---o0o---
Chú thích
- S: nguyên tác tiếng Sanskrit của mục từ dạng La-tinh hóa
- P: nguyên tác tiếng Pàli của mục từ dạng La-tinh hóa
- A: tiếng Anh
- H: tiếng Hán
- Ph: tiếng Pháp
- T: tên mục từ bằng tiếng Tây Tạng dạng La-tinh hóa.
- Hâ: các hình thức phiên âm tiếng Việt khác nhau của một mục từ.
- Hd: các hình thức dịch nghĩa khác nhau của một mục từ.
- Td: tân dịch.
- Cd: cựu dịch.
- Đl: đối lại
- x: xem
- Đn: đồng nghĩa.
- Vd: ví dụ
- Gđ: cách gọi đầy đủ của một mục từ.
- Gt: cách gọi giản lược hay vắn tắt của một mục từ.
- Cg: hình thức đồng nghĩa hay tên gọi khác của một mục từ.
- Tên khoa học: tên gọi theo khoa học của một mục từ.
- k. ng.: khẩu ngữ
- X.: xem.
- CĐTĐL: Cảnh Đức Truyền Đăng lục
- CTTNL: Cổ tôn túc ngữ lục
- ĐQMT: Đại quang minh tạng
- DTNL: Duy Tắc ngữ lục
- GTPĐL: Gia Thái Phổ Đăng lục
- HĐNL: Hư Đường ngữ lục
- HSLNMDT: Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du tập
- KTTQTĐL: Kiến trung tịnh quốc tục đăng lục
- LĐHY: Liên Đăng Hội Yếu
- LSPGĐT: Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong
- MANL: Mật Am ngữ lục
- MBTL: Minh Bản Tạp lục
- MGNL: Minh Giác ngữ lục
- NĐHN: Ngũ Đăng Hội Nguyên
- NGCTT: Ngũ Gia Chính Tông Tán
- NHQL: Nguyên Hiền quảng lục
- NLNL: Nguyên Lai ngữ lục
- NTNL: Như Tịnh ngữ lục
- PDNL: Pháp Diễn ngữ lục
- PDNL: Phần Dương ngữ lục
- PKNL: Phạm Kỳ ngữ lục
- PQĐTĐ: Phật Quang Đại Từ Điển
- TBCTT: Tăng Bảo Chính Tục truyện
- TLTBT: Thiền Lâm Tăng Bảo truyện.
- ThQST: Thiền Quan Sách Tiến
- TĐT: Tổ Đường tập
- TCTT: Tống Cao Tăng truyện
- TTĐL: Tục Truyền Đăng lục
- ThMMBTSTL: Thiên Mục Minh Bản Thiền sư tạp lục
- VHVNTH 1989-1995: Văn hóa Việt Nam Tổng Hợp 1989-1995

---o0o---
Danh Từ Phật Học: Thập Lục Đại Lực
----------------------------- Tam Tạng Pháp Số - Cs Lê Hồng Sơn -----------------------------
● 十六大力 (Tam Muội Hoằng Đạo Chủng Hiển Định Ý Kinh)
Phật đến chỗ Long Vương A Nậu Đạt mời, vì ông mà nói pháp vô dục để cho các Bồ Tát tu hạnh thanh tịnh, rõ được mười sáu đại lực, điều phục, giữ gìn thân tâm và giáo hóa chúng sanh.
(Tiếng Phạn là A Nậu Đạt, tiếng Hoa là Vô Nhiệt Não).
Một, Chí Lực. Vì tâm chí của Bồ Tát có khả năng giỏi giữ gìn tất cả pháp Phật đã nói, hướng dẫn chúng sanh. Đó là Chí Lực.
Hai, Ý Lực. Vì Bồ Tát tâm ý giống như những gì Phật đã làm. Đối với chúng sanh chưa được độ, các Ngài đều Nguyện Độ thoát khổ đau. Đó là Ý Lực.
Ba, Hạnh Lực. Hạnh có nghĩa là tiến tới. Vì Bồ Tát hay bằng hạnh Tinh Tấn, thông hiểu ý nghĩa sâu xa của tất cả pháp. Đó là Hạnh Lực.
Bốn, Tàm Lực. Vì Bồ Tát có khả năng tàm quý nên xa lìa tất cả việc ác, hăng say làm tất cả pháp lành. Đó là Tàm Lực.
Năm, Cường Lực. Vì Bồ Tát đối với tất cả trở ngại, gian nan đều có thể kiên quyết chịu đựng, không làm việc phi pháp. Đó là Cường Lực.
Sáu, Trì Lực. Đối với tất cả pháp đã được thọ trì, Bồ Tát đều có khả năng giảng giải, hướng dẫn mà không quên, sót. Đó là Trì Lực.
Bảy, Huệ Lực. Vì Bồ Tát có đại trí huệ, hiểu thấu các pháp đều không, tuy binh ma vô số nhưng không thể não hại. Đó là Huệ Lực.
Tám, Đức Lực. Vì Bồ Tát tu hạnh vô dục đầy đủ công đức, lìa mọi tham đắm. Đó là Đức Lực.
Chín, Biện Lực. Vì Bồ Tát có đại biện tài, ở trong 100, 1000 kiếp, tùy ý giải nghĩa các pháp được Phật nói ra, không chút trở ngại. Đó gọi là Biện Lực.
Mười, Sắc Lực. Vì sắc tướng của Bồ Tát đoan chánh. Nếu Đế Thích, Phạm Vương và Tứ Thiên Vương đến chỗ Bồ Tát, nhìn trong thoáng chốc, buồn thiu thất thần. Đó là Sắc Lực.
Mười một, Thân Lực. Vì thân của Bồ Tát vững chắc, trong sạch, giống như kim cương, lửa không thể cháy, dao không thể chặt, đối với ngoại đạo là hơn hết, là duy nhất được tôn quý. Đó là Thân Lực.
Mười hai, Tài Lực. Vì vàng ngọc, châu báu đối với Bồ Tát, có theo ý muốn, trong mọi lúc. Đó gọi là Tài Lực.
Mười ba, Tâm Lực. Vì Bồ Tát biết tánh dục của chúng sanh nên chỉ bằng một tâm niệm là thuần hóa chúng sanh ngay. Đó gọi là Tâm Lực.
Mười bốn, Thần Túc Lực. Vì Bồ Tát giáo hóa, hướng dẫn chúng sanh hay dùng Thần Thông, biến hóa để cứu độ chúng sanh. Đó gọi là Thần Túc Lực.
Mười lăm, Hoằng Pháp Lực. Đối với Phật Pháp, Bồ Tát, vì tất cả chúng sanh, giảng nói rộng rãi để chúng nghe thấu không đoạn tuyệt duyên lành và tin, làm theo, trừ tất cả khổ. Đó là Hoằng Pháp Lực.
Mười sáu, Hàng Ma Lực. Vì Bồ Tát tu Thiền Định, tuân theo lời Phật dạy, có khả năng hành phục các ma. Đó là Hàng Ma Lực.
Tại sao: “Oan ức mà không cần biện bạch” ?     Nội Tâm     Quan Điểm Của Phật Giáo Về Nguồn Gốc Loài Người?     Chiều Sâu     Cách Thức Thờ Phật     Hiện Diện     Tượng Phật Có Từ Bao Giờ?     Linh Đạo     Tỉnh Thức     Chiên Đàn     


















Pháp Ngữ
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?


Tháng Năm  

 



Đăng nhập


Playist


Bạn cần đăng nhập

Tu sĩ Việt Nam



Tu sĩ Quốc Tế


Album mới







Website có tất cả 68,578 pháp âm và 6,138 album thuộc tất cả các thể loại.
Có tổng cộng 137,157 lượt nghe.
Tổng số tu sĩ trong website 264, gồm cả tu sĩ trong nước và cả quốc tế.
Hiện đang có 1,253 thành viên đã đăng ký. Chào mừng thành viên mới nhất niemphat
Lượt truy cập 12,364,877