---o0o---
Chú thích
- S: nguyên tác tiếng Sanskrit của mục từ dạng La-tinh hóa
- P: nguyên tác tiếng Pàli của mục từ dạng La-tinh hóa
- A: tiếng Anh
- H: tiếng Hán
- Ph: tiếng Pháp
- T: tên mục từ bằng tiếng Tây Tạng dạng La-tinh hóa.
- Hâ: các hình thức phiên âm tiếng Việt khác nhau của một mục từ.
- Hd: các hình thức dịch nghĩa khác nhau của một mục từ.
- Td: tân dịch.
- Cd: cựu dịch.
- Đl: đối lại
- x: xem
- Đn: đồng nghĩa.
- Vd: ví dụ
- Gđ: cách gọi đầy đủ của một mục từ.
- Gt: cách gọi giản lược hay vắn tắt của một mục từ.
- Cg: hình thức đồng nghĩa hay tên gọi khác của một mục từ.
- Tên khoa học: tên gọi theo khoa học của một mục từ.
- k. ng.: khẩu ngữ
- X.: xem.
- CĐTĐL: Cảnh Đức Truyền Đăng lục
- CTTNL: Cổ tôn túc ngữ lục
- ĐQMT: Đại quang minh tạng
- DTNL: Duy Tắc ngữ lục
- GTPĐL: Gia Thái Phổ Đăng lục
- HĐNL: Hư Đường ngữ lục
- HSLNMDT: Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du tập
- KTTQTĐL: Kiến trung tịnh quốc tục đăng lục
- LĐHY: Liên Đăng Hội Yếu
- LSPGĐT: Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong
- MANL: Mật Am ngữ lục
- MBTL: Minh Bản Tạp lục
- MGNL: Minh Giác ngữ lục
- NĐHN: Ngũ Đăng Hội Nguyên
- NGCTT: Ngũ Gia Chính Tông Tán
- NHQL: Nguyên Hiền quảng lục
- NLNL: Nguyên Lai ngữ lục
- NTNL: Như Tịnh ngữ lục
- PDNL: Pháp Diễn ngữ lục
- PDNL: Phần Dương ngữ lục
- PKNL: Phạm Kỳ ngữ lục
- PQĐTĐ: Phật Quang Đại Từ Điển
- TBCTT: Tăng Bảo Chính Tục truyện
- TLTBT: Thiền Lâm Tăng Bảo truyện.
- ThQST: Thiền Quan Sách Tiến
- TĐT: Tổ Đường tập
- TCTT: Tống Cao Tăng truyện
- TTĐL: Tục Truyền Đăng lục
- ThMMBTSTL: Thiên Mục Minh Bản Thiền sư tạp lục
- VHVNTH 1989-1995: Văn hóa Việt Nam Tổng Hợp 1989-1995

---o0o---
Danh Từ Phật Học: Thập Lục Quán Môn
----------------------------- Tam Tạng Pháp Số - Cs Lê Hồng Sơn -----------------------------
● 十六觀門 (Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh)
Phu nhân Vi Đề Hy nguyện sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc và vì chúng sanh đời vị lai cũng muốn vãng sanh về đó, thỉnh Phật Thế Tôn nói về phương pháp tu hành để được về cõi Tịnh độ. Vì vậy đức Thế Tôn làm cho bà quan sát y, chánh báo của đức Phật A Di Đà. Mượn cảnh biều hiện tánh, rõ cảnh chỉ là tâm, thì được vãng sanh. Đó là nguyên nhân nói 16 quán môn.
(Tiếng Phạn là Vi Đề Hy, tiếng Hoa là Tư Duy. Y báo cõi nước Phật A Di Đà. Chánh báo là thân tướng tốt đẹp của Phật A Di Đà).
Một, Nhật Quán. Ngồi ngay thẳng hướng mặt về phương tây, quán sát kỷ lưỡng mặt trời lặng, khiến cho tâm an trụ vững chắc và chuyên tưởng về y và chánh báo ấy mà tâm không di động. Khi thấy mặt trời sắp lặn, to như cái trống treo giữa không trung, dù nhắm mắt hay mở mắt cũng đều thấy một cách rõ ràng. Đó gọi là Nhật Quán.
Hai, Thủy Quán. Tưởng tượng ra nước; khi tưởng nước đã thành thì tưởng tượng ra băng. Khi thấy băng rồi thì tưởng tượng ra Lưu Ly. Tưởng Lưu Ly đã thành thì thấy đất là Lưu Ly, trong ngoài phản ảnh một cách nhẹ nhàn, tinh vi. Đó gọi là Thủy Quán.
(Tiếng Phạn là Lưu Ly, tiếng Hoa là Thanh Sắc Bảo).
Ba, Địa Quán. Khi tưởng ở trước đã thành thì mở mắt nhắm mắt đều không làm cho mất đi. Người mà tưởng được như thế thì đó là đất của nước Cực Lạc một cách thô sáp đã thấy rõ ràng. Đó là Địa Quán.
Bốn, Bảo Thọ Quán. Tưởng tượng bảy lớp hàng cây, mỗi cây đều cao 8000 Do Tuần, bảy báu chiếu soi đẹp đẽ, dây ngọc bao trùm trên ngọn. Hàng hàng giống nhau, theo thứ lớp, nở hoa vi diệu, kết quả thành bảy báu. Lá của cây có 1000 màu. Ánh sáng của những lá lớn chiếu khắp 3000 thế giới, mười phương quốc độ, đều hiện trong hoa ấy. Đó gọi là Thọ Quán.
(Do Tuần có thể là 80, 60, 40 dặm không thống nhất. bảy báu là kim ngân, Lưu Ly, pha lê, xa cừ, mã nảo, xích chân châu. Tam Thiên là đại thiên, trung thiên, tiểu thiên).
Năm, Bát công đức thủy quán. Nước tám công đức là
1) trừng tịnh,
2) thanh lãnh,
3) cam mỹ,
4) khinh nhuyến,
5) nhuận,
6) An hòa,
7) trừ hoạn,
8) tăng ích.
Vì tưởng tượng ở nước Cực Lạc có ao bát thủy. Từng giọt nước trong ao đó chia ra 14 nhánh. Mỗi chi xuất hiện màu sắc vi diệu của bảy báu. Vàng ròng làm ao, kim cương nhiều màu làm cát nền. Mỗi giọt nước trong ấy có 60 ức hoa sen bằng bảy báu. Mỗi hoa tròn trịa bằng 12 Do Tuần. Trong từng đóa có nước như ý rót vào, tiếng róc rách biến thành pháp âm vi diệu về các Ba La Mật khổ, không, vô thường, vô ngã. Nước trong ao này đều đầy đủ tám thứ công đức.
(Khổ là thân năm ấm chịu các khổ bức bách của sống chết. Không là thân do bốn đại giả hợp mà thành, rốt cùng chẳng có. Vô Thường là thân này và tất cả cái khác cuối cùng đều hoại diệt. Vô Ngã là tứ đại phân rã, cái gì là ngã. Tiếng Phạn là Ba La Mật, tiếng Hoa là Đáo Bỉ Ngạn).
Sáu, Tổng Quán. Vì cõi nước có nhiều châu báu, mỗi cõi nước có 500 ức lâu đài bằng châu ngọc. Trong lâu đài có vô lượng chư thiên đánh nhạc, ca múa. Lại có nhạc khí treo giữa hư không, giống như tràng phan bằng châu báu của trời, không đánh tự kêu, trong âm thanh vang dội ấy đều là tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Sự quán tưởng này đã thành tựu thì gọi là thấy thế giới cực lạc với cây báu, đất báu, ao báu. Đó là Tổng Quán.
Bảy, Hoa Tòa Quán. Phải quán tưởng hoa sen bảy báu, mỗi cánh hoa, sắc đẹp của hàng trăm châu báu, tỏa ra, ngang, dọc 250 Do Tuần. Mỗi cánh hoa có mười ức viên ngọc lớn dùng để trang sức, phóng ra hàng ngàn ánh sáng. Ngọc tỳ lăng già dùng làm đài cho hoa. Trên đài ấy có bốn tràng phan bằng châu báu. Trên tràng có mạn bằng châu báu, giống như cung trời Dạ Ma. Đó là Hoa Tòa Quán.
(Tiếng Phạn là Tì Lăng Già, nói đủ là Thích Ca Tì Lăng Già, tiếng Hoa là Năng Thắng. Tiếng Phạn là Dạ Ma, tiếng Hoa là Thiện Thời Phân).
Tám, Tượng Quán. Tượng quán là Phật tượng, vì muốn quán tưởng Phật A Di Đà, trước hết phải quán tưởng tượng ra Phật ấy, sắc vàng tươi đẹp như núi vàng Diêm Phù Đàn, ngồi trên hoa kia. Khi đã thấy tượng Phật như vậy thì mắt tâm mở ra, thấy rõ cõi nước Cực Lạc trang nghiêm bằng bảy báu và đất báu, ao báu, cây báu được, sắp xếp theo đúng hàng lối. Lại quán tưởng một hoa sen lớn ở bên trái đức Phật và một hoa sen lớn ở bên phải đức Phật. hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, ngồi trên hai hoa sen bên trái, bên phải ấy, đều phóng hòa quang. ở dưới mỗi cây ấy cũng có ba hoa sen và một tượng Phật hai tượng Bồ Tát đang an tọa đầy khắp trong cõi nước ấy thì quán tưởng này đã thành tựu.
(Tiếng Phạn là Diêm Phù, tiếng Hoa là Thắng Kim, tên cây. Trong rừng mọc cây này có sông. Đáy sông là cát màu vàng, gọi là Diêm Phù Đàn Kim).
Chín, Phật Chân Thân Quán. Quán tưởng tượng quang minh của Phật thân vô lượng thọ (sống lâu vô lượng). Thân ấy sắc vàng như 100, 1000, 10000, 100000000 (trăm, ngàn, vạn, ức) Diêm Phù Đàn ở cõi trời Dạ Ma. Thân Phật cao 60 Vạn Ức na do tha Do Tuần, ở giữa hai mi có lông trắng, xoay vòng theo chiều từ phải sang trái, giống như năm núi Tu Di. Mắt của Phật như nước bốn biển lớn, xanh, trắng rõ ràng. Các lỗ chân lông trên thân ánh sáng của Phật ấy rộng to như trăm ức ba ngàn đại thiên thế giới. Trong áng hào quang có trăm ức na do tha hằng hà sa hóa Phật có thị giả là các Bồ Tát đang giáo hóa, phần nhiều. Phật vô lượng thọ có tám vạn bốn ngàn tướng. Mỗi tướng lại có tám vạn bốn ngàn tướng tốt đi theo. Mỗi một tướng tốt đi theo ấy lại có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Mỗi ánh sáng ấy lại chiếu khắp mười phương thế giới. Người muốn quán tưởng Phật vô lượng thọ từ một tướng tốt đi vào. Chỉ Quán lông trắng giữa hai lông mày, đến cùng cực sáng chói. Người thấy được lông trắng giữa hai mày thì tám vạn bốn ngàn tướng hảo, tự nhiên, hiện ra trước mắt. Người thấy Phật Vô Lượng Thọ thì liền thấy mười phương Vô lượng chư Phật. Đó gọi là Phật Chân Thân Quán.
(Tiếng Phạn là Na Do Tha, cũng gọi là A Du Đa, tiếng Hoa là Vạn Ức).
Mười, Quán Thế Âm Quán. Quán tưởng Bồ Tát Quán Thế Âm, thân cao 80 Vạn Ức na do tha Do Tuần và có màu vàng tía, trên đỉnh đầu có nhục kế, ở gáy có vòng ánh sáng. Trong áng sáng ấy có 500 hóa Phật. Mỗi hóa Phật có 500 hóa Bồ Tát và vô lượng các vị trời làm thị giả. Toàn thân trong ánh sáng, chúng sanh trong năm đường, tất cả sắc tướng đều hiện trong đó. Mũ trời bằng ngọc Tỳ lăng già. Trong mũ có một vị hóa Phật cao 25 Do Tuần. Mặt Bồ Tát có sắc vàng như diêm phù đàn. Tướng lông trắng giữa hai chân mày tỏa ra tám vạn bốn ngàn thứ ánh sáng. Trong ánh sáng ấy có vô lượng hóa Phật. Mỗi hóa Phật có vô số hóa Bồ Tát làm thị giả. Cánh tay màu hoa sen hồng. Bàn tay biến ra 500 ức hoa sen có nhiều màu sắc. Mỗi đầu ngón tay có tám vạn bốn ngàn vạch nhỏ (đường chỉ), giống như hoa văn dấu ấn. Bàn tay châu ngọc này để tiếp dẫn chúng sanh. ở bàn chân cũng có 1000 tướng luân xa. Ngoài những thân tướng ấy, các vẻ đẹp đều đầy đủ như Phật không khác, chỉ có nhục kế trên đầu và tướng Vô Kiến Đỉnh thì không bằng Thế Tôn. Đó là Quán Tưởng Quán Thế Âm.
Mười một, Đại Thế Chí Quán. Bồ Tát Đại Thế Chí, thân thể cũng giống như Bồ Tát Quán Thế Âm với hào quang tròn sáng, mỗi mặt rộng 125 Do Tuần. Toàn thân chói sáng, chiếu mười phương cõi nước, biến ra sắc màu vàng tía; chúng sanh có duyên đều thấy được Ngài. Chỉ thấy hào quang, từ một ánh sáng vi diệu của vô lượng chư Phật trong mười phương, vì vậy gọi là vô biên quang (ánh sáng vô biên). Dùng ánh sáng trí huệ khắp soi tất cả chúng sanh, làm cho chúng xa lìa ba đường dữ, được vô thượng lực, nên gọi là Bồ Tát Đại Thế Chí. Mũ trời có 500 hoa bằng châu ngọc đính vào. Trên mỗi hoa có 500 lâu đài bằng ngọc quý; Phật trong mười phương quốc độ, với thân tướng cao lớn, đều xuất hiện trong đó. ở trên nhục kế có chiếc bình báu chứa đầy ánh sáng hiện ra các việc làm của Phật. Ngoài các thân tướng như đức Quán Thế Âm thì không có gì sai khác. Đó gọi là Quán Tưởng Đại Thế Chí.
Mười hai, Phổ Tưởng Quán. Đã thành tựu các quán tưởng trên, tự tâm nên khởi lên muốn sanh về thế giới Tây phương cực lạc, ngồi kiết già trong hoa sen, cùng với hoa sen hợp, tưởng, cùng hoa sen khai tưởng. Khi hoa sen nở thì quán tưởng có 500 ánh sáng chiếu đến thân tướng, làm cho mắt mở ra thấy Phật, Bồ Tát đầy trong hư không. Sông suối, chim muông, cây rừng và cùng với chư Phật diễn thuyết Diệu Pháp. Đã thấy việc này xong, thì gọi là thấy thế giới Cực Lạc của Phật Vô Lượng Thọ. Đó là Phổ Tưởng Quán.
Mười ba, Tạp Tưởng Quán. Nếu người chí tâm muốn sanh về Tây phương, trước quán sáu tượng Phật ở trên ao nước. Phật A Di Đà Thần Thông như ý, đối với mười phương cõi nước biến hiện tự tại. hoặc hiện thân lớn đầy cả hư không, hoặc hiện thân nhỏ, khoảng sáu, tám thước. Các thân hình hiện ra đều sắc vàng ròng. Hào quang hóa Phật và hoa sen báu, như trên đã nói, có Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, ở khắp nơi, thân hình giống như chúng sanh. Chỉ Quán tưởng thì biết là Quán Thế Âm, biết là Đại Thế Chí. Đó gọi là Tạp Tưởng Quán.
Mười bốn, Thượng Bối Sanh Quán. (Quán này ở trong thượng phẩm, lại chia ra ba phẩm thượng, trung, hạ). Thượng bối thượng sanh là muốn sanh về nước Cực Lạc thì phải phát ba tâm:
1) Tâm chí thành;
2) Thâm tâm;
3) Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm.
Đầy đủ ba tâm thì chắc sanh về nước Cực Lạc. Lại có ba loại chúng sanh sẽ được vãng sanh về nước ấy:
1) Từ tâm bất sát, đầy đủ giới hạnh;
2) Đọc tụng kinh điển Đại Thừa;
3) Tu hành lục niệm Hồi Hướng, phát nguyện muốn về nước ấy. Vì người này siêng năng dũng mãnh thì Phật A Di Đà, cùng Quán Âm, Thế Chí, vô lượng hóa Phật, trăm ngàn Tỳ Kheo cầm đài Kim Cang, đến trước hành giả. Phật A Di Đà phóng ra ánh sáng lớn, chiếu thân hành giả, cùng các Bồ Tát đưa tay đón tiếp. Hành giả tự thấy thân mình ngồi đài Kim Cang, đi theo sau Phật, trong thời gian ngắn, sanh về nước Cực Lạc. Sanh vào nước ấy rồi, hành giả thấy Phật, nghe pháp thì liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thượng phẩm trung sanh thì có khả năng đối với đệ nhất nghĩa, tâm không sợ hãi, tin sâu nhân quả, không chê Đại Thừa. Nhờ công đức này, cầu sanh về nước Cực Lạc, khi sắp chết, Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và vô lượng đại chúng, bưng đài màu vàng tía đến trước hành giả, đưa tay đón tiếp. Hành giả thấy mình ngồi trên đài màu vàng tía, chấp tay khen Phật, thời gian trong một niệm, liền sanh về Cực Lạc và ở trong ao bảy báu. Phật và Bồ Tát cùng lúc phóng quang, soi lên thân hành giả, trải qua bảy ngày thì chứng được Vô Sanh Nhẫn. Thượng phẩm hạ sanh là cũng tin nhân quả, không chê Đại Thừa, chỉ phát tâm vô thượng đạo. Nhờ công đức này, cầu sanh về nước Cực Lạc. Khi sắp chết, Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và các Bồ Tát cầm hoa sen vàng đến đón tiếp hành giả. Khi hành giả ngồi vào hoa sen rồi thì hoa búp lại, liền sanh vào trong ao bảy báu, bảy ngày sau mới được thấy Phật, hai một ngày kế tiếp, ở trước Phật, được nghe pháp thậm thâm; trải qua ba tiểu kiếp mới ở Hoan Hỉ Địa.
(sáu niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, Niệm Thiên, Niệm Thí, Niệm Giới. Vô Sanh Pháp Nhẫn là tất cả từ xưa đến nay không sanh, ở trong pháp này mà có khả năng chứng được. Tiểu kiếp là khi người sống lâu 84000 tuổi, 100 năm, giảm một tuổi cứ như thế giảm cho đến 10 tuổi; rồi tăng dần lên, đến 84000 tuổi. một lần tăng một lần giảm như vậy là một tiểu kiếp).
Mười lăm, Trung Bối Sanh Quán. (Pháp quán này ở trong trung phẩm, cũng chia làm ba phẩm thượng, trung, hạ). Trung phẩm thượng sanh là giữ năm giới và tám giới chay tịnh, không phạm năm tội đại nghịch, không nhiều lỗi lầm, hoạn nạn. Với thiện căn này, cầu sanh về thế giới Cực Lạc; khi sắp chết, Phật cùng Tỳ Kheo phóng quang màu vàng đến chỗ người ấy, nói pháp khổ, không, vô thường, vô ngã, khen ngợi việc xuất gia, xa lìa được các khổ. Hành giả vui mừng, thấy mình ngồi trên đài sen, chấp tay làm lễ Phật, liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc. Chẳng lâu sau, hoa sen nở, hành giả nghe âm thanh của đại chúng khen ngợi Tứ Đế, thì chứng được quả A La Hán. Trung phẩm trung sanh là, nếu một ngày một đêm giữ tám giới chay tịnh,hoặc giữ giới Sa Di, hoặc giữ giới Cụ Túc, cầu sanh về thế giới Cực Lạc thì lúc sắp chết, thấy Phật A Di Đà phóng ánh sáng màu vàng, tay cầm hoa sen bảy báu đến trước hành giả, đưa tay tiếp dẫn. Hành giả thấy mình ngồi trên hoa sen. Hoa sen liền búp lại, sanh ra trong ao báu. bảy ngày sau hoa nở, hành giả chấp tay khen Phật, vui mừng nghe pháp, chứng quả Tu Đà Hoàn, trải qua nửa kiếp thành A La Hán. Trung phẩm hạ sanh là hoặc có chúng sanh hiếu dưỡng cha mẹ, sống nhân từ ở đời. Người này, khi sắp chết, gặp thiện tri thức, vì người ấy, nói về những an lạc ở nước Phật, và nói 48 lời nguyện của đức Phật A Di Đà. Nghe xong rồi chết thì hành giả liền sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Trải qua bảy ngày thì được nghe pháp, hành giả chứng được quả Tu Đà Hoàn qua một tiểu kiếp, chứng quả A La Hán.
(48 lời nguyện của Phật A Di Đà là
01) Nguyện trong nước ta không có Địa Ngục, Ngạ Quỷ Súc Sanh;
02) Nguyện trong nước ta không có người nữ;
03) Nguyện trong nước ta, khi người muốn ăn có đầy đủ 100 vị;
04) Nguyện trong nước ta, y báo mà người ước muốn tùy ý có liền;
05) Nguyện trong nước ta, từ mặt đất đến hư không, cung điện làm bằng 100 châu báu;
06) Nguyện trong nước ta, người thương kính lẫn nhau, không tâm ganh tị, ghen ghét;
07) Nguyện trong nước ta, sự ngu si không có quá nhiều;
08) Nguyện trong nước ta, người cùng một lòng lành; không có ý niệm khác;
09) Nguyện trong nước ta, mọi người đều không nghe đến danh từ bất thiện;
10) Nguyện trong nước ta, ai cũng biết thân là hư ảo, không có tâm tham đắm;
11) Nguyện trong nước ta, trời, người có hình thể sắc vàng;
12) Nguyện thế giới mười phương, những vi sinh vật bò, bay, máy cựa đều được làm người;
13) Nguyện chư thiên, nhân dân trong mười phương đều trở thành Thinh Văn, Duyên Giác;
14) Nguyện trong nước ta, người sống lâu vô lượng;
15) Nguyện trong nước ta, người hưởng thọ an vui, như Tỳ Kheo hết phiền não;
16) Nguyện trong nước ta, người ở vào vị chánh tín, lìa xa phiền não tưởng;
17) Nguyện trong nước ta, nói kinh, hành đạo gấp mười lần hơn các cõi Phật khác;
18) Nguyện trong nước ta, mọi người đều biết rõ kiếp trước của mình;
19) Nguyện trong nước ta, mọi người đều được thiên nhãn;
20) Nguyện trong nước ta, mọi người đều được thiên nhĩ;
21) Nguyện trong nước ta, mọi người đều được tha tâm trí;
22) Nguyện trong nước ta, mọi người đều được thần túc thông;
23) Nguyện chúng sanh trong mười phương, nghe đến danh hiệu của Ta đều được sanh về nước ta.
24) Nguyện ánh sáng trong đỉnh của ta gấp 100, 1000, 10000 ánh sáng mặt trời, mặt trăng;
25) Nguyện tất cả chúng sanh ở nơi u ám đều thấy ánh sáng của ta, sanh về nước ta;
26) Nguyện chúng sanh trong mười phương, được ánh sáng của ta xúc chạm vào thân thể hơn cả trời và người;
27) Nguyện chúng sanh trong mười phương, người nào muốn sanh vào nước ta, khi chết được rước về nước ta;
28) Nguyện chúng sanh trong mười phương, người nào chuyên niệm đến ta trong một ngày đêm, chắc được sanh về nước ta;
29) Nguyện chúng sanh trong mười phương, niệm danh hiệu ta mười lần, chắc được sanh về nước ta, trừ kẻ phạm ngũ nghịch và chê bai Phật Pháp;
30) Nguyện chúng sanh trong mười phương, đời trước làm ác, nghe danh hiệu ta, khi chết sanh thẳng về nước ta;
31) Nguyện chúng sanh trong mười phương lễ lạy danh hiệu ta, cảm động đến trời, người, không ai mà không kính trọng;
32) Nguyện người nữ trong mười phương, nghe danh hiệu ta, sau khi chết, không trở lại làm người nữ nữa;
33) Nguyện chúng sanh trong mười phương, người nào sanh về nước ta thì liền cử làm Phật ở nơi khác, khi sắp đến đó hóa độ chúng sanh, ta dùng oai lực giúp đỡ;
34) Nguyện người ở trong nước ta, ai muốn đến nơi khác thì đúng như sự mong muốn;
35) Nguyện Bồ Tát ở trong nước ta, muốn đến nơi khác cúng dường chư Phật, trong một bữa ăn, thì liền đến đó;
36) Nguyện Bồ Tát ở trong nước ta, khi đến cúng dường chư Phật trong mười phương đã xong, chưa đến ngọ của ngày ấy, liền trở về nước ta;
37) Nguyện Bồ Tát trong nước ta, tụng kinh, nói pháp ắt được trí huệ biện tài;
38) Nguyện Bồ Tát trong nước ta, có khả năng nói pháp bằng trí huệ biện tài không giới hạn;
39) Nguyện Bồ Tát trong nước ta, có thân hình màu sắc vàng tía, so với Phật không khác;
40) Nguyện Bồ Tát trong nước ta, muốn ở trong cây báu mà thấy cõi Phật khác mười phương liền ứng hiện ra;
41) Nguyện Bồ Tát trong nước ta, tuy công đức ít, cũng có thể thấy cây đạo tràng của ta cao 4000 Do Tuần;
42) Nguyện trời, người trong nước ta đều có hình sắc tuyệt đẹp. người được thiên nhãn không thể kể hết;
43) Nguyện người ở trong nước ta, khi muốn nghe pháp, tự nhiên được nghe;
44) Nguyện Bồ Tát trong nước ta, trên đỉnh đầu có ánh sáng, không khác với Phật;
45) Nguyện Bồ Tát ở nơi khác, nghe danh hiệu ta đều được Tam Muội giải thoát;
46) Nguyện Bồ Tát ở nơi khác, nghe danh hiệu ta đều được thành Phật và luôn yết kiến tất cả Phật;
47) Nguyện Bồ Tát ở nơi khác, nghe danh hiệu ta, liền được bất thối chuyển;
48) Nguyện Bồ Tát ở nơi khác, nghe danh hiệu ta, liền được Vô Sanh Nhẫn, đối với Phật Pháp vĩnh viễn không thối chuyển).
Mười sáu, Hạ Bối Sanh Quán. Quán này ở trong hạ phẩm cũng chia ra ba phẩm thượng, trung, hạ. Hạ phẩm thượng sanh là hoặc có chúng sanh làm các nghiệp ác, tuy không chê bai kinh điển mà làm nhiều pháp ác, không có tàm quý. Khi sắp chết gặp thiện tri thức nói cho nghe tên tựa 12 bộ kinh , dù hơn 1000 kiếp tạo nghiệp cực trọng mà lại được dạy chấp tay xưng Nam mô A di đà Phật. Vì xưng tên Phật mà trừ được tội sanh tử của 50 ức kiếp. Lúc bấy giờ Phật A Di Đà sai hóa Phật và hóa Bồ Tát đến trước hành giả, đưa tay nghinh tiếp. Hành giả liền thấy ánh sáng cả hóa Phật, chiếu khắp căn nhà của mình thì mạng chung ngay và ngồi trên hoa sen báu sanh vào trong ao báu, trải qua bốnchín ngày ngày, hoa sen mới nở. Hai vị Bồ Tát lớn phóng ánh sáng lớn, vì người ấy, nói 12 bộ kinh sâu xa, nhiệm mầu. Hành giả nghe rồi tin sâu, hiểu chắc nên phát tâm vô thượng, trải qua mười tiểu kiếp thì được vào Sơ Địa. Hạ phẩm trung sanh là hoặc có chúng sanh phạm năm giới, tám giới, Cụ Túc Giới, nói pháp bất tịnh mà không biết xấu hổ. Với ác nghiệp này đáng đọa địa ngục, khi sắp chết, lửa trong địa ngục cùng ùa đến một lược; gặp thiện tri thức, bằng tâm đại từ bi, vì người ấy, khen ngợi và nói mười oai đức lực của đức Phật ấy. Người ấy nghe rồi, trừ 80 ức kiếp tội sanh tử và lửa địa ngục hóa thành gió mát, thổi các hoa trời. Trên mỗi hoa đều có hóa Phật và Bồ Tát tiếp đón người này. Chỉ trong một niệm người này ở trong hoa sen sanh trong ao bảy báu. Trải qua sáu kiếp, hoa sen ấy mới nở, hai đại Bồ Tát bằng âm thinh thanh tịnh, vì người ấy, nói kinh điển Đại Thừa sâu xa, khi ấy liền phát tâm vô thương đạo. Hạ phẩm hạ sanh là hoặc có chúng sanh làm nghiệp bất thiện ngũ nghịch, thập ác, đáng đọa đường ác chịu vô cung khổ đau. Đến khi sắp chết, gặp thiện tri thức vì người ấy, nói pháp mầu và dạy bảo niệm Phật. Nhưng người ấy đau khổ bức bách, không thể nào niệm Phật được. Người bạn lành ấy báo cho biết rằng nếu không thể niệm Phật đó được thì nên gọi lên Phật Vô Lượng Thọ. Chí tâm niệm như thế miên tục không dứt đủ đến mười niệm. Trong từng niệm ấy trừ được 80 ức kiếp tội sanh tử, hoa sen màu vàng hiện ra, to bằng vầng mặt trời, đứng trước người ấy thì chỉ trong một niệm, người ấy liền sanh về thế giới Cực Lạc. Tròn 12 đại kiếp, hoa sen mới nở và có hai vị đại Bồ Tát dùng âm thinh đại từ nói cho người ấy nghe về các thật tướng, trừ hết tội liền phát tâm Bồ Đề.
(Sơ Địa là Hoan Hỉ Địa, địa thứ nhất trong mười địa).
Hóa Giải Nghiệp Báo     Người Ta Bước Vào Con Đường Đạo     Cần Hiểu Đúng Về Pháp Quy Y Tam Bảo     Tánh Không     Vì Sao Đức Phật Còn Tóc Mà Chư Tăng Thì Không?     Bản Chất Thực Sự Của Thiền     A-Tu-La Là Loài Gì?     Nếu Bạn Được Giải Thoát     Quy Y Một Lần Là Đủ     Bí Quyết Tới Niết Bàn     


















Pháp Ngữ
Tòng kiệm nhập xa dị
Tòng xa nhập kiệm nan.
(Tiện tằn dễ nhập xa hoa
Xa hoa rất khó đổi ra tiện tằn.)


Tháng Năm  

 



Đăng nhập


Playist


Bạn cần đăng nhập

Tu sĩ Việt Nam



Tu sĩ Quốc Tế


Album mới






Chuyên trang này được lập ra và hoạt động theo tinh thần Pháp Thí .
Tất cả các Kinh/Sách Phật Học trên trang này được sưu tầm từ các website Phật Giáo nên Ban Quản Trị có thể thiếu xót về mặt tác quyền đối với một số sách Phật Học .
Nếu quý Phật Tử / Tổ chức nào đang nắm tác quyền của các tác phẩm trên xin vui lòng Thông báo cho Ban Quản Trị biết, chúng tôi sẽ trao đổi trực tiếp để có thể có được bản quyền hợp lệ đối với các Sách Phật Học đó.
Ban Quản Trị trân trọng cám ơn.


Website có tất cả 76,492 pháp âm và 6,977 album thuộc tất cả các thể loại.
Có tổng cộng 138,483 lượt nghe.
Tổng số tu sĩ trong website 276, gồm cả tu sĩ trong nước và cả quốc tế.
Hiện đang có 1,273 thành viên đã đăng ký. Chào mừng thành viên mới nhất Thanh Hà
Lượt truy cập 16,102,438