa vô sinh. Phẩm Cơ Duyên trong Kinh Pháp Bảo Đàn (Đại 48, 357 hạ) ghi: “師 曰:何 不 體 取 無 生、了 無 速 乎! 曰:體 即 無 生、了 本 無 速。 – Sư nói: Sao chẳng tham cứu cái pháp vô sinh, liễu ngộ cái chẳng nhanh chóng ấy đi! Đáp: Thể tức vô sinh, liễu vốn chẳng chóng”. Theo: Danh Từ Thiền Học Chú Giải của HT. Duy Lực. ● 無 師 智. Chỉ Phật trí, tức trí huệ tự phát do tu hành chứ không do học hiểu. Đàn Kinh, bản Tông Bảo ghi: “神 秀 曰:六 祖 得 無 師 智、徹 悟 最 上 乘 法、吾 不 及 矣。 – Thần Tú nói: Lục Tổ đắc Vô sư trí, triệt ngộ pháp tối thượng thừa, ta chẳng bằng được”. ● 無 事 道 人. Đồng nghĩa “Vô sự nhân”. Mật Am Ngữ Lục ghi: “一 切 處 恰 恰 地。天 自 高 地 自 厚。飢 餐 渴 飲。一 切 尋 常。到 遮 境 界。便 是 一 員 無 事 道 人。方 敢 稱 爲 行 腳 高 士。 – Tất cả chỗ đều thích hợp và thỏa đáng, trời tự cao, đất tự dày, đói ăn khát uống, hết thảy bình thường. Đến cảnh giới này liền là Vô sự đạo nhân, mới dám xưng là bậc cao sĩ hành cước. “ ● 無 事 甲. Vỏ vô sự. Thiền Tông mượn từ này để chỉ cho trạng thái thanh thanh tịnh tịnh, không có nghi tình, cũng không có vọng tưởng, là một thứ thiền bệnh. Tham Thiền Kệ trong Thiền Tịnh Hợp Yếu của Thiền Sư Phương Tụ Thành ghi: 參 禪 第 一、透 無 事 甲 滯 寂 沉 空、冷 水 浸 石 “Tham thiền đệ nhất, Thấu vô sự giáp Trệ tịch trầm không Lãnh thủy tẩm thạch”. “Pháp tham thiền đệ nhất Vỏ vô sự phải thấu Nếu trệ tịch trầm không Ngâm đá vào nước lạnh”. ● 無 事 衲 僧. Đồng “Vô sự nhân”. Tiết Động Sơn Thủ Sơ Thiền Sư trong NĐHN q. 15 ghi: “接 待 十 方 往 來、盡 與 伊 抽 釘 拔 楔、拈 卻 灸 脂 帽 子、脫 卻 鶻 臭 布 衫、教 伊 洒 洒 地、作 箇 無 事 衲 僧、豈 不 快 哉! – Tiếp đãi kẻ qua lại ở mười phương, hết lòng nhổ đinh tháo chốt cho họ, giở cái khăn dính dầu mỡ, cởi cái áo hôi hám, dạy họ trần trùn trục làm Vô sự nạp tăng. Há chẳng thích sao!” ● 無 事 人. Người vô sự. Chỉ cho người triệt ngộ vô vi siêu thoát, nhậm vận tùy duyên, trừ sạch tục tình vọng niệm. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “爾 諸 方 言 道。有 修 有 證。莫 錯 設 有 修 得 者。皆 是 生 死 業。爾 言 六 度 萬 行 齊 修。我 見 皆 是 造 業。求 佛 求 法。即 是 造 地 獄 業。求 菩 薩 亦 是 造 業。看 經 看 教 亦 是 造 業。佛 與 祖 師 是 無 事 人。 – Các ngươi nghe các nơi nói rằng có tu có chứng. Chớ sai lầm! Nếu do tu mà đắc được, đều là nghiệp sinh tử. Ngươi nói Lục độ vạn hạnh cùng tu, ta thấy đều là tạo nghiệp. Cầu Phật, cầu Pháp, cầu Bồ Tát cũng là tạo nghiệp, xem kinh xem giáo cũng là tạo nghiệp. Phật với Tổ là người vô sự”. ● 無 事 禪. Thiền pháp dạy người không làm gì cả. Người pháp nhãn chưa sáng thường dùng từ này để trách người triệt ngộ trừ được vọng tình tùy duyên nhậm vận. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “這 僧 問 如 何 是 趙 州。趙 州 是 本 分 作 家。便 向 道:東 門 西 門 南 門 北 門。僧 云:某 甲 不 問 這 箇 趙 州。州 云:爾 問 那 箇 趙 州。後 人 喚 作 無 事 禪。賺 人 不 少。 – Vị tăng này hỏi: Thế nào là Triệu Châu? Triệu Châu là bậc thầy lão luyện, liền đáp lại: Cửa đông, cửa tây, cửa nam, cửa bắc. Tăng nói: Con không hỏi Triệu Châu này! Triệu Châu nói: Ngươi hỏi Triệu Châu nào? Người sau gọi là Vô sự thiền, thật là lừa người chẳng ít”. ● 無 心 道 人. Chỉ cho người đắc đạo trừ sạch mọi niệm tưởng hư vọng. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “供 養 十 方 諸 佛、不 如 供 養 一 個 無 心 道 人。 – Cúng dường chư Phật khắp mười phương, không bằng cúng dường một vị Vô tâm đạo nhân”. Tiết Kỳ Châu Quảng Tế Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “問:如 何 是 無 心 道 人?師 曰:丹 霞 放 火 燒。 – Hỏi: Thế nào là Vô tâm đạo nhân? Sư đáp: Đan Hà châm lửa đốt”. ● 無 際. Hiệu của Thiền tăng Minh Ngộ, sống vào đời Minh. X. Minh Ngộ. ● 無 際 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Hy Thiên đời Đường. X. Hy Thiên. ● 無 際 禪 師 石 塔. ở trong đình Thạch Tháp, chùa Mộc Môn, làng Thạch Cổ, huyện An Nhạc, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Đình Thạch Tháp là kiến trúc đời Minh, trong đình xây thạch tháp thiền sư Vô Tế hình bát giác, 5 tầng, cao 4,49m điêu khắc hoa văn mây với hoa sen. Tháp đình xây trên một tòa Tu Di cao không quá 1m, chính diện có cửa mở ra. Đỉnh tháp đình là một tứ giác nhọn đầu hình vuông một mái, độ nghiêng rất lớn, trên đỉnh có hoa sen, lộ bồn để đặt tháp sát. Trên nóc trang sức nhân vật, thú chạy. Bốn mặt dưới mái là đấu củng vẽ hoa hùng vĩ hoa lệ. Tháp đình hoàn toàn xây bằng đá, là kiến trúc không dùng gỗ hình vòm không cuốn, là di vật hiếm thấy của đời Minh. ● 無 參. Hiệu của Thiền tăng Phương Trạch, sống vào đời Minh. X. Phương Trạch. ● 無 始. Vũ trụ vạn vật đều chẳng thể tìm tòi sự bắt đầu, vì thời gian vốn chẳng trước sau, nói trước chẳng có thủy, nói sau chẳng có chung, đây cũng là cái nghĩa các pháp vô sinh. Theo: Danh Từ Thiền Học Chú Giải của HT Duy Lực. ● 無 始 無 明. Trước khi một niệm chưa sinh khởi gọi là vô thủy vô minh. Đây là nguồn gốc của ý thức, Thiền Tông gọi là thoại đầu, cũng gọi là đầu sào trăm thước. Khi ấy trong tâm thanh thanh tịnh tịnh chưa có ý thức phân biệt, khi bị ngoại cảnh kích thích nổi lên một niệm thì trở thành nhất niệm vô minh. Theo: Danh Từ Thiền Học Chú Giải của HT Duy Lực. ● 無 説. Hiệu của Thiền tăng Thiện Pháp đời Minh. X. Thiện Pháp. ● 無 上 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Giám Tông đời Đường. X. Giám Tông. ● 無 迹. Hiệu của Thiền tăng Chính Hối đời Minh. X. Chính Hối. ● 無 情 說 法. Công án. Việc này thấy ghi trong Tiết Huệ Trung Quốc sư trong Tổ Đường Tập q. 3 như sau: “有 南 方 禪 客 問:如 何 是 古 佛 心?師 曰:墻 壁 瓦 礫、無 情 之 物、并 是 古 佛 心。。。。禪 客 曰:無 情 既 有 心、還 解 說 法 也 無?師 曰:他 熾 然 說、恒 說 常 說、無 有 間 歇。禪 客 曰:某 甲 爲 什 麼 不 聞?師 曰:汝 自 不 聞、不 可 妨 他 有 聞 者。。。。禪 客 曰:一 切 眾 生、畢 竟 還 得 聞 無 情 說 法 否?師 曰:眾 生 若 聞、即 非 眾 生。禪 客 曰:無 情 說 法、還 有 典 據 也 無?師 曰:言 不 關 典、非 君 子 之 所 談。汝 豈 不 見 《彌 陀 經》 云:水、鳥、樹 林、皆 是 念 佛、念 法、念 僧。鳥 是 有 情、水 及 樹 豈 是 有 情 乎?又 《華 嚴 經》 云:剎 說、眾 生 說、三 世 一 切 說、眾 生 是 有 情、剎 豈 是 有 情 乎?(原 文 繁、不 俱 引)。 – Có vị thiền khách từ phương nam đến hỏi: Thế nào là tâm cổ Phật? Sư đáp: Tường vách gạch ngói, vật vô tình đều là tâm cổ Phật… Thiền khách hỏi: Vô tình đã có tâm. Vậy có biết thuyết pháp hay không? Sư bảo: Chúng thuyết pháp sôi nổi, hằng thuyết thường thuyết không ngừng. Thiền khách nói: Vì sao tôi chẳng nghe? Sư bảo: Tự ngươi chẳng nghe, chứ nó không cấm người khác nghe …. Thiền khách nói: Tất cả chúng sinh, rốt cuộc có nghe được vô tình thuyết pháp không? Sư nói: Chúng sinh nếu nghe, tức chẳng phải chúng sinh. Thiền khách hỏi: Vô tình thuyết pháp, có căn cứ vào kinh điển hay không? Sư nói: Lời nói chẳng liên hệ gì đến kinh điển, không phải là điều mà quân tử bàn bạc. Ngươi há chẳng nghe Kinh Di Đà nói: Nước, chim, rừng cây đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Chim là loài hữu tình, nước và cây há là loài hữu tình? Lại, kinh Lăng Nghiêm nói: Cõi nước thuyết, chúng sinh thuyết, ba đời tất cả thuyết. Chúng sinh là hữu tình, cõi nước há là hữu tình? (Nguyên văn nhiều, ở đây không dẫn hết). “ Công án này, ý ở chỗ phá trừ vọng tâm phân biệt, chỉ ra Phật tính ở khắp mọi nơi. Chốn thiền lâm thường niêm đề công án này. Tiết Động Sơn Lương Giới Thiền Sư trong NĐHN q. 13 ghi: “次 參 溈 山、問 曰:頃 聞 南 陽 忠 國 師 有 無 情 說 法 話、某 甲 未 究 其 微。 – Kế đó sư tham yết Quy Sơn, hỏi rằng: Vừa nghe Trung Quốc sư ở Nam Dương có nói Vô tình thuyết pháp, con chưa đạt đến chỗ vi diệu của nó. “ ● 無 住. 1. Chẳng chấp thật thì chẳng trụ một cú nào trong tứ cú, ngay khi đó tự tính hiện tiền, lìa tương đối mà nhập vào cảnh giới tuyệt đối. Phẩm Định Huệ trong kinh Pháp Bảo Đàn (Đại 48, 353 thượng) ghi: “於 諸 法 上 念 念 不 住、即 無 縛 也、此 是 以 無 住 爲 本。 – Đối với tất cả pháp, niệm niệm chẳng trụ tức là chẳng trói buộc vậy, đây là lấy vô trụ làm gốc”. Theo: Danh Từ Thiền Học Chú Giải của HT Duy Lực. ● 2. Thiền tăng phái Bắc tông sống vào đời Đường, họ Lý, người ở huyện My, Kỳ Châu (nay là huyện My, tỉnh Thiểm Tây) Trung Quốc. Ban đầu sư theo nghiệp Nho, thông Kinh sử, gặp cư sĩ Trần Sở Chương thầm truyền tâm pháp liền quy y Phật. Niên hiệu Thiên Bảo thứ 8 (749), thụ giới cụ túc xong, sư du phương đến chùa Tịnh Chúng ở Thành Đô tham vấn Thiền Sư Vô Tướng và đắc pháp. Khi ra hoằng pháp, sư trụ núi Bạch Nhai ở Nam Dương chuyên tu thiền định. Sau đó vài năm, người học dần dần đua nhau tìm đến. Tuy sư diễn nói rộng về ngôn giáo song lấy Vô niệm làm gốc. Về sau, sư trụ chùa Bảo Đường, khai pháp giáo hóa rất hưng thịnh. ● 無 住 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Đàm Thạnh đời Đường. X. Đàm Thạnh. ● 無 住 翁. Hiệu của Thiền tăng Thủy Thạnh đời Nguyên. X. Thủy Thạnh. ● 無 著 禪 師. Hiệu của Thiền tăng Văn Hỷ đời Đường. X. Văn Hỷ. ● 無 相. 1. Cảnh giới do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà cảm biết được nhưng không chấp đó là thật. Phẩm Định Huệ trong kinh Pháp Bảo Đàn (Đại 48, 353 thượng) ghi: “善 知 識、外 離 一 切 相、名 爲 無 相。能 離 於 相 即 法 體 清 淨、此 是 以 無 相 爲 體。 – Thiện tri thức, ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, lìa tướng thì pháp thể thanh tịnh, đây là lấy vô tướng làm thể”. Theo: Danh Từ Thiền Học Chú Giải của HT Duy Lực. ● 2. Thiền tăng người nước Tân La (Triều Tiên, 680-756) vào Trung Quốc đời Đuờng, họ Kim, là hoàng tử thứ 3 của vua nước Tân La. Thuở nhỏ sư xuất gia ở chùa Quần Nam, Tân La. Đến niên hiệu Khai Nguyên thứ 16 (728), sư theo sứ giả của triều Đường đến Trường An. Chẳng bao lâu vào đất Thục thờ Thiền Sư Xử Tịch ở chùa Đức Thuần tại Tư Châu (nay là huyện Tư Trung, tỉnh Tứ Xuyên) làm thầy, được thiền pháp của ngài rồi vào sâu trong núi Khê Sơn thuộc đất Tư Trung để tu hạnh đầu đà. Tín đồ cất chùa Tịnh Chúng để sư trụ trì. Sư hoằng dương thiền pháp trên 20 năm ở đất Thục, người đời gọi sư là “Đông Hải Đại Sư”. Sư chủ trương truyền pháp lấy “Vô ức (không nhớ), Vô niệm, Mạc vong” làm tông. Đệ tử của sư có các vị: Vô Trụ, Thần Hội, Thần Thanh… ● 無 相 大 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Huyền Giác đời Đường. X. Huyền Giác. ● 無 愠 (1309-1386). Thiền tăng đời Nguyên, họ Trần, tự Thứ Trung, hiệu Không Thất, người Lâm Hải (Chiết Giang) Trung Quốc. Tuổi tráng niên, sư lên Kính Sơn theo Nguyên Tẩu Hạnh Đoan cạo tóc, và thụ giới cụ túc tại Chiêu Khánh Luật Tự. Lần lượt tham kiến Linh Thạch Như Chi tại chùa Tịnh Từ, Nhất Nguyên Linh tại chùa Tư Phúc. Lại đến núi Thiên Đồng hầu hạ Bình Thạch Như Chỉ, tham cứu mười năm. Sau đó, cùng với bạn đồng học là Mộc Am Thông, Đại Tông Hưng v. v… đến núi Tử Thác tham kiến Trúc Nguyên Diệu Đạo. Một hôm muốn hỏi “Con chó không Phật tính”, định mở miệng, Diệu Đạo hét một tiếng, sư liền đại ngộ, trình bài kệ được ấn khả làm truyền nhân tông Lâm Tế. Sư hoằng pháp nơi chùa Quảng Phúc ở Linh Nham, chùa Tịnh Độ ở Thụy Nham, kẻ tài đức khắp nơi đến tham học rất đông. Sư đặt ra ba câu hỏi để tiếp dẫn thiền khách, không khế ngộ thì đuổi đi, người đời gọi là “Thụy Nham Tam Quan”. Tuổi già ẩn cư trên đỉnh Tùng Nham. Vô Uấn học rộng, thông tuệ giỏi thi văn. Tác phẩm: Thứ Trung Hòa Thượng Ngữ Lục 6 quyển, Sơn Am Tạp Lục 2 quyển, Tịnh Độ Thi 1 quyển, Tùng Niêm Tuyết Đậu Niêm Cổ Bách Tắc. ● 無 畏 禪 師. Thụy hiệu của Thiền tăng Hoàn Phổ đời Ngũ Đại. X. Hoàn Phổ. ● 無 文. Hiệu của Thiền tăng Đạo Trăn, sống vào đời Tống. X. Đạo Trăn. ● 無 文 道 燦 禪 師 語 錄. Còn gọi: Vô Văn Hòa Thuợng Ngữ Lục. Ngữ Lục, 1 quyển, do Vô Văn Đạo Xán soạn vào đời Tống, Duy Khang biên tập, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 150, trang 1013. Nội dung bao gồm Ngữ Lục của Đạo Xán lúc ở chùa: Tiến Phuớc, Khai Tiên Hoa Tạng và lúc trở về trụ Tiến Phúc lần thứ hai; Tiểu Phật sự, Tán, Kệ tụng, Đề bạt v. v… Đạo Xán còn soạn tập thơ văn “Vô Văn ấn” 20 quyển. ● 無 爲. 1. Hành động không có mọi ham muốn và mọi chủ định. ● 2. Đạo thiền. Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục ghi: 十 方 同 一 會、箇 箇 學 無 爲 此 是 選 佛 處、心 空 及 第 歸 “Thập phương đồng nhất hội Cá cá học vô vi Thử thị tuyển Phật trường Tâm không cập đệ quy”. “Mười phương cùng tụ hội, Người người học vô vi Đây là trường tuyển Phật Tâm không đỗ đạt về”. ● 無 位 眞 人. Con người thật không có địa vị, nói cách khác là Bản lai diện mục. Tức là người chẳng còn rơi vào các phẩm vị như: 42 giai vị hoặc 52 giai vị của Bồ Tát; siêu việt mọi thứ phân biệt về: phàm thánh, mê ngộ, trên dưới, sang hèn; đối với tất cả chỗ đều tự do tự tại. Lâm Tế Lục (Đại 47, 496 hạ) ghi: “上 堂 云:赤 肉 團 上 有 一 無 位 眞 人。常 從 汝 等 諸 人 面 門 出 入。未 證 據 者 看 看。 – Trên khối thịt đỏ có một con người thật không địa vị, thường từ cửa mặt quý vị ra vào. Người nào chưa chứng ngộ hãy xem đi!” ● 無 出 濶. Không bận đến tương lai. Duy Tắc Ngữ Lục q. 1 ghi: “做 箇 無 轉 智、無 出 濶 漢、喫 囑 喫 飯 過、聽 風 聽 雨 眠 – Làm một con người không nghĩ ngợi, không bận đến tương lai, ăn cơm cháo qua ngày, đêm nằm nghe mưa nghe gió”. ● 無 意 道 人. Biệt hiệu của Thiền tăng Hiếu Khiêm sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. X. Hiếu Khiêm. ● 無 意 智. Cảnh giới của người ngộ thiền: Sạch hết ý niệm, siêu việt tri giải. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “虎 丘 忌 日、拈 香 曰:平 生 沒 興、撞 著 這 無 意 智 老 和 尚、做 盡 伎 倆、湊 泊 不 得。從 此 卸 卻 天 戈、隨 分 著 衣 喫 飯。 – Đến ngày giỗ của Hổ Khâu, sư niêm hương rằng: Cuộc đời con tưởng như đã bỏ, bỗng gặp vị Hòa Thượng hết mọi tình niệm, vượt thoát tri giải như thầy. Con đã trổ hết ngón nghề mà không lãnh hội được. Từ khi nắm được tâm yếu của Thầy rồi con được tự do tự tại”. ● 迂 叟. Hiệu của thiền tăng Phổ Hiệp, đời Minh. X. Phổ Hiệp. ● 雨 庵. Hiệu của Thiền tăng Tổ Uyên đời Minh. X. Tổ Uyên. ● 武 林 靈 隱 寺 志. Chí, 8 quyển, do Tôn Trị soạn vào đời Thanh, Từ Tăng trùng biên, có bản khắc vào niên hiệu Khang Hy thứ 11 (1672) đời Thanh và được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Linh ẩn Tự Chí vốn có bản thảo được Bạch Hoành sửa chữa vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) đời Minh. Đến niên hiệu Khang Hy thứ 9 (1670) đời Thanh, Tôn Trị trùng tu thành 12 quyển. Năm kế, Từ Tăng biên tập lại bản của Tôn Trị còn 8 quyển, chia làm 14 mục: Khai sơn, Trùng hưng, Sơn thủy, Phạm vũ, Cổ tháp, Cổ tích, Thiền tổ, Pháp ngữ, Đàn việt, Nhân vật, Nghệ văn, Thi, Di sự, Tạp ký. Những văn hiến có liên quan đến chùa Linh ẩn từ niên hiệu Khang Hy đời Thanh trở về trước đều được ghi chép tường tận trong bộ tự chí này. ● 武 林 梵 志. Chí, 12 quyển, do Ngô Chi Kình soạn vào đời Minh; được khắc bản vào đời Minh và được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Tác giả xem thấy các tự viện ở Hàng Châu vào đời Minh bị hư hỏng rất nhiều, e rằng các di tích dần dần tiến đến chỗ bị chôn vùi nên tham khảo nhiều sách vở, biên thành sách này. Chia ra: Các chùa ở ngoài thành, trong thành, ở núi Nam, núi Bắc và các chùa thuộc huyện, tổng cộng gồm 426 ngôi tự viện; ghi chép tỉ mỉ quá trình xây dựng và cảnh trí sông núi. Còn phân ra 4 mục: Thiên triều sủng tích (Phẩm vật do triều đình ban cho), Tể quan hộ trì. Cổ đức cơ duyên, Lịch đại huân tích (công lao các vị Trụ trì trải qua các đời). Sách này ghi chép rõ ràng về các di tích đẹp nổi tiếng và chi phái của các bậc cao tăng có lớp lang thứ tự. ● 武 進 天 寧 寺 志. Chí, 11 quyển và một quyển thủ, do Bộc Nhất Thừa soạn vào thời cận đại, được xếp vào Trung Quốc Phật Tự Sử Chí Vựng San tập 1. Chùa Thiên Ninh ở Vũ Tiến (tức Thường Châu) bắt đầu sáng lập vào niên hiệu Vĩnh Huy thứ 1 (650) đời Đường, do Thiền Sư Pháp Dung, tổ tông Ngưu Đầu cất am ở đây. Khoảng niên hiệu Thiên Phúc (936-943) đời Ngũ Đại, Thiền Sư Duy Cang xây dựng lại tự vũ, các đời sau đó cao tăng lớp lớp xuất hiện. Cuối đời Thanh mở ra chỗ khắc kinh Tỳ Lăng để khắc bản in kinh tạng sách vuông. Năm 1927, Mậu Càn Sơ bắt đầu biên soạn tự chí, do vì làm vội vàng nên có nhiều sai sót. Năm 1941, Bộc Nhất Thừa biên soạn lại tự chí mới, trải qua 5 năm mới xong. Tất cả gồm 8 mục: Kiến trí, Tăng già, Pháp ngữ, Trước tác, Trinh thạch, Nghệ văn, Quy ước, Chí dư. Mục “Trước tác” là mục lục kinh tạng sách vuông được khắc bản in ở chùa Thiên Ninh vào khoảng năm Dân Quốc. Mục “Pháp ngữ” phần lớn thu thập các điều mà chuyên tập không có, hoặc lưu thông trong phạm vi hạn hẹp hoặc mất mát do lâu ngày, rất có giá trị cho việc tham khảo. ● 婺 州 清 規. X. Tùng Lâm Hiệu Định Thanh Quy Tổng Yếu. ● 王 蠻 子. Gã đầy tớ. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 2 (Đại 48, 1028 thượng) ghi: “叢 林 典 刑 幾 至 掃 地。縱 有 扶 救 之 者。返 以 爲 王 蠻 子也。 – Khuôn phép sẵn có của tùng lâm gần đến lúc hoàn toàn sụp đổ. Dù có người đứng ra phù trì nhưng lại bị cho là kẻ làm đầy tớ”. ●車. Kéo, dắt, vận chuyển. Tiết Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “一 字 入 公 門、九 牛 曳 不 出。 – Một chữ vào trong cửa quan, chín năm kéo chẳng ra. “ ● 捨 頭 覓 頭. Bỏ đầu tìm đầu. Chẳng đoái đến cái đầu sẵn có, lại đi tìm cái đầu khác bên ngoài; dụ chỉ cho người tham thiền si mê, chẳng biết ông Phật tự tâm, lại tìm cầu Phật bên ngoài. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “道 流。大 丈 夫 兒 今 日 方 知 本 來 無 事。只 爲 爾 信 不 及。念 念 馳 求。捨 頭 覓 頭。自 不 能 歇。。。。如 此 之 流。取 捨 未 忘 染 淨 心 在。 – Các ngươi! Kẻ đại trượng phu, hôm nay mới biết bản lai vô sự. Chỉ vì các ngươi chẳng tin tự tâm, niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu tìm đầu, tự không thể thôi… bọn người như thế chưa quên việc lấy bỏ, tâm nhiễm tịnh vẫn còn”. ● 捨 己 外 求. Chỉ cho người tham thiền si mê, chẳng thấy rõ được tự tâm là Phật, mà hướng ra bên ngoài tìm cầu cách làm Phật. Duy Tắc Ngữ Lục q. 2 ghi: “汝 若 一 念 回 光、主 人 公 相 去 不 遠;汝 若 捨 己 外 求、轉 不 相 應。 – Ngươi nếu một niệm hồi quang thì chẳng cách xa ông chủ của chính ngươi; còn nếu xả kỷ ngoại cầu thì càng chẳng tương ưng”. ● 舍 素 從 緇. Bỏ áo trắng theo áo đen. Ý nói bỏ tục để xuất gia làm tăng. Vì người thế tục thường mặc áo trắng (tố), còn người xuất gia thường mặc áo nhuộm hoặc áo đen (truy). Bài tựa của Đàm Lâm cho sách Lược Biện Đại Thừa Nhập Đạo Tứ Hạnh của Bồ Đề Đạt Ma trong CĐTĐL q. 30 ghi: “志 存 摩 訶 衍 道。故 捨 素 從 緇 紹 隆 聖 種。 – Đạt Ma chí đặt ở đạo Đại thừa nên bỏ tục để xuất gia làm tăng, nối tiếp và làm rạng rỡ dòng thánh”. ● 壳 漏 子. Thân thể con người. Tiết Đạo Ngô Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “雲 巖 不 安 時、道 吾 問:離 卻 這 箇 殼 漏 子、向 什 麼 處 再 得 相 見?巖 曰:不 生 不 滅 處 相 見。 – Khi Vân Nham bệnh, Đạo Ngô hỏi: Bỏ thân này, sẽ gặp lại nhau ở đâu? Vân Nham đáp: Gặp nhau nơi chẳng sinh chẳng diệt”. ● 瞠 眼. Giương to mắt, thường dùng để hình dung vẻ chấp mê không tỏ ngộ. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “如 今 有 者。只 管 瞠 眼 作 解 會。 – Hiện nay có người chỉ mãi giương to mắt cho là hiểu biết”. ● 巧 見. Kiến giải phát sinh do trí thông minh của thế tục. Tiết Nghệ Ngôn trong NHQL q. 29 ghi: “參 學 之 士、工 夫 逼 拶 到 將 悟 未 悟 之 際、解 心 未 絕、往 往 巧 見 橫 生、此 謂 之 聰 明 境 界。 – Đối với kẻ sĩ, công phu tham cứu bức bách đến ranh giới: chưa ngộ với sắp ngộ. Khi ấy, tâm ý thức chưa sạch, luôn luôn nảy sinh kiến giải. ở đây gọi là cảnh giới thông minh”. ● 巧 便. Pháp môn phương tiện thiện xảo. Tiết Khai thị Đạo nhân Bản Sắc trong Minh Bản Tạp Lục q. trung ghi: “要 做 本 色 道 人、別 無 他 巧 便、單 單 只 要 不 惜 身 命、忘 死 向 前、猛 做 一 回、做 到 著 力 不 得 處、用 心 不 得 時、正 好 用 心。 – Muốn làm bậc đạo nhân chân chính đặc biệt đừng dùngphương tiện thiện xảo nào khác, chỉ cần chẳng tiếc thân mạng tiến lên phía trước, một phen dũng mãnh tham cứu đến chỗ ra sức chẳng được, dụng tâm chẳng xong, đây chính là chỗ dụng tâm tốt nhất”. ● 齒 錄. Kể ra và ghi chép. Đại Châu Ngữ Lục q. hạ ghi: “迷 人 不 知、法 身 無 象、應 物 現 形、遂 喚:青 青 翠 竹、總 是 法 身、郁 郁 黃 花、無 非 般 若。黃 花 若 是 般 若、般 若 即 同 無 情;翠 竹 若 是 法 身、法 身 即 同 草 木、如 人 喫 笋、應 總 喫 法 身 也。如此 之 言、寧 堪 齒 錄。 – Người mê chẳng biết pháp thân vô tướng, ứng vật hiện hình nên bảo: Trúc biếc xanh xanh đều là pháp thân; hoa vàng rậm rạp chỉ là Bát Nhã. Hoa vàng nếu là Bát Nhã, Bát Nhã tức đồng với vô tình, trúc biếc nếu là pháp thân, pháp thân tức đồng với cây cỏ, như người ăn măng lý đáng ăn cả pháp thân. Kiểu nói như thế, đâu thể kể ra và ghi chép hết”. ● 赤 骨 力. Trần trụi, không có gì cả. Ám chỉ quét sạch vọng niệm trần tục, nhận thức muôn pháp đều không. Tiết Linh ẩn Huệ Viễn Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “師 忽 頓 悟、 仆 於 眾、眾 掖 之。師 乃 曰:吾 夢 覺 矣。至 夜 小 參、師 出 問 曰:淨 裸 裸 空 無 一 物、赤 骨 力 貧 無 一 錢。戶 破 家 亡、乞 師 賬 濟。 – Sư chợt đốn ngộ, ngã vào chúng, chúng đỡ dậy. Sư liền nói: Tôi đã tỉnh cơn mơ rồi! Đến tối có tiểu tham, sư bước ra hỏi: Sạch trơn không một vật, trần trụi không một đồng. Nhà tan cửa nát xin thầy cứu giúp”. ● 赤 脚 人 趁 兔 著 靴 人 喫 肉. Người chân trần đuổi bắt thỏ, kẻ mang giày được ăn thịt thỏ. (Kẻ nhọc thì chẳng được, kẻ chẳng nhọc thì được). Thiền Tông dùng cụm từ này để chỉ nếu truy tìm thì khó ngộ đạo, còn bình thường vô sự thì dễ khế hợp với thiền pháp hơn. Chương Phong Huyệt Diên Chiểu Thiền Sư trong CĐTĐL q. 13 ghi: “問:大 眾 雲 集 請 師 說 法。師 曰:赤 腳 人 趁 兔。著 靴 人 喫 肉。 – Hỏi: Đại chúng đã tề tựu, thỉnh sư thuyết pháp. Sư nói: Kẻ nhọc thì chẳng được, kẻ chẳng nhọc thì được”. ● 赤 口 白 舌 盡 消 除. Còn gọi: Xích Khẩu Tịnh Tiêu Vong. Miệng lưỡi thị phi, lời dèm pha vu cáo đều tiêu trừ. Đây là từ giải hạn mà dân gian thường dùng để tiêu trừ tai họa từ miệng lưỡi. Như Tịnh Ngữ Lục q. thượng ghi: “看! 畫 作 一 道 神 符、向 鬼 門 上 貼。且 道 如 何?赤 口 白 舌 盡 消 除、〖⿰足孛〗 跳 楊 岐 三 腳 驢。 – Hãy xem, vẽ một lá bùa dán trên cửa quỷ, thử hỏi như thế nào? Miệng lưỡi thị phi đều tiêu trừ, con lừa Dương Kỳ ba chân nhảy cẩng”. ● 赤 眼 歸 宗. Đời Đường, thiền tăng Trí Thường ở chùa Quy Tông tại Lô Sơn, vì đôi mắt của sư có màu đỏ nên người đời gọi sư là Xích nhãn Quy Tông. ● 赤 肉 團. Khối thịt đỏ, chỉ thân người, thể xác. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “上 堂 云。赤 肉 團 上 有 一 無 位 眞 人。常 從 汝 等 諸 人 面 門 出 入。未 證 據 者 看 看。 – Sư thượng đường, nói: Trên thể xác có một con người thật không địa vị, thường từ cửa mặt của các ông ra vào. Người chưa được ấn chứng hãy bước ra xem. “ ● 赤 灑 灑. Thênh thang rỗng lặng, thanh tịnh vô nhiễm, là cảnh giới thiền ngộ. Tiết Tiến Phúc Đạo Anh Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “此 之 宗 要、千 聖 不 傳。直 下 了 知、當 處 超 越。是 知 赤 灑 灑 處、恁 麼 即 易。明 歷 歷 處、恁 麼 還 難。 – Yếu nghĩa Thiền Tông ở đây ngàn thánh chẳng truyền. Lập tức biết rõ, ngay nơi đó siêu việt. Cái biết ấy thênh thang rỗng lặng, như thế thì dễ; chỗ sáng suốt rõ ràng, thế ấy càng khó. “ ● 闡 化. Hoằng dương đạo pháp, tiến hành giáo hóa. Tiết Hoài Nhượng, đời thứ 1 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: “後 馬 祖 闡 化 於 江 西 開 元 寺。 – Sau đó Mã Tổ xiển hóa nơi chùa Khai Nguyên, Giang Tây”. ● 囅 然. Dáng vẻ tươi cười. Tiết Long Nha Trí Tài Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “師 喝 曰:苦!苦!復 曰:白 雲 湧 地、明 月 當 天。言 訖 囅 然 而 逝。 – Sư hét, nói: Khổ! Khổ! Lại nói: Mây trắng mịt mù đất, trăng sáng tỏ trên trời. Nói xong tươi cười mà lìa đời”. ● 掣 風 掣 顚. Điên điên khùng khùng. Từ để hình dung trạng thái không bình thường về hành vi và ngôn ngữ của một người nào đó. Tiết Trấn Châu Phổ Hóa Hòa Thượng trong NĐHN q. 4 ghi: “臨 濟 一 日 與 河 陽 木 塔 長 老 同 在 僧 堂 內 坐、正 說 師 每 日 在 街 市 掣 風 掣 顛、知 他 是 凡 是 聖?師 忽 入 來。 – Một hôm, Lâm Tế cùng với Hà Dương, Trưởng lão Mộc Tháp ngồi trong tăng đường bàn chuyện về sư: Mỗi ngày ở ngoài đường phố điên điên khùng khùng mà không biết y là phàm hay là thánh? Bỗng nhiên, sư bước vào”. ● 䟕. Giẫm, đạp. Tử Lăng Tự Du Thiền Sư trong NĐHN q. 18 ghi: “赤 腳 䟕 泥 冷 似 冰。 – Chân trần giẫm đất lạnh như băng. “ ● 春 蘭 秋 菊. Hoa lan mùa xuân và hoa cúc mùa thu đều tỏa hương thơm ngát, khó định được hơn kém; dụ cho việc khó co 1thể phân biệt thắng thua, hơn kém. Tắc 63, Thung Dung Lục (Đại 48, 266 trung) ghi: “示 眾 云。三 聖 雪 峰。春 蘭 秋 菊。趙 州 投 子。卞 璧 燕 金。 – Sư dạy chúng rằng: Tam Thánh, Tuyết Phong như hoa lan mùa xuân như hoa cúc mùa thu. Triệu Châu, Đầu Tử như ngọc Biện Hòa như vàng nước Yên. “ ● 出 格. Vượt lên trên thứ bậc thông thường. Linh Hựu Ngữ Lục ghi: “若 能 對 眾 下 得 一 語 出 格、當 與 住 持。 – Nếu người nào trước đại chúng nói được một lời vượt thứ bậc, ta sẽ cho làm Trụ trì”. ● 出 格 超 量. Vượt lên trên thứ bậc và số lượng thông thường. Thư Đáp Bốc Vận Thuộc trong Mật Am Ngữ Lục ghi: “昔 龐 居 士 李 都 尉。皆 是 誠 心 篤信。自 己 分 上。有 蓋 天 蓋 地。出 格 超 量 底 事。 – Xưa kia Bàng cư sĩ, Lý đô úy đều là những người thực bụng vững tin nơi chính mình, có việc làm vượt lên trên thứ bậc và số lượng thông thường, che trời che đất. “ ● 出 眾. Còn gọi: Xuất Ban. Từ trong hàng ngũ tăng chúng bước ra, là động tác đối trước thiền sư đưa ra vấn đề hoặc trả lời câu hỏi của thiền sư. Minh Giác Ngữ Lục ghi: “大 凡 出 眾。切 磋 也 須 是 本 分 禪 客。 – Nói chung, người nào trong hàng ngũ tăng chúng bước ra cũng cần là thiền khách lão luyện. “ Tông Môn Võ Khố ghi: “慈 明 瑯 瑯 大 愚 等 數 人 辭 汾 陽。相 讓 不 肯 爲 參 頭。汾 陽 云。此 行 不 可 以 戒 臘 推。聽 吾 一 頌。天 無 頭 吉 州 城 畔 展 戈 矛。將 軍 疋 馬 林 下 過。圓 州 城 裏 鬧 啾 啾。慈 明 出 班 云。楚 圓 何 人 敢 當 此 記 莂。遂 領 眾 拜 辭。 – Vài vị như Từ Minh, Lang Da, Đại Ngu từ giã Phần Dương, nhường nhau không ai chịu nhận chức Tham đầu. Phần Dương bảo: Việc này không thể dùng giới lạp để suy cử. Hãy nghe ta tụng: Thiên vô đầu (là chữ Đại), Cát Châu thành bạn triển qua mâu (là chữ Khai), Tướng quân thất mã lâm hạ quá (là chữ Sở), Viên Châu thành lý náo thu thu (là chữ Viên). [Ý bài kệ nói Sở Viên sẽ mở rộng tông phong của ta] Từ Minh (tức thiền sư Sở Viên) từ trong chúng bước ra, thưa: Sở Viên là người nào lại dám nhận lời tiên đoán này? Từ Minh liền dẫn đầu chư tăng lễ tạ. ● 出 隊. Vị Trụ trì lãnh đạo chư tăng đi ra phố phường quyên góp. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. trung ghi: “出 隊 歸 上 堂 云:出 隊 半 箇 月。眼 不 見 鼻 孔。忘 卻 祖 師 禪。拾 得 箇 骨 董。 – Sau khi đi quyên góp về, Sư thượng đường nói: Nửa tháng trời đi quyên góp, mắt chẳng thấy lỗ mũi, quên mất thiền pháp của Tổ sư mà chỉ lượm được món đồ cổ”. ● 出 興. Xuất hiện, trở lại trần gian. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “過 去 毘 婆 尸 佛。出 興 于 世。時 有 一 信 士。鑄 金 鐘 一 口。可 重 萬 斤。 – Đời quá khứ, Phật Tỳ Bà Thi xuất hiện ở đời. Khi ấy có một vị tin theo Phật pháp, đúc một quả chuông nặng đến muôn cân. “ ● 出 期. Đến chỗ hoàn toàn thôi nghỉ, chỉ cho chỗ cứu cánh chân thật. Sở Sơn Kỳ Thiền Sư giải chế trong Thiền Quan Sách Tiến ghi: “眞 實 究 竟 爲 出 期。 – Chỗ cứu cánh chân thật là xuất kỳ”. ● 出 沒 捲 舒. Trạng thái tùy ý tự tại, vận dụng vô ngại sau khi ngộ. Tiết Đại Quy Mộ Triết Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “諸 人 還 相 委 悉 麼?若 也 委 悉 去、如 龍 得 水、似 虎 靠 山、出 沒 卷 舒、縱 橫 應 用。如 未 相 委、大 似 日 中 逃 影。 – Các ông có ngộ được chăng? Nếu ngộ được thì các ông như rồng gặp nước, tợ cọp dựa núi, tùy ý tự tại, ứng dụng vô ngại. Nếu chưa ngộ được thì giống kẻ giữa trưa chạy trốn bóng”. ● 出 牛 胎 入 馬 腹. Ra thai trâu, vào bụng ngựa. Ý nói đọa vào đường súc sinh trong luân hồi sinh tử. Minh Bản Tạp Lục q. trung ghi: “如 今 多 是 根 浮 腳 淺、無 主 宰、無 正 見、無 力 量、無 作 略、輕 遇 著 一 些 逆 順 境 界、便 被 他 攙 奪 去、便 乃 著 力 不 得、用 心 不 得。殊 不 知、著 力 不 得、便 是 眼 光 落 地 時 著 力 不 得。那 時 既 無 著 力 處、便 是 出 牛 胎 入 馬 腹 底 路 頭 也。 – Hôm nay phần nhiều là căn cơ cạn mỏng, không có các yếu tố như: chủ tể, chính kiến, lực lượng, hành vi tiếp hóa người học; chợt gặp một vài cảnh duyên thuận nghịch liền bị chúng cướp đoạt, mới hay dụng công chẳng được, dụng tâm chẳng được. Há chẳng biết dụng công chẳng được chính là khi chết dụng công chẳng được. Khi ấy đã không có chỗ dụng công, chính là con đường ra thai trâu vào bụng ngựa vậy”. ● 出 眼. Tỏ rõ pháp nhãn, khơi sáng ý chỉ thiền. Bài tựa trong Thung Dung Am Lục ghi: “至 于 著 語 出 眼 筆 削 之 際。亦 臨 機 不 讓。 – Còn như việc bình luận nhằm tỏ rõ pháp nhãn, khơi sáng ý chỉ thiền, gặp phải cơ duyên chẳng cần phải khách khí khiêm nhường. “ ● 出 人. Vượt trội hơn mọi người. Tông Môn Võ Khố ghi: “峨 嵋 山 白 長 老。嘗 云。鄉 人 雪 竇 有 頒 百 餘 首。其 詞 意 不 甚 出 人。何 乃 浪 得 大 名 於 世。 – Bạch Trưởng lão ở núi Nga My từng bảo rằng: Người đồng hương Tuyết Đậu có hơn trăm bài tụng, ý và lời không có gì vượt trội hơn người, vì sao lại nổi tiếng ở đời?” ● 出 生. Trước giờ thọ trai, tăng nhân lấy một ít cơm để cúng thí cho chúng sinh. Tiết Tính Không Diệu Phổ Am chủ trong NĐHN q. 18 ghi: “賊 奉 肉 食、師 如 常 齋 出 生 畢、乃 曰:孰 當 爲 我 文 之 以 祭? – Lũ cướp dâng lên sư cá thịt. Sư vẫn thọ trai như thường. Xuất sinh xong, sư nói: Ai sẽ vì ta làm văn để cúng tế?” ● 出 草. Đối lại: Nhập Thảo, Lạc Thảo. Thảo là dụ cho thế gian, người thế tục. Siêu xuất thế gian là Xuất thảo. Xuất thảo đàm: Bàn luận về tôn chỉ thâm áo siêu xuất thế tục, tức nói đến chỗ đệ nhất nghĩa của Phật pháp. Vân Môn Thiền Sư Ngữ Lục q. trung ghi: “師 一 日 云:古 來 老 宿 皆 爲 慈 悲 之 故、有 落 草 之 談、隨 語 識 人。若 是 出 草 之 談、即 不 與 麼。 – Một hôm sư bảo: Xưa nay các bậc lão túc đều vì lòng từ bi nên có ›Lạc thảo chi đàm‹, tuỳ cơ mà thức tỉnh người học. Nếu là ›Xuất thảo chi đàm‹ thì không như thế”. ● 出 身. Siêu thoát, triệt ngộ. Chương Hựu Phục Ngộ Không Thiền Sư trong CĐTĐL q. 24 ghi: “問 如 何 是 學 人 出 身 處?師 曰:千 般 比 不 得 萬 般 況 不 及。 – Hỏi: Thế nào là chỗ học nhân siêu thoát? Sư nói: Ngàn thứ so chẳng được, muôn thứ sánh chẳng bằng”. ● 出 身 活 路. Còn gọi: Xuất Thân Chi Lộ, Xuất Lộ Xuất Thân. Xuất thân: Chỉ cho cái thân thoát khỏi sinh tử, không còn dính mắc hai khái niệm mê ngộ, đạt được cái dụng vô ngại, khoáng đạt. Hoạt lộ: Con đường sống. Xuất Thân Hoạt Lộ chỉ cho cảnh giới siêu thoát. ● 出 世. Có 2 nghĩa: 1. Sau khi tự mình tu hành chứng ngộ, Thiền Sư trở vào đời để giáo hóa chúng sinh. Điều Tôn Túc Trụ Trì trong Thiền Uyển Thanh Quy q. 7 (Vạn Tục 111, 458 thượng) ghi: “傳 法 各 處 一 方、續 佛 慧 命、斯 曰 住 持;初 轉 法 輪、命 爲 出 世。 – Mỗi người truyền pháp mỗi nơi, nối huệ mạng Phật, đó là Trụ trì; bắt đầu thuyết pháp độ sinh, gọi là xuất thế”. ● 2. Chư Phật xuất hiện ở thế gian, tu hành thành Phật để giáo hóa chúng sinh. Thí dụ: “諸 佛 出 世 之 本 懷。 – Chư Phật lấy việc xuất thế làm bản hoài”. ● 出 手. 1. Ra tay. Tiết Hoa Tạng Tông Diễn Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “遂 出 手 曰:華 藏 不 惜 性 命、爲 諸 人 出 手 去 也。 – Sư liền đưa tay ra nói: Hoa Tạng chẳng tiếc tính mạng, đã vì các ông mà ra tay đây!” ● 2. Chỉ cho các việc làm: Tham thiền, ngộ đạo, thị cơ, ứng cơ. Tiết Phúc Tiên Chiêu Khánh Thiền Sư trong TĐT q. 13 ghi: “本 自 圓 成、不 勞 機 杼、諸 上 座 出 手 不 出 手? – Sư thượng đường, nói: Vốn tự có sẵn, chẳng nhọc đến khung cửi, các Thượng tọa xuất thủ hay chẳng xuất thủ?” ● 出 陣. Hành vi bước ra khỏi chúng của một vị tăng để hỏi đáp với Thiền Sư khi ngài thượng đường hoặc trong các buổi tham vấn. Dương Kỳ Phương Hội Hoà Thượng Ngữ Lục ghi: “一 日、七 人 新 到、師 問:陣 勢 既 圓、作 家 戰 將 何 不 出 陣 與 楊 岐 相 見。 – Một hôm, có bảy vị tăng đến chùa. Sư hỏi: Thế trận đã bày xong, bậc tác gia chiến trường sao không xuất trận để ra mắt Dương Kỳ?” ● 出 纏. Thoát khỏi mọi trói buộc, gò bó. Tiết Ngữ Chi Dư, đời thứ 3 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 2 ghi: “無 善 纏、無 惡 纏、無 佛 纏、無 眾 生 纏、量 數 亦 然、乃 至 都 無 一 切 量 數 纏。故 云:佛 是 出 纏。 – Không bị Phật trói, không bị chúng sinh trói, số lượng cũng như thế. Cho đến đều không bị tất cả số lượng trói, nên nói Phật thoát khỏi mọi trói buộc. “ ● 出 息 不 保 入 息. Thở ra không bảo đảm hít vào. Ý nói nhân sinh vô thường, cái chết không hẹn trước với ai. Đây là lời cảnh tỉnh của nhà Phật, khuyên mọi người sớm lo tu hành, ngộ đạo. Đoạn Tế Tâm Yếu ghi: “大 須 努 力、盡 今 生 去。出 息 不 保 入 息。 – Rất cần phải nỗ lực cả cuộc đời này đi! Thở ra không bảo đảm hít vào”. ● 出 問. Bước ra khỏi hàng ngũ chư tăng để thưa hỏi với thiền sư. Tông Môn Võ Khố ghi: “何 不 出 問 堂 頭 一 兩 則 話 因 緣? – Sao chẳng bước ra khỏi hàng ngũ chư tăng để thưa hỏi với vị Đường đầu một hai tắc công án?” ● 出 無 門 入 無 户. Theo thường thức thế gian khi muốn ra vào trong nhà thì phải đi qua cánh cửa đã mở. ở đây câu này có nghĩa ngược lại là không nhờ cửa mà vẫn ra vào căn nhà được. Thiền Tông dùng câu này làm thuật ngữ để chỉ cho sự tự do tự tại đối với các pháp của Thiền Sư. ● 出 壳 入 壳 如 宿 旅 舍. Ý nói thần thức rời khỏi thân thể (chết) hoặc nhập vào thân thể (sống) giống như lữ khách ra vào nhà trọ. Đây là phản ánh tư tưởng nhân sinh vô thường, luân hồi sinh tử. Vô Môn Quan ghi: “五 祖 問 僧 云:倩 女 離 魂、那 箇 是 眞 底。無 門 曰:若 向 者 裡 悟 得 眞 底、便 知 出 殼 入 殼、如 宿 旅 舍。 – Ngũ Tổ hỏi vị tăng rằng: Cô Thanh lìa hồn, cái gì là nguồn chân? Vô Môn bình: Nếu ở chỗ này ngộ được nguồn chân, liền biết thần thức rời khỏi thân thể hoặc nhập vào thân thể giống như lữ khách ra vào nhà trọ”. ● 觸. 1. Dơ bẩn. Phần Dương Ngữ Lục, q. thượng ghi: “邪 正 不 分、觸 凈 難 明。 – Tà chính không phân, sạch dơ khó rõ”. ● 2. Vi phạm. Tiết Dục Vương Đức Quang Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “喚 作 竹 篦 則 觸、不 喚 作 竹 篦 則 背。 – Gọi là trúc bề thì vi phạm; không gọi là trúc bề thì sai trái”. ● 觸 途 狂 見. Nơi nơi sinh ra kiến giải cuồng loạn. Pháp Diễn Ngữ Lục, q. thượng ghi: “設 使 言 前 荐 得。猶 是 滯 殼 迷 封。縱 饒 句 下 精 通。未 免 觸 途 狂 見。 – Giả sử trước lời nói lãnh hội được thì cũng là kẻ si mê ngu độn; cho dù dưới câu nói tinh thông cũng chưa khỏi nơi nơi sinh ra kiến giải cuồng loạn”. ● 觸 途 成 滯. Còn gọi: Xúc Đồ Câu Trệ. Mọi chỗ đều chướng ngại, không trót lọt. Chỉ cho sự lãnh ngộ nhiều trắc trở, khó khăn; sự lý không thông. Phương Hội Ngữ Lục ghi: “先 聖 有 八 萬 四 千 法 門、門 門 見 諦、學 人 爲 什 麼 觸 途 成 滯? – Chư Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, môn nào cũng thấy được chân lý, vậy vì sao kẻ học đạo lãnh ngộ khó khăn?”. Quy Sơn Cảnh Sách ghi: “徒 消 十 方 信 施、亦 乃 孤 負 四 恩。積 累 轉 深、心 塵 易 壅、觸 途 成 滯、因 所 輕 欺。 – Đó là luống tiêu của mười phương tín thí, cũng chính là cô phụ bốn ơn; tội lỗi chất chứa càng nhiều, tâm trần dễ bít lấp, sự lý không thông bị người khinh rẻ”. ● 觸 禮. Dập đầu hành lễ. Tiết Kỉnh Sơn Tông Cảo Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “下 座 後、大 家 觸 禮 三 拜。 – Sau khi sư ngồi xuống, mọi người dập đầu lễ ba lạy”. ● 觸 目 菩 提. Những gì mắt thấy đều là trí huệ Bồ Đề. Đây là cảnh giới của bậc giác ngộ đạt đến. Minh Giác Ngữ Lục, q. 2 ghi: “僧 問:如 何 是 觸 目 菩 提?師 云:風 動 塵 起 鳥 飛 落 毛。 – Tăng hỏi: Thế nào là xúc mục Bồ Đề? Sư đáp: Gió nổi bụi dấy, chim bay rụng lông”. ● 觸 目 是 道. Những gì mắt thấy đều là thiền pháp. Đây là cảnh giới của bậc giác ngộ đạt đến. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “師 或 云:古 人 道。觸 目 是 道。拈 卻 醬 甕。阿 那 箇 是 道? – Hoặc giả sư nói: Người xưa bảo: Xúc mục thị đạo. Sư giơ hũ tương lên hỏi: Cái gì là đạo?”. ● 觸 目 無 滯. Mắt nhìn không chút chướng ngại, chỉ cho sự lãnh ngộ trót lọt. Vân Môn Quảng Lục q. trung ghi: “直 得 觸 目 無 滯。達 得 名 身 句 身 一 切 法 空。山 河 大 地 是 名。名 亦 不 可 得。喚 作 三 昧 性 海 俱 備。猶 是 無 風 匝 匝 之 波。 – Cho dù lãnh ngộ trót lọt, đạt được danh thân, cú thân, tất cả pháp không, núi sông đại địa đều là tên gọi, tên gọi cũng không, gọi là Tam Muội tính hải câu bị, cũng giống như sóng không gió”. ● 促 拍. Gõ nhịp, gõ ra tiết tấu. Như Tịnh Ngữ Lục q. hạ ghi: “吹 笛 打 鼓、唱 歌 促 拍。 – Thổi sáo đánh trống, ca hát gõ nhịp. “ ● 觸 事. Mỗi một việc gì. Phần Dương Ngữ Lục q. thượng ghi: “遂 有 立 雪 斷 臂 負 石 舂 糠。遇 斯 志 人。方 堪 受 旨。況 乎 山 僧 觸 事 荒 唐。那 陞 此 位。實 當 慚 悚。 – Cho nên có những người đứng ngoài tuyết chặt cánh tay, đeo đá giã gạo, gặp những kẻ có chí như thế mới có thể lãnh thọ ý chỉ. Huống hồ sơn tăng việc gì cũng bừa bãi thì làm sao được địa vị ấy? Thật đáng hổ thẹn!” ● 促 榻. Ngồi xích lại gần, là động tác khi nói chuyện hợp ý nhau. Tiết Chiêu Giác Khắc Cần Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “時 張 無 盡 寓 荊 南、以 道 學 自 居、少 見 推 許。師 艤 舟 謁 之、劇 談 華 嚴 旨 要。曰:華 嚴 現 量 境 界、理 事 全 眞、初 無 假 法。。。公 於 是 不 覺 促 榻。 – Lúc Trương Vô Tận còn ở Kinh Nam, tự cho rằng đạo học của mình là hiếm có. Sư ghé thuyền vào yết kiến ông ta, luận bàn về yếu chỉ Hoa Nghiêm. Sư nói: Hoa Nghiêm là cảnh giới hiện lượng, lý sự toàn chơn, ban đầu không có mượn pháp… Khi ấy, Vô Tận bất giác ngồi xích lại gần. ” ● 觸 鼻 羊. Vốn là để chỉ cho con dê. Bởi vì mắt con dê không phân biệt được đồ vật, hễ vật chạm vào lỗ mũi của nó thì nó mới ăn. Thiền Tông muợn từ này để chỉ cho người học đạo mà mê muội, chẳng biết pháp. Lâm Tế Lục (Đại 47, 498 thượng) ghi: “今 時 學 者 總 不 識 法。猶 如 觸 鼻 羊 逢 著 物 安 在 口 裏。奴 郎 不 辨 賓 主 不 分。 – Thời nay, người học đều chẳng biết pháp giống như con dê dù thấy vật thực cũng không biết, phải để tới miệng mới ăn được. Những hạng người này chẳng phân biệt được tớ hay thầy, khách hay chủ”. ● 觸 物 無 碍. Lãnh ngộ trót lọt. Tiết Thị Nghiệp Hải Tịnh Thiền nhân trong Minh Bản Tạp Lục, q. trung ghi: “只 如 今 夏、轉 眼 是 半 夏 了 也、還 曾 觸 物 無 碍、還 曾 打 成 一 片 麼? – Cứ như mùa hạ hiện nay, trong chớp mắt là qua nửa hạ rồi mà vẫn chưa lãnh ngộ trót lọt, vẫn chưa nhồi thành một khối!”. ● 觸 衣. Quần đùi. Tiết Quang Hiếu Huệ Lan Thiền Sư trong NĐHN q. 12 ghi: “和 州 光 孝 慧 蘭 禪 師、不 知 何 許 人 也。自 號 碧 落 道 人。嘗 以 觸 衣 書 七 佛 名、叢 林 稱 爲 蘭 布 褌。 – Thiền Sư Huệ Lan chùa Quang Hiếu ở Hòa Châu không biết người ở đâu, hiệu là Bích Lạc Đạo Nhân. Từng viết tên bảy vị Phật lên quần đùi, tùng lâm gọi sư là Lan Bố Côn”. ● 冲 煦 (916-974). Thiền tăng đời Ngũ Đại, họ Hòa, người xứ Phúc Châu, Trung Quốc. Từ bé sư đã không ăn đồ tanh nồng, chí thệ xuất gia. Sư thờ Quốc sư Thần Yến ở Cổ Sơn làm thầy, đuợc ngài thọ ký và đắc pháp. Năm 24 tuổi, sư khai pháp ở Phong Thành, Hồng Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây), người thời ấy gọi sư là “Tiểu Trưởng lão”. Sau đó vào niên hiệu Hiển Đức (954-959) đời Chu, sư nhận lời mời của Chu Thế Tông trụ trì chùa Quang Mục, rồi dời đến chùa Khai Tiên ở Lô Lăng. Nam Đường Trung Chủ đón sư đến chùa Tịnh Đức ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh), tập họp đồ chúng để nghe sư thuyết pháp, nổi tiếng khắp xa gần. Thuỵ hiệu: Huệ Ngộ Thiền Sư. ● 吹 布 毛. Thổi sợi tơ trên áo, tức công án “Bố mao thị pháp” của thiền sư Điểu Khòa. Tiết Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư trong NĐHN q. 7 ghi: “古 人 吹 布 毛 作 麼 生?與 說 我 來 看。 – Người xưa thổi sợi tơ trên áo để làm gì? Nói cho ta nghe xem!” ● 吹 毛 劍. Gươm rất bén, để sợi lông nơi lưỡi kiếm rồi dùng miệng thổi, sợi lông liền đứt. 1. Thiền Tông dùng từ này để chỉ cơ phong bén nhạy. Tông Thừa Yếu Nghĩa trong DTNL q. 9 ghi: “如 吹 毛 劍、寒 光 逼 人、誰 敢 絲 毫 動 著?動 著 即 喪 身 失 命。 – Như gươm rất bén, ánh thép rợn người, ai dám chạm đến dù mảy may? Chạm đến là bỏ mạng”. ● 2. Chỉ cho câu thoại đầu. Thiền Quan Sách Tiến (Đại 48, 1098 trung) ghi: 直 須 提 起 吹 毛 劍 要 剖 西 來 第 一 義 “Trực tu đề khởi xuy mao kiếm Yếu phẫu Tây lai đệ nhất nghĩa”. “Rất cần đề khởi câu thoại đầu Cốt mổ cho ra ý Tổ sư”. ● 吹 萬 禪 師 語 錄. Ngữ Lục, 20 quyển, do Xuy Vạn Quảng Chân soạn vào đời Minh, Tam Sơn Đăng Lai trùng biên. Đây là bộ sách thu thập nhiều bài thuyết pháp của Thiền Sư Xuy Vạn, có bản in sách này vào niên hiệu Sùng Trinh thứ 16 (1643) đời Minh. ― Quyển 1, 2: Năm hội Ngữ Lục ở các nơi: Đông Thiền Viện tại Hành Châu, chùa Tập Vân ở Trung Châu. ― Quyển 3: Phổ thuyết, Tiểu tham. ― Quyển 4: Thị chúng, Trà thoại. ― Quyển 5: Pháp ngữ, Nhập đường, Nhập thất. ― Quyển 6, 7: Tụng cổ. ― Quyển 8, 9: Kệ. ― Quyển 10: Phật sự, Tượng tán, Thư vấn. ― Quyển 11, 13: Thi ca. ― Quyển 14: Phú, Ký, Dẫn. ― Quyển 15: Tự, Văn. ― Quyển 16: Truyện, Thiên. ― Quyển 17, 18: Thuyết. ― Quyển 19: Duyên khởi. ― Quyển 20: Tạp trước. Cuối quyển có phụ lục “Xuy Vạn Thiền Sư Tháp Minh” do Điền Hoa Quốc soạn, và phần hành trạng của sư do Chí Thiện soạn. ● 穿 却 鼻 孔. Xỏ qua lỗ mũi. Bị lệ thuộc vào ngoại vật, chẳng được siêu thoát tự tại, giống như dùng sợi dây dàm xỏ vào mũi con trâu. Tiết Ngọc Tuyền Đàm Ý Thiền Sư trong NĐHN q. 20 ghi: “進 一 步、則 被 拄 杖 子 迷 卻 路 頭;退 一 步、則 被 拄 杖 子 穿 卻 鼻 孔。 – Tiến một bước thì bị cây gậy làm cho lầm mất đường đi. Lùi một bước thì bị cây gậy xỏ qua lỗ mũi”. ● 穿 耳 胡 僧. Chỉ cho các vị tăng ấn Độ vào thời xưa, vì phần lớn họ thường xỏ lỗ tai để đeo khoen đồng. Tiết Cảnh Thanh Hòa Thượng trong TĐT q. 10 ghi: “穿 耳 胡 僧 笑 點 頭。 – Tăng ấn Độ vừa cười vừa gật đầu”. ● 穿 過 髑 髏. Xuyên qua đầu lâu, chỉ cho cảnh giới đoạn diệt tất cả tình thức. Tắc 24, Thung Dung Lục (Đại 48, 243 trung) ghi: “雪 竇 亦 云。如 今 藏 在 乳 峰 前。來 者 一 一 看 方 便。師 高 聲 喝 云。看 腳 下。萬 松 道。雪 竇 貪 觀 腳 下。不 知 穿 過 髑 髏。 – Tuyết Đậu cũng nói: Như nay cất giữ tại Nhũ Phong, người sau thảy xem là phương tiện. Sư lớn tiếng hét: Hãy xem ngay dưới chân mình đi! Vạn Tùng nói: Tuyết Đậu quá quan tâm nơi gót chân mà không biết xuyên qua đầu lâu. “ ● 處 所 離 分 別. Lìa xa phân biệt “có không” của thế giới ý niệm nhị nguyên. Tiểu truyện Thiền Sư Tĩnh Lực trong TUTA ghi: “Soi thấy pháp là vô thường, vô ngã, vô tác, vô vi, xa lìa phân biệt đối đãi “có không”, thì mới là người học đạo vậy. “ ● 處 分. 1. Sắp đặt, xử lý. Tiết Trường Thử Hòa Thượng trong TĐT q. 5 ghi: “小 師 後 卻 去 石 頭 參、石 頭 云:從 什 麼 處 來?對 云:從 長 髭 來。石 頭 曰:今夜 在 此 宿、還 得 麼?對 云:人一 切 取 和 尚 處 分。 Sau, Tiểu sư lại đến tham vấn Thạch Đầu. Thạch Đầu hỏi: Từ đâu đến? Tiểu sư đáp: Từ Trường Thử đến. Thạch Đầu bảo: Tối nay có nghỉ lại đây được không? Tiểu sư thưa: Tất cả đều tùy Hòa Thượng sắp đặt”. Tiết Động Sơn Hòa Thượng trong TĐT q. 6 ghi: “師 到 百 顏、顏 問:近 離 什 麼 處?師 曰:近 離 湖 南。顏 云:官 察 使 姓 什 麼?師 曰:不 得 他 姓。顏 云:名 什 麼?、師 曰:不 得 他 名。顏 曰:還 曾 出 不?師 曰:不 曾 出 也。顏 曰:合 勾 當 事 不?師 曰:自 有 郎 幕 在。顏 曰:雖 不 出、合 處 分 事。 – Sư đến ngài Bách Nhan, Nhan hỏi: Vừa rời chỗ nào? Sư thưa: Vừa rời Hồ Nam. Nhan hỏi: Quan Sát sứ họ gì? Sư đáp: Không biết họ ông ta. Nhan hỏi: Thế ông ta tên gì? Sư đáp; Không biết tên ông ta. Nhan hỏi: Có từng ra ngoài chăng? Sư đáp: Chẳng từng ra ngoài. Nhan hỏi: Có giải quyết công việc chăng? Sư đáp: Tự có phó quan rồi. Nhan nói: Tuy chẳng ra ngoài nhưng xử lý mọi việc”. 2. Sai bảo, dặn dò. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “五 祖 曰:。。。汝 總 且 歸 房 自 看、有 智 惠 者、自 取 本 性 般 若 之 知、各 作 一 偈 呈 吾。。。門 人 得 處 分、卻 來 各 至 自 房。 – Ngũ Tổ nói: … Các ngươi hãy về phòng tự khán. Người nào có trí huệ tự biết dùng Bát Nhã của bản tính làm một bài kệ trình cho ta xem… Môn nhân nghe lời sai bảo xong, mỗi người đều trở về phòng của mình”. Lại cùng sách trên ghi: “祖(只 五 祖 弘 忍)處 分:汝 去、努 力 將 法 向 南、三 年 勿 弘 此 法。 – Tổ (chỉ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn) dặn dò: Ngươi hãy đi, nỗ lực đem pháp về Nam, trong 3 năm ngươi đừng nên hoằng truyền pháp này”. ● 處 寂 (648-734). Thiền tăng đời Đường, họ Chu, người xứ Phù Thành, Miên Châu (nay là huyện Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên) Trung Quốc. Sư thờ Thiền Sư Bảo Tu làm thầy, siêng năng phục vụ, sống hòa đồng với mọi người. Sư thông suốt chỗ huyền áo, tiếng tăm vang đến triều đình, được Võ Hậu triệu đến Trường An và ban cho sư Ca Sa. Sư trở về chùa Đức Thuần ở Tư Châu (nay là huyện Tư Trung, tỉnh Tứ Xuyên) để tu thiền, hơn 40 năm chẳng bước chân đến xóm làng chợ búa. Đệ tử nối pháp có các vị như: Vô Tướng… ● 處 微 (890-955). Thiền tăng đời Đường, họ Tằng, người xứ Bảo Xương tham yết ngài Tây Đường Tạng Công và đắc pháp. Sư ở Kiền Châu (nay là huyện Cán, tỉnh Giang Tây). ● 稱 揚. Khen ngợi, truyền bá khắp nơi. Lâm Tế Ngữ Lục ghi: “山 僧 今 日 事 不 獲 已。曲 順 人 情 方 登 此 座。若 約 祖 宗 門 下。稱 揚 大 事。直 是 開 口 不 得。無 爾 措 足 處。 – Hôm nay do sự bất đắc dĩ, Sơn tăng thuận theo nhân tình mới lên tòa này. Nếu chiếu theo đệ tử Thiền Tông hoằng dương đại sự, thực là mở miệng chẳng được, chẳng có chỗ để đặt chân. “ ● 稱 揚 稱 鄭. Làm ra vẻ trịnh trọng. Lời nói hàm nghĩa chê bai. Tiết Đức Sơn Tuyên Giám Thiền Sư trong LĐHY q. 20 ghi: “莫 錯 仁 者!波 波 地 地 傍 家 走, 道 我 解 禪 解 道, 點 胸 點 肋, 稱 揚 稱 鄭, 到 這 裏 盡 須 吐 却, 始 得 無 事。 – Chớ lầm! Nhân giả, bôn ba chạy sang nhà hàng xóm nói ta hiểu thiền hiểu đạo, vỗ ngực khoe khoang, làm ra vẻ trịnh trọng. Đến đây cần phải mửa ra hết mới được vô sự. “ ● 稱 提. Khen ngợi, nêu lên. Pháp Diễn Ngữ Lục q. thượng ghi: “是 以 紹 先 聖 之 遺 蹤。稱 提 祖 令。爲 後 學 之 模 範。建 立 宗 風。 – Thế nên tiếp nối dấu vết của bậc Thánh trước (Phật) để lại, nêu lên thiền cơ của Tổ sư Thiền Tông, làm mô phạm cho hàng hậu học, dựng lập tông phong. “ ● 稱. Khiến cho người nào đó vừa lòng hợp ý. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “變 大 地 爲 黃 金。攪 長 河 爲 酥 酪。猶 未 稱 白 雲 在。 – Biến đất đai thành vàng ròng, khuấy sông dài làm sữa ngọt, còn chưa vừa lòng hợp ý Bạch Vân tôi. “ ● 猖 狂. Si mê không biết, tùy tiện làm càn. Tiết Chí Công Hòa Thượng thập tứ khoa tụng trong CĐTĐL q. 29 ghi: 五 欲 貪 瞋 是 佛 地 獄 不 異 天 堂 愚 人 妄 生 分 別 流 浪 生 死 猖 狂 “Năm dục tham sân là Phật. Địa ngục nào khác thiên đàng, Kẻ ngu vọng sinh phân biệt, Lang thang sinh tử làm càn”. ● 昌 容. Thiền tăng đời Minh, họ Triệu, hiệu là Quyền Thật, Định Phong, người Côn Minh (nay thuộc Vân Nam) Trung Quốc. Bảy tuổi xuất gia, 17 tuổi thọ giới cụ túc, để lòng nơi nội điển, nổi bậc nhất là làm thơ, bài nào làm trong lúc xuất thần thì thành ngâm vịnh. Nhập thất sáu năm, tham vấn Hòa Thượng Dư Sơn đắc pháp. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) sư làm chủ am Thúy Phong ở Tung Minh (nay thuộc Vân Nam). Tác phẩm: Khiếu Sư Sơn Ngữ Lục. ● 昌 濤 (1815-1893). Thiền tăng đời Thanh,họ Lưu, tự Tịnh Hàm, hiệu Cừ Đăng Đạo Nhân, là em của Xương Đạo, người xứ Đồng Sơn (Từ Châu, Giang Tô) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Đại Tu ở Tiêu Sơn, đời thứ 48 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Quảng Tế. Tác phẩm: Cừ Đăng Đạo Nhân Tạp Lục. ● 昌 道 (1813-1903). Thiền tăng đời Thanh, họ Lưu, tự Vân Phàm, người xứ Đồng Sơn (Từ Châu, Giang Tô) Trung Quốc. Nối pháp Thiền Sư Đại Tu, đời thứ 48 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì Tiêu Sơn. Tác phẩm: Tiêu Phàm Tập ● 昌 隆. Hưng thịnh. Xây đắp cho bền vững. Bài sám Quy Mạng của Thiền Sư Di Nhiên ghi: “此 世 福 基 命 位、各 願 昌 隆。 – Kiếp này nguyện xây đắp tòa phúc đức, nền đạo tâm cho bền vững”. ● 唱. 1. Hô to lên. Chương Đệ tứ tổ Ưu Ba Cúc Đa trong CĐTĐL q. 1 ghi: 波 旬 曰。我 誓 迴 向 佛 道 永 斷 不 善。鞠 多 曰。若 然 者 汝 可 口 自 唱 言 歸 依 三 寶。魔 王 合 掌 三 唱。 – Ba Tuần nói: Tôi thề hướng về Phật đạo, hằng dứt điều ác! Cúc Đa bảo: Nếu quả như thế, ngươi tự xướng ba lần quy y Tam bảo đi. Ma vương (tức Ba Tuần) chắp tay hô to lên ba lần. “ ● 2. Giảng nói. Chương “Trí Nhàn tụng” trong CĐTĐL q. 29 ghi: “達 道 人 唱 祖 意。我 師 宗 古 來 諱。唯 此 人 善 安 置。足 法 財 具 慚 愧。 – Bậc đạt đạo giảng nói ý Tổ sư, Tông của thầy ta xưa nay kiêng kỵ, chỉ có người này khéo đặt để, đủ pháp tài đủ cả tàm quý (hổ thẹn). “ ● 3. Cất tiếng to để rao bán y vật của vị tăng đã mất. Tiết Bảo Phong Khắc Văn Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “龍(指 黃 龍 和 尚)曰:腳 下 鞋 甚 處 得 來?師 曰:廬山七百五十文唱來。 – Long (chỉ Hòa Thượng Hoàng Long) bảo: Giày dưới chân từ đâu mà có? Sư thưa: ở Lô Sơn rao bán bảy trăm năm mươi đồng. “ ● 唱 導. Giảng nói Phật pháp, hướng dẫn người học. Huệ Nam Ngữ Lục ghi: “舉 興 化 謂 克 賓 維 那 曰。汝 不 久 爲 唱 導 之 師。 – Hưng Hóa bảo Duy Na Khắc Tân rằng: Chẳng bao lâu ngươi sẽ làm Thầy giảng nói Phật pháp, hướng dẫn người học. “ ● 唱 拍 相 隨. Ca hát và vỗ tay ăn rập nhau; dụ cho sự khế hợp chặt chẽ giữa thầy và trò. Tắc 64, Bích Nham Lục (Đại 48, 195 thượng) ghi: “南 泉 晚 間 復 擧 前 話 問 趙 州。州 是 老 作 家。便 脫 草 鞋。於 頭 上 戴 出。泉 云。子 若 在 卻 救 得 貓 兒 (唱 拍 相 隨。知 音 者 少。將 錯 就 錯)。 – Nêu lên công án: Nam Tuyền lại hỏi Triệu Châu về câu hỏi trước đó. Châu liền cởi giày để lên đầu và đi ra. Nam Tuyền nói: Nếu có ông ở đây thì cứu được con mèo (Sự khế hợp chặt chẽ giữa thầy và trò, ít có kẻ tri âm, phóng lao phải theo lao)” ● 唱 衣 (516). Phân chia y vật của vị tăng đã mất. Vân Môn Quảng Lục q. hạ ghi: “因 爲 亡 僧 唱 衣 次、如 今 唱 衣、亡 僧 還 向 這 裏 麼? – Nhân lúc đang phân chia y vật của vị tăng đã mất, sư hỏi một vị tăng khác: Hôm nay xướng y, vậy chớ ông tăng mất, còn có ở đây không?” ● 伊 庵 有 權. Hiệu của Thiền tăng Hữu Quyền đời Tống. X. Hữu Quyền. ● 衣 鉢 下. Còn gọi: Trường Liên Sàng. Sập dài nằm nghỉ tập thể chư tăng dùng để ngủ nghĩ tọa thiền. Sở dĩ có tên “Y bát hạ” là vì ngay trên giường có những cái móc để treo y bát. Tiết Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư trong NĐHN q. 3 ghi: “師 見 僧 斫 木 次、師 乃 擊 木 三 下、僧 放 下 斧 子、歸 僧 堂。師 歸 法 堂、良 久 卻 入 僧 堂、見 僧 在 衣 鉢 下 坐。師 曰:賺 殺 人! – Một hôm, sư thấy tăng đẽo gỗ, sư liền lấy gậy gõ vào khúc gỗ 3 cái. Tăng buông búa trở về tăng đường. Sư về pháp đường. Hồi lâu, sư đi vào tăng đường, thấy tăng ngồi trên sập, sư nói: Lừa gạt chết người”. ● 衣 珠. Còn gọi: Y Trung Bảo. Viên ngọc quý trong áo, tỷ dụ Phật tính sẵn có nơi mỗi người. “Lục Tổ Năng thiền sư bi minh” trong Toàn Đường Văn q. 327 ghi: “世 界一 花、祖 宗 六 葉。大 開 寶 藏 明 是 衣 珠。 – Trong đời có một đóa hoa sáu cánh là Thiền Tông. Thiền Tông mở rộng kho báu chỉ rõ viên ngọc quý trong áo. “ “Ngoạn Châu Ngâm” của Đan Hà Hòa Thượng trong TĐT q. 4 ghi: “識 得 衣 中 寶、無 明 醉 自 醒。百 骸 俱 潰 散、一 物 鎮 長 靈。 – Biết được viên ngọc quý ở trong áo, tự tỉnh cơn say vô minh. Thân thể đều tan rả hết, chỉ có một vật linh còn mãi. “ ● 依 指 師. Bậc thầy hướng dẫn của những vị tăng tham thiền học đạo. ● 衣 法. Pháp y. Thiền Tông Trung Quốc vào thời kỳ đầu (từ Sơ Tổ Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng) và thời gian truyền trao đạo pháp của 28 của đời Tổ sư Thiền Tông Tây Thiên (ấn Độ), đã đem chiếc cà sa của chính mình để trao lại cho đệ tử dòng chính, tức dùng pháp y để biểu hiện pháp tín. Đàn Kinh bản Đôn Hoàng ghi: “Ngũ Tổ viết: … Nhược ngộ đại ý giả, phó nhữ y pháp, bẩm vi Lục Tổ, hỏa cấp cấp! – Ngũ Tổ nói:…Nếu ai ngộ được đại ý ta trao cho pháp y, vâng làm Tổ đời thứ sáu, hãy nhanh lên!” ● 依 山 (?-1213). Thiền tăng đời Lý, họ Nguyễn, quê ở lang Cẩm, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Sư nối pháp Thiền Sư Viên Thông, thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 19. Sư dáng người thanh nhã, nói năng hoạt bát. Thuở nhỏ, sư học thông sách sử, về văn chương khoa cử của Nho gia tất hỏi han đến chỗ vi diệu, nhưng đối với kinh điển Phật giáo cũng hết sức lưu tâm. Sư xuất gia năm 30 tuổi với một vị trưởng lão trong làng. Sau đến kinh đô tham học với Quốc sư Viên Thông và nối pháp ngài. Về sau, sư tùy phương hành hóa chí tại lợi người. Nếu được tín thí cúng dường, sư đều để vào Phật sự. Sư có làm cây đối khuyến hóa: “Điếu danh thị lợi, giai như thủy thượng phù âu Thực phúc chủng duyên, tận thị hung trung hoài bảo”. “Mến danh thích lợi đều như bọt nước mặt ghềnh, Cấy phúc gieo duyên, trọn là trong lòng hoài bão” Sư trụ trì tại chùa Đại Bi, tràng Đại Thông, hạt Long Phúc. Về già lại dời đến chùa Nam Mô, làng Yên Lãng trụ trì. Kệ dạy chúng: “Như Lai thành chính giác Nhất thiết lượng đẳng thân Hồi hỗ bất hồi hỗ Nhãn tình đồng tử thần *** Chân thân thành vạn tượng Vạn tượng thành chân thân Nguyệt điện vinh đan quế Đan quế tại nhất luân”. “Như Lai thành chính giác Tất cả lượng bằng thân Xoay lại chẳng xoay lại Mắt sáng đồng tử thần *** Chân thân thành vạn tượng Vạn tượng thành chân thân Cung trăng cành quế đỏ Quế đỏ tại một vầng”. Theo: Thiền Sư Việt Nam của HT. Thanh Từ. ● 依 草 附 木. Còn gọi: Y Thảo Phụ Diệp (nương cây gá cỏ). Quỉ thần nương gá vào cỏ cây để hiển linh tác quái, Thiền gia dùng từ này dụ chỉ việc không thể lãnh ngộ thiền nghĩa, chỉ một mực bắc chước lời nói của người cho là kiến giải của mình. Tiết Thiên Thai Đức Thiều Quốc Sư trong NĐHN q. 10 ghi: “如 此 見 解、喚 作 依 草 附 木、與 佛 法 天 地 懸 隔。 – Kiến giải như thế gọi là nương cây gá cỏ, cùng với Phật pháp cách nhau trời vực”. ● 依 倚. Nương tựa. Bài Trừu thần ngâm trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 從 來 一 物 兮 也 非 身 生 帶 業 兮 也 是 如 何 五 蘊 兮 紛 紜 爲 據 四 大 兮 依 倚 “Tùng lai nhất vật hề dã phi, Thân sinh đới nghiệp hề dã thị Như hà ngũ uẩn hề phân vân Vi cứ tứ đại hề y ỷ”. “Xưa nay một vật chừ cũng sai Thân sinh mang nghiệp chừ cũng phải Vì sao ngũ uẩn chừ lăng xăng Bám chặt tứ đại chừ nương tựa”. ● 意 旨. Gọi tắt: Chỉ. Ý định, mục đích, tôn chỉ của một điều tâm niệm. Bùi Hưu Ngữ Lục ghi: “休 即 起 前 問、師 朗 聲 問:裴 休。公 應 諾、師 曰:在 什 麼 處?公 當 下 知 旨、如 獲 髻 珠、曰:吾 師 眞 善 知 識 也!示 人 刻 的 若 是、何 薄 沒 於 此 乎 時 眾 愕 然。 – Hưu lặp lại câu hỏi trước. Sư (Hoàng Bá) liền to tiếng gọi: Bùi Hưu! Tướng công ứng thinh: Dạ. Sư hỏi: ở đâu? Ngay đó Tướng công nhận ra ý chỉ của thiền, như được hạt châu trên búi tóc, liền thưa: Thầy tôi đúng là bậc thiện tri tức, chỉ dạy người chín chắn dường ấy. Cớ sao lại mai một ở đây? Đại chúng trong chùa rất ngạc nhiên”. ● 意 學. Chỉ cho Thiền Tông học, vì tu tập thiền yếu cần phải nghiêng nặng về ý nghiệp. Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự thượng, phần 1 (Đại 48, 400 trung): “經 是 佛 語、禪 是 佛 意。諸 佛 心 口、必 不 相 違。 – Kinh là lời Phật, Thiền là ý Phật, Tâm và khẩu của chư Phật không trái nhau. “ ● 意 識. Nhận thức của “ý căn” đối với “pháp” (muôn sự muôn vật ở thế gian), chỉ cho hoạt động tư duy, bao gồm các tâm lý: tưởng tượng, suy lý, phán đoán. Là 1 trong 6 thức. Trong các tác phẩm Thiền Tông, từ “ý thức” phần lớn chỉ cho nhận thức của hoạt động tư duy do các nghĩa lý khái niệm tạo nên. Thứ nhận thức này không phù hợp với chủ trương chẳng lập tri giải, chẳng rơi vào tình niệm của nhà thiền đề xướng. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “人 多 落 在 意 識 中、須 是 向 語 句 未 生 前 會 取 始 得。 – Phần lớn mọi người đều rơi vào trong ý thức, cần phải lãnh hội trước khi lời nói chưa phát ra mới được. “ ● 意 上 生 意. Trên ý sinh ý. Đối với cơ duyên ngữ cú, dùng ý nghĩa thông thường để lý giải, nhận thức và phát huy. Bích Nham Lục q. 1 ghi: “若 向 言 上 生 言。句 上 生 句。意 上 生 意。作 解 作 會。不 唯 帶 累 老 僧。亦 乃 辜 負 雪 竇。 – Nếu nhằm trên lời sinh lời, trên câu sinh câu, trên ý sinh ý, tạo nên sự hiểu biết thì không chỉ làm lụy lão tăng mà còn cô phụ Tuyết Đậu”. ● 意 想. Chỉ hoạt động của ý niệm tư duy thông thường. Mật Am Ngữ Lục ghi: “坐 斷 情 塵 意 想、不 落 見 聞 覺 知。 – Quét sạch bụi nhơ của tục tình, cắt đứt hoạt động của ý niệm tư duy thông thường, chẳng rơi vào cảm giác nhận thức. “ ● 倚 天 長 劍. Thanh gươm rất bén, nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, Thiền Tông dùng nó để dụ cho cơ phong sắc bén của thiền sư. Tắc 10, Bích Nham Lục q. 1 (Đại 48, 140 hạ) ghi: “雪 竇 似 倚 天 長 劍。凜 凜 全 威。若 會 得 雪 竇 意。自 然 千 處 萬 處 一 時 會。 – Tuyết Đậu giống như thanh ỷ thiên trường kiếm, oai phong lẫm liệt. Nếu lãnh ngộ được ý Tuyết Đậu, thì tự nhiên ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời lãnh ngộ”. ● 奄 化. Lìa đời (tạ thế). Chương Ma Noa La, Tổ thứ 22 trong CĐTĐL q. 2 ghi: “尊 者 跏 趺 寂 然 奄 化。 – Tôn giả ngồi kiết già an nhiên lìa đời”. ● 奄 息. Chết, qua đời. Tông Môn Võ Khố ghi: “(慶 藏 主)聞 之 遂 掩 息。叢 林 盡 謂。慶 遭 圓 通 一 詬 而 卒 – Tạng chủ Khánh nghe lời nói này liền qua đời. Trong tùng lâm mọi người đều bảo Khánh bị một lời nhục mạ của Viên Thông mà chết. “ ● 掩 鼻 偷 香. Bịt mũi trộm mùi, tỷ dụ hành vi ngu xuẩn tự dối. Tiết Bản Sinh Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “掩 鼻 偷 香、空 招 罪 犯。 – Bịt mũi mà muốn ngửi trộm mùi hương, nhận ngang xương là tội phạm. “ ● 安 子 山. Còn gọi: Tượng Sơn, Bạch Vân Sơn. Núi nằm trong tỉnh Quảng Ninh, miền Bắc Việt Nam, cách thị xã Uông Bí 14km về hướng tây bắc. Núi cao 1. 068m, là nơi giáp giới Hải Dương, Bắc Giang và Quảng Yên (cũ), được coi là danh sơn của miền Hải Đông xưa. Núi này chẳng những là cảnh đẹp thần tiên hùng vĩ mà còn là di tích của thiền phái Trúc Lâm. Theo truyền thuyết, sở dĩ núi có tên Yên Tử vì vào đời Tần ở Trung Quốc (thế kỷ III tr. TL) có một đạo sĩ tên là An Kỳ Sinh đến tu luyện và đắc đạo ở núi này. Nhưng mãi đến đời Trần, núi mới bắt đầu nổi tiếng, nhờ vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành ở chùa Vân Yên (Hoa Yên) khiến cho núi này trở thành trung tâm Phật giáo Việt Nam và Tổ đình của thiền phái Trúc Lâm. Núi có nhiều chùa nổi tiếng như: Long Động, Giải Oan, Hoa Yên, chùa Đồng, Thiên Trúc, Thiền Định, Thần Khê và các am: Vân Tiêu, Ngọa Vân, Thạch Thất, Bảo Sát. Những vị Tổ sư nổi tiếng từng hoằng hóa trên núi Yên Tử như Hiện Quang, Quốc sư Phù Vân, Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Huyền Quang, Chân Nguyên trùng tu Long Động vào đời Lê. Trên núi hiện còn mấy chục ngôi tháp cổ, trong đó quan trọng nhất là: Tháp Huệ Quang thờ Điều Ngự Giác Hoàng, tháp Tôn Đức thờ Thiền Sư Minh Hành Tự Tại… ● 安 子 禪 派. Tên của một phái thiền ở Việt Nam vào thời Lý, Trần. Tổ khai sơn là thiền sư Hiện Quang, vốn là đệ tử của thiền sư Thường Chiếu, một thiền sư thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông. Thiền phái này truyền đến đời thứ 6 là Trần Nhân Tông. Vị này về sau trở thành Sơ tổ của Thiền phái Trúc lâm. Như vậy truyền thống Yên Tử kể từ ngài Hiện Quang đến ngài Vô Phiền là 23 đời (xem Biểu đồ ở phần Phụ lục). Tinh thần Hòa quang đồng trần, đập vỡ thái độ bám víu vào khái niệm, đập phá quan niệm lưỡng nguyên và những vấn đề giả tạo… là tư tưởng thiền học của thiền phái này và trở thành nét son trong tư tưởng Phật giáo Việt Nam. ● 宴 休. Nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Thiền Lâm Bảo Huấn q. 2 (Đại 48, 1026 hạ) ghi: “高 菴 退 雲 居。圓 悟 欲 治 佛 印 臥 龍 菴 爲 燕 休 之 所。 – Cao Am khi thôi ở chùa Vân cư. Viên Ngộ muốn sửa lại am Ngọa Long của ngài Phật ấn làm nơi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng”. ● 宴 坐. Còn gọi: Tọa Thiền, yến Tọa. Điều chỉnh cho thân ngồi ngay ngắn, tâm được tịch tĩnh. Phẩm Đệ Tử trong kinh Duy Ma, q thượng (Đại 14, 521 hạ) ghi: “坐 當 如 法、不 於 三 界 現 身 意、是 爲 宴 坐。 – Ngồi phải đúng như pháp, chẳng khởi thân ý trong tam giới, ấy là yến tọa”. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ● 腰 石 舂 米. Còn gọi: Phụ Thạch Thung Khang. Trên lưng đeo đá để giã gạo. Câu truyện Lục Tổ Huệ Năng ở trong pháp hội của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tại núi Hoàng Mai làm công việc khó nhọc. Khi đạp chày giã gạo, ngặt vì thân thể ngài quá nhẹ, chày không cất lên được, nên ngài phải đeo thêm một hòn đá lớn sau lưng. Phẩm Hành do, thứ nhất của Đàn Kinh, bản Đôn Hoàng ghi: “次 日、祖(指 五 祖)潜 至 碓 法坊、見 能(指 慧 能)腰 石 舂 米、語 曰:求 道 之 人、爲 法 忘 驅、當 如 是 乎! – Hôm sau, Tổ (chỉ Ngũ Tổ) lén đến nhà giã gạo, thấy Năng (chỉ Huệ Năng) lưng đeo đá giã gạo, nói rằng: Người cầu đạo, vì pháp quên thân, cần phải như thế!” ● 要 旨. Còn gọi: Diệu Chỉ. Ý nghĩa quan trọng. Bài Phật Tâm Ca trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục ghi: 心 即 佛、佛 即 心 妙 旨 靈 明 達 古 今 春 來 自 是 春 花 笑 秋 到 無 非 秋 水 深 “Tâm tức Phật, Phật tức tâm Diệu chỉ linh minh đạt cổ câm Xuân lai tự thị xuân hoa tiếu Thu đáo vô phi thu thủy thâm”. “Tâm tức Phật, Phật tức tâm Diệu chỉ sáng ngời kim cổ thông Xuân đến, tự hoa Xuân mỉm miệng Thu về, đâu chẳng nước Thu trong”. ● 要 妙. Vi diệu. Tiết Long Tuyền Nao Thiền Sư trong NĐHN q. 17 ghi: “上 堂 眾 集、師 乃 曰:祇 恁 麼 便 散 去、不 妨 要 妙。雖 然 如 是、早 是 無 風 起 浪、釘 橛 空 中。 – Sư thượng đường, chúng tụ họp xong, sư liền nói: Chỉ thế ấy liền giải tán đi, mới có thể là vi diệu. Mặc dù như thế, sớm là không gió mà nổi sóng, đóng đinh trong hư không rồi”. ● 要 且. 1. Quả là, quả thực. Tiết Đầu Tử Đại Đồng Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “巨 榮 禪 客 參 次、師 曰:老 僧 未 曾 有 一 言 半 句 挂 諸 方 脣 齒、何 用 要 見 老 僧?榮 曰:到 這 裡 不 施 三 拜、要 且 不 甘。 – Thiền khách Cự Vinh đang tham vấn, sư bảo: Lão tăng chưa từng có một lời nửa câu để cho các ông chấp trước, đâu cần phải gặp lão tăng? Vinh nói: Đến chỗ này chẳng lạy cho 3 lạy, quả là không đành lòng”. Tiết Trường Thử Khoáng Thiền Sư trong NĐHN q. 5 ghi: “師 曰:居 士 祇 見 錐 頭 利、不 見 鑿 頭 方。士 曰:恁 麼 說 話、某 甲 即 得;外 人 聞 之、要 且 不 好。 – Sư nói: Cư sĩ chỉ thấy cái dùi nhọn mà không thấy cái đục vuông. Sĩ (chỉ Bàng cư sĩ) thưa: Nói lời như thế với tôi thì được; còn như người ngoài nghe lọt lời này, quả thực chẳng tốt”. ● 2. Nhưng mà, song. Biểu thị ngữ khí chuyển chiết. Pháp Diễn Ngữ Lục q. trung ghi: “雲 門 好 則 甚 好。奇 則 甚 奇。要 且 只 說 得 老 婆 禪。 – Vân Môn hay thì rất hay đặc biệt thì rất đặc biệt, nhưng mà chỉ nói được Thiền lão bà”. Tiết Chiêu Giác Khắc Cần Thiền Sư trong NĐHN q. 19 ghi: “龐 居 士 舌 拄 梵 天、口 包 四 海、有 時 將 一 莖 草 作 丈 六 金 身?有 時 將 丈 六 金 身 作 一 莖 草、甚 是 奇 特、雖 然 如 此、要 且 不 曾 動 著 向 上 關。 – Bàng cư sĩ, lưỡi thì chống đến trời Phạm Thiên, miệng thì trùm cả bốn biển, có khi đem một cọng cỏ làm thân vàng một trượng sáu, có khi đem thân vàng một trượng sáu làm một cọng cỏ, rất là kỳ đặc. Mặc dù như thế, song ông ta chẳng từng động đến cửa ải thiền chí cực vi diệu”.